POPULARITY
VOV1 - Theo số liệu từ Trung tâm lưu ký Chứng khoán Việt Nam, số lượng tài khoản của nhà đầu tư trong nước đã tăng thêm gần 256.000 tài khoản trong tháng 5/2026, nhích nhẹ so với tháng liền trước. Số lượng tài khoản mở mới chủ yếu đến từ cá nhân trong khi tổ chức chỉ có thêm 170 tài khoản. Luỹ kế từ đầu năm 2026, số lượng tài khoản chứng khoán của nhà đầu tư trong nước đã tăng gần 1,3 triệu tài khoản. Tính đến cuối tháng 5, nhà đầu tư cá nhân có tổng cộng hơn 13 triệu tài khoản, tương đương khoảng 13% dân số. Con số này đưa Việt Nam hoàn thành vượt mục tiêu trước hạn trong đề án phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030. - Tiến độ triển khai thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam đang được đẩy nhanh- VN-Index cuối tuần trước tiếp tục hồi phục, nhưng thanh khoản thấp
VOV1 - Ngày 7/6, tại thủ đô Praha, Cộng hòa Séc đã diễn ra Festival các dân tộc thiểu số với chủ đề “Praha - trái tim của các dân tộc”, thu hút sự tham gia của đông đảo các cộng đồng dân tộc thiểu số, trong đó có Cộng đồng người Việt Nam tại Séc. Festival “Praha - Trái tim của các dân tộc” được tổ chức lần đầu năm 1999 và trở thành sự kiện văn hóa thường niên lớn nhất của các dân tộc thiểu số tại CH Séc nhằm tôn vinh và gìn giữ bản sắc, nghệ thuật dân gian truyền thống của các cộng đồng dân tộc.Năm 2026 đánh dấu kỳ Lễ hội lần thứ 28 và có sự tham gia của hơn 20 cộng đồng dân tộc thiểu số tại Séc như Ba Lan, Đức, Hungary, Ukraine, Romania, Bulgaria, Mông Cổ,… Chương trình năm nay tiếp tục thu hút người dân sở tại và du khách với các hoạt động diễu hành trang phục truyền thống, biểu diễn âm nhạc, múa, hát dân gian trên sân khấu ngoài trời tại quảng trường phố cổ Praha. Những người tham gia được hòa vào không khí lễ hội sôi động với các tiết mục văn nghệ đậm chất truyền thống, qua đó hiểu thêm những nét văn hóa dân gian đặc trưng của các dân tộc thiểu số tại Séc.Chia sẻ với Phóng viên Đài TNVN, chị Nivedita Badve đến từ đoàn Ấn Độ cho biết, chị rất vui và hào hứng khi được tham gia Lễ hội năm nay. Sự kiện không chỉ là cơ hội để giới thiệu, quảng bá di sản văn hóa dân gian, mà còn thúc đẩy sự hội nhập và hiểu biết lẫn nhau giữa các cộng đồng thiểu số sinh sống tại Séc.Đoàn Việt Nam thu hút sự quan tâm đặc biệt của người dân Séc và du khách với các tiết mục giàu bản sắc truyền thống như Trống hội, tiết mục Hương sen Việt Nam gồm múa sen và trình diễn Áo dài sen, biểu diễn trang phục Áo dài tứ thân. Thông qua tham dự sự kiện này, Cộng đồng người Việt Nam tại Séc tiếp tục khẳng định tinh thần đoàn kết, vị thế và sự hội nhập sâu rộng vào nước sở tại.Với thông điệp “từ trái tim đến trái tim, Festival “Praha - Trái tim của các dân tộc” đã trở thành sự kiện được mong đợi hàng năm, tạo không gian giao lưu, kết nối, khẳng định bản sắc, sự hội nhập trong đa dạng văn hóa của các cộng đồng thiểu số sinh sống tại Séc.Hải Đăng, Như Hoa/VOV – PrahaTiết mục Trống Hội của Đoàn Việt Nam tại sự kiện
VOV1 - Trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, Việt Nam tiếp tục được cộng đồng quốc tế đánh giá là đang hội tụ đủ yếu tố để trở thành "Con hổ châu Á" mới.Với những nền tảng thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài, công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu và duy trì tốc độ tăng trưởng cao, Việt Nam đang từng bước vươn lên trở thành trung tâm sản xuất công nghệ cao và mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Kinh tế Việt Nam đang cho thấy khả năng thích ứng và sức chống chịu đáng kể trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tiếp tục đối mặt nhiều bất ổn. Trong báo cáo mới nhất, Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm nay có thể đạt khoảng 6,8% - mức tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới giảm tốc do căng thẳng địa chính trị và thương mại toàn cầu suy yếu. Động lực tăng trưởng tiếp tục đến từ xuất khẩu, dòng vốn đầu tư nước ngoài, cùng những nỗ lực cải cách thể chế, tinh gọn bộ máy và đơn giản hóa quy trình ra quyết định. Năm 2024, tổng vốn FDI đăng ký đạt khoảng 38 tỷ đô-la, trong khi vốn thực hiện đạt mức cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Ông Nguyễn Xuân Thành, giảng viên cao cấp Trường Chính sách công và quản lý Fulbright, nhấn mạnh: "Theo tôi, hiện nay có một mức độ đồng thuận chính trị rất cao. Dù căng thẳng địa chính trị trên thế giới ngày càng gia tăng và môi trường quốc tế đang có nhiều biến động, Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục theo đuổi định hướng là một nền kinh tế mở. Từ góc độ đó, tôi cho rằng Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài khá cởi mở, với mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng của các dự án đầu tư. Vì vậy, trong tương lai Việt Nam vẫn sẽ thu hút FDI, nhưng không phải bằng các ưu đãi tài khóa truyền thống, mà bằng việc cung cấp hạ tầng tốt hơn và các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp hiệu quả hơn."Trang Edge Malaysia, tờ Nikkei Asia (Nhật Bản), trang Gulf News (UAE) nhận định, một trong những thay đổi quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam là sự dịch chuyển mạnh mẽ trong cơ cấu xuất khẩu, với tỷ trọng hàng chế tạo và sản phẩm công nghệ cao liên tục gia tăng. Việt Nam ngày càng thu hút sự hiện diện của nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới. Trong đó, Việc tập đoàn Qualcomm đẩy mạnh mở rộng hoạt động nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam, cho thấy Việt Nam là mắt xích quan trọng trong chiến lược xây dựng các trung tâm kỹ thuật toàn cầu. Bà Tehmina Khan, Chuyên gia kinh tế trưởng WB tại Việt Nam, Lào, Campuchia, cho biết: "Việt Nam đang ngày càng hưởng lợi từ làn sóng bùng nổ chi tiêu đầu tư cho trí tuệ nhân tạo (AI) trên toàn cầu cũng như chu kỳ tăng trưởng công nghiệp mới gắn liền với các khoản đầu tư vào AI. Đây là xu hướng đang thúc đẩy tăng trưởng của nhiều nền kinh tế Đông Á và Việt Nam cũng nằm trong số những quốc gia được hưởng lợi. Giá trị xuất khẩu liên quan đến AI của Việt Nam đang gia tăng mạnh mẽ. Điều này phản ánh vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng điện tử và công nghệ toàn cầu, đồng thời cho thấy tiềm năng tăng trưởng đáng kể nếu nhu cầu đối với các sản phẩm liên quan đến AI tiếp tục được duy trì."Trang The Interpreter của Australia cho rằng, Việt Nam đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm bán dẫn mới của thế giới. Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là những động lực then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Điều tạo nên sự khác biệt của Việt Nam là chiến lược phát triển ngành bán dẫn được hoạch định với các mục tiêu rõ ràng và đồng bộ, từ đào tạo nguồn nhân lực, thu hút đầu tư đến xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ. Chính sách "ngoại giao chip" linh hoạt cũng đang giúp Việt Nam tranh thủ hiệu quả các nguồn lực quốc tế để phục vụ mục tiêu phát triển dài hạn. Qua đó, Việt Nam tiếp tục củng cố vị thế là điểm đến quan trọng của các chuỗi cung ứng toàn cầu trong giai đoạn phát triển mới./.Việt Nam được dự báo là "con hổ châu Á" tiếp theo.
“Những nhà lãnh đạo ảnh hưởng nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam đều được nhớ đến vì đã dẫn dắt những chuyển đổi mang tính cấu trúc” (1). Chỉ riêng năm 2025, Việt Nam triển khai hơn 550 dự án cơ sở hạ tầng trị giá khoảng 200 tỉ đô la. Hàng trăm dự án khác (điện hạt nhân, đường sắt cao tốc…) chuẩn bị được thực hiện. Mục tiêu cuối cùng là đạt tăng trưởng GDP ít nhất 10% trong nhiệm kỳ 2026-2030 và đưa Việt Nam thành nước có thu nhập trung bình cao. Theo báo Vietnamnet ngày 15/04/2026, “thay vì dàn trải, nhiệm kỳ mới đang hướng tới ít dự án hơn nhưng mỗi dự án phải đủ lớn để kéo tăng trưởng, tạo việc làm và mở rộng không gian phát triển”. Liệu các đại dự án có đủ để kéo tăng trưởng lên không ? Làm thế nào để tăng trưởng đó được bền vững ? Những biến động địa-chính trị thế giới, đặc biệt là khủng hoảng dầu lửa ở Trung Đông, tác động như thế nào đến mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn ông Éric Mottet, chuyên gia địa-chính trị Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, giám đốc nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada. RFI : Trước tiên, xin ông giải thích những yếu tố nào góp phần vào sự tăng trưởng của một quốc gia ? Éric Mottet : Theo ước tính có khoảng bảy yếu tố then chốt tác động đến tăng trưởng kinh tế, có thể hoạt động đồng thời hoặc riêng lẻ. Trước hết là lao động, bao gồm quy mô dân số trong độ tuổi lao động, tỷ lệ việc làm, trình độ học vấn, kỹ năng và chất lượng đào tạo của người lao động. Một lực lượng lao động năng động, được đào tạo tốt sẽ tạo ra của cải hiệu quả hơn. Tiếp theo là vốn vật chất và vốn con người, tức là chất lượng máy móc được sử dụng, cơ sở hạ tầng, công nghệ, kỹ năng và bí quyết. Một quốc gia càng đầu tư nhiều vào nhà máy, đường xá và máy móc, thì càng giúp tăng năng suất và sản lượng quốc gia. Yếu tố thứ ba là tiến bộ công nghệ. Quốc gia đó có đầu tư vào đổi mới, công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển không ? Bởi vì đây là một động lực rất cần thiết cho tăng trưởng, ít nhất là trong dài hạn. Ví dụ trí tuệ nhân tạo (AI), hiện tại đã rất quan trọng và sẽ còn quan trọng hơn nữa trong tương lai. Đọc thêmDự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử Tiếp theo, cần phải nói đến thể chế và khuôn khổ chính trị, tức là sự ổn định chính trị, tôn trọng pháp luật và quyền sở hữu nói riêng, cũng như hiệu quả quản lý nhà nước. Nói cách khác, một môi trường ổn định khuyến khích đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, và tạo dựng niềm tin là điều vô cùng cần thiết để tạo ra của cải và phát triển kinh tế. Sự mở cửa kinh tế nằm trong số những tiêu chí khác cũng rất quan trọng. Thương mại quốc tế giúp tiếp cận thị trường mới, công nghệ mới và tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, khoáng sản, đất nông nghiệp, từ đó tăng trưởng kinh tế. Tất cả những yếu tố này có thể thúc đẩy tăng trưởng, nhưng không phải là thiết yếu. Ví dụ, ở châu Á, Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển mạnh dù nguồn tài nguyên hạn chế. Cuối cùng là nhu cầu nội địa. Mức tiêu dùng hộ gia đình, đầu tư kinh doanh, chi tiêu công của chính phủ Việt Nam như thế nào ? Nhu cầu mạnh mẽ sẽ kích thích sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. RFI : Các dự án lớn đóng vai trò như thế nào trong tăng trưởng của một quốc gia ? Chúng có góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng không ? Éric Mottet : Có, các dự án lớn - tức là các dự án cơ sở hạ tầng, công nghiệp, năng lượng và công nghệ - đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Việc này diễn ra ở nhiều cấp độ. Thứ nhất, các công trình hạ tầng kích thích nền kinh tế ngắn hạn bằng cách tạo ra việc làm, tăng nhu cầu đối với vật liệu, dịch vụ và thiết bị xây dựng. Chẳng hạn, việc xây dựng đập hoặc đường cao tốc sẽ tạo ra doanh thu và hoạt động kinh tế ngay lập tức. Sau đó, năng suất được cải thiện trong dài hạn, ví dụ các cơ sở hạ tầng giao thông giúp giảm chi phí vận chuyển và thời gian di chuyển, tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển. Điều này đặc biệt quan trọng ở một quốc gia như Việt Nam, vì giúp di chuyển hàng hóa và con người thuận lợi hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh cả trong nước cũng như với các công ty nước ngoài. Cơ sở hạ tầng tốt cũng thu hút đầu tư nước ngoài, ví dụ việc xây dựng cảng mới, khu công nghiệp hay đặc khu kinh tế sẽ thu hút các công ty nước ngoài còn do dự. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng chất lượng cao còn thúc đẩy tiến bộ công nghệ ; các dự án năng lượng tái tạo và thành phố thông minh kích thích đổi mới sáng tạo trên toàn quốc. Đọc thêmViệt Nam muốn thành “cứ điểm” sản xuất thế giới nhưng thiếu cơ sở hạ tầng Một yếu tố quan trọng khác là giảm bất bình đẳng lãnh thổ. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng chất lượng trên toàn quốc có thể giúp kết nối các vùng xa xôi, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế và việc làm. Một tuyến đường bộ hay đường sắt có thể thay đổi đáng kể một khu vực nông thôn hoặc vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn cũng có những hạn chế. Nhìn chung chúng có chi phí rất cao, có thể dẫn đến rủi ro nợ nần đáng kể cho một nước và cũng có thể gây ra nhiều vấn đề nếu bị quản lý kém hoặc có tham nhũng. Các dự án này cũng có thể gây tác động xấu đến môi trường. Theo tôi, tất cả các dự án cơ sở hạ tầng lớn đều không bảo đảm tăng trưởng nếu bị quy hoạch kém. Do đó, chúng phải được quy hoạch tốt, có hệ thống quản lý hiệu quả và thiết kế bền vững ngay từ đầu. RFI : Trong nhiệm kỳ 5 năm (2026-2030), Việt Nam sẽ triển khai nhiều dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn (đường sắt cao tốc, nhà máy điện hạt nhân, sân bay Long Thành, mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh). Những dự án này có ý nghĩa và vai trò như thế nào trong việc đạt được mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% do đảng và Quốc Hội Việt Nam đề ra cho nhiệm kỳ này ? Éric Mottet : Đúng là các dự án hạ tầng lớn trong kế hoạch 5 năm đến năm 2030 là trụ cột chiến lược và trọng tâm phát triển. Chúng là đòn bẩy quan trọng giúp nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng bình quân 10%, tương tự những gì Trung Quốc đã trải qua trong những năm 1990-2000, thậm chí là cả thập niên 2010. Các dự án này là động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng ngắn hạn, như đã nói ở trên, vì sẽ huy động đầu tư công và tư nhân, tạo việc làm, thúc đẩy các ngành liên quan như xi măng, thép và logistics. Nhờ đó, chúng trở thành chất xúc tác mạnh, thúc đẩy kinh tế tức thời, và theo tôi, sẽ làm góp phần tăng GDP ngay khi được triển khai. Hơn nữa, các dự án hạ tầng lớn còn cho phép cải thiện cấu trúc năng suất của một quốc gia như Việt Nam. Khi hệ thống hạ tầng được nâng cấp, chi phí logistics giảm, thời gian vận chuyển được rút ngắn và độ tin cậy tăng lên, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và kết nối thương mại giữa các vùng. Chẳng hạn, tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - TP. HCM sẽ rút ngắn khoảng cách địa lý, tăng cường liên kết kinh tế Bắc - Nam, đồng thời góp phần củng cố sự gắn kết quốc gia. Và như vậy sẽ nâng cao sức thu hút của Việt Nam. Đọc thêmChuyển toàn bộ chuyến bay quốc tế về Long Thành: Giới chuyên gia Việt Nam quan ngại Bên cạnh đó, các dự án như sân bay Long Thành hay việc phát triển các đô thị hiện đại sẽ nâng cao vị thế của Việt Nam trong mạng lưới giao thông và thương mại quốc tế, cả về du lịch lẫn kinh tế. Những công trình này còn cho phép một thành phố lớn như TP. HCM cạnh tranh với những trung tâm logistics hàng đầu khu vực như Bangkok, Singapore hay Hồng Kông. Nhờ vậy, mô hình tăng trưởng cũng có cơ hội chuyển dịch. Ngoài ra, các dự án năng lượng như nhà máy điện hạt nhân, nếu được triển khai hiệu quả, sẽ bảo đảm nguồn cung điện ổn định và sẽ giúp nền kinh tế phát triển theo hướng cao cấp hơn. Tôi cho rằng tất cả những lý do này sẽ giúp củng cố tăng trưởng kinh tế. Và cần nhắc lại, nếu được triển khai một cách thông minh, bền vững và quản lý hiệu quả, những công trình cơ sở hạ tầng này sẽ giúp Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hàng năm và đưa Việt Nam trở thành một nền kinh tế quan trọng tại châu Á. RFI : Liệu sự tăng trưởng này (một phần nhờ các dự án lớn) có bền vững không ? Éric Mottet : Các dự án cơ sở hạ tầng có thể bền vững, nhưng không phải tự nhiên mà có mà phụ thuộc vào cách chúng được thiết kế, tài trợ và tích hợp vào nền kinh tế. Để đạt hiệu quả, cần xem xét nhiều yếu tố quan trọng. Trước hết, hạ tầng phải thực sự thiết thực. Thực tế cho thấy ở nhiều nước như Trung Quốc, kể cả Việt Nam, vẫn tồn tại các công trình được đầu tư lớn nhưng hiệu quả sử dụng thấp. Vì vậy, tính hữu ích và đáp ứng nhu cầu kinh tế thực sự là tiêu chí hàng đầu. Khi được quản lý tốt, cơ sở hạ tầng sẽ hỗ trợ tăng trưởng dài hạn. Thứ hai, các dự án hạ tầng cần đóng vai trò thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế có năng suất cao hơn, thay vì chỉ tạo ra tác động ngắn hạn. Điều này đòi hỏi hạ tầng phải được quy hoạch với tầm nhìn dài hạn, từ 10 đến 30 năm, thậm chí là 40 năm. Một công trình chỉ mang lại hiệu ứng tạm thời trong giai đoạn xây dựng sẽ không có nhiều ý nghĩa. Vì vậy, tính bền vững cần được đặt trong tầm nhìn nhiều thập niên. Đọc thêmViệt Nam : Giấc mơ đường sắt cao tốc và bài toán 70 tỉ USD Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng cũng cần được quản lý tài chính hiệu quả. Nợ công phải được kiểm soát ở mức an toàn và các dự án cần tạo ra hiệu quả kinh tế rõ rệt trong vòng 10-20 năm. Do đó, sự tăng trưởng được tài trợ này không nên phụ thuộc quá nhiều vào vay nợ mà cần hướng đến khả năng tự tạo nguồn thu và sinh lời trong thời gian hợp lý. Ngoài ra, để các công trình hạ tầng bền vững, chúng cần được triển khai theo hướng thân thiện với môi trường, tránh gây tác động tiêu cực lâu dài. Đồng thời, cần có cơ chế quản lý minh bạch, quy hoạch hiệu quả, có tính đến những tác động xã hội và môi trường mà mọi dự án hạ tầng lớn có thể gây ra khi được triển khai tại một khu vực nhất định. RFI : Chúng ta thấy một yếu tố mới xuất hiện : cuộc khủng hoảng năng lượng và dầu mỏ do chiến tranh ở Trung Đông. Yếu tố này sẽ tác động như thế nào đến các dự án lớn của Việt Nam và, quan trọng hơn, đến sự tăng trưởng của đất nước ? Éric Mottet : Căng thẳng và khủng hoảng tại Trung Đông tạo ra một “cú sốc bên ngoài” đối với Việt Nam và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án hạ tầng lớn và triển vọng tăng trưởng. Tôi cho rằng tác động tiêu cực trong ngắn hạn được thể hiện rõ qua việc giá nguyên vật liệu tăng mạnh, đặc biệt là dầu khí. Điều này làm leo thang chi phí xây dựng, bởi vì thép, xi măng và nhựa đường đều tăng giá đáng kể ; riêng nhựa đường tại nhiều nước đã tăng từ 30-50%. Chi phí năng lượng tăng cao làm đội chi phí tổng thể của các dự án, đồng thời gia tăng nguy cơ chậm tiến độ hoặc vượt ngân sách. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính và khả năng sinh lời của các công trình hạ tầng quy mô lớn. Đặc biệt, các dự án có vốn đầu tư lớn như đường sắt cao tốc, sân bay hay nhà máy điện hạt nhân có thể trở nên đắt đỏ hơn nhiều so với dự kiến ban đầu do khủng hoảng Trung Đông, nhất là nếu còn kéo dài trong nhiều tháng. Đọc thêmChiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam Khủng hoảng tại Trung Đông là trở ngại đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Giá năng lượng tăng gây ra lạm phát nhập khẩu, làm suy giảm sức mua của hộ gia đình và thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi chi phí năng lượng tăng, doanh nghiệp phải gánh chi phí cao hơn, từ đó hạn chế khả năng đầu tư và mở rộng sản xuất. Vì vậy, mục tiêu đạt mức tăng trưởng 10% mỗi năm của Việt Nam có nguy cơ trở nên khó khăn hơn trong giai đoạn 2026-2027, thậm chí là 2028 nếu khủng hoảng Trung Đông còn kéo dài. Tuy nhiên, không phải mọi tác động đều tiêu cực. Trong trường hợp của Việt Nam, khủng hoảng còn có thể trở thành động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng. Chúng ta có thể thấy rõ rằng Việt Nam hiện rất nhạy cảm với những cú sốc năng lượng từ bên ngoài. Điều này có thể thúc đẩy chính phủ đẩy nhanh chiến lược đa dạng hóa nguồn cung, bao gồm phát triển điện hạt nhân và mở rộng năng lượng tái tạo. Về dài hạn, những bước đi này sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào dầu khí, đặc biệt là nhập khẩu dầu mỏ. Khủng hoảng Trung Đông không hoàn toàn tiêu cực, tôi cho rằng Việt Nam hiểu rõ điều này. Tuy vậy, biến động năng lượng vẫn có thể cản trở mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% được đề ra trong giai đoạn 2026-2030. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Éric Mottet, Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada. (1) Dan Martin, Văn phòng tư vấn Dezan Shira & Associates, được AFP trích dẫn ngày 08/04/2026
VOV1 - Hôm qua (30/5), Ấn Độ đã tổ chức lễ bế mạc cuộc tập trận đa phương PRAGATI 2026 tại căn cứ quân sự Umroi, bang Meghalaya ở Đông Bắc nước này. Đây là lần đầu tiên cuộc tập trận được tổ chức, đánh dấu bước tiến mới trong hợp tác quốc phòng giữa các quốc gia khu vực Ấn Độ Dương và Đông Nam Á.PRAGATI là viết tắt của “Quan hệ đối tác giữa các quân đội khu vực vì sự phát triển và chuyển đổi ở khu vực Ấn Độ Dương”. Cuộc tập trận diễn ra từ ngày 18 đến 30/5, quy tụ hơn 400 quân nhân đến từ 13 quốc gia gồm Ấn Độ, Bhutan, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Maldives, Myanmar, Nepal, Philippines, Seychelles, Sri Lanka và Việt Nam.Trong thời gian huấn luyện, các lực lượng tham gia đã thực hành nhiều nội dung như phục kích và phản phục kích, phát hiện và xử lý thiết bị nổ tự chế, bắn súng trong rừng, đổ bộ đường không, sơ tán thương vong và các kỹ năng tác chiến đặc biệt khác. Điểm nhấn của cuộc tập trận là cuộc diễn tập thực binh kéo dài 72 giờ với sự tham gia của các đội hình hỗn hợp đa quốc gia, nhằm nâng cao khả năng phối hợp tác chiến và xử lý các thách thức an ninh chung.Theo Bộ Quốc phòng Ấn Độ, PRAGATI 2026 không chỉ góp phần tăng cường khả năng phối hợp giữa các lực lượng vũ trang mà còn củng cố lòng tin, sự hiểu biết lẫn nhau và thúc đẩy hợp tác quốc phòng trong khu vực. Cuộc tập trận cũng tạo cơ hội để các quân nhân giao lưu văn hóa, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn và tăng cường quan hệ hữu nghị.Bên lề sự kiện, Quân đội Ấn Độ phối hợp với Liên đoàn Phòng Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ (FICCI) tổ chức triển lãm quốc phòng, giới thiệu nhiều loại vũ khí, trang thiết bị và công nghệ quân sự do Ấn Độ tự nghiên cứu, phát triển và sản xuất theo sáng kiến “Ấn Độ tự cường”.Đoàn 40 quân nhân của Quân đội nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc các nội dung huấn luyện và diễn tập, bao gồm đổ bộ đường không, tuần tra, bảo vệ biên giới, phục kích, phản phục kích, vượt chướng ngại vật và bắn đạn thật. Ban tổ chức và các nước tham gia đánh giá cao tính kỷ luật, tinh thần chuyên nghiệp, năng lực chiến thuật và khả năng phối hợp quốc tế của đoàn Việt Nam.Theo giới chức Ấn Độ, thành công của PRAGATI 2026 đã đặt nền tảng cho các hoạt động hợp tác quân sự đa phương trong tương lai, góp phần tăng cường hòa bình, ổn định và an ninh tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Việc Việt Nam tham gia cuộc tập trận cũng tạo cơ hội quý báu để trao đổi kinh nghiệm, nâng cao năng lực phối hợp trong các hoạt động gìn giữ hòa bình và ứng phó với các thách thức an ninh chung của khu vực.Lê Dũng/ VOV Ấn Độ Hình ảnh buổi bế mạc PRAGATI 2026 (1) (Ảnh Bộ Quốc phòng Ấn Độ)Hình ảnh buổi bế mạc PRAGATI 2026 (2) (Ảnh Bộ Quốc phòng Ấn Độ)Hình ảnh buổi bế mạc PRAGATI 2026 (3) (Ảnh Bộ Quốc phòng Ấn Độ)
“Những nhà lãnh đạo ảnh hưởng nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam đều được nhớ đến vì đã dẫn dắt những chuyển đổi mang tính cấu trúc” (1). Chỉ riêng năm 2025, Việt Nam triển khai hơn 550 dự án cơ sở hạ tầng trị giá khoảng 200 tỉ đô la. Hàng trăm dự án khác (điện hạt nhân, đường sắt cao tốc…) chuẩn bị được thực hiện. Mục tiêu cuối cùng là đạt tăng trưởng GDP ít nhất 10% trong nhiệm kỳ 2026-2030 và đưa Việt Nam thành nước có thu nhập trung bình cao. Theo báo Vietnamnet ngày 15/04/2026, “thay vì dàn trải, nhiệm kỳ mới đang hướng tới ít dự án hơn nhưng mỗi dự án phải đủ lớn để kéo tăng trưởng, tạo việc làm và mở rộng không gian phát triển”. Liệu các đại dự án có đủ để kéo tăng trưởng lên không ? Làm thế nào để tăng trưởng đó được bền vững ? Những biến động địa-chính trị thế giới, đặc biệt là khủng hoảng dầu lửa ở Trung Đông, tác động như thế nào đến mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn ông Éric Mottet, chuyên gia địa-chính trị Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, giám đốc nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada. RFI : Trước tiên, xin ông giải thích những yếu tố nào góp phần vào sự tăng trưởng của một quốc gia ? Éric Mottet : Theo ước tính có khoảng bảy yếu tố then chốt tác động đến tăng trưởng kinh tế, có thể hoạt động đồng thời hoặc riêng lẻ. Trước hết là lao động, bao gồm quy mô dân số trong độ tuổi lao động, tỷ lệ việc làm, trình độ học vấn, kỹ năng và chất lượng đào tạo của người lao động. Một lực lượng lao động năng động, được đào tạo tốt sẽ tạo ra của cải hiệu quả hơn. Tiếp theo là vốn vật chất và vốn con người, tức là chất lượng máy móc được sử dụng, cơ sở hạ tầng, công nghệ, kỹ năng và bí quyết. Một quốc gia càng đầu tư nhiều vào nhà máy, đường xá và máy móc, thì càng giúp tăng năng suất và sản lượng quốc gia. Yếu tố thứ ba là tiến bộ công nghệ. Quốc gia đó có đầu tư vào đổi mới, công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển không ? Bởi vì đây là một động lực rất cần thiết cho tăng trưởng, ít nhất là trong dài hạn. Ví dụ trí tuệ nhân tạo (AI), hiện tại đã rất quan trọng và sẽ còn quan trọng hơn nữa trong tương lai. Đọc thêmDự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử Tiếp theo, cần phải nói đến thể chế và khuôn khổ chính trị, tức là sự ổn định chính trị, tôn trọng pháp luật và quyền sở hữu nói riêng, cũng như hiệu quả quản lý nhà nước. Nói cách khác, một môi trường ổn định khuyến khích đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, và tạo dựng niềm tin là điều vô cùng cần thiết để tạo ra của cải và phát triển kinh tế. Sự mở cửa kinh tế nằm trong số những tiêu chí khác cũng rất quan trọng. Thương mại quốc tế giúp tiếp cận thị trường mới, công nghệ mới và tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, khoáng sản, đất nông nghiệp, từ đó tăng trưởng kinh tế. Tất cả những yếu tố này có thể thúc đẩy tăng trưởng, nhưng không phải là thiết yếu. Ví dụ, ở châu Á, Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển mạnh dù nguồn tài nguyên hạn chế. Cuối cùng là nhu cầu nội địa. Mức tiêu dùng hộ gia đình, đầu tư kinh doanh, chi tiêu công của chính phủ Việt Nam như thế nào ? Nhu cầu mạnh mẽ sẽ kích thích sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. RFI : Các dự án lớn đóng vai trò như thế nào trong tăng trưởng của một quốc gia ? Chúng có góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng không ? Éric Mottet : Có, các dự án lớn - tức là các dự án cơ sở hạ tầng, công nghiệp, năng lượng và công nghệ - đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Việc này diễn ra ở nhiều cấp độ. Thứ nhất, các công trình hạ tầng kích thích nền kinh tế ngắn hạn bằng cách tạo ra việc làm, tăng nhu cầu đối với vật liệu, dịch vụ và thiết bị xây dựng. Chẳng hạn, việc xây dựng đập hoặc đường cao tốc sẽ tạo ra doanh thu và hoạt động kinh tế ngay lập tức. Sau đó, năng suất được cải thiện trong dài hạn, ví dụ các cơ sở hạ tầng giao thông giúp giảm chi phí vận chuyển và thời gian di chuyển, tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển. Điều này đặc biệt quan trọng ở một quốc gia như Việt Nam, vì giúp di chuyển hàng hóa và con người thuận lợi hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh cả trong nước cũng như với các công ty nước ngoài. Cơ sở hạ tầng tốt cũng thu hút đầu tư nước ngoài, ví dụ việc xây dựng cảng mới, khu công nghiệp hay đặc khu kinh tế sẽ thu hút các công ty nước ngoài còn do dự. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng chất lượng cao còn thúc đẩy tiến bộ công nghệ ; các dự án năng lượng tái tạo và thành phố thông minh kích thích đổi mới sáng tạo trên toàn quốc. Đọc thêmViệt Nam muốn thành “cứ điểm” sản xuất thế giới nhưng thiếu cơ sở hạ tầng Một yếu tố quan trọng khác là giảm bất bình đẳng lãnh thổ. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng chất lượng trên toàn quốc có thể giúp kết nối các vùng xa xôi, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế và việc làm. Một tuyến đường bộ hay đường sắt có thể thay đổi đáng kể một khu vực nông thôn hoặc vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn cũng có những hạn chế. Nhìn chung chúng có chi phí rất cao, có thể dẫn đến rủi ro nợ nần đáng kể cho một nước và cũng có thể gây ra nhiều vấn đề nếu bị quản lý kém hoặc có tham nhũng. Các dự án này cũng có thể gây tác động xấu đến môi trường. Theo tôi, tất cả các dự án cơ sở hạ tầng lớn đều không bảo đảm tăng trưởng nếu bị quy hoạch kém. Do đó, chúng phải được quy hoạch tốt, có hệ thống quản lý hiệu quả và thiết kế bền vững ngay từ đầu. RFI : Trong nhiệm kỳ 5 năm (2026-2030), Việt Nam sẽ triển khai nhiều dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn (đường sắt cao tốc, nhà máy điện hạt nhân, sân bay Long Thành, mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh). Những dự án này có ý nghĩa và vai trò như thế nào trong việc đạt được mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% do đảng và Quốc Hội Việt Nam đề ra cho nhiệm kỳ này ? Éric Mottet : Đúng là các dự án hạ tầng lớn trong kế hoạch 5 năm đến năm 2030 là trụ cột chiến lược và trọng tâm phát triển. Chúng là đòn bẩy quan trọng giúp nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng bình quân 10%, tương tự những gì Trung Quốc đã trải qua trong những năm 1990-2000, thậm chí là cả thập niên 2010. Các dự án này là động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng ngắn hạn, như đã nói ở trên, vì sẽ huy động đầu tư công và tư nhân, tạo việc làm, thúc đẩy các ngành liên quan như xi măng, thép và logistics. Nhờ đó, chúng trở thành chất xúc tác mạnh, thúc đẩy kinh tế tức thời, và theo tôi, sẽ làm góp phần tăng GDP ngay khi được triển khai. Hơn nữa, các dự án hạ tầng lớn còn cho phép cải thiện cấu trúc năng suất của một quốc gia như Việt Nam. Khi hệ thống hạ tầng được nâng cấp, chi phí logistics giảm, thời gian vận chuyển được rút ngắn và độ tin cậy tăng lên, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và kết nối thương mại giữa các vùng. Chẳng hạn, tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - TP. HCM sẽ rút ngắn khoảng cách địa lý, tăng cường liên kết kinh tế Bắc - Nam, đồng thời góp phần củng cố sự gắn kết quốc gia. Và như vậy sẽ nâng cao sức thu hút của Việt Nam. Đọc thêmChuyển toàn bộ chuyến bay quốc tế về Long Thành: Giới chuyên gia Việt Nam quan ngại Bên cạnh đó, các dự án như sân bay Long Thành hay việc phát triển các đô thị hiện đại sẽ nâng cao vị thế của Việt Nam trong mạng lưới giao thông và thương mại quốc tế, cả về du lịch lẫn kinh tế. Những công trình này còn cho phép một thành phố lớn như TP. HCM cạnh tranh với những trung tâm logistics hàng đầu khu vực như Bangkok, Singapore hay Hồng Kông. Nhờ vậy, mô hình tăng trưởng cũng có cơ hội chuyển dịch. Ngoài ra, các dự án năng lượng như nhà máy điện hạt nhân, nếu được triển khai hiệu quả, sẽ bảo đảm nguồn cung điện ổn định và sẽ giúp nền kinh tế phát triển theo hướng cao cấp hơn. Tôi cho rằng tất cả những lý do này sẽ giúp củng cố tăng trưởng kinh tế. Và cần nhắc lại, nếu được triển khai một cách thông minh, bền vững và quản lý hiệu quả, những công trình cơ sở hạ tầng này sẽ giúp Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hàng năm và đưa Việt Nam trở thành một nền kinh tế quan trọng tại châu Á. RFI : Liệu sự tăng trưởng này (một phần nhờ các dự án lớn) có bền vững không ? Éric Mottet : Các dự án cơ sở hạ tầng có thể bền vững, nhưng không phải tự nhiên mà có mà phụ thuộc vào cách chúng được thiết kế, tài trợ và tích hợp vào nền kinh tế. Để đạt hiệu quả, cần xem xét nhiều yếu tố quan trọng. Trước hết, hạ tầng phải thực sự thiết thực. Thực tế cho thấy ở nhiều nước như Trung Quốc, kể cả Việt Nam, vẫn tồn tại các công trình được đầu tư lớn nhưng hiệu quả sử dụng thấp. Vì vậy, tính hữu ích và đáp ứng nhu cầu kinh tế thực sự là tiêu chí hàng đầu. Khi được quản lý tốt, cơ sở hạ tầng sẽ hỗ trợ tăng trưởng dài hạn. Thứ hai, các dự án hạ tầng cần đóng vai trò thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế có năng suất cao hơn, thay vì chỉ tạo ra tác động ngắn hạn. Điều này đòi hỏi hạ tầng phải được quy hoạch với tầm nhìn dài hạn, từ 10 đến 30 năm, thậm chí là 40 năm. Một công trình chỉ mang lại hiệu ứng tạm thời trong giai đoạn xây dựng sẽ không có nhiều ý nghĩa. Vì vậy, tính bền vững cần được đặt trong tầm nhìn nhiều thập niên. Đọc thêmViệt Nam : Giấc mơ đường sắt cao tốc và bài toán 70 tỉ USD Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng cũng cần được quản lý tài chính hiệu quả. Nợ công phải được kiểm soát ở mức an toàn và các dự án cần tạo ra hiệu quả kinh tế rõ rệt trong vòng 10-20 năm. Do đó, sự tăng trưởng được tài trợ này không nên phụ thuộc quá nhiều vào vay nợ mà cần hướng đến khả năng tự tạo nguồn thu và sinh lời trong thời gian hợp lý. Ngoài ra, để các công trình hạ tầng bền vững, chúng cần được triển khai theo hướng thân thiện với môi trường, tránh gây tác động tiêu cực lâu dài. Đồng thời, cần có cơ chế quản lý minh bạch, quy hoạch hiệu quả, có tính đến những tác động xã hội và môi trường mà mọi dự án hạ tầng lớn có thể gây ra khi được triển khai tại một khu vực nhất định. RFI : Chúng ta thấy một yếu tố mới xuất hiện : cuộc khủng hoảng năng lượng và dầu mỏ do chiến tranh ở Trung Đông. Yếu tố này sẽ tác động như thế nào đến các dự án lớn của Việt Nam và, quan trọng hơn, đến sự tăng trưởng của đất nước ? Éric Mottet : Căng thẳng và khủng hoảng tại Trung Đông tạo ra một “cú sốc bên ngoài” đối với Việt Nam và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án hạ tầng lớn và triển vọng tăng trưởng. Tôi cho rằng tác động tiêu cực trong ngắn hạn được thể hiện rõ qua việc giá nguyên vật liệu tăng mạnh, đặc biệt là dầu khí. Điều này làm leo thang chi phí xây dựng, bởi vì thép, xi măng và nhựa đường đều tăng giá đáng kể ; riêng nhựa đường tại nhiều nước đã tăng từ 30-50%. Chi phí năng lượng tăng cao làm đội chi phí tổng thể của các dự án, đồng thời gia tăng nguy cơ chậm tiến độ hoặc vượt ngân sách. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính và khả năng sinh lời của các công trình hạ tầng quy mô lớn. Đặc biệt, các dự án có vốn đầu tư lớn như đường sắt cao tốc, sân bay hay nhà máy điện hạt nhân có thể trở nên đắt đỏ hơn nhiều so với dự kiến ban đầu do khủng hoảng Trung Đông, nhất là nếu còn kéo dài trong nhiều tháng. Đọc thêmChiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam Khủng hoảng tại Trung Đông là trở ngại đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Giá năng lượng tăng gây ra lạm phát nhập khẩu, làm suy giảm sức mua của hộ gia đình và thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi chi phí năng lượng tăng, doanh nghiệp phải gánh chi phí cao hơn, từ đó hạn chế khả năng đầu tư và mở rộng sản xuất. Vì vậy, mục tiêu đạt mức tăng trưởng 10% mỗi năm của Việt Nam có nguy cơ trở nên khó khăn hơn trong giai đoạn 2026-2027, thậm chí là 2028 nếu khủng hoảng Trung Đông còn kéo dài. Tuy nhiên, không phải mọi tác động đều tiêu cực. Trong trường hợp của Việt Nam, khủng hoảng còn có thể trở thành động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng. Chúng ta có thể thấy rõ rằng Việt Nam hiện rất nhạy cảm với những cú sốc năng lượng từ bên ngoài. Điều này có thể thúc đẩy chính phủ đẩy nhanh chiến lược đa dạng hóa nguồn cung, bao gồm phát triển điện hạt nhân và mở rộng năng lượng tái tạo. Về dài hạn, những bước đi này sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào dầu khí, đặc biệt là nhập khẩu dầu mỏ. Khủng hoảng Trung Đông không hoàn toàn tiêu cực, tôi cho rằng Việt Nam hiểu rõ điều này. Tuy vậy, biến động năng lượng vẫn có thể cản trở mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% được đề ra trong giai đoạn 2026-2030. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Éric Mottet, Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada. (1) Dan Martin, Văn phòng tư vấn Dezan Shira & Associates, được AFP trích dẫn ngày 08/04/2026
Trong khuôn khổ các hoạt động của Thư viện Quốc gia Pháp BnF (Thư viện François Mitterrand), chương trình hội thảo "Pháp-Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" đã được khởi xướng từ năm 2017 nhằm giới thiệu các nghiên cứu mới về giao lưu văn hóa giữa Pháp và Việt Nam, với nhiều chủ đề đa dạng, đặc biệt là liên quan đến lịch sử văn hóa và khoa học nhân văn, khoa học xã hội. Các phiên hội thảo, nay là dưới hình thức trực tuyến qua nền tảng Zoom, được tổ chức vào một ngày thứ Năm mỗi tháng. Trong niên khóa 2025-2026, các buổi hội thảo đã đề cập đến những chủ đề rất đa dạng, như "Lịch sử của các nhân viên người Việt Nam và Đông Dương tại Thư viện Quốc gia Pháp qua các tài liệu lưu trữ (1942-1965)", "Sự phát triển của văn hóa phản kháng thực dân công khai ở Sài Gòn thông qua báo chí độc lập (1900-1930)" hay "Các vấn đề và thách thức của cộng đồng Pháp ngữ tại Việt Nam"... Chương trình "Pháp - Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" niên khóa 2025-2026 đã khép lại vào ngày 21/05/2026, với cuộc hội thảo về chủ đề “Từ điển nhập môn để hiểu về Việt Nam: Một cách tiếp cận văn hóa xã hội” với diễn giả là ông Yves Duchère, một chuyên gia về Đông Nam Á và về Việt Nam, hiện làm việc tại Đại học Trung văn Hồng Kông (Chinese University of Hong Kong), Thâm Quyến, Trung Quốc. Chương trình hội thảo sẽ được mở lại vào tháng 11/2026 cho đến tháng 5/2027. Người khởi xướng và thực hiện chương trình này từ năm 2017 chính là tiến sĩ Nguyễn Giáng Hương, hiện đang phụ trách kho sách Đông Dương tại Thư viện Quốc gia Pháp. Đến niên khóa 2025-2026, cô mời nhà sử học François Guillemot, Viện Khảo cổ học Phương Đông (IAO), đồng tham gia tổ chức. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 26/05/2026 tại Thư viện Quốc gia Pháp, cô Nguyễn Giáng Hương cho biết: "Chương trình hội thảo "Pháp - Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" trong thời gian đầu là nằm trong chương trình hợp tác quốc tế giữa Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Quốc gia Pháp và trường Đại học Sư phạm Cao cấp - ENS Paris. Trong những năm đầu, chương trình này được tổ chức ngay tại trường ENS, với hình thức là mời một diễn giả tham gia thuyết trình mỗi tháng một lần và chương trình kéo dài từ tháng 10 đến tháng 5 hoặc tháng 6. Lý do đầu tiên mà chúng tôi có ý tưởng làm chương trình séminaire (hội thảo) này là khi mà chúng tôi bắt đầu triển khai dự án số hóa kho sách Đông Dương. Vì vậy tên gọi của chuỗi hội thảo này bắt đầu bằng France - Việt Nam. Cổng thông tin của Thư viện Quốc gia Việt Nam và Thư viện Quốc gia Pháp cũng bắt đầu bằng chữ France - Việt Nam. Trong những buổi đầu tiên, nhất là chương trình của năm đầu, chúng tôi tập trung vào các mảng khác nhau về kho sách Đông Dương, nhằm tạo được hiệu ứng về về truyền thông, cũng như gây sự chú ý cho cộng đồng khoa học. Sau đó chương trình được tiếp nối bằng các bài thuyết trình khác và ngày càng được mở rộng, đầu tiên là chương trình được sự quan tâm của cộng đồng nghiên cứu quốc tế, sau đó có những tác giả hay những nhà nghiên cứu cũng tự đề xuất những ý tưởng cũng như những bài thuyết trình mới. Chúng tôi cố gắng duy trì cho đến ngày hôm nay. Kết quả vượt qua cả sự mong đợi là chương trình đã được sự đón nhận rất rộng rãi của các học giả cũng như những người quan tâm về giao lưu văn hóa Việt - Pháp. Chương trình của chúng tôi luôn duy trì một lượng khán thính giả nhất định. Từ khủng hoảng Covid, chúng tôi đã mở rộng chương trình theo hình thức trực tuyến online, thì cũng có một điều hay là mình có thể đón nhận được các thính giả từ nước ngoài, ở Việt Nam, ở Mỹ, hay ở các nước khác của châu Âu. Thứ hai là chúng tôi cũng cố gắng mời các diễn giả ở những nước khác nhau và từ nhiều lĩnh vực khác nhau về khoa học xã hội và nhân văn, qua đó giúp chúng tôi có những góc nhìn khác nhau của các tác giả. Có thể là về cùng một lĩnh vực nhưng góc nhìn của một diễn giả ở châu Á sẽ khác với một diễn giả ở Pháp hay một diễn giả ở Mỹ. Chương trình này đã tạo nên một diễn đàn để các nhà nghiên cứu có thể đối thoại với nhau và chúng tôi cũng rất là cởi mở khi có những người không phải trong ngành nhưng quan tâm, hoặc thậm chí những nhân chứng có thể tham gia và có thể kể câu chuyện của riêng mình." Theo lời Nguyễn Giáng Hương, những bài thuyết trình trong khuôn khổ chương trình hội thảo "Pháp -Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" hiện đã được đưa lên một trang web để mọi người có tham khảo dễ dàng: "Thời gian trước thì tôi có xin một số diễn giả cho dùng lại hoặc là công bố bài thuyết trình của họ. Tôi cũng đã lập ra một website riêng của chương trình này, cũng có tên là "France Vietnam: Le portail entre les cultures", (Pháp - Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa). Dĩ nhiên hiện nay nó vẫn ở dạng như một blog còn hơi thô sơ. Dự định trong tương lai thì có thể sẽ tuyển lựa những bài hay nhất để chúng ta làm một công trình. Thực ra là trước đây, trong một số năm chúng tôi có điều kiện về mặt tài chính cũng như nhân lực để làm hội thảo tổng kết lại một năm thuyết trình. Từ những hội thảo đó thì chúng tôi cũng đã ra được hai ấn bản đúc kết lại những bài thuyết trình của các các diễn giả trong năm." Thư viện số Pháp-Việt : 2.000 tài liệu đặc sắc làm cầu nối giữa di sản Pháp-Việt Thư viện Quốc gia Pháp còn có một thư viện số song ngữ Pháp-Việt, quy tụ những tài liệu phản ánh những tương tác văn hóa, lịch sử, thuộc địa và khoa học giữa hai nước từ thế kỷ 17 đến năm 1954. Ra đời từ sự hợp tác giữa Thư viện Quốc gia Pháp và Thư viện Quốc gia Việt Nam (nay có sự tham gia của Trung tâm Hợp tác Quốc tế Nghiên cứu Nông nghiệp vì Phát triển - CIRAD), thư viện này là một phần của bộ sưu tập Di sản Chung, minh chứng cho mối quan hệ giữa Pháp và thế giới qua nhiều thế kỷ. Thư viện số Pháp-Việt đóng vai trò là cầu nối giữa di sản Pháp và Việt Nam, quy tụ hơn 2.000 tài liệu đặc sắc, tất cả đều có thể được truy cập toàn bộ. Thư viện bao gồm một bộ sưu tập đa dạng các tài liệu in ấn, bản thảo, bản đồ, tranh vẽ và ảnh chụp, được lấy từ các bộ sưu tập của Pháp và Việt Nam. Ngoài ra, khoảng hai mươi văn bản gốc do các chuyên gia, nhà nghiên cứu và người phụ trách bảo tàng người Pháp và Việt Nam giúp người đọc hiểu biết hiểu biết sâu sắc hơn nội dung và bối cảnh của các tài liệu đó. Đối với Nguyễn Giáng Hương, thư viện số Pháp-Việt có vai trò rất quan trọng giúp hiểu được toàn cảnh về xã hội, đời sống văn hóa, nghệ thuật và tri thức của Việt Nam thời kỳ Đông Dương: "Thư viện quốc gia tức là thư viện lưu trữ tất cả những di sản của một quốc gia, nhưng thực ra Thư viện Quốc gia Pháp còn lưu trữ những di sản của nhân loại, trong đó lịch sử của Việt Nam cũng nằm trong dòng chảy của nhân loại. Cụ thể, trong trường hợp Việt Nam với Pháp thì lịch sử chung đã có từ nhiều thế kỷ nay. Vì vậy mà cuốn sách đầu tiên có thể đánh dấu sự tồn tại của tiếng Việt ở thư viện này có lẽ là quyển từ điển Việt - Bồ - La. Cuốn từ điển này từ thế kỷ thứ 16 đã được coi như là cuốn sách đầu tiên. Sau đó Thư viện Quốc gia Pháp cũng thu nhận qua nhiều nguồn khác nhau những sách không chỉ là song ngữ mà có cả sách bằng tiếng Việt, thậm chí là bằng chữ Hán, chữ Nôm của một số nhà viễn du Pháp ngày xưa khi trở về họ mang lại một số văn bản mà họ có được và họ tặng lại cho thư viện. Nói chung có rất nhiều tổ chức nghiên cứu về Việt Nam cho sách và sau đấy thì số lượng sách về Việt Nam mà bằng tiếng Việt tới ngày càng nhiều, nhất là kể từ năm 1922, khi có luật về nộp lưu chiểu ở Đông Dương. Thế là hiện nay, kho sách Đông Dương bằng tiếng Việt là có trên 12.000 ấn bản. Đó là tính riêng về sách thôi. Còn số lượng về báo chí thì cũng độ khoảng vài chục ngàn đầu báo. Chúng ta phải biết mỗi đầu báo là có thể là có nhiều số báo. Số lượng báo rất nhiều. Ấy là chưa kể các bưu ảnh và tất cả nhiều nhiều loại khác nữa. Thậm chí ngày nay, những tư liệu về âm thanh, về hình ảnh liên quan đến Việt Nam cũng có ở Thư viện Quốc gia Pháp. Tức là liên quan đến Việt Nam hoặc Đông Dương thì mình có những tư liệu bằng tiếng Việt, bằng tiếng Pháp và bằng những ngôn ngữ khác nữa. Nó có vai trò rất quan trọng trong việc nghiên cứu và tìm hiểu Việt Nam nói chung và mối quan hệ Việt - Pháp nói riêng. Kho sách, đặc biệt là kho sách Đông Dương, mang lại cho chúng ta một cái nhìn toàn cảnh về xã hội Việt Nam ở thời kỳ Đông Dương, về đời sống văn hóa, nghệ thuật và tri thức của Việt Nam thời kỳ đó. Đấy là một mảng sách vô cùng quan trọng."
Trong khuôn khổ các hoạt động của Thư viện Quốc gia Pháp BnF (Thư viện François Mitterrand), chương trình hội thảo "Pháp-Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" đã được khởi xướng từ năm 2017 nhằm giới thiệu các nghiên cứu mới về giao lưu văn hóa giữa Pháp và Việt Nam, với nhiều chủ đề đa dạng, đặc biệt là liên quan đến lịch sử văn hóa và khoa học nhân văn, khoa học xã hội. Các phiên hội thảo, nay là dưới hình thức trực tuyến qua nền tảng Zoom, được tổ chức vào một ngày thứ Năm mỗi tháng. Trong niên khóa 2025-2026, các buổi hội thảo đã đề cập đến những chủ đề rất đa dạng, như "Lịch sử của các nhân viên người Việt Nam và Đông Dương tại Thư viện Quốc gia Pháp qua các tài liệu lưu trữ (1942-1965)", "Sự phát triển của văn hóa phản kháng thực dân công khai ở Sài Gòn thông qua báo chí độc lập (1900-1930)" hay "Các vấn đề và thách thức của cộng đồng Pháp ngữ tại Việt Nam"... Chương trình "Pháp - Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" niên khóa 2025-2026 đã khép lại vào ngày 21/05/2026, với cuộc hội thảo về chủ đề “Từ điển nhập môn để hiểu về Việt Nam: Một cách tiếp cận văn hóa xã hội” với diễn giả là ông Yves Duchère, một chuyên gia về Đông Nam Á và về Việt Nam, hiện làm việc tại Đại học Trung văn Hồng Kông (Chinese University of Hong Kong), Thâm Quyến, Trung Quốc. Chương trình hội thảo sẽ được mở lại vào tháng 11/2026 cho đến tháng 5/2027. Người khởi xướng và thực hiện chương trình này từ năm 2017 chính là tiến sĩ Nguyễn Giáng Hương, hiện đang phụ trách kho sách Đông Dương tại Thư viện Quốc gia Pháp. Đến niên khóa 2025-2026, cô mời nhà sử học François Guillemot, Viện Khảo cổ học Phương Đông (IAO), đồng tham gia tổ chức. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 26/05/2026 tại Thư viện Quốc gia Pháp, cô Nguyễn Giáng Hương cho biết: "Chương trình hội thảo "Pháp - Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" trong thời gian đầu là nằm trong chương trình hợp tác quốc tế giữa Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Quốc gia Pháp và trường Đại học Sư phạm Cao cấp - ENS Paris. Trong những năm đầu, chương trình này được tổ chức ngay tại trường ENS, với hình thức là mời một diễn giả tham gia thuyết trình mỗi tháng một lần và chương trình kéo dài từ tháng 10 đến tháng 5 hoặc tháng 6. Lý do đầu tiên mà chúng tôi có ý tưởng làm chương trình séminaire (hội thảo) này là khi mà chúng tôi bắt đầu triển khai dự án số hóa kho sách Đông Dương. Vì vậy tên gọi của chuỗi hội thảo này bắt đầu bằng France - Việt Nam. Cổng thông tin của Thư viện Quốc gia Việt Nam và Thư viện Quốc gia Pháp cũng bắt đầu bằng chữ France - Việt Nam. Trong những buổi đầu tiên, nhất là chương trình của năm đầu, chúng tôi tập trung vào các mảng khác nhau về kho sách Đông Dương, nhằm tạo được hiệu ứng về về truyền thông, cũng như gây sự chú ý cho cộng đồng khoa học. Sau đó chương trình được tiếp nối bằng các bài thuyết trình khác và ngày càng được mở rộng, đầu tiên là chương trình được sự quan tâm của cộng đồng nghiên cứu quốc tế, sau đó có những tác giả hay những nhà nghiên cứu cũng tự đề xuất những ý tưởng cũng như những bài thuyết trình mới. Chúng tôi cố gắng duy trì cho đến ngày hôm nay. Kết quả vượt qua cả sự mong đợi là chương trình đã được sự đón nhận rất rộng rãi của các học giả cũng như những người quan tâm về giao lưu văn hóa Việt - Pháp. Chương trình của chúng tôi luôn duy trì một lượng khán thính giả nhất định. Từ khủng hoảng Covid, chúng tôi đã mở rộng chương trình theo hình thức trực tuyến online, thì cũng có một điều hay là mình có thể đón nhận được các thính giả từ nước ngoài, ở Việt Nam, ở Mỹ, hay ở các nước khác của châu Âu. Thứ hai là chúng tôi cũng cố gắng mời các diễn giả ở những nước khác nhau và từ nhiều lĩnh vực khác nhau về khoa học xã hội và nhân văn, qua đó giúp chúng tôi có những góc nhìn khác nhau của các tác giả. Có thể là về cùng một lĩnh vực nhưng góc nhìn của một diễn giả ở châu Á sẽ khác với một diễn giả ở Pháp hay một diễn giả ở Mỹ. Chương trình này đã tạo nên một diễn đàn để các nhà nghiên cứu có thể đối thoại với nhau và chúng tôi cũng rất là cởi mở khi có những người không phải trong ngành nhưng quan tâm, hoặc thậm chí những nhân chứng có thể tham gia và có thể kể câu chuyện của riêng mình." Theo lời Nguyễn Giáng Hương, những bài thuyết trình trong khuôn khổ chương trình hội thảo "Pháp -Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" hiện đã được đưa lên một trang web để mọi người có tham khảo dễ dàng: "Thời gian trước thì tôi có xin một số diễn giả cho dùng lại hoặc là công bố bài thuyết trình của họ. Tôi cũng đã lập ra một website riêng của chương trình này, cũng có tên là "France Vietnam: Le portail entre les cultures", (Pháp - Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa). Dĩ nhiên hiện nay nó vẫn ở dạng như một blog còn hơi thô sơ. Dự định trong tương lai thì có thể sẽ tuyển lựa những bài hay nhất để chúng ta làm một công trình. Thực ra là trước đây, trong một số năm chúng tôi có điều kiện về mặt tài chính cũng như nhân lực để làm hội thảo tổng kết lại một năm thuyết trình. Từ những hội thảo đó thì chúng tôi cũng đã ra được hai ấn bản đúc kết lại những bài thuyết trình của các các diễn giả trong năm." Thư viện số Pháp-Việt : 2.000 tài liệu đặc sắc làm cầu nối giữa di sản Pháp-Việt Thư viện Quốc gia Pháp còn có một thư viện số song ngữ Pháp-Việt, quy tụ những tài liệu phản ánh những tương tác văn hóa, lịch sử, thuộc địa và khoa học giữa hai nước từ thế kỷ 17 đến năm 1954. Ra đời từ sự hợp tác giữa Thư viện Quốc gia Pháp và Thư viện Quốc gia Việt Nam (nay có sự tham gia của Trung tâm Hợp tác Quốc tế Nghiên cứu Nông nghiệp vì Phát triển - CIRAD), thư viện này là một phần của bộ sưu tập Di sản Chung, minh chứng cho mối quan hệ giữa Pháp và thế giới qua nhiều thế kỷ. Thư viện số Pháp-Việt đóng vai trò là cầu nối giữa di sản Pháp và Việt Nam, quy tụ hơn 2.000 tài liệu đặc sắc, tất cả đều có thể được truy cập toàn bộ. Thư viện bao gồm một bộ sưu tập đa dạng các tài liệu in ấn, bản thảo, bản đồ, tranh vẽ và ảnh chụp, được lấy từ các bộ sưu tập của Pháp và Việt Nam. Ngoài ra, khoảng hai mươi văn bản gốc do các chuyên gia, nhà nghiên cứu và người phụ trách bảo tàng người Pháp và Việt Nam giúp người đọc hiểu biết hiểu biết sâu sắc hơn nội dung và bối cảnh của các tài liệu đó. Đối với Nguyễn Giáng Hương, thư viện số Pháp-Việt có vai trò rất quan trọng giúp hiểu được toàn cảnh về xã hội, đời sống văn hóa, nghệ thuật và tri thức của Việt Nam thời kỳ Đông Dương: "Thư viện quốc gia tức là thư viện lưu trữ tất cả những di sản của một quốc gia, nhưng thực ra Thư viện Quốc gia Pháp còn lưu trữ những di sản của nhân loại, trong đó lịch sử của Việt Nam cũng nằm trong dòng chảy của nhân loại. Cụ thể, trong trường hợp Việt Nam với Pháp thì lịch sử chung đã có từ nhiều thế kỷ nay. Vì vậy mà cuốn sách đầu tiên có thể đánh dấu sự tồn tại của tiếng Việt ở thư viện này có lẽ là quyển từ điển Việt - Bồ - La. Cuốn từ điển này từ thế kỷ thứ 16 đã được coi như là cuốn sách đầu tiên. Sau đó Thư viện Quốc gia Pháp cũng thu nhận qua nhiều nguồn khác nhau những sách không chỉ là song ngữ mà có cả sách bằng tiếng Việt, thậm chí là bằng chữ Hán, chữ Nôm của một số nhà viễn du Pháp ngày xưa khi trở về họ mang lại một số văn bản mà họ có được và họ tặng lại cho thư viện. Nói chung có rất nhiều tổ chức nghiên cứu về Việt Nam cho sách và sau đấy thì số lượng sách về Việt Nam mà bằng tiếng Việt tới ngày càng nhiều, nhất là kể từ năm 1922, khi có luật về nộp lưu chiểu ở Đông Dương. Thế là hiện nay, kho sách Đông Dương bằng tiếng Việt là có trên 12.000 ấn bản. Đó là tính riêng về sách thôi. Còn số lượng về báo chí thì cũng độ khoảng vài chục ngàn đầu báo. Chúng ta phải biết mỗi đầu báo là có thể là có nhiều số báo. Số lượng báo rất nhiều. Ấy là chưa kể các bưu ảnh và tất cả nhiều nhiều loại khác nữa. Thậm chí ngày nay, những tư liệu về âm thanh, về hình ảnh liên quan đến Việt Nam cũng có ở Thư viện Quốc gia Pháp. Tức là liên quan đến Việt Nam hoặc Đông Dương thì mình có những tư liệu bằng tiếng Việt, bằng tiếng Pháp và bằng những ngôn ngữ khác nữa. Nó có vai trò rất quan trọng trong việc nghiên cứu và tìm hiểu Việt Nam nói chung và mối quan hệ Việt - Pháp nói riêng. Kho sách, đặc biệt là kho sách Đông Dương, mang lại cho chúng ta một cái nhìn toàn cảnh về xã hội Việt Nam ở thời kỳ Đông Dương, về đời sống văn hóa, nghệ thuật và tri thức của Việt Nam thời kỳ đó. Đấy là một mảng sách vô cùng quan trọng."
Cựu Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến bị tuyên 6 năm tù, bồi thường 108 tỷ đồng; Quảng Ngãi sẽ áp dụng hệ thống KPI vào sử dụng để đánh giá hiệu suất công việc của cán bộ công chức; Việt Nam khen thưởng các đơn vị bắt giữ 2 nghi phạm Samoa trong vụ thanh toán băng đảng ở TP HCM, nhưng Thông tấn xã AKP của Campuchia nói họ bị bắt ở Sihanoukville.
Một câu chuyện hy hữu trong thể thao vừa diễn ra tại Philippines. Đó là việc hai tay vợt từ Việt Nam dù không thi đấu trận chung kết giải pickleball Mindanao Open 2026, nhưng cả hai đều được công nhận là nhà vô địch.
Những “thám tử vị giác” bí ẩn của Michelin đang âm thầm xuất hiện tại Nam Úc, đánh dấu lần đầu tiên cẩm nang ẩm thực danh giá này đặt chân đến thị trường Úc. Với hàng loạt nhà hàng tại Adelaide và các vùng rượu vang nổi tiếng nằm trong tầm ngắm, giới đầu bếp địa phương đang vừa háo hức vừa hồi hộp trước cơ hội được bước vào hệ thống xếp hạng ẩm thực có ảnh hưởng nhất thế giới.
VOV1 - Nhiều tổ chức tài chính và báo chí quốc tế tiếp tục đưa ra những đánh giá tích cực và lạc quan về triển vọng kinh tế Việt Nam.Từ tăng trưởng, sản xuất cho tới thị trường tài chính, Việt Nam được nhìn nhận là một trong những điểm sáng nổi bật của khu vực châu Á, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động.Hãng S&P Ratings dự báo, đến năm 2028, Việt Nam có thể trở thành nền kinh tế tăng trưởng nhanh thứ hai châu Á, chỉ sau Ấn Độ. Động lực chính đến từ hoạt động xuất khẩu và đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng. Theo S&P, cam kết mở rộng đầu tư hạ tầng của Chính phủ Việt Nam trong các dự án như cao tốc, cảng biển, sân bay, năng lượng và hạ tầng số, có thể tạo nền tảng cho nhiều năm tăng trưởng mạnh mẽ tiếp theo.Không chỉ được đánh giá cao về tốc độ tăng trưởng, Việt Nam còn ngày càng khẳng định vai trò là trung tâm sản xuất mới của khu vực. Theo báo cáo của Văn phòng Nghiên cứu Kinh tế Vĩ mô ASEAN+3, Việt Nam đang nổi lên như một trung tâm sản xuất quan trọng trong khu vực, đồng thời duy trì được đà tăng trưởng cao dù phải đối mặt nhiều sức ép từ bên ngoài. Báo cáo nhận định, chính nhờ vậy, nhiều doanh nghiệp quốc tế đang lựa chọn Việt Nam như một trung tâm sản xuất thay thế trong quá trình đa dạng hóa chuỗi cung ứng.Cùng với triển vọng tăng trưởng và sản xuất tích cực, thị trường tài chính Việt Nam cũng nhận được sự quan tâm lớn của giới đầu tư quốc tế. Dư luận các nước đặc biệt chú ý tới việc FTSE Russell xác nhận lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp vào ngày 21/9/2026. Quyết định này đưa Việt Nam tiến gần hơn tới nhóm các thị trường lớn trong khu vực như Ấn Độ hay Trung Quốc, đồng thời cho thấy rõ hiệu quả của những cải cách theo hướng thân thiện hơn với nhà đầu tư mà Việt Nam đã triển khai trong thời gian qua. Theo hãng tin CNBC, việc nâng hạng sẽ tạo điều kiện để nhiều quỹ đầu tư thụ động toàn cầu gia tăng tỷ trọng cổ phiếu Việt Nam trong danh mục đầu tư. Ông John Desmond Sheehy, Thành viên Hội đồng Quản trị độc lập tại Công ty Cổ phần Chứng khoán VPS, cho biết:"Tôi đã ở đây 27 năm và những tiến bộ đạt được là phi thường. Một trong những cột mốc quan trọng nhất phía trước, là việc nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam của FTSE Russell. Đây là điều mà chúng ta đã nỗ lực trong nhiều năm và nay cuối cùng đã đạt được. Tôi xin chúc mừng Chính phủ, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước vì đã nỗ lực để có kết quả này. "Việt Nam là một trong những điểm sáng nổi bật của khu vực châu Á. Ảnh minh họa (KT)
- Việt Nam được nhìn nhận là một trong những điểm sáng nổi bật của khu vực châu Á.- Gỡ điểm nghẽn, đón chu kỳ phục hồi mới của bất động sản - TP. Hồ Chí Minh điều chuyển 945 tỷ đồng vốn đầu tư công cho dự án mới
Tin tức chú ý: Đề xuất tăng mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công lên 3,012 triệu đồng; Tiết lộ số vốn Petrolimex góp khi bắt tay Xuân Cầu Holdings và Selex Motors xây trạm sạc; Lần đầu tiên Việt Nam có thể tự sản xuất sorbitol quy mô công nghiệp...
Khủng hoảng dầu lửa Trung Đông lại làm giảm bớt căng thẳng tranh chấp chủ quyền giữa Manila và Bắc Kinh. Ngày 24/03/2026, tổng thống Marcos Jr. tuyên bố “sẵn sàng nối lại đàm phán dự án dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông”, sau đó được bộ Ngoại Giao Philippines nhấn mạnh là “phải tuân theo Hiến Pháp Philippines”. Một tháng sau, đại sứ Philippines tại Trung Quốc giải thích hai bên “vừa cố gắng quản lý những khác biệt vừa tìm kiếm sự hội tụ lợi ích”. Lần đầu đầu tiên từ ba năm qua, dấu hiệu “tan băng” bắt đầu xuất hiện cho dù nguyên thủ Philippines và Trung Quốc cam kết nối lại đàm phán phát triển dầu khí chung ở Biển Đông nhân chuyến công du Bắc Kinh đầu năm 2023 của tổng thống Marcos Jr. Tháng 03/2026, Philippines ban bố “tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia” do khủng hoảng Trung Đông. Ngay sau đó, Bắc Kinh hứa hỗ trợ duy trì nguồn cung nhiên liệu. Khu vực khai thác chung Philippines-Trung Quốc nằm ở đâu ? Mô hình này sẽ tác động như thế nào đối với Việt Nam ? Khủng hoảng Trung Đông đang định hình lại nguồn cung nhiên liệu của nhiều nước Đông Nam Á. Liệu Việt Nam, Philippines và Trung Quốc có thể hướng đến việc tách riêng tranh chấp chủ quyền để đồng khai thác dầu khí ở Biển Đông ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Viện Đông Á - IAO, Trường Sư phạm Lyon tại Pháp. RFI : Gần đây, Manila đề cập đến việc nối lại đàm phán với Bắc Kinh về dự án thăm dò dầu khí chung ở Biển Đông. Xin ông giải thích bối cảnh đằng sau quyết định này của Philippines ? Laurent Gédéon : Bối cảnh của quyết định này liên quan đến việc Philippines bị phụ thuộc nặng nề vào nguồn tài nguyên hydrocarbon, với các nhà cung cấp dầu chính, theo thứ tự quan trọng, là Ả Rập Xê Út, Irak, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Kuwait. Có thể thấy Philippines nhập khẩu gần như toàn bộ dầu thô từ Trung Đông, khiến nước này rất dễ bị ảnh hưởng bởi biến động giá dầu và gián đoạn nguồn cung. Để đối phó với tình trạng này, ngày 24/03, tổng thống Ferdinand Marcos Jr. đã tuyên bố “tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia”, nhằm ứng phó với “rủi ro từ gián đoạn cung ứng và tác động tiêu cực của giá nhiên liệu tăng cao”, hậu quả của xung đột Trung Đông. Đây là một phần trong nỗ lực của chính phủ nhằm giảm thiểu tác động của giá nhiên liệu tăng vọt đối với nền kinh tế quốc gia. Đọc thêmPhilippines và Trung Quốc nối lại đàm phán về Biển Đông và hợp tác năng lượng Về vấn đề này, trong cuộc họp báo ngày 25/03, tổng thống Marcos Jr. cho biết Philippines sẽ tìm nguồn cung năng lượng thay thế từ các đối tác ít bị ảnh hưởng bởi bất ổn Trung Đông. Ông cho biết Manila đang đàm phán với Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Giống như Việt Nam, Philippines cũng đề nghị Tokyo hỗ trợ tiếp cận một phần dự trữ dầu của Nhật Bản. Tokyo phản hồi tích cực, nhưng nhấn mạnh việc hỗ trợ sẽ phụ thuộc vào nhu cầu cụ thể của họ. Cũng chính trong bối cảnh phức tạp này, Philippines thông báo nối lại đàm phán với Trung Quốc về dự án phát triển dầu khí chung. RFI : Thông báo của Philippines liên quan đến khu vực nào tại Biển Đông ? Laurent Gédéon : Khu vực được thảo luận là bãi Cỏ Rong (Reed Bank, Philippines gọi là bãi Recto), cách đảo Palawan khoảng 80 hải lý về phía tây, thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Dự án phát triển tài nguyên hydrocarbon tại bãi Cỏ Rong rất quan trọng đối với nguồn cung năng lượng của Philippines vì theo ước tính, khu vực này chứa khoảng 165 triệu thùng dầu và 3.486 nghìn tỷ feet khối khí đốt. Nguồn tài nguyên này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh mỏ khí Malampaya - hiện cung cấp gần 30% nhiên liệu cho Philippines - đang cạn dần. Vì vậy, việc phát triển bãi Cỏ Rong được xem là giải pháp thay thế cấp thiết. Tương lai an ninh năng lượng của Philippines phụ thuộc nhiều vào kết quả các cuộc đàm phán, trong khi nước này vẫn đối mặt với rủi ro đáng kể. RFI : Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc và Philippines nêu khả năng khai thác chung dầu khí ở Biển Đông. Trước đây, vấn đề này đã được đề cập như thế nào ? Laurent Gédéon : Đây là một tiến trình rất dài. Năm 2003, Trung Quốc và Philippines đã bắt đầu đàm phán về việc cùng khai thác dầu ngoài khơi. Năm 2005, thỏa thuận ba bên về « Khảo sát Địa chấn biển chung » (Joint Marine Seismic Undertaking, JSMU) được ký giữa Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNOOC), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PETROVIETNAM) và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Philippines (PNOC), tại khu vực “theo thỏa thuận” rộng 142.886 km² ở Biển Đông, bao gồm một phần quần đảo Trường Sa. Thỏa thuận này kéo dài ba năm và hết hạn vào năm 2008. Năm 2012, chính quyền Aquino khôi phục ý tưởng hợp tác với Trung Quốc, nhằm thu hút CNOOC đầu tư thăm dò dầu khí. Tuy nhiên, nỗ lực này thất bại do lo ngại liên quan đến đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc. Năm 2014, Manila áp đặt lệnh cấm tạm thời đối với hoạt động thăm dò tại các vùng biển tranh chấp vì căng thẳng với Trung Quốc gia tăng và sau khi Philippines đưa vụ việc ra Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ở La Haye. Tình hình bế tắc trong hai năm, sau khi Bắc Kinh bác bỏ phán quyết ngày 12/07/2016 của Tòa phủ nhận yêu sách “đường chín đoạn” bao trùm phần lớn Biển Đông. Đọc thêmBiển Đông : Động cơ chính trị của Trung Quốc đằng sau tuyên bố bảo vệ môi trường ? Đến năm 2018, hai bên đạt được một số tiến triển khi ký bản ghi nhớ, thiết lập khuôn khổ đàm phán hợp tác phát triển dầu khí. Thỏa thuận quy định trong vòng 12 tháng kể từ tháng 11/2018, hai bên phải thống nhất được khu vực và phương thức thăm dò chung ở Biển Đông. Tuy nhiên, vì không có thỏa thuận cụ thể nào được ký kết, tổng thống Rodrigo Duterte đình chỉ đàm phán vào tháng 06/2022. Ngày 10/01/2023, Tòa án Tối cao Philippines tuyên bố vô hiệu thỏa thuận JSMU ký năm 2005 với Trung Quốc và Việt Nam vì vi hiến, do lo ngại làm suy yếu chủ quyền quốc gia. Dù vậy, các cuộc tiếp xúc không chính thức giữa Trung Quốc và Philippines vẫn tiếp diễn, trước khi hai bên chính thức nối lại đối thoại vào tháng 01/2025. Tiến trình được thúc đẩy trong năm 2026 qua các cuộc tham vấn song phương, bao gồm cuộc tham vấn lần thứ 24 giữa bộ Ngoại Giao hai nước tại Tuyền Châu, Trung Quốc và cuộc họp lần thứ 11 của cơ chế tham vấn song phương về Biển Đông. Các cuộc đàm phán này nhằm xác định những bước đi ban đầu hướng tới hợp tác dầu khí. Tuy nhiên, cần theo dõi phần tiếp theo vì ngày 29/03, Manila khẳng định mọi quyết định hợp tác sẽ phải tuân thủ Hiến Pháp Philippines và bảo đảm chủ quyền quốc gia. RFI : Một số vùng mà Manila tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) chồng lấn với vùng biển mà Việt Nam khẳng định chủ quyền. Một dự án thăm dò dầu khí chung giữa Trung Quốc và Philippines có thể tác động như thế nào đến tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ? Laurent Gédéon : Bãi Cỏ Rong, nơi Trung Quốc và Philippines vừa đàm phán triển khai thăm dò dầu khí chung, nằm ngoài khu vực chồng lấn chủ quyền của Philippines và Việt Nam tại Trường Sa, do đó dự án này không ảnh hưởng đến tuyên bố chủ quyền của Việt Nam. Đọc thêmBiển Đông: Việt Nam dè dặt với các sáng kiến của Philippines Tuy nhiên, tuyên bố chủ quyền vẫn tồn tại, liên quan đến phía nam Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Philippines. Vùng biển tranh chấp này sẽ là chủ đề đàm phán tương lai giữa Việt Nam và Philippines. Về tài nguyên dầu khí của Việt Nam, chúng tập trung quanh bãi Tư Chính, nằm ở rìa phía đông nam và nằm ngoài Vùng Đặc quyền Kinh tế của Philippines. Khu vực này, chiếm khoảng 10% nhu cầu năng lượng Việt Nam, lại là tâm điểm căng thẳng, không phải giữa Việt Nam và Philippines, mà là giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bắc Kinh thường tuần tra tại đây nhằm đe dọa Việt Nam và làm gián đoạn hoạt động của các công ty dầu khí khai thác trong khu vực. RFI : Trong trường hợp này hoặc trong trường hợp các dự án phát triển chung giữa Trung Quốc và Philippines, Việt Nam có thể làm gì ? Liệu lập trường của Hà Nội có được Bắc Kinh và Manila lắng nghe ? Laurent Gédéon : Khi Hiệp định Hợp tác Khảo sát Địa chấn Biển chung (JSMU) được ký năm 2005, mà tôi đề cập ở trên, cả Philippines và Việt Nam đều coi đó là cơ hội để cải thiện quan hệ chính trị, kinh tế và quân sự với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy phát triển chung các nguồn tài nguyên có thể sẽ rất khó khai thác vì những căng thẳng. Tình hình sau đó trở nên phức tạp hơn do Trung Quốc chính thức hóa các tuyên bố chủ quyền tối đa, thể hiện qua “đường chín đoạn”. Tuy nhiên, các bên vẫn không từ bỏ nỗ lực tìm kiếm một thỏa hiệp, dù chỉ là tạm thời. Đặc biệt, Trung Quốc đã tích cực đề xuất một số dự án phát triển chung ở Biển Đông với Philippines và Việt Nam kể từ năm 2017. Động cơ của Bắc Kinh có thể được xem xét cả về kinh tế và địa chiến lược (…) Về lập trường của Việt Nam, kịch bản khả thi nhất sẽ là một hoặc nhiều thỏa thuận chia sẻ tài nguyên, theo đó Trung Quốc, Việt Nam và Philippines sẽ cùng nhau khai thác dầu khí. Tuy nhiên, sự hợp tác như vậy sẽ đòi hỏi cả tính sáng tạo về mặt pháp lý và thiện chí thực sự từ phía các nước liên quan để đạt được một thỏa hiệp. Đọc thêmBiển Đông : Việt Nam có chịu "nhượng" chủ quyền để cùng Philippines chống Trung Quốc ? Theo tôi, Hà Nội, cũng như Bắc Kinh và Manila, trong trường hợp này nên chấp nhận một số nhượng bộ để dung hòa các tuyên bố chủ quyền của mỗi bên đối với các khu vực tranh chấp với việc chia sẻ công bằng các nguồn năng lượng có trong những khu vực đó. Trong trường hợp như vậy, các liên doanh được thành lập trong khuôn khổ quản lý chung không nên bị coi là một bước thụt lùi hoặc là một thất bại, mà là một cơ chế thực dụng được thiết lập trong khi chờ đợi một giải pháp dứt khoát, mà không phán xét về việc phân định ranh giới sau này các vùng biển liên quan và không đặt ra nghi vấn về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của ba bên. Có khả năng đây là một hướng để suy ngẫm hoặc một cơ hội chính trị và kinh tế đáng để đào sâu, đặc biệt là đối với Việt Nam. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Trường Sư phạm Lyon.
Khủng hoảng dầu lửa Trung Đông lại làm giảm bớt căng thẳng tranh chấp chủ quyền giữa Manila và Bắc Kinh. Ngày 24/03/2026, tổng thống Marcos Jr. tuyên bố “sẵn sàng nối lại đàm phán dự án dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông”, sau đó được bộ Ngoại Giao Philippines nhấn mạnh là “phải tuân theo Hiến Pháp Philippines”. Một tháng sau, đại sứ Philippines tại Trung Quốc giải thích hai bên “vừa cố gắng quản lý những khác biệt vừa tìm kiếm sự hội tụ lợi ích”. Lần đầu đầu tiên từ ba năm qua, dấu hiệu “tan băng” bắt đầu xuất hiện cho dù nguyên thủ Philippines và Trung Quốc cam kết nối lại đàm phán phát triển dầu khí chung ở Biển Đông nhân chuyến công du Bắc Kinh đầu năm 2023 của tổng thống Marcos Jr. Tháng 03/2026, Philippines ban bố “tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia” do khủng hoảng Trung Đông. Ngay sau đó, Bắc Kinh hứa hỗ trợ duy trì nguồn cung nhiên liệu. Khu vực khai thác chung Philippines-Trung Quốc nằm ở đâu ? Mô hình này sẽ tác động như thế nào đối với Việt Nam ? Khủng hoảng Trung Đông đang định hình lại nguồn cung nhiên liệu của nhiều nước Đông Nam Á. Liệu Việt Nam, Philippines và Trung Quốc có thể hướng đến việc tách riêng tranh chấp chủ quyền để đồng khai thác dầu khí ở Biển Đông ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Viện Đông Á - IAO, Trường Sư phạm Lyon tại Pháp. RFI : Gần đây, Manila đề cập đến việc nối lại đàm phán với Bắc Kinh về dự án thăm dò dầu khí chung ở Biển Đông. Xin ông giải thích bối cảnh đằng sau quyết định này của Philippines ? Laurent Gédéon : Bối cảnh của quyết định này liên quan đến việc Philippines bị phụ thuộc nặng nề vào nguồn tài nguyên hydrocarbon, với các nhà cung cấp dầu chính, theo thứ tự quan trọng, là Ả Rập Xê Út, Irak, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Kuwait. Có thể thấy Philippines nhập khẩu gần như toàn bộ dầu thô từ Trung Đông, khiến nước này rất dễ bị ảnh hưởng bởi biến động giá dầu và gián đoạn nguồn cung. Để đối phó với tình trạng này, ngày 24/03, tổng thống Ferdinand Marcos Jr. đã tuyên bố “tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia”, nhằm ứng phó với “rủi ro từ gián đoạn cung ứng và tác động tiêu cực của giá nhiên liệu tăng cao”, hậu quả của xung đột Trung Đông. Đây là một phần trong nỗ lực của chính phủ nhằm giảm thiểu tác động của giá nhiên liệu tăng vọt đối với nền kinh tế quốc gia. Đọc thêmPhilippines và Trung Quốc nối lại đàm phán về Biển Đông và hợp tác năng lượng Về vấn đề này, trong cuộc họp báo ngày 25/03, tổng thống Marcos Jr. cho biết Philippines sẽ tìm nguồn cung năng lượng thay thế từ các đối tác ít bị ảnh hưởng bởi bất ổn Trung Đông. Ông cho biết Manila đang đàm phán với Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Giống như Việt Nam, Philippines cũng đề nghị Tokyo hỗ trợ tiếp cận một phần dự trữ dầu của Nhật Bản. Tokyo phản hồi tích cực, nhưng nhấn mạnh việc hỗ trợ sẽ phụ thuộc vào nhu cầu cụ thể của họ. Cũng chính trong bối cảnh phức tạp này, Philippines thông báo nối lại đàm phán với Trung Quốc về dự án phát triển dầu khí chung. RFI : Thông báo của Philippines liên quan đến khu vực nào tại Biển Đông ? Laurent Gédéon : Khu vực được thảo luận là bãi Cỏ Rong (Reed Bank, Philippines gọi là bãi Recto), cách đảo Palawan khoảng 80 hải lý về phía tây, thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Dự án phát triển tài nguyên hydrocarbon tại bãi Cỏ Rong rất quan trọng đối với nguồn cung năng lượng của Philippines vì theo ước tính, khu vực này chứa khoảng 165 triệu thùng dầu và 3.486 nghìn tỷ feet khối khí đốt. Nguồn tài nguyên này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh mỏ khí Malampaya - hiện cung cấp gần 30% nhiên liệu cho Philippines - đang cạn dần. Vì vậy, việc phát triển bãi Cỏ Rong được xem là giải pháp thay thế cấp thiết. Tương lai an ninh năng lượng của Philippines phụ thuộc nhiều vào kết quả các cuộc đàm phán, trong khi nước này vẫn đối mặt với rủi ro đáng kể. RFI : Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc và Philippines nêu khả năng khai thác chung dầu khí ở Biển Đông. Trước đây, vấn đề này đã được đề cập như thế nào ? Laurent Gédéon : Đây là một tiến trình rất dài. Năm 2003, Trung Quốc và Philippines đã bắt đầu đàm phán về việc cùng khai thác dầu ngoài khơi. Năm 2005, thỏa thuận ba bên về « Khảo sát Địa chấn biển chung » (Joint Marine Seismic Undertaking, JSMU) được ký giữa Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNOOC), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PETROVIETNAM) và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Philippines (PNOC), tại khu vực “theo thỏa thuận” rộng 142.886 km² ở Biển Đông, bao gồm một phần quần đảo Trường Sa. Thỏa thuận này kéo dài ba năm và hết hạn vào năm 2008. Năm 2012, chính quyền Aquino khôi phục ý tưởng hợp tác với Trung Quốc, nhằm thu hút CNOOC đầu tư thăm dò dầu khí. Tuy nhiên, nỗ lực này thất bại do lo ngại liên quan đến đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc. Năm 2014, Manila áp đặt lệnh cấm tạm thời đối với hoạt động thăm dò tại các vùng biển tranh chấp vì căng thẳng với Trung Quốc gia tăng và sau khi Philippines đưa vụ việc ra Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ở La Haye. Tình hình bế tắc trong hai năm, sau khi Bắc Kinh bác bỏ phán quyết ngày 12/07/2016 của Tòa phủ nhận yêu sách “đường chín đoạn” bao trùm phần lớn Biển Đông. Đọc thêmBiển Đông : Động cơ chính trị của Trung Quốc đằng sau tuyên bố bảo vệ môi trường ? Đến năm 2018, hai bên đạt được một số tiến triển khi ký bản ghi nhớ, thiết lập khuôn khổ đàm phán hợp tác phát triển dầu khí. Thỏa thuận quy định trong vòng 12 tháng kể từ tháng 11/2018, hai bên phải thống nhất được khu vực và phương thức thăm dò chung ở Biển Đông. Tuy nhiên, vì không có thỏa thuận cụ thể nào được ký kết, tổng thống Rodrigo Duterte đình chỉ đàm phán vào tháng 06/2022. Ngày 10/01/2023, Tòa án Tối cao Philippines tuyên bố vô hiệu thỏa thuận JSMU ký năm 2005 với Trung Quốc và Việt Nam vì vi hiến, do lo ngại làm suy yếu chủ quyền quốc gia. Dù vậy, các cuộc tiếp xúc không chính thức giữa Trung Quốc và Philippines vẫn tiếp diễn, trước khi hai bên chính thức nối lại đối thoại vào tháng 01/2025. Tiến trình được thúc đẩy trong năm 2026 qua các cuộc tham vấn song phương, bao gồm cuộc tham vấn lần thứ 24 giữa bộ Ngoại Giao hai nước tại Tuyền Châu, Trung Quốc và cuộc họp lần thứ 11 của cơ chế tham vấn song phương về Biển Đông. Các cuộc đàm phán này nhằm xác định những bước đi ban đầu hướng tới hợp tác dầu khí. Tuy nhiên, cần theo dõi phần tiếp theo vì ngày 29/03, Manila khẳng định mọi quyết định hợp tác sẽ phải tuân thủ Hiến Pháp Philippines và bảo đảm chủ quyền quốc gia. RFI : Một số vùng mà Manila tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) chồng lấn với vùng biển mà Việt Nam khẳng định chủ quyền. Một dự án thăm dò dầu khí chung giữa Trung Quốc và Philippines có thể tác động như thế nào đến tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ? Laurent Gédéon : Bãi Cỏ Rong, nơi Trung Quốc và Philippines vừa đàm phán triển khai thăm dò dầu khí chung, nằm ngoài khu vực chồng lấn chủ quyền của Philippines và Việt Nam tại Trường Sa, do đó dự án này không ảnh hưởng đến tuyên bố chủ quyền của Việt Nam. Đọc thêmBiển Đông: Việt Nam dè dặt với các sáng kiến của Philippines Tuy nhiên, tuyên bố chủ quyền vẫn tồn tại, liên quan đến phía nam Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Philippines. Vùng biển tranh chấp này sẽ là chủ đề đàm phán tương lai giữa Việt Nam và Philippines. Về tài nguyên dầu khí của Việt Nam, chúng tập trung quanh bãi Tư Chính, nằm ở rìa phía đông nam và nằm ngoài Vùng Đặc quyền Kinh tế của Philippines. Khu vực này, chiếm khoảng 10% nhu cầu năng lượng Việt Nam, lại là tâm điểm căng thẳng, không phải giữa Việt Nam và Philippines, mà là giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bắc Kinh thường tuần tra tại đây nhằm đe dọa Việt Nam và làm gián đoạn hoạt động của các công ty dầu khí khai thác trong khu vực. RFI : Trong trường hợp này hoặc trong trường hợp các dự án phát triển chung giữa Trung Quốc và Philippines, Việt Nam có thể làm gì ? Liệu lập trường của Hà Nội có được Bắc Kinh và Manila lắng nghe ? Laurent Gédéon : Khi Hiệp định Hợp tác Khảo sát Địa chấn Biển chung (JSMU) được ký năm 2005, mà tôi đề cập ở trên, cả Philippines và Việt Nam đều coi đó là cơ hội để cải thiện quan hệ chính trị, kinh tế và quân sự với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy phát triển chung các nguồn tài nguyên có thể sẽ rất khó khai thác vì những căng thẳng. Tình hình sau đó trở nên phức tạp hơn do Trung Quốc chính thức hóa các tuyên bố chủ quyền tối đa, thể hiện qua “đường chín đoạn”. Tuy nhiên, các bên vẫn không từ bỏ nỗ lực tìm kiếm một thỏa hiệp, dù chỉ là tạm thời. Đặc biệt, Trung Quốc đã tích cực đề xuất một số dự án phát triển chung ở Biển Đông với Philippines và Việt Nam kể từ năm 2017. Động cơ của Bắc Kinh có thể được xem xét cả về kinh tế và địa chiến lược (…) Về lập trường của Việt Nam, kịch bản khả thi nhất sẽ là một hoặc nhiều thỏa thuận chia sẻ tài nguyên, theo đó Trung Quốc, Việt Nam và Philippines sẽ cùng nhau khai thác dầu khí. Tuy nhiên, sự hợp tác như vậy sẽ đòi hỏi cả tính sáng tạo về mặt pháp lý và thiện chí thực sự từ phía các nước liên quan để đạt được một thỏa hiệp. Đọc thêmBiển Đông : Việt Nam có chịu "nhượng" chủ quyền để cùng Philippines chống Trung Quốc ? Theo tôi, Hà Nội, cũng như Bắc Kinh và Manila, trong trường hợp này nên chấp nhận một số nhượng bộ để dung hòa các tuyên bố chủ quyền của mỗi bên đối với các khu vực tranh chấp với việc chia sẻ công bằng các nguồn năng lượng có trong những khu vực đó. Trong trường hợp như vậy, các liên doanh được thành lập trong khuôn khổ quản lý chung không nên bị coi là một bước thụt lùi hoặc là một thất bại, mà là một cơ chế thực dụng được thiết lập trong khi chờ đợi một giải pháp dứt khoát, mà không phán xét về việc phân định ranh giới sau này các vùng biển liên quan và không đặt ra nghi vấn về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của ba bên. Có khả năng đây là một hướng để suy ngẫm hoặc một cơ hội chính trị và kinh tế đáng để đào sâu, đặc biệt là đối với Việt Nam. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Trường Sư phạm Lyon.
VOV1 - Liên tục trong khoảng gần 2 tuần qua, chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae trở thành tiêu điểm của của dư luận Nhật Bản và truyền thông nước này không bỏ sót bất cứ diễn biến nào có liên quan.Đưa tin sớm nhất về hoạt động ngoại giao thượng đỉnh này là Hãng thông tấn Jiji Press và tờ Thời báo kinh tế Nhật Bản Nikkei. Bắt đầu từ ngày 21/4 – thời điểm chuyến công du Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae còn chưa được công bố chính thức, 2 cơ quan báo chí này đã đăng tải các tin tức và bình luận có liên quan.Trong khi Jiji Press dự báo “khung hỗ trợ năng lượng dành cho các nước châu Á, có tên gọi POWERR Asia, với trọng tâm là một khoản hỗ trợ lên tới 10 tỷ USD từ Tokyo, do Thủ tướng Takaichi công bố hôm 15/4, sẽ là một trong những hành trang quan trọng trong chuyến công du tới Việt Nam”, thì Nikkei nhận định “hợp tác trong các lĩnh vực liên quan an ninh kinh tế như năng lượng, khoáng sản thiết yếu, khoa học - công nghệ… sẽ được đặt lên bàn nghị sự thượng đỉnh Nhật – Việt”.Tiếp đó, tất cả các báo lớn của Nhật Bản số ra hôm qua (1/5) đồng loạt đưa tin về việc bà Takaichi lên đường sang Việt Nam và dẫn các thông tin do đích thân vị nữ Thủ tướng công bố trước khi lên máy bay. Truyền thông Nhật Bản đặt nhiều hy vọng vào hội đàm thượng đỉnh giữa Thủ tướng Takaichi và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm, cũng như bài thuyết trình của bà Takaichi về chính sách ngoại giao.Theo Yomiuri – một trong những tờ báo lớn nhất Nhật Bản, trong bài thuyết trình nêu trên, Thủ tướng Takaichi sẽ nhấn mạnh tầm quan trọng của một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở (FOIP), đồng thời nêu bật 3 nhóm vấn đề lớn, bao gồm kiến tạo một hệ sinh thái kinh tế của thời đại số và trí tuệ nhân tạo (AI), phối hợp tạo dựng nền kinh tế tiên phong dựa vào hợp tác công tư, phối hợp trong gìn giữ hòa bình và ổn định ở khu vực.Yomiuri cũng nhận định, bà Takaichi sẽ kêu gọi tăng cường hợp tác năng lượng dựa vào khung hỗ trợ “POWERR Asia”, công bố kế hoạch viện trợ nhằm nâng cấp cơ sở hạ tầng viễn thông, bao gồm hệ thống cáp ngầm dưới biển và hệ thống thông tin vệ tinh. Ngoài ra sẽ là việc mở rộng đối tượng và quy mô của viện trợ an ninh chính thức (OSA), tận dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho xây dựng các sân bay, cảng biển và nâng cao năng lực bảo đảm an ninh trên biển…Tất cả các vấn đề nêu trên đều được đánh giá là những yếu tố cốt lõi, liên quan trực tiếp đến lợi ích quốc gia của Nhật Bản và các đối tác chiến lược./.Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae kỳ vọng một trụ cột mới trong hợp tác chiến lược với Việt Nam. Ảnh Jiji Press
VOV1 - 51 năm trôi qua kể từ ngày miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, ký ức về một Sài Gòn- TP.HCM dưới cánh bay, gần như nguyên vẹn sau chiến tranh và ngày càng phát triển, luôn hiện hữu trong câu chuyện của phi công- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thành Trung. Từ sân bay nghe tin chiến thắngNhắc đến phi công Nguyễn Thành Trung là nhắc đến 2 chuyến bay lịch sử góp phần làm nên chiến thắng 30/4/1975. Đó là chuyến bay ném bom Dinh Độc Lập ngày 8/4/1975 và chuyến bay ném bom sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28/4/1975.Phi công Nguyễn Thành Trung chia sẻ, ném bom vào đầu não tổng hành dinh của chính quyền Việt Nam Cộng hoà, đầu não sứ quán Mỹ là ý tưởng, ước muốn thôi thúc từ khi ông bắt đầu hiện thực hóa giấc mơ phi công. Ông nung nấu điều đó và quyết tâm thực hiện cho bằng được.Phi công Nguyễn Thành Trung là người đứng bên phải (Ảnh tư liệu)
VOV1 - Chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam của nhà lãnh đạo Hàn Quốc đang thu hút sự chú ý đặc biệt của dư luận nước này với nhiều thông tin được truyền tải theo từng diễn biến.Sự kiện đầu tiên trong chuyến thăm được truyền thông Hàn Quốc đưa tin đậm nét là cuộc hội đàm giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm và Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung. Các báo dẫn lời ông Lee tại cuộc họp báo chung sau hội đàm cho biết lãnh đạo cao nhất của hai nước đã nhất trí sẽ hợp tác chặt chẽ, hướng tới tăng cường an ninh năng lượng và duy trì sự ổn định của nguồn cung, trong bối cảnh chuỗi cung ứng bất ổn do tình hình Trung Đông.Hãng Thông tấn Yohap còn cho biết, hai nhà lãnh đạo nhất trí sẽ nâng kim ngạch thương mại song phương lên 150 tỷ USD vào năm 2030, đồng thời đưa tin về hàng loạt các văn bản thỏa thuận hợp tác do doanh nghiệp hai bên ký kết, coi đây là những động thái mở ra nhiều cơ hội mới cho hợp tác giữa doanh nghiệp hai nước. Dư luận Hàn Quốc cũng hoan nghênh việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cam kết sẽ đảm bảo an toàn cho cộng đồng người Hàn Quốc tại Việt Nam.Tất cả các tờ báo lớn số ra hôm nay (23/4) của Hàn Quốc cũng đồng loạt đưa tin về cuộc hội kiến giữa Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Lê Minh Hưng và Tổng thống Lee Jae Myung vừa diễn ra cùng ngày. Tại đây, ông Lee bày tỏ mong muốn làm sâu sắc thêm hợp tác với Việt Nam trên các lĩnh vực mang tính động lực cho cả nền kinh tế như điện hạt nhân, hạ tầng giao thông, năng lượng…, để cùng nhau tiếp tục tạo nên một “kỳ tích sông Hồng” mới.Dư luận Hàn Quốc cũng bày tỏ tin tưởng “chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam lần này của Tổng thống Lee Jae Myung sẽ mang lại một động lực mới cho sự phát triển hơn nữa của quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong tương lai”, như lời Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Lê Minh Hưng đã nhấn mạnh tại cuộc gặp./.VOV Nhật BảnẢnh cuộc họp báo chung giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Lee Jae Myung tại Hà Nội hôm 22/4 do Yonhap đăng tải.
Rải rác khắp vùng đất rộng lớn của Úc là nhiều thị trấn nhỏ, có nơi chỉ với vài ngàn dân, có nơi chỉ có vài người. Tại sao họ sống ở đây và cuộc sống địa phương như thế nào?
VOV1 - Truyền thông Thái Lan và Singapore ngày 7/4 đồng loạt đưa tin Quốc hội Việt Nam đã nhất trí bầu Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Tô Lâm giữ chức Chủ tịch nước nhiệm kỳ 5 năm.Việc một nhà lãnh đạo đảm nhiệm đồng thời hai vị trí cao nhất được xem là bước đi quan trọng, giúp tăng cường sự thống nhất và hiệu quả trong điều hành đất nước.Theo trang tin The Nation (Thái Lan), trong lễ tuyên thệ, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định định hướng phát triển mới của Việt Nam dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời nhấn mạnh ưu tiên tự cường quốc phòng. Đây là tín hiệu cho thấy Việt Nam đang hướng tới mô hình tăng trưởng hiện đại, giảm phụ thuộc vào sản xuất chi phí thấp và thu hút đầu tư từ các tập đoàn đa quốc gia.Thời báo The Business Times (Singapore) cũng có bài viết nhấn mạnh, Quốc hội Việt Nam đã chính thức phê chuẩn danh sách lãnh đạo cấp cao mới, với tâm điểm là việc ông Tô Lâm giữ đồng thời hai vị trí, cùng với việc ông Lê Minh Hưng – nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước – được bổ nhiệm làm Thủ tướng, mang lại cách tiếp cận kỹ trị, am hiểu thị trường để điều hành kinh tế. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tái đắc cử, cùng ông Trần Cẩm Tú – Thường trực Ban Bí thư – tạo nên bộ khung lãnh đạo mới.Giới phân tích nhận định, việc hoàn thiện bộ máy lãnh đạo sẽ giúp tăng tốc triển khai chính sách, củng cố niềm tin thị trường và tạo môi trường kinh doanh ổn định. Đây là nền tảng quan trọng để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng cao, nâng cấp hạ tầng và phát triển khu vực tư nhân.Về đối ngoại, Việt Nam được kỳ vọng tiếp tục duy trì “ngoại giao cây tre” – linh hoạt, cân bằng quan hệ với các cường quốc, đồng thời mở rộng hợp tác kinh tế và an ninh trong ASEAN.Đối với khu vực, đặc biệt là Thái Lan, sự ổn định chính trị tại Việt Nam được coi là yếu tố tích cực, mở ra cơ hội tăng cường hợp tác kinh tế và an ninh trong bối cảnh ASEAN đang tìm kiếm động lực tăng trưởng mới.VOV-BangkokBài viết trên trang báo The Business Times (Singapore) hôm 7/4/2026.
Một cộng đồng ở Nam Úc đang tập hợp lại để hỗ trợ một người phụ nữ có thể bị trục xuất về Đài Loan trong vòng chưa đầy hai tuần nữa, vì những vấn đề liên quan đến thị thực từ trước. Bà Ying-Hsi Chou đến từ Murray Bridge đang cầu xin Bộ trưởng Nội vụ Tony Burke cho phép bà được ở lại vì bà đã kết hôn và có ba con nhỏ.
Nga cam kết hỗ trợ nhiên liệu cho Việt Nam trong bối cảnh không chỉ ngừng một số đường bay nội địa, nhiều hãng hàng không cũng bắt đầu tăng phụ thu nhiên liệu.
VOV1 - Hôm nay - 26/3, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tròn 95 năm xây dựng, trưởng thành và cống hiến.Bài viết "Thanh niên với tương lai đất nước" của Tổng Bí thư Tô Lâm mới đây đã nhấn mạnh, lực lượng thanh niên hôm nay có thể đưa ra phương châm hành động: “Bản lĩnh tự cường - Tiên phong sáng tạo - Khát vọng cống hiến - Làm chủ tương lai”.Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Đổi mới sáng tạo không chỉ là công nghệ cao hay những dự án thu hút vốn lớn. Trước hết, đó là năng lực nhìn ra điều chưa hợp lý để tìm cách làm tốt hơn; là dám đặt câu hỏi, dám thử nghiệm, dám thay đổi vì lợi ích chung; là biến ý tưởng thành giải pháp, biến tri thức thành năng suất, biến sáng kiến thành giá trị.” Vậy Thanh niên Việt Nam cần tự đổi mới như thế nào để sáng tạo và cống hiến? Cần cơ chế hỗ trợ ra sao để tiếp sức thanh niên vượt lên?Chúng tôi bàn vấn đề này trong chương trình hôm nay cùng vị khách mời là: Anh Trần Hữu, Giám đốc Trung tâm Phát triển Khoa học, Công nghệ và Tài năng trẻ, Trung Ương Đoàn Thanh niên Cộng sản HCM. Chúng tôi cũng kết nối với PGS.TS. Nguyễn Viết Hương, Phó trưởng khoa Khoa Khoa học và Kỹ thuật Vật liệu, Trường Kỹ thuật Phenikaa, Đại học Phenikaa - Nhà khoa học trẻ nhận Giải thưởng Quả Cầu Vàng và là 1 trong 10 Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu 2024.
Đảng Lao động đã tái đắc cử một cách dễ dàng tại Nam Úc, trong một cuộc bầu cử mà sự ủng hộ dành cho đảng One Nation, đã tăng lên hơn 21%. Thủ hiến Peter Malinauskas đã bảo đảm nhiệm kỳ thứ hai, với đa số phiếu bầu tăng đáng kể, trong khi Đảng Tự do chỉ giành được khoảng 19% số phiếu. Khi việc kiểm phiếu vẫn đang tiếp diễn và vẫn chưa rõ, liệu đảng One Nation có thể giành được bất kỳ ghế nào, tại Hạ viện hay không.
VOV1 - Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò hết sức quan trọng, từ hiệp thương giới thiệu người ứng cử, giám sát quá trình bầu cử, đến việc góp phần bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch và tạo sự đồng thuận xã hội. Không khí bầu cử đại biểu Quốc hội Quốc hội khóa XVI và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2026 – 2031 đang rộn ràng khắp mọi miền tổ quốc khi chỉ còn ít ngày nữa, cử tri sẽ cầm trên tay lá phiếu bầu thực hiện quyền làm chủ, lựa chọn những người đủ đức, đủ tài đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình trong các cơ quan quyền lực nhà nước.Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi năm 2013 nêu rõ, quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, Nhân dân thực hiện quyền lực đó thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân, thông qua bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.Trong tiến trình đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò hết sức quan trọng, từ hiệp thương giới thiệu người ứng cử, giám sát quá trình bầu cử, đến việc góp phần bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch và tạo sự đồng thuận xã hội. Chương trình hôm nay có chủ đề “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Cầu nối dân chủ trong bầu cử” với sự tham gia của khách mời là bà Nguyễn Quỳnh Liên, Trưởng ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
VOV1 - Loạt phỏng vấn "Dấu ấn về một Việt Nam thành công"Trong những năm công tác tại Việt Nam, Đại sứ Nam Phi Vuyiswa Tulelo đặc biệt ấn tượng với niềm vui sống, sự gắn kết cộng đồng và cách Việt Nam dung hòa giữa phát triển kinh tế với gìn giữ bản sắc văn hóa. Theo Đại sứ, chính những yếu tố đó đang tạo nên sức hấp dẫn riêng và góp phần đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới, chủ động và giàu bản lĩnh. Mời quý vị nghe cuộc trò chuyện giữa PV Đài TNVN và Đại sứ Nam Phi Vuyiswa Tulelo, để hiểu thêm về câu chuyện phát triển của Việt Nam qua góc nhìn của một nhà ngoại giao nước ngoài.
Từ những ngày phải đi rước từng học trò đến lớp học tiếng Việt, đến quyết định gây tranh cãi khi mua đất xây trụ sở bằng quỹ cộng đồng còn hạn hẹp - hành trình của các chủ tịch Cộng đồng Người Việt Tự do Nam Úc là câu chuyện về niềm tin bền bỉ, bản lĩnh lãnh đạo và sự tiếp nối giữa các thế hệ.
Xin mời quý vị nghe bài 'Câu Chúc Đầu Năm' và bài 'Mùa Xuân Cưới Em'
- Việt Nam có thể đạt mức xếp hạng tín nhiệm đầu tư trước năm 2030.- Tháng 1 năm 2026: Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt hơn 238 triệu USD- Hơn 244.700 tài khoản chứng khoán mở mới trong tháng 1 năm 2026
Hội chợ Tết Adelaide 2026 sẽ diễn ra trong hai ngày 7 và 8 tháng 2 tại Athol Park, mang không khí Xuân Bính Ngọ rộn ràng và ấm áp đến với cộng đồng người Việt tại Nam Úc, với các chương trình văn nghệ mừng Xuân, ẩm thực Việt Nam và nhiều hoạt động gắn kết gia đình, cộng đồng.
VOV1 - Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm và Phu nhân, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Thongloun Sisoulith và Phu nhân sẽ thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 26 đến 27/1.Nhân dịp này, phóng viên Đài TNVN thường trú tại Lào đã phỏng vấn Đại sứ Việt Nam tại Lào Nguyễn Minh Tâm về ý nghĩa, mục đích và những nội dung trọng tâm trong chuyến thăm lần này.Đại sứ Việt Nam tại Lào Nguyễn Minh Tâm
Giải thích TOÀN BỘ “THẬP KỶ MẤT MÁT” của Nhật Bản: Việt Nam có đang đi vào vết xe đổ? |Hoang&HistoryVideo này được chuyển thể từ bài viết gốc trên nền tảng mạng xã hội chia sẻ tri thức Spiderum
Một bức thư mới được công bố cho thấy, Thủ hiến Nam Úc đã lập luận như thế nào, để loại bỏ tác giả Randa Abdel-Fattah, khỏi Tuần lễ Văn học Adelaide. Với sự phản kháng của giới cầm bút và những giới chức khác, Tuần lễ Văn học Adelaide năm 2026 đã bị hủy bỏ.
- Chủ trì Hội nghị tổng kết năm 2025 và phương hướng nhiệm vụ năm 2026 của Ban Chỉ đạo Quốc gia về hội nhập quốc tế, Thủ tướng Phạm Minh Chính lưu ý thời gian tới hội nhập quốc tế tập trung vào khoa học công nghệ; đường sắt tốc độ cao và nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm của Việt Nam.- Các nước bày tỏ ấn tượng trước những thành tựu của Việt Nam, bày tỏ tin tưởng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 14 sẽ tiếp tục tạo xung lực mới, mở ra kỷ nguyên phát triển vượt bậc cho Việt Nam- Căng thẳng giữa Mỹ và Iran lên một nấc thang mới khi Mỹ gia tăng sức ép trên nhiều mặt trận, còn Iran vừa cứng rắn đối phó vừa để ngỏ khả năng đối thoại.- Pháp là nước tiếp theo cân nhắc cấm trẻ em dưới 15 tuổi sử dụng mạng xã hội.
VOV1 - Giải thưởng Âu Lạc Grand Prize được tổ chức nhằm hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Xin mời quý vị nghe bài tân cổ 'Cô Hàng Chè Tươi' và 'Lối Rẽ Dòng Đời'
Tháng 10/2025, tổng thống Mỹ Donald Trump đến Kuala Lumpur, Malaysia, họp thượng đỉnh với các nước ASEAN nhằm trấn an đồng minh, đối tác. Hoa Kỳ đã ký nhiều thỏa thuận, cam kết liên quan đến an ninh với Việt Nam, Malaysia, Philippines, Cam Bốt. Liệu Đông Nam Á lại trở thành tâm điểm trong chính sách đối ngoại của Mỹ năm 2026 ? Tại sao Washington lại tái khẳng định hiện diện mạnh mẽ hơn ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Biển Đông, trong thời điểm này ? Liệu những cam kết như vậy có lợi cho Việt Nam không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon, tại Viện Đông Á (Institut d'Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. RFI : Việc Hoa Kỳ trở lại hội nghị thượng đỉnh châu Á gửi đi một tín hiệu chính trị mạnh mẽ. Washington thực sự đang tìm kiếm điều gì thông qua việc tái khẳng định sự hiện diện của họ ở Đông Nam Á này ? Laurent Gédéon : Đúng là Pete Hegseth đã đến Kuala Lumpur ngày 30/10/2025 để tham dự cuộc họp của các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng. Có thể thấy rõ Mỹ muốn tận dụng cơ hội này để tái khởi động mối quan hệ với ba kiểu quốc gia : Trung Quốc ; các nước trong khu vực có quan hệ tốt nhưng không mang tính chiến lược ; các nước có mối liên hệ chặt chẽ với Mỹ về quốc phòng. Ông Hegseth đã gặp bộ trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Đổng Quân để thảo luận về việc nối lại các cuộc trao đổi quân sự trực tiếp giữa Washington và Bắc Kinh, nhưng cũng chia sẻ những lo ngại của Mỹ về hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và xung quanh Đài Loan. Thông qua cuộc gặp với người đồng cấp Trung Quốc, bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ muốn tái khẳng định cam kết của Washington về hai vấn đề này. Rất có thể là việc tỏ thái độ kiên quyết đó chủ yếu nhằm mục đích trấn an các bên khác tham dự hội cấp cao về quyết tâm của Washington. Ngoài ra, ông Hegseth cũng đã tận dụng cơ hội đó để ký nhiều thỏa thuận quân sự với ba quốc gia trong khu vực. Trước tiên là với Philippines, ông Hegseth gặp bộ trưởng Quốc Phòng Philippines và tuyên bố thành lập Lực lượng Đặc nhiệm Philippines (Task Force-Philippines). Đây là một sáng kiến chung nhằm cải thiện sự hợp tác và khả năng tương tác giữa Mỹ và Philippines trong trường hợp khẩn cấp ở Biển Đông và các khu vực khác. Đọc thêmMỹ và Malaysia củng cố hợp tác quốc phòng ở Biển Đông để đối phó với "chiến thuật vùng xám" Với Malaysia, ông Hegseth đã họp với bộ trưởng Quốc Phòng Mohamed Khaled Nordin. Hai bên đã ký một bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng, công bố gia hạn thỏa thuận chung về mua sắm thiết bị quân sự và hỗ trợ nhau. Và cuối cùng, với Cam Bốt, ông và người đồng cấp Cam Bốt đã tuyên bố nối lại cuộc tập trận chung thường niên, vốn bị đình chỉ từ năm 2017. Hai bên cũng đề cập đến khả năng một tàu chiến của Mỹ đến thăm Căn cứ Hải quân Ream ở Cam Bốt. Căn cứ này được Trung Quốc hỗ trợ hiện đại hóa và lực lượng Trung Quốc được hưởng quyền tiếp cận đặc biệt. Tất cả những yếu tố này, bao gồm cả cuộc gặp với bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam, đều thể hiện rõ mong muốn tái đầu tư của Mỹ vào khu vực và, thông qua các thỏa thuận này, mong muốn tích hợp một số nước trong khu vực vào một cấu trúc an ninh trong tương lai mà phần nào có thể nhắm đến Trung Quốc. RFI : “Nước Mỹ trên hết không có nghĩa là Nước Mỹ đơn độc”. Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ đối với khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Điều này đã được thể hiện qua quan hệ đối tác an ninh giữa Mỹ với Malaysia và với Philippines, như ông đã giải thích. Liệu sự trở lại ấn tượng như vậy có thuyết phục được các nước ASEAN và có lợi cho họ không, khi mà những nước này không hề nhắc đích danh Bắc Kinh trong những lời chỉ trích về hành động gây bất ổn của Trung Quốc ? Laurent Gédéon : Đúng vậy, không gian hàng hải đã được nhấn mạnh thành trọng tâm bởi vì trong tuyên bố ngày 01/11/2025, ông Hegseth nói : Chúng tôi đang thực hiện nguyên tắc “Nước Mỹ trên hết”. Nhưng “Nước Mỹ trên hết” không có nghĩa là chỉ riêng nước Mỹ. Nó có nghĩa là cùng với các đồng minh và đối tác của chúng tôi, những bên có khả năng duy trì an ninh, ổn định, tự do hàng hải và cuối cùng là hòa bình. Mặc dù các nước ASEAN không nêu đích danh Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh đã được bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ nhắc đến rất nhiều. Ví dụ, trong cuộc họp không chính thức, ông Hegseth đã cảnh báo các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN về mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra cho chủ quyền của nước họ. Ông nói : Hành động của Trung Quốc là một lời cảnh tỉnh... Các hành động khiêu khích của Trung Quốc cũng thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với đất nước của quý vị, thách thức và đe dọa chủ quyền lãnh thổ của đất nước quý vị. Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ trong việc duy trì một khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương an toàn và ổn định. Ông cũng cổ vũ sự hợp tác giữa Mỹ và ASEAN để phát triển nhận thức tình hình hàng hải chung, đặc biệt là ở Biển Đông. Đây là điểm quan trọng. Thêm vào đó, ngày 09/09, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đã nói với người đồng cấp Trung Quốc Đổng Quân rằng Mỹ có những lợi ích sống còn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mà Washington coi là một khu vực hoạt động ưu tiên, và Mỹ sẽ kiên quyết bảo vệ những lợi ích đó. Tuy nhiên, có thể nhận thấy cho dù Mỹ thể hiện quyết đoán, có lập trường vững chắc như vậy, các quốc gia trong khu vực vẫn còn khá lưỡng lự về mức độ cam kết của Washington đối với các vấn đề như Biển Đông và Đài Loan. Thái độ lưỡng lự này được thôi thúc bởi điều được gọi là “sự mơ hồ chiến lược” của Mỹ, khi Washington không nêu rõ là sẽ tham gia hay không, hoặc là họ sẽ tham gia như thế nào vào một cuộc xung đột công khai với Trung Quốc. RFI : Sự trở lại của Mỹ, hay nói đúng hơn là sự tăng cường cam kết của Mỹ đối với khu vực có thể sẽ mang lại lợi ích như thế nào cho Việt Nam ? Laurent Gédéon : Tôi nghĩ rằng bất kỳ sự tái đầu tư nào của Mỹ vào khu vực, nếu không dẫn đến xung đột trực tiếp với Trung Quốc, đều chỉ có lợi cho Việt Nam, vì nó củng cố cán cân chiến lược khu vực và giảm bớt quan hệ bất đối xứng với Trung Quốc, ngay cả khi không có thỏa thuận quân sự chính thức giữa Hà Nội và Washington. Đọc thêmBiển Đông, Trung Quốc : Việt Nam cần đề phòng khả năng Trump "rũ áo" như với Ukraina? Do đó, chắc chắn rằng lập trường kiên quyết của ông Hegseth, đặc biệt là về Biển Đông, chỉ có thể được Hà Nội hoan nghênh vì nó phù hợp với các tuyên bố và yêu cầu của Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn tồn đọng một sự bất trắc chiến lược, đặc biệt là về ý muốn thực sự của Mỹ trong việc ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc bằng vũ lực nếu tình hình đòi hỏi. Điểm bất trắc thứ hai liên quan đến kết quả của một cuộc đối đầu tiềm tàng giữa Trung Quốc và Mỹ. Các kịch bản được thảo ra cho kết quả khác nhau, và không phải tất cả đều cho rằng lực lượng Mỹ thắng quân đội Trung Quốc. Do đó, tôi tin rằng những điểm không chắc chắn này sẽ khiến Việt Nam tiếp tục thận trọng trong lập trường ngoại giao, ưu tiên giữ trung lập giữa Washington và Bắc Kinh để bảo vệ tương lai của mình. RFI : Thỏa thuận được gọi là “Thỏa thuận hòa bình” giữa Thái Lan và Cam Bốt được ký kết dưới sự bảo trợ của tổng thống Mỹ Donald Trump. Sự kiện này cho thấy mức độ ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nhưng liệu kiểu ảnh hưởng đó, dưới sự đe dọa về hậu quả kinh tế, có bền vững hay không ? Laurent Gédéon : Chính sách của chính quyền Trump nhìn chung được coi là tương đối khó đoán, điều này làm suy yếu niềm tin vào tính ổn định chiến lược của Hoa Kỳ. Về thỏa thuận do Donald Trump, thủ tướng Thái Lan và thủ tướng Cam Bốt cùng ký, mặc dù được mô tả là một “thỏa thuận hòa bình”, nhưng nó giống với một thỏa thuận ngừng bắn hơn, bởi vì không giải quyết được vấn đề cốt lõi, liên quan đến tranh chấp biên giới giữa hai nước. Đọc thêmChính sách thuế của Trump cản trở chiến lược « xoay trục sang châu Á » của Mỹ Đúng là Donald Trump tự nhận là đóng vai trò quan trọng trong quá trình này, nhất là bằng cách đe dọa đình chỉ các cuộc đàm phán thương mại với cả hai nước và tăng thuế quan. Điều này diễn ra trong bối cảnh Cam Bốt lúc đó chịu mức thuế 49% và Thái Lan 36%. Rõ ràng là áp lực của Mỹ đã thúc đẩy cả hai bên tạm ngừng giao tranh nhưng không chấm dứt được xung đột. Hơn nữa, hai quốc gia khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tạm thời tranh chấp : Malaysia, quốc gia giữ chức chủ tịch ASEAN năm 2025, và Trung Quốc. Cả Kuala Lumpur và Bắc Kinh đều gây áp lực để ngăn chặn xung đột leo thang, bởi vì sẽ đi ngược lại lợi ích của họ. Do đó, sáng kiến của Mỹ quan trọng nhưng cần được xem xét dưới góc độ hai hạn chế sau đây : Thứ nhất, đây không phải là một giải pháp dứt điểm cho xung đột, mà chỉ là một thỏa thuận ngừng bắn ; Thứ hai, điều đó chỉ có thể thực hiện được nhờ hành động phối hợp, dù kín đáo, của hai quốc gia khác. Và đó chính là cách mà các nước trong khu vực nhìn nhận và phân tích. RFI : Philippines giữ chức chủ tịch luân phiên ASEAN năm 2026. Manila có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc, cùng với cam kết của Mỹ, về vấn đề Biển Đông. Chúng ta có thể kỳ vọng những diễn biến nào trong năm 2026 ? Laurent Gédéon : Đúng là rất khó để dự đoán tương lai. Nhưng những yếu tố hiện có cho thấy Philippines, quốc gia đã xích lại gần hơn đáng kể với Mỹ kể từ khi ông Ferdinand Marcos Jr. lên nắm quyền vào năm 2022, có thể sẽ tìm cách thúc đẩy một động thái cứng rắn hơn, hoặc thậm chí là cưỡng chế, đối với Trung Quốc. Ví dụ, Philippines có thể sẽ cố gắng khôi phục việc xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) ở Biển Đông. Dự án này có từ năm 2002 nhưng chưa bao giờ thành hiện thực, chủ yếu là do Trung Quốc thiếu hành động. Chính quyền Manila cũng có thể cố gắng đạt được sự lên án rõ ràng đối với các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông, điều mà ASEAN chưa từng làm cho đến nay. Tuy nhiên, Philippines sẽ phải tính đến việc các nước thành viên ASEAN có mức độ quan hệ khác nhau với Trung Quốc, điển hình như các nước Cam Bốt, Thái Lan và Miến Điện sẽ cố gắng làm giảm nhẹ bất kỳ sáng kiến nào của nước chủ tịch ASEAN mà họ coi là không thân thiện, hoặc quá không thân thiện với Trung Quốc. Đọc thêmPhilippines-Mỹ-Nhật diễn tập tại Biển Đông, Trung Quốc kêu gọi Manila ngừng khiêu khích Một điểm đáng chú ý khác, có thể sẽ được quan tâm trong năm 2026, liên quan đến Đài Loan và khả năng Trung Quốc tiến hành hành động quân sự nhắm đến hòn đảo. Nếu kịch bản này xảy ra và Mỹ can thiệp, Philippines sẽ ở tuyến đầu, thậm chí có thể là một bên tham chiến. Trong giả thuyết này, câu hỏi đặt ra là về khả năng hành động và mức độ chủ động của Philippines trong ASEAN, bởi vì Philippines vừa là một bên tham gia xung đột vừa giữ chức chủ tịch ASEAN. Do đó, năm 2026 chắc chắn sẽ có rất nhiều biến động và cần được theo dõi sát sao. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon.
- Tăng cường kết nối, đưa hàng Việt Nam ra nước ngoài qua kênh phân phối.- Hà Nội tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường xuyên suốt dịp Tết Bính Ngọ 2026.
- Tổng Bí thư Tô Lâm dự Chương trình "Hồ Chí Minh - Hành trình khát vọng 2025".- Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ 11 với chủ đề: “Thi đua đổi mới, sáng tạo, tăng tốc bứt phá đưa đất nước vào kỷ nguyên phát triển hùng cường, văn minh, thịnh vượng” bắt đầu diễn ra tại Hà Nội.- Do mất cân bằng giới tính khi sinh, nên Việt Nam sẽ thiếu khoảng 1,3 triệu phụ nữ trong độ tuổi kết hôn vào năm 2049.- Trung Quốc khẳng định kiên trì thúc đẩy cuộc chiến chống tham nhũng không ngừng nghỉ.- Các thành phố của Mỹ sử dụng trí tuệ nhân tạo AI để tăng hiệu quả tái chế rác thải.Đẩy mạnh phát triển các dự án xanh bền vững liên quan đến năng lượng, giao thông, xây dựng... (Ảnh minh họa. Nguồn: TTXVN)
Xin mời quý vị nghe trích đoạn 'Công Chúa Đồ Lư' và 'Điệu Hò Trao Duyên'
- Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với các Bộ ngành bàn các giải pháp để chăm sóc, hỗ trợ người khuyết tật trong cả nước.- Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Lào đồng chủ trì Kỳ họp lần thứ 48 Uỷ ban Liên Chính phủ về hợp tác song phương Việt Nam - Lào. - Quốc hội thông qua Luật Tình trạng khẩn cấp. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.- Đội bóng đá U22 Việt Nam ra quân tại Seagame 33 với chiến thắng 2-1 trước U22 Lào.- Bỉ bắt giữ cựu đại diện cấp cao của Liên minh Châu âu EU về nghi vấn gian lận liên quan đến các chương trình đào tạo dành cho các nhà ngoại giao trẻ.- Liên hợp quốc cảnh báo tăng trưởng toàn cầu năm 2025 giảm do bất ổn tài chính và địa chính trị.Giám đốc Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam, bà Park Sinwon, nhấn mạnh an sinh xã hội để bảo vệ, đồng thời là nền tảng trao quyền. Khi người khuyết tật được tiếp cận an sinh xã hội đầy đủ và có cơ hội việc làm ý nghĩa, họ có thể tham gia trọn vẹn, đóng góp cho xã hội...
- Quốc vương Brunei Darussalam Haji Hassanal Bolkiah đến Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam- Đóng điện đường dây 220kV Đô Lương – Nam Cấm, đáp ứng nhu cầu điện năng cho phụ tải khu vực miền Trung- Bão số 15 hướng về bờ biển phía Đông tỉnh Gia Lai-Đắk Lắk, suy yếu dần- Căng thẳng Mỹ- Venezuela leo thang sau tuyên bố đóng cửa không phận của Tổng thống Mỹ Donan Trump- Các hãng hàng không toàn cầu nỗ lực khắc phục sự cố phần mềm trên Airbus A320. Vietnam Airlines và Vietjet cũng thông báo đã hoàn tất cập nhật phần mềm cho toàn bộ máy bay Airbus A320, A321Dự và chỉ đạo Hội nghị triển khai Đề án hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị Phụ nữ Việt Nam phát huy tinh thần "3 tiên phong" trong khởi nghiệp sáng tạo.
Hơn 100 sinh mạng mất đi cùng 9,000 tỷ đồng bị dòng nước cuốn trôi là minh chứng đau xót cho sự tàn khốc của đợt lũ lịch sử miền Trung - Tây Nguyên. Trước thảm họa, gói hỗ trợ khẩn cấp 1,100 tỷ đồng từ Chính phủ Việt Nam, cùng các nỗ lực thiện nguyện của người Việt nhiều nơi, trong và ngoài nước đang dồn về vùng lũ, xoa dịu nỗi đau tại tâm lũ Đắk Lắk và vực dậy các tỉnh đang oằn mình trong thiên tai.
Bộ phim Mưa Đỏ – dựa theo tiểu thuyết cùng tên – đã kể lại trận Quảng Trị như một bản hùng ca một chiều. Nhưng một sỹ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa, người ở phía bên kia của bản hùng ca, lại có một cách kể khác đầy ám ảnh về trận đánh này. Thiếu tá Trương Đăng Sỹ - người chỉ huy đơn vị Nhảy Dù trong trận đánh tái chiếm Cổ Thành - kể lại câu chuyện của đồng đội, của lá cờ vàng được cắm lên Cổ Thành, và của những sinh mạng đã ngã xuống
Chỉ còn hai tháng nữa là đến ngày khai mạc Đại hội 14 của Đảng Cộng sản Việt Nam, dư luận ngày càng đồn đoán về thành phần ban lãnh đạo cấp cao nhất của đất nước, dự kiến sẽ được xác định tại sự kiện tổ chức năm năm một lần này.Xem thêm.
Trong chuyến thăm mới đây, Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ, Peter Hegseth đã được Việt Nam tiếp đón trọng thị. Nhưng tháp tùng ông là Thứ trưởrng Hải quân Mỹ Đại tá Hùng Cao lại không được truyền thông trong nước nhắc đến mặc dù đây đã là đề tài tranh luận sôi nổi trong cộng đồng mạng.
Buổi Hội thảo với chủ đề '70 năm Nhìn Lại Việt nam Cộng Hòa' sẽ được Cộng Đồng Người Việt Tự Do Victoria tổ chức, vào Chủ Nhật 2/11/2025, tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng ở số 90 Knight Avenue North Sunshine, với các diễn giả nổi tiếng trong Cộng Đồng. Đặc biệt ông Nguyễn Quang Duy Chủ tịch Ban Chấp hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do Victoria, dành cho SBS Việt ngữ buổi nói chuyện về chương trình đặc biệt nầy.
Việc không có các phản đối đối với các hoạt động xây đảo của Việt Nam khẳng định rằng cách tốt nhất để Việt Nam bảo vệ các yêu sách trên biển của mình là không liên minh với bất kỳ cường quốc nào, bất kể Trung Quốc sẽ trở nên hung hăng đến mức nào. Xem thêm.