POPULARITY
Tháng 04/2026, Nhật Bản “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng” để xây dựng chiến lược quốc phòng mới, trong đó có mục đích mở rộng hoạt động xuất khẩu sang cả các loại vũ khí sát thương. Một cơ chế mới cũng đã được thành lập - Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA) - nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và trang thiết bị quốc phòng. Và Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên trong chương trình OSA. Những thay đổi mới trong chính sách quốc phòng của Nhật Bản có tạo thêm những cơ hội mới cho hợp tác với Hà Nội trong lĩnh vực này không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về lĩnh vực an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Úc. RFI : Trả lời báo tài chính Nikkei Asia ngày 23/04/2026, ông Minoru Kihara, chánh văn phòng thủ tướng Nhật Bản, cho biết Tokyo đã cho phép “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng”. Nội dung chính sách mới của Nhật Bản là gì? Tại sao Tokyo lại thay đổi chính sách vào thời điểm này ? Nguyễn Thế Phương : Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, toàn bộ tư duy chiến lược của Nhật là tập trung vô phát triển kinh tế nội địa và tư duy chiến lược của Nhật là chủ hòa. Việc Nhật Bản thay đổi “ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị quốc phòng” nằm trong sự thay đổi căn bản trong tư duy quốc phòng, văn hóa chiến lược của họ kể từ khoảng đầu thế kỷ thứ XXI với sự trỗi dậy của Trung Quốc, môi trường an ninh khu vực diễn biến ngày càng phức tạp : Sự gia tăng sức mạnh của các hoạt động đơn phương mà nhiều học giả nói là “cố tình thay đổi trạng thái trật tự” của Trung Quốc, đặc biệt là những vấn đề tranh chấp trên biển. Đối với Nhật Bản, một trong những mối nguy nữa, đó là mối đe dọa từ Bắc Triều Bắc. Cũng nói thêm một chút, nước Mỹ dưới thời Donald Trump mong muốn đồng minh, đặc biệt là những đồng minh hiệp ước của họ, có những chính sách và có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc tự lực xây dựng năng lực quốc phòng, chứ không còn hoàn toàn dựa vào Mỹ với tư cách là một quốc gia bảo trợ an ninh nữa. Điểm thứ ba là điểm mà nhiều người bỏ qua, đó là Nhật Bản cần một cách tiếp cận mới hơn để làm mới ngành công nghệ quốc phòng trong nước. Bởi vì từ trước tới nay, Nhật Bản cấm xuất khẩu trang thiết bị quốc phòng và vũ khí ra nước ngoài. Toàn bộ hạn chế về mặt xuất khẩu này khiến cho ngành công nghiệp Nhật, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, bị hạn chế tính cạnh tranh, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, với những cuộc xung đột khắp nơi trên thế giới thì thị trường vũ khí bắt đầu mang lại lợi nhuận rất lớn. Và Nhật Bản dường như cũng muốn bắt đầu thay đổi cách tiếp cận và tham gia vào thị trường công nghiệp quốc phòng chủ động hơn. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản "mạnh mẽ" chống lại việc làm thay đổi nguyên trạng các vùng biển trong khu vực Và cuối cùng là yếu tố nội bộ, đó là sự thay đổi về mặt tư duy của liên minh cầm quyền Nhật Bản, bắt đầu từ thời Shinzo Abe. Cách đây khoảng 10-15 năm, đảng Dân Chủ Tự Do đề xuất Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương. Việc này cho thấy rằng đảng Dân Chủ Tự Do mong muốn đưa nước Nhật ra khỏi tư duy chủ hòa và tham gia nhiều hơn về việc tái định hình cấu trúc an ninh khu vực. Đây là bốn điểm tạm gọi là “bốn nền tảng” để giải thích tại sao Nhật Bản bắt đầu phải thay đổi nguyên tắc về chuyển giao thiết bị công nghệ quốc phòng. Với việc thay đổi nguyên tắc mới, họ sẽ bắt đầu không giới hạn thiết bị chuyển giao, mà sẽ mở rộng tới những loại trang thiết bị có thể là sát thương, ví dụ vũ khí tấn công, xe tăng, máy bay và những trang bị khác. Điểm thứ hai, Nhật Bản cho phép hợp tác phát triển các loại vũ khí song phương, một ví dụ ở đây là phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm giữa Nhật, Anh và Ý. Điểm này sẽ cho phép Nhật chủ động hơn, thích ứng linh hoạt hơn trong chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng. RFI : Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nhật Bản. Việt Nam là quốc gia thứ 11 ký một thỏa thuận chuyển giao thiết bị, công nghệ quốc phòng với Nhật Bản. Cho đến nay, Tokyo hỗ trợ Hà Nội như thế nào trong khuôn khổ này ? Nguyễn Thế Phương : Trước đây, việc hỗ trợ về mặt chuyển giao thiết bị hoặc công nghệ quốc phòng song phương, chủ yếu Việt Nam sẽ là bên nhận. Những hỗ trợ này chủ yếu xoay quanh việc nâng cao năng lực nhận thức hàng hải, an ninh biển và chủ yếu liên quan đến những loại trang thiết bị vũ khí phi sát thương. Điểm nổi bật thứ nhất là việc chuyển giao tàu tuần tra và phương tiện giúp Việt Nam có thể cải thiện năng lực tuần tra hàng hải, tiêu biểu là việc Việt Nam nhận một số loại tàu cảnh sát biển loại biên của Nhật Bản. Những tàu này thực ra vẫn rất tốt và vẫn phục vụ rất hiệu quả trong quá trình Việt Nam bảo vệ lợi ích trên biển ở thời điểm hiện tại. Đây là khoản hỗ trợ lớn nhất. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản đạt thỏa thuận về chuyển giao công nghệ quốc phòng Thứ hai là thiết bị giám sát công nghệ hàng hải, ví dụ radar, các thiết bị lặn, công nghệ viễn thám, thông tin liên lạc phục vụ cho quá trình tìm kiếm, cứu nạn, giám sát thực địa trên biển. Và thứ ba là đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn cho các lực lượng của Việt Nam, đặc biệt là lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư. Đây là điểm mà hai bên thường xuyên tiến hành : Trao đổi đoàn, trao đổi tàu, lực lượng Việt Nam qua Nhật Bản để tập huấn. Ở đây tập trung vào một số vấn đề phi tác chiến, ví dụ quân y, phá bom mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh, an ninh mạng. Đối với quân đội còn có gìn giữ hòa bình. Đó là ba mảng mà Việt Nam nhận được hỗ trợ có thể nói là rõ ràng nhất từ Nhật Bản thông qua chương trình chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng. RFI : Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên cho Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA). Anh có thể giải thích OSA là gì ? Theo một quan chức chính phủ Nhật Bản, “quá trình này đôi khi có thể mất thời gian”. Những nước được chọn để hợp tác an ninh thông qua OSA có vai trò như thế nào trong chiến lược của Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : OSA (Official Security Assistance) là hỗ trợ an ninh chính thức. Đây là một trong những chương trình rất mới, là một công cụ đối ngoại rất mới của Nhật, được thông qua trong chiến lược an ninh quốc gia cuối năm 2022. ODA, là một khái niệm mà chúng ta rất quen thuộc, chỉ giới hạn nghiêm ngặt (ở đây từ “nghiêm ngặt” là từ quan trọng) cho phát triển kinh tế-xã hội. Cho nên nếu như Nhật Bản muốn hỗ trợ về mặt an ninh quốc phòng cho các quốc gia khác thì họ phải tạo ra một cơ chế hoàn toàn mới, chứ không phải là ODA. Thì OSA chính là kết quả. Nói một cách đơn giản OSA chính là ODA nhưng chỉ được dùng cho lĩnh vực an ninh và quân sự. Quá trình này rất mất thời gian bởi vì Nhật Bản sẽ phải thiết lập quy trình khảo sát nhu cầu của bên nhận, đối chiếu nhu cầu đó với pháp luật nội bộ của Nhật, mà chúng ta biết là pháp luật của Nhật về mặt này rất khắt khe. Và nó yêu cầu cả bên cho - ở đây là Nhật - và cả bên nhận - là các quốc gia khác - phải thảo luận rất lâu và rất kỹ để có thể đưa ra được một danh sách tiếp nhận các loại hỗ trợ cho phù hợp. Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam tăng cường hợp tác an ninh, ủng hộ thương mại tự do Danh sách các quốc gia được hỗ trợ và có tiềm năng nhận được hỗ trợ OSA từ Nhật Bản vào thời điểm hiện tại chỉ tầm 12 nước, chủ yếu là các nước ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, trong đó có 5 nước Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Thái Lan). Nam Á có hai nước là Bangladesh với Sri Lanka. Ngoài ra còn một số quốc đảo Thái Bình Dương, ví dụ Papua New Guinea, Tonga. Có thể thấy rõ là có Đông Nam Á, khu vực cốt lõi trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Nhật Bản, và đặc biệt là khu vực các quốc đảo Nam Thái Bình Dương hiện đang là khu vực cạnh tranh địa lý khá gay gắt giữa các quốc gia đồng minh của Mỹ và Trung Quốc. Gần đây, Tokyo tăng ngân sách dành cho OSA trong năm tài khóa 2026 lên tầm 112 triệu đô la. Số lượng sẽ không lớn đứng dưới góc độ về mặt ngân sách. Nhưng trong tương lai, ngân sách mà Nhật dành cho OSA sẽ ngày càng tăng và sẽ dựa vào khả năng nước Nhật thích ứng với sự thay đổi không ngừng của môi trường an ninh bên ngoài, cũng như trong chính sách đối nội của Nhật Bản, đặc biệt là việc Nhật điều chỉnh ba nguyên tắc hỗ trợ vũ khí và công nghệ quốc phòng. Trong tương lai, số lượng nước được nhận sẽ tăng lên, cũng như nội dung của OSA cũng sẽ được mở rộng hơn. RFI : Với chiến lược quốc phòng mới của Tokyo mở ra việc bán vũ khí sát thương, liệu trong tương lai, có thể có một chương trình hợp tác sâu rộng hơn về lĩnh vực này giữa Việt Nam và Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : Nhiều người kỳ vọng rằng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong tương về chuyển giao trang thiết bị cũng như là hỗ trợ OSA của Nhật Bản đối với Việt Nam sẽ được mở rộng. Tuy nhiên như đã trình bày, quá trình này sẽ không nhanh. Thứ nhất một phần cũng bởi vì phía Nhật Bản, như đã nói, họ sẽ rất kỹ trong vấn đề lựa chọn chuyển giao, tính minh bạch ra sao. Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành đối tác chiến lược toàn diện Thứ hai, nhu cầu của Việt Nam ở đây là gì ? Nhu cầu Việt Nam vẫn sẽ có. Nhưng theo tôi, trong tương lai gần, khoảng 5 năm, hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng sẽ chủ yếu xoay quanh nội dung về an ninh hàng hải, hỗ trợ các loại tàu cảnh sát biển, hỗ trợ Việt Nam đóng một số loại tàu cho cảnh sát biển hoặc là cho kiểm ngư ở trong nước, nhận một số loại trang thiết bị liên quan tới bảo đảm an ninh hàng hải, cũng như là nhận thức hàng hải ở khu vực, hỗ trợ liên quan tới vệ tinh chẳng hạn và tiếp tục huấn luyện. Còn những vũ khí tác chiến, theo tôi, sẽ phải là tương lai xa, cho tới khi nào Nhật Bản hoàn toàn dỡ bỏ những hạn chế về mặt xuất khẩu vũ khí tiến công và cho tới khi nào ngành công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản trở nên cạnh tranh hơn, thì khi đó Việt Nam mới bắt đầu xem xét có hay không lựa chọn các loại vũ khí tác chiến của Nhật Bản như là một lựa chọn trong quá trình hiện đại hóa quân đội. Còn ở thời điểm hiện tại, khả năng đó rất là thấp. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.
Tháng 04/2026, Nhật Bản “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng” để xây dựng chiến lược quốc phòng mới, trong đó có mục đích mở rộng hoạt động xuất khẩu sang cả các loại vũ khí sát thương. Một cơ chế mới cũng đã được thành lập - Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA) - nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và trang thiết bị quốc phòng. Và Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên trong chương trình OSA. Những thay đổi mới trong chính sách quốc phòng của Nhật Bản có tạo thêm những cơ hội mới cho hợp tác với Hà Nội trong lĩnh vực này không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về lĩnh vực an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Úc. RFI : Trả lời báo tài chính Nikkei Asia ngày 23/04/2026, ông Minoru Kihara, chánh văn phòng thủ tướng Nhật Bản, cho biết Tokyo đã cho phép “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng”. Nội dung chính sách mới của Nhật Bản là gì? Tại sao Tokyo lại thay đổi chính sách vào thời điểm này ? Nguyễn Thế Phương : Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, toàn bộ tư duy chiến lược của Nhật là tập trung vô phát triển kinh tế nội địa và tư duy chiến lược của Nhật là chủ hòa. Việc Nhật Bản thay đổi “ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị quốc phòng” nằm trong sự thay đổi căn bản trong tư duy quốc phòng, văn hóa chiến lược của họ kể từ khoảng đầu thế kỷ thứ XXI với sự trỗi dậy của Trung Quốc, môi trường an ninh khu vực diễn biến ngày càng phức tạp : Sự gia tăng sức mạnh của các hoạt động đơn phương mà nhiều học giả nói là “cố tình thay đổi trạng thái trật tự” của Trung Quốc, đặc biệt là những vấn đề tranh chấp trên biển. Đối với Nhật Bản, một trong những mối nguy nữa, đó là mối đe dọa từ Bắc Triều Bắc. Cũng nói thêm một chút, nước Mỹ dưới thời Donald Trump mong muốn đồng minh, đặc biệt là những đồng minh hiệp ước của họ, có những chính sách và có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc tự lực xây dựng năng lực quốc phòng, chứ không còn hoàn toàn dựa vào Mỹ với tư cách là một quốc gia bảo trợ an ninh nữa. Điểm thứ ba là điểm mà nhiều người bỏ qua, đó là Nhật Bản cần một cách tiếp cận mới hơn để làm mới ngành công nghệ quốc phòng trong nước. Bởi vì từ trước tới nay, Nhật Bản cấm xuất khẩu trang thiết bị quốc phòng và vũ khí ra nước ngoài. Toàn bộ hạn chế về mặt xuất khẩu này khiến cho ngành công nghiệp Nhật, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, bị hạn chế tính cạnh tranh, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, với những cuộc xung đột khắp nơi trên thế giới thì thị trường vũ khí bắt đầu mang lại lợi nhuận rất lớn. Và Nhật Bản dường như cũng muốn bắt đầu thay đổi cách tiếp cận và tham gia vào thị trường công nghiệp quốc phòng chủ động hơn. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản "mạnh mẽ" chống lại việc làm thay đổi nguyên trạng các vùng biển trong khu vực Và cuối cùng là yếu tố nội bộ, đó là sự thay đổi về mặt tư duy của liên minh cầm quyền Nhật Bản, bắt đầu từ thời Shinzo Abe. Cách đây khoảng 10-15 năm, đảng Dân Chủ Tự Do đề xuất Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương. Việc này cho thấy rằng đảng Dân Chủ Tự Do mong muốn đưa nước Nhật ra khỏi tư duy chủ hòa và tham gia nhiều hơn về việc tái định hình cấu trúc an ninh khu vực. Đây là bốn điểm tạm gọi là “bốn nền tảng” để giải thích tại sao Nhật Bản bắt đầu phải thay đổi nguyên tắc về chuyển giao thiết bị công nghệ quốc phòng. Với việc thay đổi nguyên tắc mới, họ sẽ bắt đầu không giới hạn thiết bị chuyển giao, mà sẽ mở rộng tới những loại trang thiết bị có thể là sát thương, ví dụ vũ khí tấn công, xe tăng, máy bay và những trang bị khác. Điểm thứ hai, Nhật Bản cho phép hợp tác phát triển các loại vũ khí song phương, một ví dụ ở đây là phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm giữa Nhật, Anh và Ý. Điểm này sẽ cho phép Nhật chủ động hơn, thích ứng linh hoạt hơn trong chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng. RFI : Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nhật Bản. Việt Nam là quốc gia thứ 11 ký một thỏa thuận chuyển giao thiết bị, công nghệ quốc phòng với Nhật Bản. Cho đến nay, Tokyo hỗ trợ Hà Nội như thế nào trong khuôn khổ này ? Nguyễn Thế Phương : Trước đây, việc hỗ trợ về mặt chuyển giao thiết bị hoặc công nghệ quốc phòng song phương, chủ yếu Việt Nam sẽ là bên nhận. Những hỗ trợ này chủ yếu xoay quanh việc nâng cao năng lực nhận thức hàng hải, an ninh biển và chủ yếu liên quan đến những loại trang thiết bị vũ khí phi sát thương. Điểm nổi bật thứ nhất là việc chuyển giao tàu tuần tra và phương tiện giúp Việt Nam có thể cải thiện năng lực tuần tra hàng hải, tiêu biểu là việc Việt Nam nhận một số loại tàu cảnh sát biển loại biên của Nhật Bản. Những tàu này thực ra vẫn rất tốt và vẫn phục vụ rất hiệu quả trong quá trình Việt Nam bảo vệ lợi ích trên biển ở thời điểm hiện tại. Đây là khoản hỗ trợ lớn nhất. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản đạt thỏa thuận về chuyển giao công nghệ quốc phòng Thứ hai là thiết bị giám sát công nghệ hàng hải, ví dụ radar, các thiết bị lặn, công nghệ viễn thám, thông tin liên lạc phục vụ cho quá trình tìm kiếm, cứu nạn, giám sát thực địa trên biển. Và thứ ba là đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn cho các lực lượng của Việt Nam, đặc biệt là lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư. Đây là điểm mà hai bên thường xuyên tiến hành : Trao đổi đoàn, trao đổi tàu, lực lượng Việt Nam qua Nhật Bản để tập huấn. Ở đây tập trung vào một số vấn đề phi tác chiến, ví dụ quân y, phá bom mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh, an ninh mạng. Đối với quân đội còn có gìn giữ hòa bình. Đó là ba mảng mà Việt Nam nhận được hỗ trợ có thể nói là rõ ràng nhất từ Nhật Bản thông qua chương trình chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng. RFI : Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên cho Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA). Anh có thể giải thích OSA là gì ? Theo một quan chức chính phủ Nhật Bản, “quá trình này đôi khi có thể mất thời gian”. Những nước được chọn để hợp tác an ninh thông qua OSA có vai trò như thế nào trong chiến lược của Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : OSA (Official Security Assistance) là hỗ trợ an ninh chính thức. Đây là một trong những chương trình rất mới, là một công cụ đối ngoại rất mới của Nhật, được thông qua trong chiến lược an ninh quốc gia cuối năm 2022. ODA, là một khái niệm mà chúng ta rất quen thuộc, chỉ giới hạn nghiêm ngặt (ở đây từ “nghiêm ngặt” là từ quan trọng) cho phát triển kinh tế-xã hội. Cho nên nếu như Nhật Bản muốn hỗ trợ về mặt an ninh quốc phòng cho các quốc gia khác thì họ phải tạo ra một cơ chế hoàn toàn mới, chứ không phải là ODA. Thì OSA chính là kết quả. Nói một cách đơn giản OSA chính là ODA nhưng chỉ được dùng cho lĩnh vực an ninh và quân sự. Quá trình này rất mất thời gian bởi vì Nhật Bản sẽ phải thiết lập quy trình khảo sát nhu cầu của bên nhận, đối chiếu nhu cầu đó với pháp luật nội bộ của Nhật, mà chúng ta biết là pháp luật của Nhật về mặt này rất khắt khe. Và nó yêu cầu cả bên cho - ở đây là Nhật - và cả bên nhận - là các quốc gia khác - phải thảo luận rất lâu và rất kỹ để có thể đưa ra được một danh sách tiếp nhận các loại hỗ trợ cho phù hợp. Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam tăng cường hợp tác an ninh, ủng hộ thương mại tự do Danh sách các quốc gia được hỗ trợ và có tiềm năng nhận được hỗ trợ OSA từ Nhật Bản vào thời điểm hiện tại chỉ tầm 12 nước, chủ yếu là các nước ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, trong đó có 5 nước Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Thái Lan). Nam Á có hai nước là Bangladesh với Sri Lanka. Ngoài ra còn một số quốc đảo Thái Bình Dương, ví dụ Papua New Guinea, Tonga. Có thể thấy rõ là có Đông Nam Á, khu vực cốt lõi trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Nhật Bản, và đặc biệt là khu vực các quốc đảo Nam Thái Bình Dương hiện đang là khu vực cạnh tranh địa lý khá gay gắt giữa các quốc gia đồng minh của Mỹ và Trung Quốc. Gần đây, Tokyo tăng ngân sách dành cho OSA trong năm tài khóa 2026 lên tầm 112 triệu đô la. Số lượng sẽ không lớn đứng dưới góc độ về mặt ngân sách. Nhưng trong tương lai, ngân sách mà Nhật dành cho OSA sẽ ngày càng tăng và sẽ dựa vào khả năng nước Nhật thích ứng với sự thay đổi không ngừng của môi trường an ninh bên ngoài, cũng như trong chính sách đối nội của Nhật Bản, đặc biệt là việc Nhật điều chỉnh ba nguyên tắc hỗ trợ vũ khí và công nghệ quốc phòng. Trong tương lai, số lượng nước được nhận sẽ tăng lên, cũng như nội dung của OSA cũng sẽ được mở rộng hơn. RFI : Với chiến lược quốc phòng mới của Tokyo mở ra việc bán vũ khí sát thương, liệu trong tương lai, có thể có một chương trình hợp tác sâu rộng hơn về lĩnh vực này giữa Việt Nam và Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : Nhiều người kỳ vọng rằng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong tương về chuyển giao trang thiết bị cũng như là hỗ trợ OSA của Nhật Bản đối với Việt Nam sẽ được mở rộng. Tuy nhiên như đã trình bày, quá trình này sẽ không nhanh. Thứ nhất một phần cũng bởi vì phía Nhật Bản, như đã nói, họ sẽ rất kỹ trong vấn đề lựa chọn chuyển giao, tính minh bạch ra sao. Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành đối tác chiến lược toàn diện Thứ hai, nhu cầu của Việt Nam ở đây là gì ? Nhu cầu Việt Nam vẫn sẽ có. Nhưng theo tôi, trong tương lai gần, khoảng 5 năm, hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng sẽ chủ yếu xoay quanh nội dung về an ninh hàng hải, hỗ trợ các loại tàu cảnh sát biển, hỗ trợ Việt Nam đóng một số loại tàu cho cảnh sát biển hoặc là cho kiểm ngư ở trong nước, nhận một số loại trang thiết bị liên quan tới bảo đảm an ninh hàng hải, cũng như là nhận thức hàng hải ở khu vực, hỗ trợ liên quan tới vệ tinh chẳng hạn và tiếp tục huấn luyện. Còn những vũ khí tác chiến, theo tôi, sẽ phải là tương lai xa, cho tới khi nào Nhật Bản hoàn toàn dỡ bỏ những hạn chế về mặt xuất khẩu vũ khí tiến công và cho tới khi nào ngành công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản trở nên cạnh tranh hơn, thì khi đó Việt Nam mới bắt đầu xem xét có hay không lựa chọn các loại vũ khí tác chiến của Nhật Bản như là một lựa chọn trong quá trình hiện đại hóa quân đội. Còn ở thời điểm hiện tại, khả năng đó rất là thấp. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.
“Những nhà lãnh đạo ảnh hưởng nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam đều được nhớ đến vì đã dẫn dắt những chuyển đổi mang tính cấu trúc” (1). Chỉ riêng năm 2025, Việt Nam triển khai hơn 550 dự án cơ sở hạ tầng trị giá khoảng 200 tỉ đô la. Hàng trăm dự án khác (điện hạt nhân, đường sắt cao tốc…) chuẩn bị được thực hiện. Mục tiêu cuối cùng là đạt tăng trưởng GDP ít nhất 10% trong nhiệm kỳ 2026-2030 và đưa Việt Nam thành nước có thu nhập trung bình cao. Theo báo Vietnamnet ngày 15/04/2026, “thay vì dàn trải, nhiệm kỳ mới đang hướng tới ít dự án hơn nhưng mỗi dự án phải đủ lớn để kéo tăng trưởng, tạo việc làm và mở rộng không gian phát triển”. Liệu các đại dự án có đủ để kéo tăng trưởng lên không ? Làm thế nào để tăng trưởng đó được bền vững ? Những biến động địa-chính trị thế giới, đặc biệt là khủng hoảng dầu lửa ở Trung Đông, tác động như thế nào đến mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn ông Éric Mottet, chuyên gia địa-chính trị Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, giám đốc nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada. RFI : Trước tiên, xin ông giải thích những yếu tố nào góp phần vào sự tăng trưởng của một quốc gia ? Éric Mottet : Theo ước tính có khoảng bảy yếu tố then chốt tác động đến tăng trưởng kinh tế, có thể hoạt động đồng thời hoặc riêng lẻ. Trước hết là lao động, bao gồm quy mô dân số trong độ tuổi lao động, tỷ lệ việc làm, trình độ học vấn, kỹ năng và chất lượng đào tạo của người lao động. Một lực lượng lao động năng động, được đào tạo tốt sẽ tạo ra của cải hiệu quả hơn. Tiếp theo là vốn vật chất và vốn con người, tức là chất lượng máy móc được sử dụng, cơ sở hạ tầng, công nghệ, kỹ năng và bí quyết. Một quốc gia càng đầu tư nhiều vào nhà máy, đường xá và máy móc, thì càng giúp tăng năng suất và sản lượng quốc gia. Yếu tố thứ ba là tiến bộ công nghệ. Quốc gia đó có đầu tư vào đổi mới, công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển không ? Bởi vì đây là một động lực rất cần thiết cho tăng trưởng, ít nhất là trong dài hạn. Ví dụ trí tuệ nhân tạo (AI), hiện tại đã rất quan trọng và sẽ còn quan trọng hơn nữa trong tương lai. Đọc thêmDự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử Tiếp theo, cần phải nói đến thể chế và khuôn khổ chính trị, tức là sự ổn định chính trị, tôn trọng pháp luật và quyền sở hữu nói riêng, cũng như hiệu quả quản lý nhà nước. Nói cách khác, một môi trường ổn định khuyến khích đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, và tạo dựng niềm tin là điều vô cùng cần thiết để tạo ra của cải và phát triển kinh tế. Sự mở cửa kinh tế nằm trong số những tiêu chí khác cũng rất quan trọng. Thương mại quốc tế giúp tiếp cận thị trường mới, công nghệ mới và tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, khoáng sản, đất nông nghiệp, từ đó tăng trưởng kinh tế. Tất cả những yếu tố này có thể thúc đẩy tăng trưởng, nhưng không phải là thiết yếu. Ví dụ, ở châu Á, Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển mạnh dù nguồn tài nguyên hạn chế. Cuối cùng là nhu cầu nội địa. Mức tiêu dùng hộ gia đình, đầu tư kinh doanh, chi tiêu công của chính phủ Việt Nam như thế nào ? Nhu cầu mạnh mẽ sẽ kích thích sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. RFI : Các dự án lớn đóng vai trò như thế nào trong tăng trưởng của một quốc gia ? Chúng có góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng không ? Éric Mottet : Có, các dự án lớn - tức là các dự án cơ sở hạ tầng, công nghiệp, năng lượng và công nghệ - đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Việc này diễn ra ở nhiều cấp độ. Thứ nhất, các công trình hạ tầng kích thích nền kinh tế ngắn hạn bằng cách tạo ra việc làm, tăng nhu cầu đối với vật liệu, dịch vụ và thiết bị xây dựng. Chẳng hạn, việc xây dựng đập hoặc đường cao tốc sẽ tạo ra doanh thu và hoạt động kinh tế ngay lập tức. Sau đó, năng suất được cải thiện trong dài hạn, ví dụ các cơ sở hạ tầng giao thông giúp giảm chi phí vận chuyển và thời gian di chuyển, tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển. Điều này đặc biệt quan trọng ở một quốc gia như Việt Nam, vì giúp di chuyển hàng hóa và con người thuận lợi hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh cả trong nước cũng như với các công ty nước ngoài. Cơ sở hạ tầng tốt cũng thu hút đầu tư nước ngoài, ví dụ việc xây dựng cảng mới, khu công nghiệp hay đặc khu kinh tế sẽ thu hút các công ty nước ngoài còn do dự. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng chất lượng cao còn thúc đẩy tiến bộ công nghệ ; các dự án năng lượng tái tạo và thành phố thông minh kích thích đổi mới sáng tạo trên toàn quốc. Đọc thêmViệt Nam muốn thành “cứ điểm” sản xuất thế giới nhưng thiếu cơ sở hạ tầng Một yếu tố quan trọng khác là giảm bất bình đẳng lãnh thổ. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng chất lượng trên toàn quốc có thể giúp kết nối các vùng xa xôi, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế và việc làm. Một tuyến đường bộ hay đường sắt có thể thay đổi đáng kể một khu vực nông thôn hoặc vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn cũng có những hạn chế. Nhìn chung chúng có chi phí rất cao, có thể dẫn đến rủi ro nợ nần đáng kể cho một nước và cũng có thể gây ra nhiều vấn đề nếu bị quản lý kém hoặc có tham nhũng. Các dự án này cũng có thể gây tác động xấu đến môi trường. Theo tôi, tất cả các dự án cơ sở hạ tầng lớn đều không bảo đảm tăng trưởng nếu bị quy hoạch kém. Do đó, chúng phải được quy hoạch tốt, có hệ thống quản lý hiệu quả và thiết kế bền vững ngay từ đầu. RFI : Trong nhiệm kỳ 5 năm (2026-2030), Việt Nam sẽ triển khai nhiều dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn (đường sắt cao tốc, nhà máy điện hạt nhân, sân bay Long Thành, mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh). Những dự án này có ý nghĩa và vai trò như thế nào trong việc đạt được mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% do đảng và Quốc Hội Việt Nam đề ra cho nhiệm kỳ này ? Éric Mottet : Đúng là các dự án hạ tầng lớn trong kế hoạch 5 năm đến năm 2030 là trụ cột chiến lược và trọng tâm phát triển. Chúng là đòn bẩy quan trọng giúp nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng bình quân 10%, tương tự những gì Trung Quốc đã trải qua trong những năm 1990-2000, thậm chí là cả thập niên 2010. Các dự án này là động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng ngắn hạn, như đã nói ở trên, vì sẽ huy động đầu tư công và tư nhân, tạo việc làm, thúc đẩy các ngành liên quan như xi măng, thép và logistics. Nhờ đó, chúng trở thành chất xúc tác mạnh, thúc đẩy kinh tế tức thời, và theo tôi, sẽ làm góp phần tăng GDP ngay khi được triển khai. Hơn nữa, các dự án hạ tầng lớn còn cho phép cải thiện cấu trúc năng suất của một quốc gia như Việt Nam. Khi hệ thống hạ tầng được nâng cấp, chi phí logistics giảm, thời gian vận chuyển được rút ngắn và độ tin cậy tăng lên, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và kết nối thương mại giữa các vùng. Chẳng hạn, tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - TP. HCM sẽ rút ngắn khoảng cách địa lý, tăng cường liên kết kinh tế Bắc - Nam, đồng thời góp phần củng cố sự gắn kết quốc gia. Và như vậy sẽ nâng cao sức thu hút của Việt Nam. Đọc thêmChuyển toàn bộ chuyến bay quốc tế về Long Thành: Giới chuyên gia Việt Nam quan ngại Bên cạnh đó, các dự án như sân bay Long Thành hay việc phát triển các đô thị hiện đại sẽ nâng cao vị thế của Việt Nam trong mạng lưới giao thông và thương mại quốc tế, cả về du lịch lẫn kinh tế. Những công trình này còn cho phép một thành phố lớn như TP. HCM cạnh tranh với những trung tâm logistics hàng đầu khu vực như Bangkok, Singapore hay Hồng Kông. Nhờ vậy, mô hình tăng trưởng cũng có cơ hội chuyển dịch. Ngoài ra, các dự án năng lượng như nhà máy điện hạt nhân, nếu được triển khai hiệu quả, sẽ bảo đảm nguồn cung điện ổn định và sẽ giúp nền kinh tế phát triển theo hướng cao cấp hơn. Tôi cho rằng tất cả những lý do này sẽ giúp củng cố tăng trưởng kinh tế. Và cần nhắc lại, nếu được triển khai một cách thông minh, bền vững và quản lý hiệu quả, những công trình cơ sở hạ tầng này sẽ giúp Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hàng năm và đưa Việt Nam trở thành một nền kinh tế quan trọng tại châu Á. RFI : Liệu sự tăng trưởng này (một phần nhờ các dự án lớn) có bền vững không ? Éric Mottet : Các dự án cơ sở hạ tầng có thể bền vững, nhưng không phải tự nhiên mà có mà phụ thuộc vào cách chúng được thiết kế, tài trợ và tích hợp vào nền kinh tế. Để đạt hiệu quả, cần xem xét nhiều yếu tố quan trọng. Trước hết, hạ tầng phải thực sự thiết thực. Thực tế cho thấy ở nhiều nước như Trung Quốc, kể cả Việt Nam, vẫn tồn tại các công trình được đầu tư lớn nhưng hiệu quả sử dụng thấp. Vì vậy, tính hữu ích và đáp ứng nhu cầu kinh tế thực sự là tiêu chí hàng đầu. Khi được quản lý tốt, cơ sở hạ tầng sẽ hỗ trợ tăng trưởng dài hạn. Thứ hai, các dự án hạ tầng cần đóng vai trò thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế có năng suất cao hơn, thay vì chỉ tạo ra tác động ngắn hạn. Điều này đòi hỏi hạ tầng phải được quy hoạch với tầm nhìn dài hạn, từ 10 đến 30 năm, thậm chí là 40 năm. Một công trình chỉ mang lại hiệu ứng tạm thời trong giai đoạn xây dựng sẽ không có nhiều ý nghĩa. Vì vậy, tính bền vững cần được đặt trong tầm nhìn nhiều thập niên. Đọc thêmViệt Nam : Giấc mơ đường sắt cao tốc và bài toán 70 tỉ USD Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng cũng cần được quản lý tài chính hiệu quả. Nợ công phải được kiểm soát ở mức an toàn và các dự án cần tạo ra hiệu quả kinh tế rõ rệt trong vòng 10-20 năm. Do đó, sự tăng trưởng được tài trợ này không nên phụ thuộc quá nhiều vào vay nợ mà cần hướng đến khả năng tự tạo nguồn thu và sinh lời trong thời gian hợp lý. Ngoài ra, để các công trình hạ tầng bền vững, chúng cần được triển khai theo hướng thân thiện với môi trường, tránh gây tác động tiêu cực lâu dài. Đồng thời, cần có cơ chế quản lý minh bạch, quy hoạch hiệu quả, có tính đến những tác động xã hội và môi trường mà mọi dự án hạ tầng lớn có thể gây ra khi được triển khai tại một khu vực nhất định. RFI : Chúng ta thấy một yếu tố mới xuất hiện : cuộc khủng hoảng năng lượng và dầu mỏ do chiến tranh ở Trung Đông. Yếu tố này sẽ tác động như thế nào đến các dự án lớn của Việt Nam và, quan trọng hơn, đến sự tăng trưởng của đất nước ? Éric Mottet : Căng thẳng và khủng hoảng tại Trung Đông tạo ra một “cú sốc bên ngoài” đối với Việt Nam và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án hạ tầng lớn và triển vọng tăng trưởng. Tôi cho rằng tác động tiêu cực trong ngắn hạn được thể hiện rõ qua việc giá nguyên vật liệu tăng mạnh, đặc biệt là dầu khí. Điều này làm leo thang chi phí xây dựng, bởi vì thép, xi măng và nhựa đường đều tăng giá đáng kể ; riêng nhựa đường tại nhiều nước đã tăng từ 30-50%. Chi phí năng lượng tăng cao làm đội chi phí tổng thể của các dự án, đồng thời gia tăng nguy cơ chậm tiến độ hoặc vượt ngân sách. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính và khả năng sinh lời của các công trình hạ tầng quy mô lớn. Đặc biệt, các dự án có vốn đầu tư lớn như đường sắt cao tốc, sân bay hay nhà máy điện hạt nhân có thể trở nên đắt đỏ hơn nhiều so với dự kiến ban đầu do khủng hoảng Trung Đông, nhất là nếu còn kéo dài trong nhiều tháng. Đọc thêmChiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam Khủng hoảng tại Trung Đông là trở ngại đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Giá năng lượng tăng gây ra lạm phát nhập khẩu, làm suy giảm sức mua của hộ gia đình và thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi chi phí năng lượng tăng, doanh nghiệp phải gánh chi phí cao hơn, từ đó hạn chế khả năng đầu tư và mở rộng sản xuất. Vì vậy, mục tiêu đạt mức tăng trưởng 10% mỗi năm của Việt Nam có nguy cơ trở nên khó khăn hơn trong giai đoạn 2026-2027, thậm chí là 2028 nếu khủng hoảng Trung Đông còn kéo dài. Tuy nhiên, không phải mọi tác động đều tiêu cực. Trong trường hợp của Việt Nam, khủng hoảng còn có thể trở thành động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng. Chúng ta có thể thấy rõ rằng Việt Nam hiện rất nhạy cảm với những cú sốc năng lượng từ bên ngoài. Điều này có thể thúc đẩy chính phủ đẩy nhanh chiến lược đa dạng hóa nguồn cung, bao gồm phát triển điện hạt nhân và mở rộng năng lượng tái tạo. Về dài hạn, những bước đi này sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào dầu khí, đặc biệt là nhập khẩu dầu mỏ. Khủng hoảng Trung Đông không hoàn toàn tiêu cực, tôi cho rằng Việt Nam hiểu rõ điều này. Tuy vậy, biến động năng lượng vẫn có thể cản trở mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% được đề ra trong giai đoạn 2026-2030. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Éric Mottet, Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada. (1) Dan Martin, Văn phòng tư vấn Dezan Shira & Associates, được AFP trích dẫn ngày 08/04/2026
“Những nhà lãnh đạo ảnh hưởng nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam đều được nhớ đến vì đã dẫn dắt những chuyển đổi mang tính cấu trúc” (1). Chỉ riêng năm 2025, Việt Nam triển khai hơn 550 dự án cơ sở hạ tầng trị giá khoảng 200 tỉ đô la. Hàng trăm dự án khác (điện hạt nhân, đường sắt cao tốc…) chuẩn bị được thực hiện. Mục tiêu cuối cùng là đạt tăng trưởng GDP ít nhất 10% trong nhiệm kỳ 2026-2030 và đưa Việt Nam thành nước có thu nhập trung bình cao. Theo báo Vietnamnet ngày 15/04/2026, “thay vì dàn trải, nhiệm kỳ mới đang hướng tới ít dự án hơn nhưng mỗi dự án phải đủ lớn để kéo tăng trưởng, tạo việc làm và mở rộng không gian phát triển”. Liệu các đại dự án có đủ để kéo tăng trưởng lên không ? Làm thế nào để tăng trưởng đó được bền vững ? Những biến động địa-chính trị thế giới, đặc biệt là khủng hoảng dầu lửa ở Trung Đông, tác động như thế nào đến mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn ông Éric Mottet, chuyên gia địa-chính trị Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, giám đốc nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada. RFI : Trước tiên, xin ông giải thích những yếu tố nào góp phần vào sự tăng trưởng của một quốc gia ? Éric Mottet : Theo ước tính có khoảng bảy yếu tố then chốt tác động đến tăng trưởng kinh tế, có thể hoạt động đồng thời hoặc riêng lẻ. Trước hết là lao động, bao gồm quy mô dân số trong độ tuổi lao động, tỷ lệ việc làm, trình độ học vấn, kỹ năng và chất lượng đào tạo của người lao động. Một lực lượng lao động năng động, được đào tạo tốt sẽ tạo ra của cải hiệu quả hơn. Tiếp theo là vốn vật chất và vốn con người, tức là chất lượng máy móc được sử dụng, cơ sở hạ tầng, công nghệ, kỹ năng và bí quyết. Một quốc gia càng đầu tư nhiều vào nhà máy, đường xá và máy móc, thì càng giúp tăng năng suất và sản lượng quốc gia. Yếu tố thứ ba là tiến bộ công nghệ. Quốc gia đó có đầu tư vào đổi mới, công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển không ? Bởi vì đây là một động lực rất cần thiết cho tăng trưởng, ít nhất là trong dài hạn. Ví dụ trí tuệ nhân tạo (AI), hiện tại đã rất quan trọng và sẽ còn quan trọng hơn nữa trong tương lai. Đọc thêmDự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử Tiếp theo, cần phải nói đến thể chế và khuôn khổ chính trị, tức là sự ổn định chính trị, tôn trọng pháp luật và quyền sở hữu nói riêng, cũng như hiệu quả quản lý nhà nước. Nói cách khác, một môi trường ổn định khuyến khích đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, và tạo dựng niềm tin là điều vô cùng cần thiết để tạo ra của cải và phát triển kinh tế. Sự mở cửa kinh tế nằm trong số những tiêu chí khác cũng rất quan trọng. Thương mại quốc tế giúp tiếp cận thị trường mới, công nghệ mới và tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, khoáng sản, đất nông nghiệp, từ đó tăng trưởng kinh tế. Tất cả những yếu tố này có thể thúc đẩy tăng trưởng, nhưng không phải là thiết yếu. Ví dụ, ở châu Á, Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển mạnh dù nguồn tài nguyên hạn chế. Cuối cùng là nhu cầu nội địa. Mức tiêu dùng hộ gia đình, đầu tư kinh doanh, chi tiêu công của chính phủ Việt Nam như thế nào ? Nhu cầu mạnh mẽ sẽ kích thích sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. RFI : Các dự án lớn đóng vai trò như thế nào trong tăng trưởng của một quốc gia ? Chúng có góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng không ? Éric Mottet : Có, các dự án lớn - tức là các dự án cơ sở hạ tầng, công nghiệp, năng lượng và công nghệ - đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Việc này diễn ra ở nhiều cấp độ. Thứ nhất, các công trình hạ tầng kích thích nền kinh tế ngắn hạn bằng cách tạo ra việc làm, tăng nhu cầu đối với vật liệu, dịch vụ và thiết bị xây dựng. Chẳng hạn, việc xây dựng đập hoặc đường cao tốc sẽ tạo ra doanh thu và hoạt động kinh tế ngay lập tức. Sau đó, năng suất được cải thiện trong dài hạn, ví dụ các cơ sở hạ tầng giao thông giúp giảm chi phí vận chuyển và thời gian di chuyển, tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển. Điều này đặc biệt quan trọng ở một quốc gia như Việt Nam, vì giúp di chuyển hàng hóa và con người thuận lợi hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh cả trong nước cũng như với các công ty nước ngoài. Cơ sở hạ tầng tốt cũng thu hút đầu tư nước ngoài, ví dụ việc xây dựng cảng mới, khu công nghiệp hay đặc khu kinh tế sẽ thu hút các công ty nước ngoài còn do dự. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng chất lượng cao còn thúc đẩy tiến bộ công nghệ ; các dự án năng lượng tái tạo và thành phố thông minh kích thích đổi mới sáng tạo trên toàn quốc. Đọc thêmViệt Nam muốn thành “cứ điểm” sản xuất thế giới nhưng thiếu cơ sở hạ tầng Một yếu tố quan trọng khác là giảm bất bình đẳng lãnh thổ. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng chất lượng trên toàn quốc có thể giúp kết nối các vùng xa xôi, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế và việc làm. Một tuyến đường bộ hay đường sắt có thể thay đổi đáng kể một khu vực nông thôn hoặc vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn cũng có những hạn chế. Nhìn chung chúng có chi phí rất cao, có thể dẫn đến rủi ro nợ nần đáng kể cho một nước và cũng có thể gây ra nhiều vấn đề nếu bị quản lý kém hoặc có tham nhũng. Các dự án này cũng có thể gây tác động xấu đến môi trường. Theo tôi, tất cả các dự án cơ sở hạ tầng lớn đều không bảo đảm tăng trưởng nếu bị quy hoạch kém. Do đó, chúng phải được quy hoạch tốt, có hệ thống quản lý hiệu quả và thiết kế bền vững ngay từ đầu. RFI : Trong nhiệm kỳ 5 năm (2026-2030), Việt Nam sẽ triển khai nhiều dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn (đường sắt cao tốc, nhà máy điện hạt nhân, sân bay Long Thành, mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh). Những dự án này có ý nghĩa và vai trò như thế nào trong việc đạt được mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% do đảng và Quốc Hội Việt Nam đề ra cho nhiệm kỳ này ? Éric Mottet : Đúng là các dự án hạ tầng lớn trong kế hoạch 5 năm đến năm 2030 là trụ cột chiến lược và trọng tâm phát triển. Chúng là đòn bẩy quan trọng giúp nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng bình quân 10%, tương tự những gì Trung Quốc đã trải qua trong những năm 1990-2000, thậm chí là cả thập niên 2010. Các dự án này là động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng ngắn hạn, như đã nói ở trên, vì sẽ huy động đầu tư công và tư nhân, tạo việc làm, thúc đẩy các ngành liên quan như xi măng, thép và logistics. Nhờ đó, chúng trở thành chất xúc tác mạnh, thúc đẩy kinh tế tức thời, và theo tôi, sẽ làm góp phần tăng GDP ngay khi được triển khai. Hơn nữa, các dự án hạ tầng lớn còn cho phép cải thiện cấu trúc năng suất của một quốc gia như Việt Nam. Khi hệ thống hạ tầng được nâng cấp, chi phí logistics giảm, thời gian vận chuyển được rút ngắn và độ tin cậy tăng lên, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và kết nối thương mại giữa các vùng. Chẳng hạn, tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - TP. HCM sẽ rút ngắn khoảng cách địa lý, tăng cường liên kết kinh tế Bắc - Nam, đồng thời góp phần củng cố sự gắn kết quốc gia. Và như vậy sẽ nâng cao sức thu hút của Việt Nam. Đọc thêmChuyển toàn bộ chuyến bay quốc tế về Long Thành: Giới chuyên gia Việt Nam quan ngại Bên cạnh đó, các dự án như sân bay Long Thành hay việc phát triển các đô thị hiện đại sẽ nâng cao vị thế của Việt Nam trong mạng lưới giao thông và thương mại quốc tế, cả về du lịch lẫn kinh tế. Những công trình này còn cho phép một thành phố lớn như TP. HCM cạnh tranh với những trung tâm logistics hàng đầu khu vực như Bangkok, Singapore hay Hồng Kông. Nhờ vậy, mô hình tăng trưởng cũng có cơ hội chuyển dịch. Ngoài ra, các dự án năng lượng như nhà máy điện hạt nhân, nếu được triển khai hiệu quả, sẽ bảo đảm nguồn cung điện ổn định và sẽ giúp nền kinh tế phát triển theo hướng cao cấp hơn. Tôi cho rằng tất cả những lý do này sẽ giúp củng cố tăng trưởng kinh tế. Và cần nhắc lại, nếu được triển khai một cách thông minh, bền vững và quản lý hiệu quả, những công trình cơ sở hạ tầng này sẽ giúp Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hàng năm và đưa Việt Nam trở thành một nền kinh tế quan trọng tại châu Á. RFI : Liệu sự tăng trưởng này (một phần nhờ các dự án lớn) có bền vững không ? Éric Mottet : Các dự án cơ sở hạ tầng có thể bền vững, nhưng không phải tự nhiên mà có mà phụ thuộc vào cách chúng được thiết kế, tài trợ và tích hợp vào nền kinh tế. Để đạt hiệu quả, cần xem xét nhiều yếu tố quan trọng. Trước hết, hạ tầng phải thực sự thiết thực. Thực tế cho thấy ở nhiều nước như Trung Quốc, kể cả Việt Nam, vẫn tồn tại các công trình được đầu tư lớn nhưng hiệu quả sử dụng thấp. Vì vậy, tính hữu ích và đáp ứng nhu cầu kinh tế thực sự là tiêu chí hàng đầu. Khi được quản lý tốt, cơ sở hạ tầng sẽ hỗ trợ tăng trưởng dài hạn. Thứ hai, các dự án hạ tầng cần đóng vai trò thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế có năng suất cao hơn, thay vì chỉ tạo ra tác động ngắn hạn. Điều này đòi hỏi hạ tầng phải được quy hoạch với tầm nhìn dài hạn, từ 10 đến 30 năm, thậm chí là 40 năm. Một công trình chỉ mang lại hiệu ứng tạm thời trong giai đoạn xây dựng sẽ không có nhiều ý nghĩa. Vì vậy, tính bền vững cần được đặt trong tầm nhìn nhiều thập niên. Đọc thêmViệt Nam : Giấc mơ đường sắt cao tốc và bài toán 70 tỉ USD Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng cũng cần được quản lý tài chính hiệu quả. Nợ công phải được kiểm soát ở mức an toàn và các dự án cần tạo ra hiệu quả kinh tế rõ rệt trong vòng 10-20 năm. Do đó, sự tăng trưởng được tài trợ này không nên phụ thuộc quá nhiều vào vay nợ mà cần hướng đến khả năng tự tạo nguồn thu và sinh lời trong thời gian hợp lý. Ngoài ra, để các công trình hạ tầng bền vững, chúng cần được triển khai theo hướng thân thiện với môi trường, tránh gây tác động tiêu cực lâu dài. Đồng thời, cần có cơ chế quản lý minh bạch, quy hoạch hiệu quả, có tính đến những tác động xã hội và môi trường mà mọi dự án hạ tầng lớn có thể gây ra khi được triển khai tại một khu vực nhất định. RFI : Chúng ta thấy một yếu tố mới xuất hiện : cuộc khủng hoảng năng lượng và dầu mỏ do chiến tranh ở Trung Đông. Yếu tố này sẽ tác động như thế nào đến các dự án lớn của Việt Nam và, quan trọng hơn, đến sự tăng trưởng của đất nước ? Éric Mottet : Căng thẳng và khủng hoảng tại Trung Đông tạo ra một “cú sốc bên ngoài” đối với Việt Nam và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án hạ tầng lớn và triển vọng tăng trưởng. Tôi cho rằng tác động tiêu cực trong ngắn hạn được thể hiện rõ qua việc giá nguyên vật liệu tăng mạnh, đặc biệt là dầu khí. Điều này làm leo thang chi phí xây dựng, bởi vì thép, xi măng và nhựa đường đều tăng giá đáng kể ; riêng nhựa đường tại nhiều nước đã tăng từ 30-50%. Chi phí năng lượng tăng cao làm đội chi phí tổng thể của các dự án, đồng thời gia tăng nguy cơ chậm tiến độ hoặc vượt ngân sách. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính và khả năng sinh lời của các công trình hạ tầng quy mô lớn. Đặc biệt, các dự án có vốn đầu tư lớn như đường sắt cao tốc, sân bay hay nhà máy điện hạt nhân có thể trở nên đắt đỏ hơn nhiều so với dự kiến ban đầu do khủng hoảng Trung Đông, nhất là nếu còn kéo dài trong nhiều tháng. Đọc thêmChiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam Khủng hoảng tại Trung Đông là trở ngại đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Giá năng lượng tăng gây ra lạm phát nhập khẩu, làm suy giảm sức mua của hộ gia đình và thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi chi phí năng lượng tăng, doanh nghiệp phải gánh chi phí cao hơn, từ đó hạn chế khả năng đầu tư và mở rộng sản xuất. Vì vậy, mục tiêu đạt mức tăng trưởng 10% mỗi năm của Việt Nam có nguy cơ trở nên khó khăn hơn trong giai đoạn 2026-2027, thậm chí là 2028 nếu khủng hoảng Trung Đông còn kéo dài. Tuy nhiên, không phải mọi tác động đều tiêu cực. Trong trường hợp của Việt Nam, khủng hoảng còn có thể trở thành động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng. Chúng ta có thể thấy rõ rằng Việt Nam hiện rất nhạy cảm với những cú sốc năng lượng từ bên ngoài. Điều này có thể thúc đẩy chính phủ đẩy nhanh chiến lược đa dạng hóa nguồn cung, bao gồm phát triển điện hạt nhân và mở rộng năng lượng tái tạo. Về dài hạn, những bước đi này sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào dầu khí, đặc biệt là nhập khẩu dầu mỏ. Khủng hoảng Trung Đông không hoàn toàn tiêu cực, tôi cho rằng Việt Nam hiểu rõ điều này. Tuy vậy, biến động năng lượng vẫn có thể cản trở mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% được đề ra trong giai đoạn 2026-2030. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Éric Mottet, Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada. (1) Dan Martin, Văn phòng tư vấn Dezan Shira & Associates, được AFP trích dẫn ngày 08/04/2026
BGVV-1757_Người Mẹ Việt Nam_Montreal, Canada_14-05-1981 Vô Vi Podcast-Vấn Đạo Vô Vi Podcast-Bài Giảng Vô Vi Podcast-Nhạc Thiền
Khoảng 88% tổng lượng dầu thô nhập khẩu của Việt Nam được nhập từ vùng Vịnh Ba Tư, chỉ đứng sau Philippines (95%) và đứng trước các nước Malaysia (69%), Thái Lan (59%) và Singapore (52%), theo Ngân hàng Đầu tư Maybank (1). Kuwait là nhà cung cấp dầu thô lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 80% tổng lượng nhập khẩu. Khoảng 49% khối lượng khí hóa lỏng LNG nhập khẩu của Việt Nam cũng có xuất xứ từ Vùng Vịnh (2). Sự phụ thuộc nghiêm trọng vào gần như một nước, một khu vực vẫn được coi là “chảo lửa” Trung Đông, được phản ánh rõ trong cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz. Ngoài ra, Việt Nam có kho dự trữ dầu chiến lược nhỏ nhất Đông Nam Á, trong khi việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả. Đọc thêmViệt Nam đối mặt với tình trạng thiếu xăng dầu vì nguồn cung ứng bị gián đoạn Theo một tài liệu của bộ Công Thương, được Reuters trích dẫn ngày 18/03/2026, Việt Nam cũng phải đối mặt với việc các mỏ dầu ngoài khơi đang dần cạn kiệt, khiến sản lượng dầu thô nội địa dự kiến sẽ bị giảm trong thập niên này, chỉ còn khoảng 5,8 đến 8 triệu tấn/năm, thấp hơn mức bình quân 8,6 triệu tấn của 5 năm gần nhất. Do đó, Việt Nam có nguy cơ phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn nhập khẩu dầu lửa do hệ thống lọc dầu cần lượng nguyên liệu lớn hơn rất nhiều để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn ở trong nước. UNCLOS nói gì về khai thác dầu khí trong vùng tranh chấp chủ quyền ? Về lâu dài, Việt Nam dự trù tăng cường hoạt động thăm dò, trong đó có việc đưa ra các ưu đãi cho các công ty dầu khí quốc tế đầu tư vào các mỏ ngoài khơi. Mục tiêu là nâng cao trữ lượng có thể khai thác thêm 13 triệu đến 17 triệu tấn dầu thô mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030. Khủng hoảng năng lượng ở Trung Đông đã thúc đẩy Philippines nêu khả năng thăm dò dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông, nơi đang có tranh chấp chủ quyền. Liệu Việt Nam có làm như vậy với Trung Quốc ? Thực ra, ngay năm 2005, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đã có thỏa thuận ba bên về “Khảo sát Địa chấn biển chung” (Joint Marine Seismic Undertaking, JSMU) tại khu vực “theo thỏa thuận” rộng 142.886 km² ở Biển Đông, bao gồm một phần quần đảo Trường Sa. Thỏa thuận này kéo dài ba năm và hết hạn vào năm 2008. Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt, giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Trường Sư phạm Lyon, nhận định : “Cả Philippines và Việt Nam đều coi đó là cơ hội để cải thiện quan hệ chính trị, kinh tế và quân sự với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy phát triển chung các nguồn tài nguyên có thể sẽ rất khó khai thác vì những căng thẳng”. Đọc thêmViệt Nam có bị ảnh hưởng từ hợp tác dầu khí Trung Quốc - Philippines ở Biển Đông? Ý định này vẫn chỉ nằm trên giấy tờ vì những đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với hầu hết Biển Đông, cho dù bị vô hiệu hóa trong phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng Tài Thường Trực (PCA) La Haye. Tuy nhiên, các bên vẫn không từ bỏ nỗ lực tìm kiếm một thỏa hiệp, dù chỉ là tạm thời, theo giải thích của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon : “Theo luật quốc tế, khi nhiều quốc gia cùng tuyên bố chủ quyền đối với một vùng biển (vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa chồng lấn), Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 quy định nghĩa vụ hợp tác. Thông qua Điều 74 và 83, Công ước quy định các quốc gia phải đàm phán thiện chí để đạt được sự phân định công bằng và không được làm tổn hại hoặc cản trở một thỏa thuận trong tương lai. Cụ thể, điều này có nghĩa là việc khai thác dầu khí đơn phương tiềm ẩn rủi ro pháp lý tại khu vực tranh chấp giữa nhiều quốc gia theo luật quốc tế. Công ước cũng khuyến khích các giải pháp tạm thời. Công ước quy định các quốc gia có thể ký kết các thỏa thuận tạm thời mang tính thực tiễn trong khi chờ phân định cuối cùng. Chính trong khuôn khổ pháp lý này mà các khu vực phát triển chung về dầu khí đang được phát triển. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng Công ước không đề cập đến phương pháp cần tuân theo. Do đó, Công ước không định nghĩa một cơ chế tiêu chuẩn cho việc quản lý chung dầu khí, cũng không thiết lập các quy tắc chia sẻ doanh thu hoặc quản trị, cũng không tạo ra một thể chế cụ thể cho các khu vực tranh chấp này. Do đó, các phương thức cụ thể (chia sẻ, thuế, nhà điều hành…) hoàn toàn được đàm phán song phương hoặc trong khu vực giữa các quốc gia”. Đọc thêmViệt Nam bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông như nào ? Tiền lệ về gác tranh chấp chủ quyền để cùng thăm dò khai thác Trường hợp tranh chấp chủ quyền trên biển nhưng vẫn hợp tác khai thác dầu khí không phải là hiếm trên thế giới, theo nhà nghiên cứu Laurent Gédéon : “Hai mô hình khu vực phát triển chung có thể được nêu ra làm ví dụ để các bên ở Biển Đông, đặc biệt là Việt Nam, có thể tham khảo. Thứ nhất là Khu vực Phát triển Chung Nigeria-São Tomé và Príncipe (Nigeria-São Tomé and Príncipe Joint Development Zone), liên quan đến hoạt động khai thác dầu khí trong vùng biển mà cả hai quốc gia đều tuyên bố chủ quyền ở Vịnh Guinea. Thứ hai là Khu vực Phát triển Chung Malaysia-Thái Lan (Malaysia-Thailand Joint Development Area, MTJDA), liên quan đến việc khai thác khí đốt tự nhiên trong khu vực tranh chấp giữa Malaysia và Thái Lan, nằm ở Vịnh Thái Lan. Có thể thấy rõ rằng bất chấp những khó khăn, sự hợp tác giữa các bên tuyên bố có quyền về dầu khí ở Biển Đông là khả thi và có thể được thực hiện phù hợp với cả luật pháp quốc tế và luật pháp quốc gia”. Bãi Tư Chính : Việt Nam khẳng định chủ quyền nhưng không khai thác được Tài nguyên dầu khí của Việt Nam tập trung quanh bãi Tư Chính (Vanguard Bank), chiếm khoảng 10% nhu cầu năng lượng của đất nước. Hà Nội khẳng định khu vực nhà giàn DK1, trong đó có bãi Tư Chính, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở của Việt Nam và là thềm lục địa phía nam Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với UNCLOS 1982. Vùng biển này không tranh chấp với nước nào, và lại càng không tranh chấp với Trung Quốc. Ngược lại, Bắc Kinh và Đài Bắc cho rằng bãi Tư Chính thuộc quần đảo Trường Sa, đang có tranh chấp chủ quyền. Trung Quốc thường xuyên tuần tra tại đây nhằm đe dọa Việt Nam và làm gián đoạn hoạt động của các công ty dầu khí khai thác trong khu vực. Tháng 07/2017, tập đoàn Repsol của Tây Ban Nha phải ngừng hoạt động thăm dò khí đốt tại mỏ Cá Rồng Đỏ ở khu vực bãi Tư Chính. Trong suốt ba tuần tháng 07/2019, Trung Quốc đưa tàu thăm dò Hải Dương 8 (Haiyang Dizhi 8), được nhiều tàu hải cảnh và dân quân biển hộ tống, xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam tại khu vực bãi Tư Chính. Hoạt động gây rối này tái diễn trong những năm 2023, 2024. Đọc thêmBãi Tư Chính : Việt Nam nên để ngỏ khả năng kiện Trung Quốc Song song với việc “quấy rối” hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam và tiếp tục đòi chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông, từ năm 2017, Trung Quốc cũng “tích cực” đề xuất một số dự án phát triển chung ở Biển Đông với Việt Nam và Philippines. Động cơ đằng sau đề xuất này là gì ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon giải thích : “Động cơ của Bắc Kinh có thể được xem xét cả về kinh tế và địa chiến lược. Về kinh tế, việc khai thác tài nguyên năng lượng ở Biển Đông cho phép Trung Quốc đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nước ngày càng tăng. Hơn nữa, bất kỳ động thái hội nhập khu vực nào cũng nằm trong khuôn khổ rộng lớn hơn của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), do Bắc Kinh khởi xướng và có hiệu lực từ tháng 01/2022. Về mặt địa-chiến lược, các sáng kiến chung với các quốc gia giáp Biển Đông cho phép Trung Quốc tăng cường quan hệ hợp tác với những nước này. Về lâu dài, sự gần gũi đó có thể góp phần làm suy yếu mối quan hệ giữa các quốc gia này với Hoa Kỳ và từ đó củng cố vị thế của Bắc Kinh trong bối cảnh cạnh tranh Trung-Mỹ”. Những bị động do phụ thuộc quá lớn vào nguồn cung năng lượng Trung Đông có khiến Hà Nội thay đổi quan điểm về thỏa thuận khai thác chung và chia sẻ công bằng nguồn năng lượng ở Biển Đông không ? Liệu có khả năng Việt Nam và Trung Quốc hợp tác trong tương lai gần hay không ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon nhận định : “Có khả năng hợp tác cho dù hai nước, Trung Quốc và Việt Nam, không từ bỏ các tuyên bố chủ quyền của họ bởi vì Việt Nam có những lập luận bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông, nhưng họ có thể gác lại khía cạnh chủ quyền này hoặc đồng ý gác lại để tập trung vào các cơ chế thực tế để quản lý tài nguyên mà trong trường hợp này, là quản lý tài nguyên dầu mỏ. Đúng là nhiều nguồn tài nguyên đang được khai thác, và một số đang gần cạn kiệt. Nhưng không phải tất cả các nguồn tài nguyên ở Biển Đông đều đã được xác định. Trong khuôn khổ quản lý thực tiễn chung các nguồn tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam, có thể sẽ có các đợt thăm dò chung nhằm xác định các mỏ dầu khí hoặc khí đốt tự nhiên mới, sau đó sẽ được khai thác và chia sẻ chung. Đọc thêmViệt Nam, Malaysia, Philippines: Gác tranh chấp, chống Trung Quốc ở Biển Đông? Thực tế cho thấy Việt Nam phụ thuộc vào nguồn cung dầu mỏ Trung Đông. Nhìn vào tình hình bất ổn hiện nay ở Trung Đông, đặc biệt là những khó khăn do các “điểm kiểm soát” - tức là các eo biển chiến lược - gây ra thì hiện giờ đang có rất nhiều tranh luận liên quan đến eo biển Hormuz, đang bị cả Iran và Mỹ phong tỏa. Ngoài ra còn phải nhắc đến eo biển Malacca, một eo biển nhạy cảm, nơi trung chuyển một phần rất lớn dầu mỏ dành cho các nước ở Đông Nam Á và và Đông Bắc Á. Vì vậy, sự phụ thuộc vào các đặc điểm địa lý có thể trở nên rất nhạy cảm từ góc độ địa-chính trị, đang thúc đẩy Việt Nam tìm cách xác định các nguồn tài nguyên dầu mỏ có thể khai thác được mà không cần đi qua những nơi tiềm ẩn nhiều vấn đề từ góc độ địa-chính trị như vậy”. Để có thể đi đến một quyết định, chắc chắn sẽ gây tranh cãi, nhưng mang tính thiết yếu cho nguồn cung năng lượng Việt Nam Nam, nhà nghiên cứu Laurent Gédéon cho răng, “các liên doanh được thành lập trong khuôn khổ quản lý chung không nên bị coi là một bước thụt lùi hoặc là một thất bại, mà là một cơ chế thực dụng được thiết lập trong khi chờ đợi một giải pháp dứt khoát, mà không phán xét về việc phân định ranh giới sau này các vùng biển liên quan và không đặt ra nghi vấn về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mỗi bên”. (1) ASEAN countries exposed by Middle East oil dependence (2) The Middle East Crisis and Southeast Asia's Energy Vulnerability
Khoảng 88% tổng lượng dầu thô nhập khẩu của Việt Nam được nhập từ vùng Vịnh Ba Tư, chỉ đứng sau Philippines (95%) và đứng trước các nước Malaysia (69%), Thái Lan (59%) và Singapore (52%), theo Ngân hàng Đầu tư Maybank (1). Kuwait là nhà cung cấp dầu thô lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 80% tổng lượng nhập khẩu. Khoảng 49% khối lượng khí hóa lỏng LNG nhập khẩu của Việt Nam cũng có xuất xứ từ Vùng Vịnh (2). Sự phụ thuộc nghiêm trọng vào gần như một nước, một khu vực vẫn được coi là “chảo lửa” Trung Đông, được phản ánh rõ trong cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz. Ngoài ra, Việt Nam có kho dự trữ dầu chiến lược nhỏ nhất Đông Nam Á, trong khi việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả. Đọc thêmViệt Nam đối mặt với tình trạng thiếu xăng dầu vì nguồn cung ứng bị gián đoạn Theo một tài liệu của bộ Công Thương, được Reuters trích dẫn ngày 18/03/2026, Việt Nam cũng phải đối mặt với việc các mỏ dầu ngoài khơi đang dần cạn kiệt, khiến sản lượng dầu thô nội địa dự kiến sẽ bị giảm trong thập niên này, chỉ còn khoảng 5,8 đến 8 triệu tấn/năm, thấp hơn mức bình quân 8,6 triệu tấn của 5 năm gần nhất. Do đó, Việt Nam có nguy cơ phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn nhập khẩu dầu lửa do hệ thống lọc dầu cần lượng nguyên liệu lớn hơn rất nhiều để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn ở trong nước. UNCLOS nói gì về khai thác dầu khí trong vùng tranh chấp chủ quyền ? Về lâu dài, Việt Nam dự trù tăng cường hoạt động thăm dò, trong đó có việc đưa ra các ưu đãi cho các công ty dầu khí quốc tế đầu tư vào các mỏ ngoài khơi. Mục tiêu là nâng cao trữ lượng có thể khai thác thêm 13 triệu đến 17 triệu tấn dầu thô mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030. Khủng hoảng năng lượng ở Trung Đông đã thúc đẩy Philippines nêu khả năng thăm dò dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông, nơi đang có tranh chấp chủ quyền. Liệu Việt Nam có làm như vậy với Trung Quốc ? Thực ra, ngay năm 2005, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đã có thỏa thuận ba bên về “Khảo sát Địa chấn biển chung” (Joint Marine Seismic Undertaking, JSMU) tại khu vực “theo thỏa thuận” rộng 142.886 km² ở Biển Đông, bao gồm một phần quần đảo Trường Sa. Thỏa thuận này kéo dài ba năm và hết hạn vào năm 2008. Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt, giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Trường Sư phạm Lyon, nhận định : “Cả Philippines và Việt Nam đều coi đó là cơ hội để cải thiện quan hệ chính trị, kinh tế và quân sự với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy phát triển chung các nguồn tài nguyên có thể sẽ rất khó khai thác vì những căng thẳng”. Đọc thêmViệt Nam có bị ảnh hưởng từ hợp tác dầu khí Trung Quốc - Philippines ở Biển Đông? Ý định này vẫn chỉ nằm trên giấy tờ vì những đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với hầu hết Biển Đông, cho dù bị vô hiệu hóa trong phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng Tài Thường Trực (PCA) La Haye. Tuy nhiên, các bên vẫn không từ bỏ nỗ lực tìm kiếm một thỏa hiệp, dù chỉ là tạm thời, theo giải thích của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon : “Theo luật quốc tế, khi nhiều quốc gia cùng tuyên bố chủ quyền đối với một vùng biển (vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa chồng lấn), Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 quy định nghĩa vụ hợp tác. Thông qua Điều 74 và 83, Công ước quy định các quốc gia phải đàm phán thiện chí để đạt được sự phân định công bằng và không được làm tổn hại hoặc cản trở một thỏa thuận trong tương lai. Cụ thể, điều này có nghĩa là việc khai thác dầu khí đơn phương tiềm ẩn rủi ro pháp lý tại khu vực tranh chấp giữa nhiều quốc gia theo luật quốc tế. Công ước cũng khuyến khích các giải pháp tạm thời. Công ước quy định các quốc gia có thể ký kết các thỏa thuận tạm thời mang tính thực tiễn trong khi chờ phân định cuối cùng. Chính trong khuôn khổ pháp lý này mà các khu vực phát triển chung về dầu khí đang được phát triển. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng Công ước không đề cập đến phương pháp cần tuân theo. Do đó, Công ước không định nghĩa một cơ chế tiêu chuẩn cho việc quản lý chung dầu khí, cũng không thiết lập các quy tắc chia sẻ doanh thu hoặc quản trị, cũng không tạo ra một thể chế cụ thể cho các khu vực tranh chấp này. Do đó, các phương thức cụ thể (chia sẻ, thuế, nhà điều hành…) hoàn toàn được đàm phán song phương hoặc trong khu vực giữa các quốc gia”. Đọc thêmViệt Nam bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông như nào ? Tiền lệ về gác tranh chấp chủ quyền để cùng thăm dò khai thác Trường hợp tranh chấp chủ quyền trên biển nhưng vẫn hợp tác khai thác dầu khí không phải là hiếm trên thế giới, theo nhà nghiên cứu Laurent Gédéon : “Hai mô hình khu vực phát triển chung có thể được nêu ra làm ví dụ để các bên ở Biển Đông, đặc biệt là Việt Nam, có thể tham khảo. Thứ nhất là Khu vực Phát triển Chung Nigeria-São Tomé và Príncipe (Nigeria-São Tomé and Príncipe Joint Development Zone), liên quan đến hoạt động khai thác dầu khí trong vùng biển mà cả hai quốc gia đều tuyên bố chủ quyền ở Vịnh Guinea. Thứ hai là Khu vực Phát triển Chung Malaysia-Thái Lan (Malaysia-Thailand Joint Development Area, MTJDA), liên quan đến việc khai thác khí đốt tự nhiên trong khu vực tranh chấp giữa Malaysia và Thái Lan, nằm ở Vịnh Thái Lan. Có thể thấy rõ rằng bất chấp những khó khăn, sự hợp tác giữa các bên tuyên bố có quyền về dầu khí ở Biển Đông là khả thi và có thể được thực hiện phù hợp với cả luật pháp quốc tế và luật pháp quốc gia”. Bãi Tư Chính : Việt Nam khẳng định chủ quyền nhưng không khai thác được Tài nguyên dầu khí của Việt Nam tập trung quanh bãi Tư Chính (Vanguard Bank), chiếm khoảng 10% nhu cầu năng lượng của đất nước. Hà Nội khẳng định khu vực nhà giàn DK1, trong đó có bãi Tư Chính, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở của Việt Nam và là thềm lục địa phía nam Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với UNCLOS 1982. Vùng biển này không tranh chấp với nước nào, và lại càng không tranh chấp với Trung Quốc. Ngược lại, Bắc Kinh và Đài Bắc cho rằng bãi Tư Chính thuộc quần đảo Trường Sa, đang có tranh chấp chủ quyền. Trung Quốc thường xuyên tuần tra tại đây nhằm đe dọa Việt Nam và làm gián đoạn hoạt động của các công ty dầu khí khai thác trong khu vực. Tháng 07/2017, tập đoàn Repsol của Tây Ban Nha phải ngừng hoạt động thăm dò khí đốt tại mỏ Cá Rồng Đỏ ở khu vực bãi Tư Chính. Trong suốt ba tuần tháng 07/2019, Trung Quốc đưa tàu thăm dò Hải Dương 8 (Haiyang Dizhi 8), được nhiều tàu hải cảnh và dân quân biển hộ tống, xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam tại khu vực bãi Tư Chính. Hoạt động gây rối này tái diễn trong những năm 2023, 2024. Đọc thêmBãi Tư Chính : Việt Nam nên để ngỏ khả năng kiện Trung Quốc Song song với việc “quấy rối” hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam và tiếp tục đòi chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông, từ năm 2017, Trung Quốc cũng “tích cực” đề xuất một số dự án phát triển chung ở Biển Đông với Việt Nam và Philippines. Động cơ đằng sau đề xuất này là gì ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon giải thích : “Động cơ của Bắc Kinh có thể được xem xét cả về kinh tế và địa chiến lược. Về kinh tế, việc khai thác tài nguyên năng lượng ở Biển Đông cho phép Trung Quốc đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nước ngày càng tăng. Hơn nữa, bất kỳ động thái hội nhập khu vực nào cũng nằm trong khuôn khổ rộng lớn hơn của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), do Bắc Kinh khởi xướng và có hiệu lực từ tháng 01/2022. Về mặt địa-chiến lược, các sáng kiến chung với các quốc gia giáp Biển Đông cho phép Trung Quốc tăng cường quan hệ hợp tác với những nước này. Về lâu dài, sự gần gũi đó có thể góp phần làm suy yếu mối quan hệ giữa các quốc gia này với Hoa Kỳ và từ đó củng cố vị thế của Bắc Kinh trong bối cảnh cạnh tranh Trung-Mỹ”. Những bị động do phụ thuộc quá lớn vào nguồn cung năng lượng Trung Đông có khiến Hà Nội thay đổi quan điểm về thỏa thuận khai thác chung và chia sẻ công bằng nguồn năng lượng ở Biển Đông không ? Liệu có khả năng Việt Nam và Trung Quốc hợp tác trong tương lai gần hay không ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon nhận định : “Có khả năng hợp tác cho dù hai nước, Trung Quốc và Việt Nam, không từ bỏ các tuyên bố chủ quyền của họ bởi vì Việt Nam có những lập luận bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông, nhưng họ có thể gác lại khía cạnh chủ quyền này hoặc đồng ý gác lại để tập trung vào các cơ chế thực tế để quản lý tài nguyên mà trong trường hợp này, là quản lý tài nguyên dầu mỏ. Đúng là nhiều nguồn tài nguyên đang được khai thác, và một số đang gần cạn kiệt. Nhưng không phải tất cả các nguồn tài nguyên ở Biển Đông đều đã được xác định. Trong khuôn khổ quản lý thực tiễn chung các nguồn tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam, có thể sẽ có các đợt thăm dò chung nhằm xác định các mỏ dầu khí hoặc khí đốt tự nhiên mới, sau đó sẽ được khai thác và chia sẻ chung. Đọc thêmViệt Nam, Malaysia, Philippines: Gác tranh chấp, chống Trung Quốc ở Biển Đông? Thực tế cho thấy Việt Nam phụ thuộc vào nguồn cung dầu mỏ Trung Đông. Nhìn vào tình hình bất ổn hiện nay ở Trung Đông, đặc biệt là những khó khăn do các “điểm kiểm soát” - tức là các eo biển chiến lược - gây ra thì hiện giờ đang có rất nhiều tranh luận liên quan đến eo biển Hormuz, đang bị cả Iran và Mỹ phong tỏa. Ngoài ra còn phải nhắc đến eo biển Malacca, một eo biển nhạy cảm, nơi trung chuyển một phần rất lớn dầu mỏ dành cho các nước ở Đông Nam Á và và Đông Bắc Á. Vì vậy, sự phụ thuộc vào các đặc điểm địa lý có thể trở nên rất nhạy cảm từ góc độ địa-chính trị, đang thúc đẩy Việt Nam tìm cách xác định các nguồn tài nguyên dầu mỏ có thể khai thác được mà không cần đi qua những nơi tiềm ẩn nhiều vấn đề từ góc độ địa-chính trị như vậy”. Để có thể đi đến một quyết định, chắc chắn sẽ gây tranh cãi, nhưng mang tính thiết yếu cho nguồn cung năng lượng Việt Nam Nam, nhà nghiên cứu Laurent Gédéon cho răng, “các liên doanh được thành lập trong khuôn khổ quản lý chung không nên bị coi là một bước thụt lùi hoặc là một thất bại, mà là một cơ chế thực dụng được thiết lập trong khi chờ đợi một giải pháp dứt khoát, mà không phán xét về việc phân định ranh giới sau này các vùng biển liên quan và không đặt ra nghi vấn về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mỗi bên”. (1) ASEAN countries exposed by Middle East oil dependence (2) The Middle East Crisis and Southeast Asia's Energy Vulnerability
Hơn 50 triệu euro được Liên Hiệp Châu Âu đầu tư cho Chương trình Giáo dục Nghề nghiệp Việt Nam (VETVET). Hiệp định được Liên Âu và chính phủ Việt Nam ký ngày 31/12/2025 và kéo dài đến năm 2030 nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, xây dựng lực lượng lao động có kỹ năng, đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi xanh, chuyển đổi số tại việt Nam. “Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số” được trang Nhân Dân nhấn mạnh “là hai yếu tố căn bản cấu thành một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược” của Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam đang thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên môn, có kỹ năng. Chương trình VETVET của Liên Hiệp Châu Âu được bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn đánh giá “sẽ góp phần hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động”. Về phía Liên Hiệp Châu Âu, trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 20/01/2026, đại sứ Julien Guerrier cho biết Hiệp định tài trợ cho Chương trình Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam-EU đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực giáo dục và phát triển kỹ năng. Chương trình VETVET cũng sẽ giúp Việt Nam tăng sức hấp dẫn cũng như đáp ứng nhu cầu nhân lực của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, vào Việt Nam. RFI : Một thỏa thuận mới về tài trợ Chương trình Giáo dục Nghề nghiệp (VETVET) đã được Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam đã ký ngày 31/12/2025. Xin Đại sứ cho biết chương trình hợp tác chung giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam về lĩnh vực này được triển khai từ bao giờ và nhằm những mục tiêu nào ? Đại sứ Julien Guerrier : Đối với chúng tôi, chương trình VETVET là một sáng kiến lớn nhằm tăng cường công tác đào tạo và giáo dục tại Việt Nam. Công tác chuẩn bị cho chương trình hợp tác và dự án này bắt đầu từ năm 2023, và chúng tôi ký thỏa thuận tài chính vào cuối năm 2025. Vì vậy, hiện nay chúng tôi đã sẵn sàng triển khai dự án này. Đây là một chương trình với nhiều nhà tài trợ, có tổng ngân sách hơn 50 triệu euro, có thể thấy là rất lớn, được đồng tài trợ bởi Liên Hiệp Châu Âu (40 triệu euro), Đức (10,4 triệu euro) và Pháp (500.000 euro). Chương trình sẽ do Expertise France và đối tác Đức là GIZ thực hiện, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam. Chương trình kéo dài 5 năm, được bắt đầu ngay lập tức và kéo dài tới năm 2030. Mục tiêu của chương trình VETVET là hỗ trợ Việt Nam xây dựng một lĩnh vực giáo dục và đào tạo toàn diện, chất lượng cao và hiện đại, trang bị cho người Việt Nam những kỹ năng cần thiết cho nền kinh tế tương lai, đặc biệt là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Thông qua chương trình này, chúng tôi sẽ thiết lập một số quan hệ đối tác với các doanh nghiệp. Chúng tôi sẽ nỗ lực tăng cường sức hấp dẫn và tính bền vững của ngành giáo dục và đào tạo tại Việt Nam để có được những kỹ năng về mặt khởi nghiệp và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Đọc thêmEU và Việt Nam ký kết thỏa thuận chương trình đào tạo nghề trị giá 50 triệu euro RFI : Thỏa thuận mới “nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực kỹ năng cao”. Cụ thể là những ngành nghề nào được chú trọng ? Hoạt động đào tạo sẽ được tiến hành như thế nào ? Tại Việt Nam hay tại các nước thành viên EU tham gia chương trình ? Đại sứ Julien Guerrier : Sự hỗ trợ của Liên Hiệp Châu Âu dành cho đào tạo nghề tại Việt Nam sẽ tập trung vào các lĩnh vực đang thiếu hụt lao động tay nghề cao nhất, như chị đề cập, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghệ cao kỹ thuật số, cho các ngành công nghệ cao như bán dẫn, công nghiệp xanh, nông nghiệp bền vững và công nghệ quản lý môi trường và lâm nghiệp. Đó là những lĩnh vực sẽ được chúng tôi tập trung tới. Chúng tôi sẽ hợp tác với khoảng ba mươi trường cao đẳng nghề và doanh nghiệp để giúp chúng tôi phát triển các kỹ năng này, trước hết là bằng cách đào tạo giảng viên, sau đó là đào tạo người Việt Nam trong các lĩnh vực này, trên khắp các vùng miền của Việt Nam, và đôi khi thông qua các chương trình trao đổi tại Liên Hiệp Châu Âu. Cách tiếp cận sẽ rất sát với nhu cầu thực tế, có nghĩa là các doanh nghiệp sẽ cho chúng tôi biết họ thiếu kỹ năng gì và sẽ cần kỹ năng gì trong tương lai, và chúng tôi sẽ có thể đào tạo giảng viên không chỉ ở các trường cao đẳng nghề mà ngay chính trong doanh nghiệp, những người mà sau này có thể tập trung vào việc đào tạo thanh niên trong những lĩnh vực khác nhau. Điều quan trọng đối với chúng tôi là cần bảo đảm sự tiếp cận công bằng và bình đẳng cho thanh niên, bao gồm cả những người đến từ các vùng khó khăn hoặc các dân tộc thiểu số. Do đó, chúng tôi sẽ bảo đảm rằng tài liệu đào tạo và phương pháp giảng dạy được triển khai sẽ phải bao gồm cả các nhóm dân tộc thiểu số, đồng thời thúc đẩy bình đẳng giới và khuyến khích chương trình đào tạo dành cho phụ nữ tại Việt Nam. RFI : Chương trình đào tạo này có thể mang lại lợi ích như thế nào cho hợp tác giữa EU và Việt Nam ? Đại sứ Julien Guerrier : Đối với Việt Nam, điều này rất rõ ràng, Việt Nam sẽ có nhiều kỹ năng hơn, một lĩnh vực đào tạo nghề hiện đại hơn rất nhiều, hiệu quả và chất lượng cao hơn để đào tạo giới trẻ cho các doanh nghiệp tương lai. Việc này cũng rất cần thiết đối với Liên Hiệp Châu Âu. Thứ nhất, bởi vì đó là một phần trong các chương trình của Liên Âu để đóng góp vào hành động chống biến đổi khí hậu trên toàn thế giới. Ngoài ra cũng bởi vì chúng tôi có rất nhiều nhà đầu tư tại Việt Nam. Chúng tôi có Hiệp định Thương mại Tự do và Hiệp định Đầu tư với Việt Nam. Vì vậy nhiều nhà đầu tư châu Âu đến đây, đầu tư vào các lĩnh vực mà chúng tôi có lợi thế cạnh tranh, cụ thể là các lĩnh vực xanh, bền vững và công nghệ số cao. Và đó là những lĩnh vực cần những kỹ năng này. Vì vậy, chúng tôi sẽ phải đào tạo nguồn nhân lực sau này có thể làm việc cho các công ty của chúng tôi đầu tư vào Việt Nam trong những lĩnh vực này. Đọc thêmViện trợ phát triển: Liên Âu dự trù 300 tỷ euro làm đối trọng với Trung Quốc RFI : Để “đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh và chuyển đổi số tại Việt Nam”, Việt Nam cần nguồn nhân lực kỹ năng cao như thế nào ? Tình hình này có khẩn cấp không ? Đại sứ Julien Guerrier : Có, bởi vì đất nước đang chuyển mình rất, rất nhanh. Việt Nam đặt mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050, giống như Liên Hiệp Châu Âu. Việt Nam cũng khao khát đi đầu trong quá trình chuyển đổi số. Đối với chuyển đổi xanh, sẽ cần các kỹ sư năng lượng tái tạo, kỹ thuật viên, chuyên gia về biến đổi khí hậu, kỹ thuật viên khoa học môi trường và công nhân lành nghề trong các hoạt động nông nghiệp bền vững, ví dụ canh tác lúa phát thải thấp, cũng như trong ngành công nghiệp gỗ và quản lý rừng. Về chuyển đổi số, rất cần các kỹ sư và kỹ thuật viên trong các lĩnh vực điện tử, cơ điện tử và công nghệ thông tin. Ngoài ra cũng cần các chuyên gia về tự động hóa quy trình công nghiệp, robot và các lĩnh vực công nghệ cao khác, đặc biệt là chất bán dẫn, một lĩnh vực mà Việt Nam đang đặt mục tiêu phát triển nhanh chóng. Có thể thấy là có khá nhiều lĩnh vực kỹ thuật cần những con người có thể sử dụng phần mềm mới nhất, tích hợp các giải pháp số vào các ngành công nghiệp truyền thống hơn, và sử dụng tối ưu nguồn năng lượng hiện có. Đó là những kỹ sư trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, lĩnh vực số hóa, cũng như trong mọi ngành công nghiệp ở Việt Nam, để tích hợp những công nghệ này vào các ngành công nghiệp truyền thống hơn. RFI : Chương trình VETVET có tương ứng và đáp ứng với kế hoạch 5 năm được đề ra trong Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIV ? Đại sứ Julien Guerrier : Hoàn toàn đúng vậy. Tôi đã tham dự lễ khai mạc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam sáng 20/01. Đại hội quyết định việc bổ nhiệm lãnh đạo cho 5 năm tới, cũng như các chính sách cần theo đuổi. Các ưu tiên là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Và đối với hai ưu tiên này, mục tiêu số một là phát triển nguồn nhân lực bởi vì đó là điều kiện tiên quyết để thành công trong hai quá trình chuyển đổi này. Vì vậy, theo kế hoạch của Đảng, đây là điểm đứng đầu trong các ưu tiên cho 5 năm tới. Và điều này hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của người dân Việt Nam để phát triển đất nước một cách bền vững. Do đó, giữa các ưu tiên của Liên Hiệp Châu Âu và các ưu tiên của Việt Nam có sự tương đồng hoàn hảo về vấn đề này. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Đại sứ Liên Hiệp Châu Âu tại Việt Nam Julien Guerrier.
Hơn 50 triệu euro được Liên Hiệp Châu Âu đầu tư cho Chương trình Giáo dục Nghề nghiệp Việt Nam (VETVET). Hiệp định được Liên Âu và chính phủ Việt Nam ký ngày 31/12/2025 và kéo dài đến năm 2030 nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, xây dựng lực lượng lao động có kỹ năng, đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi xanh, chuyển đổi số tại việt Nam. “Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số” được trang Nhân Dân nhấn mạnh “là hai yếu tố căn bản cấu thành một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược” của Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam đang thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên môn, có kỹ năng. Chương trình VETVET của Liên Hiệp Châu Âu được bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn đánh giá “sẽ góp phần hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động”. Về phía Liên Hiệp Châu Âu, trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 20/01/2026, đại sứ Julien Guerrier cho biết Hiệp định tài trợ cho Chương trình Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam-EU đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực giáo dục và phát triển kỹ năng. Chương trình VETVET cũng sẽ giúp Việt Nam tăng sức hấp dẫn cũng như đáp ứng nhu cầu nhân lực của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, vào Việt Nam. RFI : Một thỏa thuận mới về tài trợ Chương trình Giáo dục Nghề nghiệp (VETVET) đã được Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam đã ký ngày 31/12/2025. Xin Đại sứ cho biết chương trình hợp tác chung giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam về lĩnh vực này được triển khai từ bao giờ và nhằm những mục tiêu nào ? Đại sứ Julien Guerrier : Đối với chúng tôi, chương trình VETVET là một sáng kiến lớn nhằm tăng cường công tác đào tạo và giáo dục tại Việt Nam. Công tác chuẩn bị cho chương trình hợp tác và dự án này bắt đầu từ năm 2023, và chúng tôi ký thỏa thuận tài chính vào cuối năm 2025. Vì vậy, hiện nay chúng tôi đã sẵn sàng triển khai dự án này. Đây là một chương trình với nhiều nhà tài trợ, có tổng ngân sách hơn 50 triệu euro, có thể thấy là rất lớn, được đồng tài trợ bởi Liên Hiệp Châu Âu (40 triệu euro), Đức (10,4 triệu euro) và Pháp (500.000 euro). Chương trình sẽ do Expertise France và đối tác Đức là GIZ thực hiện, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam. Chương trình kéo dài 5 năm, được bắt đầu ngay lập tức và kéo dài tới năm 2030. Mục tiêu của chương trình VETVET là hỗ trợ Việt Nam xây dựng một lĩnh vực giáo dục và đào tạo toàn diện, chất lượng cao và hiện đại, trang bị cho người Việt Nam những kỹ năng cần thiết cho nền kinh tế tương lai, đặc biệt là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Thông qua chương trình này, chúng tôi sẽ thiết lập một số quan hệ đối tác với các doanh nghiệp. Chúng tôi sẽ nỗ lực tăng cường sức hấp dẫn và tính bền vững của ngành giáo dục và đào tạo tại Việt Nam để có được những kỹ năng về mặt khởi nghiệp và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Đọc thêmEU và Việt Nam ký kết thỏa thuận chương trình đào tạo nghề trị giá 50 triệu euro RFI : Thỏa thuận mới “nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực kỹ năng cao”. Cụ thể là những ngành nghề nào được chú trọng ? Hoạt động đào tạo sẽ được tiến hành như thế nào ? Tại Việt Nam hay tại các nước thành viên EU tham gia chương trình ? Đại sứ Julien Guerrier : Sự hỗ trợ của Liên Hiệp Châu Âu dành cho đào tạo nghề tại Việt Nam sẽ tập trung vào các lĩnh vực đang thiếu hụt lao động tay nghề cao nhất, như chị đề cập, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghệ cao kỹ thuật số, cho các ngành công nghệ cao như bán dẫn, công nghiệp xanh, nông nghiệp bền vững và công nghệ quản lý môi trường và lâm nghiệp. Đó là những lĩnh vực sẽ được chúng tôi tập trung tới. Chúng tôi sẽ hợp tác với khoảng ba mươi trường cao đẳng nghề và doanh nghiệp để giúp chúng tôi phát triển các kỹ năng này, trước hết là bằng cách đào tạo giảng viên, sau đó là đào tạo người Việt Nam trong các lĩnh vực này, trên khắp các vùng miền của Việt Nam, và đôi khi thông qua các chương trình trao đổi tại Liên Hiệp Châu Âu. Cách tiếp cận sẽ rất sát với nhu cầu thực tế, có nghĩa là các doanh nghiệp sẽ cho chúng tôi biết họ thiếu kỹ năng gì và sẽ cần kỹ năng gì trong tương lai, và chúng tôi sẽ có thể đào tạo giảng viên không chỉ ở các trường cao đẳng nghề mà ngay chính trong doanh nghiệp, những người mà sau này có thể tập trung vào việc đào tạo thanh niên trong những lĩnh vực khác nhau. Điều quan trọng đối với chúng tôi là cần bảo đảm sự tiếp cận công bằng và bình đẳng cho thanh niên, bao gồm cả những người đến từ các vùng khó khăn hoặc các dân tộc thiểu số. Do đó, chúng tôi sẽ bảo đảm rằng tài liệu đào tạo và phương pháp giảng dạy được triển khai sẽ phải bao gồm cả các nhóm dân tộc thiểu số, đồng thời thúc đẩy bình đẳng giới và khuyến khích chương trình đào tạo dành cho phụ nữ tại Việt Nam. RFI : Chương trình đào tạo này có thể mang lại lợi ích như thế nào cho hợp tác giữa EU và Việt Nam ? Đại sứ Julien Guerrier : Đối với Việt Nam, điều này rất rõ ràng, Việt Nam sẽ có nhiều kỹ năng hơn, một lĩnh vực đào tạo nghề hiện đại hơn rất nhiều, hiệu quả và chất lượng cao hơn để đào tạo giới trẻ cho các doanh nghiệp tương lai. Việc này cũng rất cần thiết đối với Liên Hiệp Châu Âu. Thứ nhất, bởi vì đó là một phần trong các chương trình của Liên Âu để đóng góp vào hành động chống biến đổi khí hậu trên toàn thế giới. Ngoài ra cũng bởi vì chúng tôi có rất nhiều nhà đầu tư tại Việt Nam. Chúng tôi có Hiệp định Thương mại Tự do và Hiệp định Đầu tư với Việt Nam. Vì vậy nhiều nhà đầu tư châu Âu đến đây, đầu tư vào các lĩnh vực mà chúng tôi có lợi thế cạnh tranh, cụ thể là các lĩnh vực xanh, bền vững và công nghệ số cao. Và đó là những lĩnh vực cần những kỹ năng này. Vì vậy, chúng tôi sẽ phải đào tạo nguồn nhân lực sau này có thể làm việc cho các công ty của chúng tôi đầu tư vào Việt Nam trong những lĩnh vực này. Đọc thêmViện trợ phát triển: Liên Âu dự trù 300 tỷ euro làm đối trọng với Trung Quốc RFI : Để “đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh và chuyển đổi số tại Việt Nam”, Việt Nam cần nguồn nhân lực kỹ năng cao như thế nào ? Tình hình này có khẩn cấp không ? Đại sứ Julien Guerrier : Có, bởi vì đất nước đang chuyển mình rất, rất nhanh. Việt Nam đặt mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050, giống như Liên Hiệp Châu Âu. Việt Nam cũng khao khát đi đầu trong quá trình chuyển đổi số. Đối với chuyển đổi xanh, sẽ cần các kỹ sư năng lượng tái tạo, kỹ thuật viên, chuyên gia về biến đổi khí hậu, kỹ thuật viên khoa học môi trường và công nhân lành nghề trong các hoạt động nông nghiệp bền vững, ví dụ canh tác lúa phát thải thấp, cũng như trong ngành công nghiệp gỗ và quản lý rừng. Về chuyển đổi số, rất cần các kỹ sư và kỹ thuật viên trong các lĩnh vực điện tử, cơ điện tử và công nghệ thông tin. Ngoài ra cũng cần các chuyên gia về tự động hóa quy trình công nghiệp, robot và các lĩnh vực công nghệ cao khác, đặc biệt là chất bán dẫn, một lĩnh vực mà Việt Nam đang đặt mục tiêu phát triển nhanh chóng. Có thể thấy là có khá nhiều lĩnh vực kỹ thuật cần những con người có thể sử dụng phần mềm mới nhất, tích hợp các giải pháp số vào các ngành công nghiệp truyền thống hơn, và sử dụng tối ưu nguồn năng lượng hiện có. Đó là những kỹ sư trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, lĩnh vực số hóa, cũng như trong mọi ngành công nghiệp ở Việt Nam, để tích hợp những công nghệ này vào các ngành công nghiệp truyền thống hơn. RFI : Chương trình VETVET có tương ứng và đáp ứng với kế hoạch 5 năm được đề ra trong Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIV ? Đại sứ Julien Guerrier : Hoàn toàn đúng vậy. Tôi đã tham dự lễ khai mạc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam sáng 20/01. Đại hội quyết định việc bổ nhiệm lãnh đạo cho 5 năm tới, cũng như các chính sách cần theo đuổi. Các ưu tiên là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Và đối với hai ưu tiên này, mục tiêu số một là phát triển nguồn nhân lực bởi vì đó là điều kiện tiên quyết để thành công trong hai quá trình chuyển đổi này. Vì vậy, theo kế hoạch của Đảng, đây là điểm đứng đầu trong các ưu tiên cho 5 năm tới. Và điều này hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của người dân Việt Nam để phát triển đất nước một cách bền vững. Do đó, giữa các ưu tiên của Liên Hiệp Châu Âu và các ưu tiên của Việt Nam có sự tương đồng hoàn hảo về vấn đề này. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Đại sứ Liên Hiệp Châu Âu tại Việt Nam Julien Guerrier.
Xung đột ở Trung Đông dẫn đến cuộc khủng hoảng dầu lửa toàn cầu cho thấy hạn chế tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Các kho dự trữ, nằm trong tay những đối tác tư nhân, chỉ có thể cung cấp dầu lửa đến hết tháng 04/2026. Nhiều chuyến bay nội địa bị cắt giảm vì thiếu xăng. Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn nhập khẩu dầu mỏ, do sản lượng trong nước sụt giảm vì các mỏ dầu ngoài khơi đang cạn dần sau thời gian dài khai thác. Trong khi đó, việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả. Cuộc khủng hoảng này cũng cho thấy Việt Nam cần thiết lập hệ thống dự trữ nhiên liệu chiến lược quốc gia, theo trang Nhân Dân. Ngày 29/03, thủ tướng Phạm Minh Chính đã tới khảo sát địa điểm dự kiến xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược tại Khu kinh tế Nghi Sơn. Song song với nhiệm vụ cấp bách đó, Hà Nội vẫn đang “làm việc với Iran để đề nghị tạo điều kiện, có biện pháp hỗ trợ bảo đảm cho tàu, lao động Việt Nam di chuyển an toàn qua eo biển Hormuz”, theo phát biểu của người phát ngôn bộ Ngoại Giao Phạm Thu Hằng trong buổi họp báo thường kỳ ngày 02/04. Ngoài ra, chính phủ cũng khẩn trương triển khai “ngoại giao xăng dầu” với nhiều nước. Ví dụ đề xuất với Tokyo để được tiếp cận kho dự trữ chiến lược của Nhật Bản, đề nghị Trung Quốc xuất khẩu một phần xăng máy bay. Gần đây, trong chuyến công du Matxcơva, thủ tướng Phạm Minh Chính cũng đề nghị được mua dầu của Nga, cũng như tăng cường hợp tác trong lĩnh vực điện hạt nhân, năng lượng tái tạo. Việc hợp tác với Nga, đang bị phương Tây trừng phạt vì gây chiến ở Ukraina, có thể sẽ được tiến hành như thế nào ? Nga sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc đa dạng hóa nguồn năng lượng của Việt Nam ? Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, tại khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston, Mỹ, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Trước tiên, anh có thể tóm lược mối quan hệ hợp tác năng lượng giữa hai nước Việt Nam và Nga, gần đây là cam kết hợp tác phát triển điện hạt nhân, được ký vào ngày 23/03/2026 nhân chuyến công du Matxcơva của thủ tướng Phạm Minh Chính ? Vì sao có thể hợp tác được trong lĩnh vực điện hạt nhân mà không lo các biện pháp trừng phạt của phương Tây ? Vũ Khang : Khi kể đến quan hệ hợp tác năng lượng Việt Nam và Nga, chúng ta không thể không nhắc đến Vietsovpetro. Xí nghiệp này được thành lập từ năm 1981 với mục đích là giúp Việt Nam tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía Nam. Cần phải nhắc lại 1981 là giai đoạn mà Việt Nam và Liên Xô là đồng minh quân sự của nhau theo Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ký vào năm 1978. Việt Nam đã tranh thủ mối quan hệ đó để phát triển và đảm bảo an ninh năng lượng của mình. Và kể cả sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, Việt Nam vẫn duy trì xí nghiệp liên doanh này với Nga và các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập SNG. Và chính nhờ có xí nghiệp liên doanh này mà từ con số 0, hiện giờ Việt Nam đang sở hữu hệ thống căn cứ dịch vụ dầu khí tổng hợp phục vụ cho các khâu, chuỗi hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ngoài khơi khá là toàn diện. Đây cũng là một cách mà Việt Nam bảo vệ và khẳng định chủ quyền của mình trên Biển Đông. Ngoài ra, hàng năm, liên doanh Vietsovpetro đóng vào ngân sách nhà nước và lợi nhuận cho Việt Nam khoảng 53 tỷ đô la. Đây là một khoản khá là lớn cho ngân sách của nhà nước Việt Nam nếu chúng ta tính GDP Việt Nam rơi vào khoảng 500 tỷ đô một năm. Đây là một nền tảng khá là vững chắc từ ngoại giao cho đến kỹ thuật để Việt Nam và Nga có thể tiến tới hợp tác ở các mảng khác trong hợp tác năng lượng. Đọc thêmViệt Nam và Nga “rửa tiền” mua vũ khí qua thỏa thuận dầu khí với VietSovPetro ? Nếu mà nói rộng hơn về thỏa thuận hợp tác về hạt nhân gần đây thì Nga, với tư cách là một trong năm nước được phép sở hữu vũ khí hạt nhân theo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân NPT, có thể giúp đỡ Việt Nam nghiên cứu và sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích dân sự theo như các điều khoản của Hiệp ước này. Kết quả chuyến thăm Nga của thủ tướng Phạm Minh Chính cho thấy hợp tác Việt - Nga sẽ không chỉ dừng lại ở phát triển năng lượng hạt nhân mà còn bao gồm cả năng lượng mới, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo với tầm nhìn hơn 100 năm. RFI : Việt Nam đề nghị mua thêm dầu của Nga trong bối cảnh căng thẳng ở Trung Đông vì eo biển Hormuz bị Iran kiểm soát và phong tỏa. Liệu đây có phải là thời cơ tốt để mua dầu Nga mà không bị ảnh hưởng nhiều bởi các biện pháp trừng phạt của phương Tây đối với Nga ? Vũ Khang : Để giảm thiểu tác động của việc đóng cửa vịnh Hormuz do chiến tranh Mỹ và Iran, Hoa Kỳ đã dỡ bỏ các lệnh trừng phạt mua dầu của Nga trong 30 ngày. Điều này sẽ tạo điều điều kiện thuận lợi để Việt Nam mua được dầu của Nga mà không bị trừng phạt. Tuy vậy, hạn chế của lệnh dỡ bỏ này là chỉ có dầu của Nga đã được chất lên các tàu chở dầu thì mới không bị trừng phạt. Cho nên Việt Nam sẽ phải tiếp tục theo dõi tình hình từ phía Mỹ, cũng như là chiến tranh Mỹ và Iran sẽ kết thúc như thế nào. Đọc thêmTăng cường hợp tác năng lượng : Mục tiêu chính chuyến công du Nga của thủ tướng Việt Nam Một điểm hạn chế nữa khi mua dầu từ Nga, đó là đường vận chuyển khá là dài so với mua từ Trung Đông. Việt Nam mới chỉ đảm bảo được cho cung ứng dầu từ giờ cho đến hết tháng 04, có thể nói sẽ vẫn còn rất khó để chắc chắn là Việt Nam sẽ giải quyết ra sao nguồn cung dầu kể từ tháng 05 trở đi. RFI : Tương tự như nhiều nước trên thế giới, dầu lửa là nhiên liệu thiết yếu cho sản xuất. Việt Nam cần dầu nhập khẩu như nào để phát triển sản xuất ? Vũ Khang : Hiện nay, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 30% lượng xăng dầu, tương đương với 20 tỷ đô la mỗi năm, để đáp ứng các nhu cầu tiêu thụ trong nước. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần này chính là một phép thử cho khả năng chịu áp lực cho an ninh năng lượng của Việt Nam. Việt Nam, với khả năng của mình, đã tận dụng chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa để thứ nhất, giữ trung lập trong cuộc chiến Mỹ và Iran ; thứ hai, tìm nguồn cung ứng dầu thô từ Kuwait và Nhật Bản, cũng như với các chuỗi chính sách khác trong nước, ví dụ dỡ bỏ thuế đối với xăng dầu tiêu thụ cho đến hết tháng 06 để tránh cho kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng. Đọc thêmViệt Nam thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo để bảo đảm sản xuất và trung hòa khí thải Việt Nam cũng sẽ phát triển kho dự trữ xăng dầu quốc gia riêng biệt tại tỉnh Thanh Hóa khi mà dự trữ hiện nay từ các doanh nghiệp dầu hỏa đầu mối của Việt Nam mới chỉ đủ cho 7 đến 10 ngày tiêu thụ. Nếu nhìn rộng hơn, giá xăng dầu cao cũng sẽ có tác động lớn đến các mặt hàng, hoặc những chính sách kinh tế khác của Việt Nam, vì xăng dầu tăng cao thì sẽ đẩy mạnh lạm phát, cũng như là đẩy mạnh giá trị của đô la. Trong khi đó Việt Nam hiện vẫn phải mua dầu quốc tế bằng đồng đô la, tỷ giá đô la tăng vọt cũng sẽ khiến cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó khăn nhiều hơn nữa trong tương lai gần. RFI : Nhìn rộng hơn, Việt Nam cần phải phát triển, đa dạng hóa nguồn năng lượng như thế nào để bảo đảm cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và cho sản xuất ? Vũ Khang : Phát triển an ninh năng lượng là vấn đề sống còn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam phải cân bằng giữa hai mục tiêu : vừa tăng trưởng GDP và vừa phải giảm khí thải carbon. Theo dữ liệu hiện nay, điện than đang chiếm tỷ trọng trên 33%, thủy điện 28%, năng lượng tái tạo - bao gồm năng lượng Mặt trời và năng lượng gió - khoảng 27%. Do Việt Nam phải dần dần từ bỏ điện than từ nay cho đến năm 2050 theo cam kết tại COP 26, nên Việt Nam bắt buộc phải tìm được nguồn cung thay thế đến từ thủy điện, năng lượng tái tạo và điện hạt nhân. Nếu chúng ta nhìn kỹ hơn, thủy điện Việt Nam lại đang chịu tác động rất là lớn từ môi trường khi mà hạn hán có thể làm chậm nguồn cung cho lưới điện. Năng lượng tái tạo, như là năng lượng Mặt trời hay là năng lượng gió, vẫn chưa đủ bảo đảm ổn định cho lưới điện quốc gia, do hai nguồn năng lượng này cũng phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Đọc thêmViệt Nam sẽ có nhà máy điện hạt nhân đầu tiên vào năm 2030: Liệu có khả thi? Trong bối cảnh đó, điện hạt nhân lại là một nguồn năng lượng đáp ứng được yêu cầu ổn định và đây là một nguồn năng lượng sạch. Nhưng một điểm trừ rất lớn của điện hạt nhân, đó là chi phí đầu tư ban đầu và thời gian để bắt đầu vận hành có thể lên đến một thập kỷ hoặc hơn thế nữa. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng và sản xuất điện hiện nay là 12 đến 15% mỗi năm để đáp ứng được cho mục tiêu phát triển GDP. Theo dự tính đến năm 2030, Việt Nam sẽ cần gấp đôi công suất điện so với hiện nay và đến năm 2050, Việt Nam sẽ cần gấp năm lần công suất điện so với hiện nay. Với quan điểm về an ninh quốc gia, Việt Nam có thể mua điện từ Lào hay là Trung Quốc nhưng do các nghi kỵ về chính trị với láng giềng phương Bắc, về tương lai dài hạn, đây không phải là một điều quá khả thi. Do nhìn chung Việt Nam không muốn phụ thuộc về năng lượng hay an ninh điện vào nước ngoài. Điều này đòi hỏi Việt Nam sẽ phải nhanh chóng đầu tư vào nhân lực, cũng như là cơ sở vật chất để phát triển điện hạt nhân, cũng như năng lượng tái tạo ngay từ bây giờ. Nhìn chung hơn, tự chủ năng lượng sẽ giúp cho Việt Nam duy trì tự chủ về mặt ngoại giao và tránh việc bị cuốn vào xung đột giữa các nước lớn, cũng như bảo đảm được an ninh năng lượng trong trường hợp chiến tranh xảy ra. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, Khoa Chính trị học tại Trường Đại học Boston (Boston College), Hoa Kỳ.
Xung đột ở Trung Đông dẫn đến cuộc khủng hoảng dầu lửa toàn cầu cho thấy hạn chế tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Các kho dự trữ, nằm trong tay những đối tác tư nhân, chỉ có thể cung cấp dầu lửa đến hết tháng 04/2026. Nhiều chuyến bay nội địa bị cắt giảm vì thiếu xăng. Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn nhập khẩu dầu mỏ, do sản lượng trong nước sụt giảm vì các mỏ dầu ngoài khơi đang cạn dần sau thời gian dài khai thác. Trong khi đó, việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả. Cuộc khủng hoảng này cũng cho thấy Việt Nam cần thiết lập hệ thống dự trữ nhiên liệu chiến lược quốc gia, theo trang Nhân Dân. Ngày 29/03, thủ tướng Phạm Minh Chính đã tới khảo sát địa điểm dự kiến xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược tại Khu kinh tế Nghi Sơn. Song song với nhiệm vụ cấp bách đó, Hà Nội vẫn đang “làm việc với Iran để đề nghị tạo điều kiện, có biện pháp hỗ trợ bảo đảm cho tàu, lao động Việt Nam di chuyển an toàn qua eo biển Hormuz”, theo phát biểu của người phát ngôn bộ Ngoại Giao Phạm Thu Hằng trong buổi họp báo thường kỳ ngày 02/04. Ngoài ra, chính phủ cũng khẩn trương triển khai “ngoại giao xăng dầu” với nhiều nước. Ví dụ đề xuất với Tokyo để được tiếp cận kho dự trữ chiến lược của Nhật Bản, đề nghị Trung Quốc xuất khẩu một phần xăng máy bay. Gần đây, trong chuyến công du Matxcơva, thủ tướng Phạm Minh Chính cũng đề nghị được mua dầu của Nga, cũng như tăng cường hợp tác trong lĩnh vực điện hạt nhân, năng lượng tái tạo. Việc hợp tác với Nga, đang bị phương Tây trừng phạt vì gây chiến ở Ukraina, có thể sẽ được tiến hành như thế nào ? Nga sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc đa dạng hóa nguồn năng lượng của Việt Nam ? Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, tại khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston, Mỹ, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Trước tiên, anh có thể tóm lược mối quan hệ hợp tác năng lượng giữa hai nước Việt Nam và Nga, gần đây là cam kết hợp tác phát triển điện hạt nhân, được ký vào ngày 23/03/2026 nhân chuyến công du Matxcơva của thủ tướng Phạm Minh Chính ? Vì sao có thể hợp tác được trong lĩnh vực điện hạt nhân mà không lo các biện pháp trừng phạt của phương Tây ? Vũ Khang : Khi kể đến quan hệ hợp tác năng lượng Việt Nam và Nga, chúng ta không thể không nhắc đến Vietsovpetro. Xí nghiệp này được thành lập từ năm 1981 với mục đích là giúp Việt Nam tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía Nam. Cần phải nhắc lại 1981 là giai đoạn mà Việt Nam và Liên Xô là đồng minh quân sự của nhau theo Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ký vào năm 1978. Việt Nam đã tranh thủ mối quan hệ đó để phát triển và đảm bảo an ninh năng lượng của mình. Và kể cả sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, Việt Nam vẫn duy trì xí nghiệp liên doanh này với Nga và các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập SNG. Và chính nhờ có xí nghiệp liên doanh này mà từ con số 0, hiện giờ Việt Nam đang sở hữu hệ thống căn cứ dịch vụ dầu khí tổng hợp phục vụ cho các khâu, chuỗi hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ngoài khơi khá là toàn diện. Đây cũng là một cách mà Việt Nam bảo vệ và khẳng định chủ quyền của mình trên Biển Đông. Ngoài ra, hàng năm, liên doanh Vietsovpetro đóng vào ngân sách nhà nước và lợi nhuận cho Việt Nam khoảng 53 tỷ đô la. Đây là một khoản khá là lớn cho ngân sách của nhà nước Việt Nam nếu chúng ta tính GDP Việt Nam rơi vào khoảng 500 tỷ đô một năm. Đây là một nền tảng khá là vững chắc từ ngoại giao cho đến kỹ thuật để Việt Nam và Nga có thể tiến tới hợp tác ở các mảng khác trong hợp tác năng lượng. Đọc thêmViệt Nam và Nga “rửa tiền” mua vũ khí qua thỏa thuận dầu khí với VietSovPetro ? Nếu mà nói rộng hơn về thỏa thuận hợp tác về hạt nhân gần đây thì Nga, với tư cách là một trong năm nước được phép sở hữu vũ khí hạt nhân theo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân NPT, có thể giúp đỡ Việt Nam nghiên cứu và sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích dân sự theo như các điều khoản của Hiệp ước này. Kết quả chuyến thăm Nga của thủ tướng Phạm Minh Chính cho thấy hợp tác Việt - Nga sẽ không chỉ dừng lại ở phát triển năng lượng hạt nhân mà còn bao gồm cả năng lượng mới, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo với tầm nhìn hơn 100 năm. RFI : Việt Nam đề nghị mua thêm dầu của Nga trong bối cảnh căng thẳng ở Trung Đông vì eo biển Hormuz bị Iran kiểm soát và phong tỏa. Liệu đây có phải là thời cơ tốt để mua dầu Nga mà không bị ảnh hưởng nhiều bởi các biện pháp trừng phạt của phương Tây đối với Nga ? Vũ Khang : Để giảm thiểu tác động của việc đóng cửa vịnh Hormuz do chiến tranh Mỹ và Iran, Hoa Kỳ đã dỡ bỏ các lệnh trừng phạt mua dầu của Nga trong 30 ngày. Điều này sẽ tạo điều điều kiện thuận lợi để Việt Nam mua được dầu của Nga mà không bị trừng phạt. Tuy vậy, hạn chế của lệnh dỡ bỏ này là chỉ có dầu của Nga đã được chất lên các tàu chở dầu thì mới không bị trừng phạt. Cho nên Việt Nam sẽ phải tiếp tục theo dõi tình hình từ phía Mỹ, cũng như là chiến tranh Mỹ và Iran sẽ kết thúc như thế nào. Đọc thêmTăng cường hợp tác năng lượng : Mục tiêu chính chuyến công du Nga của thủ tướng Việt Nam Một điểm hạn chế nữa khi mua dầu từ Nga, đó là đường vận chuyển khá là dài so với mua từ Trung Đông. Việt Nam mới chỉ đảm bảo được cho cung ứng dầu từ giờ cho đến hết tháng 04, có thể nói sẽ vẫn còn rất khó để chắc chắn là Việt Nam sẽ giải quyết ra sao nguồn cung dầu kể từ tháng 05 trở đi. RFI : Tương tự như nhiều nước trên thế giới, dầu lửa là nhiên liệu thiết yếu cho sản xuất. Việt Nam cần dầu nhập khẩu như nào để phát triển sản xuất ? Vũ Khang : Hiện nay, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 30% lượng xăng dầu, tương đương với 20 tỷ đô la mỗi năm, để đáp ứng các nhu cầu tiêu thụ trong nước. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần này chính là một phép thử cho khả năng chịu áp lực cho an ninh năng lượng của Việt Nam. Việt Nam, với khả năng của mình, đã tận dụng chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa để thứ nhất, giữ trung lập trong cuộc chiến Mỹ và Iran ; thứ hai, tìm nguồn cung ứng dầu thô từ Kuwait và Nhật Bản, cũng như với các chuỗi chính sách khác trong nước, ví dụ dỡ bỏ thuế đối với xăng dầu tiêu thụ cho đến hết tháng 06 để tránh cho kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng. Đọc thêmViệt Nam thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo để bảo đảm sản xuất và trung hòa khí thải Việt Nam cũng sẽ phát triển kho dự trữ xăng dầu quốc gia riêng biệt tại tỉnh Thanh Hóa khi mà dự trữ hiện nay từ các doanh nghiệp dầu hỏa đầu mối của Việt Nam mới chỉ đủ cho 7 đến 10 ngày tiêu thụ. Nếu nhìn rộng hơn, giá xăng dầu cao cũng sẽ có tác động lớn đến các mặt hàng, hoặc những chính sách kinh tế khác của Việt Nam, vì xăng dầu tăng cao thì sẽ đẩy mạnh lạm phát, cũng như là đẩy mạnh giá trị của đô la. Trong khi đó Việt Nam hiện vẫn phải mua dầu quốc tế bằng đồng đô la, tỷ giá đô la tăng vọt cũng sẽ khiến cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó khăn nhiều hơn nữa trong tương lai gần. RFI : Nhìn rộng hơn, Việt Nam cần phải phát triển, đa dạng hóa nguồn năng lượng như thế nào để bảo đảm cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và cho sản xuất ? Vũ Khang : Phát triển an ninh năng lượng là vấn đề sống còn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam phải cân bằng giữa hai mục tiêu : vừa tăng trưởng GDP và vừa phải giảm khí thải carbon. Theo dữ liệu hiện nay, điện than đang chiếm tỷ trọng trên 33%, thủy điện 28%, năng lượng tái tạo - bao gồm năng lượng Mặt trời và năng lượng gió - khoảng 27%. Do Việt Nam phải dần dần từ bỏ điện than từ nay cho đến năm 2050 theo cam kết tại COP 26, nên Việt Nam bắt buộc phải tìm được nguồn cung thay thế đến từ thủy điện, năng lượng tái tạo và điện hạt nhân. Nếu chúng ta nhìn kỹ hơn, thủy điện Việt Nam lại đang chịu tác động rất là lớn từ môi trường khi mà hạn hán có thể làm chậm nguồn cung cho lưới điện. Năng lượng tái tạo, như là năng lượng Mặt trời hay là năng lượng gió, vẫn chưa đủ bảo đảm ổn định cho lưới điện quốc gia, do hai nguồn năng lượng này cũng phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Đọc thêmViệt Nam sẽ có nhà máy điện hạt nhân đầu tiên vào năm 2030: Liệu có khả thi? Trong bối cảnh đó, điện hạt nhân lại là một nguồn năng lượng đáp ứng được yêu cầu ổn định và đây là một nguồn năng lượng sạch. Nhưng một điểm trừ rất lớn của điện hạt nhân, đó là chi phí đầu tư ban đầu và thời gian để bắt đầu vận hành có thể lên đến một thập kỷ hoặc hơn thế nữa. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng và sản xuất điện hiện nay là 12 đến 15% mỗi năm để đáp ứng được cho mục tiêu phát triển GDP. Theo dự tính đến năm 2030, Việt Nam sẽ cần gấp đôi công suất điện so với hiện nay và đến năm 2050, Việt Nam sẽ cần gấp năm lần công suất điện so với hiện nay. Với quan điểm về an ninh quốc gia, Việt Nam có thể mua điện từ Lào hay là Trung Quốc nhưng do các nghi kỵ về chính trị với láng giềng phương Bắc, về tương lai dài hạn, đây không phải là một điều quá khả thi. Do nhìn chung Việt Nam không muốn phụ thuộc về năng lượng hay an ninh điện vào nước ngoài. Điều này đòi hỏi Việt Nam sẽ phải nhanh chóng đầu tư vào nhân lực, cũng như là cơ sở vật chất để phát triển điện hạt nhân, cũng như năng lượng tái tạo ngay từ bây giờ. Nhìn chung hơn, tự chủ năng lượng sẽ giúp cho Việt Nam duy trì tự chủ về mặt ngoại giao và tránh việc bị cuốn vào xung đột giữa các nước lớn, cũng như bảo đảm được an ninh năng lượng trong trường hợp chiến tranh xảy ra. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, Khoa Chính trị học tại Trường Đại học Boston (Boston College), Hoa Kỳ.
Ngày 17/02/2026, Việt Nam bị Liên Hiệp Châu Âu đưa vào “danh sách đen” thuế. Quyết định này có thể khiến chi phí đầu tư từ các doanh nghiệp châu Âu gia tăng. Tuy nhiên, tác động lâu dài tới quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên Âu sẽ được hạn chế nếu Hà Nội cải thiện minh bạch và cơ chế trao đổi thông tin thuế. Việt Nam cũng khẳng định đã bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế, tài chính, quản trị doanh nghiệp. Tại sao Việt Nam lại bị đưa vào “danh sách đen” về thuế của Liên Âu, hiện có 10 nước, chủ yếu nằm ở vùng Caribê, Thái Bình Dương và cả Nga ? Danh sách được cập nhật hai lần một năm. Lần sửa đổi tiếp theo dự kiến vào tháng 10/2026. Việt Nam cần có những biện pháp gì để có thể được rút ra khỏi danh sách trong lần cập nhất tới ? Nhà nghiên cứu-giảng viên Sébastien Laffitte, Đại học Cergy Paris (CY Cergy Paris Université), chuyên gia về thuế quốc tế, thuế doanh nghiệp và các thiên đường thuế, kiêm thành viên của Tổ chức Quan sát Thuế Châu Âu (EU Tax Observatory), trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Tháng 02/2026, Việt Nam bị đưa vào danh sách “thiên đường thuế” của Liên Hiệp Châu Âu. Dựa vào nhưng tiêu chí nào Liên Hiệp Châu Âu đưa một nước vào danh sách này ? Sébastien Laffitte : Có lẽ trước hết cần nói rõ rằng danh sách của Liên Hiệp Châu Âu không hoàn toàn là danh sách “thiên đường thuế”, mà đúng hơn là danh sách các quốc gia không hợp tác với Liên Hiệp Châu Âu trong các vấn đề liên quan đến thuế. Sự khác biệt chính nằm ở chỗ danh sách này chủ yếu là một công cụ ngoại giao kinh tế mà Liên Hiệp Châu Âu sử dụng để đàm phán với các nước thứ ba, nhằm thúc đẩy họ điều chỉnh chính sách thuế theo một hướng nhất định. Nếu các quốc gia đó không tuân thủ các tiêu chí của Liên Hiệp Châu Âu, họ có thể phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt. Tất cả những điều này nhằm thúc đẩy một mô hình quản trị thuế minh bạch và hiệu quả hơn. Đọc thêmLiên Âu hy vọng Việt Nam thực hiện triệt để cải cách hành chính để gia tăng hấp dẫn đối với đầu tư châu Âu Danh sách này được thiết lập từ năm 2017 và hiện bao gồm 10 quốc gia. Các quốc gia nằm trong “danh sách đen” thường là những hòn đảo nhỏ ở vùng biển Caribê hoặc Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trong danh sách này cũng có những quốc gia lớn hơn, chẳng hạn như Nga, và gần đây nhất là Việt Nam. Các tiêu chí được sử dụng để xác định việc đưa một quốc gia vào “danh sách đen” bao gồm mức độ minh bạch về thuế, tính công bằng của hệ thống thuế - tức là không tồn tại các cơ chế thuế khuyến khích hành vi trốn thuế một cách rõ ràng - cũng như việc triển khai các biện pháp chống trốn thuế. Trong số các tiêu chí này có một yêu cầu quan trọng liên quan đến việc quốc gia đó phải tuân thủ các tiêu chuẩn về trao đổi thông tin thuế theo yêu cầu của các nước khác. Chính dựa trên tiêu chí này mà Việt Nam bị đưa vào “danh sách đen” của Liên Hiệp Châu Âu, đặc biệt do còn thiếu các biện pháp bảo vệ tính bảo mật của thông tin, cũng như do thời gian mà cơ quan thuế Việt Nam cần để cung cấp thông tin thuế theo yêu cầu từ các nước thứ ba. Vì vậy, việc Việt Nam gần đây bị đưa vào danh sách này chủ yếu xuất phát từ vấn đề minh bạch thuế. RFI : Vậy quốc gia bị nhắm đến, ví dụ trong trường hợp này là Việt Nam, sẽ phải đối mặt với những hậu quả như thế nào ? Sébastien Laffitte : Cụ thể, Ủy Ban Châu Âu yêu cầu các quốc gia thành viên Liên Hiệp Châu Âu áp dụng một loạt biện pháp trừng phạt đối với những quốc gia nằm trong danh sách các nước không hợp tác về thuế. Ngoài ra, các nước thành viên cũng có thể triển khai những biện pháp trừng phạt riêng trong khuôn khổ luật pháp quốc gia của họ. Trước hết, một số biện pháp tối thiểu sẽ được áp dụng chung, sau đó từng quốc gia thành viên có quyền lựa chọn và thực hiện các biện pháp bổ sung mà họ cho là phù hợp. Đọc thêmEU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ? Nhìn chung, các biện pháp này nhằm tăng cường tính minh bạch và mức độ cảnh giác đối với các quốc gia nằm trong “danh sách đen”. Trước hết, một số quỹ viện trợ phát triển của Liên Hiệp Châu Âu sẽ không được phân bổ cho các quốc gia trong danh sách này. Thứ hai, các nước thành viên được yêu cầu áp dụng các biện pháp hành chính, bao gồm việc giám sát chặt chẽ hơn các giao dịch của công dân châu Âu - chẳng hạn như công dân Pháp - với các quốc gia trong “danh sách đen”, cũng như tăng cường kiểm toán thuế đối với các thực thể, tức là cá nhân hoặc doanh nghiệp, có liên hệ với những quốc gia này. Bên cạnh đó, các quốc gia thành viên Liên Âu cũng được khuyến nghị áp dụng các biện pháp lập pháp nhằm chống trốn thuế, chẳng hạn như khấu trừ thuế tại nguồn hoặc áp dụng các khoản thuế bổ sung đối với các giao dịch tài chính với những nước trong danh sách, trong đó có Việt Nam. Tóm lại, việc bị đưa vào danh sách này đồng nghĩa với việc phải đối mặt với một loạt biện pháp trừng phạt kinh tế do các quốc gia thuộc Liên Hiệp Châu Âu áp đặt. RFI : Giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam có Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA), có hiệu lực từ ngày 01/08/2020 và hiệp định bảo hộ đầu tư vẫn đang chờ được các nước Liên Âu phê chuẩn. Việc nằm trong “danh sách đen” sẽ tác động như thế nào đến các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, tại Việt Nam ? Sébastien Laffitte : Đây là một câu hỏi quan trọng. Mục đích của các biện pháp này là khiến các thực thể đến từ Liên Hiệp Châu Âu - đặc biệt là các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam - phải tuân thủ những quy định bổ sung, từ đó làm gia tăng chi phí khi đầu tư vào Việt Nam. Đó cũng chính là mục tiêu mà Liên Hiệp Châu Âu hướng tới. Thông qua “danh sách đen”, cùng với hiệu ứng “chỉ đích danh và lên án” (name and shame), Liên Âu gây sức ép để buộc các quốc gia bị xem là có chính sách thuế thiếu hợp tác hoặc cạnh tranh thuế quá mức phải điều chỉnh chính sách của họ để xóa bỏ hình ảnh tiêu cực này. Đồng thời, các biện pháp trừng phạt cũng nhắm tới các cá nhân và doanh nghiệp hoạt động tại những quốc gia đó nhằm hạn chế các hành vi cạnh tranh thuế gay gắt. Đọc thêmLuật sư Pháp và châu Âu tư vấn cho Việt Nam về EVFTA Tuy nhiên, Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển và không bị đưa vào danh sách vì các hành vi trốn thuế bất chính, mà chủ yếu do những vấn đề liên quan đến việc trao đổi thông tin thuế. Vì vậy, theo quan điểm của tôi, nhiều khả năng Việt Nam sẽ nhanh chóng khắc phục tình hình. Đây cũng là điều mà các đại diện của Việt Nam đã khẳng định trong các thông cáo báo chí được đưa ra sau thông báo của Liên Hiệp Châu Âu. Trong bối cảnh đó, những tác động tiêu cực có thể sẽ được hạn chế. Theo tôi, quan hệ kinh tế với Việt Nam nhiều khả năng sẽ không bị ảnh hưởng đáng kể, đặc biệt vì Việt Nam có vị thế kinh tế và cơ cấu rất khác so với phần lớn các nước còn lại trong danh sách - ngoại trừ Nga - vốn chủ yếu là những quốc đảo nhỏ ở khu vực Thái Bình Dương hoặc Caribê. Cuối cùng, theo quan điểm của tôi, “danh sách đen” của Liên Hiệp Châu Âu về các “thiên đường thuế” nên tập trung nhiều hơn vào những tiêu chí cụ thể liên quan đến nguy cơ trốn thuế và cạnh tranh thuế gay gắt, như tôi đã đề xuất trong các nghiên cứu của mình. RFI : Như ông vừa đề cập, một trong những tác động đầu tiên của các biện pháp trừng phạt là làm gia tăng chi phí đầu tư. Cụ thể, điều này có nghĩa là gì ? Sébastien Laffitte : Nói một cách đơn giản, khi một nhà đầu tư nước ngoài - chẳng hạn từ Pháp - đầu tư vào Việt Nam, giữa hai bên sẽ phát sinh nhiều giao dịch tài chính và kinh doanh. Khi một quốc gia bị đưa vào “danh sách đen”, các biện pháp trừng phạt có thể được áp dụng đối với những giao dịch này. Chẳng hạn, các cơ quan thuế có thể áp dụng các khoản thuế bổ sung đối với những giao dịch giữa chi nhánh hoặc công ty con của doanh nghiệp tại Việt Nam và công ty mẹ tại Pháp. Những biện pháp mang tính chất trừng phạt thuế như vậy sẽ làm gia tăng chi phí liên quan đến các hoạt động đầu tư và kinh doanh vào Việt Nam. Do đó, về tổng thể, việc một quốc gia nằm trong “danh sách đen” có thể khiến chi phí đầu tư vào quốc gia đó tăng lên. Đọc thêmViệt Nam và Liên Hiệp Châu Âu nâng quan hệ ngoại giao lên mức cao nhất RFI : Vậy Việt Nam nên làm thế nào để thoát khỏi danh sách này ? Sébastien Laffitte : Như tôi đã đề cập, danh sách này thực chất là một công cụ ngoại giao kinh tế của Bruxelles. Trên thực tế, Liên Hiệp Châu Âu luôn duy trì liên lạc với các quốc gia liên quan, cả trước khi họ bị đưa vào “danh sách đen”, trong thời gian họ nằm trong danh sách, cũng như trong quá trình xem xét việc đưa họ ra khỏi danh sách. Vì vậy, chắc chắn tồn tại các kênh trao đổi giữa chính quyền châu Âu và Việt Nam. Thông qua các cuộc đối thoại này, các quan chức Liên Hiệp Châu Âu có thể giải thích cho phía Việt Nam những tiêu chí và điều kiện cần thiết để được gỡ tên khỏi danh sách. Để được xóa khỏi “danh sách đen”, Việt Nam cần cải thiện chất lượng của cơ chế trao đổi thông tin thuế theo yêu cầu từ các quốc gia khác. Như đã nói, chính những hạn chế trong lĩnh vực này là lý do chủ yếu khiến Việt Nam bị đưa vào danh sách. Vì vậy, nếu Việt Nam tăng cường các biện pháp bảo đảm tính bảo mật của thông tin, đồng thời cải thiện chất lượng và tốc độ chia sẻ dữ liệu thuế, Việt Nam sẽ đáp ứng tốt hơn các tiêu chí đánh giá và từ đó có khả năng được đưa ra khỏi “danh sách đen”. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm nhà nghiên cứu-giảng viên Sébastien Lafitte, Đại học Cergy Paris, thành viên của Tổ chức Quan sát thuế Châu Âu (EU Tax Observatory).
Ngày 17/02/2026, Việt Nam bị Liên Hiệp Châu Âu đưa vào “danh sách đen” thuế. Quyết định này có thể khiến chi phí đầu tư từ các doanh nghiệp châu Âu gia tăng. Tuy nhiên, tác động lâu dài tới quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên Âu sẽ được hạn chế nếu Hà Nội cải thiện minh bạch và cơ chế trao đổi thông tin thuế. Việt Nam cũng khẳng định đã bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế, tài chính, quản trị doanh nghiệp. Tại sao Việt Nam lại bị đưa vào “danh sách đen” về thuế của Liên Âu, hiện có 10 nước, chủ yếu nằm ở vùng Caribê, Thái Bình Dương và cả Nga ? Danh sách được cập nhật hai lần một năm. Lần sửa đổi tiếp theo dự kiến vào tháng 10/2026. Việt Nam cần có những biện pháp gì để có thể được rút ra khỏi danh sách trong lần cập nhất tới ? Nhà nghiên cứu-giảng viên Sébastien Laffitte, Đại học Cergy Paris (CY Cergy Paris Université), chuyên gia về thuế quốc tế, thuế doanh nghiệp và các thiên đường thuế, kiêm thành viên của Tổ chức Quan sát Thuế Châu Âu (EU Tax Observatory), trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Tháng 02/2026, Việt Nam bị đưa vào danh sách “thiên đường thuế” của Liên Hiệp Châu Âu. Dựa vào nhưng tiêu chí nào Liên Hiệp Châu Âu đưa một nước vào danh sách này ? Sébastien Laffitte : Có lẽ trước hết cần nói rõ rằng danh sách của Liên Hiệp Châu Âu không hoàn toàn là danh sách “thiên đường thuế”, mà đúng hơn là danh sách các quốc gia không hợp tác với Liên Hiệp Châu Âu trong các vấn đề liên quan đến thuế. Sự khác biệt chính nằm ở chỗ danh sách này chủ yếu là một công cụ ngoại giao kinh tế mà Liên Hiệp Châu Âu sử dụng để đàm phán với các nước thứ ba, nhằm thúc đẩy họ điều chỉnh chính sách thuế theo một hướng nhất định. Nếu các quốc gia đó không tuân thủ các tiêu chí của Liên Hiệp Châu Âu, họ có thể phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt. Tất cả những điều này nhằm thúc đẩy một mô hình quản trị thuế minh bạch và hiệu quả hơn. Đọc thêmLiên Âu hy vọng Việt Nam thực hiện triệt để cải cách hành chính để gia tăng hấp dẫn đối với đầu tư châu Âu Danh sách này được thiết lập từ năm 2017 và hiện bao gồm 10 quốc gia. Các quốc gia nằm trong “danh sách đen” thường là những hòn đảo nhỏ ở vùng biển Caribê hoặc Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trong danh sách này cũng có những quốc gia lớn hơn, chẳng hạn như Nga, và gần đây nhất là Việt Nam. Các tiêu chí được sử dụng để xác định việc đưa một quốc gia vào “danh sách đen” bao gồm mức độ minh bạch về thuế, tính công bằng của hệ thống thuế - tức là không tồn tại các cơ chế thuế khuyến khích hành vi trốn thuế một cách rõ ràng - cũng như việc triển khai các biện pháp chống trốn thuế. Trong số các tiêu chí này có một yêu cầu quan trọng liên quan đến việc quốc gia đó phải tuân thủ các tiêu chuẩn về trao đổi thông tin thuế theo yêu cầu của các nước khác. Chính dựa trên tiêu chí này mà Việt Nam bị đưa vào “danh sách đen” của Liên Hiệp Châu Âu, đặc biệt do còn thiếu các biện pháp bảo vệ tính bảo mật của thông tin, cũng như do thời gian mà cơ quan thuế Việt Nam cần để cung cấp thông tin thuế theo yêu cầu từ các nước thứ ba. Vì vậy, việc Việt Nam gần đây bị đưa vào danh sách này chủ yếu xuất phát từ vấn đề minh bạch thuế. RFI : Vậy quốc gia bị nhắm đến, ví dụ trong trường hợp này là Việt Nam, sẽ phải đối mặt với những hậu quả như thế nào ? Sébastien Laffitte : Cụ thể, Ủy Ban Châu Âu yêu cầu các quốc gia thành viên Liên Hiệp Châu Âu áp dụng một loạt biện pháp trừng phạt đối với những quốc gia nằm trong danh sách các nước không hợp tác về thuế. Ngoài ra, các nước thành viên cũng có thể triển khai những biện pháp trừng phạt riêng trong khuôn khổ luật pháp quốc gia của họ. Trước hết, một số biện pháp tối thiểu sẽ được áp dụng chung, sau đó từng quốc gia thành viên có quyền lựa chọn và thực hiện các biện pháp bổ sung mà họ cho là phù hợp. Đọc thêmEU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ? Nhìn chung, các biện pháp này nhằm tăng cường tính minh bạch và mức độ cảnh giác đối với các quốc gia nằm trong “danh sách đen”. Trước hết, một số quỹ viện trợ phát triển của Liên Hiệp Châu Âu sẽ không được phân bổ cho các quốc gia trong danh sách này. Thứ hai, các nước thành viên được yêu cầu áp dụng các biện pháp hành chính, bao gồm việc giám sát chặt chẽ hơn các giao dịch của công dân châu Âu - chẳng hạn như công dân Pháp - với các quốc gia trong “danh sách đen”, cũng như tăng cường kiểm toán thuế đối với các thực thể, tức là cá nhân hoặc doanh nghiệp, có liên hệ với những quốc gia này. Bên cạnh đó, các quốc gia thành viên Liên Âu cũng được khuyến nghị áp dụng các biện pháp lập pháp nhằm chống trốn thuế, chẳng hạn như khấu trừ thuế tại nguồn hoặc áp dụng các khoản thuế bổ sung đối với các giao dịch tài chính với những nước trong danh sách, trong đó có Việt Nam. Tóm lại, việc bị đưa vào danh sách này đồng nghĩa với việc phải đối mặt với một loạt biện pháp trừng phạt kinh tế do các quốc gia thuộc Liên Hiệp Châu Âu áp đặt. RFI : Giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam có Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA), có hiệu lực từ ngày 01/08/2020 và hiệp định bảo hộ đầu tư vẫn đang chờ được các nước Liên Âu phê chuẩn. Việc nằm trong “danh sách đen” sẽ tác động như thế nào đến các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, tại Việt Nam ? Sébastien Laffitte : Đây là một câu hỏi quan trọng. Mục đích của các biện pháp này là khiến các thực thể đến từ Liên Hiệp Châu Âu - đặc biệt là các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam - phải tuân thủ những quy định bổ sung, từ đó làm gia tăng chi phí khi đầu tư vào Việt Nam. Đó cũng chính là mục tiêu mà Liên Hiệp Châu Âu hướng tới. Thông qua “danh sách đen”, cùng với hiệu ứng “chỉ đích danh và lên án” (name and shame), Liên Âu gây sức ép để buộc các quốc gia bị xem là có chính sách thuế thiếu hợp tác hoặc cạnh tranh thuế quá mức phải điều chỉnh chính sách của họ để xóa bỏ hình ảnh tiêu cực này. Đồng thời, các biện pháp trừng phạt cũng nhắm tới các cá nhân và doanh nghiệp hoạt động tại những quốc gia đó nhằm hạn chế các hành vi cạnh tranh thuế gay gắt. Đọc thêmLuật sư Pháp và châu Âu tư vấn cho Việt Nam về EVFTA Tuy nhiên, Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển và không bị đưa vào danh sách vì các hành vi trốn thuế bất chính, mà chủ yếu do những vấn đề liên quan đến việc trao đổi thông tin thuế. Vì vậy, theo quan điểm của tôi, nhiều khả năng Việt Nam sẽ nhanh chóng khắc phục tình hình. Đây cũng là điều mà các đại diện của Việt Nam đã khẳng định trong các thông cáo báo chí được đưa ra sau thông báo của Liên Hiệp Châu Âu. Trong bối cảnh đó, những tác động tiêu cực có thể sẽ được hạn chế. Theo tôi, quan hệ kinh tế với Việt Nam nhiều khả năng sẽ không bị ảnh hưởng đáng kể, đặc biệt vì Việt Nam có vị thế kinh tế và cơ cấu rất khác so với phần lớn các nước còn lại trong danh sách - ngoại trừ Nga - vốn chủ yếu là những quốc đảo nhỏ ở khu vực Thái Bình Dương hoặc Caribê. Cuối cùng, theo quan điểm của tôi, “danh sách đen” của Liên Hiệp Châu Âu về các “thiên đường thuế” nên tập trung nhiều hơn vào những tiêu chí cụ thể liên quan đến nguy cơ trốn thuế và cạnh tranh thuế gay gắt, như tôi đã đề xuất trong các nghiên cứu của mình. RFI : Như ông vừa đề cập, một trong những tác động đầu tiên của các biện pháp trừng phạt là làm gia tăng chi phí đầu tư. Cụ thể, điều này có nghĩa là gì ? Sébastien Laffitte : Nói một cách đơn giản, khi một nhà đầu tư nước ngoài - chẳng hạn từ Pháp - đầu tư vào Việt Nam, giữa hai bên sẽ phát sinh nhiều giao dịch tài chính và kinh doanh. Khi một quốc gia bị đưa vào “danh sách đen”, các biện pháp trừng phạt có thể được áp dụng đối với những giao dịch này. Chẳng hạn, các cơ quan thuế có thể áp dụng các khoản thuế bổ sung đối với những giao dịch giữa chi nhánh hoặc công ty con của doanh nghiệp tại Việt Nam và công ty mẹ tại Pháp. Những biện pháp mang tính chất trừng phạt thuế như vậy sẽ làm gia tăng chi phí liên quan đến các hoạt động đầu tư và kinh doanh vào Việt Nam. Do đó, về tổng thể, việc một quốc gia nằm trong “danh sách đen” có thể khiến chi phí đầu tư vào quốc gia đó tăng lên. Đọc thêmViệt Nam và Liên Hiệp Châu Âu nâng quan hệ ngoại giao lên mức cao nhất RFI : Vậy Việt Nam nên làm thế nào để thoát khỏi danh sách này ? Sébastien Laffitte : Như tôi đã đề cập, danh sách này thực chất là một công cụ ngoại giao kinh tế của Bruxelles. Trên thực tế, Liên Hiệp Châu Âu luôn duy trì liên lạc với các quốc gia liên quan, cả trước khi họ bị đưa vào “danh sách đen”, trong thời gian họ nằm trong danh sách, cũng như trong quá trình xem xét việc đưa họ ra khỏi danh sách. Vì vậy, chắc chắn tồn tại các kênh trao đổi giữa chính quyền châu Âu và Việt Nam. Thông qua các cuộc đối thoại này, các quan chức Liên Hiệp Châu Âu có thể giải thích cho phía Việt Nam những tiêu chí và điều kiện cần thiết để được gỡ tên khỏi danh sách. Để được xóa khỏi “danh sách đen”, Việt Nam cần cải thiện chất lượng của cơ chế trao đổi thông tin thuế theo yêu cầu từ các quốc gia khác. Như đã nói, chính những hạn chế trong lĩnh vực này là lý do chủ yếu khiến Việt Nam bị đưa vào danh sách. Vì vậy, nếu Việt Nam tăng cường các biện pháp bảo đảm tính bảo mật của thông tin, đồng thời cải thiện chất lượng và tốc độ chia sẻ dữ liệu thuế, Việt Nam sẽ đáp ứng tốt hơn các tiêu chí đánh giá và từ đó có khả năng được đưa ra khỏi “danh sách đen”. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm nhà nghiên cứu-giảng viên Sébastien Lafitte, Đại học Cergy Paris, thành viên của Tổ chức Quan sát thuế Châu Âu (EU Tax Observatory).
Ngày 28/02/2026, khi mở chiến dịch không kích ồ ạt chưa từng có « Epic Furry » chống Iran và giết chết nhiều lãnh đạo cao cấp hàng đầu của nước này, Hoa Kỳ và Israel đặt ra mục tiêu rất rõ ràng : Lật đổ chế độ thần quyền có từ năm 1979. Tuy nhiên, từ sau Thế chiến thứ II đến cuộc chiến Irak năm 2003 và gần đây nhất là chiến tranh Ukraina, lịch sử đã chứng minh rằng các cuộc không chiến không nhất thiết hiệu quả trong việc làm suy yếu một chế độ và bẻ gãy sự hậu thuẫn mà người dân dành cho chế độ đó. Hầu hết giới chuyên gia có chung một nhận xét: Hoa Kỳ và Israel tiến hành chiến dịch không kích quy mô lớn, ngoài mục tiêu phá hủy các cơ sở hạt nhân và quân sự của Iran, còn nhằm dẫn đến việc thay đổi chế độ. Nhưng đằng sau chiến lược quân sự này là một học thuyết từ lâu đã bị bác bỏ nhưng giờ đây đang được các nhóm tân bảo thủ ở Washington hồi sinh : Huyền thoại về việc « thay đổi chế độ » bằng « ưu thế trên không », đã được vị tướng người Ý Giulio Douhet (1869 – 1930) phát triển trong những năm 1920. Huyền thoại sáng lập : Douhet và « cuộc chiến trên không » Tuần báo Pháp L'Express nhắc lại, vào năm 1921, trong tác phẩm nổi tiếng « Thế thống trị trên không » (Il dominio dell'aria), nhà lý luận người Ý này đã viết : « Giành được ưu thế trên không có nghĩa là chiến thắng, bị đánh bại trên không là thất bại ». Theo ông, không một loại vũ khí nào – cả phòng không lẫn chiến đấu cơ – có thể ngăn chặn một cuộc chiến trên không quy mô lớn. Những cuộc không kích này cho phép giành chiến thắng bằng cách ném bom vào hậu phương và các trung tâm kinh tế (công nghiệp, kho hàng, đường sắt) và quân sự (kho đạn, sở chỉ huy), tóm lại là những cơ sở trọng yếu của đối phương, cũng như là bằng cách ném bom thường dân để bẻ gãy tinh thần của họ. Các quốc gia đối địch sẽ buộc phải khuất phục, hay trong trường hợp của Iran, khi dự báo một sự nổi dậy của người dân để ngăn chặn các cuộc oanh kích và đi đến một sự thay đổi chế độ. Theo giải thích từ nhà nghiên cứu Nicolas Minvielle, chuyên gia về đổi mới và quốc phòng (Audencia) trên trang The Conversation, nhìn chung, tầm nhìn này của Douhet được dựa trên một giả thuyết đơn giản : « Nỗi sợ hãi hủy diệt ý chí tập thể ». Nhưng thực tế thì sao ? Học thuyết hiện đại về cưỡng chế trên không Nghiên cứu của nhà chính trị học người Mỹ, Robert A. Pape, về các chiến dịch không kích trong thế kỷ XX (Bombing to Win. Air Power and Coercion in War, 1996) cho thấy tiến triển mới của huyền thoại « thắng cuộc bằng không chiến », được thể hiện qua ba chiến lược khác nhau. Ý tưởng ở đây là xác định xem trong thời gian đầu, mục tiêu thực sự đằng sau việc sử dụng vũ khí không quân là gì, để có thể đánh giá các hiệu quả. Trong lô-gic này, Pape đề xuất ba chọn lựa : Thứ nhất là « trừng phạt », bằng cách tấn công thường dân nhằm giáng những nỗi đau khổ và gây ra các áp lực chính trị nội bộ. Đây là phiên bản đương đại của mô hình Douhet. Thứ hai là « mạo hiểm » (leo thang dần dần). Đe dọa tăng dần các cuộc không kích nhằm tạo ra một sự bất định và nỗi lo sợ hủy diệt hoàn toàn. Và sau cùng là « tước mất », nghĩa là phá hủy các năng lực quân sự, hậu cần và chiến lược, ngăn chặn đối phương đạt được các mục tiêu của mình. Phần lớn các nghiên cứu của Pape về những chiến dịch oanh tạc đã chỉ ra rằng những hoạt động quân sự trên không dựa vào ý tưởng trừng phạt dân sự gần như luôn thất bại và những chiến dịch nào nhằm mục tiêu ngăn chặn các hành động quân sự của đối phương đều cho thấy hiệu quả. Nói cách khác, sự cưỡng chế có hiệu quả khi nhằm làm thay đổi một tính toán chiến lược, chứ không phải khi nhằm bẻ gãy tinh thần. Sự khác biệt này là cơ bản, bởi vì nếu mục tiêu bị nhầm, hiệu quả như mong đợi sẽ không có. Điều này được thấy rõ trong nhiều cuộc chiến suốt thế kỷ XX từ chiến dịch « Rolling Thunder » của Mỹ ở Việt Nam (1965 – 1968), các đợt thả bom của Mỹ trong chiến tranh Vùng Vịnh 1991, chiến dịch của NATO ở Kosovo, hay chiến tranh xâm lược Ukraina do Nga phát động năm 2022 và gần đây nhất là cuộc chiến Iran do Mỹ và Israel tiến hành. « Ưu thế trên không » và « Cấu trúc tinh thần » Vì sao chiến lược « ưu thế trên không » lại không mấy hiệu quả ? Nhà nghiên cứu Nicolas Minvielle cho rằng cần phải xem lại tác phẩm « The Structure of Morale », tạm dịch là Cấu trúc tinh thần, xuất bản năm 1943 của nhà phân tâm học J.T. MacCurdy. Khi phân tích phản ứng của người dân Anh trong suốt chiến dịch dội bom nổi tiếng Blitz (1940-1941) của không quân Đức chống Vương quốc Anh, ông phân biệt ba nhóm người sau một vụ nổ : Người chết (misses), Người suýt chết (near misses) và Người không bị ảnh hưởng (remote misses). Theo MacCurdy, các cuộc oanh kích tạo ra nhiều người sống sót hơn là nạn nhân, và sau nỗi sợ hãi ban đầu, quá trình thích nghi nhanh chóng hình thành. Người sống sót phát triển nhiều phản ứng khác nhau, từ cam chịu đến cảm giác bất khả xâm phạm. Họ học hỏi được nhiều điều và quen dần với tình huống : Nỗi sợ hãi dữ dội của cú sốc ban đầu giảm đi, nếu nỗi sợ đó không liên tục gắn liền với sự hủy diệt cá nhân. Vượt quá một ngưỡng nhất định, sự tàn phá tiếp theo sẽ mang lại hiệu quả giảm dần. Tinh thần người dân có xu hướng tiến triển theo hướng thờ ơ hoặc chịu đựng, nhưng không phải là đầu hàng hay nổi dậy chống chế độ như lịch sử đã cho thấy. Thậm chí, theo Nicolas Minvielle, các chiến dịch dội bom ồ ạt còn phản tác dụng. Trong Chiến tranh Việt Nam, nghiên cứu của M.A. Kocher và các đồng nghiệp đã chứng minh rằng việc đánh bom làng mạc đã làm dịch chuyển quyền kiểm soát lãnh thổ sang Việt Cộng. Thiệt hại thường dân đã làm mất tính chính đáng của chính quyền Nam Việt Nam và củng cố lực lượng nổi dậy. Nỗi khiếp hãi tiếp thêm sức mạnh của đối phương. Đó cũng là những gì đã diễn ra tại Irak (2014) và Syria (2011) : Các cuộc không kích đã không mang lại hiệu quả như mong đợi mà có nguy cơ làm gia tăng sự đoàn kết với quân nổi dậy khi dân thường bị trúng bom. Và nhất là bạo lực trên không hiếm khi làm thay đổi lòng trung thành theo hướng mong muốn. Bất chấp một thế kỷ nghiên cứu thực nghiệm, chứng minh sự hủy diệt vật chất hiếm khi tự nó dẫn đến sự sụp đổ chế độ, ý tưởng cho rằng áp lực quân sự bên ngoài có tác động chính trị quyết định vẫn tồn tại. Nếu như giới lãnh đạo đương đại không còn nói đến « bẻ gãy tinh thần một dân tộc » nữa, và thường nói rằng làm suy giảm năng lực hay dồn dập gia tăng áp lực có thể làm suy yếu vĩnh viễn một cấu trúc quyền lực hiện có, đó là vì họ tin vào sức mạnh công nghệ, sức mạnh hữu hình và độ chính xác của vũ khí không quân và nhất là họ nhầm lẫn giữa cú sốc ban đầu với hiệu quả lâu dài. Cú sốc và hiệu quả lâu dài : Iran, ví dụ mới nhất Cú sốc và nỗi kinh hoàng tạo ra một tác động ngoạn mục nhưng không nhất thiết đi đến đầu hàng chính trị. Theo nhà nghiên cứu Nicolas Minveille, hiệu quả của chiến lược oanh kích không chỉ phụ thuộc vào năng lực hủy diệt, mà còn vào bản chất của đối phương : Chế độ chuyên chế hay dân chủ ; chiến tranh thông thường hay nổi dậy, xã hội phân mảnh hay gắn kết cao. Cùng một chiến dịch có thể tạo ra những hiệu quả hoàn toàn khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh xung đột. Đây là những gì đang áp dụng cho cuộc chiến tại Iran. Daniel Block, biên tập viên cấp cao của tạp chí Đối ngoại, trên kênh truyền hình CBC News nhận định rằng, xét về mặt lịch sử, xác suất chế độ thần quyền bị sụp đổ vì « mưa bom » là rất thấp. Ông nêu ra ba lý do: « Đầu tiên, đơn giản là cho dù quý vị có ghét lãnh đạo của mình đến mức nào, nếu đất nước quý vị bị ném bom, các cuộc oanh kích chỉ sẽ làm suy yếu phe đối lập, bởi vì họ thực sự không muốn bị coi là đứng về phía những người đang tấn công đất nước mình. Tất nhiên, cũng có những ngoại lệ. Nếu lãnh đạo của quý vị đặc biệt bị khinh ghét, thì có một số người không cảm thấy áy náy khi đứng về phía thế lực tấn công. Và chắc chắn có những người như vậy ở Iran, những người quá tuyệt vọng và quá chán ngán với sự lãnh đạo của Khamenei đến nỗi họ chấp nhận điều này hoặc thậm chí hoan nghênh nữa. Nhưng lý do khác là việc ném bom để xóa sổ hoàn toàn năng lực đàn áp của một quốc gia là vô cùng khó khăn. Quý vị thực sự cần phải có quân đội trên bộ để loại bỏ vũ khí nhỏ, loại bỏ tất cả các loại bom, những thứ mà quý vị cần hủy diệt để dập tắt khả năng của chính quyền đàn áp biểu tình. Iran của có một năng lực đàn áp đáng kể. Điều cuối cùng, tôi nghĩ đáng chú ý trong trường hợp của Iran, đó là phe đối lập của nước này rất yếu. Họ bị chia rẽ. Chính quyền, một lần nữa, bởi vì họ có năng lực đàn áp mạnh mẽ nên đã rất hiệu quả trong việc dập tắt phản kháng và bỏ tù những người đối lập. Và nhất là những người chống chế độ, họ thực sự không hòa thuận với nhau. » Iran và Chiến lược « mở rộng rủi ro » Bất chấp những bài học lịch sử, chiến lược « ưu thế trên không » vẫn có sức hấp dẫn chính trị, hứa hẹn mang lại kết quả mà không cần đưa quân ồ ạt trên bộ, và do vậy không có những tổn thất. Nhưng đó chỉ là một sự ảo tưởng về sự cưỡng chế từ xa. Các cuộc tấn công của Mỹ vào những mục tiêu của Iran được chính thức coi là một phần của chiến lược làm suy yếu năng lực. Mỹ và Israel oanh tạc các cơ sở hạ tầng, năng lực quân sự, làm tê liệt nền kinh tế và thay đổi cán cân sức mạnh quân sự. Nhưng trong trường hợp của Iran, nhà chính trị học người Mỹ Robert A. Pape, trong một bài phân tích mới nhất đăng trên trang Foreign Affairs ngày 09/03/2026, lưu ý thêm rằng các đợt oanh kích « tiêu diệt » của Mỹ và Israel chẳng những không làm chế độ sụp đổ mà còn thúc đẩy nước này leo thang xung đột theo chiều ngang, với mục tiêu gia tăng ảnh hưởng chính trị. Theo đó, Iran trước hết chứng tỏ sức kháng cự bằng các cuộc không kích trả đũa ồ ạt, khẳng định tính chất liên tục của bộ chỉ huy và năng lực tác chiến cho dù nhiều lãnh đạo cao cấp hàng đầu bị triệt hạ. Sau đó, Iran mở rộng xung đột ra ngoài phạm vi lãnh thổ, tạo ra điều mà nhiều chuyên gia gọi là « gia tăng rủi ro », không chỉ oanh kích trả đũa Israel mà còn tấn công các nước láng giềng. Tiếp đến, Teheran chính trị hóa xung đột bằng các cuộc oanh kích dẫn đến việc đóng cửa các sân bay, thiêu đốt hàng hóa thương mại, gây thiệt hại tính mạng người lao động nước ngoài và gây xáo trộn thị trường năng lượng cũng như ngành bảo hiểm. Tại Mỹ, quy mô xung đột càng ngày càng lớn khiến nhiều thành viên Quốc Hội lo lắng. Và nhất là chiến sự lan rộng có nguy cơ lôi kéo nhiều tác nhân khác lao vào cuộc chiến vì những lợi ích khác nhau mà không có sự điều phối, có thể làm thay đổi dòng chảy xung đột, vượt ngoài tầm kiểm soát của Wahsington. Vế cuối cùng trong chiến lược của Iran là yếu tố thời gian. Áp lực đối với nhiều nước càng gia tăng, căng thẳng chính trị cả trong nội bộ các nước cũng như giữa các nước trong khu vực càng lớn, có nguy cơ làm trầm trọng thêm cuộc xung đột. Trong bối cảnh này, nhà chính trị học người Mỹ kết luận, khi phớt lờ những bài học lịch sử, Mỹ và Israel có nguy cơ gặp rắc rối to !
Xăng dầu tăng giá là hệ quả rõ nhất có thể thấy ở Việt Nam do chiến tranh Trung Đông. Tình hình xung đột kéo dài và nguy cơ gián đoạn tại eo biển Hormuz đặt Việt Nam trước nhiều thách thức kinh tế và thương mại. Chi phí sản xuất và vận tải đội giá, ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành công nghiệp quan trọng. Chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, nguyên liệu nhập khẩu trở nên khan hiếm. Những biến động này làm giảm tính cạnh tranh của hàng Việt tại các thị trường trọng điểm như Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ. Nền kinh tế toàn cầu xấu đi cũng không phải là dấu hiệu tốt cho Việt Nam vì một phần lớn tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Chi phí gia tăng còn có nguy cơ đẩy lạm phát lên cao. Tất cả những thách này đòi hỏi Việt Nam cần có những giải pháp ứng phó nhanh và hiệu quả. Trên đây là một số nhận định của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên tại Đại học Công giáo Lyon (UCLy) chuyên ngành khoa học chính trị, thành viên của Viện Đông Á tại Trường Sư phạm Lyon (ENS de Lyon), khi trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 12/03/2026. RFI : Cuộc chiến bùng nổ ở Trung Đông đang gây ra những ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực và hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trung Đông có vai trò như thế nào trong quan hệ kinh tế và thương mại của Việt Nam hiện nay ? Laurent Gédéon : Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Trung Đông còn khá hạn chế, với xuất khẩu sang khu vực này chiếm chưa đến 3% tổng kim ngạch. So với Mỹ, Trung Quốc hay Liên Hiệp Châu Âu thì Trung Đông vẫn là thị trường nhỏ hơn, nhưng vẫn được xem là một thị trường chiến lược tiềm năng đối với Việt Nam vì một số lý do. Thứ nhất, về xuất khẩu, Trung Đông là thị trường tiêu thụ nhiều hàng hóa của Việt Nam như điện thoại, linh kiện điện tử, dệt may và đồ nội thất. Khu vực này cũng nhập khẩu nhiều nông sản và thủy sản của Việt Nam do phụ thuộc vào nguồn thực phẩm bên ngoài. Do đó, gạo, cà phê, tiêu, hạt điều, cũng như tôm và các loại hải sản khác của Việt Nam cũng tìm được thị trường đầy triển vọng. Ngoài ra, thị trường thực phẩm “halal”, ít được biết đến nhưng đang phát triển mạnh và có thể đạt 5.000 tỷ đô la vào năm 2030, trở thành lĩnh vực chiến lược mà Việt Nam hướng tới để đáp ứng nhu cầu của các nước Hồi Giáo. Về nhập khẩu, Việt Nam chủ yếu nhập năng lượng từ Trung Đông, đặc biệt là dầu mỏ, sản phẩm từ dầu, khí tự nhiên hóa lỏng và nguyên liệu hóa học. Ngoài ra còn có kim loại và nguyên liệu thô phục vụ công nghiệp. Những nguồn này rất quan trọng đối với ngành công nghiệp và hệ thống năng lượng của Việt Nam. Về mặt này, Trung Đông đóng vai trò then chốt đối với Việt Nam với tư cách là nhà cung cấp năng lượng và công nghiệp. Đọc thêmMối quan hệ truyền thống khiến Việt Nam khó xử trong xung đột Israel-Hamas Đối với các nước vùng Vịnh, Việt Nam đã triển khai chiến lược đầu tư từ nhiều năm qua thông qua các hiệp định thương mại song phương. Tiêu biểu là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (CEPA) ký ngày 28/10/2024 tại Dubai với Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống, nhằm xóa bỏ hầu hết thuế quan, thúc đẩy đầu tư và tăng cường thương mại song phương. Nhìn chung, có thể nói rằng Trung Đông là đòn bẩy quan trọng giúp Việt Nam đa dạng hóa thương mại và nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc vào một số đối tác lớn như Trung Quốc và Hoa Kỳ. RFI : Căng thẳng hoặc xung đột ở Trung Đông có thể ảnh hưởng đến mức độ nào đối với một số thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, như Liên Hiệp Châu Âu hoặc Hoa Kỳ, cũng như các nước vùng Vịnh và Israel ? Laurent Gédéon : Xung đột ở Trung Đông có khả năng tác động đến thị trường xuất khẩu của Việt Nam theo nhiều cách. Thứ nhất, xung đột ở Trung Đông có thể làm giá năng lượng tăng cao vì đây là một trong những khu vực sản xuất dầu khí hàng đầu thế giới. Nếu xung đột kéo dài, sản xuất và vận chuyển hydrocarbon sẽ bị ảnh hưởng. Giá dầu khí tăng khiến chi phí vận tải biển và hàng không tăng, kéo theo chi phí sản xuất tại Việt Nam cao hơn, đặc biệt trong các ngành công nghiệp, dệt may, điện tử và vận tải. Khi giá sản phẩm tăng, hàng Việt Nam sẽ kém cạnh tranh hơn tại các thị trường trọng điểm, cụ thể là Liên Hiệp Châu Âu và Mỹ - hai thị trường xuất khẩu chính (chiếm gần 40%) đối với hàng chế tạo của Việt Nam. Đọc thêmViệt Nam hợp tác dầu khí với Ả Rập Xê Út Yếu tố thứ hai là nhiều tuyến thương mại chiến lược sẽ bị gián đoạn nếu xung đột dẫn đến bất ổn kéo dài ở hai khu vực hàng hải nhạy cảm là Vịnh Ba Tư và phía bắc Ấn Độ Dương, cùng với việc eo biển Hormuz bị đóng một phần hoặc toàn bộ. Tình hình thậm chí có thể nghiêm trọng hơn nếu lực lượng Houthi ở Yemen cũng tham gia vào cuộc xung đột và siết chặt phong tỏa ở eo biển Bab-el-Mandeb để giảm bớt áp lực cho Iran. Cho dù hiện nay lực lượng Houthi giữ thái độ thận trọng nhưng vẫn không thể loại trừ một kịch bản như vậy, bởi vì thủ lĩnh Abdul-Malik al-Houthi đã tuyên bố trên truyền hình ngày 05/03 rằng lực lượng Houthi sẵn sàng tấn công bất cứ lúc nào. Trong bối cảnh bất ổn như vậy, tàu thuyền sẽ phải tránh các vùng biển nguy hiểm, điều này sẽ làm tăng thời gian vận chuyển và chi phí logistic. Trong trường hợp đó, Việt Nam sẽ gặp khó khăn, vì chuỗi giá trị xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các tuyến hàng hải nối các trung tâm sản xuất châu Á với các thị trường lớn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bất kỳ sự gián đoạn nào đối với các tuyến đường này đều có thể dẫn đến việc tăng chi phí và chậm trễ giao hàng. Cuối cùng, yếu tố thứ ba liên quan đến kinh tế toàn cầu. Căng thẳng ở Trung Đông có thể gây bất ổn kinh tế chung, đặc biệt là việc nhà đầu tư rút vốn và các nước phân bổ lại ngân sách tập trung cho quốc phòng. Điều này có thể làm suy yếu kinh tế của các đối tác thương mại của Việt Nam, đặc biệt ở Trung Đông, từ đó giảm nhu cầu nhập khẩu. Nếu xung đột kéo dài hoặc leo thang, tác động tương tự cũng có thể lan sang châu Âu và Mỹ, hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Đọc thêmPetroVietnam sẽ đầu tư 1,2 tỷ đô la vào một mỏ dầu tại Iran Do đó, xung đột giữa Iran với Hoa Kỳ và Israel có thể gián tiếp ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam. Mặc dù Trung Đông không phải đối tác thương mại chính nhưng căng thẳng khu vực vẫn có thể gây ra hậu quả đáng kể cho các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam. Nếu gián đoạn kéo dài, hàng hóa Việt Nam có nguy cơ kém cạnh tranh về giá so với các nước gần châu Âu và Bắc Mỹ hơn và sử dụng các tuyến vận tải ngắn hơn hoặc ít rủi ro hơn. RFI : Ngành công nghệ của Việt Nam đang phát triển. Tại sao lĩnh vực này cũng có thể bị tác động với những diễn biến địa-chính trị ở Trung Đông ? Laurent Gédéon : Nhìn chung ngành công nghiệp công nghệ của Việt Nam, bao gồm điện tử, bán dẫn và lắp ráp, phụ thuộc lớn vào năng lượng và nguyên liệu thô. Căng thẳng tại các quốc gia sản xuất hydrocarbon như Ả Rập Xê Út, Qatar hay Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất có thể làm giá dầu và khí đốt tăng lên, kéo theo chi phí sản xuất và vận tải quốc tế tăng, như đã nói ở trên. Trong khi đó hoạt động công nghiệp của Việt Nam cần nguồn năng lượng lớn, giá năng lượng tăng sẽ tác động đến sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu công nghệ Việt Nam. Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất công nghệ toàn cầu nhờ sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Samsung, Intel, Foxconn và Apple. Với vai trò nhà xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh, bất kỳ gián đoạn nào trong chuỗi logistic hoặc tăng chi phí vận chuyển đến các thị trường xuất khẩu đều sẽ gây thiệt hại đáng kể cho Việt Nam. Trường hợp Israel đặc biệt quan trọng, cần được nhắc lại, bởi vì Việt Nam hợp tác sâu rộng với Nhà nước Do Thái trong trí tuệ nhân tạo AI và công nghệ nông nghiệp (agritech). Agritech là lĩnh vực ứng dụng kỹ thuật số và robot nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả nông nghiệp. Căng thẳng kéo dài có thể làm chậm các dự án hợp tác và giảm đầu tư. Trong bối cảnh Israel là một trung tâm công nghệ quan trọng, việc căng thẳng khu vực kéo dài hoặc leo thang có thể làm chậm các dự án hợp tác công nghệ song phương và dẫn đến sự sụt giảm đầu tư trong lĩnh vực này. Tương tự, Việt Nam cũng có thể phải đối mặt thách thức này với các nước vùng Vịnh, vốn đang thúc đẩy đa dạng hóa kinh tế tập trung vào mở rộng công nghệ cao và đổi mới sáng tạo từ nhiều năm gần đây. Đọc thêmIsrael bán hai vệ tinh do thám cho cơ quan tình báo quân sự Việt Nam Ngoài khu vực Trung Đông, khủng hoảng có thể sẽ gây lạm phát toàn cầu và suy giảm kinh tế ở châu Âu và Mỹ. Và như vậy có thể sẽ làm dao động hoặc giảm nhu cầu sản phẩm điện tử. Đây sẽ là một thách thức lớn cho ngành công nghệ Việt Nam. RFI : Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% vào năm 2026. Áp lực thuế quan của Mỹ đã thúc đẩy Việt Nam tìm cách đa dạng hóa đối tác thương mại. Xung đột ở Trung Đông có thể tác động như thế nào đến mục tiêu này ? Laurent Gédéon : Cuộc xung đột sẽ tác động mạnh đến nguồn năng lượng. Ngày 10/03, Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA) điều chỉnh dự báo giá dầu Brent 2026 lên 79 đô la/thùng (so với 58 đô la vào tháng 02/2026) và tăng 36% kể từ đầu năm. Giá năng lượng tăng sẽ ảnh hưởng đến xăng, dầu hỏa, phân bón, hóa dầu, nhựa và như vậy sẽ tác động trực tiếp đến vận tải, công nghiệp, luyện kim, bán lẻ và thực phẩm. Nếu xu hướng này tiếp diễn, lạm phát ở Việt Nam, hiện là 2,5%, có thể tăng gấp đôi trong những tháng tới. Giá dầu tăng cũng sẽ đè nặng lên tăng trưởng GDP, ngay cả khi Việt Nam là nước sản xuất dầu khí bởi vì Việt Nam cũng phải nhập dầu khí. Hiện giờ rất khó đưa ra các dự đoán chính xác. Nếu eo biển Hormuz bị đóng cửa hoàn toàn và kéo dài, có nghĩa là Iran rải thủy lôi và bắn vào tàu thuyền tìm cách đi qua, thì giá dầu có thể ở mức hơn 100 đô la/thùng. Một trong những tác động đối với Việt Nam, như đã đề cập, là lạm phát có thể vượt 5%, và xuất khẩu giảm, cho nên có khả năng GDP bị giảm thêm 1%. Tình hình này đòi hỏi chính quyền Việt Nam theo dõi sát sao để dự báo tác động và triển khai các biện pháp ứng phó hiệu quả. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon.
Xăng dầu tăng giá là hệ quả rõ nhất có thể thấy ở Việt Nam do chiến tranh Trung Đông. Tình hình xung đột kéo dài và nguy cơ gián đoạn tại eo biển Hormuz đặt Việt Nam trước nhiều thách thức kinh tế và thương mại. Chi phí sản xuất và vận tải đội giá, ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành công nghiệp quan trọng. Chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, nguyên liệu nhập khẩu trở nên khan hiếm. Những biến động này làm giảm tính cạnh tranh của hàng Việt tại các thị trường trọng điểm như Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ. Nền kinh tế toàn cầu xấu đi cũng không phải là dấu hiệu tốt cho Việt Nam vì một phần lớn tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Chi phí gia tăng còn có nguy cơ đẩy lạm phát lên cao. Tất cả những thách này đòi hỏi Việt Nam cần có những giải pháp ứng phó nhanh và hiệu quả. Trên đây là một số nhận định của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên tại Đại học Công giáo Lyon (UCLy) chuyên ngành khoa học chính trị, thành viên của Viện Đông Á tại Trường Sư phạm Lyon (ENS de Lyon), khi trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 12/03/2026. RFI : Cuộc chiến bùng nổ ở Trung Đông đang gây ra những ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực và hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trung Đông có vai trò như thế nào trong quan hệ kinh tế và thương mại của Việt Nam hiện nay ? Laurent Gédéon : Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Trung Đông còn khá hạn chế, với xuất khẩu sang khu vực này chiếm chưa đến 3% tổng kim ngạch. So với Mỹ, Trung Quốc hay Liên Hiệp Châu Âu thì Trung Đông vẫn là thị trường nhỏ hơn, nhưng vẫn được xem là một thị trường chiến lược tiềm năng đối với Việt Nam vì một số lý do. Thứ nhất, về xuất khẩu, Trung Đông là thị trường tiêu thụ nhiều hàng hóa của Việt Nam như điện thoại, linh kiện điện tử, dệt may và đồ nội thất. Khu vực này cũng nhập khẩu nhiều nông sản và thủy sản của Việt Nam do phụ thuộc vào nguồn thực phẩm bên ngoài. Do đó, gạo, cà phê, tiêu, hạt điều, cũng như tôm và các loại hải sản khác của Việt Nam cũng tìm được thị trường đầy triển vọng. Ngoài ra, thị trường thực phẩm “halal”, ít được biết đến nhưng đang phát triển mạnh và có thể đạt 5.000 tỷ đô la vào năm 2030, trở thành lĩnh vực chiến lược mà Việt Nam hướng tới để đáp ứng nhu cầu của các nước Hồi Giáo. Về nhập khẩu, Việt Nam chủ yếu nhập năng lượng từ Trung Đông, đặc biệt là dầu mỏ, sản phẩm từ dầu, khí tự nhiên hóa lỏng và nguyên liệu hóa học. Ngoài ra còn có kim loại và nguyên liệu thô phục vụ công nghiệp. Những nguồn này rất quan trọng đối với ngành công nghiệp và hệ thống năng lượng của Việt Nam. Về mặt này, Trung Đông đóng vai trò then chốt đối với Việt Nam với tư cách là nhà cung cấp năng lượng và công nghiệp. Đọc thêmMối quan hệ truyền thống khiến Việt Nam khó xử trong xung đột Israel-Hamas Đối với các nước vùng Vịnh, Việt Nam đã triển khai chiến lược đầu tư từ nhiều năm qua thông qua các hiệp định thương mại song phương. Tiêu biểu là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (CEPA) ký ngày 28/10/2024 tại Dubai với Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống, nhằm xóa bỏ hầu hết thuế quan, thúc đẩy đầu tư và tăng cường thương mại song phương. Nhìn chung, có thể nói rằng Trung Đông là đòn bẩy quan trọng giúp Việt Nam đa dạng hóa thương mại và nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc vào một số đối tác lớn như Trung Quốc và Hoa Kỳ. RFI : Căng thẳng hoặc xung đột ở Trung Đông có thể ảnh hưởng đến mức độ nào đối với một số thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, như Liên Hiệp Châu Âu hoặc Hoa Kỳ, cũng như các nước vùng Vịnh và Israel ? Laurent Gédéon : Xung đột ở Trung Đông có khả năng tác động đến thị trường xuất khẩu của Việt Nam theo nhiều cách. Thứ nhất, xung đột ở Trung Đông có thể làm giá năng lượng tăng cao vì đây là một trong những khu vực sản xuất dầu khí hàng đầu thế giới. Nếu xung đột kéo dài, sản xuất và vận chuyển hydrocarbon sẽ bị ảnh hưởng. Giá dầu khí tăng khiến chi phí vận tải biển và hàng không tăng, kéo theo chi phí sản xuất tại Việt Nam cao hơn, đặc biệt trong các ngành công nghiệp, dệt may, điện tử và vận tải. Khi giá sản phẩm tăng, hàng Việt Nam sẽ kém cạnh tranh hơn tại các thị trường trọng điểm, cụ thể là Liên Hiệp Châu Âu và Mỹ - hai thị trường xuất khẩu chính (chiếm gần 40%) đối với hàng chế tạo của Việt Nam. Đọc thêmViệt Nam hợp tác dầu khí với Ả Rập Xê Út Yếu tố thứ hai là nhiều tuyến thương mại chiến lược sẽ bị gián đoạn nếu xung đột dẫn đến bất ổn kéo dài ở hai khu vực hàng hải nhạy cảm là Vịnh Ba Tư và phía bắc Ấn Độ Dương, cùng với việc eo biển Hormuz bị đóng một phần hoặc toàn bộ. Tình hình thậm chí có thể nghiêm trọng hơn nếu lực lượng Houthi ở Yemen cũng tham gia vào cuộc xung đột và siết chặt phong tỏa ở eo biển Bab-el-Mandeb để giảm bớt áp lực cho Iran. Cho dù hiện nay lực lượng Houthi giữ thái độ thận trọng nhưng vẫn không thể loại trừ một kịch bản như vậy, bởi vì thủ lĩnh Abdul-Malik al-Houthi đã tuyên bố trên truyền hình ngày 05/03 rằng lực lượng Houthi sẵn sàng tấn công bất cứ lúc nào. Trong bối cảnh bất ổn như vậy, tàu thuyền sẽ phải tránh các vùng biển nguy hiểm, điều này sẽ làm tăng thời gian vận chuyển và chi phí logistic. Trong trường hợp đó, Việt Nam sẽ gặp khó khăn, vì chuỗi giá trị xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các tuyến hàng hải nối các trung tâm sản xuất châu Á với các thị trường lớn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bất kỳ sự gián đoạn nào đối với các tuyến đường này đều có thể dẫn đến việc tăng chi phí và chậm trễ giao hàng. Cuối cùng, yếu tố thứ ba liên quan đến kinh tế toàn cầu. Căng thẳng ở Trung Đông có thể gây bất ổn kinh tế chung, đặc biệt là việc nhà đầu tư rút vốn và các nước phân bổ lại ngân sách tập trung cho quốc phòng. Điều này có thể làm suy yếu kinh tế của các đối tác thương mại của Việt Nam, đặc biệt ở Trung Đông, từ đó giảm nhu cầu nhập khẩu. Nếu xung đột kéo dài hoặc leo thang, tác động tương tự cũng có thể lan sang châu Âu và Mỹ, hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Đọc thêmPetroVietnam sẽ đầu tư 1,2 tỷ đô la vào một mỏ dầu tại Iran Do đó, xung đột giữa Iran với Hoa Kỳ và Israel có thể gián tiếp ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam. Mặc dù Trung Đông không phải đối tác thương mại chính nhưng căng thẳng khu vực vẫn có thể gây ra hậu quả đáng kể cho các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam. Nếu gián đoạn kéo dài, hàng hóa Việt Nam có nguy cơ kém cạnh tranh về giá so với các nước gần châu Âu và Bắc Mỹ hơn và sử dụng các tuyến vận tải ngắn hơn hoặc ít rủi ro hơn. RFI : Ngành công nghệ của Việt Nam đang phát triển. Tại sao lĩnh vực này cũng có thể bị tác động với những diễn biến địa-chính trị ở Trung Đông ? Laurent Gédéon : Nhìn chung ngành công nghiệp công nghệ của Việt Nam, bao gồm điện tử, bán dẫn và lắp ráp, phụ thuộc lớn vào năng lượng và nguyên liệu thô. Căng thẳng tại các quốc gia sản xuất hydrocarbon như Ả Rập Xê Út, Qatar hay Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất có thể làm giá dầu và khí đốt tăng lên, kéo theo chi phí sản xuất và vận tải quốc tế tăng, như đã nói ở trên. Trong khi đó hoạt động công nghiệp của Việt Nam cần nguồn năng lượng lớn, giá năng lượng tăng sẽ tác động đến sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu công nghệ Việt Nam. Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất công nghệ toàn cầu nhờ sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Samsung, Intel, Foxconn và Apple. Với vai trò nhà xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh, bất kỳ gián đoạn nào trong chuỗi logistic hoặc tăng chi phí vận chuyển đến các thị trường xuất khẩu đều sẽ gây thiệt hại đáng kể cho Việt Nam. Trường hợp Israel đặc biệt quan trọng, cần được nhắc lại, bởi vì Việt Nam hợp tác sâu rộng với Nhà nước Do Thái trong trí tuệ nhân tạo AI và công nghệ nông nghiệp (agritech). Agritech là lĩnh vực ứng dụng kỹ thuật số và robot nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả nông nghiệp. Căng thẳng kéo dài có thể làm chậm các dự án hợp tác và giảm đầu tư. Trong bối cảnh Israel là một trung tâm công nghệ quan trọng, việc căng thẳng khu vực kéo dài hoặc leo thang có thể làm chậm các dự án hợp tác công nghệ song phương và dẫn đến sự sụt giảm đầu tư trong lĩnh vực này. Tương tự, Việt Nam cũng có thể phải đối mặt thách thức này với các nước vùng Vịnh, vốn đang thúc đẩy đa dạng hóa kinh tế tập trung vào mở rộng công nghệ cao và đổi mới sáng tạo từ nhiều năm gần đây. Đọc thêmIsrael bán hai vệ tinh do thám cho cơ quan tình báo quân sự Việt Nam Ngoài khu vực Trung Đông, khủng hoảng có thể sẽ gây lạm phát toàn cầu và suy giảm kinh tế ở châu Âu và Mỹ. Và như vậy có thể sẽ làm dao động hoặc giảm nhu cầu sản phẩm điện tử. Đây sẽ là một thách thức lớn cho ngành công nghệ Việt Nam. RFI : Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% vào năm 2026. Áp lực thuế quan của Mỹ đã thúc đẩy Việt Nam tìm cách đa dạng hóa đối tác thương mại. Xung đột ở Trung Đông có thể tác động như thế nào đến mục tiêu này ? Laurent Gédéon : Cuộc xung đột sẽ tác động mạnh đến nguồn năng lượng. Ngày 10/03, Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA) điều chỉnh dự báo giá dầu Brent 2026 lên 79 đô la/thùng (so với 58 đô la vào tháng 02/2026) và tăng 36% kể từ đầu năm. Giá năng lượng tăng sẽ ảnh hưởng đến xăng, dầu hỏa, phân bón, hóa dầu, nhựa và như vậy sẽ tác động trực tiếp đến vận tải, công nghiệp, luyện kim, bán lẻ và thực phẩm. Nếu xu hướng này tiếp diễn, lạm phát ở Việt Nam, hiện là 2,5%, có thể tăng gấp đôi trong những tháng tới. Giá dầu tăng cũng sẽ đè nặng lên tăng trưởng GDP, ngay cả khi Việt Nam là nước sản xuất dầu khí bởi vì Việt Nam cũng phải nhập dầu khí. Hiện giờ rất khó đưa ra các dự đoán chính xác. Nếu eo biển Hormuz bị đóng cửa hoàn toàn và kéo dài, có nghĩa là Iran rải thủy lôi và bắn vào tàu thuyền tìm cách đi qua, thì giá dầu có thể ở mức hơn 100 đô la/thùng. Một trong những tác động đối với Việt Nam, như đã đề cập, là lạm phát có thể vượt 5%, và xuất khẩu giảm, cho nên có khả năng GDP bị giảm thêm 1%. Tình hình này đòi hỏi chính quyền Việt Nam theo dõi sát sao để dự báo tác động và triển khai các biện pháp ứng phó hiệu quả. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon.
Tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm đã đến Washington trong tuần qua để dự cuộc họp khai mạc “Hội đồng Hòa bình” do Donald Trump thành lập. Nhân dịp này, ông Tô Lâm đã hội kiến tổng thống Mỹ tại Nhà Trắng ngày 20/02/2026. Chuyến đi Hoa Kỳ của ông Tô Lâm được báo chí quốc tế chú ý vì đây là chuyến công du đầu tiên đến một cường quốc kể từ khi ông được bầu làm tổng bí thư thêm một nhiệm kỳ và kể từ nay thâu tóm mọi quyền lực trong tay. Theo thông báo của chính quyền Hà Nội, trong cuộc gặp với ông Tô Lâm, tổng thống Trump cho biết sẽ xóa tên Việt Nam khỏi "danh sách kiểm soát xuất khẩu chiến lược (D1 - D3)", tức là danh sách các quốc gia bị hạn chế tiếp cận công nghệ tiên tiến của Mỹ. Cuộc gặp tại Nhà Trắng diễn ra sau khi các hãng hàng không Việt Nam công bố các hợp đồng trị giá tổng cộng 37 tỷ đô la mua 90 máy bay Boeing. Trang mạng The Diplomat ngày 23/02/2026, nhận định, thông báo nói trên của tổng thống Trump "là dấu hiệu cho thấy sự tin tưởng chiến lược ngày càng tăng giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, xét đến vị trí mang tính cơ cấu của Việt Nam trong chuỗi cung ứng liên kết Mỹ và Trung Quốc, thương mại và thuế quan có khả năng sẽ là điểm gây bất đồng chính giữa Hà Nội và Washington trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ thứ hai của ông Trump." Đàm phán thương mại gay go Quan hệ Việt-Mỹ hiện nay đang phần nào bị chựng lại do bế tắc trong đàm phán thương mại song phương. Trên trang mạng The Diplomat ngày 13/02, biên tập viên về Đông Nam Á Sebastian Strangio nhắc lại: “ Washington áp thuế 20% đối với hàng hóa Việt Nam từ tháng 8 năm ngoái. Hai nước đã tổ chức vòng đàm phán thứ sáu vào đầu tháng này, nhưng vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng. Theo các nguồn tin được hãng tin Bloomberg trích dẫn, các cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Việt Nam đang bế tắc về định nghĩa hàng hóa “trung chuyển”. Chính quyền Trump cho biết những hàng hóa “trung chuyển” sẽ bị đánh thuế 40%, nhưng vẫn chưa nói cụ thể xác cách thức xác định và xử lý loại hàng hóa đó. Các cố vấn thương mại của ông Trump từ lâu vẫn cho rằng một lượng lớn hàng hóa Trung Quốc được vận chuyển qua Việt Nam, hoặc được sản xuất tại đó với rất ít nguyên liệu đầu vào, để tránh thuế quan của Mỹ đối với Trung Quốc. Họ cho đây là lý do chính dẫn đến thặng dư mậu dịch của Việt Nam đối với Mỹ, mức thặng dư lớn thứ ba thế giới sau Trung Quốc và Mêhicô.” Các cuộc đàm phán thương mại có thể đã trở nên phức tạp hơn do mức thuế 20% đã không làm giảm đáng kể thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ. Theo số liệu của chính phủ Việt Nam, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đã tăng từ 119,6 tỷ đôla năm 2024 lên 153,2 tỷ đôla năm ngoái, tăng 28%, đẩy thặng dư thương mại lên mức kỷ lục gần 134 tỷ đôla vào năm 2025, cao hơn đáng kể so với năm 2024. (1) Sebastian Strangio ghi nhận: “Chưa biết có dẫn đến bước đột phá nào trong thương mại với Mỹ hay không, chuyến công du lần này của ông Tô Lâm dường như phá vỡ một tiền lệ, đó là các lãnh đạo mới được bổ nhiệm của đảng Cộng Sản Việt Nam thường đến thăm Trung Quốc trước bất kỳ cường quốc lớn nào khác. Ngoài chuyến đi ngắn tới Cam Bốt và Lào vào ngày 5-6 tháng 2, chuyến thăm ông Tô Lâm tại Mỹ sẽ là chuyến thăm đầu tiên tới một cường quốc lớn kể từ khi Đại hội Đảng lần thứ 14 bầu ông làm tổng bí thư thêm nhiệm kỳ 5 năm. Thực tế này đã khiến một số nhà quan sát cho rằng nó có thể phản ánh một sự thay đổi tiềm tàng trong định hướng chiến lược của Việt Nam. Tuy nhiên, xét đến tính nhất quán tương đối của chính sách đối ngoại Việt Nam trong hai thập kỷ qua, ta nên thận trọng, không diễn giải quá mức về thời điểm chuyến thăm của ông Tô Lâm sang Mỹ. Ngày diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh Hội đồng Hòa bình là do Washington ấn định, chứ không phải do Hà Nội, và chuyến thăm của ông Tô Lâm cũng có thể xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của Việt Nam đạt được một thỏa thuận thương mại với Hoa Kỳ, yếu tố cần thiết nếu đảng Cộng Sản Việt Nam (CPV) muốn đạt được các mục tiêu kinh tế đầy tham vọng trong những năm tới. Ngoài ra, ông Tô Lâm hầu như không cho thấy dấu hiệu nào muốn xa rời Trung Quốc mà thật ra đang làm ngược lại, như nhận xét của Sheena Chestnut Greitens của Đại học Texas, Austin trên mạng X: “Tô Lâm là động lực thúc đẩy tăng cường hợp tác về an ninh nội bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc.” Thực tế là, theo Sebastian Strangio, “do tính khí thất thường của ông Trump và chính quyền của ông, cùng với tình trạng không chắc chắn của các cuộc đàm phán thương mại, quan hệ với Hoa Kỳ hiện cần được “chăm sóc” về mặt ngoại giao nhiều hơn so với mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, vốn vẫn ổn định nhờ vào các chuyến thăm song phương luân phiên hàng năm của các quan chức hai bên. Rất có thể ông Tô Lâm sẽ sớm có chuyến thăm đáp lễ tới Bắc Kinh. Lần cuối cùng ông đi thăm Trung Quốc là vào tháng 8/2024, chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi nhậm chức tổng Bí thư. Ông Tập Cận Bình đã đáp lễ với chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 4 năm ngoái.” “Ngoại giao cây tre giữa cơn bão Trump” Trên trang mạng Financial Review của Úc ngày 16/02, ông James Curran, giáo sư Lịch sử Hiện đại và nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Hoa Kỳ thuộc Đại học Sydney, ghi nhận về đối ngoại, chính sách “ngoại giao cây tre” của Việt Nam “vẫn còn khá yếu ớt giữa cơn bão Trump”. Giáo sư Curran trích nhận xét của một nhà phân tích: Thuế quan “ngày giải phóng” là một “cú đánh mạnh”, gợi lại những ký ức đau buồn về việc Washington lôi kéo Hà Nội gia nhập TPP ( Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương ), rồi Chú Sam lại rút lui vào phút cuối. Một số người ở Hà Nội đang rất tức giận, nói rằng “người Mỹ hành xử không phải như một nhà tư bản mà là đế quốc”. Hà Nội hiện đang nhắm đến thỏa thuận tương tự thỏa thuận mà thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã nhận được, tức là mức thuế 18%. Nhưng một nguồn tin từ Việt Nam lo ngại không biết chính quyền Washington có nhận thức được hậu quả hay không. Nhân vật này lập luận rằng tâm lý chống Trung Quốc ở Việt Nam đôi khi bị thổi phồng quá mức và nói thêm rằng “mọi người đang nhìn về phía Trung Quốc và tự hỏi liệu đó có phải là lựa chọn tốt hơn hay không.” Theo giáo sư Curran, nói chuyện riêng, các quan chức Mỹ nhấn mạnh thông điệp của họ gửi tới Hà Nội rất thẳng thắn: “Hãy cẩn thận khi chơi trò thân mật với Bắc Kinh quá mức”. Họ nghĩ rằng Hà Nội sẽ nhượng bộ Trung Quốc một số điều, chẳng hạn như qua việc hợp tác trong dự án đường sắt cao tốc, nhưng về các khoáng sản quan trọng, chất bán dẫn và các lĩnh vực khác có tầm quan trọng quốc gia cao, "Hà Nội muốn chúng ta." Chính sách đối ngoại thực dụng Trong bài viết đăng trên trang mạng Geopolitical Monitor ngày 28/01/2026, giáo sư James Borton, Viện Chính sách đối ngoại SAIS - Đại học Johns Hopkins (Mỹ), trước hết nhận định: “Ông Tô Lâm đã làm được điều mà ít nhà lãnh đạo Việt Nam nào làm được từ nhiều thập niên qua: thâu tóm vững chắc quyền lực của Đảng và Nhà nước vào tay mình. Tái đắc cử tổng bí thư và chuẩn bị đảm nhiệm chức chủ tịch nước, ông Tô Lâm hiện đang đứng đầu cơ cấu lãnh đạo tập trung nhất của Việt Nam kể từ thời hậu chiến, một sự tập trung có thể giúp điều chỉnh lại sự cân bằng mong manh giữa Hà Nội và Washington. Những tác động đối với quan hệ Mỹ - Việt Nam là rất sâu sắc.” Theo ông Borton, Washington, đặc biệt là dưới chính quyền Trump nhiệm kỳ thứ hai, vốn công khai ủng hộ việc hợp tác với các nhà lãnh đạo quyền lực, dĩ nhiên là rất hoan nghênh thực tế mới này. Sự tập trung quyền lực của ông Tô Lâm không chỉ là về chính trị, mà còn gắn liền với một kế hoạch kinh tế đầy tham vọng. Hà Nội đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng hàng năm từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030, bằng cách đẩy mạnh sản xuất công nghệ cao, chuyển đổi số và mở rộng khu vực tư nhân. Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam phải đảm bảo nguồn vốn, công nghệ và tiếp cận thị trường từ nước ngoài, đặc biệt là từ Hoa Kỳ. Giáo sư Borton viết tiếp: “Yêu cầu cấp thiết về kinh tế đó giải thích cho chính sách đối ngoại thực dụng của ông Tô Lâm. Bất chấp những tranh chấp thương mại định kỳ và những lo ngại dai dẳng của Hoa Kỳ về thặng dư mậu dịch, quản lý tiền tệ và rào cản tiếp cận thị trường của Việt Nam, ông Tô Lâm đã theo đuổi một chính sách dựa trên sự linh hoạt hơn là dựa trên ý thức hệ. Việc ông sốt sắng nhận lời mời của Hoa Kỳ tham gia “Hội đồng Hòa bình”, một hành động được coi là nhanh bất thường theo tiêu chuẩn ngoại giao thận trọng cố hữu của Hà Nội, cho thấy ông sẵn sàng hợp tác với Washington, kể cả dưới thời tổng thống Donald Trump. Thông điệp rất rõ ràng: Để hiện đại hóa kinh tế Việt Nam cần phải có một mối quan hệ ổn định với Hoa Kỳ.” Tuy nhiên, theo giáo sư James Borton, việc ông Tô Lâm củng cố quyền lực cũng khiến tình hình trở nên phức tạp. Việt Nam từ lâu vẫn cố giữ thế cân bằng thận trọng giữa Washington và Bắc Kinh. Một cấu trúc lãnh đạo tập trung hơn có thể làm cho chiến lược cân bằng đó được sắc bén, nhưng cũng có thể thu hẹp không gian cho các cuộc tranh luận nội bộ mà trước đây vẫn giúp điều tiết các biến động về chính sách. Theo giáo sư Borton, ông Tô Lâm thừa hiểu Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và là thế lực áp đảo về địa lý và chiến lược. Còn Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và là nguồn cung cấp công nghệ tiên tiến và đầu tư không thể thiếu. Sự thịnh vượng của Việt Nam phụ thuộc vào cả hai mối quan hệ này. Ông Borton viết tiếp: “Với quyền lực tập trung ở cấp cao nhất, ông Tô Lâm có thể hành động quyết đoán hơn trong các cải cách mà các ban lãnh đạo dựa trên sự đồng thuận trước đây vẫn thi hành một cách thận trọng. Các cải cách có thể bao gồm việc điều chỉnh quy định sâu rộng hơn để thu hút đầu tư của Mỹ trong ngành bán dẫn và trí tuệ nhân tạo và mở rộng hợp tác năng lượng - bao gồm các hợp đồng khí đốt tự nhiên hóa lỏng dài hạn của Mỹ, giúp thu hẹp thâm hụt thương mại song phương. Những bước đi như vậy sẽ phù hợp với các ưu tiên kinh tế và chiến lược của Washington.” Nhưng giáo sư Borton lưu ý: “Học thuyết chính sách đối ngoại của Việt Nam vẫn dựa trên sự độc lập, tự lực và chủ nghĩa đa phương. Hà Nội sẽ cố không để mình trở thành đồng minh chính thức của Mỹ hay trở thành một quốc gia đứng tuyến đầu trong cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc. Quyền lực của Tô Lâm có thể cho phép ông đàm phán một cách tự tin với Washington, nhưng sẽ không khiến ông lệ thuộc vào Mỹ.” Đối với Hoa Kỳ, theo giáo sư Borton, “thách thức sẽ là làm thế nào hợp tác với Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tô Lâm để hỗ trợ cải cách kinh tế mà không gây ra phản ứng mang tính dân tộc chủ nghĩa. Việc gây áp lực mạnh mẽ lên Hà Nội về mất cân bằng thương mại hoặc vấn đề tiền tệ có thể làm phức tạp chương trình cải cách của Tô Lâm và củng cố những tiếng nói bảo thủ hơn trong chế độ. Ngược lại, sự hợp tác mang tính xây dựng, đặc biệt là về chuyển giao công nghệ, năng lượng sạch, hợp tác an ninh hàng hải và giáo dục, có thể củng cố con đường đến tăng trưởng giá trị cao hơn và hội nhập toàn cầu sâu rộng hơn của Việt Nam.” ___ (1)Theo AFP ngày 23/02/2026, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Mỹ (CBP) thông báo ngừng thu các khoản thuế quan được áp đặt theo Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) từ 0h01 sáng 24/2 theo giờ miền Đông nước Mỹ (12h01 giờ VN), tức hơn ba ngày sau khi Tòa án Tối cao Mỹ tuyên bố phần lớn các mức "thuế đối ứng" mà chính quyền Trump ban hành ngày 02/04/32025 là bất hợp pháp.
Tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm đã đến Washington trong tuần qua để dự cuộc họp khai mạc “Hội đồng Hòa bình” do Donald Trump thành lập. Nhân dịp này, ông Tô Lâm đã hội kiến tổng thống Mỹ tại Nhà Trắng ngày 20/02/2026. Chuyến đi Hoa Kỳ của ông Tô Lâm được báo chí quốc tế chú ý vì đây là chuyến công du đầu tiên đến một cường quốc kể từ khi ông được bầu làm tổng bí thư thêm một nhiệm kỳ và kể từ nay thâu tóm mọi quyền lực trong tay. Theo thông báo của chính quyền Hà Nội, trong cuộc gặp với ông Tô Lâm, tổng thống Trump cho biết sẽ xóa tên Việt Nam khỏi "danh sách kiểm soát xuất khẩu chiến lược (D1 - D3)", tức là danh sách các quốc gia bị hạn chế tiếp cận công nghệ tiên tiến của Mỹ. Cuộc gặp tại Nhà Trắng diễn ra sau khi các hãng hàng không Việt Nam công bố các hợp đồng trị giá tổng cộng 37 tỷ đô la mua 90 máy bay Boeing. Trang mạng The Diplomat ngày 23/02/2026, nhận định, thông báo nói trên của tổng thống Trump "là dấu hiệu cho thấy sự tin tưởng chiến lược ngày càng tăng giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, xét đến vị trí mang tính cơ cấu của Việt Nam trong chuỗi cung ứng liên kết Mỹ và Trung Quốc, thương mại và thuế quan có khả năng sẽ là điểm gây bất đồng chính giữa Hà Nội và Washington trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ thứ hai của ông Trump." Đàm phán thương mại gay go Quan hệ Việt-Mỹ hiện nay đang phần nào bị chựng lại do bế tắc trong đàm phán thương mại song phương. Trên trang mạng The Diplomat ngày 13/02, biên tập viên về Đông Nam Á Sebastian Strangio nhắc lại: “ Washington áp thuế 20% đối với hàng hóa Việt Nam từ tháng 8 năm ngoái. Hai nước đã tổ chức vòng đàm phán thứ sáu vào đầu tháng này, nhưng vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng. Theo các nguồn tin được hãng tin Bloomberg trích dẫn, các cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Việt Nam đang bế tắc về định nghĩa hàng hóa “trung chuyển”. Chính quyền Trump cho biết những hàng hóa “trung chuyển” sẽ bị đánh thuế 40%, nhưng vẫn chưa nói cụ thể xác cách thức xác định và xử lý loại hàng hóa đó. Các cố vấn thương mại của ông Trump từ lâu vẫn cho rằng một lượng lớn hàng hóa Trung Quốc được vận chuyển qua Việt Nam, hoặc được sản xuất tại đó với rất ít nguyên liệu đầu vào, để tránh thuế quan của Mỹ đối với Trung Quốc. Họ cho đây là lý do chính dẫn đến thặng dư mậu dịch của Việt Nam đối với Mỹ, mức thặng dư lớn thứ ba thế giới sau Trung Quốc và Mêhicô.” Các cuộc đàm phán thương mại có thể đã trở nên phức tạp hơn do mức thuế 20% đã không làm giảm đáng kể thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ. Theo số liệu của chính phủ Việt Nam, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đã tăng từ 119,6 tỷ đôla năm 2024 lên 153,2 tỷ đôla năm ngoái, tăng 28%, đẩy thặng dư thương mại lên mức kỷ lục gần 134 tỷ đôla vào năm 2025, cao hơn đáng kể so với năm 2024. (1) Sebastian Strangio ghi nhận: “Chưa biết có dẫn đến bước đột phá nào trong thương mại với Mỹ hay không, chuyến công du lần này của ông Tô Lâm dường như phá vỡ một tiền lệ, đó là các lãnh đạo mới được bổ nhiệm của đảng Cộng Sản Việt Nam thường đến thăm Trung Quốc trước bất kỳ cường quốc lớn nào khác. Ngoài chuyến đi ngắn tới Cam Bốt và Lào vào ngày 5-6 tháng 2, chuyến thăm ông Tô Lâm tại Mỹ sẽ là chuyến thăm đầu tiên tới một cường quốc lớn kể từ khi Đại hội Đảng lần thứ 14 bầu ông làm tổng bí thư thêm nhiệm kỳ 5 năm. Thực tế này đã khiến một số nhà quan sát cho rằng nó có thể phản ánh một sự thay đổi tiềm tàng trong định hướng chiến lược của Việt Nam. Tuy nhiên, xét đến tính nhất quán tương đối của chính sách đối ngoại Việt Nam trong hai thập kỷ qua, ta nên thận trọng, không diễn giải quá mức về thời điểm chuyến thăm của ông Tô Lâm sang Mỹ. Ngày diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh Hội đồng Hòa bình là do Washington ấn định, chứ không phải do Hà Nội, và chuyến thăm của ông Tô Lâm cũng có thể xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của Việt Nam đạt được một thỏa thuận thương mại với Hoa Kỳ, yếu tố cần thiết nếu đảng Cộng Sản Việt Nam (CPV) muốn đạt được các mục tiêu kinh tế đầy tham vọng trong những năm tới. Ngoài ra, ông Tô Lâm hầu như không cho thấy dấu hiệu nào muốn xa rời Trung Quốc mà thật ra đang làm ngược lại, như nhận xét của Sheena Chestnut Greitens của Đại học Texas, Austin trên mạng X: “Tô Lâm là động lực thúc đẩy tăng cường hợp tác về an ninh nội bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc.” Thực tế là, theo Sebastian Strangio, “do tính khí thất thường của ông Trump và chính quyền của ông, cùng với tình trạng không chắc chắn của các cuộc đàm phán thương mại, quan hệ với Hoa Kỳ hiện cần được “chăm sóc” về mặt ngoại giao nhiều hơn so với mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, vốn vẫn ổn định nhờ vào các chuyến thăm song phương luân phiên hàng năm của các quan chức hai bên. Rất có thể ông Tô Lâm sẽ sớm có chuyến thăm đáp lễ tới Bắc Kinh. Lần cuối cùng ông đi thăm Trung Quốc là vào tháng 8/2024, chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi nhậm chức tổng Bí thư. Ông Tập Cận Bình đã đáp lễ với chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 4 năm ngoái.” “Ngoại giao cây tre giữa cơn bão Trump” Trên trang mạng Financial Review của Úc ngày 16/02, ông James Curran, giáo sư Lịch sử Hiện đại và nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Hoa Kỳ thuộc Đại học Sydney, ghi nhận về đối ngoại, chính sách “ngoại giao cây tre” của Việt Nam “vẫn còn khá yếu ớt giữa cơn bão Trump”. Giáo sư Curran trích nhận xét của một nhà phân tích: Thuế quan “ngày giải phóng” là một “cú đánh mạnh”, gợi lại những ký ức đau buồn về việc Washington lôi kéo Hà Nội gia nhập TPP ( Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương ), rồi Chú Sam lại rút lui vào phút cuối. Một số người ở Hà Nội đang rất tức giận, nói rằng “người Mỹ hành xử không phải như một nhà tư bản mà là đế quốc”. Hà Nội hiện đang nhắm đến thỏa thuận tương tự thỏa thuận mà thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã nhận được, tức là mức thuế 18%. Nhưng một nguồn tin từ Việt Nam lo ngại không biết chính quyền Washington có nhận thức được hậu quả hay không. Nhân vật này lập luận rằng tâm lý chống Trung Quốc ở Việt Nam đôi khi bị thổi phồng quá mức và nói thêm rằng “mọi người đang nhìn về phía Trung Quốc và tự hỏi liệu đó có phải là lựa chọn tốt hơn hay không.” Theo giáo sư Curran, nói chuyện riêng, các quan chức Mỹ nhấn mạnh thông điệp của họ gửi tới Hà Nội rất thẳng thắn: “Hãy cẩn thận khi chơi trò thân mật với Bắc Kinh quá mức”. Họ nghĩ rằng Hà Nội sẽ nhượng bộ Trung Quốc một số điều, chẳng hạn như qua việc hợp tác trong dự án đường sắt cao tốc, nhưng về các khoáng sản quan trọng, chất bán dẫn và các lĩnh vực khác có tầm quan trọng quốc gia cao, "Hà Nội muốn chúng ta." Chính sách đối ngoại thực dụng Trong bài viết đăng trên trang mạng Geopolitical Monitor ngày 28/01/2026, giáo sư James Borton, Viện Chính sách đối ngoại SAIS - Đại học Johns Hopkins (Mỹ), trước hết nhận định: “Ông Tô Lâm đã làm được điều mà ít nhà lãnh đạo Việt Nam nào làm được từ nhiều thập niên qua: thâu tóm vững chắc quyền lực của Đảng và Nhà nước vào tay mình. Tái đắc cử tổng bí thư và chuẩn bị đảm nhiệm chức chủ tịch nước, ông Tô Lâm hiện đang đứng đầu cơ cấu lãnh đạo tập trung nhất của Việt Nam kể từ thời hậu chiến, một sự tập trung có thể giúp điều chỉnh lại sự cân bằng mong manh giữa Hà Nội và Washington. Những tác động đối với quan hệ Mỹ - Việt Nam là rất sâu sắc.” Theo ông Borton, Washington, đặc biệt là dưới chính quyền Trump nhiệm kỳ thứ hai, vốn công khai ủng hộ việc hợp tác với các nhà lãnh đạo quyền lực, dĩ nhiên là rất hoan nghênh thực tế mới này. Sự tập trung quyền lực của ông Tô Lâm không chỉ là về chính trị, mà còn gắn liền với một kế hoạch kinh tế đầy tham vọng. Hà Nội đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng hàng năm từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030, bằng cách đẩy mạnh sản xuất công nghệ cao, chuyển đổi số và mở rộng khu vực tư nhân. Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam phải đảm bảo nguồn vốn, công nghệ và tiếp cận thị trường từ nước ngoài, đặc biệt là từ Hoa Kỳ. Giáo sư Borton viết tiếp: “Yêu cầu cấp thiết về kinh tế đó giải thích cho chính sách đối ngoại thực dụng của ông Tô Lâm. Bất chấp những tranh chấp thương mại định kỳ và những lo ngại dai dẳng của Hoa Kỳ về thặng dư mậu dịch, quản lý tiền tệ và rào cản tiếp cận thị trường của Việt Nam, ông Tô Lâm đã theo đuổi một chính sách dựa trên sự linh hoạt hơn là dựa trên ý thức hệ. Việc ông sốt sắng nhận lời mời của Hoa Kỳ tham gia “Hội đồng Hòa bình”, một hành động được coi là nhanh bất thường theo tiêu chuẩn ngoại giao thận trọng cố hữu của Hà Nội, cho thấy ông sẵn sàng hợp tác với Washington, kể cả dưới thời tổng thống Donald Trump. Thông điệp rất rõ ràng: Để hiện đại hóa kinh tế Việt Nam cần phải có một mối quan hệ ổn định với Hoa Kỳ.” Tuy nhiên, theo giáo sư James Borton, việc ông Tô Lâm củng cố quyền lực cũng khiến tình hình trở nên phức tạp. Việt Nam từ lâu vẫn cố giữ thế cân bằng thận trọng giữa Washington và Bắc Kinh. Một cấu trúc lãnh đạo tập trung hơn có thể làm cho chiến lược cân bằng đó được sắc bén, nhưng cũng có thể thu hẹp không gian cho các cuộc tranh luận nội bộ mà trước đây vẫn giúp điều tiết các biến động về chính sách. Theo giáo sư Borton, ông Tô Lâm thừa hiểu Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và là thế lực áp đảo về địa lý và chiến lược. Còn Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và là nguồn cung cấp công nghệ tiên tiến và đầu tư không thể thiếu. Sự thịnh vượng của Việt Nam phụ thuộc vào cả hai mối quan hệ này. Ông Borton viết tiếp: “Với quyền lực tập trung ở cấp cao nhất, ông Tô Lâm có thể hành động quyết đoán hơn trong các cải cách mà các ban lãnh đạo dựa trên sự đồng thuận trước đây vẫn thi hành một cách thận trọng. Các cải cách có thể bao gồm việc điều chỉnh quy định sâu rộng hơn để thu hút đầu tư của Mỹ trong ngành bán dẫn và trí tuệ nhân tạo và mở rộng hợp tác năng lượng - bao gồm các hợp đồng khí đốt tự nhiên hóa lỏng dài hạn của Mỹ, giúp thu hẹp thâm hụt thương mại song phương. Những bước đi như vậy sẽ phù hợp với các ưu tiên kinh tế và chiến lược của Washington.” Nhưng giáo sư Borton lưu ý: “Học thuyết chính sách đối ngoại của Việt Nam vẫn dựa trên sự độc lập, tự lực và chủ nghĩa đa phương. Hà Nội sẽ cố không để mình trở thành đồng minh chính thức của Mỹ hay trở thành một quốc gia đứng tuyến đầu trong cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc. Quyền lực của Tô Lâm có thể cho phép ông đàm phán một cách tự tin với Washington, nhưng sẽ không khiến ông lệ thuộc vào Mỹ.” Đối với Hoa Kỳ, theo giáo sư Borton, “thách thức sẽ là làm thế nào hợp tác với Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tô Lâm để hỗ trợ cải cách kinh tế mà không gây ra phản ứng mang tính dân tộc chủ nghĩa. Việc gây áp lực mạnh mẽ lên Hà Nội về mất cân bằng thương mại hoặc vấn đề tiền tệ có thể làm phức tạp chương trình cải cách của Tô Lâm và củng cố những tiếng nói bảo thủ hơn trong chế độ. Ngược lại, sự hợp tác mang tính xây dựng, đặc biệt là về chuyển giao công nghệ, năng lượng sạch, hợp tác an ninh hàng hải và giáo dục, có thể củng cố con đường đến tăng trưởng giá trị cao hơn và hội nhập toàn cầu sâu rộng hơn của Việt Nam.” ___ (1)Theo AFP ngày 23/02/2026, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Mỹ (CBP) thông báo ngừng thu các khoản thuế quan được áp đặt theo Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) từ 0h01 sáng 24/2 theo giờ miền Đông nước Mỹ (12h01 giờ VN), tức hơn ba ngày sau khi Tòa án Tối cao Mỹ tuyên bố phần lớn các mức "thuế đối ứng" mà chính quyền Trump ban hành ngày 02/04/32025 là bất hợp pháp.
VOV1 - Trong 2 ngày 6 và 7/2, tại Tiểu đoàn 178, phường Điện Bàn Đông, thành phố Đà Nẵng, Sư đoàn Phòng không 375, Nhà máy A32 Quân chủng Phòng không Không quân phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Đà Nẵng tổ chức Chương trình “Xuân canh trời - Tết thắm tình quân dân”Đại diện Sư đoàn Phòng không 375 Quân chủng Phòng không Không quân thăm, trao quà Tết tặng Mẹ Viêt Nam Anh hùng.
VOV1 - Sau hơn 5 ngày làm việc nghiêm túc, dân chủ, tích cực và khẩn trương, với ý thức trách nhiệm cao trước Đảng, nhân dân và đất nước, chiều nay, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia (Mỹ Đình, Hà Nội), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14 của Đảng họp phiên bế mạc.Với phương châm: "Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển", Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14 của Đảng đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra. Đại hội đã nhất trí cao thông qua Văn kiện của Đảng. Báo cáo kết quả bầu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư đều là các đồng chí tiêu biểu cho hơn 5,6 triệu đảng viên, có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực, trình độ và đạo đức để gánh vác trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó.Dự phiên bế mạc có các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng và nhà nước; đại diện Mẹ Việt Nam Anh hùng, nhân sỹ trí thức, văn nghệ sỹ, chức sắc tôn giáo, đại diện thế hệ trẻ, các vị Đại sứ, Đại biện, Trưởng đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.
Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ XIV diễn ra từ ngày 19 đến 25/01/2026 được nhấn mạnh là "Đại hội tiến vào kỷ nguyên mới". Những định hướng chính trị chính cho 5 năm tới được thông qua trong dịp này. Nhưng vấn đề được quan tâm nhất : Ai sẽ là tổng bí thư ? Tổng bí thư Tô Lâm, 68 tuổi, được cho là sẽ tiếp tục giữ chức vụ cao nhất trong Đảng thêm một nhiệm kỳ. Thậm chí, có thông tin tổng bí thư sẽ kiêm nhiệm chức chủ tịch nước, như mô hình của Trung Quốc, Bắc Triều Tiên… Trong trường hợp đó, mối quan hệ với bên quân đội sẽ như thế nào vì chủ tịch nước hiện nay là đại tướng quân đội Lương Cường ? Các nhà tân lãnh đạo Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức như thế nào trong bối cảnh chính trường quốc tế đầy biến động ? Giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Ngoại trưởng Lê Hoài Trung nhấn mạnh Đại hội Đảng lần thứ XIV là "sự kiện mang ý nghĩa bước ngoặt, là dấu mốc đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển đất nước". Vậy thách thức trong 5 năm tới đối với ban lãnh đạo mới là gì ? Benoît de Tréglodé : Nói là "Thời điểm bước ngoặt" ư ? Đời sống chính trị của chế độ Việt Nam được chi phối bởi chu kỳ các Đại hội đảng Cộng sản Việt Nam. Thời điểm năm 2026 này cũng không then chốt hơn thời điểm cách đây 5 năm, vào năm 2021. Rõ ràng đây là những mốc thời gian, lần nào cũng thực sự quan trọng khi đưa đời sống chính trị Việt Nam trở lại chu trình liên tục, không gián đoạn. Đây là những yếu tố giữ cân bằng đời sống chính trị Việt Nam. Đọc thêmViệt Nam trước Đại hội Đảng: Yếu tố Trung Quốc và lá bài Hoa Kỳ Điều thú vị là trong nhiệm kỳ này có hai ngày trọng đại, đánh dấu khởi đầu và gần như kết thúc nhiệm kỳ. Những ngày kỷ niệm luôn rất quan trọng để hiểu được vị trí trung tâm của một chế độ và các nhà lãnh đạo. Việt Nam của nhiệm kỳ thứ XIV sẽ bắt đầu bằng sự kiện kỷ niệm có ý nghĩa nền tảng đối với ông Tô Lâm, cũng như với toàn bộ giới lãnh đạo chính trị đất nước : Đó là kỷ niệm 40 năm Đổi Mới. Khẳng định nền tảng và định hướng kinh tế của đất nước thông qua một lễ kỷ niệm đánh dấu thời kỳ mở cửa kinh tế là một biểu tượng không thể quan trọng hơn đối với một đất nước đang đặt việc theo đuổi phát triển và tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm trong mọi tham vọng và dự án của mình. Lễ kỷ niệm thứ hai, rất quan trọng, đánh dấu cho nhiệm kỳ này, đó là việc tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng 1930-2030. Và đây cũng là trách nhiệm của ban lãnh đạo sẽ được bầu chọn vào cuối tuần. Trong cả hai trường hợp, chúng ta đều đề cập tới hai trụ cột, hai nền tảng cơ bản của hệ thống Việt Nam hiện nay. Đó là sự tiếp nối của chính sách kinh tế đầy tham vọng về tăng trưởng và mở cửa. Ở điểm này, tôi tin là sẽ không có bất kỳ sự thay đổi hay điều chỉnh nào. Việt Nam đã khẳng định vị thế vững chắc trong khu vực và trên trường quốc tế. Việc này phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Và Đảng lại tìm thấy ở đó cơ sở cho tính hợp pháp và duy trì thế độc quyền của mình. Việc một nước Việt Nam có mức tăng trưởng 8% hàng năm củng cố đáng kể vị thế của Đảng trong xã hội Việt Nam và trên trường quốc tế. Đọc thêmMột mình tiếp tổng thống Mỹ, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam Về trụ cột thứ hai, đội ngũ lãnh đạo mới, được lựa chọn vào cuối kỳ Đại hội, sẽ nhắc lại hơn bao giờ hết rằng vai trò của người tổ chức, của người lãnh đạo tối cao của đảng Cộng Sản Việt Nam, sẽ tuyệt đối không được thay đổi và phải bằng mọi giá củng cố chiến lược thực dụng, thực tế về kinh tế của đất nước. RFI : Chúng ta đã nhắc đến những thách thức, những tham vọng về kinh tế, và trong bối cảnh những thay đổi toàn cầu, các nhà tân lãnh đạo của đất nước, đặc biệt là tổng bí thư cần phải có những kỹ năng, phẩm chất nào và phải đáp ứng những điều kiện gì để có thể thành công ? Benoît de Tréglodé : Câu hỏi này khá phức tạp, không thể tóm gọn trong vài điểm. Phẩm chất quan trọng nhất của một tổng bí thư đảng là từng giữ chức tổng bí thư và sở hữu kiến thức cũng như mạng lưới quan hệ cần thiết để duy trì vị trí, và từ vị trí đó có thể bảo đảm sự liên tục của chính sách quốc gia. Vào đúng ngày khai mạc Đại hội Đảng XIV và chỉ bốn đến năm ngày trước khi diễn ra các phiên thảo luận cuối cùng, thì cũng không phải là không thể đưa ra một số giả định. Các nhà phân tích đã bàn luận về vấn đề này trong vài tuần qua. Rất có thể tổng bí thư đương nhiệm muốn tiếp tục tại vị. Và tin đồn còn đi xa hơn khi cho rằng ông Tô Lâm dường như muốn mở rộng vai trò và phạm vi chức năng bằng cách kiêm nhiệm thêm chức chủ tịch nước. Đây là điều không có gì đặc biệt ở Việt Nam, đã từng xảy ra và không phải là hiếm gặp ở các quốc gia khác có hệ thống chính trị tương tự. Ví dụ Trung Quốc và vai trò của Tập Cận Bình trong việc hoạch định cả chính sách đối nội lẫn đối ngoại. Đọc thêmViệt Nam : “Quốc tế hóa” vai trò của tổng bí thư đảng Cộng Sản Một điều thú vị khác cần lưu ý, cho dù không muốn đi trước thời gian biểu của đại hội cũng như thời điểm công bố các quyết định vào cuối tuần này, là trên thực tế, 18 tháng đầu cầm quyền của ông Tô Lâm cho thấy tổng bí thư đương nhiệm đã can thiệp rất tích cực và quyết liệt vào cả chính sách đối nội, lẫn đối ngoại. Do đó, có thể nói rằng phạm vi hoạt động của hai lĩnh vực này đã được cùng một cá nhân khai thác triệt để. Vì vậy, xin nhắc lại là không phải là không thể dự đoán được quyết định được đưa ra vào cuối tuần này. RFI : Nếu hai vị trí cao nhất được sáp nhập, việc này sẽ tác động như thế nào đối với bên quân đội trong “ngũ trụ”, sắp tới có thể là “tứ trụ” ? Benoît de Tréglodé : Điều đầu tiên tôi nghĩ đến là việc phân chia sẽ như thế nào. Nói một cách khái quát, ông Tô Lâm sẽ để lại chút ít gì cho quân đội nếu họ không muốn làm mất mặt quân đội. Nhưng tôi nghĩ quân đội sẽ mất khá nhiều ; họ đã mất khá nhiều nếu việc sáp nhập này diễn ra. Nhưng trong nội bộ Bộ Chính Trị, chuyện sẽ diễn ra như thế nào đối với bên quân đội ? Đây là việc rất quan trọng. Việc sáp nhập hai vị trí tổng bí thư và chủ tịch nước là một vấn đề rất phức tạp nhìn từ góc độ Hiến Pháp. Chủ tịch nước Việt Nam là người đứng đầu lực lượng vũ trang và, theo một cách nào đó, cũng là người đứng đầu Ủy ban Quốc phòng và An ninh. Vì vậy, từ góc độ đó, việc không còn trao chức chủ tịch nước cho một sĩ quan quân đội, mà lại tự cho mình nắm giữ chức vụ đó, đã đặt ra nhiều vấn đề gây khó khăn cho bộ trưởng Quốc Phòng đương nhiệm trong việc đàm phán. Xin nhắc lại là năm 2025, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII được khai mạc vào đúng ngày mang tính biểu tượng, ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12. Đọc thêmHà Nội căng thẳng trước thềm đại hội đảng : Quân đội có cản bước cải cách của ông Tô Lâm? Vấn đề thực sự quan trọng trong đại hội lần này là nếu ông Tô Lâm quyết định giữ cả hai vị trí này thì ông cũng tránh gây tổn hại không đáng có cho Quân đội Việt Nam và các đại diện của Quân đội, trong trường hợp hiện nay là bộ trưởng bộ Quốc Phòng. Hiện tại vẫn còn hơi sớm để thảo luận về quyết định này vì chúng ta chưa biết kết quả, mà phải chờ tới cuối Đại hội Đảng XIV. Nhưng giả sử có sự phân bổ quyền lực này và nhìn từ quan điểm cá nhân, ông Tô Lâm với tư cách là tổng bí thư, người có thể nắm giữ cả hai vị trí, và ông Tô Lâm với tư cách là tướng Công an với bộ Công An cùng với mạng lưới đằng sau, chuyện này sẽ diễn ra như thế nào trong mối quan hệ với Quân đội và bộ Quốc Phòng, một trụ cột khác của bộ máy an ninh và quyền lực Việt Nam ? Sự cân bằng giữa hai chủ thể an ninh vô cùng lớn này, mà chúng ta không nên quên hiện đã trở thành các chủ thể chính trị và kinh tế, là cốt lõi của tương lai chế độ chính trị Việt Nam. RFI : Cuộc cải cách hành chính năm 2025 cũng có những tác động nhất định đến vai trò của tổng bí thư ? Benoît de Tréglodé : Tổng bí thư Tô Lâm - người biết rằng ông thực sự không có đối thủ nào trong bộ máy thể chế Việt Nam và cũng biết rằng sự nổi tiếng của ông có thể biến động theo thời gian và bằng cách cố nắm bắt, thực hiện một bước đi quan trọng để tận dụng lợi thế của việc sáp nhập tiềm năng và quyền lực gần như tùy ý trong bộ máy Nhà nước Việt Nam - sẽ cần các công cụ hiến pháp giúp ông tiến lên, cho phép ông thi hành các quyết định của mình. Trong một chế độ mà Việt Nam gọi là "nền dân chủ nhân dân", các quyết định không phải do một người đưa ra mà phải được một bộ máy phê chuẩn, trong trường hợp này là Quốc Hội và các cơ quan khác. Do đó, tự do của ông Tô Lâm cũng phụ thuộc vào đa số mà ông sẽ có trong bộ Chính Trị, và đa số này cũng phụ thuộc vào đa số mà ông sẽ có trong Ban Chấp hành Trung ương. Vì vậy nếu ông Tô Lâm thực sự theo đuổi hoạt động chính trị ở Việt Nam, ông cần có một Ban Chấp hành Trung ương ủng hộ ông, một Bộ Chính Trị ủng hộ ông và một Quốc Hội thông qua các quyết định của ông. Trong mọi trường hợp đó, cải cách hành chính đều có tác động, đều có những hệ quả đối với cơ cấu của các cơ quan ra quyết định quan trọng ở Việt Nam. Cho nên có thể hiểu rằng việc thực hiện cải cách hành chính năm 2025 cũng liên quan trực tiếp đến mong muốn của người khởi xướng là có được những cơ quan nắm giữ quyền lực chính trị quan trọng ở Việt Nam đứng sau ông và xác nhận các hành động của ông. Đọc thêmQuyền lực cá nhân tổng bí thư thông qua quá trình tinh giản bộ máy hành chính ở Việt Nam RFI : Sau Đại hội, công cuộc chiến chống tham nhũng sẽ được tiếp tục thực hiện ? Và liệu có quyết liệt như đang làm hiện nay không ? Benoît de Tréglodé : Cần phải nhắc lại rằng tham nhũng là một vấn đề còn lâu mới giải quyết được và không phụ thuộc vào chu kỳ 5 năm của các Đại hội Đảng. Tham nhũng gắn liền mật thiết với khái niệm phát triển kinh tế. Và tham nhũng cũng gắn liền mật thiết với cách hoạt động và tài trợ của bộ máy hành chính. Sự phát triển kinh tế ở hầu hết các nước châu Á đều bao gồm, hoặc đi kèm với sự gia tăng các hành vi tham nhũng khá phổ biến. Vì vậy, không nên cố gắng đưa việc chấm dứt, kết thúc hoặc tiếp tục các chiến dịch chống tham nhũng vào chương trình nghị sự của mỗi Đại hội Đảng. Đọc thêmChống tham nhũng thời hậu Nguyễn Phú Trọng: Sẽ vẫn "diệt chuột không để vỡ bình" Tham nhũng đã, đang và sẽ tiếp tục xảy ra, điều đó là chắc chắn. Và mọi chuyện sẽ không sớm dừng lại nay mai. Năm 2025 được đánh dấu bởi cuộc cải cách hành chính của ông Tô Lâm, với tham vọng đơn giản hóa và hiện đại hóa bộ máy Nhà nước, và cũng bao gồm cả tham vọng hạn chế số lượng các trung gian tại các cơ quan chính phủ, vốn luôn là cơ hội nảy sinh các hành vi tham nhũng ở Việt Nam. Bản thân cuộc cải cách hành chính này đã bao hàm mong muốn hạn chế những hành vi lạm dụng hoặc tham nhũng. Cải cách này lại cũng diễn ra vào thời điểm thuận lợi, chỉ một năm trước Đại hội Đảng, còn rõ ràng mang tham vọng tái xác định vị trí hoặc tái tập trung quyền lực chính trị ở Việt Nam xung quanh Đảng và người khởi xướng cải cách. Vì vậy, rõ ràng là nhìn từ góc độ này, cuộc cải cách hành chính còn mang một chiều hướng chính trị rất rõ rệt : vừa hiện đại hóa bộ máy về mặt chức năng, vừa thâu tóm bộ máy về mặt chính trị. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp.
Bé 2 tuổi chưa biết nói là nỗi lo lớn của rất nhiều ba mẹ hiện nay. Khi các bạn cùng tuổi đã nói được câu ngắn, còn con mình chỉ bập bẹ vài âm hoặc chưa nói được gì, ba mẹ dễ rơi vào trạng thái lo lắng, căng thẳng và hoang mang không biết bắt đầu từ đâu. Trong tập podcast này, Mẹ Việt cùng ba mẹ nhìn lại một cách bình tĩnh và khoa học về tình trạng trẻ chậm nói ở giai đoạn 2 tuổi – giai đoạn vàng phát triển ngôn ngữ.Podcast sẽ giúp ba mẹ hiểu rõ sự khác biệt giữa hiểu và diễn đạt, vì sao có những bé “hiểu hết nhưng không nói”, và đâu là những sai lầm phổ biến khiến việc dạy con học nói tại nhà kéo dài mà không hiệu quả. Quan trọng hơn, ba mẹ sẽ được định hướng cách can thiệp sớm đúng cách, tạo môi trường giao tiếp tự nhiên, giúp con từng bước bật âm, tăng vốn từ và chủ động giao tiếp.
Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ XIV diễn ra từ ngày 19 đến 25/01/2026 được nhấn mạnh là "Đại hội tiến vào kỷ nguyên mới". Những định hướng chính trị chính cho 5 năm tới được thông qua trong dịp này. Nhưng vấn đề được quan tâm nhất : Ai sẽ là tổng bí thư ? Tổng bí thư Tô Lâm, 68 tuổi, được cho là sẽ tiếp tục giữ chức vụ cao nhất trong Đảng thêm một nhiệm kỳ. Thậm chí, có thông tin tổng bí thư sẽ kiêm nhiệm chức chủ tịch nước, như mô hình của Trung Quốc, Bắc Triều Tiên… Trong trường hợp đó, mối quan hệ với bên quân đội sẽ như thế nào vì chủ tịch nước hiện nay là đại tướng quân đội Lương Cường ? Các nhà tân lãnh đạo Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức như thế nào trong bối cảnh chính trường quốc tế đầy biến động ? Giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Ngoại trưởng Lê Hoài Trung nhấn mạnh Đại hội Đảng lần thứ XIV là "sự kiện mang ý nghĩa bước ngoặt, là dấu mốc đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển đất nước". Vậy thách thức trong 5 năm tới đối với ban lãnh đạo mới là gì ? Benoît de Tréglodé : Nói là "Thời điểm bước ngoặt" ư ? Đời sống chính trị của chế độ Việt Nam được chi phối bởi chu kỳ các Đại hội đảng Cộng sản Việt Nam. Thời điểm năm 2026 này cũng không then chốt hơn thời điểm cách đây 5 năm, vào năm 2021. Rõ ràng đây là những mốc thời gian, lần nào cũng thực sự quan trọng khi đưa đời sống chính trị Việt Nam trở lại chu trình liên tục, không gián đoạn. Đây là những yếu tố giữ cân bằng đời sống chính trị Việt Nam. Đọc thêmViệt Nam trước Đại hội Đảng: Yếu tố Trung Quốc và lá bài Hoa Kỳ Điều thú vị là trong nhiệm kỳ này có hai ngày trọng đại, đánh dấu khởi đầu và gần như kết thúc nhiệm kỳ. Những ngày kỷ niệm luôn rất quan trọng để hiểu được vị trí trung tâm của một chế độ và các nhà lãnh đạo. Việt Nam của nhiệm kỳ thứ XIV sẽ bắt đầu bằng sự kiện kỷ niệm có ý nghĩa nền tảng đối với ông Tô Lâm, cũng như với toàn bộ giới lãnh đạo chính trị đất nước : Đó là kỷ niệm 40 năm Đổi Mới. Khẳng định nền tảng và định hướng kinh tế của đất nước thông qua một lễ kỷ niệm đánh dấu thời kỳ mở cửa kinh tế là một biểu tượng không thể quan trọng hơn đối với một đất nước đang đặt việc theo đuổi phát triển và tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm trong mọi tham vọng và dự án của mình. Lễ kỷ niệm thứ hai, rất quan trọng, đánh dấu cho nhiệm kỳ này, đó là việc tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng 1930-2030. Và đây cũng là trách nhiệm của ban lãnh đạo sẽ được bầu chọn vào cuối tuần. Trong cả hai trường hợp, chúng ta đều đề cập tới hai trụ cột, hai nền tảng cơ bản của hệ thống Việt Nam hiện nay. Đó là sự tiếp nối của chính sách kinh tế đầy tham vọng về tăng trưởng và mở cửa. Ở điểm này, tôi tin là sẽ không có bất kỳ sự thay đổi hay điều chỉnh nào. Việt Nam đã khẳng định vị thế vững chắc trong khu vực và trên trường quốc tế. Việc này phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Và Đảng lại tìm thấy ở đó cơ sở cho tính hợp pháp và duy trì thế độc quyền của mình. Việc một nước Việt Nam có mức tăng trưởng 8% hàng năm củng cố đáng kể vị thế của Đảng trong xã hội Việt Nam và trên trường quốc tế. Đọc thêmMột mình tiếp tổng thống Mỹ, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam Về trụ cột thứ hai, đội ngũ lãnh đạo mới, được lựa chọn vào cuối kỳ Đại hội, sẽ nhắc lại hơn bao giờ hết rằng vai trò của người tổ chức, của người lãnh đạo tối cao của đảng Cộng Sản Việt Nam, sẽ tuyệt đối không được thay đổi và phải bằng mọi giá củng cố chiến lược thực dụng, thực tế về kinh tế của đất nước. RFI : Chúng ta đã nhắc đến những thách thức, những tham vọng về kinh tế, và trong bối cảnh những thay đổi toàn cầu, các nhà tân lãnh đạo của đất nước, đặc biệt là tổng bí thư cần phải có những kỹ năng, phẩm chất nào và phải đáp ứng những điều kiện gì để có thể thành công ? Benoît de Tréglodé : Câu hỏi này khá phức tạp, không thể tóm gọn trong vài điểm. Phẩm chất quan trọng nhất của một tổng bí thư đảng là từng giữ chức tổng bí thư và sở hữu kiến thức cũng như mạng lưới quan hệ cần thiết để duy trì vị trí, và từ vị trí đó có thể bảo đảm sự liên tục của chính sách quốc gia. Vào đúng ngày khai mạc Đại hội Đảng XIV và chỉ bốn đến năm ngày trước khi diễn ra các phiên thảo luận cuối cùng, thì cũng không phải là không thể đưa ra một số giả định. Các nhà phân tích đã bàn luận về vấn đề này trong vài tuần qua. Rất có thể tổng bí thư đương nhiệm muốn tiếp tục tại vị. Và tin đồn còn đi xa hơn khi cho rằng ông Tô Lâm dường như muốn mở rộng vai trò và phạm vi chức năng bằng cách kiêm nhiệm thêm chức chủ tịch nước. Đây là điều không có gì đặc biệt ở Việt Nam, đã từng xảy ra và không phải là hiếm gặp ở các quốc gia khác có hệ thống chính trị tương tự. Ví dụ Trung Quốc và vai trò của Tập Cận Bình trong việc hoạch định cả chính sách đối nội lẫn đối ngoại. Đọc thêmViệt Nam : “Quốc tế hóa” vai trò của tổng bí thư đảng Cộng Sản Một điều thú vị khác cần lưu ý, cho dù không muốn đi trước thời gian biểu của đại hội cũng như thời điểm công bố các quyết định vào cuối tuần này, là trên thực tế, 18 tháng đầu cầm quyền của ông Tô Lâm cho thấy tổng bí thư đương nhiệm đã can thiệp rất tích cực và quyết liệt vào cả chính sách đối nội, lẫn đối ngoại. Do đó, có thể nói rằng phạm vi hoạt động của hai lĩnh vực này đã được cùng một cá nhân khai thác triệt để. Vì vậy, xin nhắc lại là không phải là không thể dự đoán được quyết định được đưa ra vào cuối tuần này. RFI : Nếu hai vị trí cao nhất được sáp nhập, việc này sẽ tác động như thế nào đối với bên quân đội trong “ngũ trụ”, sắp tới có thể là “tứ trụ” ? Benoît de Tréglodé : Điều đầu tiên tôi nghĩ đến là việc phân chia sẽ như thế nào. Nói một cách khái quát, ông Tô Lâm sẽ để lại chút ít gì cho quân đội nếu họ không muốn làm mất mặt quân đội. Nhưng tôi nghĩ quân đội sẽ mất khá nhiều ; họ đã mất khá nhiều nếu việc sáp nhập này diễn ra. Nhưng trong nội bộ Bộ Chính Trị, chuyện sẽ diễn ra như thế nào đối với bên quân đội ? Đây là việc rất quan trọng. Việc sáp nhập hai vị trí tổng bí thư và chủ tịch nước là một vấn đề rất phức tạp nhìn từ góc độ Hiến Pháp. Chủ tịch nước Việt Nam là người đứng đầu lực lượng vũ trang và, theo một cách nào đó, cũng là người đứng đầu Ủy ban Quốc phòng và An ninh. Vì vậy, từ góc độ đó, việc không còn trao chức chủ tịch nước cho một sĩ quan quân đội, mà lại tự cho mình nắm giữ chức vụ đó, đã đặt ra nhiều vấn đề gây khó khăn cho bộ trưởng Quốc Phòng đương nhiệm trong việc đàm phán. Xin nhắc lại là năm 2025, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII được khai mạc vào đúng ngày mang tính biểu tượng, ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12. Đọc thêmHà Nội căng thẳng trước thềm đại hội đảng : Quân đội có cản bước cải cách của ông Tô Lâm? Vấn đề thực sự quan trọng trong đại hội lần này là nếu ông Tô Lâm quyết định giữ cả hai vị trí này thì ông cũng tránh gây tổn hại không đáng có cho Quân đội Việt Nam và các đại diện của Quân đội, trong trường hợp hiện nay là bộ trưởng bộ Quốc Phòng. Hiện tại vẫn còn hơi sớm để thảo luận về quyết định này vì chúng ta chưa biết kết quả, mà phải chờ tới cuối Đại hội Đảng XIV. Nhưng giả sử có sự phân bổ quyền lực này và nhìn từ quan điểm cá nhân, ông Tô Lâm với tư cách là tổng bí thư, người có thể nắm giữ cả hai vị trí, và ông Tô Lâm với tư cách là tướng Công an với bộ Công An cùng với mạng lưới đằng sau, chuyện này sẽ diễn ra như thế nào trong mối quan hệ với Quân đội và bộ Quốc Phòng, một trụ cột khác của bộ máy an ninh và quyền lực Việt Nam ? Sự cân bằng giữa hai chủ thể an ninh vô cùng lớn này, mà chúng ta không nên quên hiện đã trở thành các chủ thể chính trị và kinh tế, là cốt lõi của tương lai chế độ chính trị Việt Nam. RFI : Cuộc cải cách hành chính năm 2025 cũng có những tác động nhất định đến vai trò của tổng bí thư ? Benoît de Tréglodé : Tổng bí thư Tô Lâm - người biết rằng ông thực sự không có đối thủ nào trong bộ máy thể chế Việt Nam và cũng biết rằng sự nổi tiếng của ông có thể biến động theo thời gian và bằng cách cố nắm bắt, thực hiện một bước đi quan trọng để tận dụng lợi thế của việc sáp nhập tiềm năng và quyền lực gần như tùy ý trong bộ máy Nhà nước Việt Nam - sẽ cần các công cụ hiến pháp giúp ông tiến lên, cho phép ông thi hành các quyết định của mình. Trong một chế độ mà Việt Nam gọi là "nền dân chủ nhân dân", các quyết định không phải do một người đưa ra mà phải được một bộ máy phê chuẩn, trong trường hợp này là Quốc Hội và các cơ quan khác. Do đó, tự do của ông Tô Lâm cũng phụ thuộc vào đa số mà ông sẽ có trong bộ Chính Trị, và đa số này cũng phụ thuộc vào đa số mà ông sẽ có trong Ban Chấp hành Trung ương. Vì vậy nếu ông Tô Lâm thực sự theo đuổi hoạt động chính trị ở Việt Nam, ông cần có một Ban Chấp hành Trung ương ủng hộ ông, một Bộ Chính Trị ủng hộ ông và một Quốc Hội thông qua các quyết định của ông. Trong mọi trường hợp đó, cải cách hành chính đều có tác động, đều có những hệ quả đối với cơ cấu của các cơ quan ra quyết định quan trọng ở Việt Nam. Cho nên có thể hiểu rằng việc thực hiện cải cách hành chính năm 2025 cũng liên quan trực tiếp đến mong muốn của người khởi xướng là có được những cơ quan nắm giữ quyền lực chính trị quan trọng ở Việt Nam đứng sau ông và xác nhận các hành động của ông. Đọc thêmQuyền lực cá nhân tổng bí thư thông qua quá trình tinh giản bộ máy hành chính ở Việt Nam RFI : Sau Đại hội, công cuộc chiến chống tham nhũng sẽ được tiếp tục thực hiện ? Và liệu có quyết liệt như đang làm hiện nay không ? Benoît de Tréglodé : Cần phải nhắc lại rằng tham nhũng là một vấn đề còn lâu mới giải quyết được và không phụ thuộc vào chu kỳ 5 năm của các Đại hội Đảng. Tham nhũng gắn liền mật thiết với khái niệm phát triển kinh tế. Và tham nhũng cũng gắn liền mật thiết với cách hoạt động và tài trợ của bộ máy hành chính. Sự phát triển kinh tế ở hầu hết các nước châu Á đều bao gồm, hoặc đi kèm với sự gia tăng các hành vi tham nhũng khá phổ biến. Vì vậy, không nên cố gắng đưa việc chấm dứt, kết thúc hoặc tiếp tục các chiến dịch chống tham nhũng vào chương trình nghị sự của mỗi Đại hội Đảng. Đọc thêmChống tham nhũng thời hậu Nguyễn Phú Trọng: Sẽ vẫn "diệt chuột không để vỡ bình" Tham nhũng đã, đang và sẽ tiếp tục xảy ra, điều đó là chắc chắn. Và mọi chuyện sẽ không sớm dừng lại nay mai. Năm 2025 được đánh dấu bởi cuộc cải cách hành chính của ông Tô Lâm, với tham vọng đơn giản hóa và hiện đại hóa bộ máy Nhà nước, và cũng bao gồm cả tham vọng hạn chế số lượng các trung gian tại các cơ quan chính phủ, vốn luôn là cơ hội nảy sinh các hành vi tham nhũng ở Việt Nam. Bản thân cuộc cải cách hành chính này đã bao hàm mong muốn hạn chế những hành vi lạm dụng hoặc tham nhũng. Cải cách này lại cũng diễn ra vào thời điểm thuận lợi, chỉ một năm trước Đại hội Đảng, còn rõ ràng mang tham vọng tái xác định vị trí hoặc tái tập trung quyền lực chính trị ở Việt Nam xung quanh Đảng và người khởi xướng cải cách. Vì vậy, rõ ràng là nhìn từ góc độ này, cuộc cải cách hành chính còn mang một chiều hướng chính trị rất rõ rệt : vừa hiện đại hóa bộ máy về mặt chức năng, vừa thâu tóm bộ máy về mặt chính trị. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp.
Năm 2025 khép lại với hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII ngày 22-23/12 và khả năng ông Tô Lâm tiếp tục làm tổng bí thư, theo nguồn tin của Reuters. Năm 2025 cũng đánh dấu nhiều kỷ lục về kim ngạch thương mại, số lượt du khách nước ngoài đến Việt Nam ; tăng trưởng “sáng nhất trong khu vực” Đông Nam Á, tinh gọn bộ máy hành chính. Bên cạnh đó là những thiệt hại khủng khiếp do thiên tai, ô nhiễm môi trường. RFI Tiếng Việt điểm lại một số sự kiện quan trọng tại Việt Nam năm 2025. Tổng bí thư tập trung quyền lực trong nước Tại hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, các đại biểu nhất trí ủng hộ những chính sách được tổng bí thư Tô Lâm thúc đẩy. Ông Tô Lâm trở thành người thi hành được nhanh chóng “cuộc cách mạng chống quan liêu” được ấp ủ từ lâu. Thành công này cũng cho thấy quyền lực cá nhân của ông Tô Lâm và những chiến lược tập trung quyền lực đằng sau, theo nhận định của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, khi trả lời RFI Tiếng Việt ngày 04/07/2025 : “(…) Nếu một cuộc cải cách đầy tham vọng như vậy được thực hiện bởi một người duy nhất thì đó là do ông ấy không cảm thấy bị bất kỳ ai đe dọa và điều này nằm trong quyền lực to lớn của ông trong bộ máy chính trị Việt Nam. Vào đúng năm trước Đại hội Đảng, với cuộc tinh giản bộ máy hành chính ở cấp địa phương, nhưng cũng có thể nói là ở cấp trung ương, ở cấp bộ, không ai chắc chắn là giữ được vị trí của mình, kể cả trong Ban Chấp hành Trung ương. Số người may mắn được chọn sẽ ít hơn vào năm 2026. Có thể nói chiến dịch kiểm soát khổng lồ này thậm chí còn hiệu quả hơn các chiến dịch chống tham nhũng thông thường. Bởi vì chúng khiến mọi người run sợ, ai cũng muốn giữ lấy chỗ và có thể theo đuổi sự nghiệp trong một bộ máy hành chính bị thu hẹp lại”. Đọc thêmSáp nhập tỉnh, thành 2025 : Chiến lược tập quyền và thành công cá nhân của TBT Tô Lâm Mở rộng vai trò của tổng bí thư trên trường quốc tế Trong hơn một năm giữ chức tổng bí thư, ông Tô Lâm có lẽ là lãnh đạo đảng công du nước ngoài nhiều nhất, thăm hơn 20 nước, ký nhiều thỏa thuận nâng cấp quan hệ đối tác. Tổng bí thư không chỉ còn muốn đứng đầu đảng, giữ vai trò về tư tưởng, mà là một nhà lãnh đạo cao nhất. Và ông Tô Lâm đang làm cho các đối tác phương Tây quen dần với hình ảnh này, theo nhận định của tiến sĩ Vũ Khang, Đại học Boston, Mỹ : “Việt Nam đã đặt các đối tác phương Tây vào vị trí phải công nhận tính chính danh và sự ngang hàng của vị trí tổng bí thư với các vị trí nguyên thủ quốc gia qua các cuộc gặp cấp cao. Đây cũng là một di sản của cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi ông đã thành công bắt Mỹ phải công nhận tổng bí thư là ngang hàng với chức tổng thống Mỹ. Điều này chứng tỏ đây là một chính sách đường dài chứ không phải ngắn hạn cho kỳ Đại hội Đảng sắp tới, và dù ai ở vị trí tổng bí thư đi chăng nữa thì cũng sẽ được kế thừa di sản này”. Đọc thêmNâng cấp đối tác chiến lược toàn diện với Pháp, chủ tịch Tô Lâm muốn thể hiện năng lực ngoại giao, ổn định chính trị Việt Nam Mối quan hệ đặc biệt với Pháp được thể hiện qua chuyến công du Hà Nội của tổng thống Emmanuel Macron. Với 14 thỏa thuận trị giá 9 tỷ euro, Pháp muốn hiện diện mạnh mẽ tại Việt Nam, kể cả trong lĩnh vực quốc phòng. Giáo sư Pierre Journoud, Đại học Paul Valery - Montpellier 3, đánh giá : “Có thể nói ngắn gọn rằng bối cảnh hiện nay thuận lợi cho việc Việt Nam và Pháp xích lại gần hơn trong lĩnh vực quốc phòng. Pháp là nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ hai thế giới vào năm 2024, cho nên có một số tham vọng chính đáng ở khu vực Đông Nam Á. Còn Việt Nam đã tổ chức triển lãm quốc phòng quốc tế lần thứ hai tại Hà Nội vào tháng 12/2024. Việt Nam bắt đầu đa dạng hóa việc mua vũ khí và trang thiết bị quân sự để bù đắp cho những thiếu hụt thực sự, hoặc được cho là như vậy, của nhà cung cấp Nga, vốn chiếm ưu thế ở Việt Nam”. Kim ngạch thương mại lập kỷ lục, bất chấp thuế đối ứng của Mỹ Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam lập kỷ lục, đạt 920 tỷ đô la, tăng 16,9% so với năm 2024, theo Tổng Cục Hải quan. Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp hàng hóa lớn nhất cho Việt Nam, đạt kim ngạch 183 tỷ đô la. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, đạt mốc kỷ lục gần 152 tỷ đô la, bất chấp các biện pháp thuế đối ứng (20%) của tổng thống Donald Trump. Tuy vậy, trả lời RFI Tiếng Việt, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng mức thuế 20% vẫn bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, so với một số nước khác được mức thuế 19% hoặc 15% : “Theo tôi, những mặt hàng bị tác động bao gồm may mặc, da giày, kể cả một số mặt hàng đồ gỗ. Nếu như tình hình tiếp tục như thế này, các nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ phải tìm cách đa dạng hóa các thị trường và tìm các biện pháp để có thể tiếp tục duy trì sản xuất và xuất khẩu và tìm cách né tránh thuế 20% này. Hiện nay Việt Nam đang cố gắng tìm cách mở rộng thị trường ở Trung Đông và tìm kiếm những thị trường ở châu Phi, đồng thời muốn phát triển những thị trường khác tuy nhỏ nhưng hy vọng là sẽ vẫn có thể đón nhận được hàng hóa của Việt Nam một cách thuận lợi”. Đọc thêmViệt Nam: Thuế "trung chuyển" của Mỹ gây khó khăn cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Thặng dự thương mại (đạt 21,2 tỷ đô la) chủ yếu đến từ khối đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với 48,2 tỷ đô la bởi vì các doanh nghiệp trong nước thâm hụt thương mại hơn 27 tỷ đô la. Mức thuế 20% có thể khả thi cho hoạt động xuất khẩu của các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, thuế “trung chuyển” (transshipment) lên tới 40% mới là vấn đề khó khăn. Ông Jean-Jacques Bouflet, phó chủ tịch Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam - EuroCham, giải thích với RFI Tiếng Việt ngày 08/08 : “Theo thuật ngữ hải quan Hoa Kỳ, “trung chuyển” không chỉ đơn giản là dỡ hàng từ một phương tiện vận chuyển hay từ một hình thức vận chuyển này sang một phương tiện hoặc hình thức vận chuyển khác, mà chủ yếu là sự thay đổi nguồn gốc ở nước cuối cùng. Nói cách khác, nếu quyết định đánh thuế hàng “trung chuyển” được sử dụng để áp đặt một hàm lượng nội địa tối thiểu đáng kể, thì có nghĩa là để ngăn chặn nhập khẩu nguyên liệu từ các nước thứ ba, ý tôi muốn nói ở đây là Trung Quốc chẳng hạn. Đây có lẽ sẽ là một vấn đề lớn đối với phần lớn lĩnh vực sản xuất của Việt Nam (…) bởi vì hiện tại, Việt Nam không thể bảo đảm sản xuất được 100% hoặc 80% sản lượng nội địa, có thể là trừ sản xuất nông nghiệp”. Mục tiêu tăng trưởng 10% năm 2026 khó đạt được vì khó khăn toàn cầu Với tổng kim ngạch thương mại năm 2025 đạt 920 tỷ đô la, Việt Nam gia nhập nhóm 25 nền kinh tế thương mại lớn nhất thế giới. Sau mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) khoảng 8%, chính phủ đề ra mục tiêu tăng trưởng 10% cho năm 2026. Ông Hubert Testard, chuyên gia về châu Á, tổng biên tập báo mạng Asialyst, cho rằng “mục tiêu này lại quá lạc quan, rất tham vọng” : “Trước tiên là mức thuế quan trung bình 20% của Mỹ mà ai cũng biết, nhưng cũng phải kể đến nhiều mức thuế đặc biệt khác đối với ô tô, thép, nhôm. Gần đây, còn có một vấn đề khác đối với các nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam, với thông báo ngừng xuất khẩu một số mặt hàng vào năm 2026. Ngoài ra, bối cảnh chung ở một số nước khác cũng không đặc biệt hơn. Nghĩa là nhu cầu của Trung Quốc không mạnh lắm, châu Âu thì đang cố gắng hạn chế dòng hàng nhập khẩu từ châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc. Vì vậy, bối cảnh quốc tế sẽ kém thuận lợi hơn. Tất cả các tổ chức quốc tế đều dự đoán năm 2026 sẽ có mức tăng trưởng kém hơn một chút so với năm 2025”. Đọc thêm2026 : Bối cảnh quốc tế không thuận lợi cho mục tiêu tăng trưởng 10% của Việt Nam Mục tiêu tăng trưởng cũng có thể bị tác động vì thiệt hại do thiên tai, ô nhiễm môi trường. Theo Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, năm 2025 đã đi vào lịch sử thiên tai Việt Nam với những kỷ lục chưa từng có ; thiệt hại kinh tế lên tới hơn 100.000 tỷ đồng (gần 4 tỷ đô la) - lớn nhất từ trước tới nay. Theo Kế hoạch Ứng phó thiên tai chung năm 2025, được Liên Hiệp Quốc xây dựng trên cơ sở hợp tác giữa chính phủ Việt Nam và các đối tác trong nước, quốc tế, khoảng 96,2 triệu đô la được huy động để đáp ứng nhu cầu nhân đạo, hỗ trợ cho người dân bị ảnh hưởng, đồng thời xây dựng lộ trình hướng tới khả năng phục hồi và thích ứng với biến đổi khí hậu trong dài hạn. Giải quyết ô nhiễm môi trường : Vấn đề cấp bách Một vấn đề khác là tình trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam, khiến khoảng 70.000 người chết. Để giảm bớt “thành tích” nhiều lần đứng đầu danh sách “đô thị ô nhiễm nhất thế giới”, thành phố Hà Nội triển khai lộ trình cấm xe chạy xăng dầu, bắt đầu trong vành đai 1 (trung tâm) Hà Nội, kể từ ngày 01/07/2026. Song song với biện pháp triệt để này, nhà quy hoạch đô thị Basile Hassan, trưởng dự án Moov'Hanoi, Cơ quan hỗ trợ Hợp tác quốc tế Vùng Paris tại Việt Nam - PRX-Vietnam, cho rằng cần phát triển, nâng cấp hệ thống giao thông công cộng để người dân có nhiều lựa chọn : “Mạng lưới giao thông công cộng hiện tại không đáp ứng được nhu cầu của người dân. Hà Nội có tàu điện nhưng lại không đủ, thậm chí còn không đi đến trung tâm thành phố. Trong bối cảnh người dân chủ yếu sử dụng xe máy, rất cạnh tranh về mặt thời gian, đi từ điểm A đến điểm B mà không phải thay đổi phương tiện, cho nên giao thông công cộng có vẻ kém cạnh tranh hơn vì mất thời gian hơn so với xe máy, phải nối chuyến, phải đi đến các bến. Vì vậy về mặt thời gian và hiệu quả, phương tiện công cộng kém hấp dẫn hơn xe máy, được ưa chuộng ở Hà Nội”. Đọc thêm“Xanh hóa” giao thông Hà Nội: Cần bỏ ôtô cá nhân thể hiện “thành đạt” và kết nối hệ thống công cộng Việt Nam đón gần 22 triệu lượt du khách nước ngoài Cho dù trải qua một năm thiên tai, nhiều di tích, công trình bị ngập trong mưa lũ, Việt Nam ghi nhận số lượng du khách nước ngoài kỷ lục, gần 22 triệu lượt. Mục tiêu đặt ra cho năm 2026 là thu hút 25 triệu du khách quốc tế. Ngoài việc chú trọng vào dịch vụ chăm sóc khách hàng, chi phí không quá đắt, thì kéo dài thời gian miễn thị thực đối với nhiều nước được cho là một yếu tố quan trọng, theo giải thích với RFI Tiếng Việt của ông Nguyễn Xuân Hải, giám đốc của La Palanche Voyages : “Bây giờ khi được 45 ngày, có thể người ta đến Việt Nam chỉ 15 ngày thôi, nhưng người ta có thể tiến, lùi ngày để có được vé máy bay tốt hơn, phù hợp với khả năng chi trả của người ta hơn. Miễn visa 45 ngày là cả một bước đột phá lớn (...) Nay có đến 45 ngày miễn visa, giống như là chúng ta đang “thừa giấy vẽ voi”. Chúng tôi sẽ có thể vẽ ra những con voi rất sinh động, đưa được khách đến những vùng xa hơn, sâu hơn, đến những nơi mà theo chúng tôi còn nguyên bản hơn”. Đọc thêmDu lịch Việt Nam: Đà phục hồi bị ảnh hưởng bởi yếu tố kinh tế, địa chính trị
Năm 2025 khép lại với hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII ngày 22-23/12 và khả năng ông Tô Lâm tiếp tục làm tổng bí thư, theo nguồn tin của Reuters. Năm 2025 cũng đánh dấu nhiều kỷ lục về kim ngạch thương mại, số lượt du khách nước ngoài đến Việt Nam ; tăng trưởng “sáng nhất trong khu vực” Đông Nam Á, tinh gọn bộ máy hành chính. Bên cạnh đó là những thiệt hại khủng khiếp do thiên tai, ô nhiễm môi trường. RFI Tiếng Việt điểm lại một số sự kiện quan trọng tại Việt Nam năm 2025. Tổng bí thư tập trung quyền lực trong nước Tại hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, các đại biểu nhất trí ủng hộ những chính sách được tổng bí thư Tô Lâm thúc đẩy. Ông Tô Lâm trở thành người thi hành được nhanh chóng “cuộc cách mạng chống quan liêu” được ấp ủ từ lâu. Thành công này cũng cho thấy quyền lực cá nhân của ông Tô Lâm và những chiến lược tập trung quyền lực đằng sau, theo nhận định của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, khi trả lời RFI Tiếng Việt ngày 04/07/2025 : “(…) Nếu một cuộc cải cách đầy tham vọng như vậy được thực hiện bởi một người duy nhất thì đó là do ông ấy không cảm thấy bị bất kỳ ai đe dọa và điều này nằm trong quyền lực to lớn của ông trong bộ máy chính trị Việt Nam. Vào đúng năm trước Đại hội Đảng, với cuộc tinh giản bộ máy hành chính ở cấp địa phương, nhưng cũng có thể nói là ở cấp trung ương, ở cấp bộ, không ai chắc chắn là giữ được vị trí của mình, kể cả trong Ban Chấp hành Trung ương. Số người may mắn được chọn sẽ ít hơn vào năm 2026. Có thể nói chiến dịch kiểm soát khổng lồ này thậm chí còn hiệu quả hơn các chiến dịch chống tham nhũng thông thường. Bởi vì chúng khiến mọi người run sợ, ai cũng muốn giữ lấy chỗ và có thể theo đuổi sự nghiệp trong một bộ máy hành chính bị thu hẹp lại”. Đọc thêmSáp nhập tỉnh, thành 2025 : Chiến lược tập quyền và thành công cá nhân của TBT Tô Lâm Mở rộng vai trò của tổng bí thư trên trường quốc tế Trong hơn một năm giữ chức tổng bí thư, ông Tô Lâm có lẽ là lãnh đạo đảng công du nước ngoài nhiều nhất, thăm hơn 20 nước, ký nhiều thỏa thuận nâng cấp quan hệ đối tác. Tổng bí thư không chỉ còn muốn đứng đầu đảng, giữ vai trò về tư tưởng, mà là một nhà lãnh đạo cao nhất. Và ông Tô Lâm đang làm cho các đối tác phương Tây quen dần với hình ảnh này, theo nhận định của tiến sĩ Vũ Khang, Đại học Boston, Mỹ : “Việt Nam đã đặt các đối tác phương Tây vào vị trí phải công nhận tính chính danh và sự ngang hàng của vị trí tổng bí thư với các vị trí nguyên thủ quốc gia qua các cuộc gặp cấp cao. Đây cũng là một di sản của cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi ông đã thành công bắt Mỹ phải công nhận tổng bí thư là ngang hàng với chức tổng thống Mỹ. Điều này chứng tỏ đây là một chính sách đường dài chứ không phải ngắn hạn cho kỳ Đại hội Đảng sắp tới, và dù ai ở vị trí tổng bí thư đi chăng nữa thì cũng sẽ được kế thừa di sản này”. Đọc thêmNâng cấp đối tác chiến lược toàn diện với Pháp, chủ tịch Tô Lâm muốn thể hiện năng lực ngoại giao, ổn định chính trị Việt Nam Mối quan hệ đặc biệt với Pháp được thể hiện qua chuyến công du Hà Nội của tổng thống Emmanuel Macron. Với 14 thỏa thuận trị giá 9 tỷ euro, Pháp muốn hiện diện mạnh mẽ tại Việt Nam, kể cả trong lĩnh vực quốc phòng. Giáo sư Pierre Journoud, Đại học Paul Valery - Montpellier 3, đánh giá : “Có thể nói ngắn gọn rằng bối cảnh hiện nay thuận lợi cho việc Việt Nam và Pháp xích lại gần hơn trong lĩnh vực quốc phòng. Pháp là nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ hai thế giới vào năm 2024, cho nên có một số tham vọng chính đáng ở khu vực Đông Nam Á. Còn Việt Nam đã tổ chức triển lãm quốc phòng quốc tế lần thứ hai tại Hà Nội vào tháng 12/2024. Việt Nam bắt đầu đa dạng hóa việc mua vũ khí và trang thiết bị quân sự để bù đắp cho những thiếu hụt thực sự, hoặc được cho là như vậy, của nhà cung cấp Nga, vốn chiếm ưu thế ở Việt Nam”. Kim ngạch thương mại lập kỷ lục, bất chấp thuế đối ứng của Mỹ Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam lập kỷ lục, đạt 920 tỷ đô la, tăng 16,9% so với năm 2024, theo Tổng Cục Hải quan. Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp hàng hóa lớn nhất cho Việt Nam, đạt kim ngạch 183 tỷ đô la. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, đạt mốc kỷ lục gần 152 tỷ đô la, bất chấp các biện pháp thuế đối ứng (20%) của tổng thống Donald Trump. Tuy vậy, trả lời RFI Tiếng Việt, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng mức thuế 20% vẫn bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, so với một số nước khác được mức thuế 19% hoặc 15% : “Theo tôi, những mặt hàng bị tác động bao gồm may mặc, da giày, kể cả một số mặt hàng đồ gỗ. Nếu như tình hình tiếp tục như thế này, các nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ phải tìm cách đa dạng hóa các thị trường và tìm các biện pháp để có thể tiếp tục duy trì sản xuất và xuất khẩu và tìm cách né tránh thuế 20% này. Hiện nay Việt Nam đang cố gắng tìm cách mở rộng thị trường ở Trung Đông và tìm kiếm những thị trường ở châu Phi, đồng thời muốn phát triển những thị trường khác tuy nhỏ nhưng hy vọng là sẽ vẫn có thể đón nhận được hàng hóa của Việt Nam một cách thuận lợi”. Đọc thêmViệt Nam: Thuế "trung chuyển" của Mỹ gây khó khăn cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Thặng dự thương mại (đạt 21,2 tỷ đô la) chủ yếu đến từ khối đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với 48,2 tỷ đô la bởi vì các doanh nghiệp trong nước thâm hụt thương mại hơn 27 tỷ đô la. Mức thuế 20% có thể khả thi cho hoạt động xuất khẩu của các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, thuế “trung chuyển” (transshipment) lên tới 40% mới là vấn đề khó khăn. Ông Jean-Jacques Bouflet, phó chủ tịch Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam - EuroCham, giải thích với RFI Tiếng Việt ngày 08/08 : “Theo thuật ngữ hải quan Hoa Kỳ, “trung chuyển” không chỉ đơn giản là dỡ hàng từ một phương tiện vận chuyển hay từ một hình thức vận chuyển này sang một phương tiện hoặc hình thức vận chuyển khác, mà chủ yếu là sự thay đổi nguồn gốc ở nước cuối cùng. Nói cách khác, nếu quyết định đánh thuế hàng “trung chuyển” được sử dụng để áp đặt một hàm lượng nội địa tối thiểu đáng kể, thì có nghĩa là để ngăn chặn nhập khẩu nguyên liệu từ các nước thứ ba, ý tôi muốn nói ở đây là Trung Quốc chẳng hạn. Đây có lẽ sẽ là một vấn đề lớn đối với phần lớn lĩnh vực sản xuất của Việt Nam (…) bởi vì hiện tại, Việt Nam không thể bảo đảm sản xuất được 100% hoặc 80% sản lượng nội địa, có thể là trừ sản xuất nông nghiệp”. Mục tiêu tăng trưởng 10% năm 2026 khó đạt được vì khó khăn toàn cầu Với tổng kim ngạch thương mại năm 2025 đạt 920 tỷ đô la, Việt Nam gia nhập nhóm 25 nền kinh tế thương mại lớn nhất thế giới. Sau mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) khoảng 8%, chính phủ đề ra mục tiêu tăng trưởng 10% cho năm 2026. Ông Hubert Testard, chuyên gia về châu Á, tổng biên tập báo mạng Asialyst, cho rằng “mục tiêu này lại quá lạc quan, rất tham vọng” : “Trước tiên là mức thuế quan trung bình 20% của Mỹ mà ai cũng biết, nhưng cũng phải kể đến nhiều mức thuế đặc biệt khác đối với ô tô, thép, nhôm. Gần đây, còn có một vấn đề khác đối với các nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam, với thông báo ngừng xuất khẩu một số mặt hàng vào năm 2026. Ngoài ra, bối cảnh chung ở một số nước khác cũng không đặc biệt hơn. Nghĩa là nhu cầu của Trung Quốc không mạnh lắm, châu Âu thì đang cố gắng hạn chế dòng hàng nhập khẩu từ châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc. Vì vậy, bối cảnh quốc tế sẽ kém thuận lợi hơn. Tất cả các tổ chức quốc tế đều dự đoán năm 2026 sẽ có mức tăng trưởng kém hơn một chút so với năm 2025”. Đọc thêm2026 : Bối cảnh quốc tế không thuận lợi cho mục tiêu tăng trưởng 10% của Việt Nam Mục tiêu tăng trưởng cũng có thể bị tác động vì thiệt hại do thiên tai, ô nhiễm môi trường. Theo Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, năm 2025 đã đi vào lịch sử thiên tai Việt Nam với những kỷ lục chưa từng có ; thiệt hại kinh tế lên tới hơn 100.000 tỷ đồng (gần 4 tỷ đô la) - lớn nhất từ trước tới nay. Theo Kế hoạch Ứng phó thiên tai chung năm 2025, được Liên Hiệp Quốc xây dựng trên cơ sở hợp tác giữa chính phủ Việt Nam và các đối tác trong nước, quốc tế, khoảng 96,2 triệu đô la được huy động để đáp ứng nhu cầu nhân đạo, hỗ trợ cho người dân bị ảnh hưởng, đồng thời xây dựng lộ trình hướng tới khả năng phục hồi và thích ứng với biến đổi khí hậu trong dài hạn. Giải quyết ô nhiễm môi trường : Vấn đề cấp bách Một vấn đề khác là tình trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam, khiến khoảng 70.000 người chết. Để giảm bớt “thành tích” nhiều lần đứng đầu danh sách “đô thị ô nhiễm nhất thế giới”, thành phố Hà Nội triển khai lộ trình cấm xe chạy xăng dầu, bắt đầu trong vành đai 1 (trung tâm) Hà Nội, kể từ ngày 01/07/2026. Song song với biện pháp triệt để này, nhà quy hoạch đô thị Basile Hassan, trưởng dự án Moov'Hanoi, Cơ quan hỗ trợ Hợp tác quốc tế Vùng Paris tại Việt Nam - PRX-Vietnam, cho rằng cần phát triển, nâng cấp hệ thống giao thông công cộng để người dân có nhiều lựa chọn : “Mạng lưới giao thông công cộng hiện tại không đáp ứng được nhu cầu của người dân. Hà Nội có tàu điện nhưng lại không đủ, thậm chí còn không đi đến trung tâm thành phố. Trong bối cảnh người dân chủ yếu sử dụng xe máy, rất cạnh tranh về mặt thời gian, đi từ điểm A đến điểm B mà không phải thay đổi phương tiện, cho nên giao thông công cộng có vẻ kém cạnh tranh hơn vì mất thời gian hơn so với xe máy, phải nối chuyến, phải đi đến các bến. Vì vậy về mặt thời gian và hiệu quả, phương tiện công cộng kém hấp dẫn hơn xe máy, được ưa chuộng ở Hà Nội”. Đọc thêm“Xanh hóa” giao thông Hà Nội: Cần bỏ ôtô cá nhân thể hiện “thành đạt” và kết nối hệ thống công cộng Việt Nam đón gần 22 triệu lượt du khách nước ngoài Cho dù trải qua một năm thiên tai, nhiều di tích, công trình bị ngập trong mưa lũ, Việt Nam ghi nhận số lượng du khách nước ngoài kỷ lục, gần 22 triệu lượt. Mục tiêu đặt ra cho năm 2026 là thu hút 25 triệu du khách quốc tế. Ngoài việc chú trọng vào dịch vụ chăm sóc khách hàng, chi phí không quá đắt, thì kéo dài thời gian miễn thị thực đối với nhiều nước được cho là một yếu tố quan trọng, theo giải thích với RFI Tiếng Việt của ông Nguyễn Xuân Hải, giám đốc của La Palanche Voyages : “Bây giờ khi được 45 ngày, có thể người ta đến Việt Nam chỉ 15 ngày thôi, nhưng người ta có thể tiến, lùi ngày để có được vé máy bay tốt hơn, phù hợp với khả năng chi trả của người ta hơn. Miễn visa 45 ngày là cả một bước đột phá lớn (...) Nay có đến 45 ngày miễn visa, giống như là chúng ta đang “thừa giấy vẽ voi”. Chúng tôi sẽ có thể vẽ ra những con voi rất sinh động, đưa được khách đến những vùng xa hơn, sâu hơn, đến những nơi mà theo chúng tôi còn nguyên bản hơn”. Đọc thêmDu lịch Việt Nam: Đà phục hồi bị ảnh hưởng bởi yếu tố kinh tế, địa chính trị
Nói lắp ở trẻ khiến nhiều ba mẹ lo lắng vì ảnh hưởng đến giao tiếp, sự tự tin và khả năng kết bạn của con. Trong tập podcast này, Mẹ Việt giúp ba mẹ hiểu đúng về nói lắp, phân biệt giai đoạn sinh lý bình thường và những trường hợp cần can thiệp sớm. Podcast chia sẻ các nguyên nhân trẻ nói lắp, những sai lầm thường gặp khiến con lắp nhiều hơn, cùng phương pháp hỗ trợ khoa học giúp trẻ nói trôi chảy mà không tạo áp lực. Nếu ba mẹ đang tìm hướng đồng hành đúng cách để giúp con tự tin giao tiếp, đừng bỏ lỡ tập podcast này.
VOV1 - Một điểm nhấn đặc biệt của chương trình “Hành trình bất tử-từ ký ức đến khát vọng” là hoạt động trao tặng 300 bức ảnh liệt sĩ đã được phục dựng cho các gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng và Mẹ Việt Nam Anh hùng.Ảnh: Trao tặng ảnh liệt sĩ được phục dựng cho các gia đình liệt sĩ
“Washington muốn hợp tác chặt chẽ hơn với Việt Nam về mặt quân sự”. Mối quan hệ này được thể hiện qua việc Mỹ chuyển giao ba tàu tuần tra cho Cảnh sát biển Việt Nam (1), năm máy bay huấn luyện T-6C trên tổng số 12 chiếc (2). Một cột mốc quan trọng khác là chuyến công du Hà Nội của bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ Pete Hegseth đầu tháng 11/2025. Ông khẳng định “Hoa Kỳ quyết tâm theo đuổi những dự án này và nhiều dự án khác”. Việt Nam giữ vai trò như thế nào trong chiến lược quốc phòng vừa được tổng thống Trump điều chỉnh ngày 05/12, theo đó Trung Quốc vẫn là đối thủ “hàng đầu” của Mỹ ? Liệu Hà Nội có thể tăng cường mối quan hệ quân sự với Washington mà vẫn không tách rời Matxcơva ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon tại Viện Đông Á (Institut d'Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. RFI : Việt Nam nằm trong số các điểm dừng chân trong chuyến công du châu Á của bộ trưởng Chiến tranh Hoa Kỳ Pete Hegseth tháng 11/2025. Chuyến thăm này diễn ra trong bối cảnh nào ? Laurent Gédéon : Trước hết, cần lưu ý rằng ông Pete Hegseth được coi là một đồng minh thân cận của tổng thống Donald Trump và được biết là người có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc. Ngày 03/11, ông Hegseth kết thúc chuyến thăm Việt Nam kéo dài hai ngày, gặp bộ trưởng Quốc Phòng Phan Văn Giang và cam kết tăng cường quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Chuyến thăm này trùng với kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao song phương và hai năm nâng cấp lên thành Đối tác Chiến lược Toàn diện - cấp ngoại giao cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này diễn ra trong bối cảnh ngoại giao tế nhị, được đánh dấu bằng chuyến công du Bắc Triều Tiên của tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm ngày 09/10, dự lễ duyệt binh tại Bình Nhưỡng để kỷ niệm 80 năm thành lập đảng Lao Động Triều Tiên. Dĩ nhiên là chuyến công du đầu tiên của một quan chức cấp cao Việt Nam từ năm 2007 cũng được theo dõi sát sao ở Washington. Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư Tô Lâm thăm Bắc Triều Tiên, dự lễ 80 năm thành lập đảng Lao Động Việc tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam thăm Bình Nhưỡng có thể được phân tích trên hai cấp độ. Thứ nhất là thể hiện mong muốn của Hà Nội trong việc khôi phục quan hệ với Bình Nhưỡng bị đình trệ vì đại dịch Covid-19, Bắc Triều Tiên gần như đóng cửa hoàn toàn biên giới với du khách nước ngoài. Mặt khác, điều này có thể liên quan đến môi trường địa-chiến lược nhạy cảm ở Đông Nam Á, đặc biệt là liên quan đến Trung Quốc, cũng như sự bất cân xứng quân sự đặc trưng trong mối quan hệ Việt-Trung. Trong bối cảnh này, Hà Nội quan tâm đến các phương pháp hiện đại hóa hệ thống vũ khí Liên Xô do Bắc Triều Tiên phát triển, đặc biệt là không quân, bởi vì Việt Nam cũng được trang bị vũ khí hạng nặng từ Nga hoặc Liên Xô cũ. Mối quan tâm này có thể giải thích sự hiện diện của bộ trưởng Phan Văn Giang. Giả thuyết này càng được củng cố qua việc hai bên đã ký một thỏa thuận hợp tác quốc phòng song phương. Bên cạnh hai yếu tố này, Việt Nam cũng đang định hình là một trung gian tiềm năng nếu đối thoại giữa Mỹ và Bắc Triều Tiên được nối lại, như trường hợp hồi tháng 02/2019. Lập trường này sẽ giúp Hà Nội có được lợi thế ngoại giao quý giá đối với Washington, đặc biệt là trong giai đoạn quan hệ kinh tế song phương nhạy cảm. Chuyến thăm của bộ trưởng Pete Hegseth, diễn ra trong bối cảnh phức tạp như đã nói ở trên, còn được đánh dấu bởi mong muốn của Hà Nội trong việc tìm kiếm sự cân bằng giữa hợp tác với các bên liên quan trong khu vực, tìm kiếm ảnh hưởng của Mỹ làm đối trọng với Trung Quốc, và duy trì khoảng cách tương đối với Washington mà không cắt đứt quan hệ với Mỹ. RFI : Hoa Kỳ đã tạm dừng viện trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế USAID trên thế giới, yêu cầu các đối tác và đồng minh chi tiêu nhiều hơn cho an ninh của họ. Ngược lại, Washington lại công bố khoản tài trợ mới 130 triệu đô la cho dự án xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa, nâng tổng số viện trợ không hoàn lại lên 430 triệu đô la. Đâu là lý do có thể giải thích cho quyết định này ? Laurent Gédéon : Thông qua quyết định này có thể thấy kết quả của sự hợp tác về các vấn đề hậu chiến, vốn là nền tảng chính trị và biểu tượng thiết yếu trong quan hệ Việt-Mỹ. Năm 1995 khi bình thường hóa quan hệ, hai nước hợp tác trong việc rà phá bom mìn, tìm kiếm hài cốt quân nhân mất tích và tẩy sạch chất dioxin tại các căn cứ không quân cũ bị nhiễm của Mỹ. Vết tích chiến tranh vẫn in hằn đối với cả người Mỹ và người Việt Nam. Việc nêu bật hậu quả về con người và môi trường của các vụ ném bom của quân đội Mỹ ở Việt Nam đã nâng cao nhận thức tại Hoa Kỳ và thúc đẩy mong muốn giải quyết cuộc xung đột này. Bối cảnh này là một trong những yếu tố giải thích cho quyết định tài trợ của Washington. Đọc thêmMỹ - Việt Nam tăng cường hợp tác quân sự Ngoài ra, còn có một lý do khác liên quan đến mong muốn của Washington trong việc thúc đẩy bất cứ việc gì có thể giúp hai nước xích lại gần nhau về mặt chiến lược, cho dù chi phí không phải là nhỏ. Theo quan điểm của các chiến lược gia Mỹ, một Việt Nam trung lập nhưng hòa giải đối với Mỹ, hoặc thậm chí là một Việt Nam đồng minh, là một mục tiêu đặc biệt quan trọng, bởi vì sẽ giúp kiềm chế Trung Quốc. Đây chắc chắn là một trong những lý do cho sáng kiến của Mỹ. RFI : Liệu sự hợp tác về di sản chiến tranh có tạo nền tảng cho mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước sâu sắc hơn không ? Việt Nam có thể vận dụng sự hợp tác này như thế nào để phát triển quan hệ với một cựu thù ? Laurent Gédéon : Hợp tác về di sản chiến tranh chắc chắn rất quan trọng để củng cố quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Việc này cũng mang ý nghĩa chính trị nội bộ ở Việt Nam. Tại một đất nước mà cuộc chiến vẫn giữ ý nghĩa biểu tượng rất quan trọng đối với người dân, kể cả các thế hệ về sau, sự hợp tác về di sản chiến tranh này mang lại cho chính quyền tính chính danh chính trị cần thiết trong nỗ lực phát triển quan hệ với cựu thù. Tuy nhiên, sự hợp tác này không phải là động lực duy nhất thúc đẩy mối quan hệ Việt-Mỹ. Ngoài di sản chung của chiến tranh, mối quan hệ đó còn được thúc đẩy bởi thực tế cụ thể của bối cảnh địa-chiến lược hiện tại trong khu vực, được đánh dấu bằng sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chỉ riêng thực tế này cũng rất thuận lợi cho việc thúc đẩy các cuộc đàm phán giữa hai nước. Đọc thêmHoa Kỳ muốn hợp tác giúp Việt Nam có đủ vũ khí để tự vệ Các cuộc đàm về việc mua 24 chiến đấu cơ F-16, được tiết lộ ngày 22/04, cũng phải được đặt trong bối cảnh này. Mặc dù khởi đầu đầy hứa hẹn nhưng thỏa thuận lại không tiến triển trong chuyến thăm Hà Nội của bộ trưởng Pete Hegseth. Tuy nhiên, thất bại này không liên quan - hoặc chỉ liên quan tối thiểu - đến vấn đề ký ức lịch sử và di sản chiến tranh như vừa đề cập ở trên. Đó là lý do tại sao tôi nói rằng còn có những yếu tố tác động khác. Thật vậy, cần phải nói là song song với đàm phán Việt-Mỹ, nhiều cuộc đàm phán khác cũng diễn ra giữa Hà Nội và Matxcơva để Việt Nam mua chiến đấu cơ của Nga. Báo New York Times đưa tin vào ngày 27/10 rằng Hà Nội đã đặt mua vũ khí Nga trị giá 8 tỷ đô la, trong đó có 40 chiến đấu cơ Su-35 và Su-30. Nếu được xác nhận, hợp đồng này chứng minh hai điều : Thứ nhất, sự xích lại gần nhau ngày càng sâu sắc giữa Hà Nội và Matxcơva, và thứ hai, những thắc mắc của Việt Nam liên quan đến mức độ tin cậy lâu dài của Mỹ. Tuy nhiên, vì Washington hiểu rằng Việt Nam đã tăng cường quân sự đáng kể trong những năm gần đây, với ngân sách quốc phòng hiện chiếm gần 2% GDP, cho nên rất có thể Mỹ sẽ tiếp tục nỗ lực xích lại gần hơn bằng cách dựa vào những nền tảng được đặt ra trong hợp tác song phương về di sản chiến tranh, cũng như những chương trình hợp tác khác. RFI : Trong cuộc đối thoại ngày 02/11, bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam cũng bày tỏ mong muốn Mỹ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực quốc phòng và chia sẻ kinh nghiệm về an ninh mạng. Đâu là mục đích của Việt Nam trong việc này ? Laurent Gédéon : Đây là điểm đáng chú ý, bởi vì từ một năm nay, Việt Nam giữ vị thế nổi bật trong lĩnh vực an ninh mạng. Ngày 24/12/2024, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chính thức thông qua Công ước Liên Hiệp Quốc về Chống Tội phạm Mạng và chỉ định Hà Nội là địa điểm tổ chức ký kết. Lễ mở ký Công ước Hà Nội được tổ chức ngày 25 và 26/10/2025. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hợp tác quốc tế về an ninh mạng, đồng thời phản ánh tầm quan trọng đặc biệt cho ngành ngoại giao Việt Nam. Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, thiệt hại kinh tế hàng năm trên quy mô toàn cầu do tội phạm mạng dự kiến vượt quá 10.000 tỷ đô la Mỹ vào năm 2025, với hàng triệu cuộc tấn công mạng xảy ra mỗi ngày. Đọc thêmHơn 60 nước ký kết Công ước chống Tội phạm Mạng tại Hà Nội, nhiều tập đoàn kỹ thuật số tẩy chay Tại Việt Nam, cũng như nhiều nơi khác trên thế giới, tội phạm mạng ngày càng gia tăng về quy mô và tính chất phức tạp về bản chất, cũng như tác động. Theo thiếu tướng Lê Xuân Minh, cục trưởng Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm mạng, bộ Công An, năm 2024 đã xảy ra hơn 100.000 sự cố an ninh mạng. Tội phạm mạng chuyển hướng từ các cuộc tấn công đơn lẻ, quy mô nhỏ sang hoạt động xuyên quốc gia được tổ chức bài bản, nhắm vào các hệ thống quốc gia trọng yếu và các doanh nghiệp kinh tế lớn. Đầu tháng 12/2025, bộ Công An cũng đã cảnh báo về sự gia tăng nhanh chóng của các video và hình ảnh được AI tạo ra sau trận lũ lụt ở miền Trung Việt Nam một tuần trước đó. Rõ ràng đây là vấn đề dân sự. Nhưng vì có tính chất hỗn hợp, những vấn đề này thường đan xen giữa lĩnh vực dân sự và quân sự, hoặc thậm chí là an ninh dân sự và quốc phòng. Trong bối cảnh đó, Hoa Kỳ - quốc gia sở hữu một trong những chuyên môn hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này - rõ ràng có thể hỗ trợ Việt Nam, nếu Hà Nội yêu cầu, dưới hình thức đào tạo chuyên gia, cung cấp chuyên gia, chia sẻ dữ liệu số, xây dựng năng lực, thậm chí là hội nhập vào các mạng lưới quốc tế. Tuy nhiên, để đi xa hơn trong quá trình hợp tác này, ví dụ, liên quan đến việc chia sẻ kinh nghiệm từ xung đột Ukraina, có lẽ Việt Nam sẽ phải thay đổi triệt để các ưu tiên chiến lược và ngoại giao, trong đó có việc Hà Nội có thể sẽ phải tách khỏi Matxcơva và xích lại gần Washington, điều này sẽ đưa Việt Nam vào quỹ đạo đồng minh hoặc bán đồng minh của Mỹ. Nhưng đó sẽ là sự thay đổi mô hình mà Hà Nội có lẽ chưa sẵn sàng vào thời điểm này, cho dù được Washington khuyến khích. Do đó, hợp tác Mỹ-Việt trong lĩnh vực an ninh mạng nhiều khả năng sẽ vẫn ở mức độ hạn chế. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. (1) Hoa Kỳ mở rộng hợp tác quốc phòng Hoa Kỳ - Việt Nam với việc bàn giao máy bay huấn luyện T-6C (2) Hoa Kỳ chuyển giao tàu tuần tra thứ ba cho Cảnh sát Biển Việt Nam nhân kỉ niệm 30 năm quan hệ ngoại giao
Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng năm 2026 đạt 10% trở lên “để tạo đà, tạo lực, tạo thế cho tăng trưởng hai con số trong những năm tiếp theo, GDP đầu người đạt 5.500 đô la” (1). Đây là hai trong số 15 chỉ tiêu về kinh tế-xã hội trong kế hoạch dự kiến năm 2026 để đạt hai mục tiêu 100 năm đã đề ra : Đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Ngày 19/10/2025, thủ tướng Phạm Minh Chính thừa nhận mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số những năm tới là không dễ đạt được, nhưng không thể không làm. Chính phủ duy trì mức tăng trưởng 8% cho năm 2025 (thấp hơn so với dự báo hồi đầu năm) nhờ vào việc “nền kinh tế Việt Nam đã chứng minh được khả năng phục hồi bất chấp những cú sốc bên ngoài”. Tuy nhiên, các định chế tài chính, ngân hàng quốc tế đưa ra mức thẩm định thấp hơn : từ 6,5% đến 6,7%. Chính phủ xác định phải thay đổi mô hình kinh tế, hiện vẫn dựa vào gia công, nhập khẩu và mô hình tăng trưởng, chủ yếu đến từ vốn, lao động (2). Tuy nhiên, những thay đổi này liệu có thể mang lại kết quả ngay năm 2026 để góp phần cho mục tiêu tăng trưởng 10% ? Tăng trưởng của Việt Nam vẫn phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu, đặc biệt là thị trường Mỹ, mức thuế hải quan 20% áp dụng đối với hàng hóa của Việt Nam, cũng như những xáo trộn trên thế giới do thuế đối ứng của Mỹ, sẽ tiếp tục tác động như thế nào đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam năm 2026 ? Ông Hubert Testard, chuyên gia về châu Á và các thách thức kinh tế quốc tế, tổng biên tập báo mạng Asialyst chuyên về châu Á, chia sẻ một số nhận định với RFI Tiếng Việt. RFI : Chính phủ Việt Nam đưa ra dự báo tăng trưởng GDP năm 2025 là 8%. Vào tháng 9, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đưa ra dự báo là khoảng 6,7%, còn Ngân hàng Thế giới là 6,6%, Quỹ Tiền tệ Quốc tế là 6,5%. Có thể thấy sự khác biệt rất rõ giữa những mức dự báo này. Liệu chúng ta có thể lạc quan về dự báo được chính phủ Việt Nam đưa ra không ? Hubert Testard : Đúng là có sự khác biệt giữa dự báo chính thức của chính phủ Việt Nam, khá là lạc quan cho năm 2025, và dự báo của các tổ chức quốc tế. Sự khác biệt này có thể là do những gì xuất hiện trong báo cáo của các tổ chức quốc tế thường dựa trên dữ liệu chậm hơn ngày công bố từ một đến hai tháng. Ví dụ, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế - IMF vừa công bố báo cáo thường niên vào ngày 15/10, nhưng dữ liệu đối với Việt Nam có lẽ là những dữ liệu dừng lại vào cuối tháng 8. Vấn đề ở chỗ là Việt Nam đã ghi nhận kết quả quý III rất tốt, với mức tăng trưởng hơn 8% một chút. Và đó là lý do khiến chính phủ Việt Nam lạc quan về tăng trưởng cả năm. Nhưng chúng ta biết rằng quý IV sẽ ít khả quan hơn vì áp lực từ thuế quan của Mỹ. Xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong quý I đã rất tốt vì các nhà xuất khẩu lường trước được những vấn đề này và do đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đã tăng gần 30% trong nửa đầu năm. Nhưng rõ ràng, giờ đây mọi chuyện không thể như cũ được nữa và sẽ có tác động trong quý IV. Đọc thêmMỹ-Việt công bố tuyên bố chung về thỏa thuận khung thương mại, Hà Nội vẫn chịu mức thuế quan 20% Nhưng vì kết quả quý III rất tốt, tôi nghĩ rằng nhìn chung, kết quả cả năm sẽ không chênh lệch quá nhiều so với dự báo của chính phủ. Tôi nghĩ con số này sẽ tốt hơn so với những gì Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế hoặc Ngân Hàng Thế Giới dự báo trong số liệu chính thức hiện nay của họ. Theo tôi, kết quả sẽ đạt trên 7% trong năm nay. RFI : Ngày 20/10, thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh “kinh tế Việt Nam khẳng định đủ sức chống chịu trước các cú sốc bên ngoài, tăng trưởng cao hàng đầu thế giới”. Liệu điều này có thể giúp đạt được mục tiêu tăng trưởng 10% cho năm 2026 ? Hubert Testard : Mức 10% vào năm 2026, trái lại, lại quá lạc quan, rất tham vọng. Và theo tôi, có lẽ không thể đạt được đối với Việt Nam, bởi vì bối cảnh quốc tế trong năm 2026 sẽ bớt thuận lợi hơn nhiều. Trước tiên là mức thuế quan trung bình 20% của Mỹ mà ai cũng biết, nhưng cũng phải kể đến nhiều mức thuế đặc biệt khác đối với ô tô, thép, nhôm. Gần đây, còn có một vấn đề khác đối với các nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam, với thông báo ngừng xuất khẩu một số mặt hàng vào năm 2026. Tất cả những điểm này sẽ có tác động nhất định. Ngoài ra, bối cảnh chung ở một số nước khác cũng không đặc biệt hơn. Nghĩa là, nhu cầu của Trung Quốc không mạnh lắm, châu Âu đang cố gắng hạn chế dòng hàng nhập khẩu từ châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc. Vì vậy, bối cảnh quốc tế sẽ kém thuận lợi hơn. Tất cả các tổ chức quốc tế đều dự đoán năm 2026 sẽ có mức tăng trưởng kém hơn một chút so với năm 2025. Vì vậy, việc đạt được 10% trong bối cảnh này, đối với tôi, là không được khả thi lắm. RFI : Ông vừa nhắc đến mức thuế 20% của Mỹ, khả năng thủy sản Việt Nam không được xuất khẩu sang Mỹ năm 2026… những biện pháp này có tác động đến GDP của Việt Nam không trong khi năm 2024, xuất khẩu sang Hoa Kỳ chiếm khoảng 30% GDP của Việt Nam ? Hubert Testard : Có, chắc chắn là có. Đã có những đánh giá về tác động này, nhưng chúng ta hãy chờ xem tác động thực sự như thế nào. Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc tế - IMF, tác động của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch của Mỹ gây thiệt hại ít nhất là khoảng 0,5 đến 0,7% GDP cho Việt Nam. Đó là một cú sốc đáng kể và có thể bù đắp được nếu Việt Nam thúc đẩy nhiều hơn nhu cầu nội địa và đa dạng hóa trao đổi thương mại quốc tế. Tuy nhiên, đây vẫn là một cú sốc tiềm tàng khá mạnh. Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) cũng ước tính xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ có thể giảm 20%. Tôi thấy con số này hơi quá. Nhưng rõ ràng là vẫn sẽ có một cú sốc rất lớn, cho nên Việt Nam sẽ phải bù đắp cú sốc này bằng nhiều biện pháp khác nhau trên thị trường nội địa cũng như đa dạng hóa trao đổi thương mại. Đọc thêmViệt Nam : “Bạn” hay “thù” trong chính sách đánh thuế của Trump ? RFI : Mô hình tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, đầu tư công và xuất khẩu, chủ yếu từ các nhà đầu tư nước ngoài. Liệu mô hình này có còn phù hợp trong tương lai ? Hubert Testard : Rõ ràng là phải thay đổi mô hình này. Đó là điều mà Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OCDE) khuyến nghị trong báo cáo tháng 06/2025 về Việt Nam. Tổ chức này đưa ra một loạt đề xuất để mô hình tăng trưởng của Việt Nam tiến triển. Tôi nghĩ là trong bối cảnh nhu cầu quốc tế sẽ phức tạp, Việt Nam cần phát triển nhu cầu nội địa nhiều hơn hiện tại. Dù sao vẫn có một số điểm tích cực, ví dụ như tiền lương ở Việt Nam đang tăng nhanh hơn so với các nước ASEAN khác. Và đó là một cách tốt để hỗ trợ nhu cầu nội địa. Nhưng vẫn còn nhiều vấn đề khác, ví dụ, chi tiêu về xã hội rõ ràng là không đủ, đặc biệt là cho người cao tuổi. Cho nên lương hưu, đặc biệt là lương hưu tối thiểu, là một vấn đề. Ngoài ra, chi tiêu cho giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, cũng không đủ. Chúng ta biết rằng kinh phí mà thanh niên Việt Nam phải trả để học đại học là quá cao, và khiến một bộ phận người trẻ không muốn hoặc không thể theo học. Đó là điều cần phải thay đổi bởi vì Việt Nam ngày càng cần một lực lượng lao động được đào tạo bài bản và có trình độ để đạt được tăng trưởng hiệu quả hơn và hướng tới các công nghệ khác. Đọc thêmĐể duy trì tăng trưởng cao, Việt Nam buộc phải thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân Ngoài ra, còn có một vấn đề tiềm ẩn khác đang bắt đầu nổi lên, đó là tình trạng lão hóa dân số. Hiện nay, những người trên 65 tuổi chiếm 15% dân số Việt Nam, còn khá thấp so với các quốc gia khác. Tuy nhiên, điều này sẽ thay đổi rất nhanh chóng và sẽ đạt hơn 30% vào năm 2050, đồng nghĩa với việc chi tiêu xã hội cho y tế và hưu trí sẽ tăng đáng kể. Như vậy, chính phủ cần tìm cách tài trợ cho chi tiêu xã hội và làm thay đổi phát triển mô hình xã hội Việt Nam. RFI : Gần đây thiệt hại do thiên tai gây ra ở Việt Nam cũng được đề cập. Theo đánh giá sơ bộ, thiệt hại này chiếm khoảng 2% GDP. Liệu đây có phải là một tác động cần được xem xét cho tăng trưởng ở Việt Nam ? Hubert Testard : Như chúng ta đã biết, biến đổi khí hậu vẫn đang tiếp tục gây ra những tác động, và Việt Nam nằm trong số những nước bị tác động nặng. Chị nhắc đến khoảng 2%, nhưng có khả năng con số này sẽ tăng lên trong những năm tới. Điều đó có nghĩa là, chúng ta không nên kỳ vọng vào việc các cú sốc khí hậu sẽ giảm đi, mà ngược lại sẽ gia tăng. Vì vậy, ở điểm này, Việt Nam cần đầu tư nhiều hơn để có thể ứng phó với những cú sốc trong tương lai. Ngoài ra còn có một khía cạnh khác, đó là quá trình chuyển đổi năng lượng của Việt Nam nhằm giảm phát khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Đây cũng là một dự án đầu tư lớn được tiến hành tại Việt Nam. Có thể thấy là có nhiều dự án đã được khởi động, mọi việc tiến triển, nhưng vẫn còn rất xa mục tiêu được đặt ra cho năm 2050. Cho nên chính phủ Việt Nam vẫn còn rất nhiều việc phải làm. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn chuyên gia Hubert Testard, tổng biên tập báo mạng Asialyst chuyên về châu Á. (1) Quốc hội thảo luận mục tiêu tăng trưởng 2026 từ 10%, GDP đầu người đạt 5.500 USD 2/ Chính phủ đặt mục tiêu GDP năm 2026 tăng 10%
Khoảng 20 chuyến công du đến 20 nước trong vòng hơn một năm giữ chức tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Tô Lâm có lẽ là nhà lãnh đạo đảng công du nước ngoài nhiều nhất. Trong khuôn khổ những chuyến công du này, Việt Nam nâng cấp Đối tác Chiến lược Toàn diện với 6 nước, và Đối tác Chiến lược với 5 nước khác. Dưới thời ông Tô Lâm, Việt Nam đang “quốc tế hóa” vai trò của tổng bí thư. Khi đưa tin về chuyến công du Anh Quốc và Bắc Ireland của ông Tô Lâm, từ 28-30/10/2025, hãng tin Anh Reuters nhận định nhà lãnh đạo quyền lực nhất của Việt Nam, ông Tô Lâm, đã đóng vai trò trung tâm trong việc định hình chính sách đối ngoại kể từ khi trở thành tổng bí thư đảng Cộng Sản vào năm ngoái (2024), một nỗ lực trước đây do chủ tịch nước và thủ tướng dẫn đầu. Cho thế giới thấy nhà lãnh đạo thực sự ở Việt Nam Ngay sau khi chính thức được bầu làm tổng bí thư, tại buổi họp báo ngày 03/08/2024, ông Tô Lâm có bài phát biểu “khẳng định kế thừa và phát huy những thành quả cách mạng mà cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và các thế hệ lãnh đạo đi trước đã gây dựng”. Điểm này đang được ông Tô Lâm phát triển mạnh mẽ hơn, theo nhận định của giáo sư danh dự Carl Thayer, Đại học New South Wales : “Tổng bí thư Tô Lâm đang tận dụng sự lãnh đạo của mình để phát huy di sản của người tiền nhiệm Nguyễn Phú Trọng, người đã chính thức hóa vai trò của tổng bí thư trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Tổng bí thư Trọng đã được lãnh đạo chính phủ Anh và Nhật Bản, hai nền dân chủ tự do, đón tiếp, và được tổng thống Barack Obama tiếp đón tại Nhà Trắng. Ông Trọng cũng đã tiếp đón tổng thống Joe Biden tại Hà Nội”. Theo thông lệ, chuyến công du nước ngoài đầu tiên của tân tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam là đến Lào, sau đó là Cam Bốt và Trung Quốc - nước láng giềng rộng lớn mà ngay vào thời kỳ đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam xác định rõ chính sách đối với Trung Quốc “là phải thân thiện”. Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng tại Đại học Boston, Mỹ, nhận định với RFI Tiếng Việt : “Việc Việt Nam quốc tế hóa vai trò của tổng bí thư thực ra không có gì là bất ngờ. Một trong những ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là bảo vệ an ninh của thể chế, và một trong những cách đó là nâng cao vai trò của tổng bí thư trên trường quốc tế. Với các nước chung chí hướng như là Bắc Triều Tiên, Trung Quốc hay Lào thì đây cũng không phải là một sự thay đổi lớn do vai trò của quan hệ kênh Đảng từ lâu đã được khẳng định”. Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư Tô Lâm thăm Bắc Triều Tiên, dự lễ 80 năm thành lập đảng Lao Động Tiếp theo là hàng loạt vòng công du cho đến cuối năm 2024. Ví dụ, tháng 09/2024, tổng bí thư Tô Lâm đến dự Hội nghị thượng đỉnh Tương Lai, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc và làm việc ở Hoa Kỳ. Sau đó, ông công du nước Cuba anh em. Đến đầu tháng 10, ông công du Mông Cổ, tiếp theo là Ireland và Pháp. Đến tháng 11 là Malaysia. Trong những chuyến công du này, Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành Đối tác Chiến lược Toàn Diện với ba nước Mông Cổ, Pháp, Malaysia. Các nước ASEAN mở đầu cho vòng công du năm 2025 của tổng bí thư Tô Lâm. Tháng 03, ông thăm Singapore, Indonesia, nâng cấp quan hệ lên mức cao nhất với hai nước. Với những hoạt động này, tổng bí thư “đang đảm nhiệm vai trò nhà ngoại giao cấp cao, thường là nhiệm vụ của chủ tịch nước hoặc thủ tướng”, theo ý kiến của giáo sư Zachary Abuza, Đại học Chiến tranh Quốc gia Hoa Kỳ ở Washington : “Bằng cách này, ông Lâm đã khẳng định rõ ràng rằng ông coi chức vụ quyền lực nhất của đảng Cộng sản Việt Nam là chức vụ có chức năng điều hành trong đảng-nhà nước, điều mà những người tiền nhiệm của ông, những người chỉ tập trung vào chính sách và hệ tư tưởng, chưa từng đảm nhiệm”. Trong tháng 05, ông thăm bốn nước thuộc Liên Xô cũ (Kazakhstan, Azerbaijan, Nga, Belarus), nhân chuyến công du theo lời mời dự Ngày Chiến thắng với lễ diễu binh trên Quảng trường Đỏ ở Matxcơva. Ba tháng sau ông thăm Hàn Quốc. Trong tháng 10/2025, ông Tô Lâm công du Bắc Triều Tiên dự lễ kỷ niệm 80 thành lập đảng Lao Động Triều Tiên, sau đó là vòng công du hai nước châu Âu Phần Lan và Bulgari, cuối cùng là Anh Quốc và Bắc Ireland, nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược với Helsinki và đối tác chiến lược toàn diện với Luân Đôn. Có thể thấy ông Tô Lâm quảng bá mạnh hơn, cho quốc tế thấy rõ hơn hình ảnh và vai trò của tổng bí thư - nhà lãnh đạo trên thực tế của Việt Nam, theo nhận định của Giáo sư Carl Thayer ngày 28/09 : “Tổng bí thư Tô Lâm đã liên tiếp công du nước ngoài kể từ khi nắm quyền lãnh đạo đảng và đóng vai trò quan trọng trong việc ký kết bảy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mới (Úc, Pháp, Malaysia, New Zealand, Indonesia, Singapore và Thái Lan). Ông Tô Lâm đang chứng minh rằng vị thế tổng bí thư không chỉ quan trọng đối với các vấn đề đối nội mà còn cả đối ngoại”. Đọc thêmLãnh đạo Việt Nam Tô Lâm đi Mỹ dự Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc Một yếu tố mới, được tiến sĩ Lê Hồng Hiệp nhận định trên trang Fulcrum ngày 02/07/2025, là vai trò của “Đệ nhất phu nhân” định nghĩa lại nền ngoại giao và chính trị Việt Nam. Bà Ngô Phương Ly, “đệ nhất phu nhân trên thực tế, đã mở đường cho việc tăng cường các nỗ lực ngoại giao của Việt Nam và làm dịu đi hình ảnh của chồng bà” : “Bà Phương Ly, phu nhân của tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm, đang nhanh chóng nổi lên như một nhân vật mang lại sự thay đổi trong ngoại giao quốc tế của Việt Nam. Bà tháp tùng ông Tô Lâm trong hầu hết các chuyến thăm nước ngoài và tiếp đón các nhà lãnh đạo nước ngoài tại Việt Nam. Thông qua việc thường xuyên tham gia các hoạt động văn hóa và xã hội với các đối tác nước ngoài, bà đã nâng cao vị thế ngoại giao của Việt Nam và nâng cao hình ảnh của ông Tô Lâm trước công chúng, qua đó góp phần nâng cao vị thế chính trị của ông. Ví dụ, trong chuyến thăm Singapore của ông Tô Lâm vào tháng 03/2025, bà Phương Ly đã tham gia các cuộc thảo luận về các vấn đề văn hóa với bà Loo Tze Lui, phu nhân thủ tướng Singapore Lawrence Wong, và chứng kiến lễ ký kết Biên bản ghi nhớ giữa Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và Nhạc viện Yong Siew Toh của Singapore. Gần đây hơn, trong chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Pháp Emmanuel Macron tháng 05/2025, bà Phương Ly đã tháp tùng bà Brigitte Macron tham quan Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và Văn Miếu Quốc Tử Giám, chia sẻ những hiểu biết sâu sắc về di sản văn hóa phong phú của Việt Nam với Đệ nhất phu nhân Pháp”. Đọc thêmQuảng bá hình ảnh Việt Nam qua những chuyến công du của lãnh đạo thế giới Vai trò của tổng bí thư trong “định hình chính sách đối ngoại” Ngoài việc khẳng định quyền lực lãnh đạo thực sự ở Việt Nam, những chuyến công du nước ngoài của ông Tô Lâm, với tần suất dày đặc hơn so với người tiền nhiệm, còn nằm trong định hướng Hội nhập quốc tế trong tình hình mới, được quy định trong Nghị quyết số 59 (ngày 24/01/2025) và được cổng thông tin Chính phủ nhấn mạnh ngày 16/09 là “quyết sách quan trọng, đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước”. Một mặt, Nghị quyết đưa ra hướng dẫn củng cố mối quan hệ “hữu nghị truyền thống” lâu đời của Việt Nam với Nga, Cuba, Bắc Triều Tiên. Mặt khác, Nghị quyết cũng cho thấy Việt Nam đang chủ động hơn trong các vấn đề quốc tế. Giáo sư Carl Thayer, Đại học New South Wales, phân tích : Nghị quyết số 59 lưu ý rằng hội nhập quốc tế đòi hỏi “chủ động, tích cực và dũng cảm” để thúc đẩy các mạng lưới đối tác đã được thiết lập, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, củng cố lòng tin chính trị và giải quyết các thách thức khu vực và toàn cầu thông qua hợp tác hòa bình, tất cả đều trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Nghị quyết số 59 cũng củng cố một trong những mục tiêu quan trọng của hội nhập quốc tế - duy trì môi trường hòa bình và ổn định để Việt Nam có thể phát triển kinh tế. Ví dụ chuyến công du Bình Nhưỡng của tổng bí thư Tô Lâm cũng được coi là nhằm trong chiến lược “bảo vệ đất nước từ sớm và từ xa, trước khi đất nước lâm nguy” phù hợp với chủ trương của Nghị quyết số 59, theo nhận định của giáo sư Carl Thayer : “Nếu ông Tô Lâm đến thăm Bình Nhưỡng, ông có thể sẽ tìm hiểu xem Việt Nam có thể đóng vai trò ngoại giao và chính trị nào trong bất kỳ tiến trình hòa bình nào trên bán đảo Triều Tiên. Việt Nam có lợi ích thiết yếu trong việc duy trì ổn định trên bán đảo Triều Tiên. Bất kỳ sự suy giảm nào trong hiện trạng, dẫn đến đối đầu giữa Hoa Kỳ và Hàn Quốc với Bắc Triều Tiên, Trung Quốc và Nga, sẽ đẩy Việt Nam ra ngoài lề và gây khó khăn cho quan hệ với các cường quốc”. Đọc thêmTổng bí thư đảng Cộng Sản, chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm công du Mông Cổ, Ireland và Pháp Trong số 5 quan điểm chỉ đạo về hội nhập quốc tế, hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh được coi là một trong những trụ cột và là “một nội dung rất quan trọng”, theo phát biểu ngày 16/09 của ông Lê Hoài Trung, lúc đó là quyền ngoại trưởng. Ngoài ra, Việt Nam “chuyển từ xin nhận, gia nhập, tham gia sang chủ động đóng góp và xây dựng, định hình và sẵn sàng đóng góp có trách nhiệm vào công việc chung của cộng động quốc tế”. Sự kiện Hà Nội đăng cai tổ chức Lễ mở ký Công ước Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng ngày 25/10/2025, được Việt Nam coi là “dấu mốc lịch sử không chỉ với cộng đồng quốc tế mà còn khẳng định vai trò vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế”. Trang VnExpress đưa tin “các nước đánh giá cao vai trò lãnh đạo, dẫn dắt của Việt Nam thông qua sáng kiến đăng cai Lễ mở ký”. Nhân dịp này, tổng bí thư Tô Lâm đã tiếp tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres. Cho dù “hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân” nhưng được thực hiện “dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước”. Trong tiến trình này, tổng bí thư không chỉ còn muốn đứng đầu đảng, giữ vai trò về tư tưởng, mà là một nhà lãnh đạo cao nhất đất nước. Hình ảnh mới này đang được ông Tô Lâm làm cho các đối tác phương Tây quen dần, theo nhận định của tiến sĩ Vũ Khang, Đại học Boston : Đối với các đối tác phương Tây, Việt Nam đã đặt các đối tác phương Tây vào vị trí phải công nhận tính chính danh và sự ngang hàng của vị trí tổng bí thư với các vị trí nguyên thủ quốc gia qua các cuộc gặp cấp cao. Đây cũng là một di sản của cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi ông đã thành công bắt Mỹ phải công nhận tổng bí thư là ngang hàng với chức tổng thống Mỹ, từ đó mở ra các nước phương Tây khác cũng chấp nhận theo. Điều này chứng tỏ đây là một chính sách đường dài chứ không phải ngắn hạn cho kỳ Đại hội Đảng sắp tới, và dù ai ở vị trí tổng bí thư đi chăng nữa thì cũng sẽ được kế thừa di sản này.
Quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và Bắc Triều Tiên được “tạo xung lực mới” thông qua chuyến công du Bình Nhưỡng của tổng bí thư Tô Lâm từ ngày 09-11/10/2025 nhưng tạm dừng ở cấp độ chính trị, trao đổi văn hóa và du lịch. Bình Nhưỡng đã phát triển mạnh chương trình tên lửa, kể cả hạt nhân và cho dù có muốn, Hà Nội cũng chỉ dừng ở “ý định thư hợp tác quốc phòng khi điều kiện cho phép”. Bắc Triên Tiên bị Liên Hiệp Quốc trừng phạt vì phát triển chương trình hạt nhân. Còn “Việt Nam không muốn vi phạm các lệnh trừng phạt quốc tế đối với Bắc Triều Tiên” theo nhận định của nhà nghiên cứu Vũ Khang, Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston (Mỹ), vì Hà Nội đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế trong những thập niên gần đây và không ngừng mở rộng mạng lưới đối tác với các nước phương Tây. Cùng với “ngoại giao cây tre”, Việt Nam thể hiện là “bạn” với tất cả các nước, là một quốc gia trung lập, không chọn phe. Và trong chính sách đối ngoại đa phương, Hà Nội coi Bình Nhưỡng là một đối tác quan trọng. Tuy nhiên, “việc này không đồng nghĩa là Việt Nam ủng hộ chương trình hạt nhân hay chính sách chống phương Tây của Bắc Triều Tiên”. Chuyến thăm Bình Nhưỡng của ông Tô Lâm diễn ra chỉ hai tháng sau chuyến công du Seoul còn cho thấy Hà Nội tiếp tục chính sách cân bằng quan hệ và đặt trọng tâm vào việc duy trì ổn định khu vực để phát triển kinh tế và hợp tác với cả hai miền Triều Tiên. Chuyến công du đầu tiên kể từ 18 năm qua mang lại những triển vọng như thế nào cho quan hệ Việt Nam - Bắc Triều Tiên ? Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, tại Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston, Mỹ, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Mối quan hệ giữa Việt Nam và Bắc Triều Tiên trở thành đề tài được chú sau khi nhà lãnh đạo Kim Jong Un mời tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm đến dự 80 thành lập đảng Lao Động Triều Triên và lễ duyệt binh ở Bình Nhưỡng. Năm 2025 cũng đánh dấu 75 năm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên, mối quan hệ này không phải lúc nào cũng suôn sẻ ! Vũ Xuân Khang : Quan hệ Việt Nam-Bắc Triều Tiên thực ra từ sau chiến tranh Lạnh không có nhiều phát triển so với quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc. Nói như vậy không có nghĩa là quan hệ Việt-Triều không quan trọng. Trong tình hình chính sách đối ngoại hiện nay của Việt Nam, Bắc Triều Tiên là một trong những đối tác truyền thống của Hà Nội, khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao kể từ rất sớm, vào tháng 01/1950. Và Bắc Triều Tiên là nước thứ 3 đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, chỉ sau Trung Quốc và Liên Xô. Trong chiến tranh chống Mỹ, Bắc Triều Tiên đã cam kết sẽ bảo vệ miền Bắc khỏi các cuộc tấn công của Mỹ và chính họ đã gửi phi công tham chiến, cũng như một lượng lớn khí tài và viện trợ kinh tế cho miền Bắc. Mặc dù quan hệ hai bên đã bị sứt mẻ trong chiến tranh Đông Dương lần 3 khi Bắc Triều Tiên ủng hộ Trung Quốc và Khmer Đỏ chống lại Việt Nam, hai bên đã không có bất kỳ cuộc trao đổi cấp cao nào. Và đó gần như là giai đoạn mà hai bên không muốn nhắc tới. Đọc thêmViệt Nam cố giữ trung lập giữa Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên Kể từ năm 1988-1989 đến nay, sau khi Việt Nam rút quân khỏi Cam Bốt, thì hai nước mới bắt đầu có những trao đổi cấp cao trở lại. Tuy nhiên, việc Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc vào năm 1992 đã khiến cho quan hệ Việt Nam-Bắc Triều Tiên tạm thời trở nên đóng băng. Kể từ đầu những năm 2000 trở lại đây, Việt Nam và Bắc Triều Tiên mới bắt đầu nối lại những đàm phán cấp cao do chính Bình Nhưỡng bày tỏ mong muốn là được thử nghiệm các mô hình mở cửa kinh tế như Việt Nam và Trung Quốc đã làm. Có thể thấy là quan hệ giữa Việt Nam và Bắc Triều Tiên kể từ sau Chiến tranh Lạnh không có nhiều phát triển, nhất là quan hệ thương mại gần như nhỏ giọt, chỉ khoảng 20 triệu đô la/năm. Và về quan hệ quân sự, càng không có một chi tiết nào được công bố trên truyền thông. Những năm gần đây, Việt Nam và Bắc Triều Tiên mong muốn tiếp tục nối lại quan hệ ngoại giao sau khi đại dịch Covid-19 làm ảnh hưởng tới trao đổi cấp cao giữa hai nước mà do chủ tịch Bắc Triều Tiên Kim Jong Un đã cố gắng nối lại trong chuyến thăm Hà Nội năm 2019. RFI : Tổng bí thư Tô Lâm là nhà lãnh đạo đảng thứ 3 đến thăm Bắc Triều Tiên trong 75 năm qua, lần gần đây nhất là chuyến thăm của tổng bí thư Nông Đức Mạnh năm 2007. Vậy chuyến công du này có ý nghĩa như thế nào ? Vũ Xuân Khang : Cần phải nói rõ là trong những năm gần đây, vì những lý do về kinh tế, về đại dịch nên Bắc Triều Tiên đã đóng cửa rất nhiều đại sứ quán và lãnh sự quán ở các nước đối tác truyền thống khác, như Uganda, Angola, Nepal, Senegal, Bangladesh, Hồng Kông, và Tây Ban Nha… nhưng họ vẫn duy trì hiện diện ở Việt Nam. Điều này cho thấy Bắc Triều Tiên vẫn nhìn nhận Việt Nam như là một đối tác rất quan trọng ở Đông Nam Á. Và trong những năm gần đây, cho dù hai nước không gặp nhau trực tiếp do đại dịch Covid-19, nhưng vẫn có những thư mừng hoặc những lời chúc mừng trong giai đoạn hai nước tổ chức Đại hội Đảng. Đặc biệt kể từ năm 2024, hai nước bắt đầu thực sự nối lại các cuộc gặp mặt cấp cao như chuyến thăm Việt Nam của ông Kim Song Nam, trưởng ban quốc tế trung ương của Đảng Lao động Triều Tiên, vào tháng 03/2024. Việt Nam cũng đã gửi thứ trưởng bộ Quốc Phòng và bộ Ngoại Giao đến thăm Bắc Triều Tiên vào tháng 9 và tháng 10/2024. Việc Bắc Triều Tiên hiện giờ mới mời được tổng bí thư Tô Lâm qua cũng là do đại dịch Covid-19 cũng như là hai bên vẫn chưa tìm được dịp đủ lớn, đủ trang trọng để mời tổng bí thư của Việt Nam qua. Dịp 80 năm thành lập đảng Lao Động Triều Tiên là một dịp rất hợp lý để Bắc Triều Tiên có thể nối lại các đàm phán cấp cao với Việt Nam ở cấp tổng bí thư. Đọc thêmViệt Nam giúp được gì Bắc Triều Tiên để gỡ thế cô lập ? RFI : Bắc Triều Tiên được cho là nhà cung cấp vũ khí, đạn dược cho Nga để duy trì cuộc chiến ở Ukraina. Bắc Triều Tiên cũng nổi tiếng về sản xuất tên lửa đạn đạo, hạt nhân, trong đó có một tên lửa đạn đạo tầm xa mới đã được giới thiệu trong lễ duyệt binh. Liệu mảng quân sự sẽ được đề cập trong quá trình thắt chặt quan hệ hữu nghị với Bình Nhưỡng không ? Hai bên dự kiến phát triển quá trình hợp tác này như thế nào ? Vũ Xuân Khang : Trong chuyến thăm lần này của tổng bí thư Tô Lâm, Việt Nam và Bắc Triều Tiên đã ký kết Ý định thư giữa hai bộ Quốc Phòng về hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng. Cần nói rõ đây chỉ là ý định thư, nghĩa là hai nước bày tỏ quan điểm và các nội dung hợp tác trong tương lai khi các điều kiện cho phép. Và ở đây, lại cần nhấn mạnh vào yếu tố "khi các điều kiện cho phép" bởi vì Việt Nam hiểu rằng Bắc Triều Tiên vẫn đang chịu cấm vận rất lớn từ phương Tây. Đặc biệt là chương trình vũ khí hạt nhân và tên lửa tầm xa, bất kỳ hoạt động hợp tác nào của Việt Nam với Bắc Triều Tiên trong lĩnh vực tên lửa tầm xa có thể vi phạm các lệnh trừng phạt của Liên Hiệp Quốc. Việc này có thể sẽ ảnh hưởng tới quan hệ của Việt Nam với các nước phương Tây khi mà các nước phương Tây cũng như Hàn Quốc luôn luôn đặt vấn đề rằng Việt Nam phải cố gắng duy trì và bảo đảm các lệnh trừng phạt của Liên Hiệp Quốc đối với Bắc Triều Tiên trong các cuộc gặp cấp cao. Nhưng phải nói rằng thực ra, Việt Nam lại rất hợp với vũ khí của Bắc Triều Tiên. Trong thời gian gần đây, Việt Nam mới thành lập Bộ Tư lệnh Pháo binh Tên lửa và Hà Nội mong muốn nâng cấp tầm bắn của các tên lửa Scud-B do Liên Xô sản xuất và Liên Xô đã trao cho Việt Nam rất nhiều tên lửa Scud vào giai đoạn 1980. Còn Việt Nam, kể từ sau Chiến tranh Lạnh, lại không có điều kiện để thực sự tìm được một nguồn cung dồi dào hoặc một lời khuyên để phát triển loại vũ khí này. Bắc Triều Tiên lại có một nền tảng quốc phòng rất mạnh, kể cả Liên Xô sụp đổ, họ cũng đã tự cải tiến tên lửa Scud, như chúng ta thấy là họ đã có một hệ thống tên lửa tầm xa rất phát triển, như mới đây nhất là trong lễ diễu binh có tên lửa Hỏa Tinh-20 có khả năng bắn đến Mỹ và sử dụng nhiên liệu rắn. Đọc thêmMô hình Việt Nam có thích hợp với Bắc Triều Tiên? Do đó, Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi kinh nghiệm từ chương trình vũ khí hoặc là về công nghiệp quốc phòng nói chung của Bắc Triều Tiên. Nhưng như tôi đã đề cập ở trên, Việt Nam vẫn phải chú ý rất kỹ đến lệnh trừng phạt của Liên Hiệp Quốc. Đây mới chỉ là một ý định thư chưa chưa phải là một thỏa thuận hợp tác quốc phòng rõ ràng giữa hai nước. RFI : Tổng bí thư Tô Lâm trước đó đã công du Seoul. Việt Nam được cho là mua pháo K9 Thunder của Hàn Quốc. Và bây giờ là chuyến công du Bình Nhưỡng. Những hoạt động này có ý nghĩa như thế nào ? Vũ Xuân Khang : Chuyến thăm đến Triều Tiên của tổng bí thư Tô Lâm gần như là ngay sau chuyến thăm Hàn Quốc hồi tháng 08, đây là một lời khẳng định rõ ràng về đường lối ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam trong tương lai cũng như hiện tại và Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả nước và mong làm cầu nối giữa các bên. Đặc biệt chuyến thăm Bắc Triều Tiên lần này còn có tiềm năng lớn với Việt Nam trong hoàn cảnh chủ tịch Bắc Triều Tiên Kim Jong Un và tổng thống Mỹ Donald Trump đều để ngỏ khả năng gặp mặt trong trường hợp hai bên đồng ý về một thỏa thuận hạt nhân. Đọc thêmVũ khí: Hàn Quốc giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào Nga Việt Nam với tư cách là đối tác tin cậy của cả hai nước và là chủ nhà của thượng đỉnh Mỹ-Triều năm 2019 sẽ mong muốn lại một lần nữa được thể hiện vai trò, cầu nối, trung gian hòa giải và đóng góp vào xây dựng hòa bình trên bán đảo Triều Tiên. Trong các tuyên bố với cả phía Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc, Việt Nam đều nhấn mạnh rất rõ là mong muốn hai miền Triều Tiên tiếp tục đối thoại và hợp tác với nhau và Việt Nam cũng đề cập vai trò của mình trong việc ủng hộ bảo vệ an ninh khu vực. Đặc biệt, trong chuyến thăm Hàn Quốc của tổng bí thư Tô Lâm, Việt Nam cũng đề cập rất rõ là ủng hộ chính sách hòa giải liên Triều của tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung. Điều này thể hiện Việt Nam mong muốn được tiếp tục làm cầu nối giữa hai miền. Việc Bắc Triều Tiên vẫn gửi lời mời tổng bí thư Tô Lâm sau khi Việt Nam ký kết mua pháo K9 Thunder của Hàn Quốc cho thấy Bình Nhưỡng coi trọng vai trò trung gian hòa giải, cũng như đường lối đối ngoại độc lập tự chủ của Việt Nam. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, tại Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston, Hoa Kỳ.
Ô nhiễm không khí và nắng nóng kéo dài không chỉ tác động đến sức khỏe và tỉ lệ tử vong, mà còn ảnh hưởng đến việc làm tại Việt Nam. Một bộ phận người lao động phải làm việc thêm 1 tiếng 45 phút và bị giảm thu nhập 129.000 đồng/tháng trong những giai đoạn như vậy. Đây là một trong những nhận định được nêu trong nghiên cứu “Nhiệt độ cực đoan và ô nhiễm ảnh hưởng đến hiệu suất lao động ở Việt Nam như thế nào?” Nghiên cứu được ông Nguyễn Việt Cường, viện phó Viện Nghiên cứu Phát triển Mêkông và kinh tế gia Cecilia Poggi, Cơ quan Phát triển Pháp - AFD thực hiện trong khuôn khổ Dự án GEMMES Việt Nam và được đăng trong số 79 AFD Research Paper (Tài liệu Nghiên cứu của AFD), tháng 07/2025. Kinh tế gia Cecilia Poggi, điều phối các chương trình nghiên cứu liên quan đến bảo trợ xã hội, thế giới lao động và hòa nhập xã hội tại AFD, đã dành cho RFI Tiếng Việt buổi phỏng vấn về chủ đề này. RFI : Vào cuối tháng 7 trong Tài liệu Nghiên cứu của AFD, ông Nguyễn Việt Cường và bà đã xuất bản một nghiên cứu về "Tác động của nhiệt độ cực đoan và ô nhiễm không khí đối với nguồn cung lao động và thu nhập: dữ liệu từ Việt Nam". Tình hình ở Việt Nam đáng báo động đến mức nào để một nghiên cứu như vậy được thực hiện ? Cecilia Poggi : Tình hình hiện nay vẫn chưa hoàn toàn đáng báo động. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng với việc các đợt nắng nóng cực đoan ngày càng trầm trọng, chẳng hạn như đợt nắng nóng 44°C được ghi nhận vào tháng 04/2024 ở miền Bắc Việt Nam, cùng với các đợt ô nhiễm ngày càng gia tăng, những câu hỏi như thế này cần được đặt ra. Các dữ liệu cũng cho thấy rõ điều đó. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, gây thiệt hại khoảng 3,2% GDP vào năm 2020. Và mặc dù đã có các chính sách chủ động nhằm giảm thiểu ô nhiễm không khí, Việt Nam vẫn luôn có mức độ bụi mịn PM2.5 cao, tương đương với Trung Quốc và cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu trong hơn 20 năm qua. Đọc thêmViệt Nam: Cá chết hàng loạt do nắng nóng khủng khiếp Những mối đe dọa môi trường này không phải là những rủi ro trừu tượng. Chúng gây ra hậu quả trực tiếp đến sức khỏe, khả năng làm việc và khả năng kiếm sống của người dân. Vì vậy, nghiên cứu của chúng tôi tìm hiểu tác động của nắng nóng cực đoan và ô nhiễm không khí đến công việc của người dân tại Việt Nam. Cụ thể, chúng tôi muốn tìm hiểu xem những hiện tượng đó đã khiến một số người ngừng làm việc hoặc ít tích cực tìm việc như thế nào, cũng như ảnh hưởng ra sao đến hiệu suất làm việc của họ, bằng cách phân tích dữ liệu từ tất cả khu vực tại Việt Nam từ 2015-2022. RFI : Nghiên cứu nêu rằng không thấy những tác động đáng kể của nhiệt độ cực đoan hoặc ô nhiễm không khí đến sự tham gia của lực lượng lao động nhưng các tác giả đã quan sát thấy nhiều tác động nhỏ nhưng đáng kể đến thời gian làm việc và thu nhập. Có thể giải thích hiện tượng này như thế nào ? Cecilia Poggi : Nhìn chung, mọi người không nghỉ việc vì những thay đổi bất thường về thời tiết hoặc ô nhiễm. Do đó, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động vẫn ổn định. Tuy nhiên, thực tế lại tế nhị hơn. Nắng nóng gay gắt hoặc một ngày ô nhiễm cao khiến khó có thể duy trì số giờ làm việc hoặc năng suất tương tự như bình thường. Điều này có thể được giải thích bởi những tác động đến sức khỏe, như mệt mỏi hoặc các vấn đề về hô hấp, hoặc chủ ý giảm tốc độ làm việc vì lý do an toàn. Và chúng tôi chứng minh rằng việc làm vẫn còn, nhưng khả năng làm việc với năng suất tương đương có thể bị ảnh hưởng, đặc biệt là trong giai đoạn ô nhiễm nghiêm trọng hơn mức bình thường. Đọc thêm Ô nhiễm không khí ở Hà Nội: Giải pháp không phải đơn giản Ví dụ, chúng tôi nhận thấy rằng một ngày nắng nóng mỗi tháng làm giảm khoảng 0,5% giờ làm việc hàng tuần và 0,7% thu nhập hàng tháng. Và tác động này thậm chí còn rõ rệt hơn khi liên quan đến ô nhiễm : Tăng thêm một microgam trên một mét khối hạt mịn PM2.5 dẫn đến giảm 1% số giờ làm việc, tương ứng với việc bị mất 1 tiếng 45 phút mỗi tháng. Ô nhiễm cũng tác động đến thu nhập hàng tháng, theo đánh giá trong nghiên cứu của chúng tôi là 1,7%, khoảng 129.000 đồng/tháng, tương đương từ 3 đến 4% mức lương tối thiểu thấp nhất theo chuẩn 2023. Xin lưu ý rằng hiện tại chúng tôi đang tiến hành bản phân tích thứ 10 để hiểu rõ hơn về tác động của ô nhiễm, cũng như nhiệt độ khắc nghiệt đối với sức khỏe. Bài báo nghiên cứu thứ hai sẽ phân tích tác động đến chi phí y tế và tỷ lệ tử vong. RFI : Trong nghiên cứu, bà và cộng sự cũng đề cập đến sự bất bình đẳng về tác động của ô nhiễm không khí và nhiệt độ cực đoan đối với người lao động. Tại sao lại có sự bất bình đẳng này ? Cecilia Poggi : Không phải tất cả người lao động đều bị tác động như nhau, và nghiên cứu của chúng tôi cũng chỉ ra rằng không phải tất cả đều có thể thích nghi như nhau. Cho nên xuất hiện sự bất bình đẳng trước những hiện tượng này. Nghiên cứu cho thấy rằng người lao động thường xuyên phải làm việc theo giờ cố định không thể dễ dàng bù đắp số giờ bị mất, cho nên họ cảm nhận được tác động của ô nhiễm nhiều hơn so với những người lao động tự do vì những người này có thể phân bổ khối lượng công việc của họ trong nhiều ngày. Một điều đáng quan tâm là những người lao động ngoài trời, mặc dù tiếp xúc nhiều hơn với hiện tượng biến đổi khí hậu, nhưng thực sự lại ít bị ảnh hưởng hơn khi họ tự kinh doanh, làm việc độc lập bởi vì họ có thể sắp xếp lại công việc của mình. Ví dụ trường hợp của những nông dân tự do ở nông thôn hoặc những người bán hàng rong ở thành phố. Ngược lại, khi nhân viên phải làm việc ở ngoài trời, ví dụ trong ngành xây dựng, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những tác động tiêu cực rõ rệt hơn nhiều. Đọc thêmCơ quan AFD của Pháp hỗ trợ Việt Nam thực hiện cam kết khí hậu RFI : Liệu có một vùng hoặc nhiều vùng ở Việt Nam bị tác động nặng hơn cả từ những hiện tượng ô nhiễm không khí và nhiệt độ cực đoan này ? Cecilia Poggi : Để trả lời câu hỏi này, trước tiên tôi muốn nhắc lại rằng các vùng miền ở Việt Nam chịu mức độ ô nhiễm khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện thời tiết. Một nghiên cứu bổ sung mà đồng tác giả là phó giáo sư Nguyễn Thị Nhật Thanh thuộc trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy có sự biến động mạnh mẽ theo vùng về cách tình trạng ô nhiễm biển đổi tùy thuộc vào thời tiết hoặc hiện tượng khí tượng. Do đó câu trả lời không đơn giản như vậy, bởi vì, ví dụ, ở miền Bắc Việt Nam, những thay đổi về nhiệt độ và độ ẩm ảnh hưởng đến ô nhiễm không khí về lâu dài, trong khi lượng mưa và tốc độ gió lại có tác động ngay lập tức trong việc thay đổi nó. Tuy nhiên, những tác động này không giống ở miền Nam Việt Nam, nơi tất cả các tác động có xu hướng xảy ra ngay lập tức. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng ở cấp độ quốc gia, các tác động xấu của các hiện tượng nhiệt độ cực đoan và ô nhiễm đối với thời gian làm việc thể hiện rõ rệt ở khu vực thành thị hơn là khu vực nông thôn. Tiếp theo, nếu gộp các khu vực thành vùng lớn như miền Nam, miền Trung hoặc miền Bắc, chúng ta cũng thấy rằng trong cả hai trường hợp, tác động của những ngày nắng nóng hoặc các đợt ô nhiễm ở miền Nam rõ rệt hơn so với miền Bắc hoặc miền Trung. Và với những tác động này, chúng tôi khuyến nghị rằng các biện pháp đối phó, phòng ngừa nên được thực hiện tùy theo các khu vực và phải được thử nghiệm bởi các cơ quan chức năng, đặc biệt là về mặt bảo vệ việc làm trước những thách thức ô nhiễm. Đọc thêm“Xanh hóa” giao thông Hà Nội: Cần bỏ ôtô cá nhân thể hiện “thành đạt” và kết nối hệ thống công cộng RFI : Vậy, trước những hiện tượng này, các nhà nghiên cứu khuyến nghị chính phủ Việt Nam nên có những biện pháp nào để giải quyết ? Cecilia Poggi : Dựa trên kết quả nghiên cứu, trước tiên cần xem xét việc bổ sung các cách thức liên quan tới sức khỏe và an toàn lao động. Việt Nam hiện đã lập giới hạn nhiệt độ đối với công việc trong nhà, nhưng chưa có tiêu chuẩn nào về chất lượng không khí tại nơi làm việc. Đây là một lĩnh vực mà Việt Nam có thể tham khảo từ các quốc gia đã đặt ra ngưỡng phơi nhiễm ô nhiễm không khí tại nơi làm việc. Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách có thể thử nghiệm các giải pháp về công việc đặc thù để ứng phó với các đợt ô nhiễm cao, có tính đến đặc điểm công việc của người lao động. Ví dụ, đối với người lao động ở các khu vực đô thị bị ô nhiễm, chúng ta có thể phân tích chi tiết hơn xem liệu thời gian làm việc linh hoạt hoặc làm việc từ xa có thể vẫn cho phép duy trì năng suất trong những ngày ô nhiễm cao hay không. Cuối cùng, để tiếp tục các chính sách về môi trường cũng cần giải quyết gốc rễ của ô nhiễm. Vì vậy, về lâu dài, việc tiếp tục thực hiện các chính sách môi trường đang triển khai sẽ góp phần cải thiện đời sống của mọi người với việc giảm phát thải, tăng cường giao thông công cộng bền vững và thêm không gian xanh. Bên cạnh đó cũng không được quên những thách thức quan trọng, ví dụ như cần hạn chế việc cứng hóa nền đất hay bê tông hóa quá mức trong quá trình đô thị hóa. Đọc thêmMoov'Hanoi : Đưa giao thông công cộng thành phương thức di chuyển hấp dẫn ở Hà Nội RFI : Nghiên cứu này nằm trong khuôn khổ chương trình GEMMES Việt Nam. Xin bà giải thích thêm về chương trình này và nghiên cứu của bà trong khuôn khổ chương trình ! Cecilia Poggi : GEMMES Việt Nam giai đoạn 2 là chương trình nghiên cứu ba năm do Cơ quan Phát triển Pháp - AFD tài trợ, phối hợp với Cục Biến đổi Khí hậu, bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam và được triển khai với sự hợp tác của các chuyên gia và tổ chức khoa học, đại học Việt Nam. Trong giai đoạn 1, chương trình tập trung vào vấn đề khí hậu. Giai đoạn 2 hiện nay hỗ trợ chính phủ thực hiện tham vọng trung hòa các-bon và đồng thời trở thành một quốc gia có thu nhập cao. Cụ thể hơn, chúng tôi có ba trục nghiên cứu. Trục đầu tiên tìm cách hiểu rõ hơn về các đợt nắng nóng cực đoan bằng cách nghiên cứu các mô hình khí hậu. Trục thứ hai xem xét các tác động kinh tế vĩ mô của quá trình chuyển đổi năng lượng. Trục thứ ba, trong đó có nghiên cứu mà chúng ta đang đề cập, xem xét cách biến đổi khí hậu và quá trình chuyển đổi năng lượng tác động đến người dân, hay đúng hơn là các khía cạnh xã hội của những quá trình chuyển đổi này. Chương trình này thực sự là một ví dụ về sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu và các tác nhân công và cho thấy rằng nghiên cứu có thể hỗ trợ việc xác định và triển khai các chính sách công cho quá trình chuyển đổi sinh thái. Toàn bộ kết quả sẽ được hoàn thiện vào mùa hè 2026. Công chúng quan tâm có thể truy cập vào trang web của AFD, trên đó có một trang dành riêng cho chương trình GEMMES Việt Nam 2. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn kinh tế gia Cecilia Poggi, Cơ quan Phát triển Pháp - AFD.
This episode is a message preached by Cliff at Palestine Church in Palestine, Texas on September 19, 2025 as part of the MVI annual conference. The theme of the conference was "The Kingdom Has Come" and Cliff shares about the will of God.
Ngày 01/08/2025, cùng ngày Mỹ công bố mức thuế đối ứng đối với 69 quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt Nam và Liên Hiệp Châu Âu kỷ niệm tròn 5 năm Hiệp định Tự do Thương mại - EVFTA - có hiệu lực. Hoa Kỳ luôn là thị trường lớn nhất cho cả hai bên, nhưng những mức thuế quan do tổng thống Donald Trump áp đặt buộc các đối tác, trong đó có Việt Nam và Liên Hiệp Châu Âu, phải đa dạng hóa thị trường, giảm bớt phụ thuộc xuất khẩu sang Mỹ. Mức thuế đối ứng áp dụng cho Việt Nam, từ 46% xuống còn 20%, đã có hiệu lực từ ngày 07/08. Theo tính toán của nhóm nghiên cứu Ban Tài Khoản Quốc Gia, được ông Lê Trung Hiếu, phó cục trưởng Cục Thống Kê (Bộ Tài Chính) trích dẫn (1), mức thuế 20% này sẽ tác động làm giảm 11-12 tỷ đô la trị giá hàng xuất khẩu vào Mỹ (tương đương khoảng 9-10% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa). Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Điều này được tái khẳng định qua số liệu thống kê hải quan Mỹ trong 5 tháng đầu năm 2025 : Trao đổi thương mại song phương đạt 77,4 tỷ đô la, tăng 36,5% so với cùng kỳ năm 2024. Đối với Liên Hiệp Châu Âu, Việt Nam là đối tác thương mại hàng đầu ở ASEAN và là đối tác đứng thứ 16 trên toàn cầu, với tổng kim ngạch thương mại song phương tích lũy gần 300 tỷ đô la trong 5 năm hiệp định EVFTA có hiệu lực (2). Cùng chịu sức ép về thuế quan của Mỹ, Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam có thể tận dụng Hiệp định Thương mại Tự do - EVFTA như thế nào ? Ông Jean-Jacques Bouflet, phó chủ tịch Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam - EuroCham, trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 08/08/2025. RFI : Bộ Công Thương Việt Nam đã công bố mức thuế 20% mà Hoa Kỳ áp dụng đối với hàng hóa Việt Nam. Xin ông cho biết phản ứng của EuroCham và các thành viên ? Liệu đây có phải là một bất lợi cho Việt Nam, trong bối cảnh cạnh tranh với các nước láng giềng ASEAN (chịu mức thuế 19%) đang rất căng thẳng ? Jean-Jacques Bouflet : Đúng là có phần nhẹ nhõm vì mức thuế đó xa với mức 46% được công bố ban đầu. Nhưng rõ ràng đây là một bất lợi. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất, đó là mức độ cạnh tranh tương đối với các nước láng giềng trong khu vực. Chênh lệch 20%, 19%, không thực sự đáng kể, và tôi nghĩ Việt Nam có nhiều biên độ cạnh tranh và năng suất cho phép vượt qua bất lợi này. Dù sao thì đó vẫn là một bất lợi, nhưng tôi không nghĩ là sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho xuất khẩu, trong khi mức thuế 46% có lẽ sẽ gây bất lợi lớn cho hoạt động sản xuất. Tôi nghĩ là Việt Nam sẽ có thể đối phó được. Đọc thêmViệt Nam sẵn sàng nhập thêm nông sản Mỹ để đối phó với chính sách thuế quan mới của TT Trump RFI : Tháng 04, khi tổng thống Mỹ thông báo mức thuế đối ứng 46% đối với Việt Nam, EuroCham tiến hành một cuộc thăm dò, theo đó 25% các công ty châu Âu hoạt động tại Việt Nam cảm thấy hoạt động kinh doanh của họ bị đe dọa và 20% dự đoán doanh thu sẽ giảm. Mức thuế hiện tại là 20% sẽ tác động đến các doanh nghiệp này như thế nào ? Jean-Jacques Bouflet : Đúng vậy. Mức thuế 46% sẽ rất khó khăn. 20% thì khả thi. Tuy nhiên, tôi muốn lưu ý là có hai mức thuế khác nhau. Mức thuế 20% được áp dụng cho các sản phẩm có nguồn gốc Việt Nam. Ngoài ra còn có mức thuế 40% nổi tiếng, mà Mỹ gọi là “trung chuyển” (transshipment). Theo thuật ngữ hải quan Hoa Kỳ, “trung chuyển” không chỉ đơn giản là dỡ hàng từ một phương tiện vận chuyển hay từ một hình thức vận chuyển này sang một phương tiện hoặc hình thức vận chuyển khác, mà chủ yếu là sự thay đổi nguồn gốc ở nước cuối cùng. Nói cách khác, nếu quyết định đánh thuế hàng “trung chuyển” được sử dụng để áp đặt một hàm lượng nội địa tối thiểu đáng kể, thì có nghĩa là để ngăn chặn nhập khẩu nguyên liệu từ các nước thứ ba, ý tôi muốn nói ở đây là Trung Quốc chẳng hạn. Đọc thêmBị Mỹ đánh thuế 46% : Việt Nam trả giá vì làm “sân sau” cho Trung Quốc ? Việc này có lẽ sẽ là một vấn đề lớn đối với phần lớn lĩnh vực sản xuất của Việt Nam. Tôi lấy ví dụ về ngành dệt may ở Việt Nam, một phần rất lớn vải vóc là được nhập khẩu từ Trung Quốc. Vì vậy, mức thuế 40% đánh vào hàng “trung chuyển” này sẽ mang tính quyết định cho khả năng tiếp tục phát triển của ngành công nghiệp ở Việt Nam, bởi vì hiện tại, Việt Nam không thể bảo đảm sản xuất được 100% hoặc 80% sản lượng nội địa, có thể là trừ sản xuất nông nghiệp. RFI : Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam có Quy định Xuất xứ. Các doanh nghiệp châu Âu cũng gặp vấn đề tương tự. Tuy nhiên quy định về xuất xứ của Mỹ sẽ tác động như thế nào đến hoạt động của các doanh nghiệp châu Âu ở Việt Nam ? Jean-Jacques Bouflet : Trong khuôn khổ EVFTA, chúng tôi có các tiêu chuẩn quy tắc xuất xứ quy ước, xuất phát từ Tổ Chức Thương Mại Thế Giới - OMC/WTO và đã được đàm phán trong khuôn khổ này. Đúng là việc ngành công nghiệp Việt Nam không hoàn toàn tự chủ, và kết hợp một số lượng nguyên vật liệu đầu vào nhất định từ các nước thứ ba, đặc biệt là từ Trung Quốc, tạo ra một khó khăn, nhưng không phải là không thể vượt qua được. Vấn đề ở chỗ là với định nghĩa mới về “trung chuyển” - chúng ta hãy thử thử hình dung là sắp tới Mỹ yêu cầu 40% giá trị gia tăng (nguyên vật liệu đầu vào của hàng hóa) phải thuộc về nội địa, thì Việt Nam sẽ rất khó xuất khẩu hàng dệt may hoặc giày dép. Điều này hơi khác một chút trong khuôn khổ trao đổi với Liên Hiệp Châu Âu, bởi vì chúng tôi có các quy tắc của OMC. Đó là những quy tắc được đàm phán trong khuôn khổ của hiệp định song phương và đã được ghi nhận, đàm phán, do đó có thể dự đoán được, trong khi ở đây (với Mỹ), không ai biết điều gì sẽ xảy ra. Hơn nữa, chúng ta thấy là chưa bên nào thông tin về chủ đề này. Có tin đồn rằng đàn anh Trung Quốc không mấy hài lòng và đó là một trong những lý do tại sao thỏa thuận vẫn chưa được công bố đầy đủ chi tiết, đặc biệt là về khía cạnh hàng “trung chuyển” - điều sẽ rất quan trọng đối với quá trình chuyển đổi sản xuất tại Việt Nam. Đọc thêmQuan hệ Việt-Trung trong cơn bão thuế quan Mỹ RFI : Trong khi các hành động của Hoa Kỳ đang hướng tới chiến lược thương mại đơn phương hơn, các hiệp định thương mại tự do chiếm ưu thế như thế nào, ví dụ hiệp định EVFTA giữa Liên Hiệp Châu Âu-Việt Nam ? Jean-Jacques Bouflet : Câu trả lời đã nằm trong câu hỏi. Như tôi đã đề cập, các hiệp định thương mại tự do thiết lập một khuôn khổ tin cậy, hợp lý và trên hết là có thể dự đoán được, cho phép đầu tư. Đừng quên rằng để phát triển sản xuất, cần đầu tư trong 2 hoặc 3 năm. Điều này không thể xảy ra trong một sớm một chiều, và ông Trump sẽ phải chấp nhận điều này. Chiến lược được gọi là “đơn phương” của Mỹ, trước tiên là không thể đoán trước được, đó là điều rất tệ cho đầu tư, cho việc xây dựng hoặc di dời chuỗi giá trị. Tôi nghĩ rằng các khuôn khổ ổn định và có thể dự đoán được, chẳng hạn như các hiệp định thương mại tự do, sẽ mang lại sự bền vững và đảm bảo tính lâu dài. RFI : Làm thế nào các công ty và nhà đầu tư châu Âu, hợp tác với các đối tác Việt Nam, có thể khai thác EVFTA sau 5 năm có hiệu lực để bù đắp những khó khăn do thuế quan của Mỹ gây ra ? Jean-Jacques Bouflet : Đầu tiên là phải có các điều kiện cạnh tranh công bằng. Tôi xin nhắc lại rằng Liên Hiệp Châu Âu đã chấp nhận sự bất đối xứng trong việc thực hiện EVFTA, vì Việt Nam là một quốc gia đang phát triển. Việt Nam có 10 năm để đạt được thương mại tự do hoàn toàn. Họ vẫn còn 5 năm nữa. Và có một số hàng hóa vẫn còn thuế quan đáng kể, mặc dù chúng đã bắt đầu giảm đáng kể. Nhưng vẫn còn những loại thuế, ví dụ như đối với ô tô. Tất nhiên, ô tô do Liên Hiệp Châu Âu xuất khẩu sẽ có thuế quan bằng 0 sau 9 hoặc 10 năm. Thử tưởng tượng rằng ô tô của Mỹ sẽ có thuế quan bằng 0 vào tháng 10 hoặc ngày 01/01/2026. Nếu như vậy, các điều kiện cạnh tranh sẽ không hoàn toàn công bằng, cho nên sẽ phải xem Liên Âu phản ứng như thế nào. Tôi xin nhắc lại rằng trong số các quy tắc của OMC, có một quy tắc được gọi là điều khoản tối huệ quốc và Hoa Kỳ đã nhận được những lợi thế về thuế quan ưu đãi và phân biệt đối xử. Nếu chúng không được ghi trong khổ một hiệp định thương mại tự do, thì về lý thuyết, những nước dành ưu đãi thuế quan đơn phương này cho Mỹ cũng phải mở rộng những ưu đãi đó cho tất cả các thành viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Cho nên, chúng ta cùng chờ xem. Ủy viên châu Âu Sefcovic sẽ đến Việt Nam và chúng tôi sẽ hỏi ông ấy về cách ông ấy dự định khôi phục các điều kiện cạnh tranh công bằng, đặc biệt liên quan đến các đối thủ cạnh tranh có lợi thế về thuế quan ưu đãi nằm ngoài khuôn khổ pháp lý của các hiệp định thương mại tự do của OMC. RFI : Việt Nam thấy không còn lựa chọn nào khác ngoài việc mở rộng các thị trường và tận dụng tốt hơn các hiệp định thương mại tự do. Liên Âu có thể giúp Việt Nam cải thiện năng lực cạnh tranh như thế nào ? Jean-Jacques Bouflet : Dĩ nhiên là bằng việc áp dụng hiệp định thương mại tự do. Như tôi đã nói, hiệp định thương mại tự do là một khuôn khổ ổn định và có thể dự đoán được, có thể tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư. Dĩ nhiên thuế quan đóng một vai trò then chốt, nhưng vấn đề cốt lõi vẫn là năng lực cạnh tranh quốc tế. Và để làm được điều đó, Việt Nam cần cải thiện chất lượng sản xuất, thu hút đầu tư và tiếp thu bí quyết để có thể hy vọng tìm kiếm thị trường mới. Đọc thêmEuroCham : Tinh giản hành chính nhưng cần nhanh, hiệu quả để Việt Nam tăng hấp lực Dĩ nhiên là với tình hình Mỹ hiện nay, có một sự bất ổn và khó lường nhất định, cho nên Việt Nam vừa phải có chiến lược đa dạng hóa, vừa phải tăng cường trao đổi thương mại với các quốc gia có một khuôn khổ trao đổi thương mại ổn định và có thể dự đoán được, tức là những nước có hiệp định thương mại tự do. Về năng lực cạnh tranh, như tôi đã nói, đó là đầu tư. Ở điểm này, Việt Nam vẫn còn một số việc phải làm để điều chỉnh chính sách của mình. Họ đã bắt đầu thực hiện cải cách, hiện giờ chủ yếu là ở cấp độ hành chính. Nhưng họ phải tiếp tục mở cửa cho thương mại quốc tế, cho nước ngoài. Cách tốt nhất để cải thiện năng lực cạnh tranh của mình là tự mình đối mặt với cạnh tranh quốc tế. Và đó là điều Việt Nam cần hiểu. Việt Nam cũng phải tự do hóa chính sách nhập khẩu, chính sách đầu tư để trở thành một nhân tố chủ chốt trong chuỗi giá trị toàn cầu của thương mại thế giới. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn ông Jean-Jacques Bouflet, phó chủ tịch EuroCham tại Việt Nam, phụ trách vận động chính sách. (1) Tri Thức - Znews, ngày 06/08/2025. (2) EuroCham, Thông cáo báo chí "EVFTA tròn 5 tuổi".
- Tổng Bí thư Tô Lâm gặp mặt các cán bộ lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam Anh hùng, tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân nhân nhân Kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9.- Chủ trì cuộc họp trực tuyến Ban Chỉ đạo các công trình giao thông vận tải, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu dồn toàn lực hoàn thành ít nhất 3.000 km cao tốc vào cuối năm, coi đây là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng và “mệnh lệnh của trái tim”.- Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn kết thúc tốt đẹp chuyến tham dự Hội nghị Chủ tịch Quốc hội thế giới lần thứ 6 tại Thụy Sĩ và thăm chính thức Morocco, Senegal, để lại dấu ấn tốt đẹp về vai trò, vị thế của Việt Nam và Quốc hội Việt Nam trong lòng bạn bè quốc tế.- Sau 1 tháng vận hành, bộ máy chính quyền 2 cấp bước đầu đi vào hoạt động ổn định, thông suốt. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cũng cho thấy một số vướng mắc cần được nhận diện và điều chỉnh kịp thời để bộ máy phục vụ dân tốt hơn, sát dân hơn.- Công nhận Palestine - Tuyên ngôn chính trị mới của châu Âu và Canađa.- Mỹ và các đối tác thương mại đạt thỏa thuận phút chót trước thời hạn áp thuế dự kiến có hiệu lực từ ngày mai 1/8.
VOV1 - Tại căn nhà ở vùng biên giới biển ấp Năm Căn, xã Lai Hòa, thành phố Cần Thơ, không khí những ngày tháng 7 trở nên ấm cúng và đầy xúc động khi Đồn Biên phòng Lai Hòa phối hợp cùng các ban, ngành địa phương tổ chức bữa cơm tri ân đầy nghĩa tình tại gia đình Mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Hai.
“Ngày 01/07/2025 sẽ đi vào lịch sử cải cách bộ máy nhà nước Việt Nam như một dấu mốc mang tính đột phá và kiến tạo, cũng như lịch sử xây dựng và phát triển đất nước”. Tuyên bố được đăng trên trang web Cải cách Hành chính vì Việt Nam chính thức có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố, giảm gần một nửa so với trước đây. Đề án sáp nhập là do tổng bí thư Tô Lâm chủ trương và Quốc Hội biểu quyết thông qua ngày 12/06. Tinh giản bộ máy nhà nước được coi là điều vô cùng cần thiết để Việt Nam trở thành nước có thu nhập cao từ nay đến năm 2045. Thực hiện thành công công cuộc cải cách lần này, tổng bí thứ Tô Lâm còn cho thấy quyền lực cá nhân và những chiến lược tập trung quyền lực đằng sau. Đây là nhận định của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, khi trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 04/07/2025. RFI : Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính đã diễn ra nhiều lần trong lịch sử Việt Nam và lần gần đây nhất có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2025. Mục tiêu của cuộc cải cách này là gì ? Benoît de Tréglodé : Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính, cụ thể là giảm từ 63 tỉnh, thành xuống còn 34, bao gồm 28 tỉnh và 6 thành phố do chính quyền trung ương quản lý. Đây là một bước vô cùng quan trọng trong công cuộc cải cách đất nước, theo mong muốn của tổng bí thư Tô Lâm, với mục tiêu đầy tham vọng : thúc đẩy phát triển để đưa Việt Nam thành nước phát triển có thu nhập cao từ nay đến năm 2045. Vì vậy, cải cách bộ máy Nhà nước là một chặng, việc sáp nhập tỉnh cũng rất quan trọng, bởi vì qua đó người ta thấy một quyết tâm kỹ trị, một mong muốn kinh doanh và cả kinh tế, trong khi người tiền nhiệm Nguyễn Phú Trọng luôn đặt trọng tâm vào sự trong sạch thuần túy về mặt tư tưởng và kỷ luật của đảng. Điều mà tổng bí thư Tô Lâm thúc đẩy trong cuộc cải cách lần này là tạo ra những thực thể hành chính mới có khả năng cạnh tranh từ góc độ kinh tế. Tôi muốn nói đó là điều rất cụ thể, chứ không chỉ là lý thuyết. Có hai lưu ý sơ bộ để hiểu về cuộc cải cách này. Điều đáng chú ý trước tiên là ý muốn của một người, ở đây là ông Tô Lâm. Những địa giới hành chính mới của các tỉnh cũng là cách cho thấy quyết định được đưa từ trên xuống. Việc này đưa Đảng, và cuối cùng là tổng bí thư, vào trung tâm của quá trình ra quyết định mang tính quốc gia. Quốc Hội không thảo luận về dự án này mà chỉ phê duyệt. Chúng ta đang quay trở lại với một logic khá cũ, bị quên trong hơn một thập niên, là các đại biểu Quốc Hội tranh luận về các dự án lớn của bộ máy. Ở đây, ông Tô Lâm áp đặt cải cách mà Quốc Hội sẽ thông qua. Điểm này rất quan trọng mà tôi sẽ đề cập sau. Lưu ý thứ hai, đó là ông Tô Lâm gọi “cuộc cách mạng chống quan liêu” để tăng thêm hiệu quả. Có một điều không thể phủ nhận mà bất kỳ ai theo dõi hoặc quan sát các vấn đề chính trị, hành chính, cuộc sống hàng ngày của người Việt Nam đều không thể nói ngược lại : Hết thập niên này sang thập niên khác, một bộ máy quan liêu ngày càng phình to được lập ở nhiều cấp độ, từ xã, huyện đến tỉnh và trung ương, cho nên đã hạn chế hiệu quả hoạt động. Khi tổng bí thư nói đến việc tinh gọn, làm cho bộ máy hành chính chặt chẽ, mạnh mẽ, hiệu quả, hiệu suất hơn (về mặt giấy tờ), người ta có thể nói rằng ông ấy có lẽ đúng. Quá trình hiện đại hóa kinh tế của đất nước chắc chắn sẽ liên quan đến cuộc đổi mới này, bởi vì một bộ máy hành chính kém hiệu quả, cồng kềnh là rất tốn kém và chỉ tạo thêm “cửa” cho các nhà đầu tư muốn làm việc với Việt Nam. Đọc thêmTô Lâm, tân lãnh đạo cứng rắn của Việt Nam thiên về tư bản Ngoài ra, còn phải kể đến 3 lý do chính đằng sau việc tái cấu trúc hành chính và sáp nhập tỉnh. Thứ nhất, việc tinh giản bộ máy hành chính địa phương làm giảm các điểm tiếp xúc, các cấp ra quyết định và các tuyến chỉ huy, cho nên giảm được gánh nặng hành chính cho những người muốn làm việc với một địa phương. Có nghĩa là ít “cửa” hơn, ít tham nhũng hơn một chút, bởi vì có ít người để “làm việc” hơn. Lý do chính thứ hai, cải tổ ở cấp độ các vùng lãnh thổ Việt Nam sẽ tạo nên các không gian thúc đẩy động lực kinh tế và hạn chế chủ nghĩa địa phương. Cho nên cần nhắc lại, tinh giản là để hiệu quả hơn. Điểm thứ ba, được nhiều chuyên gia nêu lên : Cuộc cải cách lần này là nhằm giảm bớt ngân sách nhà nước, hiện dành tới 70% cho chi phí vận hành định kỳ của các cơ quan hành chính. Mục tiêu mang tính kinh tế, rất cụ thể. Nhưng đó không phải là những lý do duy nhất mà chúng ta sẽ nói đến sau. RFI : Ở Pháp, việc phân chia đơn vị hành chính đôi khi cũng được thực hiện vì mục đích bầu cử. Liệu trường hợp này có diễn ra ở Việt Nam không vì Đại hội Đảng cũng đang đến gần, trong khi lợi ích tài chính, đơn giản hóa hành chính… vẫn được nhấn mạnh khi sáp nhập tỉnh, như ông nhắc đến ở trên ? Benoît de Tréglodé : Tôi nói ngay là có. Đó là điều hiển nhiên. Tôi đã nhấn mạnh đến khía cạnh mục tiêu và tổ chức, rất cơ bản của cuộc cách mạng chống quan liêu. Đừng quên rằng chúng ta đang ở Việt Nam, Đại hội Đảng sẽ diễn ra trong chưa đầy một năm. Vì vậy, cuộc cách mạng mang hai mục tiêu, vừa về kinh tế, và đối với ông Tô Lâm, chắc chắn là còn mang tính chính trị. Sự tập trung chính trị này có nghĩa là gì ? Đây chỉ là một vấn đề đơn giản về số học. Cuộc cải cách sẽ củng cố sự tập trung chính trị. Ít tỉnh hơn, sẽ có ít người tham gia vào Ban Chấp hành Trung ương hơn, và như vậy sẽ tạo thuận lợi cho bộ Chính trị hoặc ban bí thư, chỉ phải kiểm soát ít hơn. Việc giảm số lượng tỉnh cũng dẫn đến việc giảm số lượng đại biểu được cử vào Ban Chấp hành Trung ương. Điều này rất quan trọng, bởi vì Ban Chấp hành Trung ương và các ban chính trị của đảng sẽ được bầu tại Đại hội toàn quốc lần thứ 14 của đảng vào đầu năm 2026. Với việc ít tỉnh hơn, ít đại diện hơn, rõ ràng việc này sẽ giúp tập trung ảnh hưởng nhiều hơn vào tay ông Tô Lâm và các đồng minh của ông. Không cần phải che giấu, cuộc cải cách này còn có mục đích tập trung quyền lực xung quanh lãnh đạo quyền lực của hệ thống chính trị Việt Nam, trong trường hợp này là tổng bí thư. Theo logic của Tô Lâm hiện nay, tập trung quyền lực cũng là bảo đảm thêm sự ổn định chính trị cho đất nước, cho đội ngũ lãnh đạo đất nước. Lập luận này xuất phát từ nhận định là cần phải phát triển Việt Nam về kinh tế để đạt được mục tiêu phát triển đầy tham vọng năm 2045 và để chống lại những bất ổn trên chính trường khu vực và quốc tế, cũng tác động đến Việt Nam. Nói tóm lại, mục đích chính trị cũng đi kèm với mục tiêu hành chính và kinh tế trong đợt cải cách quy mô lớn này. RFI : Làm thế nào có thể tiến hành cuộc cải cách vào thời điểm này và nhanh đến như vậy ? Benoît de Tréglodé : Quả thực, rất nhiều người thắc mắc về vấn đề này. Đã thành thông lệ là mỗi năm trước kỳ Đại hội đảng vẫn có những chiến dịch chống tham nhũng lớn (tiếp tục hoặc tái khởi động) để phân loại trong số những người thân cận hoặc đối thủ của những nhân vật chuẩn bị cho đại hội sau đó. Năm nay, không nhất thiết phải là một chiến dịch chống tham nhũng mới khiến toàn bộ môi trường chính trị ngưng đọng hoàn toàn, mà là cuộc đại cải cách đầy tham vọng hệ thống hành chính Việt Nam, theo mong muốn của ông Tô Lâm. Điều có thể nghĩ tới ngay lập tức, nếu một cuộc cải cách đầy tham vọng như vậy được thực hiện bởi một người duy nhất thì đó là do ông ấy không cảm thấy bị bất kỳ ai đe dọa và điều này nằm trong quyền lực to lớn của ông trong bộ máy chính trị Việt Nam. Vào đúng năm trước Đại hội Đảng, với cuộc tinh giản bộ máy hành chính ở cấp địa phương, nhưng cũng có thể nói là ở cấp trung ương, ở cấp bộ, không ai chắc chắn là giữ được vị trí của mình, kể cả trong Ban Chấp hành Trung ương. Số người may mắn được chọn sẽ ít hơn vào năm 2026. Có thể nói rằng chiến dịch kiểm soát khổng lồ này thậm chí còn hiệu quả hơn các chiến dịch chống tham nhũng thông thường. Bởi vì chúng khiến mọi người run sợ, ai cũng muốn giữ lấy chỗ và có thể theo đuổi sự nghiệp trong một bộ máy hành chính bị thu hẹp lại. Đọc thêmViệt Nam : Chủ tịch nước bị cách chức, tổng bí thư bị tiếm quyền ? Cuối cùng, chỉ một người thắng cuộc lớn nhất, đó là ông Tô Lâm, người tổ chức công cuộc này cùng với ban lãnh đạo của ông hiện tại hoặc trước đây trong bộ Công An. Có một bầu không khí chung, có thể nói là lo lắng, về sự chuyển đổi xã hội này, cho dù nhiều người hoan nghênh, đánh giá dự án là “cao cả”, để bộ máy hành chính cồng kềnh trở nên hiệu quả hơn, sáp nhập các đơn vị hành chính chồng chéo để giúp đất nước giàu mạnh hơn, các địa phương hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài hơn. Nhưng thường thì ở Việt Nam, người ta vẫn làm “một công đôi việc”. Người ta mang đến cho người dân một cuộc cải cách được hoan nghênh với những mục tiêu rất tham vọng, cao cả. Nhưng đồng thời, công cuộc này lại được thực hiện bởi một chính trị gia đang tận dụng nó để trụ vững ở trung tâm và thể hiện toàn bộ quyền lực của mình trong trung tâm bộ máy. RFI : Những tỉnh mới, từ giờ rộng lớn hơn rất nhiều, có thể sẽ phải đối mặt với những thách thức nào trong tương lai ? Benoît de Tréglodé : Đây là cả một vấn đề. Đúng là có thể có những tác động tích cực, đúng đắn. Việc thành lập các siêu tỉnh để thu hút đầu tư nước ngoài có thể giúp địa phương phát triển hiệu quả hơn, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài qua việc “giảm hai, ba lần” số “cửa” tham nhũng. Trước đây, các nhà đầu tư nước ngoài đôi khi phải gõ cửa các ủy ban tỉnh, ủy ban huyện, xã, địa phương liên quan… càng nhiều cửa thì càng có nhiều công chức tham nhũng và càng khiến hoạt động thêm phức tạp. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, các chính quyền mới sẽ đơn giản hơn và minh bạch hơn trong việc hợp tác sau khi cải cách sáp nhập tỉnh có hiệu lực từ ngày 01/07/2025. Đọc thêmChủ tịch nước kiêm tổng bí thư, ông Tô Lâm nắm trọn quyền lực ở Việt Nam Mặt khác, có thể là còn quá sớm để nói hoặc hình dung cụ thể hoạt động sẽ như thế nào, nhưng việc thành lập những tỉnh lớn như vậy có thể tạo nên sự bất ổn lâu dài nếu các nhà lãnh đạo tỉnh tương lai dần trở nên quyền lực hơn, một ngày nào đó không hoàn toàn chia sẻ năng lực hoặc tầm nhìn với ông Tô Lâm và bắt đầu tập trung quyền lực cho các mục đích cá nhân. Họ sẽ ít hơn về số lượng, họ sẽ quản lý các khu vực rộng hơn, giàu có hơn, phát triển hơn, họ có thể có tham vọng chính trị lớn hơn. Điều rủi ro là sự xuất hiện của các sếp lớn hoặc “lãnh chúa” lớn, đầy sức mạnh. Tôi nghĩ rằng ở cấp trung ương, trong vòng thân cận của tổng bí thư, mọi chuyện đã được xem xét rất chặt chẽ, bởi vì phải nhắc lại rằng mặt trái của việc sáp nhập tỉnh là các lãnh đạo tỉnh sẽ ít hơn nhưng có thể sẽ quyền lực hơn vì tỉnh của họ lớn hơn, đa dạng hơn, nhưng cũng có thể là họ sẽ bị cấp trung ương kiểm soát nhiều hơn vì họ không đông. Vì vậy, tương lai của mối liên kết giữa quyền tự chủ khu vực, phi tập trung nhưng dưới sự kiểm soát là cả một câu hỏi, là cả sự đánh cược mà ông Tô Lâm đang thực hiện để hiện đại hóa đất nước, thâu tóm và tập trung quyền lực tốt hơn trong 20 năm tới, giai đoạn mang tính quyết định trong việc đạt được mục tiêu đề ra cho năm 2045. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược - IRSEM, Trường Quân sự Pháp.
Sau 12 năm đàm phán, Việt Nam và Indonesia đã đạt được thỏa thuận về phân định vùng đặc quyền kinh tế. Văn bản được công bố chính thức ngày 23/12/2022 trong chuyến thăm cấp Nhà nước Jakarta của chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc. Bước cuối cùng là Quốc Hội hai nước phê chuẩn văn bản để có chính thức có hiệu lực và giải quyết những căng thẳng, bất đồng và cùng phát triển khai thác tài nguyên theo đúng luật biển quốc tế. Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 18/04/2025, nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Trường Sư phạm Lyon (École normale supérieure de Lyon), nhấn mạnh bối cảnh quan hệ song phương tốt đẹp là một trong những yếu tố giúp Việt Nam và Indonesia thiết lập được thỏa thuận. Năm 2025, hai nước kỷ niệm 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Quan hệ “đối tác chiến lược” có từ năm 2013 được nâng lên thành “đối tác chiến lược toàn diện” vào ngày 09/03/2025 nhân chuyến thăm cấp Nhà nước của tổng bí thư Tô Lâm tới Indonesia. Về kinh tế, trong ASEAN, Indonesia là đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam và Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ tư của Indonesia. Mục tiêu của hai chính phủ là tăng kim ngạch thương mại song phương lên 18 tỷ đô la vào năm 2028. RFI : Việt Nam và Indonesia sớm phê chuẩn hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ). Việt Nam và Indonesia có những yêu sách cụ thể như nào ở Biển Đông ? Laurent Gédéon : Các cuộc đàm phán về pháp lý liên quan đến hiệp định tập trung vào việc giải quyết các vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn mà Việt Nam và Indonesia đều đòi chủ quyền. Tôi muốn nhắc lại cả hai nước đều là thành viên của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, được Indonesia phê chuẩn ngày 03/02/1986 và Việt Nam phê chuẩn ngày 25/07/1994. Như vậy, cả hai nước đều công nhận luật biển quốc tế. Sự chồng lấn về chủ quyền giữa hai nước liên quan đến vùng biển xung quanh quần đảo Natuna ở phía nam Biển Đông. Đối với Việt Nam, đường phân định EEZ phải trùng với ranh giới thềm lục địa giữa Indonesia và Việt Nam. Hà Nội dựa vào thực tế là ranh giới này đã được xác định vào năm 2003 thông qua một thỏa thuận song phương. Ngược lại, Indonesia cho rằng ranh giới của vùng đặc quyền kinh tế cần được đàm phán riêng biệt với ranh giới của thềm lục địa. Jakarta lập luận rằng theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), đây là hai vùng biển riêng biệt, cho nên phải được đàm phán riêng. Do đó, Indonesia muốn tính đến đường trung tuyến giữa quần đảo Natuna và Côn Đảo : Quần đảo Natuna cách đảo Kalimantan của Indonesia khoảng 300 km, còn Côn Đảo cách bờ biển Việt Nam khoảng 90 km. Nhưng đối với Hà Nội, việc sử dụng đường trung tuyến giữa các quần đảo là không công bằng vì có lợi cho Indonesia. Đọc thêmViệt Nam và Indonesia đạt đồng thuận về phân định vùng đặc quyền kinh tế Nhiều vấn đề pháp lý khác cũng đã được nêu lên trong quá trình đàm phán, đặc biệt là những khác biệt trong các đường cơ sở được sử dụng để đo khu vực phân định. Là một quốc gia quần đảo, Indonesia được phép sử dụng đường cơ sở quần đảo, tức là các đường thẳng, không nhất thiết phải chạy theo đường bờ biển, trong khi Việt Nam chỉ có thể sử dụng đường cơ sở thông thường chạy theo đường bờ biển. Hai phương pháp cơ bản khác nhau này làm phức tạp các cuộc đàm phán vì Hà Nội cho rằng điều này làm suy yếu vị thế của họ. Bất chấp những khác biệt, Indonesia và Việt Nam cuối cùng đã thống nhất về hai đường ranh giới phù hợp với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, trong đó quy định rằng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế là hai vùng biển riêng biệt cần được đàm phán riêng. Tuy nhiên, do tính chất bảo mật của các cuộc đàm phán song phương, cách thức hai bên áp dụng phương pháp đường trung tuyến để giải quyết tranh chấp của họ đã không được tiết lộ, nhưng không thể phủ nhận rằng đây là một sự thỏa hiệp mang tính sáng tạo, thể hiện bước tiến pháp lý đáng kể trong khi vẫn tuân thủ các nguyên tắc của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. RFI : Thỏa thuận về vùng đặc quyền kinh tế là bước tiến quan trọng sau hơn một thập niên đàm phán. Triển vọng của cả hai nước sẽ thế nào, cũng như tương lai về mối quan hệ giữa hai nước với Trung Quốc ? Laurent Gédéon : Như đã nói, Hiệp định về vùng đặc quyền kinh tế giữa Indonesia và Việt Nam là một bước tiến lớn không chỉ trong quan hệ song phương giữa hai nước mà còn cho toàn bộ môi trường khu vực. Hệ quả đầu tiên và rõ ràng nhất là thỏa thuận này sẽ chấm dứt căng thẳng giữa hai nước liên quan đến hoạt động đánh bắt cá của tàu thuyền Việt Nam trong vùng biển vẫn được Indonesia coi là vùng đặc quyền kinh tế của họ. Hệ quả thứ hai liên quan đến các nguồn năng lượng trong khu vực này, đặc biệt là khí đốt tự nhiên, một số mỏ nằm ở phần EEZ của Indonesia giáp với EEZ của Việt Nam. Việc làm rõ ranh giới giữa hai vùng đặc quyền kinh tế sẽ cho phép Indonesia tự do phát triển hoạt động thăm dò và khai thác nguồn tài nguyên này. Hệ quả thứ ba mang tính chất pháp lý bởi vì thỏa thuận Việt Nam-Indonesia mở đường cho các thỏa thuận tương tự có thể có giữa các nước khác trong khu vực, có nghĩa là có thể thấy trong việc áp dụng đường phân định kép (thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế) một mô hình cho các cuộc đàm phán trong tương lai. Hệ quả cuối cùng ảnh hưởng đến Trung Quốc vì đường ranh giới chung do Việt Nam và Indonesia thiết lập chồng lấn một phần với đường chín đoạn đánh dấu yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với phần lớn Biển Đông. Đọc thêmViệt Nam kêu gọi ASEAN đoàn kết vào lúc Bắc Kinh lấn lướt ở Biển Đông Tuy nhiên, có một thắc mắc về chính sách của Indonesia liên quan đến Trung Quốc. Nhân chuyến thăm Bắc Kinh ngày 09/11/2024 của tổng thống Indonesia Prabowo Subianto, nhiều thỏa thuận đã được ký kết, kể cả hợp tác công nghiệp và khai khoáng, hợp tác thương mại, với tổng giá trị lên tới 10 tỷ đô la. Ngoài ra còn có một thỏa thuận về hợp tác hàng hải, trong đó hai bên cam kết cùng nhau phát triển kinh tế hàng hải ở Biển Đông, bao gồm cả những khu vực có tranh chấp chồng lấn. Tuyên bố chung được đưa ra trong dịp này nêu rõ rằng hai nước đã “đạt được một thỏa thuận quan trọng về phát triển chung ở những khu vực có yêu sách chồng lấn”. Tuy nhiên cho đến nay, tất cả các nước có tranh chấp hàng hải với Bắc Kinh, như Indonesia, Philippines, Việt Nam, Brunei, Malaysia và Đài Loan, đều tránh tham gia vào thỏa thuận phát triển chung với Trung Quốc vì sợ rằng việc đó sẽ bị hiểu là công nhận chính thức các yêu sách của Trung Quốc. Mặc dù Indonesia đã thận trọng khẳng định lại rằng họ không công nhận các yêu sách quá đáng của Trung Quốc đối với Biển Đông, nhưng thỏa thuận giữa Bắc Kinh và Jakarta đã đánh dấu sự phá vỡ lập luận trước đây và cho thấy rõ mâu thuẫn trong lập trường của Indonesia về luật hàng hải quốc tế. Về phần Việt Nam, quốc gia không bị ràng buộc bởi bất kỳ thỏa thuận chung nào với Trung Quốc về các khu vực tranh chấp, vẫn kiên định với lập trường của họ và trong phản đối các yêu sách hàng hải của Trung Quốc. Đối với Hà Nội, thỏa thuận này chắc chắn là một bước đột phá ngoại giao lớn và là tiền lệ pháp lý mà Hà Nội có thể khai thác ở cấp độ ngoại giao. Ngoài ra, thỏa thuận cũng có lợi thế là không đặt Hà Nội vào thế đối đầu trực tiếp với Bắc Kinh trong khi vẫn khẳng định được cam kết của họ đối với luật pháp quốc tế. RFI : Sau thỏa thuận về vùng đặc quyền kinh tế giữa Việt Nam và Indonesia, liệu đã có thể nói đến một liên minh đối trọng Philippines, Indonesia, Việt Nam để đối phó với các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông không ? Laurent Gédéon : Có, trong bối cảnh Trung Quốc luôn chú ý đến việc không để một mặt trận chống Trung Quốc trỗi dậy giữa các quốc gia ven Biển Đông và rộng hơn là trong ASEAN, thì thỏa thuận Việt Nam-Indonesia mở đường cho sự xuất hiện của các chiến lược tập thể đối phó với những tranh chấp hàng hải ở Biển Đông. Những chiến lược này đáng chú ý - và cũng gây vấn đề cho Trung Quốc - vì chúng được thực hiện theo cách tuân thủ chặt chẽ luật hàng hải quốc tế. Việc này càng giành được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế và củng cố thêm sự cô lập của Trung Quốc đối với các yêu sách chủ quyền tối đa của nước này. Đọc thêmThỏa thuận Việt Nam - Indonesia: Một hướng giải quyết tranh chấp Biển Đông? Cho nên chúng ta có thể thấy những thỏa thuận kiểu này gia tăng trong tương lai, đặc biệt là liên quan đến Việt Nam, Philippines và Malaysia. Đó là một quá trình dài, trước hết đòi hỏi các đối tác tăng cường tin tưởng nhau, và sẽ ngày càng phức tạp hơn vì liên quan đến các vùng biển quanh quần đảo Trường Sa, nơi vẫn được biết đến là trung tâm của các vấn đề địa-chiến lược đặc biệt quan trọng. Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng việc ký kết các hiệp định quốc tế là sự kiện quan trọng nhưng việc thực hiện chúng cũng quan trọng không kém. Và về điểm này, sẽ cần phải phân tích cẩn thận những tác động thực địa của hiệp định Việt Nam-Indonesia để đưa ra kết luận và phát triển các phân tích triển vọng có thể diễn ra. Cho nên, ngoài một liên minh đối trọng giữa Philippines, Việt Nam và Indonesia, chúng ta có thể xem rằng các thỏa thuận kiểu này phù hợp với sự hội tụ lợi ích ngầm hoặc rõ ràng của ba nước vì chúng hạn chế khả năng của Trung Quốc trong việc khẳng định các yêu sách chủ quyền và dẫn đến việc Bắc Kinh ngày càng bị cô lập về pháp lý. Dĩ nhiên Trung Quốc có thể tìm cách đảo ngược để áp đặt quan điểm của họ, nhưng việc đó sẽ làm giảm thêm tính hợp pháp về mặt pháp lý của các hành động, yêu sách của Bắc Kinh. Do đó, thỏa thuận này có thể đóng vai trò là mô hình giải quyết các tranh chấp hàng hải khác ở Đông Nam Á và tạo thành đòn bẩy ngoại giao khôn khéo để thay đổi tình hình trong khu vực. RFI : Việt Nam đã bị Ủy Ban Châu Âu đưa ra “thẻ vàng” về tình trạng đánh bắt cá bất hợp pháp. Thỏa thuận với Indonesia được coi là dấu chấm hết cho tình trạng đánh bắt cá bất hợp pháp trong khu vực. Liệu đây có phải là một kiểu cam kết để cá Việt Nam có thể vào thị trường châu Âu không ? Laurent Gédéon : Vùng đặc quyền kinh tế cho phép một quốc gia tiếp cận độc quyền các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở vùng biển và đáy biển của nước đó. Việc phân định rõ ràng không gian này thường giúp tránh được những hiểu lầm và mâu thuẫn trong quản lý nguồn cá nếu các đối tác có thiện chí. Về mặt này, thỏa thuận giữa Việt Nam và Indonesia làm rõ quyền đánh bắt cá của cả hai bên ở Biển Đông và thể hiện sự cải thiện rõ rệt so với giai đoạn trước đây, khi cả hai nước đều có yêu sách riêng, khiến việc xác định tàu cá có vượt qua ranh giới hay không trở nên khó khăn. Do đó, việc làm rõ biên giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các quy định và trừng phạt những người vi phạm, đặc biệt là xung quanh quần đảo Natuna, nơi giàu tài nguyên thiên nhiên. Nhìn chung, kiểu thỏa thuận này có giá trị vì nó tăng cường năng lực hợp tác và quản lý lẫn nhau giữa hai bên. Tình hình này chỉ có thể có lợi cho Việt Nam khi chứng tỏ rằng đất nước đã trưởng thành về năng lực quản lý nguồn lợi thủy sản. Đọc thêmChồng lấn EEZ, nguyên nhân vụ va chạm giữa tàu Việt Nam và Indonesia Không chỉ riêng ở Biển Đông, đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) là một vấn đề toàn cầu đe dọa hệ sinh thái đại dương và “đánh bắt cá bền vững”. Đây là lý do tại sao chính quyền Liên Hiệp Châu Âu đã giám sát Việt Nam sau cảnh báo vào năm 2017. Xin nhắc lại, những nước xuất khẩu sang Liên Âu được phân loại và có thể chịu trừng phạt tương ứng với hệ thống mã màu : xanh lá cây, vàng, đỏ, các lệnh trừng phạt có thể lên tới mức dừng hoàn toàn hoạt động thương mại. Do đó, thỏa thuận giữa Việt Nam và Indonesia có thể được coi là một giải pháp đôi bên cùng có lợi vì nó củng cố quan hệ song phương, tránh leo thang giữa ngư dân và cơ quan thực thi pháp luật. Còn đối với Việt Nam, thỏa thuận này cho thấy quốc gia này nghiêm túc thực hiện các cam kết quốc tế và là đối tác đáng tin cậy cho Liên Hiệp Châu Âu. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon, Pháp.
Có 14 thỏa thuận quan trọng đã được ký trong chuyến thăm chính thức Việt Nam ngày 26-27/05/2025 của tổng thống Pháp Emmanuel Macron với tổng trị giá lên đến 9 tỷ euro trong các lĩnh vực quốc phòng, hàng không, đường sắt, vũ trụ, y tế và năng lượng. Theo Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội, đây là “một dấu hiệu mạnh mẽ của sự tin cậy lẫn nhau và một giai đoạn mới trong quan hệ đối tác chiến lược toàn diện đầy tham vọng”. Pháp trở thành Đối tác chiến lược toàn diện thứ 8 của Việt Nam và là nước châu Âu đầu tiên được nâng lên mức này. Tại sao Việt Nam mở đầu cho chuyến công du Đông Nam Á của tổng thống Pháp? Trong bài phát biểu tại cuộc gặp với tổng bí thư Tô Lâm ở Văn Miếu, tổng thống Macron giải thích đó là vì “lịch sử của hai đất nước chúng ta, vì trao đổi rất sôi nổi mà chúng ta đã có và cũng vì một niềm tin sâu sắc rằng chúng ta có một trang mới cần viết và rất nhiều điểm chung cần làm và tiếp nối quyết định vào cuối năm 2024 nâng cấp mối quan hệ song phương lên hàng đối tác chiến lược toàn diện”.Nhìn chung, chuyến công du Việt Nam của tổng thống Emmanuel Macron có nhiều ý nghĩa : Tái khẳng định mong muốn khép lại quá khứ để trở thành đối tác ổn định của nhau trong mọi lĩnh vực ; hai nước làm cửa ngõ cho nhau thâm nhập khu vực ASEAN, Liên Hiệp Châu Âu để đa dạng hóa đối tác ; hình thành con đường thứ ba để tránh phụ thuộc vào hai cường quốc Mỹ, Trung Quốc.Khép lại quá khứ để trở thành đối tác ổn định của nhau trong mọi lĩnh vựcMong muốn bước sang trang mới được thể hiện ở việc hai cựu chiến binh Pháp và Việt Nam, hiện đã 90 tuổi, từng ở thế đối đầu trên chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954 đã nắm chặt tay nhau như đôi bạn tại Phủ chủ tịch trong lễ đón tổng thống Macron ngày 26/05. Hình ảnh đầy biểu tượng này còn tượng trưng cho sự hòa giải thành công, đặc biệt là “với việc hai bộ trưởng Pháp dự lễ kỷ niệm 70 năm trận Điện Biên Phủ ngày 07/05/2024”. Theo giáo sư lịch sử đương đại Pierre Journoud, Đại học Paul Valery - Montpellier 3, khi trả lời RFI Tiếng Việt, “thời khắc đó đã được chính quyền Việt Nam đón nhận rất nồng nhiệt và sau đó họ quyết định đẩy nhanh một chút tiến độ hòa giải”.Tại Hà Nội, tổng thống Macron nhắc lại mong muốn của Pháp “trở thành đối tác ổn định về mặt ngoại giao, thấu hiểu về chiến lược và quân sự và là đối tác trên hành trình năng lượng, công nghệ, công nghiệp mà Việt Nam đang hình thành”. Phát biểu với báo giới chiều 27/05, tổng thống Pháp cho biết : “Lần đầu tiên, chúng tôi (Pháp và Việt Nam) đã ký một ý định thư và một thư chung về mặt quốc phòng cùng với những thỏa thuận mua đầu tiên về những năng lực cơ bản, và mong muốn tiến triển trong các vấn đề quốc phòng và năng lực, máy bay trực thăng thông qua việc mở nhiều xưởng mới. Trong chuyến công du này, chúng tôi cũng đã ký một thỏa thuận về vệ tinh”.Pháp muốn trở thành đối tác an ninh uy tín, điểm tựa công nghệ cho Việt NamVấn đề an ninh quốc phòng, luôn là chủ đề lớn nhưng kín đáo trong hợp tác giữa hai nước, sẽ có triển vọng như thế nào sau chuyến công du Việt Nam của tổng thống Pháp ? Nhà sử học Pierre Journoud nhận định với RFI Tiếng Việt :“Có thể nói ngắn gọn rằng bối cảnh hiện nay thuận lợi cho việc Việt Nam và Pháp xích lại gần hơn trong lĩnh vực quốc phòng. Pháp là nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ hai thế giới vào năm 2024, cho nên có một số tham vọng chính đáng ở khu vực Đông Nam Á. Còn Việt Nam đã tổ chức triển lãm quốc phòng quốc tế lần thứ hai tại Hà Nội vào tháng 12/2024. Việt Nam bắt đầu đa dạng hóa việc mua vũ khí và trang thiết bị quân sự để bù đắp cho những thiếu hụt thực sự, hoặc được cho là như vậy, của nhà cung cấp Nga, vốn chiếm ưu thế ở Việt Nam”. Đọc thêmViệt Nam có sẵn sàng mua thiết bị quân sự hạng nặng của Pháp ?Trong tuyên bố chung, Việt Nam và Pháp nhất trí “phát triển quan hệ trong lĩnh vực quốc phòng nhằm củng cố năng lực tự chủ chiến lược của mỗi nước, phù hợp với nhu cầu của mỗi bên, đặc biệt là thông qua việc tăng cường hợp tác trong lĩnh vực trang bị quốc phòng với việc nghiên cứu, đề xuất và triển khai các dự án mang tính cơ cấu (…)”. Ngoài ra, hai nước “tiếp tục củng cố hợp tác phòng, chống tội phạm, xuất nhập cảnh trái phép và đưa người di cư bất hợp pháp, cũng như hợp tác trong lĩnh vực bảo vệ an ninh dân sự”.Hàng loạt chủ đề hợp tác khác được đích thân tổng thống Emmanuel Macron liệt kê trong buổi trao đổi với báo chí chiều 27/05, cùng với nhận định “giữa hai nước có mối liên hệ rất mạnh mẽ”. Pháp sẵn sàng làm điểm tựa để Việt Nam phát triển công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược như hàng không, vũ trụ, đường sắt, năng lượng phi carbon (gồm năng lượng tái tạo và hạt nhân, hydrogen), y tế, kinh tế công nghiệp, dịch vụ cho doanh nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt là trong nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược.Cùng nhau đa dạng hóa quan hệ thương mại, tránh “bẫy” đối tác lớnĐa dạng hóa đối tác thương mại là chủ đề lớn thứ hai được đề cập trong mối quan hệ Pháp-Việt. Chuyến công du Việt Nam được tổng thống Macron nhấn mạnh diễn ra trong bối cảnh Mỹ “thay đổi thuế quan tùy theo mỗi sáng, hiện giờ là cùng 10% nhưng có thể đối với các bạn (Việt Nam) sẽ là 46%, Liên Hiệp Châu Âu là 50%”. Cả Pháp và Việt Nam, nhìn rộng hơn là Liên Hiệp Châu Âu và ASEAN, đều bị động vì lệ thuộc quá lớn vào một siêu cường như Mỹ hoặc Trung Quốc. Đọc thêm : Quan hệ Việt-Trung trong cơn bão thuế quan MỹChuyến thăm Hà Nội của tổng thống Macron có thể trở thành cơ hội để Việt Nam, Pháp cùng với Liên Hiệp Châu Âu tăng cường hiệp định tự do thương mại EVFTA ? Giáo sư lịch sử Pierre Journoud nhận định :“Tôi nghĩ hoàn toàn đúng. Việc này không hẳn là đơn giản vì chúng ta có thể thấy rằng hy vọng này đã có từ lâu và được nuôi dưỡng trong một thời gian dài. Nhiều bộ trưởng, thậm chí là thủ tướng của hai nước, trong nhiều năm, thậm chí là nhiều thập niên, đã bày tỏ mong muốn cải thiện mối quan hệ này. Tuy nhiên, thực trạng lại có xu hướng suy giảm khi nhìn vào số liệu về quan hệ thương mại, ít nhất là thị phần của Pháp tại Việt Nam. Khoảng giữa thập niên 1990, Pháp từng chiếm khoảng 4 hoặc 5% thị phần ở Việt Nam, nhưng hiện tại chỉ còn 0,5% hoặc nhỉnh hơn một chút, nhưng cũng phải nói là đúng vào thời kỳ Việt Nam mở cửa mạnh mẽ, đa dạng hóa đối tác, muốn mở rộng quan hệ ngoại giao và trao đổi kinh tế, thương mại. Và đó là điều rất tốt cho một đất nước đang thoát khỏi giai đoạn chiến tranh và cô lập kéo dài trên trường quốc tế. Tuy nhiên, mối quan hệ kinh tế còn kém xa so với kỳ vọng của cả Pháp và Việt Nam. Hy vọng rằng hiệp định thương mại tự do thế hệ mới được ký kết giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam vào năm 2019 sẽ mang lại những tác động tích cực cho cả hai bên, cũng như đối với quan hệ song phương Pháp-Việt. Và tôi tin rằng chính quyền Việt Nam cũng mong Pháp hành động để thuyết phục Ủy Ban Châu Âu sớm dỡ bỏ “thẻ vàng” đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, vì đây là vấn đề quan trọng đối với Hà Nội, khi chúng ta biết được tầm quan trọng của nghề cá trong nền kinh tế Việt Nam”.Trong khuôn khổ chuyến công du của tổng thống Macron, Việt Nam và Pháp đều thể hiện mong muốn trở thành cửa ngõ cho nhau để thâm nhập khu vực ASEAN, Liên Hiệp Châu Âu. Phát biểu tại cuộc gặp với tổng bí thư Tô Lâm, tổng thống Macron nhấn mạnh “các lợi ích và mục tiêu của Việt Nam và Pháp có nhiều điểm bổ trợ. Tương tự với ASEAN và Liên Hiệp Châu Âu”. Còn trong Tuyên bố chung, hai nước khẳng định “ủng hộ việc tăng cường mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên Hiệp Châu Âu (EU), cũng như quan hệ Đối tác phát triển ASEAN - Pháp và quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN - EU”. Trước đó, ngoại trưởng Việt Nam kiêm phó thủ tướng Bùi Thanh Sơn từng nhắc đến khả năng một ngày nào đó Hà Nội sẽ ký thỏa thuận Đối tác chiến lược toàn diện với Liên Âu.“Con đường thứ ba” : “Liên minh những nước độc lập” trước Mỹ, Trung QuốcTrong chuyến công du, tổng thống Macron nhấn mạnh đến “con đường thứ ba” không phụ thuộc vào Mỹ lẫn Trung Quốc mà “sự cạnh tranh giữa hai nước này có nguy cơ gây ra một cuộc xung đột lớn hơn nhiều ở vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương rộng lớn này”. Pháp có chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương từ năm 2018 để tăng cường hợp tác với các nước trong vùng nhằm bảo vệ luật pháp luật pháp quốc tế. Việt Nam hiểu rõ mong muốn của Pháp và điều này giải thích cho việc hai nước nâng cấp quan hệ lên mức cao nhất Đối tác Chiến lược Toàn diện vào tháng 10/2024.Đọc thêmTổng thống Macron gặp giới trẻ Việt Nam, kêu gọi “con đường thứ ba” vì hòa bình, công bằng và thịnh vượngKế hoạch hành động giai đoạn 2025-2028 triển khai Tuyên bố chung về việc nâng cấp quan hệ song phương đã được hai nước nhất trí phối hợp chặt chẽ để sớm thông qua. Để làm được việc này, ông Macron nhấn mạnh đến sự thông hiểu lẫn nhau, hiểu được triết lý, sự thay đổi trong xã hội hai nước và trên hết là những nguyên tắc dựa trên giá trị nhân văn. Chuyến thăm cấp Nhà nước của nguyên thủ Pháp có ý nghĩa quan trọng cho sự hợp tác song phương. “Đây là điểm không thể phủ nhận”, theo kiến trúc sư Emmanuel Cerise, giám đốc công ty PRX-Vietnam trong khuôn khổ hợp tác phi tập trung giữa thành phố Hà Nội và vùng Ile-de-France, khi trả lời RFI Tiếng Việt tại Hà Nội :“Việc tổng thống Pháp có mặt tại Hà Nội là minh chứng cho sự hợp tác của hai nước trong những lĩnh vực đang tiến hành. Đúng là hợp tác phi tập trung ngày càng được nhà nước và đại sứ quán Pháp xem là một trong những tác nhân hành động quan trọng của đội ngũ Pháp tại Việt Nam. Về vấn đề di sản, tôi biết là phái đoàn của tổng thống Macron cũng quan tâm đặc biệt đến văn hóa, mà di sản cũng là một phần của văn hóa. Hơn nữa, chương trình di sản mà chúng tôi đang hợp tác được gọi là di sản văn hóa và đây là vấn đề được Việt Nam mong muốn phát triển. Do đó, tôi hy vọng chuyến công du sẽ tạo thuận lợi cho mọi việc. Dù sao, đây là sự công nhận tuyệt vời”.Chuyến công du Hà Nội của tổng thống Macron đánh dấu một trang mới trong lịch sử hai nước, củng cố niềm tin lẫn nhau, mở ra những cơ hội hợp tác mới. Theo phát biểu của ông Macron, “với Pháp, các bạn (Việt Nam) có một người bạn được biết đến, chắc chắn và đáng tin. Chúng tôi cho là Việt Nam cũng nghĩ vậy. Và tại thời điểm chúng ta đang trải qua, chỉ điều này thôi đã có rất nhiều ý nghĩa”.
Ngày 12/05/2025, đại sứ Liên Hiệp Châu Âu Julien Guerrier và đại sứ Pháp Olivier Brochet tại Việt Nam thăm thực địa dự án mở rộng nhà máy thủy điện Ialy, do Tập đoàn Điện lực Việt Nam thực hiện với khoản vay ưu đãi 74,7 triệu euro từ Cơ quan Phát triển Pháp - AFD và khoản viện trợ 2 triệu euro từ Liên Âu. Dự án cũng nằm trong khuôn khổ JETP - Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng - giúp Việt Nam đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, hướng tới loại bỏ sử dụng than đá. Được đưa vào hoạt động cuối năm 2024 sau bốn năm thực hiện, nhà máy Ialy lắp đặt bổ sung hai tổ máy có công suất 180 MW mỗi tổ, nâng tổng công suất của nhà máy lên 1.080 MW. Dự án Ialy được coi là một trong những dự án tiêu biểu thúc đẩy chuyển dịch năng lượng xanh tại Việt Nam, theo hướng tiếp cận Team Europe (Đội Châu Âu) và sẽ được tổng kết trong năm 2025.JETP được Việt Nam và Nhóm các đối tác quốc tế, bao gồm Liên Hiệp Châu Âu, nhóm G7, Na Uy và Đan Mạch, ký ngày 14/12/2022. Việt Nam trở thành một trong ba nước trên thế giới, cùng với Nam Phi và Indonesia, ký thỏa thuận được đánh giá là rất có lợi, với khoản tài trợ ban đầu lên tới 15,5 tỷ đô la, để hỗ trợ Việt Nam đạt được bốn mục tiêu đầy tham vọng (1) và sẽ có vai trò quan trọng trong bối cảnh Việt Nam muốn xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Bắc-Nam.Đọc thêmThiếu điện gây cản trở cho tham vọng về môi trường của Việt NamTrong khuôn khổ JETP, Việt Nam và Ngân hàng Đầu tư châu Âu (BEI) ký Biên bản ghi nhớ thể hiện cam kết chung trong việc thành lập một cơ sở tín dụng đa dự án trị giá 500 triệu euro, để tài trợ cho các dự án hỗ trợ quá trình khử cacbon và chuyển đổi năng lượng. Ngoài ra, Liên Hiệp Châu Âu cũng cấp cho Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) một khoản ngân sách để hỗ trợ kỹ thuật cho Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) trong việc phát triển và triển khai các dự án liên quan đến JETP.Để hiểu thêm về Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng - JETP và những dự án hỗ trợ của Nhóm đối tác, đặc biệt là sau khi Hoa Kỳ rút khỏi nhiều cam kết về chống biến đổi khí hậu, đại sứ Liên Hiệp Châu Âu tại Việt Nam Julien Guerrier dành cho RFI Tiếng Việt một buổi phỏng vấn.RFI : Tháng 12/2022, Nhóm các đối tác quốc tế, bao gồm Liên Hiệp Châu Âu, G7, Na Uy và Đan Mạch, đã ký JETP (Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng) với Việt Nam. Việt Nam là nước thứ ba (cùng với Nam Phi và Indonesia) được hưởng lợi từ quan hệ đối tác này. Tại sao Việt Nam được chọn ? Xin ông giải thích ý nghĩa và mục tiêu của thỏa thuận này ?Đại sứ Julien Guerrier : Vâng, Việt Nam là một quốc gia rất đặc biệt và đó là lý do vì sao chúng tôi chọn Việt Nam, bởi vì tăng trưởng kinh tế ở đây cực kỳ nhanh và cao, nhu cầu năng lượng tăng trung bình gần 7% mỗi năm trong 10 năm qua và sản lượng điện sẽ phải tăng gấp đôi từ nay đến năm 2030 để duy trì tốc độ tăng trưởng hiện tại. Nhưng vì than vẫn được sử dụng rất nhiều ở trong nước, đến năm 2024 vẫn chiếm đến 50% cơ cấu năng lượng. Lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính bình quân đầu người đã tăng gần sáu lần trong hai thập niên qua. Chính vì thế chúng tôi muốn hợp tác với Việt Nam, quốc gia nhận thức được về những tác động môi trường và sức khỏe của lộ trình này và đã cam kết đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.Tháng 12/2022, Việt Nam đã ký một tuyên bố chính trị với nhóm IPG - Nhóm đối tác quốc tế - như chị đề cập, bao gồm các nước G7, Đan Mạch và Na Uy, do Liên Hiệp Châu Âu và Vương quốc Anh đồng lãnh đạo, nhằm hỗ trợ mục tiêu đầy tham vọng này. Điều chúng tôi muốn cố gắng thực hiện với JETP là giúp Việt Nam đạt được mục tiêu trung hòa về cacbon vào năm 2050, bằng cách đẩy nhanh và hạn chế mức đỉnh phát thải khí nhà kính từ ngành điện từ nay đến năm 2030, hạn chế công suất lắp đặt các nhà máy điện than ở mức 30 gigawatt từ nay đến năm 2030 và tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu năng lượng lên 47% vào năm 2030.Đọc thêmViệt Nam kêu gọi doanh nghiệp giảm tiêu thụ năng lượngVà để giúp chính phủ Việt Nam thực hiện được điều đó, chúng tôi sẽ hỗ trợ với khoản tài trợ ban đầu là 15 tỷ euro, một nửa trong số đó là nguồn tài trợ của khu vực công, từ các nhà tài trợ và một nửa là nguồn tài trợ của khu vực tư nhân được tạo điều kiện bởi liên minh các ngân hàng chống biến đổi khí hậu Glasgow Financial Alliance for Net Zero (GFANZ). RFI : Nhiều chuyên gia và cơ quan truyền thông đã đưa tin rằng có rất ít tiến triển đạt được sau hai năm. Quá trình thực hiện thỏa thuận này bị cản trở ở điểm nào ? Sự chậm trễ này ảnh hưởng như thế nào đến toàn bộ quá trình ? Liệu những khó khăn và trở ngại hiện tại có thể sớm được giải quyết không ?Đại sứ Julien Guerrier : Tuyên bố chính trị mà tôi đã đề cập ở trên được ký vào tháng 12/2022, cho nên có tương đối ít thời gian để đạt được nhiều tiến bộ. Và quá trình chuyển đổi năng lượng là điều khó khăn ở Việt Nam, cũng như ở mọi quốc gia khác, bao gồm cả Pháp và Liên Hiệp Châu Âu, vì có nhiều thách thức lớn cần phải giải quyết.Không phải chỉ xây dựng các nhà máy điện mới và tăng sản lượng năng lượng tái tạo là xong mà còn là xem xét lại cơ sở hạ tầng năng lượng hiện tại, vốn được xây dựng phục vụ nhiên liệu hóa thạch như than, dầu và khí đốt. Điện gió và điện mặt trời phải có khả năng kết nối với cơ sở hạ tầng năng lượng này, vốn phải được thiết kế lại hoàn toàn, từ hệ thống sản xuất đến truyền tải và tích trữ điện. Đó là những khoản đầu tư lớn, tốn kém và mất thời gian. Và đó là lý do tại sao tiến độ còn bị tương đối hạn chế. Nhưng như đã đề cập trước đó, Indonesia và Nam Phi cũng đã ký JETP. Nước thứ ba là Việt Nam và hiện nay, Việt Nam đang tiến nhanh hơn cả hai nước kia.Đọc thêmBỏ điện than để thực hiện cam kết khí hậu: Thách thức lớn đối với Việt NamĐể vượt qua những thách thức tôi đã đề cập, cần phải hợp tác ở mọi cấp độ của chính quyền Việt Nam, các doanh nghiệp và cá nhân. Và cần phải thực hiện những khoản đầu tư đáng kể, thiết thực, và tất cả các đối tác này cần phải cam kết lâu dài. Đây là những gì chúng tôi đang thực hiện bằng cách xây dựng kế hoạch triển khai đã được Việt Nam thông qua vào cuối năm 2023.Chúng ta thấy rằng Việt Nam đang tổ chức với việc thủ tướng đã bổ nhiệm bộ trưởng Công Thương làm người phụ trách JETP vào tháng 10/2024, và kể từ đó, một số cơ cấu đã được đưa vào hoạt động để tham khảo ý kiến của các đối tác khác nhau, phối hợp các chuyên môn cần thiết và lập danh sách các dự án mà chúng tôi sẽ tài trợ thông qua JETP - những dự án sẽ cho phép chúng tôi đạt được các mục tiêu đã đề ra : đạt đỉnh sử dụng than vào năm 2030 và tăng năng lượng tái tạo lên tới 47% trong cơ cấu năng lượng vào năm 2030.Vì vậy, chúng tôi tin rằng tiến độ tuy chậm nhưng vẫn đạt được và chúng tôi sẽ có những dự án cụ thể được triển khai trong tương lai gần.RFI : Để giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu đề ra, các dự án trong JETP với Việt Nam có được nhóm đối tác quốc tế hỗ trợ không ? Và tiến triển của dự án được đánh như thế nào ?Đại sứ Julien Guerrier : Có, tất cả các dự án thuộc JETP đều được hưởng sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của Nhóm các đối tác quốc tế (IPG) và liên minh các ngân hàng chống biến đổi khí hậu GFANZ cũng tham gia vào JETP mà tôi đã đề cập. Hiện tại, chúng tôi đang nghiên cứu về danh sách 9 dự án được các nhà tài trợ đề xuất. Về phần mình, Việt Nam đang xây dựng danh mục 35 dự án để sớm trình lên Nhóm các đối tác quốc tế và ngân hàng tư nhân. Và để được hưởng sự hỗ trợ tài chính từ các nhà tài trợ quốc tế, mỗi dự án phải được nghiên cứu và đánh giá trong suốt vòng đời của dự án theo các chặng thời gian đều đặn, với sự hợp tác của thành viên tài trợ sẽ hỗ trợ về mặt tài chính và các bên liên quan. Vì vậy, mỗi dự án riêng biệt đều khác nhau và liên quan đến nhiều bên liên quan khác nhau, nhưng trong mọi trường hợp, đều có hoạt động giám sát và đánh giá.RFI : Hoa Kỳ, một trong những đối tác của Việt Nam trong JETP, đã rút khỏi nhiều chương trình về khí hậu. Quyết định của Mỹ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến thỏa thuận đối tác đã ký với Việt Nam cũng như nỗ lực của các nước ký kết còn lại trong Nhóm đối tác quốc tế ?Đại sứ Julien Guerrier : Đúng vậy, đáng tiếc là Hoa Kỳ đang rút khỏi nhiều chương trình về khí hậu. Trong khuôn khổ JETP với Việt Nam, khoản đóng góp công của Hoa Kỳ là khoảng một tỷ euro, chiếm chừng 7% tổng cam kết thông qua sự kết hợp giữa tài chính và hỗ trợ kỹ thuật. Vì vậy, 7% không phải là con số không đáng kể. Nhưng điều này cũng không có khả năng gây nguy hiểm cho sự thành công của JETP.Đọc thêmPháp triển khai dự án hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu tại 15 tỉnh Việt NamLiên Hiệp Châu Âu và Vương quốc Anh, như tôi đã nói trước đó, là hai thủ lĩnh trong Nhóm các đối tác quốc tế. Cùng với Anh Quốc, chúng tôi hoàn toàn cam kết hỗ trợ Việt Nam đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang năng lượng sạch và đạt được mục tiêu trung hòa về khí thải vào năm 2050. Vì vậy, chúng tôi sẽ tiếp tục. Và sức mạnh của quan hệ đối tác chính trị, tài chính và kỹ thuật của JETP còn nằm ở sự đa dạng của các đối tác cam kết hỗ trợ quá trình chuyển đổi công bằng tại Việt Nam. Chúng tôi sẵn sàng huy động số tiền tài trợ đã được lên kế hoạch, các khoản tài trợ còn cần thực hiện trong khuôn khổ kế hoạch thực hiện mà tôi đã đề cập trước đó - kế hoạch huy động nguồn lực. Và chúng tôi cũng nhận thức rằng về phía khu vực tư nhân, các nhà đầu tư đang rất nỗ lực vì có rất nhiều cơ hội lớn cho sản xuất năng lượng tái tạo ở Việt Nam. Vì vậy, chúng tôi vẫn quyết tâm hợp tác với Việt Nam để JETP thành công và tôi tin tưởng rằng chúng ta có thể đạt được điều đó.RFI : Ông đã tham gia một cuộc họp với thủ tướng và chính phủ Việt Nam vào tháng 03. Sau cuộc họp này, liệu có hy vọng rằng dự án, cũng như đầu tư của châu Âu sẽ được khởi động lại nhanh hơn trong tương lai không ? Đại sứ Julien Guerrier : Có, chắc chắn là có. Ngày 02/03, thủ tướng Việt Nam đã gặp gỡ đại diện các công ty châu Âu có trụ sở tại Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng. Các công ty châu Âu đã giải thích các biện pháp và cải cách quy định là điều cần thiết để thu hút đầu tư vào năng lượng mặt trời, năng lượng gió và các dạng năng lượng tái tạo khác. Thủ tướng đã lắng nghe, các bộ trưởng cũng có mặt. Các chỉ dẫn rõ ràng đã được đưa ra nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư của châu Âu nói chung và trong lĩnh vực năng lượng tái tạo nói riêng. Vì vậy, chúng tôi hy vọng rằng với sự lãnh đạo như vậy ở cấp cao nhất của nhà nước, chúng ta sẽ thấy những tiến bộ nhanh chóng trong môi trường kinh doanh tại Việt Nam và sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư châu Âu trong lĩnh vực năng lượng tái tạo.RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn đại sứ Liên Hiệp Châu Âu Julien Guerrier tại Việt Nam.(1) Thông cáo báo chí của Liên Hiệp Châu Âu, ngày 14/12/2022.
VOV1 - Không thay đổi mục tiêu khởi công dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng trong năm nay, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Bộ Tư pháp khẩn trương hoàn thiện dự thảo Nghị quyết thống nhất các cơ chế đặc thù cho các dự án đường sắt.- Chủ tịch nước Lương Cương kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước tới Lào, tiếp tục khẳng định thông điệp mạnh mẽ về giá trị trường tồn của quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào.- Không thay đổi mục tiêu khởi công dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng trong năm nay, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Bộ Tư pháp khẩn trương hoàn thiện dự thảo Nghị quyết thống nhất các cơ chế đặc thù cho các dự án đường sắt, trình Chính phủ trong tháng 4 và trình Quốc hội trước ngày Khai mạc Kỳ họp thứ 9.- Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn gặp mặt các Mẹ Việt Nam anh hùng, nguyên lãnh đạo Trung ương tại TP Cần Thơ, Hậu Giang.- Những tâm tình gửi đến mai sau của cựu chiến binh góp phần làm nên con đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại.- Mỹ và Iran bắt đầu vòng đàm phán thứ 3 về chương trình hạt nhân của Iran.- Pakistan sẵn sàng điều tra “trung lập và minh bạch” về vụ khủng bố tại Kashmir.
Việt Nam, cũng như nhiều quốc gia nhỏ khác, đặc biệt tại Đông Nam Á, bị kẹt trong cuộc chiến thương mại khốc liệt giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Giới chuyên gia đều cho rằng Hà Nội đang phải khéo léo lèo lái để không làm mất lòng “sư huynh” phương Bắc nhưng cũng không được chọc giận Mỹ, thị trường xuất khẩu lớn nhất, trong khi mức thuế đối ứng 46% vẫn lủng lẳng trên đầu. Trung Quốc là nước duy nhất không được tổng thống Mỹ Donald Trump hoãn áp thuế và hiện bị áp mức thuế 145%, thậm chí là 245% đối với một số mặt hàng. Song song với việc “quyết đấu đến cùng” với Washington, Bắc Kinh tìm cách vận động “đoàn kết” chống lại cuộc chiến thuế quan do Mỹ đơn phương áp đặt. Trung Quốc nói chuyện với Liên Hiệp Châu Âu, gặp hai đối tác Hàn Quốc và Nhật Bản. Chủ tịch Tập Cận Bình nhanh chóng công du ba nước đối tác Đông Nam Á, bắt đầu từ Việt Nam.Trung Quốc thử độ dẻo dai của “ngoại giao cây tre” Việt NamĐây là chuyến thăm cấp Nhà nước lần thứ 5 đến Việt Nam của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Trả lời RFI ngày 14/04, Emmanuel Véron, nhà nghiên cứu cộng tác tại Trường Hàng hải và Viện Inalco, thành viên Viện Pháp Nghiên cứu về Đông Á (IFRAE), nhận định :“Điều này cho thấy tầm quan trọng về kinh tế, cũng như chiến lược của Việt Nam đối với Trung Quốc. Xin nhắc lại một chút là trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, trước đó là chiến tranh Đông Dương, chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc hậu thuẫn cho Việt Nam, cho Việt Cộng. Điều này cũng cho thấy rõ sự gắn kết khá mạnh mẽ giữa chế độ Cộng sản hai nước và được phát triển hơn nhờ dần dần mở cửa nền kinh tế từ 30-40 năm trở lại đây. Có thể thấy là đúng, giữa hai nước có mối liên hệ rất đặc biệt. Lần này, chủ tịch Tập Cận Bình bắt đầu vòng công du Đông Nam Á với điểm đến đầu tiên là Việt Nam để khẳng định điều này và để có được nhưng bảo đảm về mặt thuế quan, đầu tư hoặc những bảo đảm về mặt hội nhập kinh tế Trung Quốc và Việt Nam”.Trái với một tổng thống Mỹ khó lường, chủ tịch Tập Cận Bình cố thể hiện Trung Quốc là “đối tác đáng tin cậy” và là “người bảo vệ thương mại toàn cầu”. Thái độ của ông Tập cũng được các nhà quan sát chú ý khi thăm Việt Nam, luôn tươi cười, thân thiện, “tặng quà lưu niệm trên đường đi”, có nghĩa là “các thỏa thuận thương mại mới và thắt chặt quan hệ đối tác chiến lược”, theo nhận định của nhà nghiên cứu Wen-Ti Sung, thành viên không thường trú của Trung tâm Trung Quốc toàn cầu thuộc Atlantic Council (Hội đồng Đại Tây Dương) và được trang CNN trích dẫn ngày 14/04.Đọc thêmChủ tịch Trung Quốc kêu gọi Việt Nam hợp lực chống đòn thuế quan của MỹTrung Quốc và Việt Nam ký 45 văn bản thỏa thuận hợp tác tập trung vào các lĩnh vực then chốt như kết nối hạ tầng, thương mại, chuỗi cung ứng, trí tuệ nhân tạo, nông nghiệp, phát triển nguồn lực, hàng không và đường sắt (*). Chủ tịch Tập Cận Bình hứa “thị trường lớn Trung Quốc luôn mở cửa cho Việt Nam”. Ông cũng đề cao vai trò của Việt Nam khi kêu gọi hai nước hợp tác để duy trì “sự ổn định của hệ thống thương mại tự do toàn cầu, chuỗi cung ứng, công nghiệp” và cùng phản đối “hành vi bắt nạt đơn phương”, ám chỉ đến quyết định áp thuế đối ứng của chính quyền Mỹ, trong đó Việt Nam chịu mức thuế cao 46%.Nhìn chung, theo Wen-Ti Sung, chuyến thăm Việt Nam trong khuôn khổ vòng công du Đông Nam Á (Malaysia và Cam Bốt) của ông Tập Cận Bình có hai mục đích : Về mặt kinh tế, tìm cách đa dạng hóa dấu ấn kinh tế của Trung Quốc trên toàn thế giới ; về chính sách đối ngoại, nhằm kéo các nước lại gần Trung Quốc trong khi những nước này vẫn nín thở về mức thuế đối ứng, mới chỉ được Mỹ tạm đình chỉ 90 ngày.Thương mại Việt Nam không thể tách rời đối tác Trung QuốcThương mại Việt Nam và Trung Quốc đã cán mốc kỷ lục mới 205 tỷ đô la trong năm 2024, trong đó khối lượng nhập khẩu của Việt Nam là 144 tỷ đô la. Việt Nam là một trong những thị trường xuất khẩu chính của Trung Quốc và Trung Quốc cũng lắp ráp nhiều mặt hàng ở Việt Nam và sau đó Việt Nam xuất khẩu với số lượng lớn sang Hoa Kỳ. Chính vì thế Việt Nam bị coi là “sân sau” của Trung Quốc và bị Mỹ áp mức thuế 46%. Nhà nghiên cứu Emmanuel Véron nhận định :“Trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc đã tăng hơn 15% trong năm 2024. Con số này cũng cho thấy lợi ích về thương mại, công nghệ và công nghiệp của Trung Quốc là sau cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008, chuyển chuỗi sản xuất dệt may, cũng như một số ngành công nghiệp khác sang Việt Nam hoặc một số nước ở Đông Nam Á. Nói tóm lại là có sự hội nhập kinh tế giữa hai nước. Ngoài ra, trong những năm gần đây, một phần các thị trường vững chắc, trong đó có Mỹ và Liên Hiệp Châu Âu, đã xích lại gần Việt Nam bởi vì nền kinh tế nước này đã hiệu quả hơn, các công trình hạ tầng có chất lượng tốt hơn và hoạt động hậu cần logistic cũng được củng cố. Việt Nam đã hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa từ 10 đến 15 năm nay, đặc biệt là nhờ năng lực của Trung Quốc”.Đọc thêmChủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình công du Việt Nam kêu gọi tăng cường quan hệ thương mại song phươngTrung Quốc mang lợi ích kinh tế xoa dịu tranh chấp ở Biển ĐôngKhi công bố hàng loạt thỏa thuận hợp tác thương mại, công nghệ, phát triển xanh… chủ tịch Trung Quốc cũng cố xoa dịu những căng thẳng về tranh chấp chủ quyền giữa hai nước ở Biển Đông. Trong điểm 9 của Tuyên bố chung, Việt Nam và Trung Quốc khẳng định “hai bên trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển, nhấn mạnh cần kiểm soát tốt hơn và tích cực giải quyết bất đồng trên biển, cùng duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông”. Dù vào tháng 02 trước đó, Trung Quốc tổ chức tập trận bắn đạn thật ở gần vịnh Bắc Bộ sau khi Hà Nội công bố bản đồ xác định các yêu sách lãnh thổ.Liệu những thỏa thuận mới được ký kết có thể xóa bỏ những căng thẳng về chủ quyền, nhất là ở Biển Đông, hay không ? Nhà nghiên cứu Emmanuel Véron nhận định :“Dù sao đó cũng là mong muốn, một trong những đòn bẩy của Bắc Kinh. Có nghĩa là nhân chuyến công du Hà Nội, chủ tịch Tập Cận Bình nhắc lại vai trò đặc biệt của Việt Nam, được Trung Quốc coi là “người em” ở Đông Nam Á, theo văn hóa Trung Quốc và phần nào có chung sự phát triển về con người. Do đó, Bắc Kinh sẽ cố kích hoạt đòn bẩy thương mại và công nghệ để xóa những căng thẳng đang có ở Biển Đông, cho dù Trung Quốc rất hung hăng trong hoạt động quân sự hóa nhiều vùng biển, đi ngược với luật pháp quốc tế”.Động thái hòa dịu này còn diễn ra trong bối cảnh Việt Nam và một số nước Đông Nam Á có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với Trung Quốc đang có những thỏa thuận hợp tác riêng về hàng hải để đánh dấu chủ quyền, như với Philippines, sắp tới là với Indonesia.Tránh chọc giận tổng thống Trump vì còn đàm phán thuế với MỹGiới chuyên gia cho rằng khi trải thảm đỏ đón chủ tịch Trung Quốc, Việt Nam cũng cần hành động thận trọng và tránh tỏ ra ngả về phía Bắc Kinh vì việc này có nguy cơ khiêu khích nguyên thủ Mỹ trong các cuộc đàm phán về thuế đối ứng. Và tổng thống Donald Trump đã sớm cho ý kiến ngay ngày 14/04 khi chủ tịch Tập Cận Bình đến Hà Nội : Tôi không đổ lỗi cho Trung Quốc. Tôi không đổ lỗi cho Việt Nam. Tôi đã thấy họ gặp nhau… đó là một cuộc gặp đáng yêu. Cuộc gặp giống như đang cố gắng tìm ra câu trả lời : Làm thế nào để chúng ta có thể lừa gạt Hoa Kỳ.Thực ra, trước khi đón chủ tịch Trung Quốc, Việt Nam đã có nhiều hành động trấn an chính quyền Mỹ : mua thêm hàng hóa Mỹ (khí hóa lỏng LNG, máy bay Boeing…), đề xuất đánh thuế 0% hàng hóa của nhau. Hà Nội khẳng định thắt chặt kiểm soát đối với một số hoạt động thương mại với Trung Quốc để bảo đảm hàng hóa xuất khẩu sang Mỹ với nhãn hiệu “Sản xuất tại Việt Nam”.Đọc thêmViệt Nam : “Bạn” hay “thù” trong chính sách đánh thuế của Trump ?Nói tóm lại, Hà Nội đang ở thế khó. Tuy nhiên, chiến lược “ngoại giao cây tre” của Việt Nam đã phát huy hiệu quả, theo nhận định với RFI Tiếng Việt ngày 18/04 của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon (Pháp) :“Việt Nam ở trong thế rất tế nhị và trong mọi trường hợp đều đòi hỏi rất nhiều kỹ năng ngoại giao. Trên thực tế, sách lược “ngoại giao tre” đã phát huy hiệu quả rất tốt và Việt Nam đã cố gắng duy trì khoảng cách cân bằng giữa một bên là Trung Quốc và bên kia là Hoa Kỳ cùng với các đồng minh của Mỹ, ít nhất là xét về góc độ địa-chính trị.Nhưng xét về mặt kinh tế, tình hình phức tạp hơn một chút vì nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc một phần vào dòng chảy kinh tế gắn kết Việt Nam với Trung Quốc. Một trong những chỉ trích của Washington đối với Hà Nội, và được thể hiện rõ trong việc tăng thuế hải quan liên quan đến hàng hóa Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ, liên quan đến việc Mỹ cho rằng Việt Nam là “sân sau” cho các công ty Trung Quốc để lách lệnh trừng phạt của Mỹ nhắm vào sản phẩm Trung Quốc. Nói cách khác, các công ty Trung Quốc đang chuyển sản xuất đến Việt Nam để có thể xuất khẩu sản phẩm của họ từ Việt Nam, nhờ đó được hưởng lợi từ mức thuế áp dụng cho Việt Nam.Đọc thêmLãnh đạo Việt Nam tuyên bố sẵn sàng giảm thuế xuống 0% đối với hàng nhập từ MỹVà tình hình này thực sự là khó xử lý cho Hà Nội vì Việt Nam không thể ngăn cản việc thành lập các công ty Trung Quốc do những hậu quả kinh tế từ việc này. Đồng thời, về mặt ngoại giao, Hà Nội cũng không muốn bị coi là gần gũi hoặc đại diện cho lợi ích của Bắc Kinh trước Washington.Vì vậy, tôi nghĩ Việt Nam sẽ cố gắng đàm phán với Mỹ và cố gắng nhấn mạnh rằng họ có khả năng quản lý việc thành lập các nhà máy Trung Quốc ở Việt Nam hoặc di dời các nhà máy Trung Quốc sang lãnh thổ Việt Nam.Chúng ta nên nhớ rằng đằng sau chuyện này còn có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa Trung Quốc và Mỹ, không chỉ đơn thuần về kinh tế, mà còn về địa-chính trị và địa-chiến lược đối với khu vực này và Mỹ hiểu rằng Washington chẳng được lợi khi đẩy những nước đang có lập trường “trung lập” hoặc “trung dung” vào vòng tay của Bắc Kinh. Cho nên đẩy Hà Nội vào vòng tay của Bắc Kinh chắc chắn sẽ là một sai lầm về mặt chiến lược.Vì vậy, tôi nghĩ rằng sẽ có các cuộc đàm phán và hai bên sẽ tìm ra được một kiểu thỏa thuận giúp cho Hà Nội tiếp tục duy trì vị thế cân bằng giữa một bên là Trung Quốc bên kia là Hoa Kỳ”.******* (*) Ba dự án đường sắt khổ tiêu chuẩn : (1) Lào Cao - Hà Nội - Hải Phòng, (2) Lạng Sơn - Hà Nội, (3) Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng.
Two-time Emmy and Three-time NAACP Image Award-winning television Executive Producer Rushion McDonald interviewed Melody Vaughn. She is an interior designer whose expertise extends to kitchens, bathrooms, renovations, art consultation, and writing. Her deep-rooted passion for interior design, coupled with her sales and business development background, culminated in the creation of Melody Vaughn Interiors. If you are trying to update your home or sell your home, you should listen to what my next guest has to say. Melody is a certified kitchen and bath designer. Melody's deep-rooted passion for interior design, coupled with her sales and business development background, culminated in creating Melody Vaughn Interiors. As a designer for over 15 years, the goal remains the same ..... Designing and creating beautiful ...Melody Vaughn is an interior designer whose expertise extends to kitchens, bathrooms, renovations, art consultation, and writing. Most current role as Business Development manager Melody is charged with bringing high end luxury clients into the Design Studio from builders - developers to residential clients and more. Hosting events and private parties to conducting CEU classes for interior designers....while still working with her MVI clients. #STRAW #BEST #SHMSSteve Harvey Morning Show Online: http://www.steveharveyfm.com/See omnystudio.com/listener for privacy information.
Two-time Emmy and Three-time NAACP Image Award-winning television Executive Producer Rushion McDonald interviewed Melody Vaughn. She is an interior designer whose expertise extends to kitchens, bathrooms, renovations, art consultation, and writing. Her deep-rooted passion for interior design, coupled with her sales and business development background, culminated in the creation of Melody Vaughn Interiors. If you are trying to update your home or sell your home, you should listen to what my next guest has to say. Melody is a certified kitchen and bath designer. Melody's deep-rooted passion for interior design, coupled with her sales and business development background, culminated in creating Melody Vaughn Interiors. As a designer for over 15 years, the goal remains the same ..... Designing and creating beautiful ...Melody Vaughn is an interior designer whose expertise extends to kitchens, bathrooms, renovations, art consultation, and writing. Most current role as Business Development manager Melody is charged with bringing high end luxury clients into the Design Studio from builders - developers to residential clients and more. Hosting events and private parties to conducting CEU classes for interior designers....while still working with her MVI clients. #STRAW #BEST #SHMSSupport the show: https://www.steveharveyfm.com/See omnystudio.com/listener for privacy information.
Two-time Emmy and Three-time NAACP Image Award-winning television Executive Producer Rushion McDonald interviewed Melody Vaughn. She is an interior designer whose expertise extends to kitchens, bathrooms, renovations, art consultation, and writing. Her deep-rooted passion for interior design, coupled with her sales and business development background, culminated in the creation of Melody Vaughn Interiors. If you are trying to update your home or sell your home, you should listen to what my next guest has to say. Melody is a certified kitchen and bath designer. Melody's deep-rooted passion for interior design, coupled with her sales and business development background, culminated in creating Melody Vaughn Interiors. As a designer for over 15 years, the goal remains the same ..... Designing and creating beautiful ...Melody Vaughn is an interior designer whose expertise extends to kitchens, bathrooms, renovations, art consultation, and writing. Most current role as Business Development manager Melody is charged with bringing high end luxury clients into the Design Studio from builders - developers to residential clients and more. Hosting events and private parties to conducting CEU classes for interior designers....while still working with her MVI clients. #STRAW #BEST #SHMSSee omnystudio.com/listener for privacy information.
Two-time Emmy and Three-time NAACP Image Award-winning, television Executive Producer Rushion McDonald interviewed Melody Vaughn. Melody's deep-rooted passion for interior design, coupled with her sales and business development background, culminated in the creation of Melody Vaughn Interiors. As a designer for over 15 years - the goal remains the same ..... Designing and creating beautiful ...Melody Vaughn is an interior designer whose expertise extends to kitchens, bathrooms, renovations, art consultation, and writing.Most current role as Business Development manager Melody is charged with bringing high end luxury clients into the Design Studio from builders - developers to residential clients and more. Hosting events and private parties to conducting CEU classes for interior designers....while still working with her MVI clients. Floor and Decor design studio is different from the traditional warehouse store. Enjoy a personalized experience with the benefits of design services and samples at your fingertips. The showroom features an unbeatable selection of tile, wood, stone & more. If you're looking to upgrade your home with beautiful kitchen wall tiles or bathroom flooring, Floor & Decor is the place to be, and our kitchen and bath showrooms can offer the ultimate experience. These showrooms allow you to see and feel real samples of high-quality tile and floor products, including everything from mosaic bathroom wall tiles to classic kitchen backsplashes. #BEST #STRAW #SHMSSee omnystudio.com/listener for privacy information.
Two-time Emmy and Three-time NAACP Image Award-winning, television Executive Producer Rushion McDonald interviewed Melody Vaughn. Melody's deep-rooted passion for interior design, coupled with her sales and business development background, culminated in the creation of Melody Vaughn Interiors. As a designer for over 15 years - the goal remains the same ..... Designing and creating beautiful ...Melody Vaughn is an interior designer whose expertise extends to kitchens, bathrooms, renovations, art consultation, and writing.Most current role as Business Development manager Melody is charged with bringing high end luxury clients into the Design Studio from builders - developers to residential clients and more. Hosting events and private parties to conducting CEU classes for interior designers....while still working with her MVI clients. Floor and Decor design studio is different from the traditional warehouse store. Enjoy a personalized experience with the benefits of design services and samples at your fingertips. The showroom features an unbeatable selection of tile, wood, stone & more. If you're looking to upgrade your home with beautiful kitchen wall tiles or bathroom flooring, Floor & Decor is the place to be, and our kitchen and bath showrooms can offer the ultimate experience. These showrooms allow you to see and feel real samples of high-quality tile and floor products, including everything from mosaic bathroom wall tiles to classic kitchen backsplashes. #BEST #STRAW #SHMSSupport the show: https://www.steveharveyfm.com/See omnystudio.com/listener for privacy information.
Two-time Emmy and Three-time NAACP Image Award-winning, television Executive Producer Rushion McDonald interviewed Melody Vaughn. Melody's deep-rooted passion for interior design, coupled with her sales and business development background, culminated in the creation of Melody Vaughn Interiors. As a designer for over 15 years - the goal remains the same ..... Designing and creating beautiful ...Melody Vaughn is an interior designer whose expertise extends to kitchens, bathrooms, renovations, art consultation, and writing.Most current role as Business Development manager Melody is charged with bringing high end luxury clients into the Design Studio from builders - developers to residential clients and more. Hosting events and private parties to conducting CEU classes for interior designers....while still working with her MVI clients. Floor and Decor design studio is different from the traditional warehouse store. Enjoy a personalized experience with the benefits of design services and samples at your fingertips. The showroom features an unbeatable selection of tile, wood, stone & more. If you're looking to upgrade your home with beautiful kitchen wall tiles or bathroom flooring, Floor & Decor is the place to be, and our kitchen and bath showrooms can offer the ultimate experience. These showrooms allow you to see and feel real samples of high-quality tile and floor products, including everything from mosaic bathroom wall tiles to classic kitchen backsplashes. #BEST #STRAW #SHMSSee omnystudio.com/listener for privacy information.
In this episode Steph interviews her client Ali Miller!They dive into Ali's transformation while in the Sold Out Group Programs mastermind (formerly the Messy Middle). Ali shares her experiences of launching her podcast, 'Love Each Other Better,' overcoming her initial fears, and achieving impressive results including exceeding her MVI! Listen in to get an insight into Ali's work as a certified Couples Communication Clini-Coach® and Licensed Marriage & Family Therapist as well as highlighting the importance of tracking progress, developing sales skills, and stepping into the CEO mindset. Connect with Ali Miller:Find Ali on Instagram and Facebook at AliMillerCoaching Check out Ali's Free Mini-Course: The 4 Steps to Stop Any Fight Without Giving InBook a 30 minute call with AliListen to the Love Each Other Better Podcast>> Be sure to grab your seat to Steph's free live workshop coming up on September 25th! It's called Fill Your Group Program in 5 Weeks: A 3-Part Roadmap to Consistently Sell Out Your Offer, Year-Round, Anytime.Head to stephcrowder.com/workshop to sign up!
Two-time Emmy and Three-time NAACP Award-winning television Executive Producer Rushion McDonald interviewed Melody Vaughn. Melody Vaughn Interiors (MVI) is more than a design firm; it's a venture born from the desire to craft spaces that heal. At MVI, they believe in harmonizing and tuning into the energy of a space to create homes of peace and beauty. Each house has its rhythm, and we ensure the décor beautifully reflects it. Through the infusion of color, thoughtful space planning, and elements of Feng Shui, MVI transforms every project into a human sanctuary.Support the show: https://www.steveharveyfm.com/See omnystudio.com/listener for privacy information.