POPULARITY
Tháng Bảy, tháng Tám, tắm biển, đi lên núi, ra nước ngoài, hay ở nhà… là những câu hỏi nơi cửa miệng ở công sở trước mỗi mùa hè. Ngày nay, việc đi nghỉ dài ngày đã trở nên bình thường đối với bất cứ người làm công ăn lương nào tại nhiều nước trên thế giới. Nhưng để trở thành bình thường, điều đó đã phải trải qua một tiến trình dài. Phúc lợi xã hội này chỉ mới được áp dụng ở Bỉ từ năm 1936 sau nhiều cuộc đấu tranh xã hội gay gắt. Khái niệm về kỳ nghỉ đã phát triển, phản ánh các xã hội khác nhau và mối quan hệ của chúng với thời gian và công việc. Từ nguyên của “vacances” trong tiếng Pháp bắt nguồn từ thời cổ đại, từ trong tiếng La tinh “vacare” có nghĩa là “trống rỗng, không người ở, nhàn rỗi”. Ngay cả ở thời kỳ này, người Hy Lạp và La Mã đã phân biệt giữa hai khoảng thời gian : lao động và nghỉ ngơi. Vì vậy, họ dùng từ negotium chỉ thời gian dành cho công việc chân tay và buôn bán và từ otium có thể tạm dịch là “thời gian rảnh rỗi”. Đây là thời gian không làm những việc chân tay và dành cho việc nghỉ ngơi, suy tư, đọc sách và các hoạt động giải trí. Nghỉ ngơi : Đặc quyền của giới quý tộc Tuy nhiên, những khoảng thời gian rảnh rỗi này là đặc quyền của một bộ phận nhỏ dân số, giới thượng lưu quý tộc. Từ thời cổ đại đến thời Trung cổ, giới thượng lưu, quý tộc và tầng lớp thượng lưu không làm việc chân tay, vì lao động bị coi thường, chỉ giành cho tầng lớp hạ lưu. Thế giới nhàn rỗi được dành riêng cho họ. Vào thời đó, mặc dù nghỉ ngơi tồn tại như một khái niệm, nhưng nó chưa thiết lập như một quyền và không phải ai cũng có thể đòi hỏi. Ví dụ như nô lệ và người lao động, rồi sau này là tầng lớp công nhân, không được hưởng những khoảng thời gian rảnh rỗi này. Sự phân biệt đó có cấu trúc bền vững trong các xã hội phương Tây : thời gian rảnh rỗi từ lâu vẫn là đặc quyền dành cho giới thượng lưu. Một bước ngoặc xảy ra vào thời Trung Cổ, đặc biệt là ở các thành thị ở Bắc Âu và những vùng mà ngày nay là Hà Lan (Pays-Bas). Các tháp chuông không đơn thuần là biểu tượng kiến trúc. Được quản lý bởi các thị trấn (communes), chúng thể hiện quyền tự chủ của các thị trấn trước các thế lực phong kiến và tôn giáo. Nhờ có tiếng chuông, giờ giấc làm việc được thông báo công khai. Thời gian bắt đầu và kết thúc ngày làm việc, cũng như giờ nghỉ giải lao, đều giống nhau cho mọi người. Sự phát triển này có vẻ không đáng kể. Tuy nhiên, nó lại mang đến tính quyết định : công việc đang dần được trả công dựa vào thời gian làm việc, chứ không phải dựa trên nhiệm vụ hoàn thành. Lần đầu tiên, thời gian làm việc trở nên có thể đo lường, so sánh và do đó có thể thương lượng. Sự chuyển đổi này tạo nên một trong những nền tảng của nền kinh tế hiện đại. Nghỉ hè để làm nông và nghỉ ngơi liên quan đến tôn giáo Năm 1231, Giáo hoàng Gregorio IX đã ban hành một kỳ nghỉ giữa mùa hè, từ tháng Tám đến tháng Chín, trùng với mùa thu hoạch và hái nho. Khi đó, nhiều học sinh và người học việc sẽ rời bỏ sách vở để về làm việc với cha mẹ trên các cánh đồng. Giáo hoàng đã ban hành kỳ nghỉ này để đáp trả sự tức giận của các giáo sư trong các lớp học vắng vẻ, đặc biệt là tại Đại học Paris danh tiếng. Đây thực sự không phải là kỳ nghỉ hè theo nghĩa như ngày nay và không phải thời gian cho sinh viên nghỉ ngơi, mà để họ có thời gian dành cho công việc đồng áng của gia đình. Cho đến thời Trung Cổ, thời gian nghỉ ngơi chủ yếu được sắp xếp theo lịch tôn giáo. Những ki-tô hữu đi lễ Chủ Nhật. Người Do Thái giữ ngày Sa-bát, trong khi cộng đồng đạo Hồi coi thứ Sáu là ngày nghỉ hàng tuần của họ. Vào thời đó, các lễ hội và các ngày lễ thiêng liêng diễn ra trong năm, mang lại những ngày nghỉ không làm việc trên đồng ruộng hay xưởng thủ công. Những ngày nghỉ này được giành cho việc thực hành tôn giáo, chứ không phải cho sự nghỉ ngơi nhàn hạ, hay không hoạt động. Chúng không phải là những ngày lễ theo nghĩa hiện đại của thuật ngữ này, mà là những thời điểm khi công việc được tạm dừng tập thể. Sự thay đổi thực sự bắt đầu với cuộc Cách mạng Công nghiệp vào cuối thế kỷ XVIII : công việc trở nên dài hơn, sự lặp đi lặp lại nhiều hơn và đòi hỏi cao hơn. Sự mệt mỏi về thể chất cũng như tinh thần trở thành một vấn đề xã hội mà các chính phủ không thể phớt lờ. Đến thế kỷ XX, kỳ nghỉ mới có hình thức như hiện nay, đặc biệt là với sự ra đời của chế độ nghỉ phép có lương. Tại Pháp, luật năm 1936 do Mặt Trận Bình Dân của Léon Blum ủng hộ, đánh dấu một thời điểm then chốt : Lần đầu tiên, người lao động nghỉ phép mà vẫn được trả lương. Cùng năm đó tại Bỉ, Hạ Viện đã nhất trí thông qua luật thiết lập chế độ nghỉ phép có lương. Kỳ nghỉ khi đó không còn là một thứ xa xỉ hay ngoại lệ : chúng trở thành một quyền, một nhu cầu thiết yếu, một dấu hiệu của sự tiến bộ giúp định hình các xã hội hiện đại. Nghỉ ngơi : Quyền lợi của người lao động Sau Chiến Tranh Thế Giới I, việc thành lập Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 1919 đánh dấu một bước ngoặt. Nguyên tắc thành lập của tổ chức này rất rõ ràng: “Sức lao động của con người không thể được coi là hàng hóa”. Một số quốc gia châu Âu sau đó đã đi tiên phong. Đức đã ban hành chế độ nghỉ phép có lương thông qua các thỏa ước tập thể ngay từ năm 1905. Anh Quốc dẫn đầu với một số bước tiến trước Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất. Áo đã thông qua luật vào năm 1919, tiếp theo đó là Ba Lan và Latvia vào năm 1922. Tại Bỉ, một số công ty lớn như Minerva Motors, Bell Telephone hay Solvay đã cho phép nhân viên nghỉ vài ngày, nhưng chỉ trong khuôn khổ các thỏa thuận của công ty. Bước ngoặt thực sự đã đến cách đây 90 năm. Vào tháng 6 năm 1936, sau sự nổi dậy của Mặt Trận Bình Dân Pháp, một làn sóng đình công chưa từng có đã càn quét nước Bỉ. Hơn 500.000 công nhân yêu cầu mức lương tối thiểu, tuần làm việc 40 giờ và kỳ nghỉ có lương. Đối diện với tình trạng tê liệt của đất nước và nguy cơ cực đoan hóa xã hội, chính phủ của thủ tướng Paul Van Zeeland đã triệu tập Hội nghị lao động quốc gia. Sự thỏa hiệp đã dẫn đến một bước đột phá lịch sử: Luật ngày 8/06/1936 quy định sáu ngày nghỉ phép có lương sau một năm làm việc. Đạo luật của thủ tướng Van Zeeland được đánh giá là khá ôn hòa. Đối với các nhà tuyển dụng, biện pháp này có vẻ dễ chấp nhận hơn so với việc giảm giờ làm nói chung. Nó chỉ làm giảm một phần nhỏ phúc lợi hàng năm trong khi vẫn cho phép tổ chức bảo trì máy móc, hoặc quản lý hàng tồn kho trong thời gian ngừng hoạt động. Đạo luật này chỉ thực sự được triển khai sau Thế Chiến II và được phát triển để đạt được 2-3-4 tuần nghỉ phép, với mức lương nghỉ phép gấp đôi như ngay nay. Khi kỳ nghỉ trở thành dự án xã hội Việc áp dụng chế độ nghỉ phép có lương không chỉ thay đổi luật lao động, mà còn làm thay đổi thái độ. Trước năm 1936, thời gian nghỉ ngơi chính của người lao động thường trùng với “ngày nghỉ Thứ Hai”, hậu quả của sự mệt mỏi hoặc làm việc quá sức vào ngày Chủ Nhật. Chế độ nghỉ phép có lương đã biến thời gian nghỉ ngơi từ một tình trạng bị áp đặt thành một quyền được công nhận. Tuy nhiên, sự phát triển mới này lại khiến một số thành viên thuộc tầng lớp thượng lưu lo ngại. Người lao động sẽ làm gì với thời gian rảnh rỗi này ? Nhà nước, các công đoàn và nhiều tổ chức khác sau đó đã phát triển điều mà các nhà sử học gọi là “du lịch xã hội”. Các trung tâm nghỉ dưỡng được xây dựng ở ven biển hoặc trên núi để cung cấp những hoạt động giải trí có tổ chức, đồng thời thúc đẩy sức khỏe, văn hóa và sự gắn kết xã hội. Vào thời điểm đó, thái độ giáo điều vẫn còn phổ biến. Người ta lo ngại về sự thiếu chính chắn của giai cấp công nhân trong việc sử dụng thời gian rảnh rỗi. Phong trào Công nhân Ki-tô giáo (MOC) chủ trương rằng những ngày nghỉ này cần được sắp xếp sao cho chúng trở thành trải nghiệm sáng tạo và mang tính giáo dục. Đó là lý do tại sao MOC đầu tư mạnh vào giáo dục và du lịch đại chúng. Nhưng có thời gian rảnh rỗi thôi chưa đủ. Bạn cũng cần có điều kiện để đi du lịch. Sự bùng nổ thực sự của các kỳ nghỉ với giá cả phải chăng bắt đầu sau Thế Chiến II với việc áp dụng chế độ trả lương gấp đôi trong kỳ nghỉ vào năm 1947-1948. Khoản thu nhập bổ sung này cuối cùng đã cho phép nhiều công nhân Bỉ có đủ khả năng tài chánh để đi nghỉ mát, đặc biệt là ở vùng ven biển Ostend hoặc Ardennes. Nhìn chung, cho đến những năm 1970, người Bỉ hiếm khi đi du lịch nước ngoài, họ dành những ngày nghỉ được trả lương của mình trong vườn nhà và chỉ thực hiện một vài chuyến đi ngắn trong nước. “Đó là vấn đề nguồn lực, nhưng cũng là vấn đề văn hóa và tư duy” nhà nghiên cứu Pierre Tilly giải thích. Nghỉ ngơi : Động lực kinh tế Khi thời gian rảnh rỗi trở nên phổ biến hơn, trở thành một động lực kinh tế mạnh mẽ. Những kỳ nghỉ được tổ chức, công viên giải trí, truyền hình, nền tảng phát trực tuyến, các sự kiện văn hóa và thể thao : toàn bộ nền kinh tế được xây dựng xung quanh hoạt động giải trí. Cá nhân không chỉ được tự do quản lý thời gian của mình, họ còn được khuyến khích sử dụng thời gian đó. Ngày nay, logic này đã bước vào một giai đoạn mới với nền kinh tế chú ý. Các nền tảng kỹ thuật số tìm cách nắm bắt từng phút giây rảnh rỗi bằng cách biến sự chú ý của chúng ta thành dữ liệu, lượt nhấp chuột hoặc thời gian xem có thể kiếm tiền. Thời gian rảnh rỗi, thành quả khó nhọc giành được qua một thế kỷ đấu tranh xã hội, giờ đây đã trở thành một nguồn lực kinh tế hoàn chỉnh. Lịch sử của thời gian rảnh rỗi không kết thúc với kỳ nghỉ có lương. Sau khi giành được quyền nghỉ ngơi, xã hội hiện đang đối diện với một câu hỏi khác : làm thế nào để duy trì chất lượng của thời gian này trước những yêu cầu không ngừng của công nghệ ? Đối với nhiều nhà nghiên cứu, thách thức thực sự không còn chỉ là đảm bảo thời gian rảnh rỗi, mà là làm sao để mọi người thực sự có được thời gian đó. Như vậy là 2000 năm sau cuộc đối đầu giữa otium và negotium, câu hỏi cuối cùng vẫn không thay đổi : liệu thời gian rảnh rỗi vẫn còn là không gian để giải phóng bản thân, hay đã trở thành một nguồn lực kinh tế mới để khai thác ?
Hoa Kỳ đã thông báo kế hoạch giảm quân số tại châu Âu, nơi mà từ sau Thế Chiến Thứ Hai, Washington đã thiết lập các căn cứ thường trực trải dài từ Groenland xuống đến tận Địa Trung Hải. Gần 40 % lính Mỹ đồn trú ở hải ngoại tập trung tại châu Âu, nhất là tại Đức, Ý và Tây Ban Nha. Sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã thiết lập các căn cứ quân sự tại nhiều nước đông Âu như Rumani, Ba Lan, Bulgari và cũng đã mở rộng địa bàn tại vùng Baltic. Những kế hoạch thu hẹp sự hiện diện quân sự của Mỹ tại châu Âu là một thách thức lớn đối với các đối tác của Hoa Kỳ tại châu lục này cả về kinh tế lẫn an ninh. Từ đầu tháng 5/2026 bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ, rồi tổng thống Hoa Kỳ liên tiếp thông báo kế hoạch « cắt giảm quân số tại châu Âu ». Hôm 18/06/2026 Lầu Năm Góc cho biết đang « xét lại » việc triển khai lực lượng tại các nước châu Âu thành viên NATO (Liên Minh Bắc Đại Tây Dương). Từ Anh Quốc đến Thổ Nhĩ Kỳ, từ Iceland đến Rumani, nơi Hoa Kỳ đã đặt những cơ sở quân sự, nước nào cũng lo ngại. Đứng đầu trong số này là Đức, nơi có hơn 30 cơ sở quân sự của Mỹ đã hoạt động từ 70-80 năm nay và khoảng 50.000 lính Mỹ đang đồn trú đã thực sự trở thành một yếu tố trong đời sống xã hội và kinh tế của nền kinh tế số một châu Âu này. Đức và lo ngại mất một phần trong số 50.000 quân nhân Mỹ Ramstein, miền tây nam nước Đức, là căn cứ không quân lớn nhất của Hoa Kỳ ở hải ngoại. Căn cứ này là cả « một thành phố trong một thành phố » với trường học, bệnh viện ... dành riêng cho các quân nhân Mỹ và gia đình. Rất nhiều đường phố ở Ramstein mang tên các vị tổng thống Mỹ. Tại các cửa hàng, người ta cũng có thể thanh toán bằng đô la bên cạnh đồng euro. Phóng sự trên đài phát thanh Pháp France Inter của thông tín viên Sébastien Baer từ căn cứ quân sự Mỹ tại thị trấn Vilseck cho thấy quyết định của Washington cắt giảm 5.000 lính Mỹ tại Đức là một tai họa: « Một góc nhỏ của nước Mỹ, thị trấn Vilseck của vùng Bayern, đông nam nước Đức từ hơn 80 năm nay gắn bó với sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ. Với khoảng 6.500 dân cư, Vilseck là nơi mà một lữ đoàn của Mỹ đóng quân, thế nhưng sự hiện diện này có thể sẽ chấm dứt, do Donald Trump thông báo sẽ rút 5.000 lính Mỹ trong thời gian tới. Nào là nước ngọt Coca-Cola, nào là bia Mỹ và sốt BBQ chồng chất ngay lối vào một siêu thị. Travis, một quân nhân Mỹ 27 tuổi từ bang Texas đến, đang chất hàng vào xe, anh nói : ‘Tôi được điều đến đây đã 9 tháng. Tối rất thích nơi này. Phong cảnh ở đây rất đẹp. Tôi thích các món ăn bản địa như xúc -xích, thịt thăn chiên bột. Người dân ở đây thì thân thiện, đi lại cũng dễ dàng. Ở Texas phải lái xe hàng giờ để đi từ nơi này đến nơi khác. Tại đây chỉ chỉ cần 5 phút là tôi đến được một công viên xinh đẹp. Tôi đang học tiếng Đức với ứng dụng Duolingo'. Travis tìm được một ngôi nhà trên sườn đồi của thành phố, nhà có vườn. Mười ba ngàn quân nhân Mỹ đóng quân ở khu vực này. Từ sau Đệ Nhị Thế Chiến, kinh tế địa phương phụ thuộc vào sự hiện diện của quân đội Mỹ. Là chủ một tiệm tạp hóa nhỏ của gia đình đã hoạt động từ những năm 1950, Katrin Kredle kể lại : ‘Một trong những người lính Mỹ đầu tiên đến mua hàng của bà ngoại tôi là danh ca Elvis Presley. Khi đang nhập ngũ, anh đến đây mua chuối. Bà tôi rất tự hào được phục vụ một khách hàng như anh. (…) Những người Mỹ đã hoàn toàn hòa nhập vào cuộc sống ở đây. Trẻ nhỏ đi học ở trường hay được gửi trong các nhà trẻ, chúng tham gia các câu lạc bóng đá, các hội đoàn hóa trang trong mùa lễ Carnaval… Rất nhiều người lấy vợ Đức, họ sống ở đây. Thậm chí ở lại hẳn một khi xuất ngũ ». Do vậy đối với cả thành phố này, thông báo Mỹ rút 5.000 quân khỏi nước Đức là một bất ngờ. Chỉ riêng căn cứ quân sự tại Vilseck mỗi năm đem về 700 triệu euro doanh thu cho chính quyền quyền đia phương. Valantis, 32 tuổi, vừa từ Anh Quốc đến đây mở một hiệu ăn, chủ yếu để phục vụ các thực khách Mỹ. Nhà hàng của ảnh chỉ cách căn cứ Rose Barracks vài trăm mét. Anh nói : ‘Chúng tôi đã thu xếp tất cả để phục vụ các quân nhân Mỹ, chiều theo khẩu vị của họ. Chúng tôi có món bánh mì kẹp thịt ba chỉ, sốt BBQ và thịt heo xé phay … Nếu người Mỹ bỏ đi thi mọi chuyện sẽ kết thúc. Nhà hàng phải đóng cửa. Tháng trước họ ra nước ngoài một tháng để tập luyện, lượng khách của chúng tôi lập tức giảm đi 70 %' ». Nói cách khác, chỉ cần Mỹ rút bớt quân khỏi Đức thì sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều lĩnh vực kinh tế của người dân địa phương, không chỉ có doanh thu của giới tiểu thương, mà còn đến cả thị trường địa ốc của những thành phố như Stuttgart, hay Kaiserslautern …. cũng bị tác động lây. Việc làm của hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn người tại những địa phương có căn cứ của Mỹ đều sẽ bị ảnh hưởng. Một kế hoạch được báo trước Thực ra từ cuối 2025 Nhà Trắng đã báo trước « rà soát lại toàn bộ và sẽ bố trí lại » sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Châu Âu cũng như trên toàn thế giới. Cũng cuối năm ngoái Washington nêu lên khả năng giảm 1.000 quân đang đồn trú tại Rumani. Ngoài thông báo rút 5.000 lính Mỹ tại các căn cứ quân sự ở Đức, giữa tháng 5/2026, Lầu Năm Góc vào giờ chót đã hoãn lại chương trình triển khai 4.000 quân sáng Ba Lan. Theo giới quan sát được báo Le Monde trích dẫn, cho dù những thông báo từ phía chính quyền Trump gây hoang mang cho các đối tác châu Âu nhưng cho đến hiện tại Lầu Năm Góc vẫn duy trì khoảng 80.000 binh sĩ trên Lục Địa Già. ngay cả trong trường hợp giảm quân số, chỉ để thu hẹp hiện diện quân sự của Mỹ đang từ 80.000 xuống còn 76.000 lính thì « chính quyền Trump cần có sự chấp thuận của Quốc Hội ». Trên đài truyền hình Arte của Pháp và Đức, chuyên gia quân sự giảng dạy tại đại học Sorbonne Guillaume Lasconjarias nhắc lại, trước Donald Trump, tổng thống Barack Obama từ 2014 đã chủ trương giảm sự hiện diện quân sự của Mỹ tại châu Âu. Riêng trong giai đoạn 2022-2023, khi Nga đưa quân xâm chiếm Ukraina, nhất thời dưới chính quyền Biden, quân số Mỹ tại châu Âu được tăng lên tới 100.000. Tác động về an ninh Nghịch lý ở đây là vào lúc căng thẳng về địa chính trị tại nhiều nơi trên thế giới không ngừng gia tăng, không chỉ vì chiến tranh Iran và xung đột Ukraina, thì Hoa Kỳ lại thông báo các kế hoạch thu hẹp sự hiện diện quân sự. Về câu hỏi Mỹ giảm quân tại châu Âu sẽ dẫn tới những hệ quả nào về an ninh đối với lục địa này, chuyên gia về quân sự Jean- Baptiste Noé chủ nhiệm tạp chí chuyên đề Conflits lưu ý, ở châu Âu, Hoa Kỳ hiện có hơn 20 căn cứ quân sự thường trực, phần lớn tại các nước Tây Âu như Ý, Đức, Tây Ban Nha hay Anh Quốc … Bên cạnh đó, lính Mỹ được triển khai tại các căn cứ của các nước châu Âu mà chủ yếu là ở các quốc gia từng thuộc Liên Xô cũ. Trên đài truyền hình Arte nhà nghiên cứu Aurélien Duchêne thuộc cơ quan tư vấn Eurocréative, đặc trách các khu vực Trung và Đông Âu, giải thích vì sao Hoa Kỳ là quốc gia đã thiết lập một mạng lưới các căn cứ ở hải ngoại « dày đặc » tại châu Âu: « Các căn cứ quân sự của Mỹ ở hải ngoại đóng một vai trò kép : sự hiện diện của lĩnh Mỹ tại một quốc gia như Estonia không làm Matxcơva thay đổi chiến lược nếu Nga muốn xâm chiếm quốc gia vùng Baltic này, thế nhưng Điện Kremlin cũng phải cân nhắc rất kỹ khi biết rằng can thiệp vào Estonia nơi có các đơn vị của Mỹ đồn trú tức là sẽ đụng độ trực tiếp với Hoa Kỳ. Nói cách khác, các căn cứ của Mỹ trong trường hợp này là một công cụ răn đe. Bên cạnh đó các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại châu Âu còn đóng vai trò hậu cần, là các trạm tiếp liệu … cho các chiến dịch ở ngoài lãnh thổ Mỹ, như trong trường hợp xung đột tại Trung Đông hiện nay (…) Căn cứ Ramstein tại Đức có thể ví như một ‘hàng không mẫu hạm'khổng lồ : đây là nơi có hai sân bay quân sự với khoảng 600 chiến đấu cơ đủ loại mà Hoa Kỳ đang sử dụng trong chiến tranh Iran. Sau cùng, việc thiết lập một căn cứ quân sự thường trưc tại một quốc gia còn cho phép Washington xây dựng một mối bang giao vững chắc với quốc gia đó ». 128 hay 800 căn cứ quân sự ở hải ngoại ? Theo báo cáo chính thức của Hạ Viện Hoa Kỳ, Mỹ đặt 128 căn cứ quân sự tại 51 quốc gia trên thế giới. Nguyên giáo sư David Vine, trường American University tại Washington, cho rằng con số này thấp hơn thực tế rất nhiều. Theo thẩm định của ông, Mỹ có từ 750 đến 800 cơ sở ở hải ngoại « bên cạnh rất nhiều thực thể khác được xây dựng trong vòng bí mật ». Những cơ sở đó đôi khi chỉ là nơi đặt các hệ thống radar để theo dõi. Như vừa nói, 50.000 lính Mỹ đang đồn trú tại Đức; Tây Ban Nha, với hai căn cứ, là nơi tiếp nhận hơn 3.000 quân có nhiệm vụ giám sát khu vực eo biển Gibralta và châu Phi ; Căn cứ của Hoa Kỳ tại Sctoland, Anh Quốc chủ yếu có nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo. Sự hiện diện của Mỹ trong vùng biển Baltic trước hết là công cụ răn đe nhắm vào nước Nga. Còn các cơ sở trên lãnh thổ Ba Lan, hay Cộng Hòa Sec, Bulgari … là nhằm củng cố sườn đông cho NATO. Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và Kosovo là những địa điểm để quan sát toàn khu vực Địa Trung Hải và Trung Âu.
Liên hoan Nhiếp ảnh Quốc tế tại thành phố Arles miền nam nước Pháp ( Les Rencontres de la photographie d'Arles ) năm 2026 vừa khai mạc ngày 06/07 vừa qua. Qua sự giới thiệu của Galerie Bao tại Paris, loạt tác phẩm mang tên Re/cover của nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam Phan Quang đã được tuyển chọn để tham gia cuộc triển lãm The Best Possible Way to Tell the Truth, trong khuôn khổ giải thưởng Prix Découverte Louis Roederer tại Liên hoan. Dựa trên quá trình nghiên cứu kéo dài nhiều năm, Re/cover khai thác một chương ít được biết đến trong lịch sử Việt Nam, đó là câu chuyện của những người phụ nữ có gia đình với binh lính Nhật đã ở lại Việt Nam sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Trả lời RFI Việt ngữ, Lê Thiên Bảo, người sáng lập và hiện điều hành Galerie Bao, cho biết: "Tôi biết Arles là kinh đô của nhiếp ảnh thế giới và đã theo dõi các chương trình của Liên hoan Arles từ lâu, đặc biệt là giải Decouverte Louis Roederer, một giải thưởng uy tín được thành lập từ năm 2018 để giới thiệu các sáng tác của các nghệ sĩ mới đến với công chúng Châu Âu. Tôi cũng biết serie Re/cover của Phan Quang từ rất lâu rồi, khi còn ở Việt Nam và thấy serie này sẽ rất thích hợp với giải thưởng nên đã soạn kỹ một đề xuất hoàn chỉnh và nộp cho Liên hoan Arles. Rất vui là tác phẩm của nghệ sĩ đã được ban giám khảo và giám tuyển của Liên hoan Arles đánh giá rất cao về chất lượng." Đối với Lê Thiên Bảo, “hơn mười năm sau khi ra đời, tác phẩm Re/cover vẫn giữ nguyên sức mạnh của một tác phẩm thể hiện khả năng của nhiếp ảnh trong việc lưu giữ, khơi lại và tái kiến tạo lịch sử.” Về phần mình, giám tuyển Nadine Hounkpatin của giải thưởng Découverte Louis Roederer ghi nhận những nét độc đáo trong tác phẩm Re/cover của Phan Quang: " Mỗi bức ảnh khắc họa nhân vật trong không gian sống thường nhật, khoác trên mình chiếc khăn voan cô dâu màu trắng truyền thống. Chiếc khăn này trở thành một biểu tượng đa tầng nghĩa: vừa gợi nhắc về những mối lương duyên dang dở và những người cha vắng mặt, vừa đóng vai trò như tấm màn che chở ngăn cách ánh nhìn của người xem với sự riêng tư đầy mong manh. Nó vừa là tấm khăn liệm cho quá khứ, vừa là cử chỉ của sự kín đáo. Thông qua cách dàn dựng mang tính điêu khắc đầy chủ đích này, Phan Quang làm nổi bật sự hiện diện bền bỉ nhưng thầm lặng của những câu chuyện ấy ( ... ). Như vậy, một thập kỷ sau khi ra đời, *Re/cover* vẫn là một suy ngẫm đầy sức thuyết phục về khả năng kiến tạo ý nghĩa thế giới của nhiếp ảnh, vượt xa khỏi vai trò đơn thuần là ghi lại thực tại." Sinh năm 1976 tại Bình Định, Phan Quang nguyên là một phóng viên nhiếp ảnh, hiện sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt. Tác phẩm của anh nằm trong các bộ sưu tập của The Museum of Contemporary Art, Los Angeles, CA, Hoa Kỳ; Asia Society Museum, New York, NY, Hoa Kỳ; Fukuoka Art Museum, Fukuoka, Nhật Bản; và Singapore Art Museum, Singapore. Các triển lãm tiêu biểu của Phan Quang bao gồm The Next Step, Sàn Art, TP. HCM, 2022; RE/COVER, Blanc Art Space, TP. HCM, 2016; Space/Limit, Sàn Art, TP. HCM, 2013; The City in the Blue, Dakar Biennale lần thứ 12, Dakar, Senegal, 2016; và And That Which Was Always Known, Yavuz Gallery, Singapore, Singapore, 2015. RFI Việt ngữ đã có dịp gặp Phan Quang tại Paris ngày 07/07/2026 trước khi anh đến thành phố Arles để dự triển lãm: RFI: RFI Việt ngữ hôm nay rất vui được tiếp chuyện với nghệ sĩ Phan Quang tại Paris. Theo chúng tôi biết thì ban đầu anh là một nhiếp ảnh gia cho ngành báo chí. Thế thì vì sao anh đã quyết định chuyển sang con đường nhiếp ảnh nghệ thuật? Phan Quang: Nhiếp ảnh nghệ thuật là một cách thể hiện khác về nhiếp ảnh. Nó đã thôi thúc tôi trong rất nhiều năm, thì có một cơ duyên từ năm 2009, sự thôi thúc đó đẩy tôi ra bên ngoài và tiếp cận với nền nhiếp ảnh gọi là nghệ thuật đương đại. Đó là một trong những phương pháp thể hiện khác với lối nhiếp ảnh trong nước đang vận hành. Lối nhiếp ảnh đấy đeo đuổi tôi tới bây giờ. Từ 2009, tác phẩm của Quang nằm trải dài ở rất nhiều cuộc triển lãm ở Việt Nam cũng như quốc tế, nhưng hầu như nhiều người ở Việt Nam cũng chưa quen lắm, cho nên cách mình thể hiện cũng lẳng lặng và việc mình thực hành thì đi sâu vào trong các giá trị cốt lõi. Phải nghiên cứu rất là kỹ. Phải đọc rất là nhiều. RFI: Khi ta nói về nghệ thuật đương đại và nhiếp ảnh nghệ thuật thì có nghĩa là không chỉ có nhiếp ảnh, mà đôi khi tùy theo chủ đề chúng ta có thể kết hợp với các bộ môn nghệ thuật khác để thể hiện đúng ý đồ của mình? Phan Quang: Thực ra thì nó không có giới hạn. Do Quang “thuận tay” với nhiếp ảnh nên đi hẳn về nhiếp ảnh. Chứ còn Quang có làm phim, làm điêu khắc rất nhiều, vẽ cả tranh và bản thân trong nhiếp ảnh của Quang cũng là một performance rồi. Nên là nó không có giới hạn trong các môn thực hành. Còn đối với Quang, nhiếp ảnh là một môn mà mình giỏi nhất, thì mình thường dùng phương tiện ấy để thể hiện ý tưởng của một serie tác phẩm hoặc một tác phẩm. RFI: Trong quá trình tìm tòi đó thì anh đã hoàn tất một công trình nghệ thuật mang tên là Re/cover vào năm 2016, đã được giới thiệu ở nhiều triển lãm quốc tế. Nay thì tác phẩm này được giới thiệu tại triển lãm ảnh nghệ thuật ở Arles. Trước hết anh có thể cho biết vì sao anh đã chọn đề tài gia đình của những phụ nữ đã lấy lính Nhật ở lại sau Thế chiến Thứ hai? Phan Quang: Thực ra Re/cover là một trong khoảng 10 serie mà trong quá trình thực hiện của Quang được show ( giới thiệu ) ra bên ngoài. Re/cover một đề tài thuộc loại “rơi tỏm” ra ngoài khỏi sự quan tâm của giới nghệ sĩ, cũng như xã hội ở Việt Nam. Tôi may mắn được tiếp cận một cách tình cờ trong quá trình chuẩn bị, vì tôi đã chọn văn hóa Nhật Bản để làm đối trọng, nên khi đó mới chú tâm tới những gì liên quan đến Nhật Bản và đã phát hiện ra manh mối rất là nhiều thứ về việc đấy. Cũng nhờ kỹ năng làm báo một phần để tìm tòi ra những mắt xích rồi, sâu chuỗi nó lại, làm cái dự án trong vòng 6 năm. Bản thân tôi tới bây giờ vẫn vậy: làm tác phẩm không lo. Bản thân tác phẩm hay thì nó sẽ tự có đời sống của nó, không có lúc này thì lúc khác. Nên thật ra đối với tôi, tôi cứ làm. Không biết nó sẽ đi tới đâu ở trong đời sống của tác phẩm ấy. RFI: Nhưng cơ duyên nào đã đẩy Phan Quang tới với những gia đình đó? Phan Quang: Thực ra nó cũng là một cái duyên. Lúc đầu tôi dùng văn hóa Nhật Bản để đối trọng với một số nền văn hóa của châu Á. Thì tôi thấy lạ lùng vì có những người rất giống người Nhật! Rồi tôi đào sâu, đào sâu mãi và tôi ngồi với những gia đình đấy trong vòng 6 năm, trở thành giống như người thân, người anh, người em trong gia đình, thì mới triển khai được dự án này. RFI: Như vậy thì 6 năm chắc là đủ để có được sự tin cậy của những gia đình đó để Phan Quang có thể chụp những bức ảnh theo đúng ý đồ nghệ thuật của mình. Trong những bức ảnh đó, có những người ngồi giống như bức tượng và phủ trên họ là một tấm voan ( voile ) khá là trong suốt. Vì sao anh lại có cái dụng ý đó? Phan Quang: Thật ra là năm 2013, tôi có may mắn được lưu trú ở bên Nhật, ở Yokohama, tôi mới đi tìm hiểu, mới đọc được một tài liệu về năm 1955, năm mà tất cả những người lính Nhật buộc phải về nước. Thì cũng chính năm đấy thì ở thành phố Kyoto có một cái nhà máy sản xuất vải voan. Đúng thời điểm đấy luôn thì mình may mắn tìm ra được nhà máy đó và mua vải voan đấy, vì voan đối với Việt Nam là một loại vải tượng trưng cho đám cưới. Còn ở Nhật nó cũng được dùng để may kimono, nên cũng là đại diện cho tình yêu. Năm mà những người lính Nhật phải về nước thì cuộc sống những gia đình đấy ở Việt Nam giống như bị đóng băng toàn bộ, bị bao phủ lên một lớp màn. Họ là con của những người phát xít, nên nói chung vào thời điểm đó rất mà khó phát triển ở Việt Nam. Bên Nhật thì họ cũng không có liên quan gì tới cái đấy hết. Bởi vì đối với lính Nhật, họ không đồng ý cho cưới một phụ nữ ở xứ An Nam. Cái thời điểm đấy nó khác, văn hóa khác. Giống như những cuộc sống gia đình của họ rơi ra khỏi vòng xoáy phát triển của xã hội. Khi đó mình mới giải quyết được câu chuyện chụp hình, thì mình mới mua vải voan ở bên Nhật về phủ lên hết các gia đình đó. Gia đình Việt Nam mà phủ vải trắng lên là tương đương với tang chế, nên phải đủ thân thì họ mới cho phủ lên như vậy. RFI: Chắc họ sẵn lòng để cho phủ lên tấm voan đó bởi vì họ hiểu rằng tấm voan tượng trưng cho sự ngưng động của thời gian, tức là kể từ đó cuộc sống của họ coi như cắt đứt liên lạc với những người mà họ đã từng chung sống? Phan Quang: Đúng rồi, họ vẫn mong người cha, người chồng của họ, nhưng mà vô vọng. Có một chi tiết làm tôi vẫn khóc hoài, đó là lúc mà tôi ở Nhật thì những người con đó muốn xin một nắm đất từ bên Nhật về bỏ vô lư hương để thắp hương hằng ngày, để họ nhớ về quê cha đất tổ, thì tôi đã phải dùng một "thủ thuật" để mang được đất về cho họ, chứ còn Nhật đâu có cho mang vô, mà chính phủ Việt Nam cũng không cho mang vô. Mang nắm đất tượng trưng về để họ bỏ vô lư hương, họ thắp hương thì ai cũng khóc, tôi cũng khóc luôn! RFI: Như vậy thì mấy chục năm sau tâm trạng của những người con, người cháu trong những gia đình đó như thế nào. Họ có còn hoài niệm về thời đó hay không? Hay là đối với họ bây giờ đã trở thành quá khứ rồi? Phan Quang: Người Việt mình mà, anh ở đâu đi nữa, anh cũng cần về quê cha đất tổ. Đối với những người đó, họ mong mỏi được qua Nhật, được sống với tinh thần hào khí của Nhật Bản, vì trên ID ( căn cước ) của họ vẫn là nguyên quán Nhật Bản mà. RFI: Trong quá trình tái lập công lý cho những gia đình đó, để gây sự chú ý của nhà chức trách Nhật, anh đã có những hành động gì và chính phủ Nhật có đáp ứng hay không? Phan Quang: Khi tìm hiểu các dữ liệu ở Việt Nam, khi tôi làm gần xong, đọc lại toàn bộ lịch sử thì thấy tất cả châu Á đều ảnh hưởng gần giống nhau. Khi lính Nhật tràn vô thì tất nhiên phải có liên quan với phụ nữ. Khi ấy tôi đã viết gần khoảng 270 lá thư bằng tiếng Anh gửi đi tất cả các lãnh sự quán, cũng như tất cả những nơi có liên quan đang tới Nhật Bản. Tôi tin họ có một dữ liệu cụ thể nào đấy để có thể cung cấp đầu mối, vì ở Việt Nam đi tìm rất khó. Trong vòng cả năm trời gửi đi, rồi hy vọng, nhưng không có một phản hồi nào. Sau đấy thì tôi phải tự đi tìm mua những tài liệu và xâu chuỗi từng nấc một, từng nấc một, để tìm ra những người Thái Lan, người Malaysia, người Philippines, người Hàn Quốc. Mỗi nơi sẽ có những trường hợp khác nhau, những vấn đề khác nhau và tôi phải tự đi làm hết. Thật ra Nhật Bản không support dự án này vì họ coi là không có liên quan. Nhưng có một điều đặc biệt là khi Nhật Hoàng qua thăm Việt Nam ( năm 2017 ) thì đài NHK mới phỏng vấn và đưa ra những nhận định đây là một mối liên kết. Sau đấy thì Nhật Hoàng có tới thăm bà Xuân ( một gia đình cựu binh Nhật ). Rồi mình không đi sâu vào vấn đề đấy nữa. Nhưng khi NHK bay vô Sài Gòn phỏng vấn tôi, thì tất nhiên dự án này trước đó họ đã biết rồi. Nhưng mà tôi gửi mail thì họ không trả lời, không đả động gì hết!
Liên hoan Nhiếp ảnh Quốc tế tại thành phố Arles miền nam nước Pháp ( Les Rencontres de la photographie d'Arles ) năm 2026 vừa khai mạc ngày 06/07 vừa qua. Qua sự giới thiệu của Galerie Bao tại Paris, loạt tác phẩm mang tên Re/cover của nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam Phan Quang đã được tuyển chọn để tham gia cuộc triển lãm The Best Possible Way to Tell the Truth, trong khuôn khổ giải thưởng Prix Découverte Louis Roederer tại Liên hoan. Dựa trên quá trình nghiên cứu kéo dài nhiều năm, Re/cover khai thác một chương ít được biết đến trong lịch sử Việt Nam, đó là câu chuyện của những người phụ nữ có gia đình với binh lính Nhật đã ở lại Việt Nam sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Trả lời RFI Việt ngữ, Lê Thiên Bảo, người sáng lập và hiện điều hành Galerie Bao, cho biết: "Tôi biết Arles là kinh đô của nhiếp ảnh thế giới và đã theo dõi các chương trình của Liên hoan Arles từ lâu, đặc biệt là giải Decouverte Louis Roederer, một giải thưởng uy tín được thành lập từ năm 2018 để giới thiệu các sáng tác của các nghệ sĩ mới đến với công chúng Châu Âu. Tôi cũng biết serie Re/cover của Phan Quang từ rất lâu rồi, khi còn ở Việt Nam và thấy serie này sẽ rất thích hợp với giải thưởng nên đã soạn kỹ một đề xuất hoàn chỉnh và nộp cho Liên hoan Arles. Rất vui là tác phẩm của nghệ sĩ đã được ban giám khảo và giám tuyển của Liên hoan Arles đánh giá rất cao về chất lượng." Đối với Lê Thiên Bảo, “hơn mười năm sau khi ra đời, tác phẩm Re/cover vẫn giữ nguyên sức mạnh của một tác phẩm thể hiện khả năng của nhiếp ảnh trong việc lưu giữ, khơi lại và tái kiến tạo lịch sử.” Về phần mình, giám tuyển Nadine Hounkpatin của giải thưởng Découverte Louis Roederer ghi nhận những nét độc đáo trong tác phẩm Re/cover của Phan Quang: " Mỗi bức ảnh khắc họa nhân vật trong không gian sống thường nhật, khoác trên mình chiếc khăn voan cô dâu màu trắng truyền thống. Chiếc khăn này trở thành một biểu tượng đa tầng nghĩa: vừa gợi nhắc về những mối lương duyên dang dở và những người cha vắng mặt, vừa đóng vai trò như tấm màn che chở ngăn cách ánh nhìn của người xem với sự riêng tư đầy mong manh. Nó vừa là tấm khăn liệm cho quá khứ, vừa là cử chỉ của sự kín đáo. Thông qua cách dàn dựng mang tính điêu khắc đầy chủ đích này, Phan Quang làm nổi bật sự hiện diện bền bỉ nhưng thầm lặng của những câu chuyện ấy ( ... ). Như vậy, một thập kỷ sau khi ra đời, *Re/cover* vẫn là một suy ngẫm đầy sức thuyết phục về khả năng kiến tạo ý nghĩa thế giới của nhiếp ảnh, vượt xa khỏi vai trò đơn thuần là ghi lại thực tại." Sinh năm 1976 tại Bình Định, Phan Quang nguyên là một phóng viên nhiếp ảnh, hiện sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt. Tác phẩm của anh nằm trong các bộ sưu tập của The Museum of Contemporary Art, Los Angeles, CA, Hoa Kỳ; Asia Society Museum, New York, NY, Hoa Kỳ; Fukuoka Art Museum, Fukuoka, Nhật Bản; và Singapore Art Museum, Singapore. Các triển lãm tiêu biểu của Phan Quang bao gồm The Next Step, Sàn Art, TP. HCM, 2022; RE/COVER, Blanc Art Space, TP. HCM, 2016; Space/Limit, Sàn Art, TP. HCM, 2013; The City in the Blue, Dakar Biennale lần thứ 12, Dakar, Senegal, 2016; và And That Which Was Always Known, Yavuz Gallery, Singapore, Singapore, 2015. RFI Việt ngữ đã có dịp gặp Phan Quang tại Paris ngày 07/07/2026 trước khi anh đến thành phố Arles để dự triển lãm: RFI: RFI Việt ngữ hôm nay rất vui được tiếp chuyện với nghệ sĩ Phan Quang tại Paris. Theo chúng tôi biết thì ban đầu anh là một nhiếp ảnh gia cho ngành báo chí. Thế thì vì sao anh đã quyết định chuyển sang con đường nhiếp ảnh nghệ thuật? Phan Quang: Nhiếp ảnh nghệ thuật là một cách thể hiện khác về nhiếp ảnh. Nó đã thôi thúc tôi trong rất nhiều năm, thì có một cơ duyên từ năm 2009, sự thôi thúc đó đẩy tôi ra bên ngoài và tiếp cận với nền nhiếp ảnh gọi là nghệ thuật đương đại. Đó là một trong những phương pháp thể hiện khác với lối nhiếp ảnh trong nước đang vận hành. Lối nhiếp ảnh đấy đeo đuổi tôi tới bây giờ. Từ 2009, tác phẩm của Quang nằm trải dài ở rất nhiều cuộc triển lãm ở Việt Nam cũng như quốc tế, nhưng hầu như nhiều người ở Việt Nam cũng chưa quen lắm, cho nên cách mình thể hiện cũng lẳng lặng và việc mình thực hành thì đi sâu vào trong các giá trị cốt lõi. Phải nghiên cứu rất là kỹ. Phải đọc rất là nhiều. RFI: Khi ta nói về nghệ thuật đương đại và nhiếp ảnh nghệ thuật thì có nghĩa là không chỉ có nhiếp ảnh, mà đôi khi tùy theo chủ đề chúng ta có thể kết hợp với các bộ môn nghệ thuật khác để thể hiện đúng ý đồ của mình? Phan Quang: Thực ra thì nó không có giới hạn. Do Quang “thuận tay” với nhiếp ảnh nên đi hẳn về nhiếp ảnh. Chứ còn Quang có làm phim, làm điêu khắc rất nhiều, vẽ cả tranh và bản thân trong nhiếp ảnh của Quang cũng là một performance rồi. Nên là nó không có giới hạn trong các môn thực hành. Còn đối với Quang, nhiếp ảnh là một môn mà mình giỏi nhất, thì mình thường dùng phương tiện ấy để thể hiện ý tưởng của một serie tác phẩm hoặc một tác phẩm. RFI: Trong quá trình tìm tòi đó thì anh đã hoàn tất một công trình nghệ thuật mang tên là Re/cover vào năm 2016, đã được giới thiệu ở nhiều triển lãm quốc tế. Nay thì tác phẩm này được giới thiệu tại triển lãm ảnh nghệ thuật ở Arles. Trước hết anh có thể cho biết vì sao anh đã chọn đề tài gia đình của những phụ nữ đã lấy lính Nhật ở lại sau Thế chiến Thứ hai? Phan Quang: Thực ra Re/cover là một trong khoảng 10 serie mà trong quá trình thực hiện của Quang được show ( giới thiệu ) ra bên ngoài. Re/cover một đề tài thuộc loại “rơi tỏm” ra ngoài khỏi sự quan tâm của giới nghệ sĩ, cũng như xã hội ở Việt Nam. Tôi may mắn được tiếp cận một cách tình cờ trong quá trình chuẩn bị, vì tôi đã chọn văn hóa Nhật Bản để làm đối trọng, nên khi đó mới chú tâm tới những gì liên quan đến Nhật Bản và đã phát hiện ra manh mối rất là nhiều thứ về việc đấy. Cũng nhờ kỹ năng làm báo một phần để tìm tòi ra những mắt xích rồi, sâu chuỗi nó lại, làm cái dự án trong vòng 6 năm. Bản thân tôi tới bây giờ vẫn vậy: làm tác phẩm không lo. Bản thân tác phẩm hay thì nó sẽ tự có đời sống của nó, không có lúc này thì lúc khác. Nên thật ra đối với tôi, tôi cứ làm. Không biết nó sẽ đi tới đâu ở trong đời sống của tác phẩm ấy. RFI: Nhưng cơ duyên nào đã đẩy Phan Quang tới với những gia đình đó? Phan Quang: Thực ra nó cũng là một cái duyên. Lúc đầu tôi dùng văn hóa Nhật Bản để đối trọng với một số nền văn hóa của châu Á. Thì tôi thấy lạ lùng vì có những người rất giống người Nhật! Rồi tôi đào sâu, đào sâu mãi và tôi ngồi với những gia đình đấy trong vòng 6 năm, trở thành giống như người thân, người anh, người em trong gia đình, thì mới triển khai được dự án này. RFI: Như vậy thì 6 năm chắc là đủ để có được sự tin cậy của những gia đình đó để Phan Quang có thể chụp những bức ảnh theo đúng ý đồ nghệ thuật của mình. Trong những bức ảnh đó, có những người ngồi giống như bức tượng và phủ trên họ là một tấm voan ( voile ) khá là trong suốt. Vì sao anh lại có cái dụng ý đó? Phan Quang: Thật ra là năm 2013, tôi có may mắn được lưu trú ở bên Nhật, ở Yokohama, tôi mới đi tìm hiểu, mới đọc được một tài liệu về năm 1955, năm mà tất cả những người lính Nhật buộc phải về nước. Thì cũng chính năm đấy thì ở thành phố Kyoto có một cái nhà máy sản xuất vải voan. Đúng thời điểm đấy luôn thì mình may mắn tìm ra được nhà máy đó và mua vải voan đấy, vì voan đối với Việt Nam là một loại vải tượng trưng cho đám cưới. Còn ở Nhật nó cũng được dùng để may kimono, nên cũng là đại diện cho tình yêu. Năm mà những người lính Nhật phải về nước thì cuộc sống những gia đình đấy ở Việt Nam giống như bị đóng băng toàn bộ, bị bao phủ lên một lớp màn. Họ là con của những người phát xít, nên nói chung vào thời điểm đó rất mà khó phát triển ở Việt Nam. Bên Nhật thì họ cũng không có liên quan gì tới cái đấy hết. Bởi vì đối với lính Nhật, họ không đồng ý cho cưới một phụ nữ ở xứ An Nam. Cái thời điểm đấy nó khác, văn hóa khác. Giống như những cuộc sống gia đình của họ rơi ra khỏi vòng xoáy phát triển của xã hội. Khi đó mình mới giải quyết được câu chuyện chụp hình, thì mình mới mua vải voan ở bên Nhật về phủ lên hết các gia đình đó. Gia đình Việt Nam mà phủ vải trắng lên là tương đương với tang chế, nên phải đủ thân thì họ mới cho phủ lên như vậy. RFI: Chắc họ sẵn lòng để cho phủ lên tấm voan đó bởi vì họ hiểu rằng tấm voan tượng trưng cho sự ngưng động của thời gian, tức là kể từ đó cuộc sống của họ coi như cắt đứt liên lạc với những người mà họ đã từng chung sống? Phan Quang: Đúng rồi, họ vẫn mong người cha, người chồng của họ, nhưng mà vô vọng. Có một chi tiết làm tôi vẫn khóc hoài, đó là lúc mà tôi ở Nhật thì những người con đó muốn xin một nắm đất từ bên Nhật về bỏ vô lư hương để thắp hương hằng ngày, để họ nhớ về quê cha đất tổ, thì tôi đã phải dùng một "thủ thuật" để mang được đất về cho họ, chứ còn Nhật đâu có cho mang vô, mà chính phủ Việt Nam cũng không cho mang vô. Mang nắm đất tượng trưng về để họ bỏ vô lư hương, họ thắp hương thì ai cũng khóc, tôi cũng khóc luôn! RFI: Như vậy thì mấy chục năm sau tâm trạng của những người con, người cháu trong những gia đình đó như thế nào. Họ có còn hoài niệm về thời đó hay không? Hay là đối với họ bây giờ đã trở thành quá khứ rồi? Phan Quang: Người Việt mình mà, anh ở đâu đi nữa, anh cũng cần về quê cha đất tổ. Đối với những người đó, họ mong mỏi được qua Nhật, được sống với tinh thần hào khí của Nhật Bản, vì trên ID ( căn cước ) của họ vẫn là nguyên quán Nhật Bản mà. RFI: Trong quá trình tái lập công lý cho những gia đình đó, để gây sự chú ý của nhà chức trách Nhật, anh đã có những hành động gì và chính phủ Nhật có đáp ứng hay không? Phan Quang: Khi tìm hiểu các dữ liệu ở Việt Nam, khi tôi làm gần xong, đọc lại toàn bộ lịch sử thì thấy tất cả châu Á đều ảnh hưởng gần giống nhau. Khi lính Nhật tràn vô thì tất nhiên phải có liên quan với phụ nữ. Khi ấy tôi đã viết gần khoảng 270 lá thư bằng tiếng Anh gửi đi tất cả các lãnh sự quán, cũng như tất cả những nơi có liên quan đang tới Nhật Bản. Tôi tin họ có một dữ liệu cụ thể nào đấy để có thể cung cấp đầu mối, vì ở Việt Nam đi tìm rất khó. Trong vòng cả năm trời gửi đi, rồi hy vọng, nhưng không có một phản hồi nào. Sau đấy thì tôi phải tự đi tìm mua những tài liệu và xâu chuỗi từng nấc một, từng nấc một, để tìm ra những người Thái Lan, người Malaysia, người Philippines, người Hàn Quốc. Mỗi nơi sẽ có những trường hợp khác nhau, những vấn đề khác nhau và tôi phải tự đi làm hết. Thật ra Nhật Bản không support dự án này vì họ coi là không có liên quan. Nhưng có một điều đặc biệt là khi Nhật Hoàng qua thăm Việt Nam ( năm 2017 ) thì đài NHK mới phỏng vấn và đưa ra những nhận định đây là một mối liên kết. Sau đấy thì Nhật Hoàng có tới thăm bà Xuân ( một gia đình cựu binh Nhật ). Rồi mình không đi sâu vào vấn đề đấy nữa. Nhưng khi NHK bay vô Sài Gòn phỏng vấn tôi, thì tất nhiên dự án này trước đó họ đã biết rồi. Nhưng mà tôi gửi mail thì họ không trả lời, không đả động gì hết!
Mặc dù ông Tập đã chỉ thị cho quân đội phải sẵn sàng tiếp quản Đài Loan vào năm 2027, sở nguyện của ông là giành quyền kiểm soát hòn đảo mà không cần tốn một viên đạn. Việc khơi mào chiến tranh, ngay cả với một đối thủ yếu hơn, luôn là điều mạo hiểm — như những gì cuộc xâm lược Ukraine của Nga và chiến dịch quân sự của Mỹ chống lại Iran đã phơi bày rõ ràng.Xem thêm.
Ban Tổ chức Trung ương vừa hướng dẫn một số nội dung về sắp xếp, thành lập tổ chức Đảng ở thôn, tổ dân phố sau sắp xếp. Ngoài yêu cầu tổ chức Đảng phải được sắp xếp đồng bộ với thôn, tổ dân phố, hướng dẫn còn nêu rõ tiêu chuẩn, cơ cấu nhân sự cấp ủy và khuyến khích mô hình bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố.
Sau khi đã soán ngôi của Âu Mỹ trong lĩnh vực công nghiệp, rồi thách thức -thậm chí là qua mặt cả- Hoa Kỳ về công nghệ, Trung Quốc đang tiến gần đến vị trí số 1 thế giới về y khoa, đặc biệt là trong lĩnh vực chống ung thư. Những ca bị ung thư trong tương lai sẽ được điều trị nhờ thuốc « made in China », nhờ những dược chất được khám phá từ các phòng thí nghiệm Trung Quốc. Thành tích đó do đâu mà có ? Viễn cảnh Bắc Kinh sử dụng những dược chất, thuốc hay phương pháp điều trị ung thư như một công cụ ngoại giao và địa chính trị không còn xa vời. Nghiên cứu và thử nghiệm thuốc mới : « Cỗ máy » lợi hại của Trung Quốc Trung Quốc đã trở thành tâm điểm Hội nghị quốc tế ung thư học lớn nhất thế giới ASCO tổ chức Chicago (29/05-02/06/2026). Gần 1/3 các công trình khoa học được trình bày liên quan đến Trung Quốc ở những mức độ khác nhau. Bên cạnh sự hiện diện rất đông đảo của các nhà nghiên cứu, của các chuyên gia về ung thư Trung Quốc trong số khoảng 40.000 người tham dự, đáng chú ý nhất là lần đầu tiên, một trong số năm bài tham luận được giới thiệu trong phiên họp toàn thể hôm 31/05/2026 xuất sứ từ Trung Quốc. Đây là một vinh dự chỉ dành cho những công trình được coi là có giá trị, mang tính sáng tạo nhất và có triển vọng nhất. Công trình đem đến Chicago lần này kết hợp liệu pháp miễn dịch với hóa trị được đánh giá là « một liệu pháp mới đầy triển vọng » do Akeso, một tập đoàn công nghệ sinh học Trung Quốc phát triển. Nhật báo tài chính Mỹ, New York Times coi đây là bằng chứng rõ rệt nhất cho thấy Trung Quốc đã « trở thành một thế lực hàng đầu thế giới trong cuộc đua phát triển thuốc mới » trị liệu ung thư : Từ vị trí « gần như đúng ngoài cuộc chơi » Trung Quốc đã nổi lên như một ngọn hải đăng trong một lĩnh vực mà cho đến nay vẫn được coi là thế mạnh của châu Âu và Hoa Kỳ. Cột mốc 2024 Năm 2024 là một cột mốc quan trọng khi mà 40 % các cuộc thử nghiệm lâm sàng trên thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu chống ung thư, do các phòng thí nghiệm, các viện y khoa Trung Quốc thực hiện. Giáo sư Steven Le Gouille, chuyên về huyết học và giám đốc viện nghiên cứu ung thư Institut Curie-Paris trên nhật báo Libération nhắc lại 2024 lần đầu tiên Trung Quốc công bố hơn 37.000 bài nghiên cứu trong lĩnh vực chuyên môn này, hơn hẳn Hoa Kỳ (chưa đầy 32.000 công trình), nhưng cho đến hiện tại, những bài viết đó ít được đăng trên những tạp chí y khoa danh giá nhất thế giới như Nature, Science hay The New England Journal of Medecine. Gần đây hơn, các chuyên gia Trung Quốc đóng góp vào 8 trên tổng số 12 chương trình nghiên cứu được trình bày nhân hội nghị châu Âu tại Berlin mùa thu 2025 và hai trong số này tập trung vào những loại thuốc mới điều trị ung thư do các viện bào chế Trung Quốc sản xuất. Tiền là chủ lực Thành công này do đâu mà có ? Giáo sư y khoa Fabrice Barseli, giám đốc Gustave Roussy trung tâm điều trị ung thư lớn nhất châu Âu, ở ngoại ô Paris, trả lời đài phát thanh tư nhân Radio Classique nhấn mạnh đến tiềm lực tài chính khổng lồ của quốc gia châu Á này từ đầu thế kỷ 21 và nhất là trong thời gian gần đây : « Năm 2020 Trung Quốc huy động 300 tỷ đô laa đầu tư vào khâu nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực chống ung thư. Chỉ 5 năm sau, số tiền này được đẩy lên đến 500 tỷ đô la. Thêm vào đó là chiến lược chiêu mộ các nhân tài, các chuyên gia Trung Quốc đã làm việc ở những tập đoàn dược phẩm lớn ở ngoại quốc, nghiên cứu và được đào tạo tại những trường y khoa danh tiếng nhất trở về Hoa lục : họ là những cột trụ giúp Trung Quốc phát triển ». Tiền là yếu tố quan trọng nhất nhưng không chỉ có thế. Chính nhờ đội ngũ các chuyên gia được đào tạo ở Hoa Lục và nước ngoài, mà trong hơn 2 thâp niên, Trung Quốc đã nhanh chóng có khả năng sản xuất các loại thuốc thuộc thế hệ mới và có mức độ phức tạp cao. Không những thế Trung Quốc còn phát hiện những phương pháp điều trị mới, nghiên cứu ra những phân tử mới, những hoạt chất mới … « Trung Quốc không chỉ dừng lại ở việc sao chép (...) ». Chuyên gia Pháp Steve Le Gouill viện nghiên cứu Curie trên nhật báo Libération khẳng định : « Trung Quốc không chỉ dừng lại ở việc sao chép thành công những hoạt chất được nghiên cứu ở nước ngoài, mà nay không ngững cải tiến chính những hoạt chát đó để phát triển những loại thuốc thuộc thế hệ hoàn toàn mới, tức là đưa ra những phương pháp điều trị mới ». Trong lĩnh vực dược phẩm Trung Quốc đã « hoàn toàn làm chủ từ đầu đến cuối các khâu phát triển, từ nghiên cứu đến thử nghiệm và sản xuất. Ngành công nghiệp dược và sinh học của nước này được tổ chức một cách rất có bài bản và vận hành theo các tiêu chuẩn khoa học quốc tế » tương tự như những trung tâm nghiên cứu hàng đầu thế giới. Pháp tìm đối tác liên doanh Giáo sư Barseli giám đốc viện ung thư Gustave Roussy xem việc phát triển hợp tác với các viện nghiên cứu Trung Quốc là một ưu tiên bởi vì các nhà khoa học và giới y khoa châu Á này đang nắm giữ những hoạt chất mà ông gọi là thuộc dòng « best in class hay thậm chí là first in class » tức là những dược chất đầu tiên có thể tấn công để khống chế những tế bào ung thư. Là viện trị liệu lớn nhất châu Âu, ưu tiên của Gustave Roussy hiện nay là thành lập một liên doanh với các nhà sản xuất Trung Quốc để tiếp cận « nhanh chóng nhất » những molécules cần thiết nhất trong khâu trị liệu. Giới trong ngành nhìn nhận hiện tại chữa ung thư phổi và điều trị ung thư tuyến tụy (pancréas) Trung Quốc đang « tiên phong ». Một chiến dịch dài hơi Thực ra để có thể đứng trên đỉnh cao như ngày hôm nay trong lĩnh vực y tế như thế nào Trung Quốc đã có một sự chuẩn bị dài hơi. Vào thập niên 1950 ngành y dược gần như trong lòng bàn tay của Âu, Mỹ : Hoa Kỳ dẫn đầu cuộc chơi với những tên tuổi lớn trong ngành như Pfizer, Merk hay Lilly. Anh Quôc thì có Glaxo Wellcome, Pháp thì nổi tiếng với hãng thốc Rhone Poulenc, Thụy Sĩ thì có nhà thuốc Roche … Trung Quốc khởi đầu từ con số không và thậm chí là còn đi sau Ấn Độ một bước để tranh giành thị trường các hoạt chất chính chế biến thuốc. Mãi đến đầu những năm 2000 mọi người mới biết đến hơn một chục cơ sở sản xuất các hoạt chất chính để bào chế thuốc tại Hoa Lục như là ở Quảng Châu, Chiết Giang, Thanh Đảo hay Giang Tây … nhưng chỉ đến năm 2020 Trung Quốc đã chiếm một vị trí then chốt : Cung cấp 71 % các hoạt chất chính cho thế giới để chế tạo thuốc kháng sinh, chiếm từ 60 đến 70 % để cung cấp cho các viện bào chế thuốc giảm đau paracetamol và từ 70 đến 80 % các loại penicilline đều phải dùng dược chất « made in China ». Thành công chói lọi đó của các viện bào chế, các nhà thuốc Trung Quốc có được một phần lớn cũng nhờ được Nhà nước hậu thuẫn. Theo thống kê của Liên đoàn các hãng dược phẩm châu Âu EFPIA đầu tư của Trung Quốc trong lĩnh vực này đã có một bước « đại nhảy vọt », đang từ 1,7 tỷ đô la năm 2000 lên thành gần 15 tỷ 25 năm sau đó. Steven Le Gouille, Institut Curie Paris giải thích : Ai thì cũng phải đi qua vòng « sinh - lão - bệnh - tử » cho nên đầu tư vào y tế khó có thể lỗ vốn nhất là khi Trung Quốc có đến 1,4 tỷ dân. Trong 5 năm, 2016-2021, trị giá chứng khoán của các tập đoàn dược phẩm tiên tiến Trung Quốc đã nhảy vọt từ 3 tỷ đô la lên tới 380 tỷ. Khó khăn trên con đường chinh phụ thị trường quốc tế Dù vậy trên con đường « quốc tế hóa » thuốc của Trung Quốc vẫn còn đang gặp nhiều trở ngại. Đứng đầu trong số này là những chuẩn mực khắt khe để thâm nhập vào các thị trường Âu, Mỹ, dù vậy theo đánh giá của giám đốc viện nghiên cứu Curie-Paris ông Le Gouill, Trung Quốc đang từng bước bẻ gấy những rào cản sau cùng này. « Có một số trở ngại cho việc Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu thuốc ra thị trường quốc tế : trong lĩnh vực dược phẩm, các chuẩn mực của Âu Mỹ rất khắt khe, thế nhưng Trung Quốc đã học hỏi cách thâm nhập được các thị trường này. Các tập đoàn dược phẩm, các viện bào chế Trung Quốc đã nắm bắt được luật chơi, để rồi các tập đoàn quốc tế phải mua lại bản quyền của Trung Quốc để được phép sản xuất và phân phối các dược chất trên thị trường quốc tế. Nếu chúng ta đi ngược dòng chuỗi cung ứng, thì sẽ thấy là các hãng dược phẩm của Trung Quốc dựa rất nhiều vào các viện nghiên cứu, các trường đại học y khoa để phát minh ra những dược chất mới đòi hỏi trình độ kỹ thuật rất cao ». Thị trường thuốc của thế giới đến nay vẫn trong tay một vài « ông lớn -major » Hoa Kỳ : hơn 50 % lượng thuốc đủ loại lưu hành là do các hãng dược phẩm của Mỹ cung cấp, Trung Quốc bất chấp những đòn bảy khổng lồ nói trên, cũng mới chỉ giành được có 7 %. Để so sánh thị phần của Pháp và Đức là 3 và 4 %. Trong hoàn cảnh đó giới trong ngành cho rằng : các ngành y, dược trong tương lai sẽ trở thành một mặt trận mới trong cuộc đọ sức giữa Bắc Kinh và Washington; Trung Quốc với thế thượng phong trong nhiều lĩnh vực rồi đây cũng sẽ biến những dược chất và hoạt chất chính thành những công cụ ngoại giao và địa chính trị như đã từng hành xử với kim loại hiếm. Thuần túy về y học và trong lĩnh vực chống ung thư, chủ tịch hiệp hội Unicancer, Jean-Yves Blay được báo Le Figaro trích dẫn cho rằng Trung Quốc đã trong tư thế sẵn sàng để dẫn đầu thế giới về phương pháp trị liêu. Một lần nữa, điểm mạnh cho phép Trung Quốc đè bẹp các đối thủ vẫn là « hàng rẻ » nhưng lần này thì thuốc made in China không chỉ là những loại thuốc « cơ bản mà đó là một sự phối hợp tinh tế và nhịp nhàng giữa các khâu nghiên cứu, sản xuất và cung cấp để cho ra đời không chỉ có thuốc mà còn cả những phương pháp trị liệu xuất sắc nhất mà ngay cả các tập đoàn của Mỹ và châu Âu cũng khó mà đuổi kịp ».
Tại thượng đỉnh Bắc Kinh, Donald Trump và Tập Cận Bình đã bắt đầu chuẩn bị cho giai đoạn « hậu chiến tranh thương mại Mỹ-Trung ». Tổng thống Hoa Kỳ luôn lấy những cơ hội kinh doanh làm kim chỉ nam để điều hành đất nước. Chủ tịch Tập Cận Bình quan niệm Trung Quốc « không có bất kỳ một lợi ích nào trong mọi cuộc xung đột, kể cả xung đột thương mại ». Bắc Kinh cần dưỡng sức cho một cuộc song đấu khác. Nhiều chuyên gia Pháp đánh giá như trên sau cuộc tái ngộ giữa lãnh đạo hai siêu cường kinh tế thế giới từ hôm 13 đến 15/05/2026. Một phái đoàn hùng hậu gần hai chục doanh nhân hàng đầu của Mỹ đã tháp tùng tổng thống Trump đến Bắc Kinh. Không ít trong số đó là những người giàu nhất hành tinh, như Elon Musk sáng lập viên hãng ô tô điện Tesla, người từng được chính chủ tịch Trung Quốc tiếp đón. Bên cạnh đó là rất nhiều ông vua công nghệ cao như Apple, Meta, Qualcomm, Nvidia.., là những lãnh đạo các quỹ đầu tư trị giá hàng ngàn tỷ đô la như Blackrock hay Goldman Sachs, và cả những tên tuổi hàng đầu tiêu biểu nhất của nền công nghiệp Hoa Kỳ như tổng giám đốc Boeing. Phần lớn trong số này là những đối tác lâu đời của Trung Quốc. Trước mặt lãnh đạo Trung Quốc, tổng thống Trump khoe : « Chúng tôi có đội ngũ doanh nhân hùng hậu nhất, giỏi nhất và cũng là những doanh nhân hàng đầu thế giới ». Đáp lời nguyên thủ Mỹ chủ tịch Tập Cận Bình nói ông « hoàn toàn tin tưởng những cơ hội tốt hơn đối với các doanh nghiệp Mỹ là tại Trung Quốc ». Do vậy, giới quan sát cho rằng, với phái đoàn đông đảo các doanh nhân Mỹ như vậy, ông Trump vừa khéo léo nhắc nhở vị chủ nhà về thế thượng phong của Hoa Kỳ trong nhiều lĩnh vực then chốt, vừa để ngỏ cơ hội hợp tác hai chiều. Tổng thống Trump không đến Bắc Kinh để mở ra một chương mới trong chiến tranh thương mại với Trung Quốc. Nhưng điều đó không có nghĩa là căng thẳng song phương sắp được khép lại, bởi vì chiến tranh thương mại Mỹ -Trung chỉ là bề nổi của tảng băng. Cuộc chiến đó cũng có thể là sắp kết thúc để nhường chỗ cho một đối đầu khác khốc liệt hơn. Đó là chiến tranh công nghệ. Nhưng ngay cả về điểm này, bài toán cũng không đơn giản cho cả hai phía. Một sự phụ thuộc « chết người » Điểm qua « tương quan lực lượng » của mỗi bên trên mặt trận « công nghệ » đặc biệt là về trí tuệ nhân tạo, kinh tế gia Alicia García Herrero thuộc trung tâm nghiên cứu Bruegel, trụ sở tại Bruxelles, trong một bài tham luận trên tạp chí Le Grand Continent lưu ý Trung Quốc không « lẹt đẹt » theo sau Hoa Kỳ, Trung Quốc lại vừa có phương tiện tài chính để đầu tư như Mỹ, thậm chí là còn hơn cả Mỹ. Trung Quốc lại nắm giữ một vũ khí vô cùng lợi hại là các khoáng sản chiến lược và kim loại hiếm. Ở phía đài bên kia, Hoa Kỳ vẫn còn đi trước đối thủ châu Á này vài bước về công nghệ chế tạo chip điện tử, đặc biệt là những loại tiên tiến nhất một phần do tập đoàn Nvidia chế tạo. Có điều « khoảng cách của Mỹ trước Trung Quốc đang được thu hẹp lại ». Để làm chủ cuộc cách mạng về trí thông minh nhân tạo, Mỹ và Trung Quốc đang phụ thuộc vào nhau. Theo quan điểm của bà Alicia García Herrero, trên mặt trận này, Bắc Kinh và Washington mỗi bên « nắm giữ một nửa chìa khóa » của thành công. Do vậy, có lẽ đôi bên đang cân nhắc khả năng hợp tác trong một chừng mực nào đó, ít ra là trong ngắn hạn. Chính ở điểm này, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có lẽ đã thành thật khi tuyên bố : « Những lợi ích chung của Trung Quốc và Hoa Kỳ lấn át những bất đồng giữa hai nước. Thành công của mỗi bên là cơ hội cho phía bên kia. Một mối quan hệ ổn định giữa hai quốc gia có lợi cho toàn thế giới ». Biến lợi thế của mình thành vũ khí Như trong nhiều lĩnh vực khác, Mỹ và Trung Quốc vừa là đối thủ của nhau, nhưng lại rất cần đến nhau. Vẫn Alicia García Herrero cho rằng ở thời điểm này Hoa Kỳ và Trung Quốc cùng đang muốn khai thác tối đa lợi thế của mình với đối phương. Lãnh đạo hai nước ý thực được là mỗi bên cần « tạm ngừng chiến » để cho dưỡng sức cho một cuộc đấu dài hơi, đồng thời cũng là để khai thác tối đa những lợi thế đã có, biến chúng thành những vũ khí lợi hại nhất để nhắm vào đối phương. Có điều, do mức độ phụ thuộc vào nhau qua lớn, không một bên nào dám « nổ phát súng đầu tiên » Tại thượng đỉnh tuần trước, ông Tập Cận Bình và Donald Trump chủ yếu tìm kế hoãn binh và cứu vãn thể diện qua hàng loạt những cam kết rất mơ hồ về thiện chí thương mại, hay để ngỏ khả năng mời các nhà đầu tư của đối phương vào hoạt động. Nhà nghiên cứu thuộc viện Bruegel cho rằng đây cũng là cơ hội để đôi bên trình bày rõ với đối phương về những giới hạn tối đa mà mỗi bên có thể chấp nhận được. Đối với phía ông Tập Cận Bình, trước sau như một : lằn rănh đỏ của Bắc Kinh vẫn là Đài Loan. Về phía Washington, đang lúng túng về chiến tranh Trung Đông, giới hạn sau cùng trong mắt tổng thống Trump là Trung Quốc tuyệt đối không được tiếp sức cho Iran về quân sự. Trên đài truyền hình Pháp France5 giáo sư kinh tế Mary Fraçoise Renard, đại học Clermont Ferrand-Auverge trước hết phân tích về quan điểm của Bắc Kinh vào lúc mà Trung Quốc bất đắc dĩ bị tình hình ở eo biển Hormuz đe dọa tăng trưởng. « Trung Quốc không có bất kỳ một lợi ích nào trong mọi xung đột, dù là với Đài Loan hay bất kỳ một quốc gia nào khác, về thương mại cũng vậy. Hơn nữa chúng ta thấy Bắc Kinh không dấn thân vào bất kỳ một cuộc chiến nào, ngay cả khi một nước bạn của Trung Quốc bị tấn công, như trong trường hợp với Iran. Có điều về Trung Đông, ông Tập Cận Bình muốn là Mỹ thay đổi thái độ nhưng đương nhiên kịch bản đó sẽ không xảy ra. Cho nên về hình thức, thì hai nhà lãnh đạo Trump-Tập đúng là đã đề cập đến một số vấn đề, nhưng về thực chất, thì không có gì thay đổi cả mà đó mới chính là điều quan trọng nhất được ghi nhận sau chuyến công du Bắc Kinh của nguyên thủ Mỹ vừa qua (…) Trung Quốc là khách hàng số 1 của Iran, nhưng Bắc Kinh đã đa dạng hóa các nguồn cung cấp và các đối tác thương mại. Từ nhiều năm qua, kinh tế Trung Quốc đã bớt phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch. Bắc Kinh đồng thời lại xây dựng một kho dự trữ năng lượng khá tốt. Nếu như chiến tranh kéo dài thì các nguồn dự trữ đó đương nhiên mai một. Nhưng trước mắt thì tình huống không quá tệ đối với Bắc Kinh, nhất là khi mà Mỹ đang sa lầy … Tổng thống Mỹ sợ lạm phát, ông Tập Cận Bình thì không, bởi vì Trung Quốc đang trong tình trạng giảm phát. Có điều là xung đột ở Trung Đông ảnh hưởng đến cả kinh tế của Mỹ lẫn Liên Âu, đó là hai thị trường xuất khẩu lớn đối với Trung Quốc mà xuất khẩu là động lực của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc. Hiện tại tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này năm 2025 là 1200 tỷ đô la, mức cao nhất từ sau Thế Chiến Thứ Hai đến nay ». Mục đích tránh để đối phương « trở mặt » Giáo sư kinh tế Mary Françoise Renard, đại học Clermont Ferrand-Auvergne điểm lại quan hệ đầy sóng gió giữa hai siêu cường kinh tế thế giới từ khi tổng thống Trump lên cầm quyền từ nhiệm kỳ đầu. Bà đồng thời nhấn mạnh rằng, đôi bên cùng hiểu rõ người đối phương và cần bảo đảm rằng, sẽ không bị phía bên kia « trở mặt ». « Hiện tại Mỹ đánh thuế 10 % vào hàng Trung Quốc, bên cạnh đó thì cũng có những thông báo là thuế hải quan được ấn định ở mức 24 % rồi biện pháp đó lại bị đình chỉ cho đến tháng 11 năm nay. Thành thử đôi bên còn có nhiều điều để mặc cả với nhau. Phía Bắc Kinh đã gián tiếp để ngỏ khả năng là có thể chấp nhận mức thuế tối đa là 10 %. Nhưng nói thật, là 10 % thuế hải quan đánh vào những mặt hàng thông dụng thì cũng không có lợi gì cho các hãng của Mỹ. Thành thử thượng đỉnh lần này Bắc Kinh tập trung vào hồi kết của một cuộc chiến thương mại, với những bảo đảm là đó phải là một thỏa thuận vững chắc, để rồi chính quyền Trump không trở mặt. Còn về phía phái đoàn Mỹ thì đã yêu cầu Trung Quốc cam kết không dùng đất hiếm như một công cụ để gây áp lực với Washington. Không chắc phía ông Tập sẽ thỏa mãn đòi hỏi này. Ngoài ra, phái đoàn Trump cũng đòi Trung Quốc mua nhiều hơn nông phẩm và máy bay của Hoa Kỳ. Hãng Boeing đã phải trả giá đắt vì chiến tranh thương mại Mỹ - Trung (…) Nhân thượng đỉnh lần này, hai bên đã đề cập đến các khoản đầu tư hai chiều. Về phía Mỹ, các doanh nghiệp đều muốn có thể đầu tư mà không bị các quy định quá trói buộc. Lãnh đạo các tập đoàn Hoa Kỳ tháp tùng tổng thống Trump đến Bắc Kinh lần này đều muốn biết rõ chính sách đầu tư của Trung Quốc đối với các doanh nhân Mỹ. Công nghệ là một vế then chốt trong đối thoại song phương, mà về điểm này, thì Washington đã cấm xuất khẩu sang Trung Quốc một số chip điện tử cao cấp nhất do tập đoàn Nvida sản xuất. Nhưng Nhà Trắng thường xuyên thay đổi chính sách. Cho nên cả Bắc Kinh lẫn Nvidia cùng muốn được bảo đảm là đôi bên có thể làm ăn với nhau. Trung Quốc cần một số các thiết bị của Hoa Kỳ và ông Trump đã cấm xuất khẩu một số sản phẩm sang Hoa Lục, đồng thời cấm khoảng 1000 doanh nghiệp Mỹ giao dịch với Trung Quốc » Thượng đỉnh Bắc Kinh lần này một lần nữa cho thấy, về kinh tế, thương mại, Mỹ cũng như Trung Quốc đang cần một « lệnh hưu chiến ». Đôi bên cùng muốn tránh để tình hình vượt ngoài tầm kiểm soát và trong khi chờ đợi, hai nhà lãnh đạo Donald Trump, Tập Cận Bình đều muốn tạm thời tìm ra một thỏa hiệp. Bắc Kinh không thể hy sinh thêm tăng trưởng kinh tế, còn Washington thì phải chuẩn bị đối phó với cuộc bầu cử lập pháp giữa kỳ vào tháng 11/2026. Điều đó không cấm cản, Mỹ cũng như Trung Quốc có thể đưa ra nhiều hứa hẹn nhưng rồi những cam kết đó sẽ chẳng được thực hiện là bao.
Kể từ khi bùng phát chiến tranh chống Iran do Mỹ và Israel khởi xướng, Trung Quốc tỏ ra kín tiếng. Bắc Kinh không lên án mạnh mẽ Washington trong cuộc chiến tranh chống Teheran, cũng không hoạt động quá tích cực trên mặt trận ngoại giao. Trung Quốc lặng lẽ quan sát Hoa Kỳ phạm sai lầm, đồng thời củng cố thế tự chủ chiến lược trong nhiều lĩnh vực. Trung Quốc đang có cách nhìn như thế nào về cuộc chiến giữa Mỹ và Iran ? RFI Tiếng Việt có cuộc phỏng vấn với nhà địa chính trị Didier Chaudet, chuyên gia về thế giới Ba Tư, Trung – Nam Á, đặc biệt là Pakistan, Ấn Độ và thế giới Himalaya, nhà nghiên cứu Đài Quan sát Tân Á-Âu. ----- ***** ----- RFI Tiếng Việt : Kể từ khi Hoa Kỳ và Israel phát động cuộc chiến chống lại Iran, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vẫn giữ im lặng. Ông nhận định như thế nào về thái độ này của nhà lãnh đạo Trung Quốc ? Didier Chaudet : Thực ra, đó là một cách tiếp cận cực kỳ khôn ngoan bởi vì người ta có thể tưởng tượng rằng sự im lặng từ phía Trung Quốc là dấu hiệu của sự bối rối, sự bất lực trong việc đảm nhận vai trò lãnh đạo, nhưng đó là quan điểm của phương Tây. Ý tưởng ở đây là cứ để cho Mỹ tiếp tục phạm sai lầm, hết sai lầm này đến sai lầm khác, và cho phép sự tương phản mà Trung Quốc thể hiện trở nên rõ ràng đối với mọi người, đặc biệt là ở các nước đang phát triển : Trung Quốc không tạo ra vấn đề, Trung Quốc không gây ra các cuộc chiến tranh mới, Trung Quốc không làm bất ổn thế giới hiện tại, chính Hoa Kỳ mới là bên làm điều đó, chính Hoa Kỳ đang phá hủy hệ thống quốc tế mà chính họ đã góp phần tạo ra sau Thế Chiến Thứ Hai. Về phía truyền thông Trung Quốc, trên thực tế họ khá trung lập. Phần lớn các phương tiện truyền thông Trung Quốc có sự gia tăng mạnh mẽ các phân tích về Iran ngay sau khi chiến tranh bắt đầu, nhưng trên thực tế, diễn ngôn chủ yếu là trung lập trên các phương tiện truyền thông nhà nước và cả trong giới blogger. Có lẽ trong giới blogger, có một chút thiên về ủng hộ Iran hơn, chỉ trích phương Tây, chủ nghĩa tân đế quốc, và thiên về chủ nghĩa nhân đạo hơn. Có thể có một vài tiếng nói rải rác với lập trường ủng hộ Mỹ hơn, nhưng chúng có rất ít ảnh hưởng hiện nay. Đã có một thỏa thuận ngừng bắn và một vòng đàm phán ngắn giữa Hoa Kỳ và Iran tại Islamabad, Pakistan. Các cuộc đàm phán này, tuy đã thất bại, nhưng có nhiều lời bàn tán về vai trò kín đáo của Trung Quốc trong các cuộc hòa giải của Pakistan. Sau đó, CNN dẫn lời các nguồn tin tình báo Mỹ cho biết Trung Quốc đang chuẩn bị gửi vũ khí cho Iran trong những tuần sắp tới. Và do vậy tổng thống Mỹ Donald Trump đe dọa áp thuế Trung Quốc lên mức 50% nếu nước này gửi thiết bị quân sự cho Iran. Theo ông, Trung Quốc đang tính toán gì trong ván cờ này ? Didier Chaudet : Thực ra, ở đây, chúng ta lại dựa vào một nguồn tin của Mỹ chỉ trích Trung Quốc, nên chẳng có gì mới mẻ cả, điều đó khá kinh điển. Chúng ta nhớ rằng chính những phương tiện truyền thông Mỹ đã từng nói với chúng ta rằng có vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Irak. Vì vậy, đó là lý do tại sao tôi khá thận trọng về loại chuyện này. Tuy nhiên, từ một quan điểm rất thực tế, điều đó sẽ có lý, bởi vì trên thực tế, mà không cần đi quá xa, không cần cung cấp một lượng vũ khí khổng lồ, nếu Iran có thể tự vệ và tự vệ tốt, người Mỹ sẽ buộc phải quay lại bàn đàm phán. Vậy trên thực tế chuyện gì đã diễn ra ở Islamabad ? Pakistan đã làm một khối lượng công việc khổng lồ. Họ không chỉ gián tiếp dựa vào Trung Quốc, mà còn dựa vào một liên minh các quốc gia tầm trung trong thế giới Hồi giáo, bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Xê Út và Ai Cập. Họ đã mời ngoại trưởng các nước này đến Islamabad. Một khi ngoại trưởng bốn nước đã có một thỏa thuận, lãnh đạo ngoại giao Pakistan đã đến Trung Quốc để trình bày chi tiết những gì đã được thảo luận giữa bốn bên. Vì vậy, trên thực tế, đã có sự ủng hộ kín đáo từ Trung Quốc đối với khả năng đối thoại, và cốt lõi khu vực Trung Đông Hồi giáo vẫn còn tương đối độc lập và phần nào có tổ chức đang cùng nhau tìm kiếm hòa bình. Nhưng Hoa Kỳ chỉ cho liên minh này 24 giờ. Từ góc nhìn của Hoa Kỳ, điều này khá nan giải vì nó chứng minh rõ ràng rằng họ vẫn đang hoạt động trong khuôn khổ đơn cực. Họ muốn áp đặt quan điểm của mình. Điều Mỹ muốn từ Iran là biến nước này thành một quốc gia giống như Venezuela, một dạng thuộc địa bán ngoại giao. Điều này không hiệu quả với Iran vì Iran không phải là Venezuela. Iran không bị kiểm soát bởi một người duy nhất, đó là một cấu trúc, và dù quý vị thích hay không, tôi cho rằng cấu trúc đó vẫn được ủng hộ bởi ít nhất từ 20-30 đến 35% dân số Iran, những người chia sẻ với chương trình nghị sự chống đế quốc. Vì vậy, người Iran có khả năng tự vệ, và trên thực tế, toàn bộ chiến lược quân sự của Iran trong khoảng 25 năm qua là nhằm củng cố Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Pasdaran). Khi chúng ta nói rằng quân đội chính quy đã bị đánh bại, chúng ta đã biết điều đó vì quân đội chính quy thực sự không nhận được nhiều tiền từ nhà nước Iran. Nhà nước Iran biết rất rõ rằng họ không thể tự mình chống đỡ trong một cuộc chiến với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, họ muốn đảm bảo rằng tình hình trở nên bất khả kháng đối với Mỹ đến mức họ sẽ thua trong một cuộc chiến tranh xâm lược. Và đó là lý do tại sao Lực lượng Vệ binh Cách mạng có tất cả các nguồn lực quân sự cần thiết. Nhưng ngày nay, một thất bại nhanh chóng và hoàn toàn của Iran sẽ thực sự là một vấn đề cho cả Nga và Trung Quốc. Tôi nghĩ nhiều người ở Trung Quốc rất thận trọng. Trên thực tế, họ không nhất thiết muốn giúp đỡ nhiều. Có một cuộc tranh luận nội bộ về việc liệu vũ khí có được gửi đến Iran hay không; tôi không chắc chắn 100%. Điều đó sẽ không quá sốc, thậm chí còn khá thực tế. Nhưng quý vị cũng thấy Trung Quốc cực kỳ thận trọng trong cách họ xử lý mọi việc. Quả thực, do thái độ của Mỹ, những người muốn có lập trường quyết liệt hơn và chống đế quốc ở Bắc Kinh cuối cùng cũng có thể lên tiếng vì cách tiếp cận cực đoan của Trump khiến một số người Trung Quốc bắt đầu nghĩ rằng, « Nhưng xét cho cùng, đúng vậy, một chút chiến tranh du kích chống phương Tây không hẳn là một ý kiến tồi. » Trong trường hợp Hoa Kỳ không mở lại được eo biển Hormuz nhưng Tậ Cận Bình thuyết phục được Iran làm điều đó, hậu quả nào cho Washington và các nước vùng Vịnh ? Liệu Trung Quốc có giữ thế chi phối trong bất kỳ giải pháp ngoại giao nào không ? Vài nếu Bắc Kinh có thể giữ vai trò bảo lãnh, đổi lại họ sẽ đòi hỏi điều gì ? Didier Chaudet : Trên thực tế, cách tiếp cận của Trung Quốc giống như những gì người ta đã thấy trong các hoạt động ngoại giao khác ở Trung Đông, ví ụu như khi Bắc Kinh đưa Iran và Ả Rập Xê Út xích lại gần nhau hơn, mục tiêu là nhằm đối xử với các bên khác như người lớn, chứ không phải như trẻ con bị ép buộc, bằng cách nói rằng, « nếu quý vị muốn hòa bình, chúng tôi sẽ giúp đỡ, chúng tôi sẽ đóng góp ». Hơn nữa, trong vụ việc này, Trung Quốc có một tác động khá khiêm tốn, vì chính nền ngoại giao Irak đã thúc đẩy sự hòa giải, Trung Quốc chỉ đơn giản ủng hộ. Ở đây, cách tiếp cận cũng tương tự, « Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ ổn định ». Tất nhiên, nếu mọi việc có thể được giải quyết bằng con đường ngoại giao, Trung Quốc chắc chắn sẽ ủng hộ vì họ cần duy trì hiện trạng này. Không chỉ họ, mà tất cả các quốc gia châu Á – Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc – những quốc gia không nhất thiết là bạn thân của Trung Quốc ở châu Á, trên thực tế cũng đang đứng về phía Trung Quốc. Do vậy, nếu tình hình vẫn tiếp tục như hiện nay , nếu eo biển Hormuz không được mở cửa – và thính giả ở Việt Nam và Pháp thực sự cần phải tính đến điều này – trong vài tháng nữa, chúng ta sẽ nghe về nạn đói ở các nước phía nam, và tình trạng thiếu lương thực này cũng sẽ ảnh hưởng đến các nước phương bắc. Thính giả ở Pháp không nên nghĩ rằng điều này không liên quan đến họ, chúng sẽ ảnh hưởng đến Pháp theo hai cách : Gia tăng luồng di cư và gia tăng các vấn đề, ngay cả cho ngành nông nghiệp ở chính nước Pháp. Còn ở Việt Nam, tình hình thậm chí có thể còn bi thảm hơn. Người Trung Quốc chắc chắn đã chuẩn bị tốt hơn kể từ cuộc chiến 12 ngày, họ đã hiểu rằng ngày này sẽ đến, rằng eo biển Hormuz sẽ bị đóng cửa. Rõ ràng trong tình hình ngoại giao hiện nay, nếu Trung Quốc thành công về mặt ngoại giao trong việc đạt được điều mà người Mỹ không thể đạt được bằng vũ lực, thì đối với tất cả các nước thuộc khu vực Nam bán cầu, Trung Quốc sẽ là nhà lãnh đạo không thể tranh cãi của thế giới hậu chiến tranh Iran. Và Trung Quốc sẽ đòi hỏi gì đổi lại ? Hoàn toàn không gì cả. Họ sẽ chứng tỏ mình là những người trưởng thành trong cuộc đàm phán, như chúng ta thường nói trong tiếng Anh, đối diện với Mỹ và châu Âu, bên chỉ biết nghe theo, nói mà không làm gì cả. Ngoại trừ việc ngày nay, nói mà không hành động sẽ phải trả giá rất đắt. Một lần nữa, người dân có nguy cơ chết đói trong vài tháng tới nếu tình hình tiếp diễn như hiện nay. Tuy nhiên, nếu chúng xem xét kỹ một số chi tiết nhất định chẳng hạn như việc phí quá cảnh qua eo biển Hormuz cho Iran phải thanh toán bằng nhân dân tệ, liệu chúng ta có thể nói rằng hậu quả lâu dài của chiến hiện nay sẽ khá tích cực cho Trung Quốc hay không ? Điều đó có nghĩa là một ngày nào đó sẽ không còn hệ thống « petrodollar » (dầu hỏa – đô la) nữa mà sẽ là « petroyuan » (dầu hỏa – nhân dân tệ) ? Didier Chaudet :Chắc chắn rồi. Một lần nữa, tại sao Trung Quốc không lên tiếng nhiều hơn ? Tại sao Trung Quốc không hoạt động nhiều hơn trên mặt trận ngoại giao ? Bởi vì người ta « không bao giờ ngăn chặn một kẻ thù khi họ đang tự bắn vào chân mình ». Đến thời điểm này, Hoa Kỳ đã mất phương hướng vì họ liên tục mắc sai lầm. Một khi mọi việc thực sự sẽ lắng xuống, chúng ta rất có thể sẽ hướng tới một thế giới hậu đô la, một thế giới hậu Mỹ, đặc biệt là ở Trung Đông, bởi vì chúng ta cũng phải tính đến việc tất cả các quốc gia đang dựa vào sự bảo hộ của Mỹ để tự vệ và ổn định đất nước, như Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Qatar, Ả Rập Xê Út, đều đã chọn sai người. Tôi không chắc Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất sẽ hồi phục được, đặc biệt là sau các vụ đánh bom của Iran. Tất nhiên, nước này cũng sẽ oán giận Iran, nhưng sự thật là Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất đã hoàn toàn liên minh với Hoa Kỳ và Israel, và điều đó không mang lại cho họ bất kỳ sự bảo vệ nào. Những người có khả năng chi trả ở Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất nhất hiện nay đang rời khỏi đất nước. Là người hiểu rõ Hồng Kông, tôi vẫn ngạc nhiên trước thực tế rằng Hồng Kông được miêu tả với chúng ta theo một khía cạnh khá bi thảm, trong khi trên thực tế, cuộc sống ở đó rất tốt, và Hồng Kông có lẽ đang mong chờ tất cả số tiền từng chảy vào Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Qatar giờ sẽ chuyển sang Singapore và Hồng Kông. Người ta rất ít khi nói về Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, và có lẽ cả Qatar nữa, nhưng hai nước này có nguy cơ sẽ không còn là những cường quốc kinh tế như trước đây nữa, do các chính sách của Mỹ và Israel, và vì vậy dẫn đến đòn trả đũa của Iran. Trang mạng Capital ngày 09/04/2026, có nói đến khả năng hình thành một trục dầu hỏa Nga – Trung Quốc – Iran, có thể kiểm soát đến 30% lượng dầu hỏa toàn cầu. Nếu giả thuyết này thành hiện thực, liệu đó có sẽ là kết cục tàn khốc cho thế bá quyền của Mỹ như một số nhận định ? Didier Chaudet :Trên thực tế, có một số nhà phân tích liên tục lập luận theo kịch bản khối này đối đầu khối kia. Trong khi đó, ở Bắc Kinh, Matxcơva và Tehran, họ nhận ra rằng họ chỉ là đồng minh tình thế. Không phải là hoàn toàn không thể xảy ra việc khối này nổi lên, nhưng nếu điều đó xảy ra, đó là do sự ép buộc từ Mỹ và bởi sự bất lực của Mỹ và sự bất lực của châu Âu trong việc tồn tại độc lập. Chỉ trong bối cảnh này, chúng ta mới có thể thấy một khối như vậy xuất hiện. Bởi vì, trên thực tế, Nga bảo vệ lợi ích của chính họ. Trung Quốc chưa bao giờ hoàn toàn đứng về phía Nga, họ không muốn Nga sụp đổ, nhưng họ cũng không hoan nghênh cuộc chiến xâm lược Ukraina, trái ngược với những gì một số người ở Paris có thể nói – những người mà trên thực tế không hiểu gì về Iran, Trung Quốc hay Nga, và do đó chỉ đang nói những lời lẽ mang tính ý thức hệ. Hiện tại, đây là những quốc gia bị phe phương Tây nhắm mục tiêu đến mức họ có thể bị cám dỗ thành lập khối để trả đũa, nhưng khối này còn lâu mới chắc chắn hình thành. Đây là những quốc gia có lợi ích không hoàn toàn trùng khớp. Người Trung Quốc ủng hộ việc duy trì hiện trạng và một mức độ hòa bình quốc tế nhất định hơn là Nga, và giờ đây thậm chí còn hơn cả Iran. Bởi vì, trong thế giới hiện nay, Trung Quốc đang chiến thắng bằng hòa bình. Chúng ta luôn lo sợ những gì có thể xảy ra với Đài Loan. Tôi rất sốc khi truyền thông Pháp lại khiến người Pháp lo sợ về những gì sẽ xảy ra ở Đài Loan hơn nhiều quốc gia khác ở châu Á. Thực tế, nếu bạn hiểu biết đôi chút về Đài Loan, thì Đài Loan không phải là Ukraina, và trong một thế giới hoàn toàn bị Trung Quốc thống trị, tôi sẽ không quá ngạc nhiên nếu người Đài Loan đạt được thỏa thuận với Trung Quốc trong khi vẫn duy trì được một mức độ độc lập nhất định, nhưng lại ở thế có lợi. Điều đó sẽ không hoàn toàn gây sốc. Ở một khía cạnh kinh tế khác, nhiều chuyên gia đang bàn luận về nguy cơ « điện hóa – nhân dân tệ », nghĩa là mua đồ điện Trung Quốc và thanh toán bằng nhân dân tệ. Với vị thế thống trị trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, phải chăng Trung Quốc đang thu lợi từ cuộc chiến quy mô lớn đang diễn ra ở Trung Đông ? Didier Chaudet :Đó là những gì đã và đang diễn ra. Nếu nhìn vào số liệu năm nay, 4/5 sản lượng năng lượng mặt trời toàn cầu, xét từ góc độ sản xuất, được thực hiện ở Trung Quốc. Cường quốc châu Á này còn thống trị cả các loại máy móc điện, và nhất là xe điện. Với những gì đang xảy ra hiện nay, người dân, kể cả ở Trung Đông đang chi tiền để mua các tấm pin năng lượng mặt trời ở Trung Quốc. Việc mua các sản phẩm này của Trung Quốc đang bùng nổ, ví dụ như Irak. Quốc gia này có dầu mỏ, nhưng có nhu cầu về khí ga tự nhiên và cần nhiều năng lượng để tinh chế dầu. Nhưng trong lúc này, điều đó là không thể bởi vì toàn bộ chuỗi cung ứng truyền thống đã bị gián đoạn bởi những gì đang xảy ra. Nhưng chiến tranh xảy ra, cũng đang thúc đẩy các nước láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, Thái Lan,… hướng đến năng lượng tái tạo ? Didier Chaudet : Hoàn toàn đúng. Điều đó rất cần thiết bởi vì, một lần nữa, với chính sách của Mỹ mà các nước châu Âu đang cho phép, các nước châu Á hoàn toàn phụ thuộc vào dầu khí từ Trung Đông cần phải rút ngắn sự chậm trễ. Và trên thực tế, Trung Quốc đã làm gương vì nước này không phụ thuộc vào dầu khí Trung Đông nhiều như một số nước châu Á khác. Đặc biệt, các nguồn năng lượng tái tạo này đã hoàn toàn thay đổi cuộc chơi đối với Trung Quốc, cả về vấn đề ô nhiễm và tự chủ quốc gia. Thật vậy, Trung Quốc đã đi tiên phong. Và trên thực tế, trái ngược với những lời lẽ tôi bắt đầu nghe ngay trước chiến tranh, về việc Trung Quốc sẽ áp đặt sự phụ thuộc nhất định vào một số quốc gia vì họ bán các sản phẩm như tấm pin mặt trời, v.v., khi quý vị mua một tấm pin mặt trời, quý vị chỉ mua một lần, quý vị không cần phải thường xuyên mua khí đốt hoặc dầu mỏ. Giữa một bên là khí đốt và dầu mỏ bị Hoa Kỳ kiểm soát, và bên kia, người ta chỉ cần mua một lần và tương đối độc lập, thì thà một lần mua từ phía Trung Quốc và học hỏi hai lần để trở nên độc lập còn hơn là mua dầu mỏ với giá cắt cổ và khí đá phiến khủng khiếp từ Hoa Kỳ. Cuối cùng, từ góc độ quân sự, như ông có đề cập đến Đài Loan, cuộc chiến chống Iran, Hoa Kỳ đang vét các nguồn dự trữ quân sự của mình tại châu Á – Thái Bình Dương. Liệu đây có là một mối họa cho Đài Loan hay không ? Động thái này của Washington có làm sứt mẻ uy tín của Mỹ đối với các đồng minh châu Á ? Didier Chaudet 8 : Tất nhiên, Trung Quốc thấy rõ những khó khăn mà Mỹ đang phải đối mặt, nhưng Bắc Kinh cũng thấy rằng sức mạnh tấn công của Washington vẫn còn to lớn. Vì vậy, khi nghĩ rằng Hoa Kỳ đang bị Iran khống chế, và do đó Trung Quốc có thể xâm lược Đài Loan, thực sự quá đơn giản. Trung Quốc hiểu rõ là quân đội đất nước, tuy đã được cải thiện, nhưng vẫn chưa hoàn hảo. Nếu có bất kỳ vấn đề nào xảy ra với cuộc xâm lược Đài Loan, đó là việc Trung Quốc có nguy cơ phải đối mặt với một liên minh do Mỹ dẫn đầu ở châu Á, điều này sẽ khiến cuộc sống của họ trở nên rất khó khăn. Nhật Bản có thể trang bị vũ khí hạt nhân cực kỳ nhanh chóng, và ngày nay chúng ta đang sống trong một thế giới, ở đó, chiến tranh giữa các đại cường, một khi đã bắt đầu, có thể leo thang rất nhanh và đi xa hơn. Hơn nữa, chính phủ Trung Quốc có một khế ước với người dân : Chúng ta đã phần nào giúp quý vị thoát khỏi cảnh bần hàn, chúng ta sẽ cố gắng thêm nữa để trả thù một thế kỷ bị sỉ nhục, vươn lên thành một đại cường, và thực sự trở lại là trung tâm thế giới. Theo tôi, hiện đang có một cuộc tranh luận thực sự ở Bắc Kinh giữa những người muốn ra đòn mạnh hơn, muốn chủ động hơn, và những người nói rằng, trên thực tế, « chúng ta đã chiến thắng phần nào giống như người La Mã chống lại người Carthage, nghĩa là thay vì tấn công Hannibal, chúng ta để đối thủ tự làm suy yếu mình, để họ gặp khó khăn, và cuối cùng chúng ta sẽ chiến thắng bằng một cuộc chiến tiêu hao, hoặc giống như người Nga chống lại Napoleon ». Tôi hoàn toàn không tin vào việc Trung Quốc có thể tấn công Đài Loan. Đây còn là thông điệp tôi muốn gửi đến quý thính giả Pháp của quý đài, những người dường như hoảng sợ hai hoặc ba lần trong năm, về một cuộc xâm lược Đài Loan của Trung Quốc. Tình hình chưa đến mức đó, và điều đó cũng rất có thể xảy ra, có lẽ là trong cuộc tranh luận hiện đang diễn ra sau cánh cổng khép kín ở Bắc Kinh, mà không một người phương Tây nào có thể tiếp cận. Vì vậy tất cả những người nói về nó như thể họ đã lừa dối người nghe, chúng ta cần phải rất rõ ràng. Rất có thể sẽ có một cuộc xâm lược, nhưng cá nhân tôi không thực sự tin điều đó. Tôi nghiêng về giả thuyết rằng Trung Quốc đang chờ đợi Hoa Kỳ tự làm suy yếu mình bằng cách gây ra quá nhiều sai lầm ở các quốc gia khác nhau trên thế giới, đến nỗi cuối cùng, ngay cả từ góc nhìn từ phía Đài Loan, càng ngày sẽ càng nhận ra rằng việc đứng về bên chiến thắng sẽ có lợi hơn. Có rất đông người Đài Loan làm việc ở Thượng Hải và Bắc Kinh, họ có cuộc sống rất tốt, kết hôn với người địa phương. Tôi không nghĩ những người này sẽ kháng cự như Ukraina, nhất là khi sự kháng cự đối với Ukraina đã bị phóng đại quá mức, nước này đã cầm cự được là nhờ vào vũ khí của phương Tây. Liệu phương Tây ngày nay có đủ khả năng tài chính – vì đây là vấn đề tiền bạc – và năng lực quân sự để hỗ trợ Đài Loan theo cách tương tự, khi biết rằng, một lần nữa, Đài Loan không phải là Ukraina. Tôi thật sự nghi ngờ nghiêm trọng về điều này ! RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà địa chính trị học Didier Chaudet, chuyên gia về thế giới Ba Tư, Nam – Trung Á, đặc biệt là về Ấn Độ, Pakistan và thế giới Himalayen, thuộc Đài Quan sát Tân Á – Âu.
Can thiệp quân sự chớp nhoáng vào Venezuela, đe dọa sáp nhập quần đảo Groenland, gây áp lực mạnh đối với Colombia và Cuba, tổng thống Mỹ Donald Trump đã có một cách chào đón năm mới 2026 khiến thế giới sững sờ. Nhưng những gì ông Trump đang làm đều tuân theo một lô-gic kép : Đầu tiên là chủ nghĩa bành trướng của Mỹ và tiếp đến là thiết lập một trật tự địa chính trị mới trên phạm vi toàn cầu. Thế giới quan này của Mỹ không phải là điều gì mới mẻ. Sử gia Pierre Singaravélou nói đến « sự trở lại và tiếp tục của chủ nghĩa thực dân, một làn sóng chủ nghĩa đế quốc mới của Mỹ » (France 5 ngày 11/01/2026). Nhà địa chính trị học Florian Louis nhắc lại Hoa Kỳ về cơ bản là « một quốc gia thực dân » (Les Echos ngày 18/01/2026). Hoa Kỳ : « Quốc gia thực dân » Nhìn lại lịch sử, xuất phát từ 13 thuộc địa cũ ở bờ đông Bắc Mỹ vào thời điểm Anh Quốc công nhận độc lập vào năm 1783, Hoa Kỳ đã dần « mở rộng bờ cõi về phía Tây » bằng mọi cách cần thiết, chủ yếu theo hai phương pháp chính : Bạo lực chống lại các cộng đồng bản địa, các cường quốc thực dân cũ, Pháp cùng Vương quốc Anh và Tiền bạc cho tất cả những điều còn lại. Nếu nhìn kỹ trên bản đồ, những cuộc chinh phục lãnh thổ đó chỉ mở rộng sang phía Tây và lên phía Bắc, như mua bang Louisiana năm 1803, Florida năm 1819, các bang Tây Nam nước Mỹ thuộc phía bắc Mêhicô lần lượt trong các năm 1848 và 1853, hay đợt mua lãnh thổ quan trọng sau cùng là bang Alaska năm 1867, mà chưa bao giờ mở rộng xuống hẳn phía nam bán cầu. Do vậy, việc đòi mua Groenland là hoàn toàn phù hợp với đường lối này trong lịch sử Hoa Kỳ. Giảng viên Florian Louis, trường Đại học Sư phạm, biên tập viên trang địa chính trị Le Grand Continent, trong mục Plan Carte của Les Echos, giải thích: « Hoa Kỳ tỏ ra rất do dự về việc mở rộng bờ cõi xuống phía nam. Họ tìm cách mở rộng ảnh hưởng, thế thống trị hơn là mở rộng lãnh thổ (…) Ở phía nam, không có điều mà Mỹ gọi là những người WASP (viết tắt của White Anglo-Saxon Protestant), tức người da trắng gốc Anh theo đạo Tin Lành. Đây là khu vực của những người Công Giáo gốc La-tinh, người lai. Và điều đó từ lâu khiến người Mỹ sợ hãi và vẫn tiếp tục khiến nhiều người trong số họ lo sợ, đặc biệt là Donald Trump ». « Tây bán cầu »: Sân sau của Mỹ ! Quả thật, tổng thống Mỹ Donald Trump chỉ nói đến sáp nhập hay xâm chiếm Canada, Groenland, nhưng cho xây tường ở biên giới giữa Mỹ và Mêhicô. Rõ ràng là có những nơi để sáp nhập và có những nơi chỉ để thống trị. Và một trong những giải pháp để duy trì uy lực của Mỹ là một hình thức co cụm, không phải khép mình thành một nước biệt lập, mà là vào toàn bộ lục địa châu Mỹ. Thế nên mới có khái niệm khác quan trọng hơn : « Bán cầu » ! Giáo sư địa lý Vincent Capdepuy, chuyên gia về đồ họa, trả lời Les Echos lưu ý khái niệm « bán cầu » đã có từ xa xưa. Những bản vẽ đồ họa cổ nhất do thầy tu và nhà đồ họa Franciscus Monacus công bố năm 1524 cho thấy hai bản đồ nhỏ được đặt đối diện nhau, hai quả địa cầu, hai bán cầu với hai tiêu đề khác nhau : « Bên trái là một quả địa cầu tượng trưng điều mà người ta có thể gọi là lục địa Âu – Á – Phi, tức bao gồm châu Âu, châu Phi và châu Á. Ở trang bên phải, chúng ta có một địa cầu hình bán cầu khác tượng trưng cho châu Mỹ hoặc ít nhất những gì người ta biết về bán cầu này vào đầu thế kỷ XVI. Một bên ghi "Bán cầu này của thế giới phục tùng vua Bồ Đào Nha" và bên kia ghi "Bán cầu này của thế giới phục tùng vua Tây Ban Nha" ». Như vậy, ngay từ đầu thế kỷ 16, người ta đã có một thế giới quan địa chính trị phân chia địa cầu thành Đông và Tây. Và đây chính là tầm nhìn của Mỹ, tin rằng thế giới được phân chia thành Đông và Tây, chứ không phải giữa Bắc và Nam. Thuật ngữ « bán cầu » từ đó đã xuất hiện trong học thuyết Monroe nổi tiếng, về cơ bản quy định rằng mỗi lục địa nên ở yên trong vị trí của mình. Năm 1904, tổng thống Théodore Roosevelt còn bổ sung một hệ luận cho học thuyết này khi nhiều lần dùng đến thuật ngữ « Tây bán cầu », trở thành một trong những diễn ngôn chiến lược của Mỹ trong suốt nhiều thập niên sau đó, như cho thành lập Văn phòng Phụ trách các Vấn đề Tây bán cầu năm 1999, Cục phụ trách các Vấn đề Tây bán cầu trực thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia năm 2001, và gần đây nhất tái cơ cấu quân đội Mỹ với việc thành lập Bộ Tư lệnh Tây bán cầu tháng 12/2025. Theo phân tích Florian Louis, chính trong lô-gic Tây bán cầu mà người ta có thể tìm thấy nguồn gốc của chủ nghĩa biệt lập Mỹ : « Trên thực tế, người ta có thể tìm thấy nguồn gốc của chúng trong phát biểu chia tay nổi tiếng của George Washington vào cuối nhiệm kỳ tổng thống của ông. Trong bài phát biểu này, nói một cách đơn giản, ông nói với người dân Mỹ rằng "những rắc rối của châu Âu là vấn đề của họ, của người dân châu Âu. Tốt nhất là chúng ta chớ nên can thiệp vào đó, chúng ta ở rất xa châu Âu". Đây chính là nguồn gốc của điều mà người ta có thể gọi là chủ nghĩa biệt lập Hoa Kỳ ». Xét cho cùng, thế giới là một đại dương bao la với hai hòn đảo, một đảo cực lớn, có thể được gọi là Á-Âu, và một hòn đảo nhỏ hơn tức châu Mỹ. Hai vùng biển Đại Tây Dương và Thái Bình Dương giống như những con hào bảo vệ pháo đài châu Mỹ với một loại thành trì ở trung tâm là Hoa Kỳ khỏi phần còn lại của thế giới, tức là Á-Âu. Trong nhãn quan này, tự cô lập với phần còn lại của thế giới và tập trung vào lục địa châu Mỹ vừa là cách để củng cố thế thống trị của Mỹ, vừa để tự bảo vệ mình. Như vậy, trên phương diện địa chính trị toàn cầu, những hành động gần đây của chính quyền Trump là một bước ngoặt thực sự so với những gì Hoa Kỳ đã quen làm đối với châu Âu từ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Theo nhà địa chính trị học Florian Louis, đây là « một kiểu thoái lui của sức mạnh Mỹ, không còn tập trung bảo đảm an ninh thế giới như đã từng làm, ít nhất là từ sau Thế Chiến Thứ Hai, mà là tập trung bảo đảm an ninh cho toàn bộ lục địa châu Mỹ ». Chủ nghĩa đế quốc tài nguyên Nhưng bước thứ hai trong chiến lược gia tăng ảnh hưởng, kiểm soát an ninh tại châu lục mới là điều quan trọng. Hoa Kỳ sẽ phải tăng tốc can thiệp vào toàn bộ châu lục như những gì đã diễn ra vào đầu năm mới 2026 : Từ bắt cóc tổng thống Venezuela Nicolas Maduro, đòi sáp nhập quần đảo Groenland, đến đe dọa Cuba và Colombia… Mục tiêu là nhằm chứng tỏ Hoa Kỳ đang ở trong sân nhà của mình tại châu Mỹ và họ có thể làm bất cứ điều gì mình muốn. Điều này cũng chẳng phải là mới. Trong quá khứ, giai đoạn 1898 – 1994, Mỹ đã hơn 40 lần can thiệp cả trực tiếp lẫn gián tiếp vào Nam Mỹ, dẫn đến việc thay đổi các chính phủ. Tuy nhiên, điểm mới nhất hiện nay là Washington không dung thứ cho một sự can thiệp nào từ các cường quốc khác vào lục địa. Khi nói về việc Trung Quốc kiểm soát kênh đào Panama và biện minh cho việc đòi sáp nhập Groenland, nguyên thủ Mỹ còn có một dụng ý : Ngăn chặn Trung Quốc chiếm giữ các nguồn tài nguyên thiên nhiên ! Nói một cách khác, quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên dường như đang là kim chỉ nam cho xu hướng địa chính trị mới. Hoa Kỳ can thiệp để chiếm đoạt tài nguyên thiên nhiên không phải là điều bí mật, nhưng chưa bao giờ thừa nhận. Trong vụ Venezuela, tổng thống Trump công khai tuyên bố can thiệp để kiểm soát tài nguyên. Hành động này còn nhằm mục đích ngăn chặn các nước khác làm điều tương tự. Chiến lược này đã được ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio giải thích rõ vào ngày 05/01/2026 trên kênh truyền hình NBC, khi một lần nữa viện dẫn đến khái niệm về « Tây bán cầu » : « Hoa Kỳ đâu cần đến dầu mỏ của Venezuela. Thứ này có rất nhiều ở Mỹ. Điều mà Hoa Kỳ sẽ không cho phép là ngành công nghiệp dầu khí của Venezuela lại do các đối thủ của Mỹ kiểm soát. Quý vị có hiểu là tại sao Trung Quốc cần đến dầu hỏa Venezuela ? Vì sao Nga cần đến nguồn nhiên liệu này ? Và cả Iran nữa. Tại sao ? Những nước đó thậm chí không nằm trên lục địa này. Đây là Tây Bán Cầu, là nhà của chúng ta ! » Donald Trump cùng nhiều nhân vật khác cho rằng chỉ kiểm soát hạ tầng cơ sở, bảo đảm tự do thương mại như trước đây là chưa đủ, mà « phải đi trước một bước, chiếm đoạt lãnh thổ, nắm giữ quyền chủ quyền đối với chúng để bảo đảm nguồn cung cấp », theo như phân tích của nhà nghiên cứu Florian Louis với nhật báo Les Echos, trong mục Plan Carte. Nhưng đâu chỉ có ở Tây Bán cầu, Donald Trump không để các đối thủ lớn khác theo đuổi các lợi ích của họ một cách tùy ý. Tại châu Phi, Hoa Kỳ tài trợ các dự án đường sắt tại một số nước để đưa khoáng sản thiết yếu về phía các cảng ở bờ tây của lục địa. Điều này cho thấy Hoa Kỳ thời Donald Trump không hẳn co cụm trong phần lục địa của mình, vì điều đó có tạo cơ hội cho các tác nhân khác, đặc biệt là Nga và Trung Quốc, mở rộng vùng ảnh hưởng của họ. Donald Trump và ba đế chế Câu hỏi đặt ra ở đây là phải chăng thế giới của Trump được chia thành ba đế chế : Mỹ, Nga và Trung Quốc ? Theo quan điểm của Benahouda Abdelaim, cây bút xã luận địa chính trị của Les Echos, Donald Trump chỉ hình dung ra một đế chế và vài đế chế nhỏ hơn. « Ông ấy chỉ hình dung ra đế chế Mỹ ở Tây bán cầu. Trên thực tế, Trump phản đối bất kỳ đế chế nào xâm phạm lãnh địa của mình, đặc biệt là đế chế Trung Quốc. Trump tin rằng bằng cách củng cố "sân sau" của mình, Hoa Kỳ sẽ ngăn chặn các cường quốc khác thách thức sự thống trị của Mỹ ở Tây bán cầu ». Trong suy nghĩ của Trump, có thể có ba đế chế, nhưng trên hết, có một thứ bậc giữa những đế chế này. Thế giới quan này của ông được trình bày rõ trong bản Chiến lược An ninh Quốc gia công bố hồi tháng 12/2025. Nga và Trung Quốc được đề cập rộng rãi như là những đối thủ cạnh tranh, hoàn toàn trái ngược với bản tóm tắt năm 2017 của chính quyền Trump I, chỉ trích hai nước này muốn định hình một trật tự thế giới khác đi ngược hoàn toàn với các giá trị và lợi ích của Hoa Kỳ. Chiến lược An ninh 2025 cho thấy có một sự tương phản rõ rệt. Trong quan hệ với Nga, chính quyền Trump muốn khôi phục ổn định chiến lược khi tập trung vào cách xây dựng lại các liên minh. Cây bút xã luận địa chính trị Benahouda Abdelaim giải thích : « Rõ ràng cả Donald Trump và một số lãnh đạo trong phe "Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại" của ông đều tin rằng nên để Nga tự giải quyết mọi việc với Châu Âu và theo một cách nào đó, bên giỏi nhất sẽ thắng, với ý tưởng ngầm rằng điểm yếu cố hữu của mô hình thảo luận, chia sẻ và cùng suy nghĩ của Châu Âu sẽ bị quyết tâm của Nga đè bẹp. » Đối phó với Trung Quốc, tóm tắt chiến lược 2025 chỉ đề cập đến vấn đề kinh tế. Mục tiêu là khôi phục cân bằng quan hệ thương mại và ngăn chặn Trung Quốc hoạt động trong vùng Tây Bán cầu. Về điểm này, Benahouda Abdelaim có nhận định như sau : « Trên thực tế, Trump chỉ coi Trung Quốc như là một đối thủ mang tính hệ thống, cần phải ngăn chặn nước này mở rộng thế thống trị tại châu Á. Đó là lý do tại sao, đối với ASEAN, Hàn Quốc, Ấn Độ và Úc, Trump sẽ luôn cố gắng làm sao thách thức sự bành trướng của đế chế Trung Quốc mà không dẫn đến việc Trung Quốc thách thức sự thống trị của Mỹ ngay trên sân nhà mình. » Vậy nên, trong suy nghĩ của Trump, có đế chế Mỹ, có đế chế Trung Quốc cần phải đối phó bằng mọi giá, và tiếp đến để Nga tự giải quyết mọi việc với Châu Âu. Chỉ có điều, giữa thế giới quan của ông và thực tế đang diễn ra lại có một khoảng cách khá lớn. Phải chăng thế giới quan đó chỉ tồn tại trong đầu của Trump ? Và nhất là ý tưởng ngăn chặn Trung Quốc bằng mọi giá liệu có khả thi ngay trong chính khu vực Tây Bán cầu, khi mà Trung Quốc đã cắm rễ sâu trong « sân sau » nhà Trump ? Một điều chắc chắn, với cách hành xử như thể ông là hoàng đế trong vùng bán cầu của mình cũng như trong sân sau của Mỹ, thế giới dường như đang bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của các đế chế. Một thế giới mà ở đó các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ chi phối toàn bộ địa chính trị toàn cầu ! (Theo Les Echos)
Tại Pháp tỷ lệ sinh đã có xu hướng giảm từ năm 2011. Tình trạng này càng trở nên đáng quan ngại hơn khi số liệu mới đây cho thấy lần đầu tiên số ca sinh thấp hơn số ca tử. Dân số Pháp vốn đã già hoá, đạt 69,1 triệu người, hiện vẫn tăng và chủ yếu nhờ vào nhập cư và xu hướng này sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm tới. Để hiểu rõ về chủ đề này, RFI Tiếng Việt phỏng vấn nhà nhân khẩu học Gilles Pison, giáo sư danh dự tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia, cố vấn cho ban quản lý Viện Nghiên cứu Dân số Quốc gia (INED), và là tác giả của cuốn l'Atlas de la population mondiale (2023, Autrement). Theo số liệu của Viện thống kê quốc gia Pháp (INSEE), vào năm 2025 tại Pháp, có 645.000 ca sinh, giảm 2,1 % so với năm 2024, và giảm gần 24% trong vòng 15 năm. Điều đáng chú ý là số ca tử vào năm 2025, lên tới 651.000. Đây là lần đầu tiên kể từ sau Đệ Nhị Thế Chiến, số người tử vong nhiều hơn số trẻ được sinh ra ở Pháp. Ông đánh giá thế nào về những con số này ? Gilles Pison : Nguyên nhân chính là các thế hệ đông đảo thời kỳ bùng nổ dân số baby-boom (những người sinh ra từ năm 1946 đến 1974), hiện đang ở độ tuổi từ 50 đến 80. Trong những năm tới, họ sẽ già đi và lần lượt qua đời, do đó số ca tử vong sẽ tiếp tục tăng. Theo một dự báo mà tôi thực hiện cùng đồng nghiệp Laurent Toulemon hồi năm ngoái, số ca tử vong ở Pháp sẽ tăng thêm 200.000 ca vào năm 2050, kể cả trong trường hợp tỷ lệ tử vong tiếp tục giảm và tuổi thọ tiếp tục tăng. Sự thay đổi này đưa Pháp vào nhóm các quốc có số ca tử vong vượt số ca sinh, tại châu Âu và tại các quốc gia thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa dân số Pháp sẽ giảm ngay lập tức, bởi hiện tại, cán cân di cư dương (số người nhập cư nhiều hơn xuất cư) vẫn bù đắp được thặng dư tử vong. Điều này dự kiến sẽ còn tiếp diễn trong nhiều năm tới. Những yếu tố chính nào là dẫn đến tình trạng này? Gilles Pison : Số ca sinh và tỷ lệ sinh ở Pháp đã giảm dần trong nhiều năm, nhưng không phải là sụt giảm đột ngột mà là giảm từ từ. Đây là xu hướng toàn cầu, nhất là ở các nước giàu thuộc OECD. Dù vậy, Pháp vẫn là quốc gia có tỷ lệ sinh cao nhất châu Âu, với mức 1,56 con/phụ nữ, cao hơn mức trung bình châu Âu từ 20-25%. Nguyên nhân chính là ngày nay, phụ nữ trẻ đa phần vẫn muốn có con, nhưng đồng thời cũng muốn học tập, làm việc và có sự nghiệp. Khi khó cân bằng giữa công việc và gia đình, nhiều phụ nữ chọn trì hoãn việc sinh con. Thế hệ phụ nữ trẻ ngày nay không chấp nhận một cuộc sống mà họ phải hy sinh sự nghiệp, lo việc gia đình như các thế hệ trước đây. Do đó, những quốc gia có tỷ lệ sinh ổn định thường là nơi có sự phân chia công việc gia đình hợp lý giữa nam và nữ, giúp phụ nữ vừa làm việc vừa làm mẹ. Còn ở những nước phát triển, thu nhập cao, và bất bình đẳng giới vẫn còn lớn, như Tây Ban Nha, Ý, Hy Lạp hoặc các quốc gia Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, thì tỷ lệ sinh rất thấp, chỉ khoảng 1 con/phụ nữ. Đọc thêmTỷ lệ sinh giảm kỷ lục: Vì sao dân Pháp không muốn sinh con ? Như vậy có nghĩa là theo ông, tại những nước đó, bất bình đẳng giới cao, tỷ lệ sinh thấp, phụ nữ cần phải nỗ lực rất nhiều. Nếu xét trường hợp tại Pháp, bất bình đẳng giới ở Pháp có gì khác so với các nước châu Âu khác thế nào? Gilles Pison : Bất bình đẳng giới tồn tại ở khắp nơi. Phụ nữ cùng trình độ, trách nhiệm vẫn bị trả lương thấp hơn nam giới, khó tiếp cận vị trí lãnh đạo và gánh vác nhiều việc nhà hơn. Tuy nhiên, ở Bắc Âu và Tây Âu, bất bình đẳng này ít hơn so với Nam Âu hoặc Đông Âu. Tỷ lệ sinh cũng cao hơn ở Bắc và Tây Âu. Dù đó chỉ là một phần, nhưng xu hướng chung là như vậy. Ở Đông Á, dù xã hội hiện đại, vai trò truyền thống vẫn nặng nề với phụ nữ, khiến nhiều người trì hoãn cả việc kết hôn, sinh con. Nhiều khảo sát tại các nước OECD, bao gồm Pháp, cho thấy những người rất lo lắng về tương lai, về biến đổi khí hậu hay kinh tế có xu hướng muốn có ít con hơn, nhưng sự khác biệt không lớn. Nói chung, dù mức độ lo lắng có ảnh hưởng chút ít, nhưng không phải yếu tố quyết định. Chính sách gia đình ở Pháp có vai trò gì không? Có cần cải cách để thay đổi xu hướng hiện tại? Gilles Pison : Pháp có chính sách gia đình, tiền thân là chính sách khuyến khích sinh, rất lâu đời, có từ sau Đệ Nhất Thế Chiến. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, trọng tâm chuyển sang hỗ trợ các gia đình nuôi dạy con tốt hơn. Tại Pháp, các chính trị gia đều nhất trí rằng việc có chính sách hỗ trợ gia đình là điều tốt, việc giúp đỡ các gia đình nuôi dạy con cái là điều cần thiết. Chính sách này được duy trì ổn định qua nhiều năm, tạo ra sự tin tưởng rằng nhà nước luôn đứng sau hỗ trợ các gia đình. Điều này có thể góp phần giữ tỷ lệ sinh cao của Pháp, nhưng không thể xác định mức độ chính xác. Các nước OECD đều có chính sách tương tự, chỉ là ít lâu đời hơn. Ông nghĩ như thế nào về các chính sách thưởng tiền cho các cặp đôi sinh con như ở một số nước gần đây ? Liệu có giải pháp nào khác để đảo ngược xu hướng hoặc hạn chế tác động của cú sốc dân số này không? Gilles Pison : Đa số các nước có chính sách trợ cấp gia đình, nghỉ phép cho cha mẹ, hỗ trợ trông trẻ, v.v. Ở châu Âu, các nước Bắc và Tây Âu dành 3-4% GDP cho chính sách gia đình. Tuy nhiên, các biện pháp thưởng tiền một lần để khuyến khích sinh con chỉ có tác động ngắn hạn. Phụ nữ chỉ sinh sớm hơn dự kiến để nhận thưởng, tổng số trẻ được sinh không tăng thực sự. Chính sách gia đình chỉ hiệu quả khi được duy trì lâu dài, ổn định. Hiện nay, liệu nhập cư có được coi là một giải pháp cần thiết để duy trì dân số ở Pháp hay không? Và liệu tỉ lệ sinh cao hơn ở Pháp có phải do nhập cư? Gilles Pison : Hiện Pháp có khoảng 11% dân số là người nhập cư, nghĩa là sinh ra ở nước ngoài và đang sống tại Pháp. Tuy nhiên, các nước Bắc và Tây Âu cũng có tỉ lệ nhập cư tương tự, thậm chí cao hơn. Ở Trung và Đông Âu, tỉ lệ này mới thấp do lịch sử chính trị. Nhập cư có góp phần vào số ca sinh, nhưng tác động khiêm tốn. Năm 2021, phụ nữ nhập cư ở Pháp có mức sinh 2,3 con/phụ nữ, phụ nữ bản địa là 1,7, trung bình chung là 1,84. Như vậy, nhập cư chỉ nâng tỷ lệ sinh lên một chút, không phải là yếu tố quyết định khiến Pháp cao hơn các nước khác. Ý kiến của ông ra sao khi các đảng cực hữu hiện sử dụng số liệu này để phản đối nhập cư? Gilles Pison :Điều này không phải là mới. Cách đây một thế kỷ, giữa hai cuộc thế chiến, Pháp từng tiếp nhận nhiều người nhập cư từ Bỉ, Ý, Ba Lan để bổ sung lao động sau chiến tranh. Khi đó, họ cũng bị phân biệt, bị gọi bằng những biệt danh miệt thị, thậm chí bị cáo buộc gây ra các vấn đề xã hội. Nhưng phần lớn số đó ở lại, con cháu họ ngày nay đã hoàn toàn hội nhập vào xã hội Pháp. Như vậy, lịch sử lặp lại, những lời lẽ chống nhập cư gần như không thay đổi, nhưng rốt cuộc, nhập cư vẫn góp phần xây dựng dân số và kinh tế nước Pháp. Pháp, cũng như Mỹ, là một quốc gia di dân lâu đời, dù đối mặt với những luận điệu trái chiều qua nhiều thế hệ.
Ngày 02/12/2025, tổng thống Nga Vladimir Putin đã tiếp đặc sứ Mỹ Steve Witkoff để thảo luận về bản kế hoạch hòa bình do tổng thống Donald Trump đề xuất, bao gồm 28 điểm được rút xuống còn 19 điểm. Sau năm giờ trao đổi, điện Kremlin cho biết chưa đạt được đồng thuận về những vùng lãnh thổ bị Nga chiếm đóng và sáp nhập. Tuy nhiên, theo đánh giá từ nhiều quan sát, bất chấp các nỗ lực ngoại giao từ nhiều phía, Nga sẽ không vội vã đúc kết thỏa thuận hòa bình vì nhiều lý do. Áp lực ngoại giao, chính trị và quân sự Trong vòng tám ngày, tổng thống Ukraina Volodymyr Zelensky đã hai lần đến Paris gặp gỡ đồng cấp Pháp Emmanuel Macron kể từ khi bản kế hoạch hòa bình 28 điểm do tổng thống Mỹ Donald Trump đề xuất được tiết lộ. Tổng thống Zelensky có thể kỳ vọng điều gì từ phía Pháp ? Sử gia quân sự Benoist Bihan, trong một chương trình truyền hình của báo Pháp Le Figaro, nhận định nguyên thủ Ukraina đến Pháp trước hết là để tìm kiếm một điểm tựa về ngoại giao vào lúc ông đang gặp khó khăn ít nhất trên ba phương diện : « Một mặt, ông ấy chịu áp lực quân sự từ Nga ngày càng mạnh trên chiến tuyến. Mặt khác, còn có sức ép chính trị và ngoại giao từ phía Mỹ buộc ông phải nhanh chóng ký kết một hiệp định hòa bình với những điều khoản mà vì những lý do chính trị nội bộ có lẽ khó thể chấp nhận được đối với người dân Ukraina. Hơn nữa, ông Zelensky, hiện đang bị suy yếu bởi vụ bê bối tham nhũng, dường như đang rơi vào tình huống mà những người theo đường lối cứng rắn, những người mang tư tưởng chủ nghĩa dân tộc cực đoan chắc chắn sẽ từ chối một nền hòa bình được coi theo các điều kiện của Matxcơva ». Người ta « thật khó mà không thấy chút lo lắng, thậm chí hoảng loạn từ phía tổng thống Zelensky », theo quan sát của cựu đại sứ Pháp tại Washington, Gérard Araud, trên kênh truyền hình tư nhân Pháp LCI. Vào thời điểm nhiều « pháo đài » của Ukraina như Povrovsk hay Vovchansk, những thành phố chiến lược, được cho là đã thất thủ, những cam kết viện trợ quân sự cho Ukraina từ châu Âu đang bị suy yếu dần. Châu Âu : Nguồn hỗ trợ tài chính, quân sự hạn hẹp Kho vũ khí đã qua sử dụng được dùng để trang bị cho Ukraina nay đã cạn kiệt, và một phần lớn số thiết bị này đã bị phá hủy trên chiến trường. Giờ đây, điều châu Âu có thể làm cho Ukraina là viện trợ tài chính, mà việc sử dụng khối tài sản Nga bị phong tỏa tại châu Âu, hiện do cơ quan tài chính Euroclear trụ sở tại Bỉ quản lý, đang là vấn đề gây tranh cãi. Tuy nhiên, theo đánh giá của nhà sử học quân sự Benoist Bihan, đây còn là điều « vạn bất đắc dĩ », vì việc sử dụng nguồn tài chính này cũng chẳng thể cải thiện được tình hình quân sự của Ukraina: « Đối với quân đội Ukraina, hàng tỷ đô la này sẽ đòi hỏi mất rất nhiều thời gian trước khi có thể được chuyển đổi thành những gì họ còn thiếu, cụ thể là vũ khí và nhất là thành những gì châu Âu không thể giúp đỡ họ, đó là cuộc khủng hoảng nhân sự. Quân đội Ukraina là một đội quân thiếu hụt cơ cấu nhân lực ». Những ngày cuối tháng 11 đầu tháng 12/2025, những nỗ lực ngoại giao từ Mỹ, Ukraina và châu Âu chưa cho thấy một tia hy vọng nào về hòa bình cho Ukraina. Sau năm giờ hội đàm giữa tổng thống Nga Vladimir Putin và đặc sứ Mỹ Steve Witkoff, điện Kremlin thông báo đôi bên chưa đạt được một thỏa hiệp nào về các vùng lãnh thổ mà Nga chiếm đóng và đòi sáp nhập. Nguy cơ chiến tranh kéo dài có thể là điều khó tránh. Và trong trường hợp này, nhà nghiên cứu về chiến lược quân sự Pháp, Benoist Bihan, trả lời Le Figaro, khẳng định Nga giờ có đủ tiềm lực để tiếp tục thực hiện chiến tranh như năm 2022. Điều này được thể hiện rõ qua khả năng của Nga duy trì liên tục các cuộc tấn công kể từ năm 2023. Kiev : Hạn chế về hỏa lực và sai lầm chiến lược Theo giải thích của Benoist Bihan, thiệt hại về nhân mạng của Nga trong năm 2025 đã giảm một nửa so với 2024, năm được cho là ác liệt nhất, và nhịp độ thiệt quân của Nga nằm trong khoảng từ 800 – 1200 quân mỗi tuần, mà đỉnh điểm có khi lên đến 1.400 quân. Cùng giai đoạn này, phía Ukraina cũng hứng chịu thiệt hại nhân mạng nặng nề. Benoist Bihan thừa nhận không thể biết được con số chính xác, nhưng đó sẽ là con số thống kê « khiếp hãi », có thể cao hơn rất nhiều so với Nga. Một mặt là do Nga đã tăng cường mạnh hỏa lực so với Ukraina khi điều động thêm không quân, các loại đạn pháo, đặc biệt là drone. Bên cạnh đó, với khoảng 140 triệu dân, Nga vẫn dễ dàng huy động thêm quân so với Ukraina chỉ có 28 triệu dân. Nước Nga của ông Putin còn có được một sự hậu thuẫn quân sự hiếm có từ Bắc Triều Tiên về đạn pháo và nhất là nhân lực, điều mà châu Âu đã không thể cung cấp. Mặt khác, đó còn là do sai lầm chiến lược của Ukraina. Khi tiến hành cuộc xâm nhập vào Kursk, vùng lãnh thổ của Nga, quân đội Ukraina hy vọng có thể chuyển hướng quân Nga trên mặt trận Donbass và mở ra một mặt trận thứ cấp, một điểm « cầm chân » quân Nga, để rồi có thể ghi điểm chính trị, nhất là đối với phương Tây, nhằm chứng tỏ rằng Kiev vẫn có khả năng tiến hành các chiến dịch tấn công và gây bất ngờ cho đối thủ. Chỉ có điều chiến dịch này đã để lại một khoảng trống chiến lược mà Nga đã tận dụng thành lợi thế chiến trường. Chuyên gia Benoist Bihan giải thích tiếp : « Nga đã nhanh chóng điều chỉnh, tái triển khai quân dự bị vì họ có sẵn, và điều đó đã trở thành một vấn đề thực sự lần này là cho phía Ukraina. Nói một cách khác, một khi họ đã xâm nhập vào lãnh thổ Nga, về mặt chính trị, việc từ bỏ những gì họ đã đạt được là rất phức tạp, và Nga đã lợi dụng điều này để sử dụng, trong vài tuần, thậm chí vài tháng, lực lượng dự bị chiến lược của quân đội Ukraina, mà họ đang thiếu để đối phó với các cuộc tấn công của Nga ». Chiến lược trì hoãn của tổng thống Nga Nhìn từ tổng quan này, nhà sử học về quân sự ghi nhận Ukraina khó thể tìm lại được thế chủ động, sự năng động như năm 2022, vào đầu cuộc chiến. Nhìn vào các chỉ số, tất cả các xu hướng đều trong « báo động đỏ ». Ukraina thiếu nghiêm trọng những người lính có kinh nghiệm để thực hiện các mục tiêu chiến lược, làm tiêu hao nguồn lực Nga, hoặc có thể ngăn chặn quân Nga, để rồi có thể dựa trên cơ sở này tiến hành các cuộc đàm phán. Đây cũng có lẽ là lý do vì sao Hoa Kỳ của Donald Trump hối thúc Ukraina ký kết hiệp định hòa bình. Khi nguyên thủ Mỹ nói rằng, « mọi thứ đang diễn ra không tốt đẹp ở Ukraina », đơn giản chỉ vì, « về mặt quân sự, thời gian càng trôi qua, vị thế đàm phán của Ukraina và các đồng minh càng yếu đi ». Chuyên gia Benoist Bihan nhận xét « Nga hiểu rất rõ điều đó và đây là lý do vì sao họ cố tình trì hoãn các cuộc đàm phán. Tôi có cảm giác ông Putin không mấy vội vã ký kết thỏa thuận hòa bình bởi vì ông ấy biết hoặc nghĩ rằng càng kéo dài, thì các điều kiện mà ông ấy có thể áp đặt sẽ càng khắt khe hơn ». Chiến tranh Ukraina, hay « chiến dịch quân sự đặc biệt » mà Nga khởi xướng, lúc ban đầu được xem là một thất bại quân sự của Nga do việc đánh giá thấp nghiêm trọng tình trạng chuẩn bị và ý chí chiến đấu của quân đội Nga, cũng như là do thái độ tự mãn về năng lực của một đội quân chưa bao giờ tiến hành một cuộc chiến quy mô lớn như thế kể từ khi Liên Xô sụp đổ, thì nay Nga cũng đã cho thấy khả năng thích ứng với thực tế chiến trường. Giao chiến với Nga, liệu Châu Âu có đủ sức ? Về phía Ukraina, nhà sử học Benoist Bihan cho rằng Kiev cũng đã phạm sai lầm xem thường khả năng hồi phục tiềm lực của Nga sau thành công bất ngờ của cuộc kháng chiến chống Nga năm 2022. Bất chấp nguồn viện trợ quân sự phương Tây, quân đội Ukraina đã phải đối đầu với quân đội Nga, vốn đã có thời gian để phục hồi và lấy lại phần nào sự tự tin. Kể từ năm 2023, Ukraina rơi vào bế tắc chiến lược. Hôm 01/12, vài giờ trước khi diễn ra cuộc gặp với phái đoàn Mỹ tại điện Kremlin, tổng thống Putin không ngần ngại dọa rằng « Nga đã sẵn sàng nếu châu Âu muốn chiến tranh và bắt đầu cuộc xung đột trước ». Nếu ngày mai sẽ xảy ra chiến tranh với Nga, liệu châu Âu có đủ lực để đối phó ? Về điểm này, chuyên gia quân sự khẳng định là « Không ». Ông giải thích : « Quân đội châu Âu không tồn tại; đó là quân đội của từng quốc gia riêng lẻ, của từng quốc gia châu Âu khác nhau. Và đó là nơi bắt đầu của sự bất định, bởi vì chúng ta có những đội quân như quân đội Pháp, tương đối dày dạn kinh nghiệm và được chuẩn bị tốt. Chúng ta có những đội quân như quân đội Đức, vẫn đang trong quá trình tái thiết và do đó sẽ mất vài năm để đạt được hiệu quả chiến đấu. Và rồi chúng ta có quân đội của các quốc gia nhỏ hơn, có ít nguồn lực hơn và ít kinh nghiệm chiến đấu hơn. Vì vậy, sẽ có sự chênh lệch về trình độ chuyên môn giữa các đội quân trong liên minh NATO. Họ có các quy trình chung, nhưng hiện nay rõ ràng họ chưa sẵn sàng để tiến hành chiến tranh, và đặc biệt là không sẵn sàng tiến hành chiến tranh trong điều kiện như ở Ukraina ! »
Quỹ An Sinh Xã Hội - Sécurité Sociale tròn 80 tuổi. Pháp tự hào có hệ thống an sinh xã hội công bằng nhất tại châu Âu và còn rộng hơn thế nữa. Là biểu tượng của công bằng xã hội, là thành tựu tiêu biểu nhất cho đồng thuận giữa các tầng lớp « chủ và thợ » trong giai đoạn tái thiết kinh tế hậu Thế Chiến Thứ Hai, quỹ Sécurité Sociale liên tục là một gánh nặng tài chính, thâm hụt ngân sách kinh niên. Đâu là những thách thức để có thể tồn tại và bảo vệ « ngọn hải đăng » về công bằng xã hội trên thế giới ? « Đến tháng 7/1946 Quỹ An Sinh Xã Hội -Sécurité Sociale và Quỹ Trợ Cấp Gia Đình Caisse d'Allocation Familiale bắt đầu hoạt động. Ngay từ đầu 1946 những người đóng góp lập tức trông thấy hoàn cảnh của họ được cải thiện nhiều » : Bộ trưởng Lao Động Pháp Ambroise Croizart, một người cộng sản dưới chính phủ lâm thời của tướng Charles de Gaulle sau Thế Chiến Thứ Hai đã thông báo như trên vào tháng 10/1945. Cùng lúc Quỹ An Sinh Xã Hội Sécurité Sociale mà người Pháp là « la Sécu » đã bắt đầu « xử lý » hồ sơ đầu tiên, hỗ trợ bệnh nhân « La Sécu » : kết quả từ một sự đồng lòng trong xã hội Trên đài phát thanh France Culture, Eric Chenut, giám đốc điều hành Quỹ Bảo Hiểm Bổ Sung Quốc Gia -Fédération Nationale de la Mutualité Française, nhắc lại điểm khởi đầu : « La Sécu » là một biểu tượng của những tiến bộ trong xã hội Pháp trong thời kỳ tái thiết sau chiến tranh, trong thời kỳ mà giới chủ và thợ và các đảng phái chính trị, bất luận tả hữu cùng đặt quyền lợi chung lên trên hết : « Quỹ an sinh xã hội bắt đầu nảy sinh từ thời Đệ Nhị Thế Chiến, trước khi tàn chiến tranh. Đây là một sự đồng thuận chưa từng thấy giữa các thành phần trong xã hội. Khi đó trong xã hội, trong hàng ngũ kháng chiến, những người đi theo chủ nghĩa cộng sản, những người đi theo đảng xã hội và cả những người đi theo tướng de Gaulle, giữa giới chủ và thợ thuyền … Tất cả đều đồng lòng để hướng tới một mô hình xã hội công bằng hơn, ở đó mọi người cùng tránh được cảnh bần cùng, tránh được những chia rẽ trong xã hội. Tất cả các thành phần trong xã hội khi đó đều hướng tới ý tưởng đầy nhân tính, vì một xã hội hài hòa, nơi mà mỗi công dân có trách nhiệm che chở, bảo vệ những người chung quanh. Sự liên đới đó dẫn đến việc mọi người cùng phải đóng góp. Đóng góp cho một quỹ an sinh xã hội. Nỗ lực chung này được giới chủ, giới làm công chia sẻ. Mục đích là làm thế nào để tránh được những hậu quả tai hại của bệnh tật, tránh được rủi ro tai nạn lao động gây nên, giúp đỡ người nghỉ hưu, hỗ trợ những gia đình đông con ». Quỹ Sécurité Sociale chính thức ra đời từ hai sắc lệnh được ban hành vào các ngày 4 và 19 tháng 10 năm 1945. Vào thời điểm đó, vực dậy đất nước sau mười năm khủng hoảng kinh tế và chiến tranh. Các lực lượng chính trị chủ chốt (khi đó là đảng Cộng Sản, Xã Hội và phe của tướng de Gaulle cánh hữu) cùng hướng đến mục tiêu xây dựng một hệ thống bảo vệ xã hội phổ cập. Đây cũng là một sự tiếp nối trong truyền thống lâu đời hơn. Nhà sử học Léo Rosell đại học Paris Dauphine lưu ý : Từ cuộc Cách Mạng 1789 tại Pháp đã nảy sinh ý tưởng trợ cấp xã hội là một nghĩa vụ thiêng liêng của một quốc gia đối với từng cá nhân. Trong suốt thế kỷ XIX, ý tưởng về một hệ thống bảo vệ xã hội phổ cập dựa trên tinh thần đoàn kết quốc gia đã lớn mạnh dần và thêm vào đó là những hướng đi để bảo vệ tần lớp công nhân trên tinh thần liên đới. Eric Chenut, giám đốc quỹ an sinh xã hội bổ sung của Pháp nêu bật những thành tựu về mặt y tế, xã hội mà Quỹ Sécurité Nationale cùng FNMF đã mang lại : « Nhờ có quỹ an sinh xã hội, cộng thêm với bảo hiểm bổ sung còn được gọi là Mutuelle giúp các phí tổn y tế giảm đi đáng kể. Về mặt ý tế, người Pháp được bảo vệ tốt nhất trong toàn khối châu Âu. Đây là một may mắn rất lớn. Nhờ thế mà tuổi thọ của dân Pháp tăng thêm được 40 %, tỷ lệ tử vong nơi trẻ em giảm đi 15 lần so với 80 năm về trước ». Sử gia chuyên nghiên cứu về xã hội Pháp Léo Rosell lưu ý : từ ngày hoạt động đến nay, câu hỏi chính luôn là các nguồn chi và thu của quỹ này. Năm 1946 ngân sách của « La Sécu » đã là đề tài dẫn tới những cuộc tranh cãi « nảy lửa » ở Quốc Hội. Năm 1967 tổng thống Georges Pompidou là người đầu tiên nói đến « Le Trou de la Sécu » thâm hụt sâu như một cái hố của Quỹ An Sinh Xã Hội. Năm 2024 quỹ này thu vào 628 tỷ euro (từ các khoản đóng góp xã hội của giới chủ, của những người làm công ăn lương, từ những người còn trong tuổi lao động và cả từ những người đã về hưu, cũng như từ nhiều loại thuế khác), nhưng lại chi ra 643 tỷ euro bảo đảm trợ cấp y tế cho 68 triệu dân Pháp. Thâm hụt ngân sách của quỹ này năm ngoái là hơn 15 tỷ euro, tăng lên gấp rưỡi so với hồi năm 2000. Mỗi lần kinh tế bị khủng hoảng hay có biến cố bất thường như hồi đại dịch Covid 2019 lập tức thâm hụt của quyx Sécurité Sociale lại bị đẩy lên cao. Năm 2020 khi mà toàn bộ nước Pháp bị « đóng cửa » để chống dịch, kinh tế bị đóng băng vì virút Corona SARS Cov2 ; không biết bao nhiêu người vào bệnh viện, bắt hàng ngàn người phải nghỉ việc và làm xét nghiệm miễn phí … thì thâm hụt ngân sách của Quỹ An Sinh Xã Hội năm 2020 đụng trần 40 tỷ euro ! Eric Chenut trên đài Pháp thanh France Culture giải thích vấn đề dân số của Pháp khiến hiện tượng « thâm hụt kinh niên » của quỹ này là một tiến trình « không thể đảo ngược » : « Ban đầu, toàn bộ quỹ an sinh xã hội đều dựa vào các khoản đóng góp của giới chủ và người làm công ăn lương. Thế nhưng rồi tình hình dân số ở Pháp đã thay đổi rất nhiều từ sau Đệ Nhị Thế Chiếu đến nay. Ở vào thập niên 1940-1950 thì 5 người đang làm việc đóng góp để cho lương hưu của 1 người, tỷ lệ này hiện tại là 1,6 và trong tương lai, đến cuối thập niên này sẽ là 1,2. Nói cách khác các khoản đóng góp của mỗi người còn đang đi làm cho quỹ hưu trí càng lúc càng nặng. Thêm vào đó, số người về hưu tại Pháp cũng đã tăng lên nhiều so với những thập niên trước đây. Thành thử không thể chỉ trông chờ vào đóng góp của giới chủ và người còn trong tuổi lao động. Từ những năm 1980 các chính phu liên tiếp tìm kiếm các nguồn tài trợ bổ sung để quỹ an sinh xã hội có thể tồn tại trong một môi trường mà cạnh tranh với các quốc gia khác trên thế giới càng lúc càng mạnh. Cụ thể là chính phủ huy động thuế CSG và một phần thuế trị giá gia tăng TVA cho quỹ an sinh xã hội. Hiện nay 1 phần 3 thu nhập của quỹ này do giới chủ và giới làm công ăn lương đóng góp, hơn 40 % các khoản chi tiêu của quỹ an sinh xã hội do thuế CSG và TVA đóng vào, cộng thêm với một số thuế đặc biệt đánh vào rượu hay thuốc là chẳng hạn (...) Aicũng biết nhu cầu của quỹ an sinh xã hội càng lúc càng lớn, do dân số đang già đi. Nhu cầu về ý tế càng lúc càng nặng. Thí dụ như một người ngoài 75 tuổi, sức khỏe suy yếu, nhu cầu về y tế cao gấp 3 lần so với 1 người còn trong độ tuổi 30. Cùng lúc, thì từ nay đến năm 2050, số người già trên 75 tuổi ở Pháp sẽ cao hơn gấp 3 lần so với hiện tại. Trong những điều kiện đó, ngân sách của quỹ an sinh xã hội không thể nào được cân bằng ». Dân số của Pháp đang trên đà lão hóa có nghĩa là số người trong tuổi lao động đóng góp cho quỹ càng lúc càng ít. Trái lại nhu cầu về y tế của xã hội thì lại không ngừng gia tăng. Người cao tuổi được chăm sóc tốt hơn, tăng thêm tuổi thọ. Theo các dự báo đến ngưỡng 2050 nước Pháp sẽ phải dành hẳn từ 3 đến 5 % GDP chỉ để tài trợ cho các khoản chi phí và bảo hiểm về y tế. Theo thẩm định của Liên đoàn quốc gia về an sinh xã hội FNMF, với hệ thống an sinh xã hội của Pháp hiện nay, để được xã hội gánh vác bớt một phần phí tổn y tế khi cần mua thuốc, đi khám bệnh hay nhập viện, để vẫn nhận được một phần lương cho dù có phải nghỉ ốm, để được hưởng trợ cấp gia đình tùy theo thu nhập và số đông con cái… mỗi ngày trung bình, một người Pháp phải chịu đóng vào quỹ chung cho xã hội 11 euro. Eric Chenut điều hành quỹ này đánh giá : đây là cái giá không quá đắt, mà lại cho phép tất cả cùng được giúp đỡ. Ông đánh giá cao sự liên đới này trong xã hội ở Pháp. Trong bối cảnh ngân sách Quỹ An Sinh Xã Hội bị thâm hụt một cách thường trực, giải pháp hiển nhiên nhất là « giảm chi » mà « tăng thu ». Một số tiếng nói cho rằng, ngừng trợ cấp cho những người có thu nhập cao -nhưng họ vẫn phải đóng góp cho xã hội, để chỉ tập trung vào những đối tượng cần được giúp đỡ, có thể là một giải quyết gánh nặng này. Nhưng Michael Zemmour, giáo sư kinh tế Đại học Paris Dauphine cho rằng đề xuất sau cùng này động chạm đến bản chất của mô hình xã hội Pháp, vốn dựa trên nguyên tắc « phổ quát » : « Các nghiên cứu cho thấy quỹ an sinh xã hội là một công cụ tuyệt vời tạo nên bình đẳng trong xã hội, để phân phối lại lợi tức cho người dân … Nguyên tắc cơ bản là đóng góp của mỗi người tùy thuộc vào khả năng, tùy thuộc vào mức thu nhập, vào thuế trị giá gia tăng hay thuế xã hội CSG. Đổi lại thì chúng ta được giúp đỡ về tài chính khi đau ốm. Sự giúp đỡ đó tùy thuộc vào nhu cầu về y tế, vào tình trạng sức khỏe của mỗi người. Nguyên tắc này dễ chấp nhận được bởi vì khi đóng góp cho quỹ an sinh xã hội, là đóng góp cho bản thân. Nhưng nếu may mắn, không phải sử dụng đến số tiền đó, thì những đóng góp này được dùng để tài trợ các phí tổn y tế cho những người không có điều kiện ». Một cơ đồ cho xã hội Thực tế không thể chối cãi là dân số Pháp đang già đi, nguồn lực lao động giảm sụt. hệ quả kèm theo là khả năng tạo ra thêm của cải cho đất nước bị tác động trong lúc nhu cầu về y tế không ngừng gia tăng. Đối với quỹ y tế không thể tránh khỏi tình trạng bội chi. Nhìn đến quỹ hưu bổng, áp lực với những người trong tuổi lao động ngày càng nặng. Cùng lúc, xã hội Pháp hiện tại không còn « đồng lòng » như 80 năm về trước. Eric Chenut điều hành quỹ xã hội FNMF đã nhấn mạnh rằng, sở dĩ mà người Pháp gắn bó với quỹ Sécurité Sociale trước hết đây là một di sản chung của xã hội Pháp. Đây không là di sản của cánh tả hay cánh hữu, của một tầng lớp trong xã hội mà Quỹ này được hình thành khi mà tất cả cùng theo đuổi mục đích : tạo điều kiện giảm thiểu những rủi ro về y tế, đề phòng tai nạn, hay bệnh tật cướp đi cơ hội của những con người sinh sống trên cùng một đất nước. Ý tưởng về một cơ đồ chung cho nước Pháp của những năm sau Thế Chiến Thứ Hai đó nay không còn nữa. Các đảng phái chính trị Pháp, và những hố sâu trong xã hội Pháp ngày nay làm phai mờ lợi ích chung của đất nước. Để tiếp tục tồn tại với hy vọng được mừng thọ 100 tuổi, Quỹ An Sinh Xã Hội Pháp đương nhiên phải thích nghi với môi trường cạnh tranh quốc tế càng lúc càng khốc liệt hơn. Từng là một ngọn hải đăng của thế giới về những tiến bộ xã hội, quỹ Sécurité Sociale của Pháp cũng vẫn bị những rào cản về tài chính trói buộc.
Đạo diễn Hàm Trần, đạo diễn hành động Trương Thế Chi, diễn viên Ray Nguyễn, Lợi Trần và Bảo Định chia sẻ về hậu trường của những phân cảnh hành động hấp dẫn trong phim Tử chiến trên không.
Trong số 20.000 người Việt Nam được đưa đến Pháp làm việc trong giai đoạn 1940-1944, khoảng 4.000 được đưa đến làm việc tại nhà máy thuốc súng ở Bergerac, sau đó bị đưa đi làm thuê trong các trang trại quanh vùng sau khi chính phủ Vichy hợp tác với Đức. Họ sống như bị giam lỏng trong trại, thiếu ăn, bệnh tật do điều kiện sống khổ cực, bị phân biệt đối xử. Họ bị kẹt ở "Mẫu quốc" vì cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra ở Việt Nam. Cuộc sống của họ được ghi lại trong khoảng 1.000 bức ảnh của Robert Bondier, ông chủ một tiệm ảnh ở Bergerac trong thập niên 1930-1970. Lần đầu tiên, những bức ảnh này được giới thiệu trong triển lãm "Từ Mêkông đến sông Vézère, những người bị lãng quên trong lịch sử : Lính thợ Đông Dương ở Dordogne 1940-1948" (Du Mékong à la Vézère, les oubliés de l'Histoire : Travailleurs indochinois en Dordogne 1940-1948). Đây là một trong bốn công trình được sử gia Pierre Daum, nhà báo của nguyệt san Le Monde Diplomatique, và ông Michel Lecat, hiện sở hữu bộ sưu tập ảnh của ông nội Robert Bondier, thực hiện để những người lính thợ Đông Dương không còn bị quên lãng trong lịch sử. Công trình thứ hai là gắn bia ghi công 62 người lính thợ Đông Dương qua đời ở Bergerac, được tổ chức ngày 10/10/2025. Sử gia Pierre Daum đã dành cho RFI Tiếng Việt một buổi phỏng vấn về chủ đề này. RFI : Khoảng 4.000 người Việt Nam đã được đưa đến Bergerac ở Périgord từ năm 1940 đến năm 1944. Vậy trong bối cảnh nào và tại sao họ lại đến Pháp, đặc biệt là ở Périgord và Bergerac? Sử gia Pierre Daum : Năm 1939, khi Pháp tham chiến tranh, chính quyền thực dân Pháp đã tuyển mộ, tự nguyện hoặc cưỡng bức, 20.000 nông dân Việt Nam từ tất cả các làng mạc ở nước Việt Nam thuộc địa. Những người này được đưa lên thuyền, đến Marseille, và ở đó họ được phân bổ khắp nước Pháp đến các nhà máy vũ khí, đặc biệt là các nhà máy thuốc súng. Ở Bergerac, từ một thế kỷ qua đã có một nhà máy thuốc súng rất lớn, và đó là lý do tại sao 4.000 người trong số họ được đưa đến nhà máy thuốc súng Bergerac. Đọc thêm"Lính thợ Đông Dương" : Những người lính thầm lặng tại Pháp trong Thế Chiến II RFI : Vậy họ làm những công việc gì ở Bergerac? Pierre Daum : Khi họ đến, vì là nông dân nên công việc giao cho họ ở nhà máy thuốc súng cũng khá đơn giản, chỉ là nạp thuốc súng vào vỏ đạn. Công việc này tuy đơn giản nhưng lại rất nguy hiểm và gây tổn thương cho da rất nhiều vì thuốc súng rất khó chịu. Vào tháng 06/1940, quân đội Pháp thua quân đội Đức, nên tất cả các nhà máy sản xuất thuốc súng ở Pháp đều đóng cửa. Sau đó, những người này bị giữ lại nhiều năm trong một trại ở Bergerac, và Nhà nước Pháp cho họ đi làm thuê ở các trang trại hoặc doanh nghiệp nhỏ, kể cả những doanh nghiệp chặt gỗ và biến thành than củi, những nhà thu hoạch hạt dẻ, và trong các vườn nho vì Dordogne cũng là vùng sản xuất rượu vang. Và đúng là họ đã tìm được công việc phù hợp hơn với xuất thân nhà nông của họ, chủ yếu là trồng lúa. Ở Dordogne không có ruộng lúa nhưng nhiều đồng hương của họ trồng lúa nước ở vùng Camargue, còn ở Dordogne, công việc tập trung vào cây nho, hạt dẻ và gỗ nhiều hơn. RFI : Ông từng nhấn mạnh là lính thợ Đông Dương bị đối xử bất công, bị ngược đãi ở Bergerac. Tại sao lại có sự phân biệt đối xử đó và tại sao họ phải sống trong những điều kiện như vậy? Pierre Daum : Người lao động Đông Dương ở Bergerac, cũng giống như mọi nơi khác ở Pháp, đều trong tình trạng bị áp bức thuộc địa ngay trên đất Pháp. Đó là tình trạng áp bức thuộc địa, phân biệt chủng tộc thuộc địa tương tự như những gì họ đã trải qua ở Việt Nam. Ngoại trừ ở đây, họ được đưa đến Pháp, và ví dụ tại Bergerac, họ bị nhốt trong trại. Họ có thể ra ngoài vài giờ mỗi ngày và phải nằm dưới quyền điều hành của một đội quản lý Pháp, thường bao gồm các sĩ quan và hạ sĩ quan từ quân đội thuộc địa ở Đông Dương, những người tin rằng họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn, giống như lính Pháp tin rằng họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn ở Việt Nam. Vì vậy, ngay khi một người Việt Nam chỉ trích chỉ huy của họ hoặc phàn nàn về việc không được ăn uống đầy đủ, họ sẽ bị đánh bằng gậy. Thậm chí bên trong trại Bergerac còn có một hầm ngục, và ít nhất một nửa số người Việt Nam ở Bergerac đã bị nhốt trong hầm ngục này hàng tuần liền. Ngoài ra phải kể đến một điều rất quan trọng, đội quản lý Pháp, trong suốt những năm đó, đã không ngần ngại ăn cắp lương thực dành cho những người Việt Nam này. Vì vậy, những người Việt Nam này bị đói thực sự. Còn các dãy nhà thì không hề được sưởi ấm, nên rất, rất lạnh. Kết quả là vì đói, lạnh, bắt nạt, áp bức, số người chết bên trong trại Bergerac cao gấp bốn lần so với người dân Pháp ở thị trấn Bergerac. Đọc thêmPháp : Bảo tồn ký ức lính thợ Đông Dương trong Thế Chiến II RFI : Thứ Sáu ngày 10/10/2025, thành phố Bergerac khánh thành một tấm bia tưởng niệm 62 lính thợ Đông Dương. Tại sao lại là 62 người? Phải chăng họ bị lãng quên trong lịch sử của vùng và lịch sử nước Pháp? Pierre Daum : Như tôi đã nói, tỷ lệ tử vong trong trại Bergerac cao gấp bốn lần so với bên ngoài. Vì vậy, những người đàn ông bị bệnh, và tình trạng quá tải đã khiến bệnh tật lây lan trong cộng đồng lính thợ Đông Dương, đặc biệt là bệnh lao. Hầu hết những người bị bệnh được đưa đến các bệnh viện lớn ở Bordeaux và Marseille, và trên thực tế, nhiều người đã chết ở Bordeaux và Marseille. 62 người trong số họ đã chết ở Bergerac. Ban đầu, họ được chôn cất tại một nghĩa trang, tên là nghĩa trang Pont Saint-Jean. Mộ của họ rất đẹp, tôi đã tìm được nhiều tấm ảnh chụp những ngôi mộ đó ở nghĩa trang này. Năm 1972, chính quyền thành phố Bergerac cần phải lấy lại không gian trong nghĩa trang đó nên các nhân viên thành phố đã đào tất cả các ngôi mộ lên. Họ đặt hài cốt của 62 người đàn ông này gọn gàng trong những chiếc hộp gỗ nhỏ, có đánh số và lập danh sách với số hiệu và tên của 62 người. Sau đó, 62 chiếc hộp được chuyển đến một nghĩa trang khác ở Bergerac, nơi có một lăng mộ Đông Dương tưởng niệm những người đã chết trong Thế Chiến I. Và 62 chiếc hộp đó được đặt dưới lăng mộ này. Tiếc là mọi người đã quên chúng, không ai nghĩ đến việc viết tên 62 người đã khuất lên trên lăng mộ đó để chúng ta nhớ rằng có 62 người yên nghỉ bên dưới. Khi tôi bắt đầu nghiên cứu cách đây 3 năm, tôi phát hiện ra câu chuyện này. Tôi đến gặp chính quyền thành phố Bergerac, nói với họ : “Từ 70 năm qua, có 62 người Việt Nam được chôn cất ở thành phố, nhưng không ai biết, không có tấm bia nào, không có gì cả. Họ đã bị lãng quên”. Chính quyền thành phố Bergerac đã nói với tôi là nếu tôi cung cấp danh sách chính xác tên của 62 người, họ sẽ mời một nhà chuyên nghiệp khắc tên 62 người quá cố lên một tấm bia đá cẩm thạch và sẽ đặt bia ở một vị trí nổi bật. Cho nên, thứ Sáu ngày 10/10, chúng tôi sẽ khánh thành tấm bia cẩm thạch để tưởng nhớ 62 người lính thợ Đông Dương ở Bergerac. RFI : Khi chiến tranh kết thúc, những người lao động Đông Dương khác có được hồi hương về Việt Nam không? Chuyện gì đến với họ? Pierre Daum : Khi Thế Chiến kết thúc, vào năm 1945, tất cả những người bị kẹt lại ở Pháp, bị giam cầm ở Pháp và ở Bergerac trong 5 năm, chỉ có một mong muốn duy nhất : được trở về nhà. Và họ chờ chính phủ Pháp tổ chức các chuyến hồi hương. Nhưng chính vào thời điểm đó, nhân dân Việt Nam đã nổi dậy chống lại chủ nghĩa thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Phản ứng của chính phủ Pháp, như chúng ta đã biết, là không chấp nhận nền độc lập của Việt Nam, như Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã yêu cầu. Tất cả tàu thuyền từng được lên kế hoạch để đưa những người lao động Đông Dương hồi hương cuối cùng lại bị quân đội Pháp trưng dụng để đưa quân lính đến đàn áp khát vọng độc lập của nhân dân Việt Nam. Vì vậy, những người lao động Đông Dương sẽ phải chờ thêm bốn năm nữa, tức là đến năm 1948, để cuối cùng, chính phủ Pháp bắt đầu tổ chức tàu thuyền đưa họ về Việt Nam. Quá trình hồi hương mất một thời gian dài, bắt đầu vào cuối năm 1948 và kết thúc vào năm 1952. Và trong số 20.000 người ban đầu được điều động đến Pháp vào năm 1939-1940, khoảng 16.000 người trở về, 1.000 người trong số họ đã chết, như tôi đã đề cập và từ 2.000 đến 3.000 người quyết định ở lại Pháp. Lý do chính là vì họ đã gặp một phụ nữ Pháp và bạn gái của họ mang thai. Phần lớn lúc đó là họ chưa kết hôn. Ở Pháp trong thập niên 1940, khi bạn gái mang thai, đó thực sự là một bi kịch. Vì vậy, hầu hết những người đàn ông đó đã đưa ra lựa chọn đau đớn là không trở về Việt Nam để ở lại Pháp làm trọng trách làm cha. Có khoảng 2.000 đến 3.000 gia đình Pháp-Việt được hình thành ở Pháp. Tôi biết rất nhiều, rất nhiều trong số họ. Và trong hầu hết các gia đình, con đầu lòng được sinh ra trước khi kết hôn. Sau khi đứa bé chào đời, cha mẹ đã làm giấy tờ hợp lệ và họ kết hôn, có thêm rất nhiều con. Đó là thường là những gia đình khá đông con. Đọc thêmNhững người Việt giúp cải tiến gạo Pháp ở Camargue trong Thế Chiến II RFI : Ông và ông Michel Lecat đang thực hiện một dự án lớn về ký ức của những người lính thợ Đông Dương ở Dordogne. Xin ông cho biết thêm đôi chút về dự án này! Pierre Daum : Michel Lecat là người Pháp đến từ Bergerac, ông đã nghỉ hưu. Ông nội của ông ấy là Robert Bondier, một nhiếp ảnh gia ở Bergerac. Ông Bondier có một cửa hàng ảnh trong 50 năm. Sau khi ông nội của ông qua đời, Michel Lecat đã phát hiện ra 150.000 bức ảnh hoặc phim âm bản trên gác xép của cửa hàng, ghi lại toàn bộ cuộc sống ở Bergerac từ năm 1930 đến năm 1970. Và trong số 150.000 bức ảnh đó, có 1.000 bức ảnh có người Việt Nam và đó là những người lính thợ Đông Dương, hầu hết bị ép đến đến Bergerac vào năm 1940. Họ chỉ có vài giờ tự do mỗi tuần, và nhiều người trong số họ đã đến gặp ông của Michel Lecat để chụp ảnh với ý định sau đó sẽ gửi bức ảnh này về Việt Nam để trấn an gia đình, bởi vì dĩ nhiên là gia đình họ rất lo lắng cho người con đang ở nơi rất xa, ở một châu Âu đang có chiến tranh và họ không có tin tức gì. Bức ảnh là một cách để nói với cha mẹ anh ấy rằng “Đừng lo lắng, nhìn này, con khỏe mạnh, con ăn mặc bảnh bao”… Thêm nữa, ông của Lecat cũng đã đến chụp ảnh trong trại người lao động Đông Dương. Đó là một bộ sưu tập ảnh cực kỳ thú vị và cực kỳ hiếm về chủ đề lính thợ Đông Dương. Ba năm trước, Michel Lecat đã liên lạc với tôi để đề nghị chúng tôi cùng làm việc và tôi đã đến Bergerac gặp ông ấy. Và với chất lượng đặc biệt của bộ sưu tập ảnh này, chúng tôi quyết định khởi động một dự án, được chia thành nhiều phần: có một triển lãm ảnh đang được tổ chức ở Dordogne và thậm chí có thể sẽ được triển lãm trên khắp nước Pháp ; xuất bản một cuốn sách mà tôi đang hoàn thiện, sẽ ra mắt vào tháng 01/2026; khánh thành một đài tưởng niệm rất lớn dành cho những lính thợ Đông Dương, dự kiến vào vào mùa xuân 2026; và gắn bia tưởng nhớ tại nghĩa trang Bergerac, nơi chôn cất 62 người lính thợ Đông Dương vô danh trong hơn nửa thế kỷ tại nghĩa trang này. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn sử gia Pierre Daum, chuyên gia về quá khứ thuộc địa và là nhà báo của nguyệt sang Le Monde Diplomatique. Đọc thêmNhững người lính Việt Nam “Hy sinh vì nước Pháp” trong Thế Chiến I
Trong số 20.000 người Việt Nam được đưa đến Pháp làm việc trong giai đoạn 1940-1944, khoảng 4.000 được đưa đến làm việc tại nhà máy thuốc súng ở Bergerac, sau đó bị đưa đi làm thuê trong các trang trại quanh vùng sau khi chính phủ Vichy hợp tác với Đức. Họ sống như bị giam lỏng trong trại, thiếu ăn, bệnh tật do điều kiện sống khổ cực, bị phân biệt đối xử. Họ bị kẹt ở "Mẫu quốc" vì cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra ở Việt Nam. Cuộc sống của họ được ghi lại trong khoảng 1.000 bức ảnh của Robert Bondier, ông chủ một tiệm ảnh ở Bergerac trong thập niên 1930-1970. Lần đầu tiên, những bức ảnh này được giới thiệu trong triển lãm "Từ Mêkông đến sông Vézère, những người bị lãng quên trong lịch sử : Lính thợ Đông Dương ở Dordogne 1940-1948" (Du Mékong à la Vézère, les oubliés de l'Histoire : Travailleurs indochinois en Dordogne 1940-1948). Đây là một trong bốn công trình được sử gia Pierre Daum, nhà báo của nguyệt san Le Monde Diplomatique, và ông Michel Lecat, hiện sở hữu bộ sưu tập ảnh của ông nội Robert Bondier, thực hiện để những người lính thợ Đông Dương không còn bị quên lãng trong lịch sử. Công trình thứ hai là gắn bia ghi công 62 người lính thợ Đông Dương qua đời ở Bergerac, được tổ chức ngày 10/10/2025. Sử gia Pierre Daum đã dành cho RFI Tiếng Việt một buổi phỏng vấn về chủ đề này. RFI : Khoảng 4.000 người Việt Nam đã được đưa đến Bergerac ở Périgord từ năm 1940 đến năm 1944. Vậy trong bối cảnh nào và tại sao họ lại đến Pháp, đặc biệt là ở Périgord và Bergerac? Sử gia Pierre Daum : Năm 1939, khi Pháp tham chiến tranh, chính quyền thực dân Pháp đã tuyển mộ, tự nguyện hoặc cưỡng bức, 20.000 nông dân Việt Nam từ tất cả các làng mạc ở nước Việt Nam thuộc địa. Những người này được đưa lên thuyền, đến Marseille, và ở đó họ được phân bổ khắp nước Pháp đến các nhà máy vũ khí, đặc biệt là các nhà máy thuốc súng. Ở Bergerac, từ một thế kỷ qua đã có một nhà máy thuốc súng rất lớn, và đó là lý do tại sao 4.000 người trong số họ được đưa đến nhà máy thuốc súng Bergerac. Đọc thêm"Lính thợ Đông Dương" : Những người lính thầm lặng tại Pháp trong Thế Chiến II RFI : Vậy họ làm những công việc gì ở Bergerac? Pierre Daum : Khi họ đến, vì là nông dân nên công việc giao cho họ ở nhà máy thuốc súng cũng khá đơn giản, chỉ là nạp thuốc súng vào vỏ đạn. Công việc này tuy đơn giản nhưng lại rất nguy hiểm và gây tổn thương cho da rất nhiều vì thuốc súng rất khó chịu. Vào tháng 06/1940, quân đội Pháp thua quân đội Đức, nên tất cả các nhà máy sản xuất thuốc súng ở Pháp đều đóng cửa. Sau đó, những người này bị giữ lại nhiều năm trong một trại ở Bergerac, và Nhà nước Pháp cho họ đi làm thuê ở các trang trại hoặc doanh nghiệp nhỏ, kể cả những doanh nghiệp chặt gỗ và biến thành than củi, những nhà thu hoạch hạt dẻ, và trong các vườn nho vì Dordogne cũng là vùng sản xuất rượu vang. Và đúng là họ đã tìm được công việc phù hợp hơn với xuất thân nhà nông của họ, chủ yếu là trồng lúa. Ở Dordogne không có ruộng lúa nhưng nhiều đồng hương của họ trồng lúa nước ở vùng Camargue, còn ở Dordogne, công việc tập trung vào cây nho, hạt dẻ và gỗ nhiều hơn. RFI : Ông từng nhấn mạnh là lính thợ Đông Dương bị đối xử bất công, bị ngược đãi ở Bergerac. Tại sao lại có sự phân biệt đối xử đó và tại sao họ phải sống trong những điều kiện như vậy? Pierre Daum : Người lao động Đông Dương ở Bergerac, cũng giống như mọi nơi khác ở Pháp, đều trong tình trạng bị áp bức thuộc địa ngay trên đất Pháp. Đó là tình trạng áp bức thuộc địa, phân biệt chủng tộc thuộc địa tương tự như những gì họ đã trải qua ở Việt Nam. Ngoại trừ ở đây, họ được đưa đến Pháp, và ví dụ tại Bergerac, họ bị nhốt trong trại. Họ có thể ra ngoài vài giờ mỗi ngày và phải nằm dưới quyền điều hành của một đội quản lý Pháp, thường bao gồm các sĩ quan và hạ sĩ quan từ quân đội thuộc địa ở Đông Dương, những người tin rằng họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn, giống như lính Pháp tin rằng họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn ở Việt Nam. Vì vậy, ngay khi một người Việt Nam chỉ trích chỉ huy của họ hoặc phàn nàn về việc không được ăn uống đầy đủ, họ sẽ bị đánh bằng gậy. Thậm chí bên trong trại Bergerac còn có một hầm ngục, và ít nhất một nửa số người Việt Nam ở Bergerac đã bị nhốt trong hầm ngục này hàng tuần liền. Ngoài ra phải kể đến một điều rất quan trọng, đội quản lý Pháp, trong suốt những năm đó, đã không ngần ngại ăn cắp lương thực dành cho những người Việt Nam này. Vì vậy, những người Việt Nam này bị đói thực sự. Còn các dãy nhà thì không hề được sưởi ấm, nên rất, rất lạnh. Kết quả là vì đói, lạnh, bắt nạt, áp bức, số người chết bên trong trại Bergerac cao gấp bốn lần so với người dân Pháp ở thị trấn Bergerac. Đọc thêmPháp : Bảo tồn ký ức lính thợ Đông Dương trong Thế Chiến II RFI : Thứ Sáu ngày 10/10/2025, thành phố Bergerac khánh thành một tấm bia tưởng niệm 62 lính thợ Đông Dương. Tại sao lại là 62 người? Phải chăng họ bị lãng quên trong lịch sử của vùng và lịch sử nước Pháp? Pierre Daum : Như tôi đã nói, tỷ lệ tử vong trong trại Bergerac cao gấp bốn lần so với bên ngoài. Vì vậy, những người đàn ông bị bệnh, và tình trạng quá tải đã khiến bệnh tật lây lan trong cộng đồng lính thợ Đông Dương, đặc biệt là bệnh lao. Hầu hết những người bị bệnh được đưa đến các bệnh viện lớn ở Bordeaux và Marseille, và trên thực tế, nhiều người đã chết ở Bordeaux và Marseille. 62 người trong số họ đã chết ở Bergerac. Ban đầu, họ được chôn cất tại một nghĩa trang, tên là nghĩa trang Pont Saint-Jean. Mộ của họ rất đẹp, tôi đã tìm được nhiều tấm ảnh chụp những ngôi mộ đó ở nghĩa trang này. Năm 1972, chính quyền thành phố Bergerac cần phải lấy lại không gian trong nghĩa trang đó nên các nhân viên thành phố đã đào tất cả các ngôi mộ lên. Họ đặt hài cốt của 62 người đàn ông này gọn gàng trong những chiếc hộp gỗ nhỏ, có đánh số và lập danh sách với số hiệu và tên của 62 người. Sau đó, 62 chiếc hộp được chuyển đến một nghĩa trang khác ở Bergerac, nơi có một lăng mộ Đông Dương tưởng niệm những người đã chết trong Thế Chiến I. Và 62 chiếc hộp đó được đặt dưới lăng mộ này. Tiếc là mọi người đã quên chúng, không ai nghĩ đến việc viết tên 62 người đã khuất lên trên lăng mộ đó để chúng ta nhớ rằng có 62 người yên nghỉ bên dưới. Khi tôi bắt đầu nghiên cứu cách đây 3 năm, tôi phát hiện ra câu chuyện này. Tôi đến gặp chính quyền thành phố Bergerac, nói với họ : “Từ 70 năm qua, có 62 người Việt Nam được chôn cất ở thành phố, nhưng không ai biết, không có tấm bia nào, không có gì cả. Họ đã bị lãng quên”. Chính quyền thành phố Bergerac đã nói với tôi là nếu tôi cung cấp danh sách chính xác tên của 62 người, họ sẽ mời một nhà chuyên nghiệp khắc tên 62 người quá cố lên một tấm bia đá cẩm thạch và sẽ đặt bia ở một vị trí nổi bật. Cho nên, thứ Sáu ngày 10/10, chúng tôi sẽ khánh thành tấm bia cẩm thạch để tưởng nhớ 62 người lính thợ Đông Dương ở Bergerac. RFI : Khi chiến tranh kết thúc, những người lao động Đông Dương khác có được hồi hương về Việt Nam không? Chuyện gì đến với họ? Pierre Daum : Khi Thế Chiến kết thúc, vào năm 1945, tất cả những người bị kẹt lại ở Pháp, bị giam cầm ở Pháp và ở Bergerac trong 5 năm, chỉ có một mong muốn duy nhất : được trở về nhà. Và họ chờ chính phủ Pháp tổ chức các chuyến hồi hương. Nhưng chính vào thời điểm đó, nhân dân Việt Nam đã nổi dậy chống lại chủ nghĩa thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Phản ứng của chính phủ Pháp, như chúng ta đã biết, là không chấp nhận nền độc lập của Việt Nam, như Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã yêu cầu. Tất cả tàu thuyền từng được lên kế hoạch để đưa những người lao động Đông Dương hồi hương cuối cùng lại bị quân đội Pháp trưng dụng để đưa quân lính đến đàn áp khát vọng độc lập của nhân dân Việt Nam. Vì vậy, những người lao động Đông Dương sẽ phải chờ thêm bốn năm nữa, tức là đến năm 1948, để cuối cùng, chính phủ Pháp bắt đầu tổ chức tàu thuyền đưa họ về Việt Nam. Quá trình hồi hương mất một thời gian dài, bắt đầu vào cuối năm 1948 và kết thúc vào năm 1952. Và trong số 20.000 người ban đầu được điều động đến Pháp vào năm 1939-1940, khoảng 16.000 người trở về, 1.000 người trong số họ đã chết, như tôi đã đề cập và từ 2.000 đến 3.000 người quyết định ở lại Pháp. Lý do chính là vì họ đã gặp một phụ nữ Pháp và bạn gái của họ mang thai. Phần lớn lúc đó là họ chưa kết hôn. Ở Pháp trong thập niên 1940, khi bạn gái mang thai, đó thực sự là một bi kịch. Vì vậy, hầu hết những người đàn ông đó đã đưa ra lựa chọn đau đớn là không trở về Việt Nam để ở lại Pháp làm trọng trách làm cha. Có khoảng 2.000 đến 3.000 gia đình Pháp-Việt được hình thành ở Pháp. Tôi biết rất nhiều, rất nhiều trong số họ. Và trong hầu hết các gia đình, con đầu lòng được sinh ra trước khi kết hôn. Sau khi đứa bé chào đời, cha mẹ đã làm giấy tờ hợp lệ và họ kết hôn, có thêm rất nhiều con. Đó là thường là những gia đình khá đông con. Đọc thêmNhững người Việt giúp cải tiến gạo Pháp ở Camargue trong Thế Chiến II RFI : Ông và ông Michel Lecat đang thực hiện một dự án lớn về ký ức của những người lính thợ Đông Dương ở Dordogne. Xin ông cho biết thêm đôi chút về dự án này! Pierre Daum : Michel Lecat là người Pháp đến từ Bergerac, ông đã nghỉ hưu. Ông nội của ông ấy là Robert Bondier, một nhiếp ảnh gia ở Bergerac. Ông Bondier có một cửa hàng ảnh trong 50 năm. Sau khi ông nội của ông qua đời, Michel Lecat đã phát hiện ra 150.000 bức ảnh hoặc phim âm bản trên gác xép của cửa hàng, ghi lại toàn bộ cuộc sống ở Bergerac từ năm 1930 đến năm 1970. Và trong số 150.000 bức ảnh đó, có 1.000 bức ảnh có người Việt Nam và đó là những người lính thợ Đông Dương, hầu hết bị ép đến đến Bergerac vào năm 1940. Họ chỉ có vài giờ tự do mỗi tuần, và nhiều người trong số họ đã đến gặp ông của Michel Lecat để chụp ảnh với ý định sau đó sẽ gửi bức ảnh này về Việt Nam để trấn an gia đình, bởi vì dĩ nhiên là gia đình họ rất lo lắng cho người con đang ở nơi rất xa, ở một châu Âu đang có chiến tranh và họ không có tin tức gì. Bức ảnh là một cách để nói với cha mẹ anh ấy rằng “Đừng lo lắng, nhìn này, con khỏe mạnh, con ăn mặc bảnh bao”… Thêm nữa, ông của Lecat cũng đã đến chụp ảnh trong trại người lao động Đông Dương. Đó là một bộ sưu tập ảnh cực kỳ thú vị và cực kỳ hiếm về chủ đề lính thợ Đông Dương. Ba năm trước, Michel Lecat đã liên lạc với tôi để đề nghị chúng tôi cùng làm việc và tôi đã đến Bergerac gặp ông ấy. Và với chất lượng đặc biệt của bộ sưu tập ảnh này, chúng tôi quyết định khởi động một dự án, được chia thành nhiều phần: có một triển lãm ảnh đang được tổ chức ở Dordogne và thậm chí có thể sẽ được triển lãm trên khắp nước Pháp ; xuất bản một cuốn sách mà tôi đang hoàn thiện, sẽ ra mắt vào tháng 01/2026; khánh thành một đài tưởng niệm rất lớn dành cho những lính thợ Đông Dương, dự kiến vào vào mùa xuân 2026; và gắn bia tưởng nhớ tại nghĩa trang Bergerac, nơi chôn cất 62 người lính thợ Đông Dương vô danh trong hơn nửa thế kỷ tại nghĩa trang này. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn sử gia Pierre Daum, chuyên gia về quá khứ thuộc địa và là nhà báo của nguyệt sang Le Monde Diplomatique. Đọc thêmNhững người lính Việt Nam “Hy sinh vì nước Pháp” trong Thế Chiến I
Đất hiếm là vũ khí lợi hại giúp Trung Quốc đối mặt với chính sách bảo hộ của Hoa Kỳ. Washington khai thác thuế nhập khẩu vì các mục đích kinh tế và nhất là địa chính trị. Lá chủ bài của Nga là năng lượng. Matxcơva đang dùng đòn « Ngoại giao ống dẫn khí đốt » để phá vỡ gọng kềm trừng phạt của phương Tây, mà mắt xích đầu tiên là Hoa Kỳ. RFI tiếng Việt phỏng vấn Igor Delanoë phó giám đốc Đài Quan Sát Pháp-Nga. Đến dự thượng đỉnh Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải Thiên Tân, dự lễ duyệt binh trên Quảng Trường Thiên An Môn Bắc Kinh, tổng thống Nga Vladimir Putin không bỏ lỡ cơ hội phô trương quan hệ thắm thiết với các lãnh đạo Ấn Độ, Bắc Triều Tiên và đặc biệt là với nước chủ nhà Trung Quốc. Ở Thiên Tân, hôm 01/09/2025 Trung Quốc, Nga và Ấn Độ khẳng định quyết tâm mở rộng tầm hoạt động của Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải (SCO) ra ngoài lĩnh vực an ninh. Các bên đồng ý thành lập một ngân hàng phát triển dành riêng cho các nước thành viên. Bắc Kinh, Matxcơva mạnh dạn hơn trên con đường xây dựng một trật tự thế giới mà ở đó tất cả không còn chỉ xoay quanh các nước phương Tây. Hai ngày sau, tổng thống Nga đến Bắc Kinh dự lễ duyệt binh nhân kỷ niệm 80 năm kết thúc Thế Chiến Thứ Hai và họp thượng đỉnh song phương Nga-Trung. Đây là dịp để lãnh đạo tập đoàn dầu khí Gazprom thông báo Matxcơva và Bắc Kinh « khởi động lại chương trình xây dựng đường ống đưa khí đốt Power of Siberia 2 ». Đây sẽ là tuyến đường thứ ba đưa khí đốt của Nga sang Trung Quốc, sau Siberia 1 và Tuyến đường Phương Đông. Power of Siberia 2, dự án trị giá 12 tỷ euro để xây dựng đường ống từ các mỏ khí của Nga ở Yamal đến khu vực đông bắc Trung Quốc, đi qua Mông Cổ. Một khi đi vào hoạt động, tuyến đường này cho phép cung cấp 50 tỷ mét khối khí đốt hàng năm cho Trung Quốc. Báo chí Matxcơva nói đến « dự án vĩ đại nhất thế giới trong ngành công nghiêp năng lượng ». Yếu tố chính trị trong thỏa thuận năng lượng Nga-Trung Trả lời RFI tiếng Việt, chuyên gia Igor Delanoë phó giám đốc Đài Quan Sát Pháp-Nga CCI, cộng tác viên của Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược Pháp IRIS, công nhận đây là một dự án vô cùng quan trọng đối với cả Matxcơva lẫn Bắc Kinh vào lúc Nga đã mất đi khách hàng quan trọng nhất là châu Âu. Song người Pháp có câu « le diable se cache dans les détails » nghĩa là thành công hay thất bại của dự án tùy thuộc vào những « chi tiết nhỏ ». Hiện tại còn nhiều « chi tiết » không hề nhỏ, hai đối tác chính là Gazprom của Nga và CNPC của Trung Quốc vẫn còn bất đồng. Igor Delanoë nhắc lại, tuần trước nhiều thỏa thuận hợp tác song phương đã được ký kết tại Bắc Kinh nhân chuyến công du Trung Quốc của tổng thống Vladimir Putin. Igor Delanoë : « Trong quan hệ giữa Nga và Trung Quốc, đôi bên đã ký kết khoảng 20 văn kiện liên quan đến nhiều lĩnh vực : nông nghiệp, y tế, giáo dục, không gian... Tuy nhiên nổi bật nhất là bản ghi nhớ về chương trình xây dựng đường ông dẫn khí Power of Siberia 2. Phía Nga đã nói đến một văn bản có giá trị pháp lý ràng buộc trong thời hạn 30 năm. Quá trình đàm phán đã kéo dài và theo chỗ tôi được biết thì hai tập đoàn Gazprom và CNCP vẫn chưa đạt đồng thuận về nhiều điểm : phía CNCP của Trung Quốc đòi mua khí đốt của Nga với mức giá như là Gazprom bán ra trên thị trường nội địa. Đó là điều kiện tập đoàn Nga không thể thỏa mãn, bởi vì buôn bán như vậy Gazprom không có lợi ích thương mại nào cả ». Khí đốt : Trung Quốc sẽ chấp nhận lệ thuộc đến 60 % vào một đối tác ? Igor Delanoë : « Dự án đường ống dẫn Siberia 2 đã bắt đầu được đàm phán từ lâu nay, nhưng mà trước đó, Siberia 1 đã đi vào hoạt động từ 2019, với công suất hiện tại là 38 tỷ mét khối mỗi năm. Trong chuyến công du Trung Quốc lần này, tổng thống Nga đã đồng ý nâng công suất của Siberia 1 lên tới 44 tỷ mét khối/năm. Hơn nữa giữa Matxcơva và Bắc Kinh còn có một đường ống thứ ba, cho phép xuất khẩu mỗi năm 10 tỷ mét khối khí đốt sang Trung Quốc. Một khi đi vào hoạt động thì đường ống Power of Siberia 2 mới là dự án quan trọng nhất : công suất của đường ống này là 50 tỷ mét khối hàng năm. Như vậy cộng cả ba đường ống để Nga cung cấp khí đốt cho Trung Quốc, trong tương lai Matxcơva có thể xuất khẩu đến 106 tỷ mét khối một năm cho quốc gia châu Á này. Đây là một điểm rất quan trọng đối với Gazprom vào lúc mà thị trường châu Âu đã khép lại – (trước đây mua vào 150 tỷ mét khối/năm). Trung Quốc tuy không thể hoàn toàn thay thế vào chỗ trống Liên Âu để lại, nhưng ít ra thì cũng bù đắp lại được khoảng 2 phần 3 thị phần của châu Âu ». Với Nga, dự án pipeline Siberia 2 rõ ràng là vô cùng quan trọng. Đối với Trung Quốc cũng vậy - nhất là khi mà Bắc Kinh đang đàm phán về giá cả với Gazprom. Chuyên gia về Nga Igor Delanoë lưu ý thêm những điểm như sau : Igor Delanoë : « Trong dự án Siberia 1, đường ống dài 2.200 km nối liền vùng Iakoutie đông Siberia của Nga với tỉnh Hắc Long Giang, đông bắc Trung Quốc, chi phí xây dựng chủ yếu do tập đoàn Nga đài thọ. Sở dĩ mà Gazprom có thể tài trợ là nhờ doanh thu từ xuất khẩu khí đốt sang châu Âu. Châu Âu mua khí đốt của Nga với giá cao. Giờ đây với chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng đó, liệu có sẽ do Trung Quốc đảm nhiệm hay không ? Chưa thể giải đáp câu hỏi này. Hiện tại Gazprom hiện tại đang gặp « khó khăn về tài chính » : ngân sách đầu tư của tập đoàn này cho năm nay giảm 7 % so với hồi 2024. Gazprom phải sa thải 40 % nhân sự tại trụ sở tại Saint Petersbourg ; Tháng 5/2024 lần đầu tiên từ hơn 2 thập niên qua, tập đoàn này thông báo làm ăn thua lỗ (lỗ hơn 3,5 tỷ đô la). Đây là hậu quả trực tiếp từ các biện pháp trừng phạt Âu, Mỹ đánh vào kinh tế Nga từ khi Matxcơva đưa quân xâm chiếm Ukraina ». Mượn bóng Trung Quốc để kích thích Hoa Kỳ ? Do vậy, giới trong ngành cho rằng, tổng thống Putin đã tận dụng chuyến công du Trung Quốc vừa qua để phô trương thành tích trong hợp tác năng lượng với Bắc Kinh. Từ trước đến nay bản thân tổng thống Putin luôn thận trọng với Siberia 2 khi Trung Quốc đòi mua khí đốt của Nga với giá rẻ và đòi Gazprom đài thọ phần lớn các phí tổn xây dựng đường ống. Về phía Bắc Kinh tới nay, Trung Quốc vốn chủ trương không để phụ thuộc quá 50 % vào bất kỳ một nhà cung cấp năng lượng nào. Với Siberia 2, một khi đi vào hoạt động, cùng với hai đường ống đã có sẵn thì Nga sẽ trở thành nguồn cung cấp chiếm đến 60 % nhập khẩu khí đốt của Trung Quốc ! Phải chăng vì chiến tranh Ukraina kéo dài mà hai nhà lãnh đạo quyền lực nhất ở Bắc Kinh và Matxcơva đã thay đổi quan điểm ? Không loại trừ khả năng « văn bản ghi nhớ mang tính ràng buộc » về Power Siberia 2 được thông báo hồi tuần trước là một thông điệp Matxcơva gửi tới Washington. Nga từng chính thức mời tập đoàn dầu khí ExxonMobil của Mỹ « trở lại » với dự án Sakhalin. Hơn một chục ngày sau thượng đỉnh Donald Trump -Vladimir Putin tại Anchorage, Alaska, báo tài chính Mỹ The Wall Street Journal đưa tin ExxonMobil dường như đang đàm phán với Rosneft để tham gia trở lại dự án khai thác dầu khí Sakhalin 1 trong vùng Viễn Đông Nga. Về điểm này chuyên gia Pháp, Igor Delanoë đánh giá : Igor Delanoë : « Có tin đồn rằng người Mỹ có thể quay lại tham gia dự án Sakhalin ở Viễn Đông Nga. Điều này sẽ đòi hỏi Washington phải ngừng trừng phạt Nga để cho phép các tập đoàn của Mỹ quay lại với dự án này. Nhưng chúng ta thấy rõ, tại thượng đỉnh Thiên Tân cũng như là sự kiện ở Bắc Kinh sau đó, hình ảnh thắm thiết giữa Nga - Ấn Độ - Trung Quốc còn là thông điệp nhắm tới Hoa Kỳ. Tuy vậy đây chỉ là một giải pháp tình thế khi các bên xích lại gần nhau vì đừng quên là vẫn có nhiều bất đồng sâu sắc, đặc biệt là về tranh chấp biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc, rồi gần đây hơn là giữa Ấn Độ với Pakistan mà Mỹ thì đang sưởi ấm quan hệ với Pakistan và cả Trung Quốc thì đã đứng về phía Islamabad. Chẳng qua là do Mỹ gây áp lực với Ấn Độ và đã đẩy thủ tướng Modi vào vòng tay các ông Tập Cận Bình và Vladimir Putin. Đây là khuynh hướng chung. Về phía ông Putin, thông điệp ẩn đằng sau những sự kiện này là gửi đến người Mỹ, để nói rằng: nếu Hoa Kỳ không buông Ukraina, thì cái giá địa chính trị mà họ phải trả là việc củng cố liên minh tam giác Á-Âu gồm Nga, Trung Quốc và Ấn Độ - với các dự án năng lượng như khí đốt sang Trung Quốc và dầu mỏ sang Ấn Độ ». Nga « bắt đúng mạch » của Mỹ Igor Delanoë : « Trong lĩnh vực dầu khí, trước khi nổ ra chiến tranh Ukraina, ExxonMobil có một số dự án hơp tác với Nga ở vùng Bắc Cực và Viễn Đông. Nhưng tất cả đã bị đóng băng hoặc bỏ dở một khi Matxcơva đưa quân sang Ukraina và bị phương Tây trừng phạt. Từ khi Donald Trump trở lại cầm quyền, ông đã nối lại đối thoại song phương với Vladimir Putin. Năng lượng là một hồ sơ được đôi bên thảo luận. Nga đề nghị mời Mỹ quay lại và Matxcơva không chỉ mang dầu hỏa khí đốt ra để nhử mà còn để ngỏ khả năng cùng hợp tác khai thác đất hiếm, hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác nữa. Các doanh nhân thân cận với Donald Trump rất chú ý đến điểm này và có thể là Washington đang buông tay với Ukraina để xích lại gần hơn với nước Nga của Vladimir Putin. Để đạt được mục tiêu này, thì điều kiện tiên quyết là đến một lúc nào đó phải dỡ bỏ các lệnh cấm vận kinh tế Nga. Trước mắt các bên mới chỉ bàn thảo đến dự án Sakhalin ». Vẫn Igor Delanoë ghi nhận, Nga dùng lá bài đầu tư, kinh tế, năng lượng và cả khoáng sản để thu hút trước hết là chú ý của các nhóm lợi ích bao quanh tổng thống Trump. Mục đích của Matxcơva là thuyết phục được chủ nhân Nhà Trắng vừa giảm hỗ trợ cho Ukraina, vừa nhờ Hoa Kỳ bẻ gấy mắt xích đầu tiên của loạt trừng phạt nhắm vào kinh tế Nga. Một khi mà Washington dỡ bỏ cấm vận với Nga, thì không có lý do gì để các đối tác của Hoa Kỳ như Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu tiếp tục cô lập Matxcơva. Rất có thể là Vladimir Putin muốn dùng dự án Sakhalin như công cụ hiệu quả nhất bởi chỉ cần Mỹ thực sự quay lại, đó sẽ là một tín hiệu gửi đến các đối tác khác – hoặc đối tác cũ của Nga – về triển vọng nối lại hợp tác năng lượng. Theo nhà nghiên cứu Igor Delanoë Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đang nóng lòng chờ đợi một tín hiệu « thuận lợi » nào đó theo chiều hướng này. Đâu chỉ có Trung Quốc hay Mỹ mới biết dùng các công cụ kinh tế để phục vụ các lợi ích địa chính trị.
Trụ sở của SDECE (Service de Documentation Extérieure et de Contre-Espionnage), cơ quan tình báo đối ngoại quân đội Pháp) tại Paris, Rose McConaughey vừa từ miền Bắc Việt Nam trở về và báo cáo về cuộc “chạm trán” với Florence, một điệp viên Pháp nằm vùng ở nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ gần 30 năm. Tại sao Florence không còn cung cấp tin tức từ vài năm qua ? Florence đã phản bội ? Vở kịch Hongaï (Hòn Gai) của đoàn Collectif Rue 46 được bắt đầu trong bối cảnh như vậy. Những lời kể của Rose được chuyển cảnh, thành thực tế, từ Paris sang Hà Nội, từ văn phòng của SDECE sang nhà của Florence. Cả vở kịch có 15 giai đoạn, 50 nhân vật, ba lục địa Á, Âu, Mỹ. Khán giả được đưa từ Việt Nam của những năm 1970 ngược lại Pháp trong giai đoạn giữa hai Thế Chiến, rồi lại sang New York trong những năm 1950. Tất cả liên quan đến một gia đình Pháp-Việt sống ở Hòn Gai đầu thế kỷ 20. Cuộc sống an nhàn, bình yên của họ trở nên sóng gió, bị thay đổi hoàn toàn vì những biến động của thế giới, vì những sự kiện lịch sử. Cảm nhận chung của khán giả khi Hongaï hạ màn là hồi hộp, bất ngờ đến phút chót. Một vở kịch nhưng đầy kịch tính, diễn biến nhanh như một bộ phim trinh thám, gián điệp. Một bức tranh lịch sử được dàn dựng rất sáng tạo và thành công, sự đan xen khéo léo giữa các nhân vật ở nhiều độ tuổi khác nhau trong cùng một cảnh, không làm người xem bị mất phương hướng cùng với những lời thoại đẹp và diễn xuất của diễn viên”. Hongaï là một vở diễn rất khác so với những gì chúng ta thường thấy ở thể loại này. Cốt truyện tinh tế và thú vị, dàn dựng mạch lạc và hiệu quả, các diễn viên nhập vai một cách xuất sắc, tràn đầy năng lượng! (Ý kiến của khán giả trên trang BilletReduc) Đằng sau thành công này là đoàn kịch Collectif Rue 46 và tác giả, đạo diễn kiêm diễn viên La Belle Époque. Tại Liên hoan Avignon 2025, RFI Tiếng Việt đã gặp và phỏng vấn La Belle Époque và nghệ sĩ Franck Milin, nhập vai điệp viên Florence trong Hongaï. RFI : Xin chào anh La Belle Époque và Franck Milin. Hongaï là một câu chuyện được nghiên cứu theo chiều hướng lịch sử. Ý tưởng được hình thành như thế nào ? La Belle Époque : Về cơ bản, tôi muốn một câu chuyện kể về một người đi tìm một người đã mất tích từ lâu, từ cả hàng chục năm trước. Về một nơi xa xôi nào đó, tôi nghĩ có thể chọn giữa Nam Mỹ hoặc châu Á. Tôi bị cuốn theo hướng châu Á ngay bởi vì bà tôi sinh ra ở Việt Nam, nên điều đó rất có ý nghĩa với tôi. Và thế là hình thành câu chuyện kể về việc đi tìm một người mất tích từ lâu ở Việt Nam. Ngay sau đó, tôi nảy ra ý tưởng về gián điệp vì tôi đam mê những câu chuyện gián điệp. Tôi đã nghe rất nhiều podcast của Radio France có tên là Espion, une histoire vraie (Điệp viên, một câu chuyện có thật). Đó là những câu chuyện có thật, khá hấp dẫn bởi vì hành trình của những điệp viên đó khá là lãng mạn. Qua những câu chuyện đó, tôi cũng hiểu được rằng đôi khi động cơ của họ mang tính ý thức hệ ít hơn là cảm xúc, và chúng gắn liền với cuộc đời, tình yêu và gia đình. Thế là tôi tự nhủ đó sẽ là một câu chuyện gián điệp, sẽ có cựu điệp viên người Pháp, Gustave Duong, mật danh Florence, nằm vùng từ thời chiến tranh Đông Dương. Tiếp theo là có thêm điệp viên CIA, Rose McConaughey, được cử thay mặt cho Cơ quan tình báo đối ngoại của Pháp - SDECE để hồi hương hoặc giết chết Florence. Phải kiểm tra xem điệp viên nằm vùng đó có phải là kẻ phản bội hay không. Và đó là điểm khởi đầu của câu chuyện, và cuộc gặp gỡ giữa hai điệp viên này. Chúng ta bước vào cuộc sống, quá khứ của họ và khám phá ra rất nhiều điều. RFI : Có 30 nhân vật, trải qua 15 thời kỳ khác nhau và trên ba lục địa (Á, Âu, Mỹ). Làm thế nào để có thể thay đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, bởi vì hiểu được một chút về lịch sử gia đình hoặc một giai đoạn đã là phức tạp trong khi ở đây, vở kịch có đến 15 giai đoạn khác nhau ? La Belle Époque : Thực ra, viết về cuộc đời của các nhân vật, của hai nhân vật chính, mới là điều khó nhất, làm sao cho được mạch lạc từ đầu đến cuối. Sau khi tôi viết xong, chúng tôi trộn mọi thứ một chút, theo kiểu cảnh này sẽ hợp với chỗ này, cảnh kia hợp với chỗ kia. Đó là kiểu hiệu ứng mà tôi muốn, có nghĩa là nhảy từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, từ thập niên 1930 sang 1950, từ đầu thế kỷ chuyển sang những năm 1970. Khán giả có thể thấy mất phương hướng một chút nhưng thường thì vẫn hiểu được mọi chuyện vào cuối vở kịch. RFI : Điều gây ấn tượng cho khán giả là bối cảnh và giai đoạn được thay đổi rất nhanh trên sân khấu nhỏ, trong thời gian rất ngắn. Franck Milin : Đó là nhờ khâu dàn dựng và ánh sáng, đặc trưng cho một địa điểm, một khoảnh khắc cụ thể, và cả nhịp độ trong hậu trường nữa. Hãy đến hậu trường xem chuyện gì diễn ra đằng sau cánh gà (cười) ! Các màn thay trang phục, chuyển âm nhạc nhanh một cách kinh ngạc. RFI : Ngoài ra còn có thể thấy những lời giải thích giống như trong phim hành động, tình báo CIA của Mỹ, ví dụ tại địa điểm này, giai đoạn này hoặc ngày tháng này… để khán giả theo được mạch câu chuyện. Franck Milin : Chính xác. Đó là nhờ dàn dựng, theo kiểu kết hợp kịch và một chút điện ảnh qua kiểu thông báo các địa điểm. La Belle Époque : Đúng vậy. Có một khía cạnh rất điện ảnh trong đó, như Franck đã nói, với rất nhiều âm nhạc, nhịp độ khá nhanh, và rất nhiều video. Tôi thực sự thích điều đó, tôi rất thích phim truyền hình, điện ảnh, và tôi muốn thêm một chút khía cạnh đó vào kịch. RFI : Khán giả như bị cuốn vào một bộ phim gián điệp với rất nhiều chi tiết hoặc thông tin lịch sử dù là câu chuyện hư cấu. Anh đã làm việc như thế nào về mặt đó ? La Belle Époque : Tôi tìm kiếm rất nhiều về lịch sử. Thực ra, tất cả các nhân vật đều là hư cấu và không tồn tại nhưng tất cả các sự kiện trong vở kịch là thật. Cho nên mọi ngày tháng, thậm chí mọi thời điểm, đều được xác minh. Ví dụ việc ký kết Hiệp ước Đức-Liên Xô, Thế Chiến II kết thúc, tiếp theo là việc ký kết Hiệp định Paris chấm dứt Chiến tranh Việt Nam vào ngày 27/01/1973 mở ra trang mới. Mỗi bước ngoặt trong kịch đều trùng với ngày tháng của các sự kiện lịch sử lớn. Franck Milin : Chúng tôi, với tư cách là diễn viên, cũng phải tự tìm hiểu một chút. Trước một kịch bản với cốt truyện chứa nhiều yếu tố lịch sử, chúng tôi cũng phải chú ý đến những gì mình đang diễn. Thêm vào đó, đoàn kịch của chúng tôi gồm những người đam mê lịch sử. RFI : Về mặt kỹ thuật, hoàn toàn có thể hóa thân thành nhiều nhân vật khác nhau nhờ hóa trang. Nhưng làm thể nào để sống trong nhân vật đó, thể hiện được nhân vật đó trong khi một nghệ sĩ đảm nhiệm nhiều vai và thời gian chuyển vai rất nhanh và rất ngắn ? La Belle Époque : Mỗi lần như vậy, cần phải tự hỏi nhân vật này là ai, động cơ của họ là gì, và phải thể hiện nhân vật đó như thế nào. Đó là cả một công trình nghiên cứu. Chúng tôi đã dành rất nhiều thời gian cho nó. Vở kịch là một sáng tác cho Liên hoan Avignon. Đây là lần đầu tiên chúng tôi tham gia Liên hoan này. Nhưng chúng tôi đã chuẩn bị cho vở kịch này trong suốt hai năm và làm việc rất nhiều. Tôi bắt đầu viết vào tháng 06/2023, có nghĩa là được hai năm rồi. Và sau đó, chúng tôi bắt tay vào việc từ đầu năm 2024. Và sau đó, tất cả chúng tôi đều tự hỏi bản thân rất nhiều, thử thách bản thân về các nhân vật. Franck Milin : Chúng tôi dành rất nhiều tâm huyết cho tất cả những nhân vật phụ. Về những nhân vật chính, tôi nghĩ rằng trong quá trình xây dựng nhân vật với tư cách là diễn viên, hành trình của họ khá rõ ràng và nhanh chóng. Còn những nhân vật phụ, những người thêm thắt những chi tiết nhỏ vào câu chuyện chúng tôi kể, thì vẫn cần thêm một chút công sức trên sân khấu, một chút suy ngẫm cá nhân của diễn viên, và thảo luận với đạo diễn. Đó là một quá trình xây dựng nhân vật, hiểu thêm một chút những thách thức của từng người. RFI : Vở kịch mang tên Hongaï nhưng người ta có cảm giác không có mối liên hệ nào với câu chuyện gián điệp. Tuy nhiên, khi xem vở kịch, người ta hiểu rằng đó là nơi câu chuyện bắt đầu. La Belle Époque : Đúng vậy, Hòn Gai là nơi bà tôi sinh ra. Rồi Chiến tranh Đông Dương nổ ra, bà rời Đông Dương vào năm 1951 cùng với gia đình. Và họ chưa bao giờ trở lại, mặc dù nơi đó là cả tuổi thơ của họ. Tôi lớn lên đắm chìm trong câu chuyện phi thực dân hóa giữa Pháp và Việt Nam. Và sự kiện đó đã truyền cảm hứng cho câu chuyện này bởi vì cuộc sống của bà tôi và người thân bị đảo lộn bởi những sự kiện của thế kỷ 20. Tôi không muốn kể câu chuyện của tổ tiên mình, mà là câu chuyện của tất cả những người đã sống qua những biến động lớn, các cuộc chiến tranh thế giới, Chiến tranh Lạnh, phi thực dân hóa… Và đó chính là nguồn cảm hứng cho câu chuyện. Vậy nên, tên vở kịch là Hongaï như một lời tri ân. Và nó như một lời mời chu du, cho nên tấm áp phích của vở kịch được lấy hình ảnh vịnh Hạ Long. Thực ra, đúng như chị nói, người ta hiểu được ý nghĩa khi xem vở kịch. Tôi muốn nói với khán giả rằng trong câu chuyện Hongaï, đó là nơi mọi thứ bắt đầu và cũng là nơi mọi thứ kết thúc. RFI : Tên của đoàn kịch Collectif Rue 46 cũng gây tò mò. Tại sao lại là tập thể - collectif ? Và tại sao lại là Rue 46 ? Franck Milin : Nhóm đã tồn tại khoảng mười năm. Tại sao lại là “tập thể” mà không phải là “hội”, bởi vì đó là một gia đình phát triển qua từng dự án. Tôi coi đó là một gia đình mà vai trò của mỗi người không phải là cố định. Nghĩa là, họ có thể là diễn viên trong dự án này, rồi lại là đạo diễn trong một dự án khác, hoặc là quản lý sân khấu hoặc thiết kế bối cảnh. Có nghĩa là vai trò luôn luôn thay đổi. La Belle Époque : Ví dụ, tôi đóng trong Richard III của Shakespeare. Tôi đóng cùng Franck và Cyrielle Buquet, hai nghệ sĩ đóng nhân vật chính trong Hongaï. Chúng tôi vẫn đổi vai tùy theo dự án. Franck Milin : Và tên của nhóm ra đời từ trải nghiệm sân khấu đầu tiên mà chúng tôi thực hiện cùng nhau, đó là vở 46, Wessex Grove, được Jean-Philippe Brayé chuyển thể và đạo diễn từ tác phẩm The Homecoming của Harold Pinter. Và đó là lý do tại sao tên của nhóm được gọi là Collectif Rue 46. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn La Belle Époque và Franck Milin, đoàn kịch Collectif Rue 46.
Trụ sở của SDECE (Service de Documentation Extérieure et de Contre-Espionnage), cơ quan tình báo đối ngoại quân đội Pháp) tại Paris, Rose McConaughey vừa từ miền Bắc Việt Nam trở về và báo cáo về cuộc “chạm trán” với Florence, một điệp viên Pháp nằm vùng ở nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ gần 30 năm. Tại sao Florence không còn cung cấp tin tức từ vài năm qua ? Florence đã phản bội ? Vở kịch Hongaï (Hòn Gai) của đoàn Collectif Rue 46 được bắt đầu trong bối cảnh như vậy. Những lời kể của Rose được chuyển cảnh, thành thực tế, từ Paris sang Hà Nội, từ văn phòng của SDECE sang nhà của Florence. Cả vở kịch có 15 giai đoạn, 50 nhân vật, ba lục địa Á, Âu, Mỹ. Khán giả được đưa từ Việt Nam của những năm 1970 ngược lại Pháp trong giai đoạn giữa hai Thế Chiến, rồi lại sang New York trong những năm 1950. Tất cả liên quan đến một gia đình Pháp-Việt sống ở Hòn Gai đầu thế kỷ 20. Cuộc sống an nhàn, bình yên của họ trở nên sóng gió, bị thay đổi hoàn toàn vì những biến động của thế giới, vì những sự kiện lịch sử. Cảm nhận chung của khán giả khi Hongaï hạ màn là hồi hộp, bất ngờ đến phút chót. Một vở kịch nhưng đầy kịch tính, diễn biến nhanh như một bộ phim trinh thám, gián điệp. Một bức tranh lịch sử được dàn dựng rất sáng tạo và thành công, sự đan xen khéo léo giữa các nhân vật ở nhiều độ tuổi khác nhau trong cùng một cảnh, không làm người xem bị mất phương hướng cùng với những lời thoại đẹp và diễn xuất của diễn viên”. Hongaï là một vở diễn rất khác so với những gì chúng ta thường thấy ở thể loại này. Cốt truyện tinh tế và thú vị, dàn dựng mạch lạc và hiệu quả, các diễn viên nhập vai một cách xuất sắc, tràn đầy năng lượng! (Ý kiến của khán giả trên trang BilletReduc) Đằng sau thành công này là đoàn kịch Collectif Rue 46 và tác giả, đạo diễn kiêm diễn viên La Belle Époque. Tại Liên hoan Avignon 2025, RFI Tiếng Việt đã gặp và phỏng vấn La Belle Époque và nghệ sĩ Franck Milin, nhập vai điệp viên Florence trong Hongaï. RFI : Xin chào anh La Belle Époque và Franck Milin. Hongaï là một câu chuyện được nghiên cứu theo chiều hướng lịch sử. Ý tưởng được hình thành như thế nào ? La Belle Époque : Về cơ bản, tôi muốn một câu chuyện kể về một người đi tìm một người đã mất tích từ lâu, từ cả hàng chục năm trước. Về một nơi xa xôi nào đó, tôi nghĩ có thể chọn giữa Nam Mỹ hoặc châu Á. Tôi bị cuốn theo hướng châu Á ngay bởi vì bà tôi sinh ra ở Việt Nam, nên điều đó rất có ý nghĩa với tôi. Và thế là hình thành câu chuyện kể về việc đi tìm một người mất tích từ lâu ở Việt Nam. Ngay sau đó, tôi nảy ra ý tưởng về gián điệp vì tôi đam mê những câu chuyện gián điệp. Tôi đã nghe rất nhiều podcast của Radio France có tên là Espion, une histoire vraie (Điệp viên, một câu chuyện có thật). Đó là những câu chuyện có thật, khá hấp dẫn bởi vì hành trình của những điệp viên đó khá là lãng mạn. Qua những câu chuyện đó, tôi cũng hiểu được rằng đôi khi động cơ của họ mang tính ý thức hệ ít hơn là cảm xúc, và chúng gắn liền với cuộc đời, tình yêu và gia đình. Thế là tôi tự nhủ đó sẽ là một câu chuyện gián điệp, sẽ có cựu điệp viên người Pháp, Gustave Duong, mật danh Florence, nằm vùng từ thời chiến tranh Đông Dương. Tiếp theo là có thêm điệp viên CIA, Rose McConaughey, được cử thay mặt cho Cơ quan tình báo đối ngoại của Pháp - SDECE để hồi hương hoặc giết chết Florence. Phải kiểm tra xem điệp viên nằm vùng đó có phải là kẻ phản bội hay không. Và đó là điểm khởi đầu của câu chuyện, và cuộc gặp gỡ giữa hai điệp viên này. Chúng ta bước vào cuộc sống, quá khứ của họ và khám phá ra rất nhiều điều. RFI : Có 30 nhân vật, trải qua 15 thời kỳ khác nhau và trên ba lục địa (Á, Âu, Mỹ). Làm thế nào để có thể thay đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, bởi vì hiểu được một chút về lịch sử gia đình hoặc một giai đoạn đã là phức tạp trong khi ở đây, vở kịch có đến 15 giai đoạn khác nhau ? La Belle Époque : Thực ra, viết về cuộc đời của các nhân vật, của hai nhân vật chính, mới là điều khó nhất, làm sao cho được mạch lạc từ đầu đến cuối. Sau khi tôi viết xong, chúng tôi trộn mọi thứ một chút, theo kiểu cảnh này sẽ hợp với chỗ này, cảnh kia hợp với chỗ kia. Đó là kiểu hiệu ứng mà tôi muốn, có nghĩa là nhảy từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, từ thập niên 1930 sang 1950, từ đầu thế kỷ chuyển sang những năm 1970. Khán giả có thể thấy mất phương hướng một chút nhưng thường thì vẫn hiểu được mọi chuyện vào cuối vở kịch. RFI : Điều gây ấn tượng cho khán giả là bối cảnh và giai đoạn được thay đổi rất nhanh trên sân khấu nhỏ, trong thời gian rất ngắn. Franck Milin : Đó là nhờ khâu dàn dựng và ánh sáng, đặc trưng cho một địa điểm, một khoảnh khắc cụ thể, và cả nhịp độ trong hậu trường nữa. Hãy đến hậu trường xem chuyện gì diễn ra đằng sau cánh gà (cười) ! Các màn thay trang phục, chuyển âm nhạc nhanh một cách kinh ngạc. RFI : Ngoài ra còn có thể thấy những lời giải thích giống như trong phim hành động, tình báo CIA của Mỹ, ví dụ tại địa điểm này, giai đoạn này hoặc ngày tháng này… để khán giả theo được mạch câu chuyện. Franck Milin : Chính xác. Đó là nhờ dàn dựng, theo kiểu kết hợp kịch và một chút điện ảnh qua kiểu thông báo các địa điểm. La Belle Époque : Đúng vậy. Có một khía cạnh rất điện ảnh trong đó, như Franck đã nói, với rất nhiều âm nhạc, nhịp độ khá nhanh, và rất nhiều video. Tôi thực sự thích điều đó, tôi rất thích phim truyền hình, điện ảnh, và tôi muốn thêm một chút khía cạnh đó vào kịch. RFI : Khán giả như bị cuốn vào một bộ phim gián điệp với rất nhiều chi tiết hoặc thông tin lịch sử dù là câu chuyện hư cấu. Anh đã làm việc như thế nào về mặt đó ? La Belle Époque : Tôi tìm kiếm rất nhiều về lịch sử. Thực ra, tất cả các nhân vật đều là hư cấu và không tồn tại nhưng tất cả các sự kiện trong vở kịch là thật. Cho nên mọi ngày tháng, thậm chí mọi thời điểm, đều được xác minh. Ví dụ việc ký kết Hiệp ước Đức-Liên Xô, Thế Chiến II kết thúc, tiếp theo là việc ký kết Hiệp định Paris chấm dứt Chiến tranh Việt Nam vào ngày 27/01/1973 mở ra trang mới. Mỗi bước ngoặt trong kịch đều trùng với ngày tháng của các sự kiện lịch sử lớn. Franck Milin : Chúng tôi, với tư cách là diễn viên, cũng phải tự tìm hiểu một chút. Trước một kịch bản với cốt truyện chứa nhiều yếu tố lịch sử, chúng tôi cũng phải chú ý đến những gì mình đang diễn. Thêm vào đó, đoàn kịch của chúng tôi gồm những người đam mê lịch sử. RFI : Về mặt kỹ thuật, hoàn toàn có thể hóa thân thành nhiều nhân vật khác nhau nhờ hóa trang. Nhưng làm thể nào để sống trong nhân vật đó, thể hiện được nhân vật đó trong khi một nghệ sĩ đảm nhiệm nhiều vai và thời gian chuyển vai rất nhanh và rất ngắn ? La Belle Époque : Mỗi lần như vậy, cần phải tự hỏi nhân vật này là ai, động cơ của họ là gì, và phải thể hiện nhân vật đó như thế nào. Đó là cả một công trình nghiên cứu. Chúng tôi đã dành rất nhiều thời gian cho nó. Vở kịch là một sáng tác cho Liên hoan Avignon. Đây là lần đầu tiên chúng tôi tham gia Liên hoan này. Nhưng chúng tôi đã chuẩn bị cho vở kịch này trong suốt hai năm và làm việc rất nhiều. Tôi bắt đầu viết vào tháng 06/2023, có nghĩa là được hai năm rồi. Và sau đó, chúng tôi bắt tay vào việc từ đầu năm 2024. Và sau đó, tất cả chúng tôi đều tự hỏi bản thân rất nhiều, thử thách bản thân về các nhân vật. Franck Milin : Chúng tôi dành rất nhiều tâm huyết cho tất cả những nhân vật phụ. Về những nhân vật chính, tôi nghĩ rằng trong quá trình xây dựng nhân vật với tư cách là diễn viên, hành trình của họ khá rõ ràng và nhanh chóng. Còn những nhân vật phụ, những người thêm thắt những chi tiết nhỏ vào câu chuyện chúng tôi kể, thì vẫn cần thêm một chút công sức trên sân khấu, một chút suy ngẫm cá nhân của diễn viên, và thảo luận với đạo diễn. Đó là một quá trình xây dựng nhân vật, hiểu thêm một chút những thách thức của từng người. RFI : Vở kịch mang tên Hongaï nhưng người ta có cảm giác không có mối liên hệ nào với câu chuyện gián điệp. Tuy nhiên, khi xem vở kịch, người ta hiểu rằng đó là nơi câu chuyện bắt đầu. La Belle Époque : Đúng vậy, Hòn Gai là nơi bà tôi sinh ra. Rồi Chiến tranh Đông Dương nổ ra, bà rời Đông Dương vào năm 1951 cùng với gia đình. Và họ chưa bao giờ trở lại, mặc dù nơi đó là cả tuổi thơ của họ. Tôi lớn lên đắm chìm trong câu chuyện phi thực dân hóa giữa Pháp và Việt Nam. Và sự kiện đó đã truyền cảm hứng cho câu chuyện này bởi vì cuộc sống của bà tôi và người thân bị đảo lộn bởi những sự kiện của thế kỷ 20. Tôi không muốn kể câu chuyện của tổ tiên mình, mà là câu chuyện của tất cả những người đã sống qua những biến động lớn, các cuộc chiến tranh thế giới, Chiến tranh Lạnh, phi thực dân hóa… Và đó chính là nguồn cảm hứng cho câu chuyện. Vậy nên, tên vở kịch là Hongaï như một lời tri ân. Và nó như một lời mời chu du, cho nên tấm áp phích của vở kịch được lấy hình ảnh vịnh Hạ Long. Thực ra, đúng như chị nói, người ta hiểu được ý nghĩa khi xem vở kịch. Tôi muốn nói với khán giả rằng trong câu chuyện Hongaï, đó là nơi mọi thứ bắt đầu và cũng là nơi mọi thứ kết thúc. RFI : Tên của đoàn kịch Collectif Rue 46 cũng gây tò mò. Tại sao lại là tập thể - collectif ? Và tại sao lại là Rue 46 ? Franck Milin : Nhóm đã tồn tại khoảng mười năm. Tại sao lại là “tập thể” mà không phải là “hội”, bởi vì đó là một gia đình phát triển qua từng dự án. Tôi coi đó là một gia đình mà vai trò của mỗi người không phải là cố định. Nghĩa là, họ có thể là diễn viên trong dự án này, rồi lại là đạo diễn trong một dự án khác, hoặc là quản lý sân khấu hoặc thiết kế bối cảnh. Có nghĩa là vai trò luôn luôn thay đổi. La Belle Époque : Ví dụ, tôi đóng trong Richard III của Shakespeare. Tôi đóng cùng Franck và Cyrielle Buquet, hai nghệ sĩ đóng nhân vật chính trong Hongaï. Chúng tôi vẫn đổi vai tùy theo dự án. Franck Milin : Và tên của nhóm ra đời từ trải nghiệm sân khấu đầu tiên mà chúng tôi thực hiện cùng nhau, đó là vở 46, Wessex Grove, được Jean-Philippe Brayé chuyển thể và đạo diễn từ tác phẩm The Homecoming của Harold Pinter. Và đó là lý do tại sao tên của nhóm được gọi là Collectif Rue 46. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn La Belle Époque và Franck Milin, đoàn kịch Collectif Rue 46.
Từ năm 1954-1974, khoảng 44.000 người hồi hương từ Đông Dương được đón ở Pháp. Hơn 6.000 người bị “nhốt” trong bốn “trung tâm” trên nền doanh trại cũ, bị quản lý kiểu quân đội, đặc biệt là Sainte-Livrade-sur-Lot và Noyant d'Allier. Họ bị xâm phạm quyền tự do cá nhân, không được ra ngoài nếu không được phép. Họ sống bấp bênh, co cụm và bị đối xử dè chừng. 70 năm chịu bất công, 20 năm đấu tranh, cuối cùng những người hồi hương Đông Dương đã được bù đắp. Trong ba ngày từ 15 đến 17/08/2025, hiệp hội CEP-CAFI (Collectif des Eurasiens pour la préservation du Cafi de Sainte-Livrade) tổ chức lễ tưởng niệm tại trại Sainte-Livrade-sur-Lot và thông tin cho con cháu, người thân về dự luật Quốc gia công nhận những người hồi hương từ Đông Dương và bồi thường thiệt hại do họ và gia đình bị tiếp đón tệ bạc và phải sống trong điều kiện khắc khổ trên lãnh thổ Pháp, đặc biệt là ở ba trại Bias, Sainte-Livrade-sur-Lot và Noyant-d'Allier. Dự luật liên đảng, do dân biểu đảng Xã Hội Olivier Faure đề xuất, đã được thông qua ở Hạ Viện ngày 03/06/2025 và chờ được Thượng Viện thông qua, dự kiến tháng 10, sau đó sẽ được ban hành bằng sắc lệnh. Để cha mẹ và những người hồi hương Đông Dương không còn là “những người cuối cùng bị Nhà nước Pháp lãng quên”, thế hệ con cháu đã mất hơn 20 năm đấu tranh, trong đó có ông Daniel Freche, hiện là chủ tịch hội CEP-CAFI. Năm 10 tuổi, ông đến Pháp cùng mẹ và các anh chị em vì cha ông là người Việt nên không thể đi cùng. Ông sống gần 20 năm trong trại, chuyển từ Bias đến Noyant d'Allier và cuối cùng là Sainte-Livrade-sur-Lot. Trả lời RFI Tiếng Việt ngày 02/07/2025, ông cho rằng “muộn còn hơn không” và giải thích tại sao “thắng lợi” này lại phải chờ lâu đến như vậy. RFI : Dân biểu Olivier Faure nói : Những người hồi hương Đông Dương “là những người cuối cùng bị lập pháp của Pháp lãng quên”. Phát biểu này có ý nghĩa như thế nào ? Tại sao đến bây giờ mới có một dự luật về người hồi hương Đông Dương ? Ông Daniel Freche : Dân biểu Olivier Faure không biết chuyện này. Tại sao gặp ông ? Tại vì ông cũng là con cái người hồi hương Đông Dương, cha mẹ cũng làm bên Pháp. Thứ hai là mấy người đó là qua đây (Pháp) có gia đình nên đoàn tụ với gia đình liền. Còn chúng tôi qua đây không có gia đình nào nên bắt buộc phải ở trong trại. Lúc mọi chuyện đã xong, tại sao lại đi gặp ông Faure ? Tại vì chúng tôi biết ông cũng là người hồi hương Đông Dương. Những người này hiểu chuyện hơn những người Pháp khác, cho nên gặp ông, cắt nghĩa câu chuyện cho ông biết. Gặp ông, cắt nghĩa cho ông tại sao 70 năm sau mới hỏi. Tại vì trước đây, cha mẹ chúng tôi không đòi hỏi gì hết. Nghèo thì nghèo, ở theo cách nghèo thôi, mà cần nhất là lo mấy đứa con cháu ra trưởng thành, có việc làm, có tương lai. Lúc đó họ lo lắng cho chúng tôi ăn học đàng hoàng. Rồi chúng tôi ra trường, đi làm, tới lúc đó mới suy nghĩ lại : Tại sao cũng là người Pháp, có quốc tịch Pháp, qua bên đây cũng đi theo Pháp, làm cho Pháp mà không được hưởng gì hết ? Còn những người “boat people” ngày trước, qua đây được người ta lo lắng đàng hoàng tử tế từ đầu tới cuối, tới khi họ ra khỏi trại thì thôi. Nhưng tại sao để cho những người hồi hương Đông Dương ở trong trại ? Chuyện đó, đối với chúng tôi, là không đúng. Đọc thêm"Lính thợ Đông Dương" : Những người lính thầm lặng tại Pháp trong Thế Chiến II Cho nên phải cắt nghĩa cho ông Faure hiểu. Chúng tôi muốn hỏi ông có thể làm gì để những người hồi hương Đông Dương được bù đắp sau mấy chục năm. Ông mới hiểu chuyện và nói rằng bắt buộc phải làm một luật khác vì luật về người Harki (1) đã được thông qua nên không được. Và ông đồng ý thảo dự luật về những người hồi hương Đông Dương. Lúc đó chúng tôi nói bây giờ nếu làm được chúng tôi cũng cảm ơn nhiều lắm. Tại vì nếu làm được thì không phải là cho chúng tô,i mà trước hết là cho cha mẹ chúng tôi, vì chúng tôi muốn ghi công họ. Ông Faure cho biết thế nào cũng làm được vì chuyện đó là đúng. Tại sao mình ở một đất nước tự do, bình đẳng, bác ái mà lại không làm được việc đó ? RFI : Dân biểu Nicolas Ray cũng phát biểu : “Nhà nước Pháp lẽ ra đã phải đón nhận (những người hồi hương Đông Dương) một cách xứng đáng hơn”. Những người hồi hương Đông Dương là ai ? Họ phải sống trong điều kiện như thế nào sau khi đến Pháp ? Ông Daniel Freche : Ông Nicolas Ray là người Pháp, chứ không phải người ở Đông Dương về. Ông đến gặp mọi người ở trại Noyant d'Allier, ông biết là người ta sống cũng không giống người khác, không được sống đàng hoàng. Ông quan tâm đến những người trong trại, bởi vì những người đó chỉ có lo ăn, lo đi làm, lo tương lai cho con cái. Người Việt Nam mình là như vậy, ở Noyant hay ở Sainte-Livrade đều giống nhau hết. Bên Noyant d'Allier cũng chịu hoàn cảnh như chúng tôi, trong khi nhiều người ở Noyant còn có cha mẹ, có bố, còn ở trại Sainte-Livrade là những người không có bố, chỉ có mỗi mẹ hoặc không cha mẹ, cho nên đâu có được ra khỏi trại sớm được, bắt buộc phải nuôi con. Chừng nào con lớn lên, tới lúc đó mới được ra. Nhưng đến lúc được ra rồi, đâu có đi đâu, bởi vì 20 năm sau, 30 năm sau, 50 năm sau, người ta vẫn giữ thói quen sống giống bên Việt Nam, ăn uống, nấu nướng, muốn đi qua đi lại nói chuyện như người Việt Nam mình. Nếu ra ngoài thì người ta đâu được sống giống như vậy. Người ta sợ mất thói quen sinh hoạt. Ít người muốn rời khỏi trại đó, cho nên những người lớn tuổi ở lại. Ông Nicola Ray nói rằng nếu đối đãi với người Pháp không đàng hoàng thì ông phải làm. Ông nói ông là người Pháp, ông không thể nào để những người hồi hương Đông Dương sống như vậy được. Ông cũng tìm hiểu để nói với ông Olivier Faure là phải giúp ra một luật về vấn đề này. Luật này rất lớn vì đây là lần đầu tiên có một luật như vậy kể từ 1954 tới bây giờ, có nghĩa là 70 năm sau. Đáng lẽ luật phải được ra trước đó nhưng giờ có luật này, chúng tôi mừng lắm. RFI : “Điều bất công kéo dài đã 70 năm”. “Thắng lợi” này có ý nghĩa như thế nào với những người hồi hương từ Đông Dương và hiện giờ là gia đình, con cháu của họ ? Ông Daniel Freche : Chúng tôi cần nhất luật này là cho cha mẹ chúng tôi, sự công nhận của Nhà nước cho cha mẹ chúng tôi. Cái đó là cần nhất. Thứ hai là phải đền ơn những người, từ mấy chục năm nay, phải sống cực khổ, chứ không sướng gì. Qua bên đây (Pháp) mà không biết tiếng Pháp, đâu có làm được gì, chỉ lo cho con thôi. Cho tới lớn, ăn học xong thì mấy người con đó đi làm có tiền, rồi mới lo cho gia đình. Mẹ của chúng tôi ở Sainte-Livrade làm như thế. Thành ra chúng tôi nói bây giờ chính phủ phải đền ơn dùm 70 năm đó, chúng tôi sống trong cảnh khó khăn đó, nên phải bồi thường. Nếu những người đã mất, giống như cha mẹ chúng tôi đã mất, thì bây giờ phải đền cho mấy đứa nhỏ. Tại họ cũng ở trong trại nó. Bồi thường, đó chỉ là khoản sửa chữa vậy thôi, chứ thực ra cũng không đáng gì : Người ta ở đó 70 năm, họ lại còn là người Pháp nữa. Thành ra bây giờ chúng tôi nói đền bù, điều đó là cũng đúng. Đọc thêmChiến tranh Đông Dương : Vị đắng ngày trở về Thứ hai, phải có một chỗ gọi là “nơi tưởng niệm” (lieu de mémoire). Đây là việc cần nhất. Tại sao ? Tại vì cha mẹ chúng tôi mất hết, chết cũng chỗ đó, chôn cũng chỗ đó. Cho nên bây giờ chúng tôi muốn làm một ngôi đền thật lớn cho cha mẹ. Họ đâu có muốn được ghi công đâu, nhưng nhờ có luật, lập được nơi tưởng niệm. Cho nên chỗ đó lớn lắm. Bây giờ những người con muốn về thăm mộ, về thăm quê hương nơi hồi nhỏ mình ở, nhớ lại hồi đó ăn uống làm sao, bạn bè mình ra sao, chơi như thế nào…, những câu chuyện đó, mình kể lại cho những người bạn, những người bạn Pháp muốn xuống tìm hiểu tại sao 70 năm sau mới làm chuyện đó. Bây giờ cũng phải cắt nghĩa cho họ biết : Mình là người Việt Nam chứ không phải là người Pháp, cái gì cũng đòi hỏi. RFI : Luật đã được thông qua ở Hạ Viện ngày 03/06/2025 và được đưa lên thảo luận ở Thượng Viện. Xin ông cho biết các bước tiếp theo sẽ như thế nào ? Ông Daniel Freche : Luật đã được thông qua ở Hạ Viện ngày 03/06, tất cả nghị sĩ đã đồng lòng thông qua. Đó là một chiến thắng lớn cho chúng tôi tại vì làm cho các dân biểu thông qua được luật đó. Đọc thêmPháp và Chiến tranh Đông Dương : “Lối thoát danh dự” hay “ô nhục” Thứ hai là hiện giờ, luật đã thông qua ở Hạ Viện rồi nhưng chưa xong tại vì còn phải được thông qua ở Thượng Viện, tháng 10 họp lại, mới bỏ phiếu luật đó, sau đó được đưa trở lại Hạ Viện để thông qua và chính phủ ban hành sắc lệnh để bồi thường cho những người hồi hương Đông Dương. Ít nhất là cũng phải ba bốn tháng nữa. Chúng tôi đợi 70 năm rồi, bây giờ thêm ba, bốn tháng nữa, đối với chúng tôi là không nhiều. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn ông Daniel Freche, chủ tịch hội CEP-CAFI. (1) Luật ngày 23/02/2022 về việc Quốc gia công nhận những người Harki và những người khác hồi hương từ Algérie lại không có những người hồi hương từ Đông Dương. Người harki, người Hồi giáo Algérie được tuyển dụng làm lực lượng hỗ trợ cho quân đội Pháp trong Chiến tranh Algérie (1954-1962). Ngoài CEP-CAFI còn có hội ARINA (l'Association des Rapatriés d'Indochine de Noyant d'Allier (Arina) và FNR (Fédération Nationale des Rapatriés)
Nga đã tấn công thủ đô Kyiv của Ukraine và làm ngơ yêu cầu của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, về việc đồng ý ngừng bắn. Cuộc tấn công bằng máy bay không người lái và tên lửa, là hành động mới nhất trong làn sóng tấn công của Nga vào Ukraine, khi lực lượng của họ đang tiến quân về phía đông đất nước.
Đâu là những nguyên nhân dẫn đến Thế chiến thứ Nhất? | Hải Stark | Thế GiớiVideo này được chuyển thể từ bài viết gốc trên nền tảng mạng xã hội chia sẻ tri thức Spiderum
________Toàn bộ diễn biến Thế chiến thứ Nhất trong 87 phút Hải Stark | Thế GiớiVideo này được chuyển thể từ bài viết gốc trên nền tảng mạng xã hội chia sẻ tri thức Spiderum
Cuộc tìm kiếm những nạn nhân tại Srebrenica vẫn tiếp diễn, 30 năm sau thảm kịch được xem là tàn bạo nhất châu Âu, kể từ sau Đệ nhị Thế Chiến. Khoảng một ngàn thi thể của những người bị sát hại trong vụ thảm sát năm 1995, vẫn chưa được định danh. Khi thêm nhiều nạn nhân trong vụ tàn sát Srebrenica được đưa về an nghỉ, khi một cuộc triển lãm mới xuất hiện như một sự tưởng niệm, dành cho những người phụ nữ, đã không ngừng tìm kiếm sự thật về những gì đã xảy ra.
Sáng nay 4/6, nhiều đơn vị trong toàn quân tổ chức Lễ tuyên thệ Chiến sỹ mới. Đây là mốc son trong cuộc đời quân ngũ, ghi nhận bước trưởng thành của chiến sỹ, sau khi hoàn thành chương trình huấn luyện tân binh nhập ngũ năm 2025, chính thức trở thành chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam.
Video này được chuyển thể từ bài viết gốc trên nền tảng mạng xã hội chia sẻ tri thức Spiderum
VOV1 - Trong hơn 1.400 Bí thư chi bộ các thôn, bản, khu phố tại Quảng Ninh vừa được bầu tại Đại hội nhiệm kỳ 2025-2027, có không ít gương mặt lứa tuổi thanh niên, thậm chí là Gen Z (năm sinh 1997 - 2012).
Công tác Đảng ở biên giới gặp nhiều khó khăn đặc thù hơn so với đô thị. Các bí thư chi bộ ấp vùng biên thường kiêm nhiệm vai trò trưởng ấp. Họ là những người luôn hết lòng với công việc, là tấm gương cho thế hệ trẻ ở địa phương phấn đấu đứng vào hàng ngũ của Đảng.
Ông Tô Lâm, tổng bí thư, chủ tịch nước Việt Nam hiện nay, là người triển khai chiến dịch "đốt lò" của cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Chiến dịch dữ dội dường như khiến nước láng giềng Trung Quốc lo ngại về những "biến động chính trị chưa từng có ở Việt Nam". Việc một quan chức thuộc bộ Công An, không giàu kinh nghiệm đối ngoại, nắm giữ hai chức vụ cao nhất trên thượng tầng lãnh đạo cũng khiến Bắc Kinh không khỏi bồn chồn về đường lối "ngoại giao cây tre". Tuy nhiên, khoảng hai tuần sau khi được bầu làm tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Tô Lâm dành chuyến công du nước ngoài đầu tiên đến Trung Quốc, trấn an rằng Hà Nội "luôn coi trọng và ưu tiên" quan hệ với Bắc Kinh.Chuyến công du cấp nhà nước của ông Tô Lâm còn có ý nghĩa như nào trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước ? Trung Quốc trông đợi gì vào các nhà lãnh đạo Việt Nam ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên trường Sư phạm Lyon (École normale supérieure de Lyon), Pháp.RFI : Khoảng hai tuần sau khi được bầu làm tổng bí thứ đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Tô Lâm dành chuyến công du nước ngoài đầu tiên đến Trung Quốc. Liệu đây có phải là tín hiệu trấn an đến Bắc Kinh dù Hà Nội tăng cường mối liên hệ với Washington và nhiều nước đồng minh khác của Mỹ ?Laurent Gédéon : Tôi nghĩ đây quả thực là một tín hiệu tích cực gửi đến Bắc Kinh. Theo tôi, có 5 yếu tố cho thấy điều này. Thứ nhất, chuyến thăm cấp Nhà nước của ông Tô Lâm tại Trung Quốc từ ngày 18 đến 20/08/2024 nằm trong khuôn khổ tiếp nối chính sách về Trung Quốc được người tiền nhiệm Nguyễn Phú Trọng gây dựng. Ông Trọng đã công du Trung Quốc tháng 10/2022.Thứ hai, chuyến thăm này còn có ý nghĩa biểu tượng mạnh mẽ. Trước tiên, ông Tô Lâm là nhà lãnh đạo đầu tiên của Việt Nam, từ thời Hồ Chí Minh, đến Trung Quốc với tư cách vừa là chủ tịch nước vừa là tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam. Tiếp theo, lễ đón tiếp long trọng ông Tô Lâm đã cho thấy chính quyền Trung Quốc coi trọng sự kiện này như thế nào (21 phát đại bác được bắn để chào mừng ông Lâm, đích thân ngoại trưởng Vương Nghị đón ông ở sân bay). Cuối cùng, năm 2024-2025 mang đầy ý nghĩa biểu tượng mạnh vì năm 2024 kỷ niệm tròn 100 năm chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Quảng Đông và năm 2025 sẽ đánh dấu 75 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc, cũng như kỷ niệm 95 năm ngày thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam.Thứ ba, phải nhắc đến những phát biểu mạnh mẽ từ cả hai phía nhấn mạnh đến quan hệ mật thiết Việt-Trung. Chủ tịch Tập Cận Bình nhắc đến sự hình thành một “cộng đồng chung vận mệnh có tầm quan trọng chiến lược giữa Trung Quốc và việt Nam” và nói thêm rằng Bắc Kinh “luôn coi Việt Nam là hướng ưu tiên trong ngoại giao láng giềng”. Còn ông Tô Lâm trấn an người đồng cấp Trung Quốc rằng đảng và đất nước Việt Nam “luôn coi sự phát triển mối quan hệ với Trung Quốc là ưu tiên tuyệt đối trong chính sách đối ngoại”. Đọc thêm : Tổng bí thư Việt Nam Tô Lâm đi Trung Quốc, chuyến công du nước ngoài đầu tiên từ khi nhậm chứcThứ tư là có mối quan hệ chặt chẽ về ý thức hệ giữa hai chế độ. Điểm này được xác nhận trong tuyên bố chung ngày 20/08 nhấn mạnh rằng “hai nước cam kết tăng cường trao đổi thông tin và chia sẻ kinh nghiệm về mặt chống can thiệp, chống ly khai, phòng chống “cách mạng màu”, cùng bảo vệ an ninh chính trị và an toàn cho chế độ (…)”. Cũng như “hai bên đề cao trao đổi và hợp tác trong lĩnh vực nhân quyền dựa trên công bằng và tôn trọng lẫn nhau, phản đối mạnh mẽ “chính trị hóa”, “công cụ hóa” và tiêu chuẩn kép trong vấn đề nhân quyền, đồng thời kiên quyết phản đối việc lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác”.Thứ năm là có sự hòa hoãn tương đối ở cấp độ quân sự. Tuyên bố chung nhấn mạnh : “Hai bên khẳng định hợp tác quốc phòng - an ninh là một trong những trụ cột của quan hệ Việt-Trung ; nhất trí tăng cường hợp tác quốc phòng - an ninh ; tăng cường giao lưu các cấp giữa quân đội hai nước ; làm sâu sắc giao lưu biên phòng, hải quân, cảnh sát biển”.RFI : Nhìn rộng hơn, những yếu tố tích cực đó diễn ra trong bối cảnh như thế nào ?Laurent Gédéon : Khía cạnh tích cực đó diễn ra trong bối cảnh chung, được đánh dấu bởi ba hạn chế quan trọng đối với Việt Nam.Hạn chế thứ nhất là kinh tế. Nổi bật trong tình hình hiện nay là sự phụ thuộc ngày càng lớn từ một thập niên qua của nền kinh tế Việt Nam vào Trung Quốc. Đa số các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đến từ Trung Quốc bởi vì các doanh nghiệp Trung Quốc chuyển dịch sản xuất để tránh thuế quan của Mỹ. Khối lượng nhập khẩu có nguồn gốc Trung Quốc đã tăng từ gần 30 tỉ đô la vào năm 2013 lên thành 110 tỉ đô la vào năm 2023 trong khi xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc tăng từ 15 tỉ lên thành 60 tỉ trong cùng thời điểm.Yếu tố thứ hai là những bất trắc liên quan đến Hoa Kỳ. Trước những bất trắc về cuộc bầu cử tổng thống Mỹ sắp tới, Hà Nội phải cân nhắc cách hợp tác về kinh tế và quân sự với Donald Trump hoặc Kamala Harris năm 2025. Thêm vào đó là việc xích lại gần với Mỹ luôn được đặt trong điều kiện cơ bản của Việt Nam là bảo toàn chế độ cộng sản. Đây là một điểm khiến Hà Nội xích lại gần Bắc Kinh. Tuy nhiên một bộ phận trong giới chính trị Mỹ lại rất nhạy cảm về những vấn đề liên quan đến nhân quyền, các quyền tự do cá nhân, cho nên tỏ ra nghi ngờ về chính sách tăng cường hợp tác an ninh đang được triển khai với Việt Nam. Sự ngờ vực tiềm ẩn này cản trở sự xích lại gần nhau giữa hai nước.Yếu tố thứ ba là sự bó buộc về địa lý. Có chung 1.400 km đường biên giới trên bộ với Trung Quốc, Việt Nam phải tính đến sự gần gũi về mặt địa lý này và điều này cũng tiềm ẩn việc Trung Quốc luôn có khả năng gây áp lực đối với Việt Nam. Đọc thêm : Tô Lâm, tân lãnh đạo cứng rắn của Việt Nam thiên về tư bảnRFI : Ngoài ra, liệu chuyến thăm cũng là cách để trấn an Bắc Kinh về sự ổn định chính trị sau khi đảng Cộng Sản Việt Nam có lãnh đạo mới và hàng loạt xáo trộn trong chính phủ do chiến dịch chống tham nhũng ?Laurent Gédéon : Đây là một giả thuyết không thể loại trừ. Bắc Kinh bận tâm rõ ràng đến việc Việt Nam và Mỹ sưởi ấm mối quan hệ, cũng như cuộc chống tham được tiến hành dưới thời tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Chiến dịch này đã khiến 7 thành viên trên tổng số 18 ủy viên Bộ Chính Trị năm 2021 bị khai trừ và hai người tiền nhiệm của chủ tịch nước Tô Lâm bị cách chức, đó là ông Nguyễn Xuân Phúc và Võ Văn Thưởng.Chiến dịch chống tham nhũng này cũng gây ra nhiều quan ngại về khả năng một cuộc khủng hoảng kế thừa quyền lực, cũng như gia tăng bất ổn thường trực. Trung Quốc dè chừng một nước Việt Nam bất ổn ngay sát biên giới sẽ có thể trở thành cửa ngõ cho các thế lực có khả năng thù nghịch với Bắc Kinh.Tình hình hiện này dường như đã được ổn định. Hiện giờ Bộ Chính Trị có 16 thành viên, trong đó có 5 người đến từ bộ Công An và 3 người thuộc Quân Đội. Sự phân chia này cho thấy rõ là trọng tâm giờ đây được tập trung vào việc kiểm soát xã hội và an ninh. Thông qua đó cũng có thể thấy một thông điệp nhằm trấn an các đối tác về sự ổn định chính trị trong tương lai của đất nước.Tuy nhiên, dù chiến dịch chống tham nhũng có vẻ đã đạt được mục đích là củng cố quyền lực của ông Tô Lâm nhưng vẫn phải tính đến khả năng các bên đối lập trong nội bộ đảng hợp lực lại để phản đối việc xác nhận ông Lâm làm người kế nhiệm ông Trọng trong đại hội đảng Cộng Sản lần thứ 14 sẽ diễn ra vào năm 2026. Do đó, giai đoạn tiếp theo này chắc chắn sẽ được Bắc Kinh đặc biệt chú ý. Đọc thêm : Việt Nam : Quyền lực cá nhân tân tổng bí thư không làm thay đổi “ngoại giao cây tre” RFI : Trung Quốc trông đợi những gì vào các nhà lãnh đạo mới của Việt Nam ?Laurent Gédéon : Tôi nghĩ trước tiên phải nói một chút về tổng quan tình hình địa-chính trị chung của Trung Quốc bối cảnh chính trị tế nhị trên thế giới hiện nay. Bắc Kinh chọn xích lại gần với một loạt quốc gia, kể cả Nga. Mục đích là để lật lại trật tự thế giới có từ thời Thế Chiến II mà họ coi là do phương Tây chiếm lĩnh. Hơn nữa, ý định xem xét lại trật tự vốn có đó đã được Bắc Kinh tái khẳng định nhiều lần, như trong chuyến thăm chính thức Trunng Quốc của tổng thống Nga Vladimir Putin vào tháng 05/2024.Lập trường này của Trung Quốc lại vấp phải sức ép ngày càng lớn từ Hoa Kỳ và các nước đồng minh ở châu Á, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Philippines. Thêm vào đó phải kể đến tranh luận hiện tại về việc mở rộng khối NATO sang Đông Á và vùng Thái Bình Dương. Điều này cho thấy sự thay đổi về tầm nhìn chiến lược của Mỹ dường như ngày càng coi Trung Quốc và Nga là một khối đồng nhất và cần phải có cách đáp trả toàn diện.Trên thực địa, sức ép của Mỹ ngày càng gia tăng từ nhiều tháng qua, thông qua các cuộc tập trận chung Mỹ-Hàn Quốc-Nhật Bản, một chính sách mang tính chủ động hơn của Philippines hoặc sự ủng hộ ngày càng rõ ràng của Washington đối với Đài Loan. Trong bối cảnh đó, điều quan trọng đối với các nhà lãnh đạo Trung Quốc là không muốn thấy bùng thêm một điểm căng thẳng mới có thể tạo điều kiện cho Mỹ can thiệp vào khu vực.Chính vì thế Bắc Kinh coi trọng việc củng cố quan hệ chính trị và chiến lược với Hà Nội, phát triển mối liên hệ hài hòa với nước láng giềng. Trông đợi này của Trung Quốc dường như gặp được phản hồi tích cực từ Hà Nội thông qua hàng loạt cử chỉ thiện chí. Đối với Trung Quốc, việc Việt Nam duy trì chính sách cân bằng ngoại giao giữa các cường quốc chắc chắn là giải pháp tốt nhất. Và đây là việc mà Việt Nam tiến hành vì là nước duy nhất đón nguyên thủ của cả ba cường quốc quân sự Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nga chỉ trong một năm. Đọc thêm : Biển Đông : Việt Nam - Trung Quốc cam kết giải quyết tranh chấp thông qua “hiệp thương hữu nghị”Ngoài ra, chính sách "Bốn Không" được nêu rõ trong Sách trắng Quốc phòng 2019 (không tham gia liên minh quân sự ; không liên kết với nước này để chống nước kia ; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác ; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế) đảm bảo chắc chắn với Trung Quốc rằng Việt Nam sẽ không phải là bên tham gia vào một cuộc xung đột, ví dụ có thể là giữa Trung Quốc và Philippines hoặc thậm chí là giữa Trung Quốc và Nhật Bản hay Trung Quốc và Mỹ.RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên trường Sư phạm Lyon (École normale supérieure de Lyon), Pháp.
Video này được chuyển thể từ bài viết gốc trên nền tảng mạng xã hội chia sẻ tri thức Spiderum
- Bác Hồ đã đi xa, nhưng hình ảnh của Bác luôn khắc sâu trong tim của mỗi người dân Việt Nam. Với bà Cầm Thị Chiêu, nữ giáo viên dân tộc Thái đầu tiên của tỉnh Sơn La, nguyên Phó Trưởng Ty giáo dục Sơn La, kỷ niệm về 2 lần được gặp Bác Hồ, cùng những lời căn dặn của Bác luôn khích lệ bà góp sức mình cho sự nghiệp giáo dục, xây dựng quê hương ngày thêm giàu đẹp. Tác giả : Bích Thuỷ Chủ đề : Bác Hồ, mãi trong tim --- Support this podcast: https://podcasters.spotify.com/pod/show/vov1sukien/support
Putin cảnh báo xung đột toàn cầu khi Nga kỷ niệm chiến thắng Thế Chiến II; Tàu chiến Trung Quốc lên kế hoạch thăm Campuchia; Các đại sứ EU đồng ý dùng lợi nhuận từ tài sản bị phong tỏa của Nga cho Ukraine; Lực lượng Israel tập trung ở ngoại ô Rafah; Mỹ cảnh báo có thể dừng chuyển giao vũ khí.
- 70 năm sau Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, nhưng những ký ức hào hùng về những tháng ngày vô cùng khó khăn vất vả để làm nên chiến thắng chấn động năm châu, lừng lẫy địa cầu vẫn in đậm trong tâm trí những người lính năm xưa trên quê hương đất Tổ. Sau chiến thắng lịch sử đó, có người tiếp tục vững tay súng để tham gia các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, người về quê hương làm kinh tế, nhưng ở vị trí nào những người lính năm xưa vẫn luôn phát huy phẩm chất bộ đội Cụ Hồ, luôn gương mẫu đi đầu trong mọi phong trào. Phóng sự của Minh Long ghi nhận về những chiến sĩ Điện Biên năm xưa nêu gương trong thời bình. Chủ đề : Điện Biên Phủ, Phú Thọ, 70 năm chiến thắng Điện Biên, --- Support this podcast: https://podcasters.spotify.com/pod/show/vov1sukien/support
- Trong những năm qua từ sự gương mẫu, đi đầu của đội ngũ Bí thư chi bộ, việc xây dựng nông thôn mới trong vùng dân tộc thiểu số của tỉnh Kon Tum có nhiều khởi sắc, cuộc sống và lao động sản xuất của người dân chuyển biến tích cực, đặc biệt là các buôn làng ở vùng sâu, vùng xa. Chủ đề : xây dựng, nông thôn mới --- Support this podcast: https://podcasters.spotify.com/pod/show/vov1sukien/support
- Sáng nay, tại Hà Nội diễn ra Lễ kỷ niệm Ngày Thế giới phòng chống lao (24/3/2024) với chủ đề “Đúng! Việt Nam có thể chấm dứt bệnh lao”. Chủ đề : bệnh lao, chiến thắng --- Support this podcast: https://podcasters.spotify.com/pod/show/vov1tintuc/support
- Không ngại khó khăn, nguy hiểm, luôn nhiệt tình, gần gũi, xông xáo khi dân cần, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, đó là tấm gương rất tiêu biểu của ông Đỗ Văn Nam Bí thư chi bộ, trưởng ấp Long Hòa B, xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Chủ đề : bí thư, chi bộ, tiền giang --- Support this podcast: https://podcasters.spotify.com/pod/show/vov1sukien/support
Trong sự kiệt quệ và tuyệt vọng của một trại tù binh Nhật Bản trên tuyến đường sắt tử thần Thái Lan-Miến Điện năm 1943, bác sĩ phẫu thuật người Úc Dorrigo Evans bị ám ảnh bởi mối tình với người vợ trẻ của dượng mình hai năm trước đó. Cuộc sống của anh là một cuộc chiến hằng ngày để cứu những người dưới quyền khỏi chết đói, khỏi dịch tả, khỏi những trận đòn tàn nhẫn. Thứ cứu rỗi chính anh, đôi khi, trong những ngày tháng ấy, chỉ là những ký ức ngắn ngủi về một đóa hoa trà, một đôi mắt xanh màu lửa ga, một mối tình khắc cốt ghi tâm nhưng bất khả. Richard Flanagan thể hiện trong Đường hẹp lên miền Bắc thẳm một tài năng tuyệt xảo đã đưa ông trở thành một trong những nhà văn đương đại được hoan nghênh nhất. Di chuyển khéo léo qua lại từ địa ngục trại tù của Nhật thời Thế Chiến II đến cảnh đời thường của nước Úc ngày nay, từ ngoại cảnh khủng khiếp đến nội tâm phức tạp và tinh vi, thiên tiểu thuyết đẹp một cách tàn khốc này đã kể một câu chuyện khác thường về nhiều dạng thức của tình yêu và cái chết, chiến tranh và sự thật, cái đẹp và nỗi kinh hoàng. Được sự cho phép của công ty sách Nhã Nam, Trạm Radio trích đọc truyện ngắn "Đường hẹp lên miền Bắc thẳm" của Richard Flanagan. Bản quyền tiếng Việt thuộc về công ty sách Nhã Nam. __________ Để cam kết với bạn nghe đài dự án Trạm Radio sẽ chạy đường dài, chúng tôi cần sự ủng hộ của quý bạn để duy trì những dịch vụ phải trả phí. Mọi tấm lòng đều vô cùng trân quý đối với ban biên tập, và tạo động lực cho chúng tôi tiếp tục sản xuất và trau chuốt nội dung hấp dẫn hơn nữa. Mọi đóng góp cho Trạm Radio xin gửi về: Nguyen Ha Trang STK 19034705725015 Ngân hàng Techcombank. Chi nhánh Hà Nội.
Israel là một trong những đối tác hợp tác thương mại, đầu tư và lao động quan trọng hàng đầu của Việt Nam ở Trung Đông. Khoảng 500 người Việt sinh sống và làm việc ở Israel. Là nước thứ 16 ký Hiệp định Thương mại Tự do với Việt Nam, Israel còn là nguồn cung cấp vũ khí, trang thiết bị quốc phòng giúp Hà Nội đa dạng hóa đối tác. Tuy nhiên, cuộc chiến Israel-Hamas đẩy Việt Nam vào thế “tế nhị” trong khi cả Israel và Palestine đều có mối quan hệ lịch sử với Việt Nam. Ngày 24/10/2023, tại Liên Hiệp Quốc, đại sứ Đặng Hoàng Giang đã kêu gọi các bên ngừng bắn ngay lập tức, kiềm chế tối đa, tôn trọng luật nhân đạo quốc tế, bảo đảm an toàn và thả ngay lập tức cho tất cả các con tin, giảm thiểu thiệt hại đối với cơ sở hạ tầng dân sự thiết yếu. Đại sứ Giang cũng nhấn mạnh lập trường của Việt Nam ủng hộ giải pháp hai Nhà nước với Đông Jerusalem là thủ đô của Nhà nước Palestine và dựa trên các đường biên giới trước năm 1967.Trả lời RFI Tiếng Việt, giáo sư Pierre Journoud, chuyên về lịch sử Việt Nam, Đại học Paul Valery - Montpellier 3 (Pháp), nhận định những phát biểu của đại sứ Giang phần nào “có lợi cho Palestine”. Nhưng nhìn chung Việt Nam “có lập trường khá trung lập, tương tự với nhiều nước trên thế giới”. Và điều này "thể hiện mong muốn bảo vệ luật pháp quốc tế và phù hợp với lợi ích của Việt Nam". Vậy Hà Nội duy trì quan hệ với Israel và Palestine như thế nào ? Giáo sư Pierre Journoud trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt.RFI : Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ với Israel trong thập niên 1990. Mối quan hệ song phương tiến triển như thế nào để Israel hiện trở thành một trong những đối tác quan trọng của Hà Nội ? GS Pierre Journoud : Tôi muốn ngược dòng thời gian một chút để hiểu thêm bối cảnh. Trái với chúng ta hình dung, Việt Nam có mối quan hệ với Israel từ lâu. Với Israel, đó là mối quan hệ “bạn hữu” giữa chủ tịch Hồ Chí Minh và David Ben-Gourion, được coi là nhà lập quốc Israel.Năm 1946, Hồ Chí Minh được tiếp đón trọng thể ở Paris với tư cách chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đến tham dự Hội nghị Fontainebleau. Tại Paris, Hồ Chí Minh gặp David Ben-Gourion, người sau này trở thành thủ tướng Israel giai đoạn 1948-1954 và 1955-1963. Lúc đó, chủ tịch Hồ Chí Minh thậm chí còn đề xuất đón Chính phủ Do Thái lưu vong ở miền bắc Việt Nam nhưng Ben-Gourion từ chối. Năm 1948, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua việc phân chia Palestine, cho phép thành lập Nhà nước Israel (14/05/1948) trên một phần lãnh thổ của Palestine. Nghị quyết này phần nào giống với đề xuất trước đó của Hồ Chí Minh.Đúng là mối quan hệ Việt Nam-Israel thực sự phát triển từ những năm 1990 vì trước đó bị Chiến tranh lạnh cản trở. Việt Nam theo Liên Xô, trong khi khối này bị Israel cáo buộc mang tư tưởng bài Do Thái. Trở ngại lớn đó chỉ được dỡ bỏ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc và liên minh gần như duy nhất của Việt Nam với Liên Xô chấm dứt. Việt Nam và Israel thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1993, đánh dấu một trang mới trong quan hệ giữa hai nước. Năm 2005, hai nước tổ chức đối thoại chính trị thường niên ở cấp ngoại trưởng. Đại sứ quán Việt Nam được mở ở Tel-Aviv năm 2009, sau 16 năm Israel mở đại sứ quán ở Hà Nội.Nếu đúng như thông tin tôi được biết, chuyến công du của tổng thống Shimon Peres năm 2011 dường như đánh dấu một bước ngoặt khi ông thuyết phục các nhà lãnh đạo Việt Nam về những tiềm năng, cơ hội phát triển kinh tế lớn mà mối quan hệ song phương có thể mang lại. Đây là điểm khá thú vị bởi vì ngoài Singapore - một trong những đồng minh châu Á thân cận nhất của Israel - Hà Nội là một đối tác quan trọng của Israel cho dù Việt Nam vẫn chống Israel trong khoảng 138 lần bỏ phiếu ở Liên Hiệp Quốc liên quan đến Nhà nước Do Thái kể từ năm 2015.Có thể thấy một sự “thiếu kết nối”, mà tôi thấy khá thú vị trong một số bài phân tích chuyên sâu : Một Nhà nước - ở đây là Việt Nam - vì những lý do liên quan đến tình đoàn kết với Palestine chống thực dân, chống đế quốc có từ thời chiến tranh Việt Nam, vẫn bỏ phiếu để chống lại Israel và các vấn đề liên quan đến Israel-Palestine ở Liên Hiệp Quốc. Nhưng điểm này đi ngược lại với mối quan hệ chính trị, đặc biệt là kinh tế, được phát triển sâu sắc và năng động từ nhiều năm nay giữa Israel và Việt Nam.RFI : Có thể thấy quốc phòng là một trong những chương trình hợp tác nổi bật nhất giữa Việt Nam và Israel. Gần đây, hai nước ký Hiệp định Thương mại Tự do ngày 25/07/2023. Nhìn chung, hai nước phát triển hợp tác trong những lĩnh vực nào ?GS Pierre Journoud : Đúng, đó là những lĩnh vực mà hai nước phát triển mối quan hệ đặc biệt hơn cả, ngoài ra phải kể thêm nông nghiệp và du lịch. Nhìn chung, hợp tác song phương được phát triển trong mọi lĩnh vực, kể cả công nghệ sinh học.Về kinh doanh, rất nhiều công ty Israel đầu tư vào Việt Nam, nhất là trong các ngành nông nghiệp, dược phẩm, công nghệ. Israel cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đào tạo nghề, khoa học-công nghệ, quản lý nông nghiệp ở cấp địa phương. Ở chiều ngược lại, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu và phát triển ở Israel. Tôi lấy ví dụ tập đoàn TH Group hợp tác với nhiều doanh nghiệp công nghệ Israel chuyên về sản xuất hệ thống vắt sữa tự động và hệ thống quản lý động vật.Thương mại song phương ngày càng gia tăng. Năm 2022, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với Israel đạt hơn 2 tỉ đô la, tăng 18% so với năm 2021, theo số liệu được báo chí trích dẫn. Thặng dư thương mại nghiêng hẳn về phía Việt Nam, Israel thâm hụt thương mại hơn 1 tỉ đô la. Israel chủ yếu xuất sang Việt Nam đồ điện tử, phân bón. Việt Nam xuất sang Israel hải sản, giầy dép, điện thoại di dộng. Israel là một trong 16 nước trên thế giới ký Hiệp định Thương mại Tự do với Việt Nam. Về phần mình, Việt Nam muốn tăng cường cơ sở sản xuất của nền kinh tế do muốn tìm cách giảm bớt phụ thuộc vào Trung Quốc.Lĩnh vực quốc phòng cũng là một mục tiêu khác trong hợp tác với Israel. Trung Quốc không gây lo ngại đến mức như Nga bởi vì kể từ khi xảy ra xung đột Nga-Ukraina, nhưng có lẽ trước cả lúc đó, Việt Nam đã tìm cách thoát khỏi các mối liên kết gần như độc quyền, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự. Nga là nhà cung cấp vũ khí và khí tài chính cho Việt Nam. Để đa dạng hóa nguồn cung, Việt Nam đã hướng đến Israel, đặc biệt là để bù đắp thiếu hụt kể từ khi xảy ra chiến tranh Ukraina, ví dụ mua các loại tên lửa địa đối không Spyder. Israel cũng bán cho Hà Nội các hệ thống giám sát và tình báo.Có thể thấy Israel - nằm trong số 10 nhà xuất khẩu vũ khí hàng đầu thế giới - hướng tới Việt Nam, nước trở thành một trong những khách hàng chính của Nhà nước Do Thái từ nhiều năm qua. Đặc biệt là từ những năm 2010, Việt Nam trở thành một trong những thị trường đầu ra chính cho ngành công nghiệp quốc phòng Israel, với tổng trị giá hợp đồng lên tới 1,5 tỉ đô la trong suốt thập niên 2010. Đây là một chuyển biến mới, Israel trở thành một trong những đối tác bán vũ khí quan trọng cho Việt Nam. Điều này cũng đặt ra vấn đề cạnh tranh cho Pháp, nước cũng tìm chỗ đứng trong lĩnh vực này, cũng như với Hoa Kỳ, quốc gia cũng muốn ký nhiều hợp đồng quy mô hơn với Việt Nam, trong bối cảnh căng thẳng với Trung Quốc và tận dụng quan ngại của Hà Nội trong việc đa dạng hóa đối tác kinh tế và quân sự.RFI : Song song đó, chúng ta cũng thấy Việt Nam duy trì mối quan hệ tốt với Palestine, dù không phát triển hẳn như với Israel trong những năm gần đây !GS Pierre Journoud : Tôi cho là mối quan hệ Việt Nam-Palestine vẫn chặt chẽ về chính trị nhưng không vững mạnh về kinh tế như với Israel. Điều này dễ hiểu vì sự phát triển kinh tế giữa Israel và Palestine chênh lệch nhau.Việt Nam và Palestine thiết lập quan hệ chính trị ngay năm 1968 vào lúc đỉnh điểm chiến tranh Việt Nam với cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Tôi thấy là gần đây báo chí cũng nhắc đến sự kiện Tết Mậu Thân khi nói đến vụ tấn công bất ngờ của Hamas, cho dù sự liên tưởng đó là khiên cưỡng. Nhưng điều thú vị là trong kí ức tập thể, khi có một vụ tấn công hay phản công bất ngờ, người ta lập tức liên tưởng đến sự kiện Tết 1968, tiếp theo là cuộc phản công với sức hủy diệt mà mọi người dường như đã quên lãng. Cần phải nhắc lại rằng Tổ Chức Giải Phóng Palestine (PLO), ra đời năm 1967 ngay sau Cuộc chiến Sáu ngày, đã đặt văn phòng ở Việt Nam năm 1976.Về phía Việt Nam, ngay sau khi thống nhất đất nước năm 1975, đã trở thành một trong những Nhà nước đầu tiên công nhận Nhà nước Palestine và thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 19/11/1988, ngay sau khi Palestine tuyên bố độc lập. Kể từ đó, Hà Nội luôn ủng hộ Palestine trong tiến trình hội nhập trong vùng và quốc tế. Ví dụ, năm 2012, Việt Nam ủng hộ nghị quyết cho phép Palestine được trao tư cách quan sát viên tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, tiếp theo là ủng hộ đơn xin gia nhập nhiều tổ chức quốc tế khác của Palestine, như UNESCO, Interpol…Cũng trong thời điểm đó, cựu tổng thống Yasser Arafat công du Việt Nam khoảng 10 lần cùng với nhiều thành viên của tổ chức PLO, lần cuối cùng là vào năm 2001. Người kế nhiệm Mahmoud Abbas cũng công du Việt Nam ngày 24/05/2010. Theo bình luận của báo chí thời đó, hai bên nêu những triển vọng hợp tác trong nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục. Tôi không nghiên cứu chi tiết vấn đề này nhưng dường như những thỏa thuận đó đã không tạo được những trao đổi lớn giữa hai nước.Một điều khá thú vị là vào tháng 05/2023, Việt Nam và Palestine đã ký ở Hà Nội một Biên bản ghi nhớ (MOU) trong lĩnh vực phòng chống và kiểm tra tội pháp xuyên biên giới, nhân chuyến công du của bộ trưởng Nội Vụ Palestine Ziad Hab Al-Rih. Trong buổi làm việc với bộ trưởng Công An Tô Lâm, cả hai bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác an ninh và trao đổi trong lĩnh vực này. Nhưng nhìn chung, hợp tác giữa hai nước tiến triển chậm, rất khiêm tốn trong lĩnh vực thương mại. Có thể thấy phát biểu của mỗi bên đều kêu gọi thúc đẩy hợp tác là dấu hiệu cho thấy mối quan hệ không được phát triển mạnh, dù có tiềm năng.Mối quan hệ này làm tôi liên tưởng tới quan hệ giữa Việt Nam và Algérie. Đó là mối quan hệ đoàn kết lịch sử được hình thành từ cuộc đấu tranh chung, trước tiên là chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân, sau đó là chống đế quốc Mỹ. Việt Nam thành “ngôi sao dẫn đường”, theo cách nói của nhà viết tiểu luận Frantz Fanon vì kháng chiến chống lại “cỗ xe ủi” Mỹ. Tất cả các tổ chức đấu tranh chống một lực lượng chiếm đóng thời đó, trong đó có Tổ Chức Giải Phóng Palestine của Yasser Arafat trong nửa sau thập niên 1960 - đầu những năm 1970, đều tỏ lòng ngưỡng mộ Việt Nam.Sau Chiến tranh Sáu ngày, tổ chức PLO đấu tranh chống Israel chiếm các vùng lãnh thổ không nằm trong phân định ban đầu được thông qua ở Liên Hiệp Quốc năm 1948. Điều thú vị là trong Cuộc chiến Sáu ngày này có sự tương đồng giữa chiến tranh Việt Nam và xung đột Israel-Ả Rập. Như tên gọi cho thấy cuộc chiến diễn ra ngắn ngày nhưng là một bước ngoặt. Đây cũng là một bước ngoặt đối với Pháp, vì tướng Charles de Gaulle, người lên án Mỹ năm 1966 can thiệp vào Việt Nam, đã chỉ trích Nhà nước Israel vi phạm luật pháp quốc tế khi chiếm đóng phi pháp các vùng đất của Palestine. Một chuyện khác có thể bị quên, đó là ngay sau khi Chiến tranh Sáu ngày kết thúc, một loạt đàm phán, hoàn toàn bí mật, do Pháp làm trung gian đã mở đường cho các cuộc đàm phán Mỹ-Việt tại Paris năm 1968. Có thể thấy sự trùng hợp ngẫu nhiên của lịch sử trở lại với thực tế hiện nay.Cuối cùng, tôi cho rằng có thể thoát khỏi cuộc khủng hoảng Israel-Palestine qua con đường đàm phán. Tôi nghĩ là Việt Nam có thể đóng một vai trò nào đó nhờ vào kinh nghiệm chiến tranh, cũng như kinh nghiệm đàm phán như tôi nêu ở trên. Với những kinh nghiệm đó, ngành ngoại giao Việt Nam có thể đóng một vai trò như họ vẫn mong muốn trong tiến trình hòa bình lâu dài ở Trung Đông, đặc biệt là trong cuộc xung đột Israel-Palestine hiện nay, được coi là kéo dài nhất và đau đớn nhất kể từ Thế Chiến II.RFI Tiếng Việt xin trân thành cảm ơn giáo sư lịch sử đương đại Pierre Journoud, Đại học Paul Valéry - Montpellier 3.
- Học và làm theo Bác với tinh thần “Đảng viên đi trước làng nước theo sau”, bí thư chi bộ thôn Nà Tông, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, Hoàng Văn Minh không chỉ gương mẫu trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; mà còn là người đi đầu trong việc phát triển du lịch cộng đồng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế ở địa phương. Chủ đề : Bí thư, chi bộ, Nà Tông --- Support this podcast: https://podcasters.spotify.com/pod/show/vov1sukien/support
Cuộc chiến tranh khốc liệt ở Ukraine đã khiến nhiều sinh mạng đã mất trong Thế chiến thứ nhất. 60.000 binh sĩ Úc thiệt mạng và 156.000 người bị thương, bị ngạt khí hoặc bị bắt làm tù binh. Vô số bia mộ, nghĩa trang và đài tưởng niệm trên khắp nước Pháp và Bỉ là minh chứng vượt thời gian cho sự tàn khốc của chiến tranh. Bây giờ có một động thái để chúng được công nhận là Di sản Thế giới của UNESCO.
Thế chiến I không phải là cuộc chiến tình cờ, mà là kết quả của chính sách nhà nước có chủ đích của Đế quốc Đức. Xem thêm.
Một cuộc nghiên cứu mới tìm thấy, một công nhân Úc làm việc toàn thời gian với mức lương tối thiểu, chỉ còn lại 57 đô la sau khi chi trả các chi phí thiết yếu hàng tuần. Những phát hiện này được đưa vào Chỉ số Chi phí Sinh hoạt đầu tiên, do tổ chức từ thiện Anglicare Australia biên soạn, cho thấy nhà ở là chi phí lớn nhất mà người Úc có thu nhập thấp nhất phải đối mặt.
Nếu thời gian có hạn và thiếu vắng khả năng lãnh đạo, thì triển vọng để Trung Quốc và Mỹ tìm cách chung sống hòa bình sẽ ra sao? Xem thêm.
Tại Bắc Kinh, người ta đã đi đến kết luận rằng Mỹ sẽ làm bất cứ điều gì để kìm hãm Trung Quốc. Còn tại Washington, người ta quả quyết rằng Trung Quốc đang âm mưu thay thế Mỹ trở thành cường quốc hàng đầu thế giới. Nếu muốn nghe một phân tích tỉnh táo hơn về cuộc cạnh tranh này, hãy ghé thăm văn phòng của Henry Kissinger. Xem thêm.
Thầy Minh Niệm l Tình yêu đích thực có thể chiến thắng mọi nỗi sợ l Trích Radio số 11 "Chỉ tình thương ở lại"
Rogue Heroes, chủ nghĩa anh hùng, tình yêu, tuổi trẻ, sự điên rồ, liều lĩnh nhưng quả cảm, tất cả có trong câu chuyện về một đơn vị chiến đấu vĩ đại nhất thế giới, SAS, được thành lập để nhảy dù và tấn công đường tiếp tế của quân Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Có một dây chuyền sản xuất xe tăng khác đã được lên kế hoạch ở châu Âu. Hyundai Rotem và Hanwha Defense của Hàn Quốc vừa giành được các hợp đồng vũ khí khổng lồ với Ba Lan vào năm 2022. Xem thêm.
Tổng thống Nga Vladimir Putin đã tuyên bố sáp nhập bốn tỉnh của Ukraine – Donetsk, Kherson, Luhansk, và Zaporizhzhia – vào cuối tháng 9. Nhưng việc làm đó là vô nghĩa. Vào thời điểm Putin đưa ra tuyên bố của mình, Nga không có toàn quyền kiểm soát bất cứ tỉnh nào trong số này... Tuy nhiên, Nga vẫn kiểm soát một tỉnh của Ukraine: Crimea. Xem thêm.
Việc mua sắm quá mức trước Giáng sinh năm nay, có thể đã lôi kéo mọi người chi tiêu nhiều hơn khả năng chi trả của họ. ‘Mua ngay Trả sau' – Buy Now Pay Later, hay các dịch vụ như ‘Trả sau' – Afterpay, đã được xem xét kỹ lưỡng, trong một nghiên cứu mới của Đại học Sydney. Nghiên cứu phát hiện ra rằng, các dịch vụ này không bảo vệ được những người sử dụng dễ rơi vào cảnh nợ nần kéo dài.
Hòa Thượng Tuyên Hóa Khai Thị - Quyển 5 Mục lục: 1. Thông Suốt Mọi Pháp-Niệm Quán Âm 2. Quán Thế Âm Bồ-tát Là Huynh Ðệ Của Chúng Ta 3. Khai Thị Thất A Di Ðà 4. Qui Củ Thiền Thất 5. Tham Thoại Ðầu-Dùng Vọng Tưởng Ðể Chế Phục Vọng Tưởng 6. Chân Thật Tu Hành, Chớ Buông Lung 7. Dùng Phương Pháp Ðiện Liệu Ðể Thanh Lọc Không Khí 8. Ma Tới Ðể Giúp Quý Vị Tu Ðạo 9. Tổ Sư Bồ Ðề Ðạt Ma Tới Trung Hoa 10. Bí Quyết Khống Chế Vọng Tưởng 11. Tham Thoại Ðầu 12. Cảnh Giới Thiền 13. Ngồi Thiền Có Thể Chấm Dứt Sinh Tử 14. Tu Hành Cần Phải Nhẫn Nại 15. Tham Thiền là Phương Pháp Khai Ngộ 16. Không Trừ Vọng Tưởng thì Chẳng Thể Khai Ngộ 17. Khai Ngộ Phải Ðược Ấn Chứng Mới Ðúng Pháp 18. Thiện, Ác Không Rời Một Niệm Ở Tâm Ta 19. Sự Tích Ngài Huyền Trang Ði Thiên Trúc Thỉnh Kinh 20. Tham Thiền Phải Hồi Quang Phản Chiếu 21. Thiền Ðường Là Ðạo Tràng Tuyển Phật 22. Thế nào là "Vô Tâm Ðạo Nhân"? 23. Tham Thiền Là Thực Tập Lục Ðộ Ba-La-Mật 24. Phải Thực Tập Công Ðức Vô Tướng 25. Sự Tích Xuất Gia Của Hòa Thượng Hư Vân 26. Sự Tích Xuất Gia Của Hòa Thượng Tuyên Hóa 27. Nhân Duyên Xuất Gia Của Hành Giả Quả Tá 28. Nhân Duyên Xuất Gia Của Hành Giả Quả Thuấn 29. Sáu Ðại Tông Chỉ Của Người Tu Ðạo 30. Tham Miết Sẽ Tự Nhiên Khai Ngộ 31. Tu Ðạo Không Nên Tranh Hơn 32. Mục Ðích Của Người Tu Hành Là Thành Phật 33. Hãy Chấm Dứt Vọng Tưởng! 34. Nhập Ðịnh Không Phải Là Ngủ 35. Kinh Lăng Nghiêm Là Kinh Ngụy Tạo Chăng? 36. Phải Thực Tập Bát Nhã Ba La Mật Ða 37. Người Tu Hành Không Ðược Nói Dối 38. Người Tu Hành Phải Chịu Khổ 39. Trừ Vọng Tâm, Giữ Chân Tâm 40. Khi Mê Thầy Ðộ, Khi Ngộ Tự Ðộ 41. Tham Thiền Phải Khắc Phục "Cửa Ðau" 42. Thế Nào Là Ðủ Tư Cách Tham Thiền 43. Thân Mang Bệnh Khổ Bởi Duyên Nào? 44. Tham Ðắm Cảnh Giới Thì Chiêu Cảm Ma Chướng 45. Cảnh Giới Tứ Thiền Thiên 46. Bí Quyết Của Tham Thiền 47. Kiếm Báu Của Kim Cương Vương Chặt Ðứt Vọng Tưởng Sơ Lược Tiểu Sử Hòa Thượng Tuyên Hóa Mười Tám Ðại Nguyện Của Hòa Thượng Tuyên Hóa Tám Quy Luật của Viện Phiên Dịch Kinh Ðiển == Đội Ngũ Bồ Đề Tâm http://bodetam.com.vn