POPULARITY
Tây Ban Nha đã vùng lên mạnh mẽ để vươn lên dẫn đầu bảng H, trong khi Cabo Verde lập kỷ lục với bàn thắng đầu tiên tại World Cup trong trận hòa đáng nhớ với Uruguay. Bỉ và Iran hòa nhau ở bảng G, trong khi Ai Cập lội ngược dòng đánh bại New Zealand. Xuân Ngọc cùng quý vị đến với những diễn biến sôi động trong ngày thi đấu thứ 11 của FIFA World Cup 2026.
Cú sốc lớn đầu tiên của FIFA World Cup đã đến, khi đội bóng được đánh giá cao nhất là Tây Ban Nha bị đội bóng tân binh Cape Verde cầm hòa. Thật khó tin, cả bốn trận đấu trong ngày thứ 5 đều kết thúc với tỷ số hòa - lần đầu tiên điều này xảy ra tại một kỳ World Cup trong 68 năm.
Đức Giáo hoàng Leo đã bắt đầu chuyến thăm Tây Ban Nha kéo dài sáu ngày, nơi ngài đã gặp gỡ các cấp chính quyền, trước bài phát biểu dự kiến trước quốc hội. Trong chuyến viếng thăm này, Đức Giáo hoàng đã đề cập đến sự trỗi dậy của trí tuệ nhân tạo, chủ nghĩa dân túy chính trị và xung đột toàn cầu. Đây là lần đầu tiên một vị Giáo hoàng đến thăm Tây Ban Nha trong 15 năm.
Laudetur Jesus Christus - Ngợi khen Chúa Giêsu KitôRadio Vatican hằng ngày của Vatican News Tiếng Việt.Nội dung chương trình hôm nay:0:00 Đức Thánh Cha gặp Quốc hội Tây Ban Nha tại trụ sở Hạ viện ở Madrid23:05 Đức Thánh Cha gặp các Giám mục Tây Ban Nha tại Madrid---Những hình ảnh này thuộc Bộ Truyền Thông của Toà Thánh. Mọi sử dụng những hình ảnh này của bên thứ ba đều bị cấm và dẫn đến việc đánh bản quyền, trừ khi được cho phép bằng giấy tờ của Bộ Truyền Thông. Copyright © Dicasterium pro Communicatione - Giữ mọi bản quyền.
Danh sách phim chiếu tại LHP Cannes lần thứ 79 đã đi một vòng trái đất, không chỉ đưa những câu chuyện viễn tưởng lên màn ảnh lớn mà cả những thước phim tài liệu chân thực, hé mở những câu chuyện chưa từng được tiết lộ, tranh giải l'Oeil d'Or (Con mắt vàng). Đáng chú ý là phim tài liệu những người hộ vệ Che Guevera cuối cùng còn sống sót trong chiến dịch ở Bolivia, do đạo diễn người Pháp thực hiện trong hơn 20 năm. Bằng cách kết hợp những hình ảnh tư liệu, lời chứng của các nhân vật và cả hoạt hình minh hoạ, phim tài liệu Les Survivants du Che của Chritophe Dimitri Reveille, đã tái hiện lại ký ức của những cựu chiến binh, những hộ vệ thân cận bên Che Guevara khi làm cách mạng ở Bolivia, trước khi vị anh hùng, biểu tượng của cách mạng Cuba bị hành quyết vào năm 1967. Cụ thể, Che Guevara đã bí mật thâm nhập Bolivia với khoảng 50 binh sĩ, là người Cuba, một số người Achentina, Bolivia và vài người Peru, đặt mục tiêu biến Bolivia thành bàn đạp cách mạng cho toàn Nam Mỹ, “tạo ra nhiều Việt Nam hơn nữa để thách thức đế quốc Mỹ”. Hành trình băng rừng, vượt suối được tái hiện lại đầy kịch tính nhưng cũng xúc động, mang chút tiếc nuối, xen lẫn ân hận khi không bảo vệ được Che. Hầu hết những chia sẻ này chưa từng được tiết lộ trên màn ảnh lớn. Giám đốc liên hoan phim Cannes Thierry Frémaux, hiện diện tại rạp chiếu phim cùng nhóm cộng sự của đạo diễn Christophe Dimitri Reveillé, khẳng định rằng “những bộ phim này mang lịch sử trở lại hiện tại”, “khiến chúng ta phải suy nghĩ về hiện tại”. Bộ phim được ra mắt giữa lúc Cuba đang kiệt quệ, hàng triệu người dân khốn khổ đang vật lộn từng ngày trước lệnh cấm vận của Hoa Kỳ. Ông Frémaux nhận định : “Đây là tác phẩm cả đời của một đạo diễn, không phải là một sử gia mà là một nhà làm phim”. Nếu như chuyện về Che Guevara hầu hết đều được biết đến rộng rãi thì câu chuyện về đội ngũ thân cận làm cách mạng cùng ông ở Bolivia lại không được kể nhiều, từ 50 ban đầu, chỉ còn vài người sống sót. Đạo diễn cũng nhắc nhở khán giả tại Pháp về những can thiệp của nước Pháp thời điểm đó, và vai trò của De Gaulle, đưa họ trở về Cuba an toàn vào năm 1968. RFI Tiếng Việt đã có dịp phỏng vấn đạo diễn người Pháp Christophe Dimitri Reveillé bên lề LHP Cannes. *** Đạo diễn đã mất hơn 22 năm để hoàn thành bộ phim tài liệu này. Đáng nói là ông đã từng viết sách, viết truyện tranh về câu chuyện của những người sống sót trong chiến dịch này. Điều gì đã khiến ông quyết định rằng câu chuyện này cần phải được đưa lên màn ảnh lớn? Thật ra nếu biết trước phải mất 22 năm, tôi đã không bắt đầu. Đúng là tôi đã làm tiểu sử về họ, ra một cuốn truyện tranh rồi mới làm phim, nhưng thực tế, việc thu thập tư liệu cho phim diễn ra song song với việc viết sách tiểu sử. Bởi vì người chiến binh, phải nói là người hùng mà tôi viết tiểu sử, đã bị Fidel Castro kết án tử hình, nên tôi tự nhủ: phải ghi lại lời ông ấy, để nếu có chuyện gì xảy ra, người ta không thể nói rằng ông ta đã bịa đặt ra tất cả. Tôi cần bằng chứng. Và còn một lý do thực tế nữa: tôi không nói được tiếng Tây Ban Nha. Vì vậy tôi phải giao băng cassette cho người phiên dịch để có thể viết tiểu sử. Hai việc đó cứ thế tiến hành song song. Ban đầu tôi chỉ định làm phim tài liệu về một binh sĩ duy nhất, nhưng theo thời gian, qua đọc sách, qua sự tin tưởng dần được gây dựng, tôi nhận ra mình có thể tiếp cận được người thứ hai, rồi người thứ ba, người thứ tư. Trong phim có khoảng tám nhân chứng, nhưng thực ra tôi đã phỏng vấn ít nhất mười lăm người, số còn lại không thể đưa vào trong khuôn khổ phim. Vì vậy tôi đang viết thêm một cuốn sách sẽ ra mắt năm tới, về những điều không thuộc phạm vi phim tài liệu nhưng chứa đựng nhiều tiết lộ chưa từng được công bố về chiến dịch của Che, về cái chết của ông, về những diễn biến sau đó (…) Ưu điểm của việc đối chiếu nhiều góc nhìn của các nhân chứng khiến chúng ta không rơi vào cái bẫy một chiều. Chúng tôi đối chiếu tất cả lời chứng của những người vốn không ưa nhau lại, và thấy chúng khớp với nhau, thì sự thật tự hiện ra. Ông đã thu thập được những lời chứng từ nhiều người chưa bao giờ tiết lộ trước đây. Làm thế nào ông gây dựng được lòng tin với họ ? Thành thật mà nói, không phải để quảng bá phim, nhưng đây thực sự là điều tuyệt vời để kể trên màn ảnh. Ngay chỉ việc gặp được một người trong số họ đã là điều kỳ lạ rồi. Tôi thuyết phục họ bằng cách nào? Có người đứng dậy bỏ đi giữa chừng và nói: “Thôi, tôi không muốn”. Ngay cả điệp viên CIA, tôi run khi phỏng vấn ông ta, vì tôi chuẩn bị đặt những câu hỏi thẳng thắn về cái chết của Che. Với tất cả những người đó, tôi áp dụng điều tôi gọi là tư duy hiện thực, tức là một kỹ thuật tôi học trong khóa học diễn xuất : chấp nhận cảm xúc của bản thân ngay tại khoảnh khắc đó, không che giấu. Cách đó dừng thời gian lại và tạo ra một dạng chân thực nào đó. Tôi nói thẳng với họ : “Tôi thực ra không quan tâm đến ông.” Nghe có vẻ tàn nhẫn. Nhưng tôi giải thích: “Không phải ông mà tôi quan tâm. Câu chuyện của ông mới là điều quan trọng. Và câu chuyện đó, ông đang nợ thế giới trước khi qua đời….Ông nợ chúng tôi câu chuyện này. Và cách đó đã hiệu quả… Hôm nay, trong bối cảnh chủ nghĩa cực đoan đang trỗi dậy khắp nơi, khi những kẻ cực hữu điều khiển thế giới và gây chiến tranh liên miên, thì việc kể câu chuyện này lại càng có ý nghĩa. Không phải kể về những gương mặt nổi tiếng, mà kể về những con người vô danh, những kẻ làm nên cách mạng nhưng tên họ chưa bao giờ xuất hiện ở đâu cả. [05:42] Trong phim, ông kết hợp những hình ảnh: tư liệu lưu trữ, cảnh quay mới, và hoạt họa. Ông tự đánh giá về lựa chọn này như thế nào trong một phim tài liệu lịch sử? Có lúc tôi cũng tự nghi ngờ, liệu những hình ảnh khác nhau đó có hòa quyện được với nhau không? Phim có năm lớp: lời chứng của các nhân vật, tư liệu lưu trữ, hành trình địa lý dài, theo dấu chân họ, hoạt họa, và lời bình. Về tư liệu lưu trữ: nếu phải chọn một thứ tôi làm tốt trong đời, thì đó là đi tìm tài liệu ở tận cùng thế giới. Còn về hành trình làm sao để sống sót của họ khi bằng rừng ở Nam Mỹ: ngôn từ không đủ để tái hiện cảm xúc. Khi đặt khán giả vào đúng khung cảnh, rừng rậm, thành phố, sa mạc, tôi không cần phải giải thích nữa, để họ tự cảm nhận. Hoạt họa là lớp thứ tư, là những hình ảnh mà chúng tôi thiếu. Tôi cần nó để đưa khán giả vào “đôi giày” của các chiến binh, sống cùng họ trong từng khoảnh khắc. Trong các cuộc phỏng vấn, tôi nhận ra họ thường kể lướt qua rất nhanh những cảnh hành động và cảm xúc dữ dội nhất… Chính vì vậy tôi dùng hoạt họa để lấp đầy những khoảng trống đó, để đặt khán giả vào đúng thời điểm, đúng không gian, mà không làm đứt mạch Với hoạt họa, vốn đòi hỏi tưởng tượng và sáng tạo, làm sao ông bảo đảm tính trung lập của một đạo diễn tài liệu như thế nào? Tôi đã cố gắng hết sức để trung lập, nhưng nếu thành thật mà nói: không ai trung lập hoàn toàn. Nếu có điểm nào tôi không trung lập, thì điều đó xảy ra ngoài ý thức của tôi. Các phần hoạt họa được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu nghiêm túc. Ở mỗi giai đoạn của câu chuyện, tôi gặp những người có cùng sự ám ảnh như tôi, những người dành 15 năm nghiên cứu quân đội Bolivia, 15 năm nghiên cứu chủ đề này hay chủ đề kia. Ở giai đoạn dựng phim, chúng tôi quyết định không đưa các sử gia và chuyên gia vào trực tiếp vì làm rối mạch phim. Thay vào đó, tôi tổng hợp kiến thức của họ vào lời bình. Mỗi câu trong lời bình, tôi có thể tranh luận với một chuyên gia về từng từ đã chọn. Điều đó dành cho 2% khán giả chuyên sâu. Nhưng điều tôi thực sự muốn là làm hài lòng cả đại chúng lẫn giới chuyên gia. Câu chuyện về những cựu binh trong chiến dịch ở Bolivia của Che Guevara được đặt trong bối cảnh Chiến Tranh Lạnh và chiến lược của tạo ra “hai, ba, và nhiều Việt Nam hơn nữa”, tạo ra nhiều mặt trận vũ trang ở khắp nơi trên thế giới để thúc đẩy giải phóng và làm kiệt sức đế quốc Mỹ. Ông có thể giải thích rõ hơn về lựa chọn đặt bối cảnh này, làm nền cho câu chuyện nói trên ? Thực ra tôi đã “làm phiền” nhiều người vì điều này. Nhưng câu chuyện nhỏ này bắt buộc phải đặt bối cảnh lịch sử rộng hơn, bởi nếu không, các chiến binh đó chẳng khác gì những kẻ “trộm dê”, tức là những người xuất hiện mà không ai hiểu họ gánh trên vai điều gì. Tôi muốn câu chuyện nhỏ có ý nghĩa khi được đặt vào câu chuyện lớn. Bằng không, người ta chỉ nói: “À, họ từng ở cùng Che, họ thoát chết, nhưng sau đó thì sao ? Cái khó là ở chỗ: phần lớn trong số họ không ý thức được mình đang ở đâu trong dòng chảy lớn của lịch sử. Régis Debray là ngoại lệ, ông ấy là nhà lý luận, ông dấn thân vì niềm tin tư tưởng. Nhưng một người như Benigno - bí danh của Dariel Alarcón Ramírez, đã mất vợ đang mang thai, nói thẳng trong phim: “Tôi thậm chí không biết ai đã phát minh ra từ “cách mạng”. Tôi không biết nó là gì. Tôi chỉ biết rằng người ta đã giết vợ tôi đang có thai trước mắt tôi. Họ đốt trang trại của tôi. Tôi muốn trả thù.” Khi hiểu điều đó, cái kết của Benigno, khi ông quyết định rời Cuba (sang Pháp lưu vong) vì không còn đồng ý với chế độ, đã mang một chiều sâu khác. Người ta thường nghĩ: đấu tranh, sống sót, trở về, được tôn là anh hùng. Nhưng ông ấy đã chọn từ bỏ địa vị anh hùng của mình để nói: “Tôi không còn đồng ý nữa.” Và rốt cuộc ông chết trong nghèo khổ ở Paris. Dù không đồng ý với ông hay không, cái hành động từ bỏ hào quang để giữ lấy lương tâm, tôi cho đó là một hình thức giữ phẩm giá. Tương tự với người lính Bolivia trong phim, tôi đặc biệt muốn giữ lời chứng của ông ta: “Người ta bảo chúng tôi bị ép buộc. Không. Chúng tôi chiến đấu chống Che vì đó là nghĩa vụ quân nhân, bảo vệ đất nước trước kẻ thù từ bên ngoài xâm nhập.” Những người ủng hộ Guevara sẽ không muốn nghe điều đó. Nhưng tôi để mọi phía lên tiếng, vì tôi không muốn khán giả rời rạp với câu trả lời định sẵn. Tôi muốn họ rời đi với đầy câu hỏi, rồi tự mở sách lịch sử, rồi tự soi chiếu vào những gì đang xảy ra trên thế giới hôm nay. Phim cũng tiết lộ mối liên hệ với nước Pháp, liên quan đến vai trò của tướng De Gaulle. Là một người Pháp, điều đó có ý nghĩa gì với ông khi nhắc lại mối liên hệ này 60 năm sau? De Gaulle là nhân vật không thể bị tấn công, theo nghĩa ngày nay mọi phía chính trị đều muốn nhận về phe của ông. Tôi không phải chuyên gia về De Gaulle, nhưng tôi đọc nhiều tiểu sử. Có một điều buồn cười mà không ai hỏi tôi: De Gaulle đã giúp những người sống sót sau chiến dịch Che trở về Cuba an toàn vào tháng 3 năm 1968. Hai tháng sau, tháng 5 năm 1968, sinh viên Pháp xuống đường giương ảnh Che và hô: “Đả đảo De Gaulle! Chúng ta là Guevara!” Thật mỉa mai, người duy nhất giúp những người sống sót của Che lại chính là De Gaulle. Và điều De Gaulle đại diện đó là thứ chúng tôi đã mất, mà nước Pháp đã đánh mất từ lâu rồi. De Gaulle rút Pháp khỏi NATO, còn tổng thống hiện nay thì đưa Pháp quay trở lại. Tôi không muốn áp đặt quan điểm chính trị, nhưng tôi muốn nói là De Gaulle có cái tầm để nói những gì có thể làm Mỹ phật lòng, và cũng có thể làm Nga phật lòng, mà không sợ. Và nghiêm túc mà nói, có một sự tôn trọng lẫn nhau, ngưỡng mộ nhau, ít nhất là trong giai đoạn đầu, giữa De Gaulle và Fidel Castro, giữa những người đã kháng chiến, giải phóng. Khi ông lần đầu tiếp xúc với câu chuyện về những người thân cận của Che còn sống sót, liệu ông có xuất phát từ một lập trường cánh tả không? Tôi hay tự đặt câu hỏi về bản thân, thậm chí ngay trước ngày bầu cử, tôi có thể trong 24 giờ bị người này gọi là cực hữu, người kia gọi là cực tả hay “bobo gaucho”, ( những người giàu có, sống thoải mái nhưng tự nhận là cánh tả). Về phim tài liệu này, tôi nghĩ xem xong không ai có thể kết luận “đây là phim của một người cực tả.” Còn câu hỏi mà mọi người thường né khi đứng trước ống kính: tôi có bầu cho cánh tả không? Có. Nhưng tôi là kẻ có đặc quyền trong cuộc đời, nên có vẻ dễ dàng giảng đạo cho người khác. Trên thực tế, tôi thậm chí cảm thấy có lỗi khi ở Cannes này, trước hết vì các chiến binh đó đã không còn ở đây để cùng tôi dự. Họ đã mất. Và còn vì chúng tôi khó có thể thấy thoải mái, khi được ngồi ở Cannes trong khi người dân Cuba đang chịu đựng, khốn khổ. Tôi là người nước ngoài làm phim về lịch sử của họ, và có một cái gì đó không ổn ở đó. Nhưng khi tôi làm được một bộ phim về Che và nó có mặt tại Cannes, nghĩa là nó sẽ được xem. Vậy là tôi đã thắng cái chết một chút nào đó, tức là câu chuyện này sẽ còn mãi mãi, vì nó đã được khắc trên phim nhựa.
VOV1 - Sáng nay 28/5, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương tổ chức Hội thảo “Cơ hội và thách thức phát triển thị trường Nam Mỹ”. Nam Mỹ được đánh giá là một thị trường giàu tiềm năng với quy mô dân số lớn, nhu cầu tiêu dùng đa dạng, nguồn tài nguyên phong phú và xu hướng tăng cường hợp tác.Trong những năm gần đây, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và khu vực Nam Mỹ có xu hướng tăng trưởng khá tích cực, dù quy mô vẫn còn khiêm tốn so với các thị trường lớn như: Hoa kỳ, EU hay Đông Bắc Á. Kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và các nước Nam Mỹ liên tục tăng trong những năm gần đây, dao động ở mức hàng chục tỷ đô la mỗi năm, với tốc độ tăng trưởng khá ổn định, nhờ nhu cầu tiêu dùng phục hồi và xu hướng đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu hai nước. Các thị trường trọng điểm của Việt Nam tại Nam Mỹ có thể kể đến như Braxin, Argentina, Chile. Trong đó thì Braxin là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam tại khu vực Nam Mỹ. Về cơ cấu hàng hóa, Việt Nam xuất khẩu sang Nam Mỹ chủ yếu điện thoại và linh kiện, máy vi tính, điện tử, dệt may, giày dép, thủy sản, gạo cà phê, hàng tiêu dùng và vật liệu xây dựng. Việt Nam nhập khẩu từ Nam Mỹ chủ yếu là ngô, đậu tương, bông, thức ăn chăn nuôi, quặng và nguyên liệu phục vụ sản xuất công nghiệp. Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ- Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ xúc tiến thương mại và đầu tư- Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương cho biết: “Nhiều quốc gia Nam Mỹ đang có nhu cầu cao đối với các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam như nông sản, thực phẩm chế biến, dệt may, da dày, điện tử, vật liệu xây dựng và hàng tiêu dùng. Đồng thời đây cũng là khu vực mở ra nhiều cơ hội hợp tác về logistics, năng lượng công nghiệp chế biến và đầu tư song phương. Một động lực quan trọng thúc đẩy thương mại hai bên là các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như: CPTPP, các cơ chế hợp tác giữa Việt Nam với khối Mercosur. Đặc biệt Chile và Peru đều là thành viên của CPTPP, giúp hàng hóa Việt Nam có lợi thế thuế quan đáng kể khi mà sang hai thị trường này”Bên cạnh các cơ hội, thương mại Việt Nam và Nam Mỹ vẫn còn tồn tại nhiều thách thức do vấn đề về khoảng cách địa lý xa khiến chi phí logistic, cũng như là thời gian để các doanh nghiệp Việt Nam đưa hàng hóa đến thị trường này khá xa và tốn kém, thiếu những tuyến vận tải trực tiếp. Sự khác biệt về ngôn ngữ, thị trường khu vực Nam Mỹ sử dụng tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha, trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam bị hạn chế trong việc sử dụng ngôn ngữ này để giao tiếp. Ngoài ra, những quy định về tập tục thương mại, văn hóa kinh doanh khác cũng có khá nhiều khác biệt so với Việt Nam. Bên cạnh đó là các hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật kiểm dịch, thủ tục hải quan còn phức tạp và doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu thông tin thị trường và mạng lưới phân phối tại khu vực. Ngoài ra, trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, xu hướng bảo hộ thương mại và các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững cũng đang tạo áp lực lớn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, xét về tổng thể Nam Mỹ vẫn được đánh giá là một thị trường còn nhiều dư địa phát triển cho hàng hóa Việt Nam trong trung và dài hạn, nhất là trong bối cạnh Việt Nam đang thúc đẩy chiến lược đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.Xuân Lan- VOV1.
Ngoại trưởng Mỹ hôm 20/05/2026 tuyên bố Washington « quyết tâm » áp đặt một sự thay đổi cho Cuba ». Marco Rubio ngụ ý nói đến một sự thay đổi chế độ ở La Habana ? Chính quyền Trump siết chặt gọng kềm, bóp ngạt kinh tế Cuba. Bên cạnh yếu tố lịch sử lâu đời, gắn liền Washington với La Habana, Nhà Trắng có nhiều lý do để quan tâm đến Cuba. Với kinh nghiệm hơn 65 năm gần như liên tục bị trừng phạt, không thể xem nhẹ sức kháng cự của La Habana và nhất là khi hòn đảo này được cả Trung Quốc lẫn Nga hậu thuẫn. Ngay từ nhiệm kỳ đầu, (2016-2020), tổng thống Mỹ Donald Trump đã khép lại giai đoạn tan băng giữa Washington với La Habana mà người tiền nhiệm Barack Obama đã mở ra khi chính thức nối lại bang giao với Cuba ngày 17/12/2014. Một năm sau khi trở lại Nhà Trắng, từ đầu 2026 bằng nhiều cách, ông Trump tiếp tục gia tăng sức ép với hòn đảo chỉ cách bang Florida, khoảng 150 km : Cắt các nguồn cung cấp dầu hỏa cho Cuba, đứng đầu là Venezuela và Mêhicô; huy động các công cụ pháp lý và quân sự để làm suy yếu chế độ liên tục cầm quyền tại hòn đảo này từ sau cuộc cách mạng năm 1959. Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Marco Rubio một người Mỹ gốc Cuba trong một thông điệp bằng tiếng Tây Ban Nha trực tiếp lên án chế độ ở La Habana « tham ô », « cướp bóc » và « đàn áp » nhân dân, đồng thời hứa hẹn tổng thống Trump đề xuất cho gần 12 triệu dân Cuba một « con đường mới ». 66 năm liên tục phong tỏa Cuba Cách nay gần 12 năm, thông báo tái lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, chủ tịch Cuba khi đó là ông Raul Castro đã nhấn mạnh, « Điều đó không có nghĩa là đôi bên đã giải quyết được vấn đề cốt lõi » : Kinh tế Cuba vẫn bị phong tỏa. Từ năm 1960 Hoa Kỳ đã đưa ra nhiều lý do khác nhau để trừng phạt La Habana. Tổng thống Dwight D. Eisenhower của bên đảng Cộng Hòa viện cớ chế độ Fidel Castro tịch thu các tài sản của Hoa Kỳ tại Cuba, để hạn chế nhập khẩu đường từ hòn đảo này vào Mỹ. Hai năm sau đó, cáo buộc La Habana thân thiện với Liên Xô cộng sản, tổng thống phe Dân Chủ J.F Kennedy đã mở rộng các biện pháp trừng phạt và ban hành lệnh « cấm vận ». Cuba trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên vào thời điểm ¾ xuất khẩu của Cuba là để hướng tới thị trường Hoa Kỳ và 70 % nhập khẩu phụ thuộc vào đối tác thương mại Bắc Mỹ này. Năm 1991 khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ, mở ra viễn cảnh Mỹ bình thường hóa quan hệ với Cuba, thì Washington lại chủ trương gia tăng áp lực để thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa tại quốc gia trong tay nhà cách mạng Fidel Castro. 1991-1994 là một thời kỳ « đen tối » đối với Cuba : GDP của nước này sụt giảm 35 %. Năm 1992 lấy cớ đòi Cuba tôn trọng nhân quyền, dưới thời tổng thống G.H Bush, Hạ Viện Mỹ thông qua đạo luật Torricelli mở rộng thêm nữa các biện pháp trừng phạt Cuba. Hai điểm đáng chú ý trong văn bản này. Thứ nhất là Washington cấm các hãng vận tải đường biển nước ngoài làm ăn với Mỹ giao thương với Cuba. Đây là tai họa đối với một quốc đảo như Cuba. Thứ hai là Hoa Kỳ trừng phạt mọi quốc gia « liên đới » với La Habana. Năm 1996 sau vụ hai máy bay của một tổ chức người Cuba lưu vong xuất phát từ bang Florida bị Cuba bắn hạ - Raul Castro khi đó là bộ trưởng Quốc Phòng, tổng thống Bill Clinton bên đảng Dân Chủ còn mạnh tay hơn với La Habana khi đặt bút phê chuẩn đạo luật Helms-Burton. Nhưng chính những đòn trừng phạt mạnh tay đó cũng đã đè nặng lên một phần các quyền lợi của Hoa Kỳ. Đầu những năm 2000 hiệp hội các nông gia Mỹ có nhu cầu xuất khẩu nhiều hơn sang Cuba. Chính quyền G.W Bush tỏ dấu hiệu nhượng bộ nhưng đó chỉ là một « bàn tay sắt trong vỏ bọc nhung ». Một chuyên gia về Cuba được nguyệt san Le Monde Diplomatique năm 2015 trích dẫn ghi nhận « chính sách trừng phạt của Mỹ đã dẫn tới những hậu quả tai hại về phương diện y tế cho Cuba » : Gần 80 % các bằng sáng chế trong lĩnh vực này đều thuộc chủ quyền của các tập đoàn của Mỹ hay các chi nhánh của họ, cho nên người dân Cuba trong một nhiều thập niên hoàn toàn không được tiếp cận với bất kỳ một tiến bộ nào về mặt khoa học, y tế, thuốc men. Phải đợi đến sự kiện tổng thống Mỹ Barack Obama bắt tay lãnh đạo Cuba Raul Castro nhân một buổi lễ tưởng niệm cố tổng thống Nam Phi, Nelson Mandela cuối 2013, bang giao giữa Hoa Kỳ với một thuộc địa cũ là Cuba mới rẽ sang một khúc quanh mới. Hai cựu tổng thống Mỹ Jimmy Carter, Bill Clinton khi đã rút lui khỏi chính trường, lên tiếng chống đối chính sách trừng phạt của Mỹ nhắm vào Cuba. Họ nhìn nhận Washington « hoàn toàn thất bại » trên phương diện này. Tổng thống Trump ở nhiệm kỳ đầu đã chấm dứt chính sách tan băng của người tiền nhiệm Obama và còn mạnh tay hơn nữa từ đầu năm nay. Trên đài truyền hình tư nhân BFM TV chuyên gia về châu Mỹ Latinh, Gaspard Estrada Viện Nghiên Cứu Paris Montaigne, khoa Global South trường London School of Economics phân tích việc chính quyền Trump đang bóp ngạt kinh tế Cuba : « Chính quyền Trump đang làm tất cả để cắt đứt mọi nguồn cung cấp dầu hỏa cho Cuba, từ Venezuela đến Mêhicô. Hậu quả kèm theo rất tai hại đối với người dân Cuba : họ bị mất điện triền miên, không có xăng dầu để di chuyển. Cuba càng lúc càng bị cô lập với thế giới bên ngoài. Washington bóp ngạt kinh tế Cuba để bắt buộc hòn đảo này phải thay đổi chế độ, nhưng dường như chính quyền Trump quên mất rằng, khủng hoảng kinh tế tại hòn đảo này sẽ đẩy người dân Cuba ra biển, tìm đường định cư tại Hoa Kỳ. Điều này sẽ ảnh hưởng đến chính sách nhập cư của Mỹ, đặc biệt là trước bầu cử giữa kỳ. (...) Mục tiêu của tổng thống Trump rất rõ ràng : Đó là làm suy yếu Cuba bằng mọi cách, kể cả việc cắt đứt các nguồn ngoại tệ mà La Habana đang cần để tài trợ cho các dự án khác. Ngay từ nhiệm kỳ đầu, Donald Trump đã chận đầu tư ngoại quốc vào Cuba, đánh vào ngành du lịch của hòn đảo này. Và từ đầu năm nay Washington liên tục ban hành thêm các biện pháp trừng phạt. Như thông lệ Cuba vẫn hô hào phải vùng lên chống đế quốc Mỹ, nhưng lần này, La Habana chủ động đàm phán với Hoa Kỳ. Đây là dấu hiệu rõ rệt nhất cho thấy chế độ đang bị suy yếu. Dù vậy chúng ta không biết đôi bên đang thương lượng về những gì và Mỹ đàm phán với ai ». Yếu tố Nga và Trung Quốc Nhưng lật đổ chế độ Cộng Sản Cuba hay đem lại một sự thay đổi thật sự cho quốc đảo này không là nhiệm vụ dễ hoàn thành. Theo nhà nghiên cứu Jérome Leleu thuộc Trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội EHESS -Paris, bất chấp những căng thẳng và các biện pháp phong tỏa càng lúc càng cứng rắn mà Mỹ kiên trì áp đặt, liên hệ giữa Washington với La Habana từ năm 1960 đến nay chưa bao giờ « đứt quãng ». Cuba luôn đòi hỏi hai điều : Chấm dứt trừng phạt và trả lại căn cứ quân sự Guantanamo được đặt dưới quyền kiểm soát của Hoa Kỳ từ khi Cuba giành được độc lập năm 1902. Về phía Washington, dưới danh nghĩa Nhà Trắng dù trong tay đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa cũng đều đòi La Habana trả lại tài sản cho các doanh nghiệp và tư nhân Mỹ đã bị chế độ Castro tịch thu từ sau cuộc Cách Mạng năm 1959. Vậy thì tổng thống Donald Trump với những áp lực trên nhiều phương diện nhắm vào Cuba từ đầu 2026 liệu có đạt được các mục tiêu mong muốn hay không ? Theo giới phân tích, câu trả lời là không vì Cuba dù mất đi nguồn cung cấp dầu hỏa quan trọng là Venezuela từ đầu năm đến nay, nhưng vẫn có thể trông cậy vào Nga và nhất là Trung Quốc. Trước hết là đối với Nga, trả lời đài RFI Pháp ngữ, Emmanuel Pietrobon, chuyên gia độc lập người Ý về châu Mỹ Latinh nhấn mạnh : Cuba là « vùng ảnh hưởng duy nhất của Nga trong vùng biển Caribe, cho nên Matxcơva dưới chế độ Cộng Sản Liên Xô trước kia hay của tổng thống Putin hiện tại đều phải bằng mọi giá yểm trợ La Habana ». « Nga cần hòn đảo nhỏ này để gây sức ép với Mỹ. Nói một cách ví von, chỉ cần bước ra ngoài ban công là người Mỹ có thể nhìn thấy sự hiện diện của Nga. Do đó, đối với Matxcơva, Cuba chiếm một lợi thế địa chiến lược, tương tự như là vị thế của Đài Loan đối với Washington trong vùng châu Á-Thái Bình Dương. Có thể nói, Cuba là một phiên bản của Đài Loan trong vùng biển Caribê. Ngoài khía cạnh địa chính trị, hòn đảo này còn có nhiều lợi thế về kinh tế. Cuba có dầu hỏa, nhưng vì bị cấm vận triền miên nên chưa từng được thăm dò, và đương nhiên là cũng chưa từng được khai thác. Rồi Cuba cũng có những nguồn dự trữ về cobalt, nickel và cũng có tiềm năng về đất hiếm… Tất cả những yếu tố đó cho thấy, Cuba chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng về địa chính trị đối với Nga (...) Cuba chỉ cách bang Florida một giờ bay. Hòn đảo này cũng làm một căn cứ không thể thiếu, với một vị trí then chốt và duy nhất để tiến hành các hoạt động dọ thám. Không phải tình cờ mà trong những năm gần đây, có lẽ và từ nửa sau thập niên 2010, tổng thống Nga, Vladimir Putin đã quyết định mở lại trung tâm thu thập thông tin tình báo bằng tín hiệu lớn nhất mà Liên Xô từng sở hữu trong giai đọan Chiến Tranh Lạnh: Đó là căn cứ Lourdes ». Một quân bài để thương lượng về Ukraina Nhất là vào thời điểm mà Nga cần đàm phán với Mỹ về Ukraina thì Cuba có thể là một lá chủ bài trong mắt điện Kremlin Emmanuel Pietrobon giải thích tiếp : « Matxcơva nhất quyết gửi đến Washington một thông điệp chính trị. Vào lúc Donald Trump có ý định phân chia thế giới theo những vùng ảnh hưởng khác nhau, Nga muốn Hoa Kỳ hiểu rằng tham vọng đó chỉ có thể thành công nếu như Nhà Trắng công nhận Kremin cũng có quyền xây dựng những vùng ảnh hưởng của riêng mình. Do vậy, Cuba như thể là một đòn bẩy trong tiến trình đàm phán giữa Nga và Mỹ. Trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, Liên Xô đã đặt tên lửa ở Cuba trong lúc mà Hoa Kỳ đặt tên lửa tại Châu Âu - nhất là tại Ý cũng như là để làm đối trọng với việc Mỹ đã điều vũ khí hạt nhân đến Thổ Nhĩ Kỳ. Giờ đây theo logic tương tự, Matxcơva dùng Cuba để mặc cả với Mỹ về Ukraina ». 22 % nhập khẩu của Cuba phụ thuộc vào Trung Quốc Nhìn từ Bắc Kinh, Cuba là một đồng minh truyền thống lâu đời : Chính quyền Fidel Castro là quốc gia ở Tây bán cầu đầu tiên thiết lập bang giao với chế độ Mao Trạch Đông. Năm 2025, chủ tịch Diaz Canel đến Bắc Kinh nhân kỷ niệm 65 năm bang giao hai nước. Về thương mại, từ đầu những năm 2000 Trung Quốc đã trở thành một trong những đối tác quan trọng nhất của Cuba, đứng trước cả Nga hay Venezuela. Cuba là « một trong những thị trường tiềm năng nhất của các nhà sản xuất pin mặt trời Trung Quốc ». Trung Quốc chiếm 22 % nhập khẩu của Cuba Ngoài ra, đối với ông Tập Cận Bình cũng như Vladimir Putin, giá trị chiến lược của Cuba chính là nhờ có vị trí sát cạnh Hoa Kỳ, một cửa ngõ quan trọng trong vùng biển Caribe. Do vậy giới quan sát cho rằng, không chắc Donald Trump đạt được mục đích đưa Cuba trở thành một « quốc gia thân thiện » với Hoa Kỳ. Không có gì bảo đảm ông sẽ được sử sách nhớ đến như một vị tổng thống vượt trội hơn tất cả những người tiền nhiệm, từ tướng Dwight David Eisenhower, tổng thống John Fitzgerald Kennedy, đến Bill Clinton, Barack Obama. Điều chắc chắn duy nhất là những tham vọng về địa chính trị của Washington trong vùng biển Caribe đã, đang và tiếp tục vấp phải những quyền lợi của Nga và Trung Quốc. Lịch sử cũng đã chứng minh rằng từ năm 1960 đến nay Cuba đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế. Mỗi lần « thoát chết trong đường tơ kẽ tóc » La Habana luôn được một « quý nhân phù trợ ». Trong giai đoạn chiến tranh lạnh điểm tựa chính là Liên Xô. Khi Liên bang Xô Viết tan rã thì từng bước đến lượt Venezuela, dưới thời hai tổng thống Hugo Chavez (1999-2013) và Nicolas Maduro chống lưng. Trung Quốc là một đối tác thương mại « không thể thiếu » của Cuba, cho nên trong cuộc đọ sức bất cân xứng lần này với chính quyền Trump, chủ tịch Cuba Miguel Diaz-Canel có thể trông cậy vào điểm tựa là chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
- Sau 1 năm vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, khu vực Tây Nguyên - Nam Trung bộ, nhiều xã gặp áp lực lớn.- Khởi tố vụ án liên quan nam sinh lớp 8 tự tử nghi do bạo lực học đường tại xã Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.- Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian tuyên bố nước này sẵn sàng trấn an cộng đồng quốc tế rằng “không tìm kiếm vũ khí hạt nhân”.- Hàng nghìn người dân tuần hành tại trung tâm thủ đô Madrid của Tây Ban Nha để phản đối giá nhà tăng cao.
Sau nhiều năm vướng cáo buộc gian lận thuế, Shakira vừa được tòa án Tây Ban Nha tuyên trắng án và có thể nhận lại gần 65 triệu USD (quy đổi khoảng 1.700 tỉ đồng) cùng tiền lãi.
Khoảng 88% tổng lượng dầu thô nhập khẩu của Việt Nam được nhập từ vùng Vịnh Ba Tư, chỉ đứng sau Philippines (95%) và đứng trước các nước Malaysia (69%), Thái Lan (59%) và Singapore (52%), theo Ngân hàng Đầu tư Maybank (1). Kuwait là nhà cung cấp dầu thô lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 80% tổng lượng nhập khẩu. Khoảng 49% khối lượng khí hóa lỏng LNG nhập khẩu của Việt Nam cũng có xuất xứ từ Vùng Vịnh (2). Sự phụ thuộc nghiêm trọng vào gần như một nước, một khu vực vẫn được coi là “chảo lửa” Trung Đông, được phản ánh rõ trong cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz. Ngoài ra, Việt Nam có kho dự trữ dầu chiến lược nhỏ nhất Đông Nam Á, trong khi việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả. Đọc thêmViệt Nam đối mặt với tình trạng thiếu xăng dầu vì nguồn cung ứng bị gián đoạn Theo một tài liệu của bộ Công Thương, được Reuters trích dẫn ngày 18/03/2026, Việt Nam cũng phải đối mặt với việc các mỏ dầu ngoài khơi đang dần cạn kiệt, khiến sản lượng dầu thô nội địa dự kiến sẽ bị giảm trong thập niên này, chỉ còn khoảng 5,8 đến 8 triệu tấn/năm, thấp hơn mức bình quân 8,6 triệu tấn của 5 năm gần nhất. Do đó, Việt Nam có nguy cơ phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn nhập khẩu dầu lửa do hệ thống lọc dầu cần lượng nguyên liệu lớn hơn rất nhiều để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn ở trong nước. UNCLOS nói gì về khai thác dầu khí trong vùng tranh chấp chủ quyền ? Về lâu dài, Việt Nam dự trù tăng cường hoạt động thăm dò, trong đó có việc đưa ra các ưu đãi cho các công ty dầu khí quốc tế đầu tư vào các mỏ ngoài khơi. Mục tiêu là nâng cao trữ lượng có thể khai thác thêm 13 triệu đến 17 triệu tấn dầu thô mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030. Khủng hoảng năng lượng ở Trung Đông đã thúc đẩy Philippines nêu khả năng thăm dò dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông, nơi đang có tranh chấp chủ quyền. Liệu Việt Nam có làm như vậy với Trung Quốc ? Thực ra, ngay năm 2005, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đã có thỏa thuận ba bên về “Khảo sát Địa chấn biển chung” (Joint Marine Seismic Undertaking, JSMU) tại khu vực “theo thỏa thuận” rộng 142.886 km² ở Biển Đông, bao gồm một phần quần đảo Trường Sa. Thỏa thuận này kéo dài ba năm và hết hạn vào năm 2008. Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt, giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Trường Sư phạm Lyon, nhận định : “Cả Philippines và Việt Nam đều coi đó là cơ hội để cải thiện quan hệ chính trị, kinh tế và quân sự với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy phát triển chung các nguồn tài nguyên có thể sẽ rất khó khai thác vì những căng thẳng”. Đọc thêmViệt Nam có bị ảnh hưởng từ hợp tác dầu khí Trung Quốc - Philippines ở Biển Đông? Ý định này vẫn chỉ nằm trên giấy tờ vì những đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với hầu hết Biển Đông, cho dù bị vô hiệu hóa trong phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng Tài Thường Trực (PCA) La Haye. Tuy nhiên, các bên vẫn không từ bỏ nỗ lực tìm kiếm một thỏa hiệp, dù chỉ là tạm thời, theo giải thích của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon : “Theo luật quốc tế, khi nhiều quốc gia cùng tuyên bố chủ quyền đối với một vùng biển (vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa chồng lấn), Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 quy định nghĩa vụ hợp tác. Thông qua Điều 74 và 83, Công ước quy định các quốc gia phải đàm phán thiện chí để đạt được sự phân định công bằng và không được làm tổn hại hoặc cản trở một thỏa thuận trong tương lai. Cụ thể, điều này có nghĩa là việc khai thác dầu khí đơn phương tiềm ẩn rủi ro pháp lý tại khu vực tranh chấp giữa nhiều quốc gia theo luật quốc tế. Công ước cũng khuyến khích các giải pháp tạm thời. Công ước quy định các quốc gia có thể ký kết các thỏa thuận tạm thời mang tính thực tiễn trong khi chờ phân định cuối cùng. Chính trong khuôn khổ pháp lý này mà các khu vực phát triển chung về dầu khí đang được phát triển. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng Công ước không đề cập đến phương pháp cần tuân theo. Do đó, Công ước không định nghĩa một cơ chế tiêu chuẩn cho việc quản lý chung dầu khí, cũng không thiết lập các quy tắc chia sẻ doanh thu hoặc quản trị, cũng không tạo ra một thể chế cụ thể cho các khu vực tranh chấp này. Do đó, các phương thức cụ thể (chia sẻ, thuế, nhà điều hành…) hoàn toàn được đàm phán song phương hoặc trong khu vực giữa các quốc gia”. Đọc thêmViệt Nam bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông như nào ? Tiền lệ về gác tranh chấp chủ quyền để cùng thăm dò khai thác Trường hợp tranh chấp chủ quyền trên biển nhưng vẫn hợp tác khai thác dầu khí không phải là hiếm trên thế giới, theo nhà nghiên cứu Laurent Gédéon : “Hai mô hình khu vực phát triển chung có thể được nêu ra làm ví dụ để các bên ở Biển Đông, đặc biệt là Việt Nam, có thể tham khảo. Thứ nhất là Khu vực Phát triển Chung Nigeria-São Tomé và Príncipe (Nigeria-São Tomé and Príncipe Joint Development Zone), liên quan đến hoạt động khai thác dầu khí trong vùng biển mà cả hai quốc gia đều tuyên bố chủ quyền ở Vịnh Guinea. Thứ hai là Khu vực Phát triển Chung Malaysia-Thái Lan (Malaysia-Thailand Joint Development Area, MTJDA), liên quan đến việc khai thác khí đốt tự nhiên trong khu vực tranh chấp giữa Malaysia và Thái Lan, nằm ở Vịnh Thái Lan. Có thể thấy rõ rằng bất chấp những khó khăn, sự hợp tác giữa các bên tuyên bố có quyền về dầu khí ở Biển Đông là khả thi và có thể được thực hiện phù hợp với cả luật pháp quốc tế và luật pháp quốc gia”. Bãi Tư Chính : Việt Nam khẳng định chủ quyền nhưng không khai thác được Tài nguyên dầu khí của Việt Nam tập trung quanh bãi Tư Chính (Vanguard Bank), chiếm khoảng 10% nhu cầu năng lượng của đất nước. Hà Nội khẳng định khu vực nhà giàn DK1, trong đó có bãi Tư Chính, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở của Việt Nam và là thềm lục địa phía nam Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với UNCLOS 1982. Vùng biển này không tranh chấp với nước nào, và lại càng không tranh chấp với Trung Quốc. Ngược lại, Bắc Kinh và Đài Bắc cho rằng bãi Tư Chính thuộc quần đảo Trường Sa, đang có tranh chấp chủ quyền. Trung Quốc thường xuyên tuần tra tại đây nhằm đe dọa Việt Nam và làm gián đoạn hoạt động của các công ty dầu khí khai thác trong khu vực. Tháng 07/2017, tập đoàn Repsol của Tây Ban Nha phải ngừng hoạt động thăm dò khí đốt tại mỏ Cá Rồng Đỏ ở khu vực bãi Tư Chính. Trong suốt ba tuần tháng 07/2019, Trung Quốc đưa tàu thăm dò Hải Dương 8 (Haiyang Dizhi 8), được nhiều tàu hải cảnh và dân quân biển hộ tống, xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam tại khu vực bãi Tư Chính. Hoạt động gây rối này tái diễn trong những năm 2023, 2024. Đọc thêmBãi Tư Chính : Việt Nam nên để ngỏ khả năng kiện Trung Quốc Song song với việc “quấy rối” hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam và tiếp tục đòi chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông, từ năm 2017, Trung Quốc cũng “tích cực” đề xuất một số dự án phát triển chung ở Biển Đông với Việt Nam và Philippines. Động cơ đằng sau đề xuất này là gì ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon giải thích : “Động cơ của Bắc Kinh có thể được xem xét cả về kinh tế và địa chiến lược. Về kinh tế, việc khai thác tài nguyên năng lượng ở Biển Đông cho phép Trung Quốc đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nước ngày càng tăng. Hơn nữa, bất kỳ động thái hội nhập khu vực nào cũng nằm trong khuôn khổ rộng lớn hơn của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), do Bắc Kinh khởi xướng và có hiệu lực từ tháng 01/2022. Về mặt địa-chiến lược, các sáng kiến chung với các quốc gia giáp Biển Đông cho phép Trung Quốc tăng cường quan hệ hợp tác với những nước này. Về lâu dài, sự gần gũi đó có thể góp phần làm suy yếu mối quan hệ giữa các quốc gia này với Hoa Kỳ và từ đó củng cố vị thế của Bắc Kinh trong bối cảnh cạnh tranh Trung-Mỹ”. Những bị động do phụ thuộc quá lớn vào nguồn cung năng lượng Trung Đông có khiến Hà Nội thay đổi quan điểm về thỏa thuận khai thác chung và chia sẻ công bằng nguồn năng lượng ở Biển Đông không ? Liệu có khả năng Việt Nam và Trung Quốc hợp tác trong tương lai gần hay không ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon nhận định : “Có khả năng hợp tác cho dù hai nước, Trung Quốc và Việt Nam, không từ bỏ các tuyên bố chủ quyền của họ bởi vì Việt Nam có những lập luận bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông, nhưng họ có thể gác lại khía cạnh chủ quyền này hoặc đồng ý gác lại để tập trung vào các cơ chế thực tế để quản lý tài nguyên mà trong trường hợp này, là quản lý tài nguyên dầu mỏ. Đúng là nhiều nguồn tài nguyên đang được khai thác, và một số đang gần cạn kiệt. Nhưng không phải tất cả các nguồn tài nguyên ở Biển Đông đều đã được xác định. Trong khuôn khổ quản lý thực tiễn chung các nguồn tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam, có thể sẽ có các đợt thăm dò chung nhằm xác định các mỏ dầu khí hoặc khí đốt tự nhiên mới, sau đó sẽ được khai thác và chia sẻ chung. Đọc thêmViệt Nam, Malaysia, Philippines: Gác tranh chấp, chống Trung Quốc ở Biển Đông? Thực tế cho thấy Việt Nam phụ thuộc vào nguồn cung dầu mỏ Trung Đông. Nhìn vào tình hình bất ổn hiện nay ở Trung Đông, đặc biệt là những khó khăn do các “điểm kiểm soát” - tức là các eo biển chiến lược - gây ra thì hiện giờ đang có rất nhiều tranh luận liên quan đến eo biển Hormuz, đang bị cả Iran và Mỹ phong tỏa. Ngoài ra còn phải nhắc đến eo biển Malacca, một eo biển nhạy cảm, nơi trung chuyển một phần rất lớn dầu mỏ dành cho các nước ở Đông Nam Á và và Đông Bắc Á. Vì vậy, sự phụ thuộc vào các đặc điểm địa lý có thể trở nên rất nhạy cảm từ góc độ địa-chính trị, đang thúc đẩy Việt Nam tìm cách xác định các nguồn tài nguyên dầu mỏ có thể khai thác được mà không cần đi qua những nơi tiềm ẩn nhiều vấn đề từ góc độ địa-chính trị như vậy”. Để có thể đi đến một quyết định, chắc chắn sẽ gây tranh cãi, nhưng mang tính thiết yếu cho nguồn cung năng lượng Việt Nam Nam, nhà nghiên cứu Laurent Gédéon cho răng, “các liên doanh được thành lập trong khuôn khổ quản lý chung không nên bị coi là một bước thụt lùi hoặc là một thất bại, mà là một cơ chế thực dụng được thiết lập trong khi chờ đợi một giải pháp dứt khoát, mà không phán xét về việc phân định ranh giới sau này các vùng biển liên quan và không đặt ra nghi vấn về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mỗi bên”. (1) ASEAN countries exposed by Middle East oil dependence (2) The Middle East Crisis and Southeast Asia's Energy Vulnerability
Khoảng 88% tổng lượng dầu thô nhập khẩu của Việt Nam được nhập từ vùng Vịnh Ba Tư, chỉ đứng sau Philippines (95%) và đứng trước các nước Malaysia (69%), Thái Lan (59%) và Singapore (52%), theo Ngân hàng Đầu tư Maybank (1). Kuwait là nhà cung cấp dầu thô lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 80% tổng lượng nhập khẩu. Khoảng 49% khối lượng khí hóa lỏng LNG nhập khẩu của Việt Nam cũng có xuất xứ từ Vùng Vịnh (2). Sự phụ thuộc nghiêm trọng vào gần như một nước, một khu vực vẫn được coi là “chảo lửa” Trung Đông, được phản ánh rõ trong cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz. Ngoài ra, Việt Nam có kho dự trữ dầu chiến lược nhỏ nhất Đông Nam Á, trong khi việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả. Đọc thêmViệt Nam đối mặt với tình trạng thiếu xăng dầu vì nguồn cung ứng bị gián đoạn Theo một tài liệu của bộ Công Thương, được Reuters trích dẫn ngày 18/03/2026, Việt Nam cũng phải đối mặt với việc các mỏ dầu ngoài khơi đang dần cạn kiệt, khiến sản lượng dầu thô nội địa dự kiến sẽ bị giảm trong thập niên này, chỉ còn khoảng 5,8 đến 8 triệu tấn/năm, thấp hơn mức bình quân 8,6 triệu tấn của 5 năm gần nhất. Do đó, Việt Nam có nguy cơ phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn nhập khẩu dầu lửa do hệ thống lọc dầu cần lượng nguyên liệu lớn hơn rất nhiều để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn ở trong nước. UNCLOS nói gì về khai thác dầu khí trong vùng tranh chấp chủ quyền ? Về lâu dài, Việt Nam dự trù tăng cường hoạt động thăm dò, trong đó có việc đưa ra các ưu đãi cho các công ty dầu khí quốc tế đầu tư vào các mỏ ngoài khơi. Mục tiêu là nâng cao trữ lượng có thể khai thác thêm 13 triệu đến 17 triệu tấn dầu thô mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030. Khủng hoảng năng lượng ở Trung Đông đã thúc đẩy Philippines nêu khả năng thăm dò dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông, nơi đang có tranh chấp chủ quyền. Liệu Việt Nam có làm như vậy với Trung Quốc ? Thực ra, ngay năm 2005, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đã có thỏa thuận ba bên về “Khảo sát Địa chấn biển chung” (Joint Marine Seismic Undertaking, JSMU) tại khu vực “theo thỏa thuận” rộng 142.886 km² ở Biển Đông, bao gồm một phần quần đảo Trường Sa. Thỏa thuận này kéo dài ba năm và hết hạn vào năm 2008. Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt, giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Trường Sư phạm Lyon, nhận định : “Cả Philippines và Việt Nam đều coi đó là cơ hội để cải thiện quan hệ chính trị, kinh tế và quân sự với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy phát triển chung các nguồn tài nguyên có thể sẽ rất khó khai thác vì những căng thẳng”. Đọc thêmViệt Nam có bị ảnh hưởng từ hợp tác dầu khí Trung Quốc - Philippines ở Biển Đông? Ý định này vẫn chỉ nằm trên giấy tờ vì những đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với hầu hết Biển Đông, cho dù bị vô hiệu hóa trong phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng Tài Thường Trực (PCA) La Haye. Tuy nhiên, các bên vẫn không từ bỏ nỗ lực tìm kiếm một thỏa hiệp, dù chỉ là tạm thời, theo giải thích của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon : “Theo luật quốc tế, khi nhiều quốc gia cùng tuyên bố chủ quyền đối với một vùng biển (vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa chồng lấn), Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 quy định nghĩa vụ hợp tác. Thông qua Điều 74 và 83, Công ước quy định các quốc gia phải đàm phán thiện chí để đạt được sự phân định công bằng và không được làm tổn hại hoặc cản trở một thỏa thuận trong tương lai. Cụ thể, điều này có nghĩa là việc khai thác dầu khí đơn phương tiềm ẩn rủi ro pháp lý tại khu vực tranh chấp giữa nhiều quốc gia theo luật quốc tế. Công ước cũng khuyến khích các giải pháp tạm thời. Công ước quy định các quốc gia có thể ký kết các thỏa thuận tạm thời mang tính thực tiễn trong khi chờ phân định cuối cùng. Chính trong khuôn khổ pháp lý này mà các khu vực phát triển chung về dầu khí đang được phát triển. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng Công ước không đề cập đến phương pháp cần tuân theo. Do đó, Công ước không định nghĩa một cơ chế tiêu chuẩn cho việc quản lý chung dầu khí, cũng không thiết lập các quy tắc chia sẻ doanh thu hoặc quản trị, cũng không tạo ra một thể chế cụ thể cho các khu vực tranh chấp này. Do đó, các phương thức cụ thể (chia sẻ, thuế, nhà điều hành…) hoàn toàn được đàm phán song phương hoặc trong khu vực giữa các quốc gia”. Đọc thêmViệt Nam bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông như nào ? Tiền lệ về gác tranh chấp chủ quyền để cùng thăm dò khai thác Trường hợp tranh chấp chủ quyền trên biển nhưng vẫn hợp tác khai thác dầu khí không phải là hiếm trên thế giới, theo nhà nghiên cứu Laurent Gédéon : “Hai mô hình khu vực phát triển chung có thể được nêu ra làm ví dụ để các bên ở Biển Đông, đặc biệt là Việt Nam, có thể tham khảo. Thứ nhất là Khu vực Phát triển Chung Nigeria-São Tomé và Príncipe (Nigeria-São Tomé and Príncipe Joint Development Zone), liên quan đến hoạt động khai thác dầu khí trong vùng biển mà cả hai quốc gia đều tuyên bố chủ quyền ở Vịnh Guinea. Thứ hai là Khu vực Phát triển Chung Malaysia-Thái Lan (Malaysia-Thailand Joint Development Area, MTJDA), liên quan đến việc khai thác khí đốt tự nhiên trong khu vực tranh chấp giữa Malaysia và Thái Lan, nằm ở Vịnh Thái Lan. Có thể thấy rõ rằng bất chấp những khó khăn, sự hợp tác giữa các bên tuyên bố có quyền về dầu khí ở Biển Đông là khả thi và có thể được thực hiện phù hợp với cả luật pháp quốc tế và luật pháp quốc gia”. Bãi Tư Chính : Việt Nam khẳng định chủ quyền nhưng không khai thác được Tài nguyên dầu khí của Việt Nam tập trung quanh bãi Tư Chính (Vanguard Bank), chiếm khoảng 10% nhu cầu năng lượng của đất nước. Hà Nội khẳng định khu vực nhà giàn DK1, trong đó có bãi Tư Chính, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở của Việt Nam và là thềm lục địa phía nam Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với UNCLOS 1982. Vùng biển này không tranh chấp với nước nào, và lại càng không tranh chấp với Trung Quốc. Ngược lại, Bắc Kinh và Đài Bắc cho rằng bãi Tư Chính thuộc quần đảo Trường Sa, đang có tranh chấp chủ quyền. Trung Quốc thường xuyên tuần tra tại đây nhằm đe dọa Việt Nam và làm gián đoạn hoạt động của các công ty dầu khí khai thác trong khu vực. Tháng 07/2017, tập đoàn Repsol của Tây Ban Nha phải ngừng hoạt động thăm dò khí đốt tại mỏ Cá Rồng Đỏ ở khu vực bãi Tư Chính. Trong suốt ba tuần tháng 07/2019, Trung Quốc đưa tàu thăm dò Hải Dương 8 (Haiyang Dizhi 8), được nhiều tàu hải cảnh và dân quân biển hộ tống, xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam tại khu vực bãi Tư Chính. Hoạt động gây rối này tái diễn trong những năm 2023, 2024. Đọc thêmBãi Tư Chính : Việt Nam nên để ngỏ khả năng kiện Trung Quốc Song song với việc “quấy rối” hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam và tiếp tục đòi chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông, từ năm 2017, Trung Quốc cũng “tích cực” đề xuất một số dự án phát triển chung ở Biển Đông với Việt Nam và Philippines. Động cơ đằng sau đề xuất này là gì ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon giải thích : “Động cơ của Bắc Kinh có thể được xem xét cả về kinh tế và địa chiến lược. Về kinh tế, việc khai thác tài nguyên năng lượng ở Biển Đông cho phép Trung Quốc đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nước ngày càng tăng. Hơn nữa, bất kỳ động thái hội nhập khu vực nào cũng nằm trong khuôn khổ rộng lớn hơn của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), do Bắc Kinh khởi xướng và có hiệu lực từ tháng 01/2022. Về mặt địa-chiến lược, các sáng kiến chung với các quốc gia giáp Biển Đông cho phép Trung Quốc tăng cường quan hệ hợp tác với những nước này. Về lâu dài, sự gần gũi đó có thể góp phần làm suy yếu mối quan hệ giữa các quốc gia này với Hoa Kỳ và từ đó củng cố vị thế của Bắc Kinh trong bối cảnh cạnh tranh Trung-Mỹ”. Những bị động do phụ thuộc quá lớn vào nguồn cung năng lượng Trung Đông có khiến Hà Nội thay đổi quan điểm về thỏa thuận khai thác chung và chia sẻ công bằng nguồn năng lượng ở Biển Đông không ? Liệu có khả năng Việt Nam và Trung Quốc hợp tác trong tương lai gần hay không ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon nhận định : “Có khả năng hợp tác cho dù hai nước, Trung Quốc và Việt Nam, không từ bỏ các tuyên bố chủ quyền của họ bởi vì Việt Nam có những lập luận bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông, nhưng họ có thể gác lại khía cạnh chủ quyền này hoặc đồng ý gác lại để tập trung vào các cơ chế thực tế để quản lý tài nguyên mà trong trường hợp này, là quản lý tài nguyên dầu mỏ. Đúng là nhiều nguồn tài nguyên đang được khai thác, và một số đang gần cạn kiệt. Nhưng không phải tất cả các nguồn tài nguyên ở Biển Đông đều đã được xác định. Trong khuôn khổ quản lý thực tiễn chung các nguồn tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam, có thể sẽ có các đợt thăm dò chung nhằm xác định các mỏ dầu khí hoặc khí đốt tự nhiên mới, sau đó sẽ được khai thác và chia sẻ chung. Đọc thêmViệt Nam, Malaysia, Philippines: Gác tranh chấp, chống Trung Quốc ở Biển Đông? Thực tế cho thấy Việt Nam phụ thuộc vào nguồn cung dầu mỏ Trung Đông. Nhìn vào tình hình bất ổn hiện nay ở Trung Đông, đặc biệt là những khó khăn do các “điểm kiểm soát” - tức là các eo biển chiến lược - gây ra thì hiện giờ đang có rất nhiều tranh luận liên quan đến eo biển Hormuz, đang bị cả Iran và Mỹ phong tỏa. Ngoài ra còn phải nhắc đến eo biển Malacca, một eo biển nhạy cảm, nơi trung chuyển một phần rất lớn dầu mỏ dành cho các nước ở Đông Nam Á và và Đông Bắc Á. Vì vậy, sự phụ thuộc vào các đặc điểm địa lý có thể trở nên rất nhạy cảm từ góc độ địa-chính trị, đang thúc đẩy Việt Nam tìm cách xác định các nguồn tài nguyên dầu mỏ có thể khai thác được mà không cần đi qua những nơi tiềm ẩn nhiều vấn đề từ góc độ địa-chính trị như vậy”. Để có thể đi đến một quyết định, chắc chắn sẽ gây tranh cãi, nhưng mang tính thiết yếu cho nguồn cung năng lượng Việt Nam Nam, nhà nghiên cứu Laurent Gédéon cho răng, “các liên doanh được thành lập trong khuôn khổ quản lý chung không nên bị coi là một bước thụt lùi hoặc là một thất bại, mà là một cơ chế thực dụng được thiết lập trong khi chờ đợi một giải pháp dứt khoát, mà không phán xét về việc phân định ranh giới sau này các vùng biển liên quan và không đặt ra nghi vấn về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mỗi bên”. (1) ASEAN countries exposed by Middle East oil dependence (2) The Middle East Crisis and Southeast Asia's Energy Vulnerability
VOV1 - Cuộc thi Ca khúc truyền hình châu Âu (Eurovision) năm 2026 đã chính thức khai mạc tại thành phố Vienna, thủ đô nước Áo. 70 năm sau ngày ra đời, Eurovision - cuộc thi âm nhạc được xem là biểu tượng kết nối văn hóa châu Âu - lại bước vào mùa giải nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử.Tại Eurovision, “Big Five” hay “nhóm 5” luôn là nhóm được nhắc tới nhiều nhất. Đây là các đài truyền hình của 5 nước Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Italia - những đơn vị đóng góp tài chính lớn nhất cho cuộc thi và nghiễm nhiên có suất vào chung kết, cùng với quốc gia chiến thắng mùa trước, năm nay là Áo.Tuy nhiên, do có sự tham gia của Israel, các đài truyền hình của Tây Ban Nha đã tuyên bố không tham dự để phản đối chiến dịch quân sự của Israel tại Gaza. Các quốc gia khác như Ireland, Iceland, Hà Lan và Slovenia cũng có hành động tương tự. Hơn 1.000 nghệ sỹ và nhóm nhạc, cũng đã kêu gọi tẩy chay cuộc thi năm nay vì lý do này. Mọi chuyện càng trở nên rối ren khi hai cựu quán quân Eurovision là ca sĩ Thụy Sĩ Nemo và Charlie McGettigan của Ireland quyết định trả lại cúp chiến thắng. Thành phố Vienna đang dốc toàn lực để tổ chức phiên bản thứ 70 của cuộc thi âm nhạc truyền hình được xem nhiều nhất thế giới. Tuy nhiên, Ban tổ chức năm nay có lẽ phải “đi trên dây” địa chính trị liên quan tới sự tham gia của Israel.Cuộc thi Eurovision Song Contest 2026 tại Vienna, Áo. Ảnh: Reuters
Khi hantavirus bùng phát giữa đại dương, tàu MV Hondius biến thành một tâm điểm y tế đầy kịch tính. Giữa nỗi lo sợ về chủng virus Andes có khả năng lây từ người sang người, cuộc di tản xuyên quốc gia đã đưa những công dân Úc cuối cùng rời khỏi "điểm nóng" để về với sự bảo vệ nghiêm ngặt tại Perth. Với những ca nhiễm mới vừa được xác nhận tại Pháp và Tây Ban Nha, hành trình hồi hương này không chỉ là một cuộc sơ tán, mà còn là cuộc chạy đua nhằm ngăn chặn một cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu.
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Sợi chỉ đỏ gắn kết, tạo sự đồng thuận của nhân dân, hun đúc sức mạnh đoàn kết để xây dựng và phát triển đất nước.- Từ hôm nay, Nghị định số 85 của Chính phủ về bảo hiểm hưu trí bổ sung tự nguyện chính thức có hiệu lực, tạo thêm kênh tích lũy dài hạn cho người lao động.- Thiếu các trung tâm kiểm nghiệm tại chỗ đang là điểm nghẽn chung của nông sản Việt. Hội nông dân thành phố Đồng Nai kiến nghị thành lập trung tâm kiểm nghiệm tại địa phương để khắc phục tình trạng thủ phủ sầu riêng mất cơ hội vàng xuất khẩu do thiếu đơn vi kiểm nghiệm nông sản.- Tàu MV Hondius - nơi ghi nhận ổ dịch Hantavirus khiến ba người tử vong, hôm nay cập cảng Tây Ban Nha. Chính phủ nhiều nước có hành khách trên tàu triển khai kế hoạch sơ tán và cách ly công dân.- Châu Âu ra mắt hàng loạt nền tảng mạng xã hội mới nhằm tạo đối trọng với các "ông lớn” công nghệ Mỹ và châu Á.
VOV1 - Tàu du lịch MV Hondius mang cờ Hà Lan, nơi ghi nhận ổ dịch antavirus khiến ba người tử vong, hôm nay đã cập cảng Tenerife của Tây Ban Nha. Chính phủ nhiều nước có hành khách trên con tàu, trong đó có Mỹ và nhiều nước Châu Âu đang khẩn trương triển khai kế hoạ.Con tàu chở hơn 140 hành khách và thủy thủ đoàn cập cảng sau nhiều ngày lênh đênh trên biển kể từ khi phát hiện các ca nhiễm Hantavirus chủng Andes, chủng virus hiếm gặp có khả năng lây truyền từ người sang người trong một số trường hợp đặc biệt.WHO cho biết các chuyến bay sơ tán dự kiến hoàn tất trong hôm nay và ngày mai. Mỹ và Anh đã điều máy bay để đưa công dân hồi hương, trong khi Hà Lan, quốc gia treo cờ của con tàu phối hợp với Tây Ban Nha chuẩn bị phương án tiếp nhận và giám sát y tế đối với hành khách mang quốc tịch Hà Lan cũng như một số công dân nước khác.Trước tâm lý lo ngại gia tăng tại Tenerife, nơi con tàu cập cảng, Tổng Giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus đã trực tiếp tới hòn đảo này cùng Bộ trưởng Y tế Tây Ban Nha Monica Garcia và Bộ trưởng Nội vụ Fernando Grande-Marlaska để phối hợp kế hoạch tiếp nhận và sơ tán hành khách. Trong thông điệp gửi tới người dân Tenerife, ông Tedros Adhanom Ghebreyesus nhấn mạnh: “Đây không phải là COVID và WHO đã nhiều lần khẳng định điều đó. Khi nói như vậy, chúng tôi hoàn toàn không xem nhẹ tình hình hiện nay. Điều tôi muốn nhấn mạnh thêm là nguy cơ đối với cộng đồng địa phương ở mức thấp. Thứ nhất là do đặc điểm của chính loại bệnh này. Thứ hai là vì Chính phủ Tây Ban Nha đã có sự chuẩn bị đầy đủ nhằm ngăn ngừa mọi rủi ro có thể xảy ra.”Hantavirus là loại virus có thể gây bệnh nghiêm trọng, thường lây lan qua tiếp xúc với chất thải của loài gặm nhấm nhiễm bệnh. Dù virus này không dễ lây giữa người với người, chủng Andes được phát hiện trên tàu được đánh giá có khả năng lây truyền hạn chế trong một số trường hợp hiếm gặp. Các triệu chứng có thể xuất hiện từ 1 đến 8 tuần sau phơi nhiễm.Giới chức Tây Ban Nha cho biết toàn bộ quá trình đưa người xuống tàu sẽ được thực hiện trong “điều kiện an toàn tối đa”. MV Hondius không cập cảng trực tiếp mà neo đậu ngoài khơi, hành khách được chuyển vào bờ bằng thuyền nhỏ. Những người xuống tàu chỉ được mang theo vật dụng thiết yếu và sẽ phải cách ly y tế. Bộ trưởng Nội vụ Tây Ban Nha Fernando Grande-Marlaska cho biết: “Ngay khi tàu đến nơi, toàn bộ hệ thống sẽ được kích hoạt để bảo đảm quá trình đưa hành khách và thủy thủ đoàn xuống tàu, cũng như hồi hương họ về nước, diễn ra nhanh nhất có thể và trong điều kiện an toàn tối đa. Việc đưa người xuống tàu sẽ được thực hiện theo từng nhóm quốc tịch. Như Bộ trưởng Y tế đã đề cập, chỉ khi máy bay của một quốc gia cụ thể đã có mặt trên đường băng và sẵn sàng cất cánh, công dân của quốc gia đó mới được phép rời tàu và được đưa vào cảng bằng thuyền nhỏ.”Tây Ban Nha đã kích hoạt cơ chế bảo vệ dân sự của Liên minh châu Âu (EU), chuẩn bị sẵn máy bay y tế chuyên dụng để xử lý tình huống khẩn cấp nếu có trường hợp phát bệnh trong quá trình sơ tán.Bên cạnh công tác ứng phó trước mắt, các cơ quan y tế trên nhiều châu lục cũng đang chạy đua truy vết hàng chục hành khách đã rời tàu trước khi dịch bệnh được xác nhận. Theo giới chức Hà Lan, hơn 20 người thuộc ít nhất 12 quốc gia đã xuống tàu hôm 24/4 mà chưa được theo dõi y tế do thời điểm đó chưa xác định có ổ dịch. Tuy nhiên, cả WHO và các cơ quan y tế châu Âu đều nhấn mạnh hiện chưa có bằng chứng cho thấy nguy cơ bùng phát đại dịch mới, đồng thời kêu gọi công chúng giữ bình tĩnh và tuân thủ hướng dẫn y tế chính thức../. Thu Hoài/Ban Thời sự VOV1Tàu MV Hondius. Ảnh: Reuters
VOV1 - Ngày 9/5, nhiều quốc gia châu Âu, trong đó có Đức, Pháp, Bỉ, Ireland và Hà Lan, đang triển khai máy bay để sơ tán công dân khỏi tàu du lịch MV Hondius sau khi xuất hiện các ca nhiễm vi-rút Hanta.Phát biểu trước báo giới, Bộ trưởng Nội vụ Tây Ban Nha Fernando Grande-Marlaska cho biết, Đức, Pháp, Bỉ, Ai-len và Hà Lan đã triển khai các chuyến bay hồi hương công dân của mình. Ngoài ra, Liên minh châu Âu (EU) sẽ điều động thêm hai chuyến bay hỗ trợ sơ tán công dân các nước thành viên còn lại. Song song đó, Anh và Mỹ cũng đang chuẩn bị các phương án riêng để đưa công dân về nước.Trước đó, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xác nhận hiện đã ghi nhận 8 ca nhiễm liên quan đến ổ dịch trên tàu, trong đó có 3 trường hợp tử vong gồm hai công dân Hà Lan và một công dân Đức. Các ca bệnh được xác định liên quan đến biến thể Andes của virus Hanta, một chủng hiếm gặp có khả năng lây truyền trực tiếp giữa người với người khi tiếp xúc gần.Tại Pháp, Thủ tướng Sébastien Lecornu sẽ chủ trì một cuộc họp tại Điện Matignon vào hôm nay nhằm đánh giá tình hình và đưa ra các biện pháp ứng phó. Cuộc họp được cho là sẽ tập trung vào công tác tiếp nhận, cách ly và hồi hương công dân Pháp, với sự tham gia của nhiều bộ và cơ quan chức năng.Tổng Giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus đã có mặt tại Tây Ban Nha để trực tiếp phối hợp chiến dịch ứng phó. WHO nhấn mạnh rằng tình hình hiện nay chưa phải là một cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu tương tự COVID-19 và nguy cơ lây lan trên diện rộng hiện vẫn được đánh giá ở mức thấp.Theo giới phân tích, phản ứng nhanh của các nước châu Âu cho thấy mức độ cảnh giác ngày càng cao trước các bệnh truyền nhiễm mới nổi, đồng thời phản ánh nỗ lực tăng cường phối hợp y tế và bảo vệ công dân trong bối cảnh các nguy cơ dịch bệnh toàn cầu tiếp tục diễn biến phức tạp./.Anh Tuyển/VOV-ParisCác ca bệnh được xác định liên quan đến biến thể Andes của virus Hanta, một chủng hiếm gặp có khả năng lây truyền trực tiếp giữa người với người khi tiếp xúc gần - Ảnh: Reuters
VOV1 - Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio ngày 8/5 đã có các cuộc gặp với giới lãnh đạo Italia và Vatican nhằm thúc đẩy nỗ lực hàn gắn quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh châu Âu, trong bối cảnh những bất đồng gay gắt liên quan cuộc xung đột tại Trung Đông.Phát biểu sau cuộc hội đàm với Thủ tướng Italia Giorgia Meloni và Ngoại trưởng Antonio Tajani tại Rome, Ngoại trưởng Marco Rubio nhấn mạnh tầm quan trọng của quan hệ xuyên Đại Tây Dương, đồng thời kêu gọi châu Âu có lập trường cứng rắn hơn đối với Iran.“Trong cuộc khủng hoảng vừa qua, một số quốc gia châu Âu, trong đó có Tây Ban Nha, đã từ chối cho phép chúng tôi sử dụng các căn cứ cho một nhiệm vụ mà chúng tôi cho là rất quan trọng. Việc từ chối này tuy không làm gián đoạn hoàn toàn chiến dịch, nhưng đã gây thêm khó khăn, tổn thất và tạo ra những rủi ro không cần thiết. Vì vậy, nếu một trong những lý do cốt lõi để Mỹ duy trì hiện diện trong NATO là khả năng triển khai lực lượng từ châu Âu tới các điểm nóng khẩn cấp, thì việc một số đồng minh không còn sẵn sàng hỗ trợ năng lực đó rõ ràng là vấn đề cần được xem xét nghiêm túc.”Chuyến thăm diễn ra sau nhiều tuần căng thẳng giữa Mỹ và một số đồng minh châu Âu liên quan chiến dịch quân sự nhằm vào Iran, các tranh cãi về thuế quan cũng như những phát biểu chỉ trích của Tổng thống Donald Trump đối với giới lãnh đạo châu Âu và Vatican.Dù còn khác biệt, cả Mỹ và Italia đều phát tín hiệu muốn duy trì hợp tác chiến lược. Thủ tướng Giorgia Meloni mô tả cuộc gặp với ông Marco Rubio là “mang tính xây dựng, thẳng thắn và hiệu quả”, đồng thời khẳng định hai bên đều hiểu tầm quan trọng của liên minh xuyên Đại Tây Dương.Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Antonio Tajani cũng tái khẳng định vai trò then chốt của quan hệ Mỹ- châu Âu trong bối cảnh an ninh toàn cầu nhiều biến động.“Tôi nhắc lại rằng sự hiện diện của Mỹ ở châu Âu rất quan trọng đối với chúng tôi trong việc tăng cường NATO và tất nhiên, một cam kết mạnh mẽ từ phía châu Âu về vấn đề này cũng rất quan trọng, điều mà người châu Âu đã và đang làm. Chúng tôi không muốn chiến tranh thương mại và chúng tôi ủng hộ một thị trường rộng lớn bao gồm châu Âu, Mỹ, Canada và Mexico. Tôi tin rằng mọi thứ có thể đi đúng hướng. Quan hệ xuyên Đại Tây Dương vẫn như vậy. Tôi tin chắc rằng châu Âu cần Mỹ, Italia cần Mỹ và Mỹ cũng cần châu Âu và Italia.”Tại Vatican, Ngoại trưởng Marco Rubio cũng tìm cách xoa dịu những căng thẳng sau các chỉ trích nhằm vào lời kêu gọi hòa bình của Giáo hoàng Leo XIV liên quan xung đột Iran. Nhà ngoại giao Mỹ khẳng định nước này vẫn cam kết duy trì quan hệ “hiệu quả và có ích” với Giáo hội Công giáo.Giới phân tích cho rằng chuyến công du của Ngoại trưởng Marco Rubio phản ánh nỗ lực của Mỹ nhằm củng cố quan hệ với các đồng minh châu Âu, trong bối cảnh xung đột Trung Đông tiếp tục gây sức ép đối với an ninh và kinh tế toàn cầu./.Thu Hoài/VOV1Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio
Tổ chức Y tế Thế giới trấn an người dân Hantavirus không phải là “COVID tiếp theo”, trong bối cảnh một du thuyền ngoài khơi Cape Verde ghi nhận ba ca tử vong và nhiều ca nghi nhiễm. Con tàu hiện đang trên đường tới Tây Ban Nha để sơ tán hành khách, trong khi giới chức y tế khuyến cáo chủng virus trong vụ lần này có thể lây từ người sang người
VOV1 - Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết đang triển khai các hoạt động sơ tán y tế khẩn cấp và đánh giá rủi ro sau khi ghi nhận ba trường hợp tử vong cùng nhiều ca nghi nhiễm virus Hanta trên tàu du lịch MV Hondius, hiện neo đậu ngoài khơi vùng biển Tây Phi.Ba hành khách đã thiệt mạng và ít nhất bốn người khác xuất hiện triệu chứng trên tàu. WHO cho biết hành khách hiện “đang tự cách ly trong khoang” với các biện pháp giãn cách nghiêm ngặt. Theo Công ty Oceanwide Expeditions, đơn vị vận hành tàu, hai máy bay chuyên dụng đang tới Cape Verde để sơ tán hai trường hợp cần chăm sóc y tế khẩn cấp cùng một người đi cùng nạn nhân người Đức đã tử vong trước đó. Những người này dự kiến được đưa về Hà Lan, song thời điểm cụ thể chưa được xác định.Sau khi hoàn tất sơ tán, con tàu dự kiến tiếp tục hành trình tới quần đảo Canary. Giới chức y tế Tây Ban Nha cũng xác nhận đang theo dõi tình hình và sẽ quyết định cảng đến thích hợp nhất. Trong khi đó, Chính quyền Cape Verde đã thiết lập khu cách ly và đội ngũ y tế chuyên trách. Bà Ângela Gomes, Giám đốc Y tế Quốc gia Cape Verde cho biết:“Bệnh viện đã chuẩn bị sẵn một khu vực có khả năng cách ly, nếu cần thiết, thể hiện khả năng huy động và ứng phó của chúng tôi. Một đội ngũ chuyên trách đã được thành lập, gồm các bác sĩ, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm, y tá và kỹ thuật viên xét nghiệm, để hỗ trợ bệnh nhân trên tàu và, nếu cần, cả trên đất liền.”Diễn biến dịch bệnh cho thấy quá trình lây nhiễm đã kéo dài nhiều tuần trước khi được xác nhận. Ca bệnh đầu tiên xuất hiện triệu chứng từ ngày 6/4 và tử vong ngày 11/4 trên biển, song phải đến cuối tháng 4, sau khi một bệnh nhân được chuyển tới Nam Phi và có kết quả xét nghiệm dương tính, virus hanta mới được xác định là tác nhân nghi ngờ. WHO hiện coi đây là một ổ dịch tiềm tàng và đang tiếp tục điều tra nguồn gốc, trong đó có giả thiết liên quan đến biến thể Andes lưu hành tại Nam Mỹ.Cơ quan y tế Liên hợp quốc nhấn mạnh nguy cơ lây lan toàn cầu ở mức thấp, song vẫn theo dõi chặt chẽ tình hình trên tàu. Quyền Giám đốc về Chuẩn bị và Phòng ngừa Dịch bệnh và Đại dịch của WHO Maria Van Kerkhove cho biết:“Tình hình đang được theo dõi sát sao, và để đề phòng, hành khách được yêu cầu ở lại trong cabin trong khi việc khử trùng và các biện pháp y tế công cộng khác được thực hiện. Các đội ngũ y tế từ Cape Verde đang hỗ trợ trên tàu. Kế hoạch và ưu tiên hàng đầu của chúng tôi là sơ tán y tế hai người này để đảm bảo họ nhận được sự chăm sóc cần thiết. Vì vậy, kế hoạch hiện đang được tiến hành. Kế hoạch tiếp theo là con tàu sẽ tiếp tục hành trình đến quần đảo Canary.”Đợt bùng phát dịch bệnh lần này được đánh giá là bất thường khi virus Hanta, vốn lây truyền chủ yếu qua tiếp xúc với chất thải của loài gặm nhấm lại xuất hiện trên một phương tiện vận tải khép kín như du thuyền. Theo các chuyên gia y tế, đây là diễn biến “khá hiếm gặp” và cần được nghiên cứu kỹ hơn về cơ chế lây truyền.Virus Hanta có thể gây hội chứng phổi (HPS) với tỷ lệ tử vong cao, có thể lên tới 40%, trong khi hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Diễn biến lần này vì vậy đặt ra yêu cầu tăng cường giám sát dịch tễ, năng lực xét nghiệm và khả năng ứng phó y tế trên các hành trình dài qua khu vực hẻo lánh, trong bối cảnh du lịch thám hiểm ngày càng phát triển./.Thu Hoài/VOV1Trụ sở WHO tại Thụy Sĩ (Ảnh: Reuters)
VOV1 - Truyền thông Thổ Nhĩ Kỳ đêm qua cho biết chiếc máy bay chở Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sanchez hồi tối qua đã phải hạ cánh khẩn cấp xuống Thổ Nhĩ Kỳ vì lý do kỹ thuật.Theo hãng thông tấn Anadolu của Thổ Nhĩ Kỳ, chiếc Airbus A310 chở Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sanchez, đang trên đường từ Madrid tới Yerevan, Armenia, đã gặp sự cố kỹ thuật và phải hạ cánh cấp xuống sân bay quốc tế ở Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ. Nguồn tin không đề cập tình trạng sức khỏe của ông Sanchez cũng như những người có mặt trên chuyến bay, nhưng cho biết Thủ tướng Tây Ban Nha ở lại Ankara một đêm và khởi hành tới Yerevan trong sáng sớm nay.Đây là lần thứ 2 trong chưa đầy một năm qua, máy bay chở Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sanchez gặp sự cố kỹ thuật và phải điều chỉnh lịch trình bay. Trước đó, ông Pedro Sanchez cũng đã bị lỡ cuộc họp về Ukraine tại Paris, Pháp hôm 4/9/2025, vì lý do tương tự./. VOV Ai CậpMáy bay Airbus A310 chở ông Sanchez đến Armenia phải hạ cánh xuống Ankara (Thổ Nhĩ Kì) sau khi gặp sự cố kỹ thuật - Ảnh: EPA
VOV1 - Hôm qua 30/4, 12 quốc gia thuộc nhiều châu lục khác nhau đã ra tuyên bố chung mạnh mẽ lên án việc Israel chặn đoàn tàu cứu trợ ủng hộ dải Gaza và bắt giữ các nhà hoạt động quốc tế trên tàu.Tuyên bố chung lên án Israel, được Ngoại trưởng 12 nước gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, Jordan, Pakistan, Tây Ban Nha, Malaysia, Bangladesh, Colombia, Maldives, Mauritania, Nam Phi và Libya, công bố chiều qua, ít giờ sau khi hải quân Israel chặn đội tàu ủng hộ dải Gaza với tên gọi “Đoàn tàu tự do Global Sumud” trên biển Địa Trung Hải và bắt giữ 175 nhà hoạt động quốc tế trong đội tàu. Tuyên bố chung khẳng định hành động chặn bắt của Israel là sự xâm phạm trắng trợn luật pháp quốc tế, trong đó có luật nhân quyền. Tuyên bố chung kêu gọi cộng đồng quốc tế thực thi đầy đủ nghĩa vụ đạo đức và luật pháp về thượng tôn pháp luật, bảo vệ dân thường và đảm bảo các hành vi xâm phạm luật pháp phải bị trừng trị. Trước đó, Bộ Ngoại giao Israel thông báo hải quân nước này hồi sáng sớm qua đã chặn 21 trong tổng số 58 tàu thuộc đội tàu ủng hộ dải Gaza và bắt giữ 175 nhà hoạt động trên các tàu, tại vị trí gần đảo Crete của Hy Lạp.“Đoàn tàu tự do Global Sumud” xuất phát từ cảng Barcelona, Tây Ban Nha hôm 12/4 với sự tham gia của 58 tàu cùng hàng trăm nhà hoạt động quốc tế thuộc nhiều quốc tịch khác nhau. Đại diện của đội tàu chỉ trích gay gắt động thái ngăn chặn và bắt giữ của hải quân Israel, coi đó là hành vi vi phạm luật pháp quốc tế vì nó diễn ra tại vùng biển quốc tế, cách xa Israel hàng trăm dặm./.VOV Ai CậpĐội thuyền Global Sumud Flotilla xuất phát từ Barcelona (Tây Ban Nha) ngày 12-4 - Ảnh: AP
Washington đang giúp Bắc Kinh trở thành một mắt xích quan trọng của chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu. Chiến tranh Trung Đông là bàn đạp cho năng lượng tái tạo Trung Quốc vào lúc quốc gia châu Á này đã đi trước phương Tây về công nghệ chế tạo bình điện cho ô tô, năng lượng gió và pin mặt trời. Cuộc chạy đua tìm nguồn năng lượng thay thế Do tác động xung đột ở Vùng Vịnh từ hôm 28/02/2026, eo biển Hormuz gần như bị phong tỏa, thế giới mất đi 1/5 năng lượng hóa thạch (dầu hỏa và khí đốt) phải đi qua « vùng chiến sự này ». Châu Á lao vào một cuộc chạy đua tìm các nguồn cung cấp thay thế cho năng lượng nhập khẩu từ Trung Đông. Bản thân Trung Quốc vỗn phụ thuộc đến 13 % của Iran và gần 50 % vào năng lượng hóa thạch từ các nước trong Vùng Vịnh, đang phải đối mặt với nguy cơ tăng trưởng sụt giảm nếu chiến tranh Trung Đông kéo dài. Bốn năm sau « khủng hoảng năng lượng » vì chiến tranh Ukraina gây nên, Liên Hiệp Châu Âu một lần nữa lại lo « khủng hoảng dầu từ Trung Đông » làm tê liệt các nhà máy, thiếu hụt nhiên liệu máy bay trước thềm mùa du lịch cao điểm của hai tháng hè. Liên minh châu Âu, Anh, Pháp hay Nhật Bản, Philippines... các chính phủ đã phản ứng trước việc giá dầu và khí đốt tăng bằng cách kêu gọi « tăng tốc tiến trình điện hóa » và phát triển hạ tầng năng lượng sạch. Kêu gọi mở rộng mạng lưới cung cấp điện gió, điện mặt trời, sử dụng ô tô điện được coi là những giải pháp đầu tiên để bớt phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch. Châu Âu vội vàng giảm nhẹ các chuẩn mực về môi trường để quan tâm hơn đến điện hạt nhân và kể cả than đá. Tại Seoul, tổng thống Lee Jae Myung cảnh báo tương lai Hàn Quốc bị đe dọa nếu như quốc gia này « tiếp tục bị phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch ». Thậm chí tại Irak, một quốc gia dầu hỏa thì nhu cầu trang bị pin mặt trời mà Trung Quốc là bên cung cấp độc quyền, đã tăng mạnh trong tháng 3/2026. Sau hai tháng eo biển Hormuz bị phong tỏa, nhiều quốc gia xem năng lượng tái tạo, ô tô điện là « những giải pháp thay thế », để bảo toàn tăng trưởng. Công nghệ và năng lượng xanh trong tay Bắc Kinh Trong tất cả những lĩnh vực này, Trung Quốc đang dẫn đầu : đã chinh phục 70 % thị trường ô tô điện trên thế giới và 80 % pin mặt trời các hộ gia đình đang trang bị hiện nay là sản phẩm made in China, theo số liệu của Cơ Quan Năng Lượng Quốc Tế AIE. Chỉ riêng trong tháng 2/2026 khi căng thẳng giữa Iran với Hoa Kỳ bắt đầu leo thang, Trung Quốc xuất khẩu hơn 20 tỷ đô la « công nghệ xanh » cho thế giới. Thống kê của hải quan nước này cho thấy khối lượng ô tô điện Trung Quốc xuất khẩu trong tháng 3/2026 tăng « hơn gấp đôi » so với cùng thời kỳ năm ngoái. « Trung Quốc là bên thắng lớn » Nhà nghiên cứu về khí hậu và năng lượng tại cơ quan tư vấn của Mỹ Council on Foreign Relations David M. Hart nhận định « Trung Quốc là bên thắng lớn ». Trả lời thông tín viên RFI tại Bắc Kinh, Cléa Broadhurst, giáo sự Đinh Nhất Phàm ( Ding Yifan) thuộc Viện Nghiên cứu Phát triển Thế giới thuộc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển – Institute of World Development Studies giải thích thêm về thành quả Trung Quốc có được hôm nay : « Đây là kết quả của cả một quá trình hơn 10 năm Trung Quốc tìm cách đa dạng hóa các nguồn năng lượng. Bắc Kinh vừa đa dạng hóa các nguồn nhiệt điện, vừa phát triển năng lượng xanh trọng mọi lĩnh vực. Do vậy Trung Quốc đã chuẩn bị để đối phó với mọi tình huống, kể cả trong trường hợp đột ngột mất đi một nguồn cung cấp. Bắc Kinh đã đầu tư rất nhiều để phát triển năng lượng tái tạo. Hiện nay Trung Quốc là nguồn sản xuất điện gió và điện mặt trời số 1 trên thế giới, chiếm gần một nửa năng lượng xanh sản xuất trên thế giới. Nhờ thế mà quốc gia này giảm thiểu được đáng kể những nguy cơ thiếu hụt năng lượng hóa thạch ». Nghiên cứu của đại học Oxford năm 2025 cho thấy năng lượng tái tạo giúp Bắc Kinh bớt phụ thuộc từ 50 đến 60 % vào năng lượng hóa thạch của Trung Đông. Theo cơ quan tư vấn Ember Energy, trong giai đoạn 2022 -2030 sản xuất năng lượng xanh của Trung Quốc tăng « gấp đôi ». Bản thân Trung Quốc cũng đang là một tấm gương trong lĩnh vực này : 12 % xe hơi lưu hành tại Trung Quốc là xe chạy điện, 30 % xe vận tải mới bán ra trên thị trường ở Hoa Lục không còn chạy bằng xăng hay dầu. Cú hích cho xuất khẩu Một nhà xuât khẩu pin mặt trời tại Thanh Đảo được báo kinh tế Pháp Les Echos trích dẫn cho biết, trong tháng 3/2026 doanh thu tăng lên gấp ba lần so với một tháng trước đó. Ngay những giờ đầu khi eo biển Hormuz bị đóng cửa, Philippines vốn phải nhập khẩu đến 98 % dầu hỏa tiêu thụ nội địa, đã lập tức « ban hành tình trạng khẩn cấp năng lượng » đồng thời « tăng tốc tiến trình phát triển năng lượng xanh ». Báo tài chính Mỹ The Wall Street Journal ghi nhận, để thực hiện mục tiêu này, Manila sẽ « phụ thuộc nhiều hơn vào thiết bị của Trung Quốc ». Điều đó cũng có nghĩa là Philiipines nên nhanh chóng quên đi những tranh chấp chủ quyền biển đảo với Bắc Kinh. Eo biển Hormuz bị đóng cửa dài ngày, từ Canada đến Phần Lan, Anh Quốc đều vội vã « sưởi ấm quan hệ với Bắc Kinh ». Thủ tướng Tây Ban Nha vừa đến Trung Quốc và một trong những hồ sơ lớn được thảo luận liên quan đến « hợp tác phát triển năng lượng xanh », « bảo đảm an toàn cho các nguồn cung cấp khoáng sản chiến lược », nguyên liệu thiết yếu cho công nghệ xanh. Bộ trưởng Kinh Tế Đức chuẩn bị đến Bắc Kinh với những mục tiêu tương tự. Trong điều kiện đó, liệu Bruxelles còn dám đòi đánh thuế ô tô điện của Trung Quốc xuất khẩu sang châu Âu hay không ? Chuyên gia người Trung Quốc Định Nhất Phàm nêu lên một khía cạnh khác cho thấy xung đột ở Trung Đông vừa thách thức Bắc Kinh nhưng cũng vừa mở ra nhiều cơ hội cho nước này. « Tàu thuyền Trung Quốc đã được phép đi qua. Ngay cả trong trường hợp eo biển Hormuz có hoàn toàn bị phong tỏa đi chăng nữa thì với các nguồn cung cấp đa dạng như với Nga, Úc hay năng lượng đi qua ngả Alaska, dây chuyền cung cấp cho Trung Quốc không sợ bị đứt quãng. Nhưng đối với các doanh nghiệp thì khác. Tập đoàn vận tải đường biển Cosco, lớn nhất thế giới chẳng hạn, đang thực sự đau đầu vì tình hình ở eo biển Hormuz. Cùng lúc một số phương tiện giao thông khác lại có lợi, chẳng hạn như chuyên chở bằng đường sắt, hệ thống xe tải trên bộ … » Một cột trụ tương lai trên bàn cờ năng lượng quốc tế ? Nhìn xa hơn, Trung Quốc đang củng cố hình ảnh của một quốc gia đáng tin cậy trên nhiều phương diện kể cả trong vai trò một nhà cung cấp năng lượng đáng tin cậy, bao gồm cả các nước trong Vùng Vịnh. Chuyên gia Trung Quốc về khu vực này thuộc Đại học ngoại ngữ Chiết Giang, Mã Hiểu Lâm (Ma Xiaolin), phân tích với RFI : « Không loại trừ khả năng chiến tranh Trung Đông là bệ phóng cho công nghệ của Trung Quốc, đặc biệt là trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, siêu dữ liệu, điện toán hiệu năng cao... Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất đang muốn phát huy các lĩnh vực này. Năm ngoái, Abou Dabi đã đầu tư rất nhiều vào Mỹ để xây dựng các trung tâm xử lý dữ liệu. Nhưng với những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, với những xáo trộn ở Trung Đông và nhất là sau vụ Iran phá hủy những trung tâm xử lý dữ liệu của Amazone và Oracle, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất có thể sẽ đẩy mạnh hướng hợp tác với Trung Quốc về công nghệ cao ». Công nghệ xanh và khoáng sản chiến lược Không có khoáng sản hiếm thì không có công nghệ xanh. Hiện tại, Trung Quốc đang kiểm soát đến 90 % xuất khẩu đất hiếm. Cả Mỹ cũng phải phụ thuộc vào đối tác châu Á này. Vừa có nguyên liệu, vừa làm chủ công nghệ chế tạo từ bình điện ô tô đến xe hơi, từ những tấm pin mặt trời đến công nghiệp chế tạo cánh quạt để tạo ra năng lượng gió. Thông tín viên Cléa Broadhurts từ Bắc Kinh nói đến thế áp đảo của Trung Quốc ở nhiều cấp độ khác nhau. « Giá đất hiếm tăng mạnh, nhu cầu về năng lượng tái tạo bùng nổ. Trung Quốc củng cố vị thế chiến lược ở nhiều cấp độ. Trước hết, liên quan đến đất hiếm. Đây là những kim loại thiết yếu trong công nghệ điện gió, cũng không thể thiếu để chế tạo bình điện ô tô hay xe điện. Trên tất cả những lĩnh vực này Trung Quốc đều chiếm thế thượng phong và nhất là đang kiểm soát phần lớn dây chuyển sản xuất. Việc giá cả tăng 45 % là tín hiệu mạnh. Lý do là Trung Quốc vừa hạn chế xuất khẩu vừa đang đối phó với căng thẳng ngày càng lớn với Washington. Mỹ muốn bảo đảm các nguồn cung cấp về khoáng sản chiến lược. Ngoài ra Bắc Kinh còn được hưởng lợi từ khan hiếm năng lượng toàn cầu. Chiến tranh Trung Đông gây xáo trộn trên thị trường dầu hỏa và khí đốt, như thể đang tạo đà cho năng lượng tái tạo. Nhiều quốc gia trên thế giới và người tiêu dùng tư nhân đang hướng về năng lượng mặt trời, năng lượng gió và bình điện để thay thế. Trung Quốc đang dẫn đầu trên tất cả những phương diện đó. Phần lớn pin mặt trời trên thế giới là do Trung Quốc sản xuất, bình điện hay ô tô điện cũng vậy. Hệ quả là kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc trong các lĩnh vực này tăng nhanh. Đối với nhiều quốc gia, giảm phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch có nghĩa là phải chấp nhận để lệ thuộc vào thiết bị của Trung Quốc. Đây là một sự thay đổi thầm lặng. Chuyển đổi năng lượng cũng đang làm thay đổi tương quan lực lượng giữa Trung Quốc với phần còn lại trên thế giới. Chưa chắc đây sẽ là một mối quan hệ sẽ cân đối hơn ». Sau hai tháng chiến sự tại Trung Đông, Trung Quốc cũng như phần còn lại trên thế giới đương nhiên mong thị trường dầu, khí hạ nhiệt. Cái may của Bắc Kinh là có thể trông cậy vào năng lượng hóa thạch của Nga. Cùng lúc, cơn sốt năng lượng hiện tại là một cú hích bất ngờ cho các nhà sản xuất ô tô điện Trung Quốc, là một tin vui cho ngành xuất khẩu thiết bị năng lượng xanh. Chỉ có các quốc gia phải nhập khẩu năng lượng thì đang chuyển từ tình trạng « phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch » mà các nước Vùng Vịnh đến nay là một đối tác quan trọng bậc nhất, sang thế phụ thuộc vào Trung Quốc. Giới trong ngành nói đến một « cuộc cách mạng đang hình thành trên bàn cờ năng lượng quốc tế », có lợi cho Bắc Kinh. Chiến tranh Iran mà Mỹ và Israel khởi động là bệ phóng cho ngành công nghệ xanh của đối thủ quan trọng nhất trong mắt Washington.
Review các phim ra rạp từ ngày 10/04/2026:Bẫy Tiền: Cú Lừa Tiền Tỷ - T16 Thể loại: Giật Gân, Tâm Lý Đạo diễn: Oscar Dương Diễn viên: Liên Bỉnh Phát, Lê Tam Triều DângKhi một vụ lừa đảo qua điện thoại bất ngờ ập đến, Đăng Thức tưởng chừng nắm trong tay cuộc sống ổn định bỗng bị cuốn vào vòng xoáy nguy hiểm giữa tiền bạc, tình thân và niềm tin - nơi mỗi lựa chọn không chỉ đánh đổi bằng tiền, mà còn bằng chính những người anh yêu thương. DƯỚI BÓNG ĐIỆN HẠ - T16Đạo diễn: Chang Hang-junDiễn viên: Yoo Hai-jin, Park Ji-hoon, Yoo Ji-tae, Jeon Mi-doThể loại: Lịch SửLấy mốc năm 1457 dưới triều đại Joseon, Dưới Bóng Điện Hạ khắc họa số phận nghiệt ngã của vua Danjong - vị quân vương thứ sáu của triều đại (Park Ji-hoon thủ vai). Bị chính người chú lật đổ, phế truất và đày đến vùng Cheongnyeongpo heo hút, cuộc đời của vị vua trẻ rẽ sang một ngã rẽ đầy u uất. Tại chốn lưu đày, ông gặp trưởng làng Eom Heung Do (Yoo Hai-jin thủ vai) - người đã chủ động biến ngôi làng nghèo thành nơi giam giữ nhà vua, đổi lại hy vọng cứu vãn sinh kế cho dân làng. Từ hai thân phận tưởng chừng đối lập, một cựu đế vương và một thường dân, bộ phim dần hé mở mối liên kết lặng lẽ nhưng sâu sắc - nơi lòng trung thành, sự che chở âm thầm và những phận người nhỏ bé cùng trôi dạt giữa cơn sóng lớn của lịch sử.CÚ SỐC – T18Đạo diễn: Kristoffer BorgliDiễn viên: Zendaya, Robert Pattinson, Thể loại: Hài, Tâm Lý, Tình cảmChuyện tình hoàn hảo của Emma (Zendaya) và Charlie (Robert Pattinson) bỗng vỡ vụn ngay trước thềm đám cưới. Một biến cố đen tối đột ngột ập đến bóc trần những dối trá kinh hoàng, đẩy cả hai vào mê cung của sự hoang mang và nghi kỵ. Sirat: Chuyến Đi Bão Cát - T18Quốc gia: Tây Ban Nha, Pháp Thể loại: Phiêu Lưu, Tâm Lý Đạo diễn: Oliver Laxe Diễn viên: Stefania Gadda, Bruno Núñez Arjona, Luis cùng cậu con trai Esteban đang thực hiện chuyến hành trình băng qua miền Nam Morocco. Họ mải miết đi tìm con gái của Luis, người đã mất tích năm tháng sau lần cuối cùng được nhìn thấy tại một lễ hội trên sa mạc. Khi hai cha con rong đuổi từ bữa tiệc này sang bữa tiệc khác, họ nghe phong thanh về một buổi đại nhạc hội rave mang màu sắc huyền thoại gần biên giới Mauritania. Dấn thân vào vùng đất khô cằn trong bối cảnh một cuộc xung đột toàn cầu đang cận kề, Luis và Esteban sớm bị cuốn vào một khung cảnh thiên nhiên nguyên thủy, nơi họ buộc phải bước đi trên sợi dây mong manh giữa thiên đàng và địa ngục. TRÒ CHƠI CỦA QUỶ 2 – T18Đạo diễn: Matt Bettinelli-Olpin & Tyler GillettDiễn viên: Samara Weaving, Sarah Michelle Gellar,..Thể loại: Hồi hộp, Kinh DịChỉ ít phút sau khi sống sót qua cuộc tấn công từ gia tộc Le Domas, Grace (Samara Weaving) phát hiện mình đã bước sang cấp độ tiếp theo của trò chơi ác mộng - và lần này, cô có người em gái xa cách Faith (Kathryn Newton) đồng hành. QUỶ DỮ TỪ LUYỆN NGỤC – T18Đạo diễn: Ekkachai SrivichaikDiễn viên: Sai Charoenpura, Saiparn Apinya, Thể loại: Kinh DịKingkaew lấy cảm hứng từ vụ án có thật năm 1978, tại nhà tù Bang Kwang khét tiếng. Một người phụ nữ mắc bệnh tâm thần bị buộc tội bắt cóc và sát hại trẻ em gây chấn động. DỊCH VỤ GIAO HÀNG CỦA PHÙ THỦY KIKIĐạo diễn: Hayao MiyazakiThể loại: Hoạt HìnhTheo truyền thống, khi tròn 13 tuổi, con gái của các phù thủy phải rời xa quê hương để học cách tự lập . Kiki cũng thế, cô lên đường cùng chú mèo đen Jiji, bay đến thị trấn ven biển Koriko xa lạ. Tại đây, cô được một bà chủ tiệm bánh tốt bụng cưu mang và bắt đầu làm phụ tá cho bà, đồng thời cũng bắt đầu mở dịch vụ giao hàng mới bằng chổi bay. Cuộc sống mới mang đến cho Kiki những niềm vui, thất bại và thử thách đầu đời. Xen giữa hành trình ấy là tình bạn với Tombo - cậu bé có đam mê mãnh liệt với máy bay chạy bằng sức người. Tất cả đã giúp Kiki từng bước trưởng thành và hòa nhập với thị trấn biển đầy gió này.--------------------------------#8saigon #reviewphimrap #duoibongdienha #phimbaytien #dichvugiaohangcuakiki #phimcusoc
Cuộc bầu cử Quốc Hội Hungary ngày 12/04/2026 thu hút sự chú ý không chỉ tại châu Âu, mà đặc biệt là ở Mỹ, chưa kể đến Nga. Ngay trước thềm bầu cử, phó tổng thống Mỹ J.D. Vance đã đến Budapest, để trực tiếp bày tỏ ủng hộ và vận động cho đảng của thủ tướng Viktor Orban, đang có nguy cơ thất cử, theo một số thăm dò dư luận. Theo giới quan sát, cuộc bầu cử này là một trắc nghiệm quan trọng đối với mô hình « dân chủ phi tự do », mà thủ tướng Orban được coi là người đã đặc biệt thành công trong việc triển khai, với hơn 16 năm cầm quyền liên tục. Orban, niềm cảm hứng của các lực lượng cực hữu, từ châu Âu đến Donald Trump Trả lời RFI tiếng Việt, ông Steven Forti, chuyên gia về chủ nghĩa phát xít và các đảng phái cực hữu châu Âu, giảng viên chuyên ngành lịch sử đương đại, Đại học Tự trị Barcelona - Universitat Autònoma de Barcelona (Tây Ban Nha), cho biết tầm quan trọng của phe cầm quyền tại Hungary đối với thế lực cực hữu Mỹ, được coi là đã góp phần đáng kể vào việc xác lập chính sách đối nội của chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 : « Trong 10 năm qua đã có nhiều chuyến đi của các trí thức, nhà báo và chính trị gia Mỹ đến nước Hungary của Orban. Không chỉ với việc các thành viên của chính quyền Trump, như ngoại trưởng Rubio hay phó tổng thống Vance đến Hungary gần đây. Đã có những trí thức như Rod Dreher, nhà báo như Tucker Carlson, và nhiều trí thức – nhà hoạt động cực hữu ủng hộ Trump, như Christopher Rufo. Orban đã bổ nhiệm nhiều người Mỹ làm giám đốc, thành viên của các viện của chính phủ Hungary, trong đó có Gladden Pappin làm chủ tịch của Hungarian Institute of International Affairs. Những người cực hữu trẻ tuổi như Pappin, sau thời gian hoạt động ở Hungary đã trở về Mỹ, xuất bản các bài viết, vận động hành lang, đưa các thành viên khác đến Budapest. Vì vậy, đã có một mối quan hệ rất ổn định, rất mạnh mẽ. Điều này cũng thể hiện rõ trong mối quan hệ giữa nước Hungary của Orban với viện nghiên cứu mang tính biểu tượng, như Heritage Foundation, một tổ chức rất quan trọng và nổi tiếng, vì đã soạn thảo Project 2025, chương trình hành động năm 2025, mà Trump ít nhiều đã thực hiện trong năm đầu nhiệm kỳ thứ hai. Đọc thêm - Mỹ có thể chuyển sang chế độ "bán độc tài" nếu Trump tái đắc cử, thực thi "Project 2025" Có thể kể tên các tổ chức cực hữu Mỹ khác như Viện Nước Mỹ trên hết - America First Institute, viện Claremont Institute, hay các tổ chức như CPAC - Conservative Political Action Conference - Hội nghị Hành động Chính trị Bảo thủ, thường tổ chức các cuộc gặp mặt của cánh hữu và cực hữu của Mỹ và thế giới. Hội nghị của CPAC đã được tổ chức hàng năm tại Budapest kể từ năm 2022, cũng như tại Brazil năm 2019, sau chiến thắng của ứng viên tổng thống cực hữu Bolsonaro, hay tại Achentina năm 2024, sau chiến thắng của ứng viên tổng thống cực hữu Javier Milei. » Tháng 7/2024, Viktor Orban lập « Những người yêu nước vì châu Âu » (Patriots for Europe, gọi tắt là PfE hay P4E), một nhóm nghị sĩ cực hữu mới tại Nghị Viện Châu Âu. Nhóm này nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị lớn thứ ba trong Nghị Viện Châu Âu, với 84 nghị sĩ (sau nhóm các đảng cánh hữu Nhân dân Châu Âu EEP, với 185 ghế, và nhóm các đảng cánh tả Xã hội - Dân chủ S&D, với 135 ghế). Đảng phái tham gia gồm FIDESZ của Orban, đảng cực hữu Pháp Mặt trận Dân tộc RN, đảng Liên đoàn Ý của Matteo Salvini, đảng ANO của CH Séc, đảng Tự do Hà Lan (PVV) của Geert Wilders, phong trào Chega của Bồ Đào Nha, đảng Vox của Tây Ban Nha, đảng Nhân dân Đan Mạch và đảng cực hữu Vlaams Belang của vùng Flanders (Bỉ) đòi độc lập. Đảng RN Pháp, với 30 nghị sĩ, là đảng lớn nhất. Đảng FIDESZ của Orban chính thức bị khai trừ khỏi nhóm cánh hữu châu Âu EEP vào năm 2021. Theo nhà nghiên cứu Steven Forti, mô hình « Dân chủ phi tự do » của Orban đã có nhiều điều kiện thuận lợi để củng cố vị thế tại châu Âu một phần không nhỏ do được nhóm đảng cánh hữu châu Âu EEP bảo trợ trong một thời gian dài. « Dân chủ phi tự do » tuyên chiến với « dân chủ tự do »... Năm 2014, bốn năm sau khi lên cầm quyền, thủ tướng Orban xây dựng mô hình dân chủ « phi tự do » tại Hungary. Dân chủ phi tự do vốn là một thuật ngữ do nhà chính trị học người Mỹ Fareed Zakaria xác lập trong thập niên 1990, để mô tả một chế độ dựa trên việc tôn trọng kết quả bầu cử dân chủ, nhưng lại bỏ qua các khía cạnh khác của thể chế dân chủ, lợi dụng các công cụ dân chủ cho các mục đích « phi tự do » (như sửa đổi Hiến pháp hoặc kiểm soát việc bổ nhiệm để thâu tóm quyền lực). Công khai khẳng định chủ trương « dân chủ phi tự do », Orban trở thành thế lực đi tiên phong của phe cực hữu, trong cuộc chiến chống lại các định chế dân chủ tự do của Liên Hiệp Châu Âu. Tháng 2/2025, phát biểu của phó tổng thống JD Vance tại Diễn đàn an ninh Munich (ít tuần sau khi Trump lên nắm quyền nhiệm kỳ 2), đã gây chấn động các đồng minh châu Âu. Ông Vance rời hội trường, bỏ qua bài phát biểu của chủ tịch Ủy Ban Châu Âu, sau khi đã trực tiếp ủng hộ các thế lực cực hữu tại châu Âu, lên án Bruxelles, khẳng định « không phải Nga, không phải Trung Quốc » là mối đe dọa đối với Châu Âu, mà là việc Châu Âu « từ bỏ các giá trị cơ bản của mình ». Chiến lược An ninh Quốc gia của Mỹ, công bố đầu tháng 12/2025, chính thức khẳng định chiến lược hậu thuẫn các thế lực cực hữu châu Âu, chia sẻ các giá trị chung với nước Mỹ của Donald Trump, khi nhấn mạnh Châu Âu đang có nguy cơ rơi vào tình cảnh « văn minh suy tàn » trong hai thập niên tới. Ông Sébastien Maillard, cố vấn đặc biệt tại Viện tư vấn Jacques Delors (Paris), nhận định, văn bản này « lấy cảm hứng từ phong trào MAGA (Make America Great Again), khẩu hiệu tranh cử của Donald Trump, đánh dấu sự kết thúc của tình đoàn kết xuyên Đại Tây Dương và xác nhận nguy cơ Mỹ can thiệp chính trị vào châu Âu ». Đọc thêm - Hiểm họa lớn nhất 2026: ''Cách mạng chính trị'' của phe Trump phá vỡ nền dân chủ Mỹ ... Orban giúp Nhà Trắng đẩy « các đồng minh châu Âu » vào chân tường Các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, hoạch định chính sách ở Hungary, được Orban tài trợ và thành lập sau chiến thắng năm 2010, có mối quan hệ rất chặt chẽ, rất mạnh mẽ với các tổ chức cực hữu của Mỹ, và ắt hẳn đã có nhiều đóng góp vào việc định hình chính sách của chính quyền Trump đối với Châu Âu. Nhà nghiên cứu Steven Forti cho biết : « Ví dụ như Viện Danube, trung tâm Centre for Fundamental Rights, phiên bản Hungary của CPAC, cũng như các tổ chức quan trọng khác như Học viện Matthias Corvinus Collegium. Đây là một cơ sở đại học do Orban kiểm soát, với hơn 7.000 sinh viên mỗi năm và có hơn 25 chi nhánh, không chỉ ở Hungary mà còn ở các nước láng giềng như Rumani và Ukraina, cũng như ở Vienna, Bruxelles, và có thể ở cả Luân Đôn. Học viện Matthias Corvinus Collegium còn là một viện tư vấn chính sách, cùng với các viện nghiên cứu chính sách khác, như Ordo Iuris của Ba Lan, đã trình bày tại trụ sở của viện tư vấn Heritage Foundation, Washington, một báo cáo về tương lai của Liên Hiệp Châu Âu, hay nói đúng hơn là về sự cáo chung của Liên Hiệp Châu Âu. Sự trao đổi ý tưởng, phối hợp các hoạt động chính trị giữa hai bên đã diễn ra rất mạnh mẽ trong 10 năm qua. » Đọc thêm - Hungary : Viktor Orban một mình đối đầu với Liên Hiệp Châu Âu 4 nhiệm kỳ của Orban: Thất vọng của dân Hungary và sự trỗi dậy bất ngờ của Peter Magyar Sau 16 năm cầm quyền liên tục 4 nhiệm kỳ, thủ tướng Orban xác lập được một ảnh hưởng lớn trong giới cực hữu phương Tây, và đặc biệt là tiếng nói của Orban có vai trò quan trọng trong chính sách của Nhà Trắng với châu Âu thời Donald Trump, tuy nhiên, về đối nội, uy tín của Orban và FIDESZ có xu hướng giảm mạnh. Lạm phát tăng khoảng 50% từ 2020 đến 2025. Hungary trở thành một trong các nước có thu nhập thấp nhất châu Âu, sau khi đã từng là một nền kinh tế ở nhóm khá trong khối Cộng sản Đông Âu trước đây. Khoản tín dụng 18 tỷ euro của Hungary hiện đang bị Liên Âu đóng băng, do chính quyền Orban không tôn trọng pháp quyền. Từ một năm nay, chính trường Hungary đột ngột thay đổi khí sắc, với sự xuất hiện của một đảng đối lập mới, đảng trung hữu mang tên Tisza (Tôn trọng và Tự do) của Péter Magyar, một luật sư 45 tuổi và là nghị viên Nghị Viện Châu Âu. Theo nhiều thăm dò dư luận, đảng Tsiza có khả năng giành được đa số ghế trong Quốc Hội mới. Đọc thêm - Bầu cử Quốc Hội Hungary : Đảng đối lập với Viktor Orban dẫn đầu cuộc thăm dò Trả lời đài France 24, ông Jacques Rupnik, giáo sư tại Collège d'Europe ở Bruges (Bỉ), giám đốc nghiên cứu danh dự tại Sciences Po Paris, nhận định về một số điểm đáng lưu ý của cuộc bầu cử này: « Điều thú vị ở đây là ứng cứ viên đối lập cũng xuất thân từ đảng FIDESZ của thủ tướng Orban, đã có 20 năm hoạt động trong đảng này. Lãnh đạo đảng đối lập Tisza tấn công FIDESZ không phải về quá khứ của đảng này, điều đó sẽ khó khăn đối với chính ông ấy, mà là về hệ thống mà đảng này đã thiết lập. Cụ thể là sự kiểm soát của nhà nước đối với tất cả các thể chế, nạn tham nhũng, chủ nghĩa gia đình trị, kiểm soát truyền thông, v.v. Và đó là điều mà thế hệ trẻ mong muốn. Ta hãy nhớ là Orban khi bước vào chính trường đã lập ra đảng FIDESZ, một chính đảng của một nhóm sinh viên bất đồng chính kiến. Vì vậy, tôi nghĩ rằng việc bị thách thức bởi thế hệ trẻ, những người đồng cảm nhiều hơn với Péter Magyar, chắc hẳn sẽ là đòn đau với ông ấy. Orban tự nhận mình là người theo tư tưởng bảo thủ, nhưng ông ấy cũng thực sự già nua, nếu xét về mặt thế hệ. Tôi tin rằng đây là một điểm gây phân hóa rất mạnh trong cử tri Hungary ». Orban đả kích Ukraina và Liên Âu, ứng viên đối lập lên án « Nhà nước Mafia » Điều mà nhiều nhà quan sát ghi nhận là các áp phích, khẩu hiệu lên án tổng thống Ukraina, chủ tịch Ủy Ban Châu Âu hiện diện khắp nơi tại Hungary trong thời gian tranh cử, nhưng theo chuyên gia quan hệ quốc tế David Cadier, làm việc trong chương trình « An ninh châu Âu » tại IRSEM (Viện nghiên cứu chiến lược Trường Quân sự Paris), vấn đề chống tham nhũng là quan tâm của đông đảo cử tri, bất mãn với chính quyền Orban (trả lời Radio France) : « Tạm đồng ý là chính sách đối ngoại có vị trí trọng tâm trong cách thức mà các ứng cử viên công kích lẫn nhau. Tuy nhiên, khó có thể nói liệu vấn đề này sẽ có ý nghĩa như thế nào đối với quyết định lựa chọn của cử tri. Theo tôi, mấu chốt của cuộc bầu cử sẽ là tham nhũng. Và đó chính là điểm mà Péter Magyar đang tấn công vào hệ thống của Orban. Có nhiều điều mà ứng cử viên đối lập Péter Magyar không chống lại Orban, đặc biệt là những quan điểm mang tính ý thức hệ. Péter Magyar là một người theo phái hữu bảo thủ như Orban, kể cả về vấn đề viện trợ cho Ukraina. Tuy nhiên, ông ấy lên án Nhà nước Mafia, mà Viktor Orban bị cáo buộc đã thiết lập thông qua một hệ thống phòng chống buôn lậu liên quan đến lĩnh vực năng lượng, v.v.. Vì vậy, theo tôi, chính ở điểm này mà sự khác biệt có thể được tạo ra, và có lẽ điều này sẽ có tầm quan trọng lớn hơn nhiều. » Chế độ chuyên chế dưới vỏ bọc dân chủ hay « Nhà nước Mafia » Trả lời RFI tiếng Việt, nhà kinh tế học Nguyễn Quang A, người quan sát lâu năm xã hội Hungary, nhấn mạnh đến việc tại Hungary, ngày càng có nhiều người coi hệ thống chính quyền của thủ tướng Orban giống với một « Nhà nước Mafia ». Ông giải thích : « Hungary, Nga và một vài nước thuộc Liên Xô cũ gần với cái chế độ gọi là "chuyên quyền bảo trợ ", có thể gọi một cách dân dã là được đặc trưng bởi Nhà nước Mafia. Nhà nước Mafia (Maffiaállam) là một thuật ngữ do hai ông Magyar Bálint và Madlovics Bálint đặt ra, có một định nghĩa nghiêm túc về mặt học thuật (The Anatomy of Post-Communist Regimes, xuất bản năm 2020). Theo hai học giả này, Nhà nước Mafia là một nhà nước thâu tóm quyền lực về mọi mặt, quyền lực chính trị, quyền lực xã hội, quyền lực kinh tế. Và trong cái phần thâu tóm quyền lực kinh tế này, có một cái khía cạnh là làm giàu cho cá nhân những người nằm trong nhà nước mafia này, mà quan hệ quan trọng nhất là sự trung thành tuyệt đối với ông Trùm. Nhà nước mafia có thể nói là một tổ chức tội phạm mở, công khai, có vẻ ngoài hợp pháp. Tiếng Hung có hai từ, một từ là ''alvilág'' - thế giới ngầm, thế giới của tội phạm hạ lưu, hoàn toàn là ngoài vòng pháp luật như là mafia Ý chẳng hạn. Còn có một từ khác trong tiếng Hung gọi là ''felviág''. ''Felviág'' không phải là ngầm ở bên dưới, bất hợp pháp, mà là nổi lên bên trên, trong giới thượng lưu, với mục tiêu tập trung quyền lực, để thay đổi Hiến pháp, thay đổi các quy định của nhà nước pháp quyền. Cũng là viện công tố, cũng là cơ quan điều tra, cũng là tòa án Hiến pháp, và người bên ngoài, nếu mà quen với các thuật ngữ của phương Tây, thì tưởng rằng cũng hoạt động giống như ở bên Pháp hoặc Đức hoặc các nước Bắc Âu. Nhưng trong các chế độ ''chuyên quyền bảo trợ'', hay là trong ''Nhà nước Mafia'' này, thì thực sự chúng hoạt động hoàn toàn khác. » Đọc thêm - Tự do báo chí ở Hungary: 500 tờ báo chung một biên tập Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang A cho biết thêm, khái niệm Bạch tuộc Hungary lần đầu tiên được Magyar Bálint, cựu bộ trưởng Giáo Dục Hungary (1996 - 1998 và 2002-2006), phát triển trong một bài báo năm 2001 (« Magyar polip – a szervezett felvilág / Bạch tuộc Hungary, một tiểu thế giới có tổ chức », Magyar Hírlap). Magyar Bálint cũng là đồng chủ biên cuốn « Bạch tuộc Hungary – Nhà nước Mafia hậu cộng sản » bằng tiếng Hungary (A Magyar polip – A posztkommunista maffiaállam), xuất bản năm 2013. Cuối thập niên 1990 đầu 2000, Hungary từng được coi là một ví dụ điển hình về quá trình chuyển đổi dân chủ thành công. Tuy nhiên, những sai lầm trầm trọng của các chính phủ tiền nhiệm, đặc biệt là cánh tả, dẫn đến lạm phát nặng nề, thất nghiệp phổ biến, nợ nần công và tư chồng chất, nhiều bê bối tham nhũng… đã góp phần vào chiến thắng của Orban năm 2010 (giới thiệu về cuốn sách Bạch tuộc Hungary – Nhà nước Mafia hậu cộng sản của Collège de France, năm 2014). Cuốn « A Concise Field Guide to POST-COMMUNIST REGIMES », của Magyar Bálint và Maldovics Bálint (Nxb Đại học Trung Âu 2022), đã được ông Nguyễn Quang A dịch sang tiếng Việt với nhan đề « Một tóm tắt cô đọng về CÁC CHẾ ĐỘ HẬU-CỘNG SẢN ». Đây là tóm tắt của cuốn « Giải phẫu các Chế độ Hậu-Cộng sản » (The Anatomy of Post-Communist Regimes, dài gần 900 trang) đã giới thiệu ở trên. Orban thao túng bộ máy, nắm gần trọn truyền thông: Nguy cơ bầu cử « bị tước đoạt » Về triển vọng bầu cử Hungary, cho dù không ít người đặt hy vọng vào việc chế độ Orban cáo chung với chiến thắng của đối lập, chuyên gia Steven Forti cảnh báo : « Đúng là các cuộc thăm dò dư luận cho thấy khả năng đảng đối lập Tisza thắng cử là rất cao. Nhưng chúng ta xem xét trước hết rằng Hungary là một ''chế độ chuyên chế về thông tin'', như nhận định của Peter Kreko, một nhà nghiên cứu chuyên về chính quyền Orban. Truyền thông hoàn toàn bị Orban kiểm soát. Sau đó, nếu chúng ta xem xét rằng các quy tắc của cuộc chơi – về luật bầu cử, hệ thống bầu cử, và nhiều chi tiết nhỏ khác liên quan đến hệ thống bầu cử - đều bị kiểm soát, chẳng hạn như ‘‘gerrymandering'', tức việc các khu vực bầu cử bị chính phủ thay đổi nhiều lần để đảm bảo cho Orban thắng cử. Cá nhân tôi rất hoài nghi, và không cho rằng đảng Tisza có cơ hội chiến thắng trong cuộc bầu cử này. » Trong một bài viết trên Le Monde, nhà nghiên cứu người Hungary Tibor Dessewffy cảnh báo : « Cấu trúc thể chế của Hungary hiện nay cung cấp nhiều công cụ để thực hiện các chiến lược như vậy: một Tòa án Hiến pháp ngoan ngoãn với Orban, đặt những người trung thành ở các vị trí chủ chốt và một hệ thống pháp luật được thiết kế với nhiều cạm bẫy ». Trả lời TV5 Monde về việc liệu thủ tướng Orban có phủ nhận hay không thất bại bầu cử, nếu kịch bản này xảy ra, nhà nghiên cứu David Cadier nhận định : « Có lẽ không trực tiếp, nhưng thay vì phá vỡ các quy tắc, ông ta có thể bẻ cong chúng để phục vụ mục đích riêng của mình. Thủ tướng Orban đã cài cắm nhiều cộng sự thân cận vào ngành tư pháp và truyền thông, vì vậy nhà lãnh đạo Hungary có thể làm chậm lại hoặc phản bác… Nhưng rất khó để dự đoán điều này. Có điều chắc chắn là những cải cách mà Orban đã thực hiện trong 16 năm cầm quyền sẽ rất khó bị đảo ngược trong thời gian ngắn ».
VOV1 - người phát ngôn Bộ Quốc phòng Áo Michael Bauer cho biết, nước này đã từ chối yêu cầu của Mỹ về việc sử dụng không phận của Áo cho các hoạt động quân sự tại Trung Đông, đồng thời khẳng định lập trường trung lập của nước này trong bối cảnh cuộc xung đột tại khu vực này ngày càng leo thang.Hãng thông tấn APA của Áo dẫn thông báo từ Bộ Quốc phòng nước này cho biết, Bộ này đã từ chối một số yêu cầu của Mỹ về việc cho phép máy bay quân sự bay qua lãnh thổ để phục vụ cho các hoạt động quân sự ở Trung Đông. Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Áo, Đại tá Michael Bauer nhấn mạnh, kể từ khi cuộc xung đột tại Trung Đông bùng nổ, mọi yêu cầu tương tự của Mỹ đều bị bác bỏ. Theo luật pháp Áo, bất kỳ đề nghị nào liên quan đến một quốc gia đang trong tình trạng xung đột đều không được chấp thuận và quy trình này được thực hiện sau khi tham khảo ý kiến của Bộ Ngoại giao.Theo ông Michael Bauer, nguyên tắc trung lập quân sự của Áo là một cam kết được duy trì nghiêm ngặt từ năm 1955, khi nước này chính thức trở thành quốc gia trung lập vĩnh viễn. Với vị trí địa lý nằm giữa các nước thành viên NATO ở phía Bắc, Nam và Đông, cùng Thụy Sĩ trung lập ở phía Tây, Áo coi việc từ chối hỗ trợ một bên tham gia cuộc xung đột là cách duy nhất để bảo đảm an ninh và chủ quyền.Quyết định trên của Áo nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các chính trị gia trong nước. Lãnh đạo Đảng Dân chủ Xã hội (SPÖ) tại bang Hạ Áo, Sven Hergovich, đã kêu gọi Bộ trưởng Quốc phòng nước này không phê duyệt bất kỳ chuyến bay quân sự nào của Mỹ hướng tới vùng Vịnh, bao gồm cả các chuyến bay vận tải và hỗ trợ hậu cần. Theo ông Hergovich, Tây Ban Nha, Pháp, Italia và Thụy Sĩ cũng đang thực hiện chính sách tương tự, đồng thời cảnh báo, cuộc xung đột tại Trung Đông đang gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích kinh tế của Áo và toàn châu Âu.Trước đó, một số quốc gia châu Âu khác cũng đã có động thái tương tự, tạo nên làn sóng từ chối các yêu cầu hỗ trợ của Mỹ đối với chiến dịch của nước này ở Trung Đông. Tây Ban Nha đã đóng cửa không phận đối với mọi chuyến bay liên quan đến hoạt động quân sự của Mỹ tại Trung Đông. Trong khi đó, Italia cũng từ chối cho phép Mỹ sử dụng căn cứ không quân Sigonella tại Sicily. Thụy Sĩ, cũng dựa trên nguyên tắc trung lập, đã bác bỏ hầu hết yêu cầu sử dụng không phận của nước này từ giữa tháng 3. Tổng thống Donald Trump đã công khai chỉ trích các đồng minh châu Âu vì từ chối cho phép máy bay quân sự Mỹ sử dụng không phận, đồng thời tuyên bố về khả năng rút Mỹ khỏi NATO.Theo giới phân tích, việc Áo và một số quốc gia châu Âu từ chối cho phép Mỹ sử dụng không phận có thể sẽ khiến quan hệ xuyên Đại Tây Dương gia tăng căng thẳng, nhất là trong bối cảnh Mỹ liên tục thúc giục các đồng minh châu Âu thể hiện trách nhiệm lớn hơn trong việc đảm bảo nguồn cung năng lượng và các tuyến đường giao thương, giảm phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ lực lượng Mỹ./.Như Hoa/VOV CH CzechẢnh minh họa-Theo aa.com.tr
Theo thông báo hôm 19/02/2026 của bộ Kinh Tế Pháp, cơ quan chủ quản lĩnh vực du lịch, trong cả năm 2025, có 102 triệu lượt khách quốc tế đến Pháp, tăng 2 triệu so với năm 2024. Paris một lần nữa khẳng định được vị thế là điểm đến được du khách ghé thăm nhiều nhất thế giới. 70% du khách quốc tế đến Pháp du lịch tập trung về « kinh đô ánh sáng » Paris và miền nam Pháp. Doanh thu từ du khách quốc tế của Pháp cũng tăng 9%, đạt 77,5 tỷ euro, một con số cao kỷ lục. Tính trung bình, mỗi khách chi tiêu 766 euro trong 1 kỳ nghỉ ở Pháp. Tuy nhiên, nếu so sánh với nước láng giềng phía nam Tây Ban Nha, một đối thủ đáng gờm đang theo sát nút Pháp, với 97 triệu lượt khách, thì doanh thu của Pháp còn « thua xa » Tây Ban Nha. Theo ước tính của Atout France, Cơ quan xúc tiến và phát triển du lịch Pháp, đặc trách quảng bá du lịch Pháp với du khách nước ngoài, doanh thu của Tây Ban Nha là 105 tỷ euro, cao hơn Pháp khoảng 35%. Mục tiêu bộ Kinh Tế Pháp đề ra là đạt doanh thu 100 tỷ euro từ du khách quốc tế vào năm 2030. Theo Adam Oubuih, tổng giám đốc của Atout France, được trang mạng đài France Bleu trích dẫn, nỗ lực đa dạng hóa là cần thiết để « giới thiệu tất cả những gì nước Pháp có thể cung cấp », và Atout France « đang nỗ lực quảng bá di sản, du lịch kinh doanh, du lịch rượu vang và du lịch thể thao, trên tất cả các vùng của nước Pháp lục địa và các vùng lãnh thổ hải ngoại » của Pháp. Để hiểu thêm về thực trạng du lịch Pháp, RFI Tiếng Việt hôm 20/03 phỏng vấn giáo sư địa lý Jean-René Morice, đại học Angers, chủ tịch INNTO France, mạng lưới các các viện và trường đại học tại Pháp chuyên đào tạo và nghiên cứu về du lịch. RFI : Nước pháp ngày càng thu hút du khách quốc tế. Theo ông, đâu là những nét hấp dẫn khách ngoại quốc đến Pháp ? Yếu tố nào giúp Pháp thành công hơn các nước khác ? Jean-René Morice : Quả thực Pháp là một điểm đến rất phổ biến trên thế giới, được tìm kiếm rất nhiều, và thu hút đông đảo du khách. Năm nay, số liệu do Atout France công bố cho thấy có 102 triệu lượt du khách quốc tế đến Pháp. Sự năng động này thực ra đã có từ rất lâu rồi, bắt đầu từ những năm 1980. Nhưng dẫu sao thì vị thế của Pháp cũng tăng mạnh, Pháp trở thành điểm đến du lịch. Các phân tích cho thấy những điều du khách chú ý ở các điểm đến chủ yếu vẫn mang tính văn hóa. Cụ thể, 56% du khách quốc tế đến sân bay Roissy, khi được khảo sát về lý do chọn nước Pháp để đến du lịch, trên hết đã nói đến hình ảnh văn hóa Pháp theo nghĩa rộng, đặc biệt là ẩm thực, nhưng cũng bao gồm văn hóa, di sản, bảo tàng và cảnh quan. Đó là những lý do lựa chọn hàng đầu. Ngoài ra còn có những khía cạnh khác, đặc biệt là với du khách đến từ châu Á, nhóm du khách đang tăng mạnh, thì họ quan tâm đến một số nội dung tương đối mới, ví dụ như du lịch mua sắm. Mảng này cũng đóng góp rất nhiều. Nhưng nhìn chung, Pháp vẫn là một điểm đến với hình ảnh văn hóa chiếm ưu thế. RFI : Kỷ lục 102 triệu lượt khách quốc tế đến Pháp trong năm 2025 phần nào có được là nhờ ảnh hưởng của Thế Vận Hội Mùa Hè Paris 2024 và việc mở cửa trở lại nhà thờ Đức Bà Paris ? Jean-René Morice : Cũng có thể là như vậy. Cá nhân tôi chưa thực hiện một nghiên cứu cụ thể nào về khía cạnh này, nhưng tôi cũng nghĩ rằng kết quả này chủ yếu là do bối cảnh toàn cầu. Điều đó có nghĩa là xu hướng du khách tăng như hiện nay không chỉ là ở riêng Pháp. Sự gia tăng này cũng được ghi nhận khắp nơi trên thế giới. Chúng ta vẫn đang trong thời kỳ hậu Covid, với sự hồi phục của các hoạt động tương đương, hoặc thậm chí cao hơn một chút so với thời kỳ tiền Covid năm 2019. Sự phục hồi đang diễn ra, và theo tôi, thì con số này tới đây sẽ còn tiếp tục tăng, đặc biệt là với nhóm khách du lịch đến từ châu Á, dù hiện vẫn còn khá khiêm tốn, nhưng cũng đang trên đà tăng. Hiện nay chúng ta đang ở trong một bối cảnh phức tạp, với chiến tranh ở Ukraina và xung đột, đặc biệt là tình hình các nước Ả Rập ở Vùng Vịnh. Chúng ta có thể thấy rõ ràng là xung đột đang có tác động đến các hoạt động của người dân Vùng Vịnh, trong đó có du lịch, nhưng rõ ràng là ở nhiều nước, như Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, du lịch có sự phát triển bùng nổ. Quả thực là du lịch đã trở thành một hiện tượng toàn cầu, và sự toàn cầu hóa này đương nhiên cũng khiến có thêm nhiều người đến du lịch ở Pháp. Thế nên, không phải chỉ là nhờ Pháp nỗ lực mà còn là nhờ bối cảnh toàn cầu có lợi cho Pháp. RFI : Khách du lịch đến từ quốc gia nào là đông nhất nhất ? Chủ yếu đó là khách châu Á, châu Âu hay người Mỹ ? Jean-René Morice : Du khách chủ yếu là người châu Âu. Mọi người cứ gọi là du khách quốc tế, nhưng thực ra chủ yếu vẫn là khách đến từ những nước xung quanh. Du khách đến nhiều nhất là từ Anh, sau đó đến người Đức. Cũng có nhiều du khách Hà Lan. Nếu tôi nhớ không nhầm thì khoảng 46% khách du lịch quốc tế hiện nay đến từ châu Âu. Cũng có nhiều khách đến từ các nước khác. Có thể nói đến khách Mỹ, nhiều người Mỹ đi du lịch châu Âu và đặc biệt là đến Pháp. Rồi còn có khách châu Á, ngày càng có nhiều khách đến từ châu Á, và sau đó đặc biệt là du khách đến từ các quốc gia vùng Vịnh. RFI : Mặc dù thu hút tới 102 triệu du khách quốc tế, đông nhất thế giới, nhưng Pháp lại không phải nhà vô địch về doanh thu từ du lịch, ví dụ như thấp hơn nhiều so với nước láng giềng ở phía nam là Tây Ban Nha, cũng một đối thủ tại châu Âu của Pháp trong ngành du lịch. Có phải đó là do mức chi tiêu của du khách tại Pháp không thật là cao ? Jean-René Morice : Đây đúng là một vấn đề lớn của nước Pháp. Chính vì thế, bây giờ chúng ta phải thực sự cân nhắc. Liệu chúng ta có nên tiếp tục xác định các nước là điểm đến du lịch toàn cầu, hay thậm chí ở cấp độ các địa điểm du lịch, ví dụ như những lâu đài, cung điện hay bảo tàng như bảo tàng Louvre, cung điện Versailles, nữa hay không ? Liệu chúng ta có nên tiếp tục cứ tập trung vào xét dựa theo số lượng khách đến tham quan hay không ? Có lẽ là không, bởi vì du lịch cũng là một hoạt động mang tính xã hội, là sự gặp gỡ giao lưu với người khác một cách có nghệ thuật. Không thể phủ nhận rằng du lịch là một yếu tố quan trọng và có khía cạnh liên văn hóa rất rõ rệt. Thế nhưng, chúng ta có thể thấy rõ ràng là ngoài khía cạnh gặp gỡ và hoạt động mang tính xã hội, thì du lịch vẫn là hoạt động mang tính kinh tế. Và yếu tố kinh tế này chính là doanh thu được tạo ra từ các hoạt động du lịch. Chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng Tây Ban Nha đang dẫn đầu về doanh thu du lịch, nhưng Hoa Kỳ cũng vậy, và Hoa Kỳ còn dẫn trước Pháp rất xa. Pháp hiện giờ chỉ đứng thứ 3 hoặc thứ 4 thế giới về lợi ích kinh tế mà du lịch mang lại. Chúng ta có thể thấy rõ Pháp chắc chắn là một điểm đến du lịch hàng đầu về các hoạt động và số lượng du khách, nhúng ta cũng thấy rằng thời gian lưu trú của khách tại Pháp thường rất ngắn. Điểm độc đáo của Pháp là Pháp nằm ở vị trí trung tâm ở châu Âu. Do đó, khi du khách châu Âu quá cảnh qua Pháp, ví dụ, một du khách Bỉ muốn đến Tây Ban Nha thì sẽ đi bằng ô tô, sẽ quá cảnh qua Pháp, và người này sẽ được tính là một lượt khách lưu trú tại Pháp. Sau đó, họ sẽ dành 8-9 ngày ở Tây Ban Nha. Rồi trên đường về, họ sẽ lại đi qua Pháp, lại được tính là thêm một lượt khách lưu trú, nhưng mỗi lần chỉ 1-2 đêm tại Pháp. Kết quả là vị khách du lịch người Bỉ này đã thực hiện một chuyến đi du lịch gồm 3 lần lưu trú riêng biệt : 2 lần ở Pháp và 1 lần ở Tây Ban Nha. Thế nhưng, xét về số đêm lưu trú, thì trong chuyến đi, tổng cộng họ nghỉ tại Tây Ban Nha 8 đêm trong khi Pháp chỉ được có 2-3 đêm thôi. RFI : Đó là lý do nhiều người cho rằng Pháp là một nước mà du khách quốc tế đi qua để đến nước khác, một quốc gia trung chuyển, quá cảnh, hơn là một điểm đến du lịch thực thụ, hoặc một nơi tham quan chính ? Jean-René Morice : Thực ra thì Pháp vẫn là một quốc gia điểm đến. Điểm đặc biệt của người Pháp là họ thường đi nghỉ ngay chính tại nước Pháp. Người ta gọi đó là một nền du lịch nội địa, nền du lịch quốc gia rất mạnh, điều này cũng có nghĩa là hoạt động du lịch ở Pháp không chỉ thu hút khách quốc tế mà cả khách trong nước, cho phép Pháp vẫn là một điểm đến tham quan chính, hoặc ít nhất là Pháp cũng là một nước mà du lịch là một lĩnh vực quan trọng. Nhưng cũng đúng là có rất nhiều du khách quá cảnh để sang nước khác, bởi vì Pháp thực sự là một trung tâm trung chuyển hàng không, nhất là đối với du khách từ châu Á hoặc các nơi khác, những người sẽ quá cảnh qua Paris chẳng hạn, và sau đó tiếp tục khám phá phần còn lại của châu Âu. Pháp nằm ở trung tâm của châu Âu nên là một điểm trung chuyển quan trọng, với rất đông người quá cảnh. Nhưng mà dẫu sao thì Pháp cũng vẫn là một điểm đến phổ biến, bởi vì có đến 102 triệu lượt khách lưu trú, cho dù chỉ là những kỳ nghỉ rất ngắn. Vì thế, một trong những thách thức mà bộ trưởng Du Lịch Pháp, Serge Papin, và Atout France, đang giải quyết hiện nay là làm thế nào để doanh thu cũng tăng. Nói cách khác là làm thế nào để đưa những chuyến du lịch ngắn này trở thành những chuyến du lịch dài hơn và qua đó khẳng định vị thế của Pháp như một điểm đến du lịch. RFI : Nhóm du khách nào chi tiêu nhiều nhất khi du lịch ở Pháp ? Jean-René Morice : Tôi không có số liệu chính xác, phải nói thành thật là như vậy. Nhưng tôi biết rằng người Mỹ có mức chi tiêu trung bình khá cao. Tôi cũng cho rằng đó là nhóm những du khách đến từ vùng Vịnh, và những nhóm du khách quan tâm đến hàng cao cấp, xa xỉ, nhất là khách châu Á. Họ thường có mức chi tiêu trung bình cao hơn một chút so với khách du lịch châu Âu. Người châu Âu thường có xu hướng đi du lịch bằng ô tô và chọn các loại hình chỗ ở khác, ví dụ các khu cắm trại ngoài trời. Chúng tôi biết là khách du lịch đến từ những nước xa hơn và nhất là quan tâm nhiều đến những thứ xa hoa, sang trọng, thì chi tiêu nhiều hơn. Lĩnh vực xa xỉ phẩm cũng là nét đặc biệt của Pháp với tư cách là điểm đến du lịch, nhờ thế mà Pháp có thể sẽ tạo được doanh thu cao hơn. RFI : Chính phủ Pháp có chiến lược gì để duy trì vị trí của Pháp về du lịch ? Jean-René Morice : Thực ra là chiến lược này đã được thực hiện trong một thời gian khá dài, đặc biệt là từ năm 2015. Khi đó, có nhiều quyết định đã được đưa ra ở Pháp, nhất là việc xếp ngành du lịch vào bộ Kinh Tế như hiện nay. Trước đây, ngành du lịch trực thuộc bộ Ngoại Giao. Như vậy là chúng ta có thể thấy rõ là Pháp đã nhận thức được là việc gây ảnh hưởng không phải lúc nào cũng có thể làm từ nước ngoài, hoạt động du lịch phải được thực hiện ngay ở Pháp chứ không phải từ bên ngoài Pháp. Vì vậy, rất nhiều công việc đã được thực hiện để Pháp được quốc tế trông thấy rõ hơn, tập trung vào việc cải thiện khả năng đón tiếp và chất lượng, tiếp tục đà phát triển. Ví dụ, chúng ta có thể thấy rằng chiến lược Grand Paris (Đại Paris) ngày nay, với hệ thống giao thông cho phép kết nối mọi ngóc ngách của vùng Paris trong thời gian rất ngắn, là một phần của chiến lược này. Du lịch không chỉ đơn thuần là một yếu tố bên ngoài hoặc có thể tách rời khỏi đời sống của các vùng lãnh thổ hoặc các địa phương. Đó là những gì vừa để người dân địa phương được trải nghiệm, mà cũng là để phục vụ du lịch, hoặc ít nhất là liên quan đến ngành du lịch, ví dụ việc kết nối giao thông giữa sân bay Roissy (ở ngoại ô Paris) và trung tâm thành phố. Đã có rất nhiều việc xây dựng, sửa chữa được thực hiện để kết nối Roissy và trung tâm thành phố, và đến nay việc đi lại đã rất dễ dàng. Pháp cũng đã muốn cải thiện một số vấn đề, đặc biệt là về việc xử lý hồ sơ xin thị thực visa đối với khách đến từ một số nước, đặc biệt là cấp visa trong vòng 48 giờ. Đây thực ra là mong muốn đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khách được nhập cảnh vào Pháp, và không biến thủ tục này thành một quy trình hạn chế khả năng khách đến Pháp. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đây không phải là vấn đề của riêng Pháp, nhưng ví dụ khi nhìn vào bảo tàng Louvre hay cung điện Versailles, chúng ta thấy cần có chiến lược cải thiện, nâng cấp, nhất là về số hóa và trí tuệ nhân tạo. Ngoài ra còn là vấn đề phát triển bền vững. Pháp vẫn còn rất nhiều việc phải làm để cải thiện nội dụng, chất lượng, để đón tiếp du khách nước ngoài được tốt hơn. RFI chân thành cảm ơn ông Jean-René Morice, chủ tịch INNTO France, mạng lưới các viện và trường đại học đào tạo và nghiên cứu về du lịch, đã tham gia chương trình.
Theo thông báo hôm 19/02/2026 của bộ Kinh Tế Pháp, cơ quan chủ quản lĩnh vực du lịch, trong cả năm 2025, có 102 triệu lượt khách quốc tế đến Pháp, tăng 2 triệu so với năm 2024. Paris một lần nữa khẳng định được vị thế là điểm đến được du khách ghé thăm nhiều nhất thế giới. 70% du khách quốc tế đến Pháp du lịch tập trung về « kinh đô ánh sáng » Paris và miền nam Pháp. Doanh thu từ du khách quốc tế của Pháp cũng tăng 9%, đạt 77,5 tỷ euro, một con số cao kỷ lục. Tính trung bình, mỗi khách chi tiêu 766 euro trong 1 kỳ nghỉ ở Pháp. Tuy nhiên, nếu so sánh với nước láng giềng phía nam Tây Ban Nha, một đối thủ đáng gờm đang theo sát nút Pháp, với 97 triệu lượt khách, thì doanh thu của Pháp còn « thua xa » Tây Ban Nha. Theo ước tính của Atout France, Cơ quan xúc tiến và phát triển du lịch Pháp, đặc trách quảng bá du lịch Pháp với du khách nước ngoài, doanh thu của Tây Ban Nha là 105 tỷ euro, cao hơn Pháp khoảng 35%. Mục tiêu bộ Kinh Tế Pháp đề ra là đạt doanh thu 100 tỷ euro từ du khách quốc tế vào năm 2030. Theo Adam Oubuih, tổng giám đốc của Atout France, được trang mạng đài France Bleu trích dẫn, nỗ lực đa dạng hóa là cần thiết để « giới thiệu tất cả những gì nước Pháp có thể cung cấp », và Atout France « đang nỗ lực quảng bá di sản, du lịch kinh doanh, du lịch rượu vang và du lịch thể thao, trên tất cả các vùng của nước Pháp lục địa và các vùng lãnh thổ hải ngoại » của Pháp. Để hiểu thêm về thực trạng du lịch Pháp, RFI Tiếng Việt hôm 20/03 phỏng vấn giáo sư địa lý Jean-René Morice, đại học Angers, chủ tịch INNTO France, mạng lưới các các viện và trường đại học tại Pháp chuyên đào tạo và nghiên cứu về du lịch. RFI : Nước pháp ngày càng thu hút du khách quốc tế. Theo ông, đâu là những nét hấp dẫn khách ngoại quốc đến Pháp ? Yếu tố nào giúp Pháp thành công hơn các nước khác ? Jean-René Morice : Quả thực Pháp là một điểm đến rất phổ biến trên thế giới, được tìm kiếm rất nhiều, và thu hút đông đảo du khách. Năm nay, số liệu do Atout France công bố cho thấy có 102 triệu lượt du khách quốc tế đến Pháp. Sự năng động này thực ra đã có từ rất lâu rồi, bắt đầu từ những năm 1980. Nhưng dẫu sao thì vị thế của Pháp cũng tăng mạnh, Pháp trở thành điểm đến du lịch. Các phân tích cho thấy những điều du khách chú ý ở các điểm đến chủ yếu vẫn mang tính văn hóa. Cụ thể, 56% du khách quốc tế đến sân bay Roissy, khi được khảo sát về lý do chọn nước Pháp để đến du lịch, trên hết đã nói đến hình ảnh văn hóa Pháp theo nghĩa rộng, đặc biệt là ẩm thực, nhưng cũng bao gồm văn hóa, di sản, bảo tàng và cảnh quan. Đó là những lý do lựa chọn hàng đầu. Ngoài ra còn có những khía cạnh khác, đặc biệt là với du khách đến từ châu Á, nhóm du khách đang tăng mạnh, thì họ quan tâm đến một số nội dung tương đối mới, ví dụ như du lịch mua sắm. Mảng này cũng đóng góp rất nhiều. Nhưng nhìn chung, Pháp vẫn là một điểm đến với hình ảnh văn hóa chiếm ưu thế. RFI : Kỷ lục 102 triệu lượt khách quốc tế đến Pháp trong năm 2025 phần nào có được là nhờ ảnh hưởng của Thế Vận Hội Mùa Hè Paris 2024 và việc mở cửa trở lại nhà thờ Đức Bà Paris ? Jean-René Morice : Cũng có thể là như vậy. Cá nhân tôi chưa thực hiện một nghiên cứu cụ thể nào về khía cạnh này, nhưng tôi cũng nghĩ rằng kết quả này chủ yếu là do bối cảnh toàn cầu. Điều đó có nghĩa là xu hướng du khách tăng như hiện nay không chỉ là ở riêng Pháp. Sự gia tăng này cũng được ghi nhận khắp nơi trên thế giới. Chúng ta vẫn đang trong thời kỳ hậu Covid, với sự hồi phục của các hoạt động tương đương, hoặc thậm chí cao hơn một chút so với thời kỳ tiền Covid năm 2019. Sự phục hồi đang diễn ra, và theo tôi, thì con số này tới đây sẽ còn tiếp tục tăng, đặc biệt là với nhóm khách du lịch đến từ châu Á, dù hiện vẫn còn khá khiêm tốn, nhưng cũng đang trên đà tăng. Hiện nay chúng ta đang ở trong một bối cảnh phức tạp, với chiến tranh ở Ukraina và xung đột, đặc biệt là tình hình các nước Ả Rập ở Vùng Vịnh. Chúng ta có thể thấy rõ ràng là xung đột đang có tác động đến các hoạt động của người dân Vùng Vịnh, trong đó có du lịch, nhưng rõ ràng là ở nhiều nước, như Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, du lịch có sự phát triển bùng nổ. Quả thực là du lịch đã trở thành một hiện tượng toàn cầu, và sự toàn cầu hóa này đương nhiên cũng khiến có thêm nhiều người đến du lịch ở Pháp. Thế nên, không phải chỉ là nhờ Pháp nỗ lực mà còn là nhờ bối cảnh toàn cầu có lợi cho Pháp. RFI : Khách du lịch đến từ quốc gia nào là đông nhất nhất ? Chủ yếu đó là khách châu Á, châu Âu hay người Mỹ ? Jean-René Morice : Du khách chủ yếu là người châu Âu. Mọi người cứ gọi là du khách quốc tế, nhưng thực ra chủ yếu vẫn là khách đến từ những nước xung quanh. Du khách đến nhiều nhất là từ Anh, sau đó đến người Đức. Cũng có nhiều du khách Hà Lan. Nếu tôi nhớ không nhầm thì khoảng 46% khách du lịch quốc tế hiện nay đến từ châu Âu. Cũng có nhiều khách đến từ các nước khác. Có thể nói đến khách Mỹ, nhiều người Mỹ đi du lịch châu Âu và đặc biệt là đến Pháp. Rồi còn có khách châu Á, ngày càng có nhiều khách đến từ châu Á, và sau đó đặc biệt là du khách đến từ các quốc gia vùng Vịnh. RFI : Mặc dù thu hút tới 102 triệu du khách quốc tế, đông nhất thế giới, nhưng Pháp lại không phải nhà vô địch về doanh thu từ du lịch, ví dụ như thấp hơn nhiều so với nước láng giềng ở phía nam là Tây Ban Nha, cũng một đối thủ tại châu Âu của Pháp trong ngành du lịch. Có phải đó là do mức chi tiêu của du khách tại Pháp không thật là cao ? Jean-René Morice : Đây đúng là một vấn đề lớn của nước Pháp. Chính vì thế, bây giờ chúng ta phải thực sự cân nhắc. Liệu chúng ta có nên tiếp tục xác định các nước là điểm đến du lịch toàn cầu, hay thậm chí ở cấp độ các địa điểm du lịch, ví dụ như những lâu đài, cung điện hay bảo tàng như bảo tàng Louvre, cung điện Versailles, nữa hay không ? Liệu chúng ta có nên tiếp tục cứ tập trung vào xét dựa theo số lượng khách đến tham quan hay không ? Có lẽ là không, bởi vì du lịch cũng là một hoạt động mang tính xã hội, là sự gặp gỡ giao lưu với người khác một cách có nghệ thuật. Không thể phủ nhận rằng du lịch là một yếu tố quan trọng và có khía cạnh liên văn hóa rất rõ rệt. Thế nhưng, chúng ta có thể thấy rõ ràng là ngoài khía cạnh gặp gỡ và hoạt động mang tính xã hội, thì du lịch vẫn là hoạt động mang tính kinh tế. Và yếu tố kinh tế này chính là doanh thu được tạo ra từ các hoạt động du lịch. Chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng Tây Ban Nha đang dẫn đầu về doanh thu du lịch, nhưng Hoa Kỳ cũng vậy, và Hoa Kỳ còn dẫn trước Pháp rất xa. Pháp hiện giờ chỉ đứng thứ 3 hoặc thứ 4 thế giới về lợi ích kinh tế mà du lịch mang lại. Chúng ta có thể thấy rõ Pháp chắc chắn là một điểm đến du lịch hàng đầu về các hoạt động và số lượng du khách, nhúng ta cũng thấy rằng thời gian lưu trú của khách tại Pháp thường rất ngắn. Điểm độc đáo của Pháp là Pháp nằm ở vị trí trung tâm ở châu Âu. Do đó, khi du khách châu Âu quá cảnh qua Pháp, ví dụ, một du khách Bỉ muốn đến Tây Ban Nha thì sẽ đi bằng ô tô, sẽ quá cảnh qua Pháp, và người này sẽ được tính là một lượt khách lưu trú tại Pháp. Sau đó, họ sẽ dành 8-9 ngày ở Tây Ban Nha. Rồi trên đường về, họ sẽ lại đi qua Pháp, lại được tính là thêm một lượt khách lưu trú, nhưng mỗi lần chỉ 1-2 đêm tại Pháp. Kết quả là vị khách du lịch người Bỉ này đã thực hiện một chuyến đi du lịch gồm 3 lần lưu trú riêng biệt : 2 lần ở Pháp và 1 lần ở Tây Ban Nha. Thế nhưng, xét về số đêm lưu trú, thì trong chuyến đi, tổng cộng họ nghỉ tại Tây Ban Nha 8 đêm trong khi Pháp chỉ được có 2-3 đêm thôi. RFI : Đó là lý do nhiều người cho rằng Pháp là một nước mà du khách quốc tế đi qua để đến nước khác, một quốc gia trung chuyển, quá cảnh, hơn là một điểm đến du lịch thực thụ, hoặc một nơi tham quan chính ? Jean-René Morice : Thực ra thì Pháp vẫn là một quốc gia điểm đến. Điểm đặc biệt của người Pháp là họ thường đi nghỉ ngay chính tại nước Pháp. Người ta gọi đó là một nền du lịch nội địa, nền du lịch quốc gia rất mạnh, điều này cũng có nghĩa là hoạt động du lịch ở Pháp không chỉ thu hút khách quốc tế mà cả khách trong nước, cho phép Pháp vẫn là một điểm đến tham quan chính, hoặc ít nhất là Pháp cũng là một nước mà du lịch là một lĩnh vực quan trọng. Nhưng cũng đúng là có rất nhiều du khách quá cảnh để sang nước khác, bởi vì Pháp thực sự là một trung tâm trung chuyển hàng không, nhất là đối với du khách từ châu Á hoặc các nơi khác, những người sẽ quá cảnh qua Paris chẳng hạn, và sau đó tiếp tục khám phá phần còn lại của châu Âu. Pháp nằm ở trung tâm của châu Âu nên là một điểm trung chuyển quan trọng, với rất đông người quá cảnh. Nhưng mà dẫu sao thì Pháp cũng vẫn là một điểm đến phổ biến, bởi vì có đến 102 triệu lượt khách lưu trú, cho dù chỉ là những kỳ nghỉ rất ngắn. Vì thế, một trong những thách thức mà bộ trưởng Du Lịch Pháp, Serge Papin, và Atout France, đang giải quyết hiện nay là làm thế nào để doanh thu cũng tăng. Nói cách khác là làm thế nào để đưa những chuyến du lịch ngắn này trở thành những chuyến du lịch dài hơn và qua đó khẳng định vị thế của Pháp như một điểm đến du lịch. RFI : Nhóm du khách nào chi tiêu nhiều nhất khi du lịch ở Pháp ? Jean-René Morice : Tôi không có số liệu chính xác, phải nói thành thật là như vậy. Nhưng tôi biết rằng người Mỹ có mức chi tiêu trung bình khá cao. Tôi cũng cho rằng đó là nhóm những du khách đến từ vùng Vịnh, và những nhóm du khách quan tâm đến hàng cao cấp, xa xỉ, nhất là khách châu Á. Họ thường có mức chi tiêu trung bình cao hơn một chút so với khách du lịch châu Âu. Người châu Âu thường có xu hướng đi du lịch bằng ô tô và chọn các loại hình chỗ ở khác, ví dụ các khu cắm trại ngoài trời. Chúng tôi biết là khách du lịch đến từ những nước xa hơn và nhất là quan tâm nhiều đến những thứ xa hoa, sang trọng, thì chi tiêu nhiều hơn. Lĩnh vực xa xỉ phẩm cũng là nét đặc biệt của Pháp với tư cách là điểm đến du lịch, nhờ thế mà Pháp có thể sẽ tạo được doanh thu cao hơn. RFI : Chính phủ Pháp có chiến lược gì để duy trì vị trí của Pháp về du lịch ? Jean-René Morice : Thực ra là chiến lược này đã được thực hiện trong một thời gian khá dài, đặc biệt là từ năm 2015. Khi đó, có nhiều quyết định đã được đưa ra ở Pháp, nhất là việc xếp ngành du lịch vào bộ Kinh Tế như hiện nay. Trước đây, ngành du lịch trực thuộc bộ Ngoại Giao. Như vậy là chúng ta có thể thấy rõ là Pháp đã nhận thức được là việc gây ảnh hưởng không phải lúc nào cũng có thể làm từ nước ngoài, hoạt động du lịch phải được thực hiện ngay ở Pháp chứ không phải từ bên ngoài Pháp. Vì vậy, rất nhiều công việc đã được thực hiện để Pháp được quốc tế trông thấy rõ hơn, tập trung vào việc cải thiện khả năng đón tiếp và chất lượng, tiếp tục đà phát triển. Ví dụ, chúng ta có thể thấy rằng chiến lược Grand Paris (Đại Paris) ngày nay, với hệ thống giao thông cho phép kết nối mọi ngóc ngách của vùng Paris trong thời gian rất ngắn, là một phần của chiến lược này. Du lịch không chỉ đơn thuần là một yếu tố bên ngoài hoặc có thể tách rời khỏi đời sống của các vùng lãnh thổ hoặc các địa phương. Đó là những gì vừa để người dân địa phương được trải nghiệm, mà cũng là để phục vụ du lịch, hoặc ít nhất là liên quan đến ngành du lịch, ví dụ việc kết nối giao thông giữa sân bay Roissy (ở ngoại ô Paris) và trung tâm thành phố. Đã có rất nhiều việc xây dựng, sửa chữa được thực hiện để kết nối Roissy và trung tâm thành phố, và đến nay việc đi lại đã rất dễ dàng. Pháp cũng đã muốn cải thiện một số vấn đề, đặc biệt là về việc xử lý hồ sơ xin thị thực visa đối với khách đến từ một số nước, đặc biệt là cấp visa trong vòng 48 giờ. Đây thực ra là mong muốn đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khách được nhập cảnh vào Pháp, và không biến thủ tục này thành một quy trình hạn chế khả năng khách đến Pháp. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đây không phải là vấn đề của riêng Pháp, nhưng ví dụ khi nhìn vào bảo tàng Louvre hay cung điện Versailles, chúng ta thấy cần có chiến lược cải thiện, nâng cấp, nhất là về số hóa và trí tuệ nhân tạo. Ngoài ra còn là vấn đề phát triển bền vững. Pháp vẫn còn rất nhiều việc phải làm để cải thiện nội dụng, chất lượng, để đón tiếp du khách nước ngoài được tốt hơn. RFI chân thành cảm ơn ông Jean-René Morice, chủ tịch INNTO France, mạng lưới các viện và trường đại học đào tạo và nghiên cứu về du lịch, đã tham gia chương trình.
Theo các chuyên gia mô học, vảy cá có cấu trúc chứa hàm lượng collagen loại I cực kỳ tinh khiết và sắp xếp theo trật tự lớp, tương đồng đến kinh ngạc với cấu trúc sợi collagen trong giác mạc người.
Gần 90.000 người đã lấp đầy sân vận động ENGIE ở Sydney để xem buổi hòa nhạc trực tiếp đầu tiên của Bad Bunny tại Úc. Đây là kỷ lục đối với sân vận động ENGIE, cho thấy sức hút toàn cầu của âm nhạc được hát bằng tiếng Tây Ban Nha, bao gồm cả khán giả phương Tây không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ này.
VOV1 - Xung đột và chiến sự tại Trung Đông giữa Mỹ, Israel và Iran tiếp tục lan rộng vượt ra khỏi biên giới khu vực.Mới nhất, Tổng thống Mỹ Donal Trump dọa sẽ cắt đứt toàn bộ quan hệ thương mại với Tây Ban Nha, sau khi đồng minh châu Âu này tuyên bố không cho phép Mỹ sử dụng các căn cứ hải quân và không quân nhằm vào Iran.Tổng thống Mỹ Donal Trump
Căng thẳng ngoại giao leo thang khi Mỹ mở rộng không kích, Iran tuyên bố “thời điểm đàm phán đã qua” và cảnh báo Châu Âu không can dự.
- Chủ trì Phiên họp Chính phủ tháng 2, Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ ra thách thức về điều hành vĩ mô trong bối cảnh xung đột ở Trung Đông lan rộng và yêu cầu các bộ ngành, địa phương phản ứng kịp thời, linh hoạt trước diễn biến mới của tình hình thế giới.- Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự Lễ giao nhận quân năm 2026 tại Thành phố Hồ Chí Minh.Tại 33 tỉnh, thành phố khác trong cả nước, lễ giao nhận quân được đồng loạt tổ chức trang trọng, ngắn gọn.- Các đòn tấn công qua lại giữa Iran, Israel và sự can dự ngày càng rõ của Mỹ đang đẩy khu vực Trung Đông đến ngưỡng leo thang mới.Mỹ tạm đóng cửa hàng loạt Đại sứ quán tại Trung Đông, đồng thời đe dọa trừng phạt Tây Ban Nha vì không cho Mỹ sử dụng căn cứ quân sự trong chiến dịch.- Nga kiện Liên minh Châu Âu nhằm đòi lại các tài sản bị đóng băng và phản đối các lệnh trừng phạt kinh tế kéo dài.
Vụ trộm táo bạo hôm 19/10/2025 tại Louvre, một trong những biểu tượng văn hóa của Pháp tại Paris, bảo tàng nổi tiếng nhất thế giới, được xem là « vụ trộm thế kỷ » gây chấn động công luận trong và ngoài nước Pháp. Đây không chỉ là một mất mát cho giới bảo tàng của Pháp, với những bộ sưu tập hàng đầu thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi về an ninh tại các bảo tàng, nhà thờ, công trình văn hóa … Bộ trưởng Văn Hóa Pháp Rachida Dati (1) cũng thừa nhận rằng bảo tàng Louvre không phải là trường hợp cá biệt, « đã tồn tại những lỗ hổng an ninh và chúng cần được giải quyết ». Quả thực, vấn đề bảo vệ an ninh, tài sản tại các bảo tàng chưa bao giờ lại là chủ đề gây tranh cãi nhiều đến vậy. Trong khi dư luận dậy sóng, đặt lại các câu hỏi về biện pháp bảo vệ an ninh của bảo tàng Louvre nói riêng và cảnh sát Paris nói chung, hàng trăm chuyên gia tích cực điều tra về vụ trộm táo bạo cướp đi 88 triệu euro báu vật của Pháp, thì vào ngày thứ Ba, 28/10, Cục Thông tin, Tình báo và Phân tích Chiến lược về Tội phạm có tổ chức (Sirasco) của Pháp ghi nhận sự gia tăng các vụ trộm đồ tạo tác (các vật phẩm được con người tạo ra, thường mang giá trị khảo cổ) và tác phẩm nghệ thuật của các bảo tàng trong thời gian gần đây. Trung bình, mỗi năm có khoảng 20 vụ trộm cắp tại hơn 1.200 bảo tàng trên toàn nước Pháp. Nhưng theo AFP, báo cáo của Sirasco đã vẽ nên một bức tranh đáng lo ngại, nêu rõ là « các bảo tàng, nhà thờ và cá nhân tại Pháp ngày càng trở thành mục tiêu của tội phạm nhắm vào những báu vật và tác phẩm nghệ thuật quan trọng mà họ sở hữu ». Cục Cảnh sát Tư pháp Quốc gia (DNPJ) lưu ý là nhiều vụ trộm di sản hoặc hiện vật văn hóa khác đã liên tục xảy ra trong những tuần gần đây. 7 vụ trộm nghiêm trọng chỉ trong vòng 2 tháng Ví dụ, vào ngày 20/10, khi cả nước Pháp còn đang kinh ngạc về vụ trộm ở Louvre, thì bảo tàng Langres ở tỉnh Haute-Marne, vùng Grand Est, miền đông bắc, cũng bị trộm đột nhập, nhắm vào các đồng tiền vàng và bạc có từ thế kỷ 18. Trước đó, vào đầu tháng 9, một hiện vật là đồ sứ Trung Quốc, được xếp vào loại bảo vật quốc gia, đã bị đánh cắp khỏi bảo tàng Dubouché ở Limoges. Thiệt hại ước tính lên tới hơn 6,5 triệu euro. Vào ngày 21/10, một công dân Trung Quốc đã bị bắt tại sân bay Barcelona, Tây Ban Nha, với 1 kg vàng nấu chảy : người này bị tình nghi đã tham gia vào vụ trộm gần 6 kilogram vàng tự nhiên (chưa qua tinh chế) tại bảo tàng Lịch sử Tự nhiên ở Paris hồi tháng 09. Hôm 12/10, bảo tàng về tổng thống Pháp Jacques Chirac (nhiệm kỳ 1995-2007) ở Sarran, Corrèze, cũng trở thành mục tiêu. Những kẻ phạm tội nhắm vào các quà tặng ngoại giao mà ông Chirac đã được các nước tặng trên cương vị tổng thống, trong đó có đồng hồ và trang sức. Jean-Baptiste-Félicité, người đứng đầu Văn phòng Trung ương về Chống Buôn bán Tài sản Văn hóa (OCBC), xác nhận trong phiên điều trần trước Ủy ban Văn hóa của Thượng viện Pháp ngày 29/10/2025 là các vụ việc nghiêm trọng đã gia tăng đột biến trong tháng 09 và 10 vừa qua : « Chúng tôi thấy có sự gia tăng các vụ nghiêm trọng trong hai tháng qua, tức là tháng 09 và 10. Chúng tôi ghi nhận là có ít nhất 7 bảo tàng đã bị nhắm tới trong những vụ mà các thủ phạm có sử dụng bạo lực, thậm chí là dùng vũ khí ». Theo nhà chức trách Pháp, kẻ trộm hoặc nhắm vào các tác phẩm nghệ thuật vì giá trị nội tại của chúng : Đây thường là các vụ trộm được tiến hành kiểu theo đơn đặt hàng, nhưng cũng có thể là họ ăn trộm để bán chúng cho các mạng lưới chuyên tẩu tán hàng ăn cắp ; hoặc chúng nhắm vào kim loại hoặc đá quý, những món hàng có thể chia tách ra từng phần nhỏ hoặc được nung chảy ra để bán mà không sợ bị nhà chức trách phát hiện nguồn gốc là sản phẩm bị đánh cắp. Trong bối cảnh bất ổn định chính trị toàn cầu, vàng được coi là « nơi trú ẩn an toàn », khối lượng vàng mua vào và giá vàng đều tăng chóng mặt trong thời gian quan. Cục Thông tin, Tình báo và Phân tích Chiến lược về Tội phạm có tổ chức (Sirasco) lưu ý rằng các hiện vật làm bằng vàng là mục tiêu đặc biệt bị kẻ trộm nhắm tới. Các đồ vật bằng bạc cũng thu hút tội phạm. Về phương pháp hoạt động, các nhóm tội phạm đôi khi sử dụng « các chiến thuật bạo lực » và « có thể thuê người thông qua các dịch vụ nhắn tin được mã hóa » hoặc qua các mạng xã hội. Để tăng cường an ninh tại bảo tàng Louvre, sau « vụ trộm thế kỷ » kéo dài 7 phút, chủ tịch kiêm giám đốc bảo tàng, Laurence Des Cars (2), đã yêu cầu đặt một đồn cảnh sát bên trong bảo tàng, nhưng cả bộ trưởng Nội Vụ Pháp, Laurent Nuñez, nguyên cảnh sát trưởng Paris, và tân cảnh sát trưởng Paris, Patrice Faure, đều bác bỏ. Hôm 29/10, trước Ủy ban Văn Hóa của Thượng Viện, cảnh sát trưởng Paris, Patrice Faure phát biểu : « Tôi kiên quyết phản đối, vì hai lý do : nếu chúng tôi chấp thuận yêu cầu này, tất cả các bảo tàng khác đều sẽ yêu cầu chúng tôi đặt đồn cảnh sát ở đó. (…) Tôi không nghĩ việc đặt một đồn cảnh sát bên trong (bảo tàng) sẽ là giải pháp lâu dài cho những khó khăn mà bảo tàng Louvre đang gặp phải (…) Và tôi nghĩ việc đó rõ ràng là sẽ vấp phải một số khó khăn, đặc biệt là bởi vì, nhìn chung thì kẻ trộm sẽ không ở lại nơi chúng đã đột nhập mà sẽ cố gắng thoát ra ngoài và mang theo ác món đồ đã trộm cắp ». Chính vì vậy, cảnh sát trưởng Paris nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự hiện diện của cảnh sát xung quanh bảo tàng Louvre, bởi trong năm 2025, cảnh sát đã tiến hành can thiệp gần 1100 lần. Bộ trưởng Nội Vụ cũng đã ra chỉ thị cho các tỉnh trưởng tăng cường hệ thống an ninh quanh cách cơ sở văn hóa nếu cần. Trong khi đó, Jean-Baptiste Félicité, Văn phòng Trung ương về Chống Buôn bán Tài sản Văn hóa (OCBC), cảnh báo cần tránh khả năng xảy ra « hiệu ứng Đường Maginot » (effet ligne de Maginot), ý nói tới một sự bảo vệ tưởng chừng vững chắc nhưng thực ra lại là vô hiệu, vì chỉ tập trung vào một mối nguy cũ, trong khi kẻ thù hoặc vấn đề thật sự đến từ nơi khác, nói cách khác là một cảm giác an toàn giả tạo do dựa vào một hệ thống bảo vệ lỗi thời. Trộm cắp không chỉ là mối de dọa duy nhất Trả lời chất vấn của Ủy ban Văn hóa của Thượng Viện, ông Jean-François Hébert, tổng cục trưởng Di sản và Kiến trúc thuộc bộ Văn Hóa, giới thiệu khái quát các mối đe dọa mà các bảo tàng Pháp phải đối mặt trong những năm gần đây: « Chúng ta (nước Pháp) thực sự sở hữu những bộ sưu tập phong phú nhất. Ý và nhiều nước châu Âu khác cũng có những bộ sưu tập rất phong phú, nhưng chúng ta chắc chắn nằm trong số những nước có những bộ sưu tập phong phú nhất thế giới. Và những bộ sưu tập này có thể được trông thấy trên khắp đất nước, nhất tại các bảo tàng. (…) Có 1.220 bảo tàng ở Pháp được công nhận là « Musée de France », danh hiệu « bảo tàng Pháp » dành cho các cơ sở đáp ứng một số tiêu chí mà tôi xin phép không đề cập chi tiết ở đây. 61 bảo tàng trong số này thuộc về Nhà nước, mà chúng tôi gọi là các bảo tàng quốc gia. Hầu hết các bảo tàng còn lại, gần 1.200 bảo tàng, thì do chính quyền địa phương quản lý. Và tất cả các bảo tàng, dù là bảo tàng quốc gia hay bảo tàng do chính quyền địa phương quản lý, thì đều có trách nhiệm, không chỉ lưu giữ, bảo tồn, làm giàu hay nghiên cứu, tìm hiểu về các bộ sưu tập của mình, mà còn phải giới thiệu các bộ sưu tập này đến công chúng, đến càng nhiều người thì càng tốt. Bảo vệ các bộ sưu tập công khỏi những mối đe dọa mà chúng phải đối mặt không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta đều nhận thức được điều đó, nhất là bởi vì các mối đe dọa rất đa dạng. Có thể nói đến hỏa hoạn, chúng ta cũng đừng quên nói đến lũ lụt, các hành vi phá hoạt, hay là trộm cắp. Tôi muốn nhắc lại về những hành động đã được truyền thông nói đến rầm rộ, những hành động của những người thường được gọi chung là các nhà hoạt động vì khí hậu. Mọi người có thể quên, nhưng chuyện mới xảy ra cách nay chưa quá lâu, chỉ mới 2 năm trước thôi. Những người này đã cố tình xịt một loạt chất lỏng lên một số kiệt tác trong các bảo tàng của chúng ta để lôi kéo công luận chú ý đến cuộc đấu tranh của họ. Riêng về vấn đề trộm cắp, trong trường hợp này, nó không chỉ đơn thuần là làm hư hại các tác phẩm nghệ thuật, và mọi người đều đồng ý rằng mối đe dọa đang không ngừng gia tăng. Kể từ năm 2015 trở đi, khi bắt đầu có nhiều vụ khủng bố diễn ra, ngoài ra còn có các cuộc biểu tình đầy bạo lực diễn ra ngay trước cổng các bảo tàng, đã có rất nhiều áp lực đè nặng lên mọi người. Và giờ đây, chúng ta thấy rõ ràng là chính các hiện vật, chính các bộ sưu tập, là mục tiêu bị nhắm tới ». Đây cũng là dịp để báo chí Pháp điểm lại những vụ trộm lớn nhắm vào các bảo tàng danh tiếng của Pháp. Ví dụ theo trang CNEWS, vào ngày 20/05/2010, 5 kiệt tác của các danh họa Pablo Picasso, Henri Matisse, Georges Braque, Amedeo Modigliani và Fernand Léger, với tổng trị giá lên tới khoảng 100 triệu euro, được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại ở Paris, đã bị lấy đi ngay giữa ban ngày. Kẻ trộm, một người Croatia-Bosnia có tên là Vjeran Tomic, đã lợi dụng một lỗ hổng bảo mật : các cảm biến chuyển động đã ngừng hoạt động trong 2 tháng. Bị bắt gần một năm rưỡi sau đó, đến năm 2017, « Người Nhện » đã bị kết án 8 năm tù. Mặc dù không có tác phẩm nghệ thuật nào được tìm thấy, nhưng câu chuyện về vụ trộm 5 kiệt tác tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại ở Paris này đã truyền cảm hứng cho bộ phim Pháp dài tập « Les règles de l'art » - Các quy tắc nghệ thuật, của Dominique Baumard, được phát hành trong năm nay. Chính bảo tàng Louvre và kiệt tác nổi tiếng nhất « La Joconde » - Nàng Mona Lisa - hồi năm 1911 cũng từng là nạn nhân của một vụ đánh cắp gây chấn động. Vincenzo Peruggia, một người thợ kính người Ý, tham gia vào việc phục chế tranh ở bảo tàng, đã đánh cắp bức tranh vì điều ông ta gọi là lòng yêu nước, để trả lại « La Joconde » cho nước Ý. May mắn là bảo tàng Louvre đã thu hồi lại được tuyệt phẩm của Leonard De Vinci. Lần này cơ may có lặp lại với bảo tàng Louvre sau « vụ trộm có tổ chức » hôm 19/10 hay không hay không ? Các cuộc điều tra vẫn đang tích cực diễn ra, nhưng trước mắt, nhiều chuyên gia và nhà chức trách nhận định khó có thể thu hồi lại được « nguyên vẹn » những báu vật « vô giá về lịch sử » của Pháp. Trong một bài đăng trên Diễn đàn của báo Le Monde hôm 27/10, 57 người đứng đầu các bảo tàng lớn của Pháp cũng như ở khắp nơi trên thế giới, từ Tokyo, Luân Đôn, Barcelona, đến New York … bày tỏ tình liên đới với chủ tịch - giám đốc bảo tàng Louvre : « Bảo tàng không phải là pháo đài hay những két sắt chống trộm ». Họ nhấn mạnh là « những rủi ro, nguy cơ bị trộm cắp đè nặng lên tất cả các bảo tàng, lên mỗi tác phẩm nghệ thuật ngay khi chúng được trưng bày » và trộm cắp chính là « một trong những nỗi sợ hãi lớn nhất » của các bảo tàng, vốn dĩ « cũng không thoát khỏi sự tàn bạo của thế giới » và hiện giờ « đang phải đối mặt với những hành vi ngày càng bạo lực hơn ». * (1) Bà Rachida Dati từ chức bộ trưởng Văn Hóa ngày 25/02/2026, để ra tranh cử thị trưởng thành phố Paris. (2) Bà Laurence Des Cars từ chức chủ tịch Bảo Tàng Louvre ngày 24/02/2026.
Được mệnh danh là “cha đẻ” của phóng viên ảnh chiến trường, Robert Capa đã để lại cho hậu thế kho tàng ảnh tư liệu đồ sộ, lột tả trần trụi hiện thực nghiệt ngã của chiến tranh. Qua lăng kính đầy tính nhân văn, những tác phẩm của ông không chỉ xuất hiện trên khắp các mặt báo lớn mà còn chứng minh sức mạnh của nghệ thuật kể chuyện bằng hình ảnh, lay động hàng triệu độc giả. Triển lãm tại bảo tàng Libération ở Paris, từ ngày 18/02 đến ngày 20/12 là dịp để công chúng tại Pháp nhìn lại những cột mốc đánh dấu sự nghiệp của nhiếp ảnh gia huyền thoại – Robert Capa. Triển lãm trưng bày hơn 60 bức ảnh do ông chụp trong nhiều giai đoạn khác nhau trên khắp địa cầu, cùng những tài liệu, kỷ vật cá nhân của ông. Robert Capa tên thật là Endre Ernő Friedmann, sinh năm 1913 tại Budapest, Hungary. Bí danh “Robert Capa” được ông chọn vì nghe có vẻ “rất Mỹ”, giúp ông dễ dàng bán ảnh với giá cao hơn. Cuộc đời của ông gắn liền với những biến động lịch sử ở châu Âu và là một trong những nhà nhiếp ảnh hiếm hoi, từng tác nghiệp trong 5 cuộc chiến, từ cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha, cho đến chiến tranh Trung – Nhật, qua Đệ Nhị Thế Chiến, và cuộc chiến ở Đông Dương, nơi ông « rơi máy », trút hơi thở cuối cùng, khi dẫm phải mìn lúc tác nghiệp tại Thái Bình, Việt Nam vào năm 1954. Đọc thêmRobert Capa: Tài liệu quý hiếm nhân 60 năm ngày giỗ Với phong cách « dấn thân » và tôn chỉ « Nếu ảnh không đẹp chứng tỏ bạn chưa đến đủ gần », Robert Capa đã đặt nền móng cho nghề phóng viên ảnh hiện đại, được coi là một trong những nhà nhiếp ảnh chiến trường vĩ đãi nhất thế kỷ XX. Để hiểu rõ thêm về Robert Capa, RFI đã phỏng vấn Kevin Desurmont, phụ trách triển lãm của bảo tàng Libération ở Paris. Bảo tàng đã chọn cách kể chuyện dẫn dắt người xem như thế nào trong triển lãm lần này để nói về Robert Capa? Chúng tôi thực hiện triển lãm này, với sự hợp tác của Magnum Photos, hãng ảnh do Robert Capa thành lập vào năm 1947. Chúng tôi khai thác kho lưu trữ của Magnum, gồm những bản in báo chí, từng được lưu hành rộng rãi trong các phòng biên tập báo chí trên khắp châu Âu và thế giới. Đây không chỉ là một bộ sưu tập ảnh, mà còn là một cuộc trưng bày các bản in và hiện vật mang theo câu chuyện lịch sử đằng sau chúng. Sợi chỉ xuyên suốt triển làm là những hình ảnh mang tính biểu tượng của ông, cách ông làm việc, cách các bản in được sử dụng trên báo chí vào những năm 1930 và sau đó. Chúng tôi liên kết tất cả các nội dung này, với con người Robert Capa, và một bộ phim tiểu sử về ông, để cuối cùng mở ra những vấn đề cốt lõi: nhiếp ảnh chiến tranh là gì, và đâu là những giới hạn đạo đức cần được cân nhắc. Chúng tôi cố gắng đặt câu hỏi về việc khi nào nhiếp ảnh chiến tranh đi quá xa ? Khi nào nhiếp ảnh gia nên dừng lại trong vai trò của mình ? Robert Capa được coi là một "nhân vật" do Friedmann tạo ra. Điểm đáng chú ý nhất của nhân vật này là gì? Robert Capa có tên khai sinh là Endre Ernő Friedmann, là một người tị nạn Do Thái từ Hungary, chống phát xít, đến Paris vào năm 1933 từ rất trẻ, (khi mới 17 tuổi) và gặp rất nhiều những người tị nạn khác, (…) và cùng gặp khó khăn trong việc bán ảnh, và cứ thế Robert Capa ra đời, có phần lập dị, là một người thích mạo hiểm và thích việc chơi đùa với cuộc sống. Ông cũng là người luôn tìm đến những nơi nguy hiểm. Ông tiến thẳng vào tâm điểm hiểm nguy, và điều này được thể hiện rất rõ trong triển lãm. Tại triển lãm, chúng tôi trưng bày cả những thước phim tư liệu ghi lại cảnh ông thực sự lao vào trung tâm của các trận giao tranh. Phong cách của ông là ở tuyến đầu, ở khoảng cách gần nhất, chụp cả những người lính trực tiếp chiến đấu lẫn cảnh khốn cùng mà chiến tranh gieo rắc. Rốt cuộc, khó có thể xếp ông vào trào lưu “nhiếp ảnh nhân văn” theo nghĩa một trường phái cụ thể, nhưng rõ ràng ông sở hữu một cái nhìn đậm tính nhân văn, đối với các nhân vật và hiện thực mà mình ghi lại. Ông đánh giá thế nào về vai trò của Capa trong lịch sử báo ảnh? Robert Capa hành nghề nhiếp ảnh vào thời điểm mà báo ảnh đang trong trải qua một cuộc cách mạng. Các báo, tạp chí, đưa ra những đường biên tập mới, cùng với sự hồi sinh mạnh mẽ của báo chí có hình minh họa. Các bức ảnh trở thành phương tiện quan trọng để phản ánh, truyền tải thời sự. Các nhà nhiếp ảnh tham gia vào quá trình này. Bên cạnh đó, là những tiến bộ kỹ thuật, với những máy ảnh ngày càng nhỏ gọn, linh hoạt với nhiều tính năng vượt trội. Nhờ vậy, nhiếp ảnh gia có thể ghi lại những sự kiện trực tiếp trên đường phố, nhanh chóng tráng, rửa ảnh và chuyển về tòa soạn để kịp thời xuất bản. Do đó, có một làn sóng đổi mới mạnh mẽ trong thập niên 1930 về báo ảnh, Capa là một trong gương mặt góp phần quan trọng vào quá trình này. Điều đặc biệt ở chỗ là ông đã trở thành phóng viên ảnh chiến trường nổi tiếng nhất, từ nội chiến ở Tây Ban Nha, quan cuộc chiến ở Đông Dương năm 1954. Công việc của ông đã được các đồng nghiệp và các tòa soạn thừa nhận. Điều này củng cố thêm kinh nghiệm chuyên môn của mình. Đông Dương cũng là nơi mà Robert Capa đã thiệt mạng khi tác nghiệp, vậy bảo tàng đề cập đến cái chết của huyền thoại nhiếp ảnh gia chiến trường này như thế nào ? Về cái chết của Capa, chúng tôi tiếp cận câu chuyện này bằng cách giới thiệu ở gian cuối cùng của triển lãm một trong những tấm ảnh cuối cùng được ông chụp. Đó là bức ảnh màu cuối cùng cho thấy những cánh đồng lúa và những người lính Pháp, được chụp trước khi ông giẫm phải mìn. Bức ảnh màu này được trình bày dưới dạng tấm in cũ và cũng có bản phóng lớn, để người xem có thể thực sự đắm mình trong khoảnh khắc cuối cùng đó. Hình ảnh màu và các cảnh tượng binh lính trên cánh đồng lúa, gợi lên cách mà các phóng viên chiến trường tiếp tục thực hành nghề nghiệp trong các xung đột sau này, đặc biệt là Chiến tranh Việt Nam, với những hình ảnh có thể được liên tưởng đến những tấm ảnh này. Triển lãm được tổ chức trong bối cảnh đang diễn ra nhiều cuộc xung đột thu hút sự quan tâm của quốc tế, từ cuộc chiến ở Ukraina cho đến xung đột ở Trung Đông. Vậy đâu là thông điệp mà bảo tàng muốn truyền tải khi đề cập đến nhà báo ảnh chiến trường Robert Capa ? Thông điệp mà chúng tôi muốn truyền tải là những bức ảnh của Capa vẫn còn mang tính thời sự, cho dù đã nhiều thập kỷ trôi qua kể từ khi ông qua đời, nó vẫn là một tiêu chuẩn tham chiếu đối với nhiều phóng viên chiến tranh đương đại. Đồng thời, chúng tôi đặt ra nhiều câu hỏi xuyên suốt triển lãm về cách các tấm ảnh được lan toả, và về vị trí của người chụp. Ví dụ, có một câu hỏi trọng tâm là: đến lúc nào thì một phóng viên nên dừng chụp để cứu người mà họ đang ghi lại? Vấn đề này được đặt ra qua trao đổi với các nhà báo/phóng viên chiến tranh hiện đại, trong đó một đại diện của hãng Magnum, đã trả lời chúng tôi rằng nhiều câu hỏi mà Capa từng đối diện vẫn còn nguyên giá trị ngày nay, bất chấp tiến bộ kỹ thuật và những hình thức xung đột mới. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn ông Kevin Desurmont, và bảo tàng Libération Paris.
Được mệnh danh là “cha đẻ” của phóng viên ảnh chiến trường, Robert Capa đã để lại cho hậu thế kho tàng ảnh tư liệu đồ sộ, lột tả trần trụi hiện thực nghiệt ngã của chiến tranh. Qua lăng kính đầy tính nhân văn, những tác phẩm của ông không chỉ xuất hiện trên khắp các mặt báo lớn mà còn chứng minh sức mạnh của nghệ thuật kể chuyện bằng hình ảnh, lay động hàng triệu độc giả. Triển lãm tại bảo tàng Libération ở Paris, từ ngày 18/02 đến ngày 20/12 là dịp để công chúng tại Pháp nhìn lại những cột mốc đánh dấu sự nghiệp của nhiếp ảnh gia huyền thoại – Robert Capa. Triển lãm trưng bày hơn 60 bức ảnh do ông chụp trong nhiều giai đoạn khác nhau trên khắp địa cầu, cùng những tài liệu, kỷ vật cá nhân của ông. Robert Capa tên thật là Endre Ernő Friedmann, sinh năm 1913 tại Budapest, Hungary. Bí danh “Robert Capa” được ông chọn vì nghe có vẻ “rất Mỹ”, giúp ông dễ dàng bán ảnh với giá cao hơn. Cuộc đời của ông gắn liền với những biến động lịch sử ở châu Âu và là một trong những nhà nhiếp ảnh hiếm hoi, từng tác nghiệp trong 5 cuộc chiến, từ cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha, cho đến chiến tranh Trung – Nhật, qua Đệ Nhị Thế Chiến, và cuộc chiến ở Đông Dương, nơi ông « rơi máy », trút hơi thở cuối cùng, khi dẫm phải mìn lúc tác nghiệp tại Thái Bình, Việt Nam vào năm 1954. Đọc thêmRobert Capa: Tài liệu quý hiếm nhân 60 năm ngày giỗ Với phong cách « dấn thân » và tôn chỉ « Nếu ảnh không đẹp chứng tỏ bạn chưa đến đủ gần », Robert Capa đã đặt nền móng cho nghề phóng viên ảnh hiện đại, được coi là một trong những nhà nhiếp ảnh chiến trường vĩ đãi nhất thế kỷ XX. Để hiểu rõ thêm về Robert Capa, RFI đã phỏng vấn Kevin Desurmont, phụ trách triển lãm của bảo tàng Libération ở Paris. Bảo tàng đã chọn cách kể chuyện dẫn dắt người xem như thế nào trong triển lãm lần này để nói về Robert Capa? Chúng tôi thực hiện triển lãm này, với sự hợp tác của Magnum Photos, hãng ảnh do Robert Capa thành lập vào năm 1947. Chúng tôi khai thác kho lưu trữ của Magnum, gồm những bản in báo chí, từng được lưu hành rộng rãi trong các phòng biên tập báo chí trên khắp châu Âu và thế giới. Đây không chỉ là một bộ sưu tập ảnh, mà còn là một cuộc trưng bày các bản in và hiện vật mang theo câu chuyện lịch sử đằng sau chúng. Sợi chỉ xuyên suốt triển làm là những hình ảnh mang tính biểu tượng của ông, cách ông làm việc, cách các bản in được sử dụng trên báo chí vào những năm 1930 và sau đó. Chúng tôi liên kết tất cả các nội dung này, với con người Robert Capa, và một bộ phim tiểu sử về ông, để cuối cùng mở ra những vấn đề cốt lõi: nhiếp ảnh chiến tranh là gì, và đâu là những giới hạn đạo đức cần được cân nhắc. Chúng tôi cố gắng đặt câu hỏi về việc khi nào nhiếp ảnh chiến tranh đi quá xa ? Khi nào nhiếp ảnh gia nên dừng lại trong vai trò của mình ? Robert Capa được coi là một "nhân vật" do Friedmann tạo ra. Điểm đáng chú ý nhất của nhân vật này là gì? Robert Capa có tên khai sinh là Endre Ernő Friedmann, là một người tị nạn Do Thái từ Hungary, chống phát xít, đến Paris vào năm 1933 từ rất trẻ, (khi mới 17 tuổi) và gặp rất nhiều những người tị nạn khác, (…) và cùng gặp khó khăn trong việc bán ảnh, và cứ thế Robert Capa ra đời, có phần lập dị, là một người thích mạo hiểm và thích việc chơi đùa với cuộc sống. Ông cũng là người luôn tìm đến những nơi nguy hiểm. Ông tiến thẳng vào tâm điểm hiểm nguy, và điều này được thể hiện rất rõ trong triển lãm. Tại triển lãm, chúng tôi trưng bày cả những thước phim tư liệu ghi lại cảnh ông thực sự lao vào trung tâm của các trận giao tranh. Phong cách của ông là ở tuyến đầu, ở khoảng cách gần nhất, chụp cả những người lính trực tiếp chiến đấu lẫn cảnh khốn cùng mà chiến tranh gieo rắc. Rốt cuộc, khó có thể xếp ông vào trào lưu “nhiếp ảnh nhân văn” theo nghĩa một trường phái cụ thể, nhưng rõ ràng ông sở hữu một cái nhìn đậm tính nhân văn, đối với các nhân vật và hiện thực mà mình ghi lại. Ông đánh giá thế nào về vai trò của Capa trong lịch sử báo ảnh? Robert Capa hành nghề nhiếp ảnh vào thời điểm mà báo ảnh đang trong trải qua một cuộc cách mạng. Các báo, tạp chí, đưa ra những đường biên tập mới, cùng với sự hồi sinh mạnh mẽ của báo chí có hình minh họa. Các bức ảnh trở thành phương tiện quan trọng để phản ánh, truyền tải thời sự. Các nhà nhiếp ảnh tham gia vào quá trình này. Bên cạnh đó, là những tiến bộ kỹ thuật, với những máy ảnh ngày càng nhỏ gọn, linh hoạt với nhiều tính năng vượt trội. Nhờ vậy, nhiếp ảnh gia có thể ghi lại những sự kiện trực tiếp trên đường phố, nhanh chóng tráng, rửa ảnh và chuyển về tòa soạn để kịp thời xuất bản. Do đó, có một làn sóng đổi mới mạnh mẽ trong thập niên 1930 về báo ảnh, Capa là một trong gương mặt góp phần quan trọng vào quá trình này. Điều đặc biệt ở chỗ là ông đã trở thành phóng viên ảnh chiến trường nổi tiếng nhất, từ nội chiến ở Tây Ban Nha, quan cuộc chiến ở Đông Dương năm 1954. Công việc của ông đã được các đồng nghiệp và các tòa soạn thừa nhận. Điều này củng cố thêm kinh nghiệm chuyên môn của mình. Đông Dương cũng là nơi mà Robert Capa đã thiệt mạng khi tác nghiệp, vậy bảo tàng đề cập đến cái chết của huyền thoại nhiếp ảnh gia chiến trường này như thế nào ? Về cái chết của Capa, chúng tôi tiếp cận câu chuyện này bằng cách giới thiệu ở gian cuối cùng của triển lãm một trong những tấm ảnh cuối cùng được ông chụp. Đó là bức ảnh màu cuối cùng cho thấy những cánh đồng lúa và những người lính Pháp, được chụp trước khi ông giẫm phải mìn. Bức ảnh màu này được trình bày dưới dạng tấm in cũ và cũng có bản phóng lớn, để người xem có thể thực sự đắm mình trong khoảnh khắc cuối cùng đó. Hình ảnh màu và các cảnh tượng binh lính trên cánh đồng lúa, gợi lên cách mà các phóng viên chiến trường tiếp tục thực hành nghề nghiệp trong các xung đột sau này, đặc biệt là Chiến tranh Việt Nam, với những hình ảnh có thể được liên tưởng đến những tấm ảnh này. Triển lãm được tổ chức trong bối cảnh đang diễn ra nhiều cuộc xung đột thu hút sự quan tâm của quốc tế, từ cuộc chiến ở Ukraina cho đến xung đột ở Trung Đông. Vậy đâu là thông điệp mà bảo tàng muốn truyền tải khi đề cập đến nhà báo ảnh chiến trường Robert Capa ? Thông điệp mà chúng tôi muốn truyền tải là những bức ảnh của Capa vẫn còn mang tính thời sự, cho dù đã nhiều thập kỷ trôi qua kể từ khi ông qua đời, nó vẫn là một tiêu chuẩn tham chiếu đối với nhiều phóng viên chiến tranh đương đại. Đồng thời, chúng tôi đặt ra nhiều câu hỏi xuyên suốt triển lãm về cách các tấm ảnh được lan toả, và về vị trí của người chụp. Ví dụ, có một câu hỏi trọng tâm là: đến lúc nào thì một phóng viên nên dừng chụp để cứu người mà họ đang ghi lại? Vấn đề này được đặt ra qua trao đổi với các nhà báo/phóng viên chiến tranh hiện đại, trong đó một đại diện của hãng Magnum, đã trả lời chúng tôi rằng nhiều câu hỏi mà Capa từng đối diện vẫn còn nguyên giá trị ngày nay, bất chấp tiến bộ kỹ thuật và những hình thức xung đột mới. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn ông Kevin Desurmont, và bảo tàng Libération Paris.
VOV1 - Cơn bão Marta đã đổ bộ vào bán đảo Iberia với mưa lớn và gió giật mạnh, gây ra tình trạng ngập lụt nghiêm trọng tại Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Một lính cứu hỏa tình nguyện đã thiệt mạng trong khi đang làm nhiệm vụ giải cứu.Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sánchez đã tổ chức cuộc họp theo dõi khẩn cấp tại Madrid - Ảnh: AP
- Việt Nam đón lượng khách quốc tế kỷ lục trong tháng 1 với gần 2,5 triệu lượt khách.- Chương trình đón Xuân, vui Tết sớm được tổ chức tại nhiều địa phương nhằm giúp người lao động nghèo, các gia đình khó khăn chuẩn bị đón Tết nguyên đán Bính Ngọ ấm áp, nghĩa tình.- Mỹ chính thức rút mức thuế bổ sung 25% với hàng hóa nhập khẩu từ Ấn Độ, song cảnh báo áp đặt trở lại nếu Ấn Độ nối lại hoạt động nhập khẩu dầu từ Nga.- Siêu bão chồng nhau, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đang rơi vào tình trạng báo động đỏ thiên tai chưa từng có trong nhiều thập kỷ.
VOV1 - Mới đây, trong bối cảnh châu Âu tiếp tục đối mặt với những thách thức lớn về nhập cư và già hóa dân số, Tây Ban Nha vừa công bố một kế hoạch gây nhiều chú ý. Đó là hợp pháp hóa tình trạng cư trú cho khoảng 500 nghìn người di cư không giấy tờ đang sinh sống và làm việc tại quốc gia này.Kế hoạch được kỳ vọng sẽ bổ sung lực lượng lao động, tăng nguồn thu cho hệ thống an sinh xã hội. Tuy nhiên, cũng có ý kiến lo ngại quyết định sẽ làm phức tạp thêm bài toán nhập cư không chỉ của Tây Ban Nha mà của cả Liên minh châu Âu. Vì sao Tây Ban Nha lựa chọn cách tiếp cận này vào thời điểm hiện nay, và kế hoạch hợp pháp hóa quy mô lớn này sẽ có những tác động ra sao? Theo tuyên bố của Chính phủ Tây Ban Nha, kế hoạch hợp pháp hóa người di cư lần này được thiết kế với những tiêu chí và lộ trình cụ thể, gắn với cả mục tiêu quản lý di cư, các vấn đề về nhân quyền, hội nhập xã hội và nhu cầu phát triển kinh tế trong nước.Theo Bộ trưởng Di trú Tây Ban Nha Elma Saiz, (en-ma sa-ít), chính sách này sẽ áp dụng đối với những người đã sinh sống tại Tây Ban Nha ít nhất 5 năm, tính đến ngày 31/12/2025, với điều kiện không có tiền án, tiền sự. Việc nộp đơn dự kiến bắt đầu từ tháng 4 đến hết tháng 6. Những người đủ điều kiện sẽ được phép làm việc hợp pháp trong mọi lĩnh vực, trên toàn lãnh thổ Tây Ban Nha, với giấy phép cư trú có thời hạn một năm./.Tây Ban Nha kỳ vọng giải quyết vấn đề thiếu hụt lao động nhờ hợp pháp hoá người di cư. Ảnh: Bloomberg
- Từ tháng 2 tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ thí điểm dạy trí tuệ nhân tạo theo 3 cấp độ.- Công an tỉnh Lào Cai triệt phá đường dây thực phẩm chức năng giả có quy mô đặc biệt lớn, với doanh thu gần 1.800 tỷ đồng.- Liên minh châu Âu đang cân nhắc khả năng áp thuế đối với hơn 100 tỷ đô la hàng hóa Mỹ nếu như chính quyền của Tổng thống Donald Trump vẫn quyết định áp thuế bổ sung đối với 8 nước châu Âu liên quan đến hoạt động mới đây của các nước này tại Greenland, một hòn đảo tự trị của Đan Mạch.- Số người thiệt mạng trong vụ 2 đoàn tàu cao tốc trật bánh và va chạm gần thành phố Cordoba, miền Nam Tây Ban Nha đã tăng lên ít nhất 21 người và hơn 100 người khác bị thương.
- Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Diễn đàn quốc gia phát triển Kinh tế số và xã hội số lần thứ 3- Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trên 9,3% tiếp tục là động lực tăng trưởng của nền kinh tế.- Du lịch Việt Nam bứt phá sau 5 năm vượt “cú sốc” COVID-19- Các quan chức Mỹ và Ukraine bắt đầu vòng đàm phán hòa bình mới, dự kiến kéo dài trong 2 ngày, tại thành phố Miami thuộc bang Florida của Mỹ. - Hàn Quốc thúc đẩy xử phạt nặng việc thông tin sai sự thật- Tây Ban Nha triển khai mạng lưới “trú ẩn khí hậu” ứng phó nắng nóng
Quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và Bắc Triều Tiên được “tạo xung lực mới” thông qua chuyến công du Bình Nhưỡng của tổng bí thư Tô Lâm từ ngày 09-11/10/2025 nhưng tạm dừng ở cấp độ chính trị, trao đổi văn hóa và du lịch. Bình Nhưỡng đã phát triển mạnh chương trình tên lửa, kể cả hạt nhân và cho dù có muốn, Hà Nội cũng chỉ dừng ở “ý định thư hợp tác quốc phòng khi điều kiện cho phép”. Bắc Triên Tiên bị Liên Hiệp Quốc trừng phạt vì phát triển chương trình hạt nhân. Còn “Việt Nam không muốn vi phạm các lệnh trừng phạt quốc tế đối với Bắc Triều Tiên” theo nhận định của nhà nghiên cứu Vũ Khang, Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston (Mỹ), vì Hà Nội đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế trong những thập niên gần đây và không ngừng mở rộng mạng lưới đối tác với các nước phương Tây. Cùng với “ngoại giao cây tre”, Việt Nam thể hiện là “bạn” với tất cả các nước, là một quốc gia trung lập, không chọn phe. Và trong chính sách đối ngoại đa phương, Hà Nội coi Bình Nhưỡng là một đối tác quan trọng. Tuy nhiên, “việc này không đồng nghĩa là Việt Nam ủng hộ chương trình hạt nhân hay chính sách chống phương Tây của Bắc Triều Tiên”. Chuyến thăm Bình Nhưỡng của ông Tô Lâm diễn ra chỉ hai tháng sau chuyến công du Seoul còn cho thấy Hà Nội tiếp tục chính sách cân bằng quan hệ và đặt trọng tâm vào việc duy trì ổn định khu vực để phát triển kinh tế và hợp tác với cả hai miền Triều Tiên. Chuyến công du đầu tiên kể từ 18 năm qua mang lại những triển vọng như thế nào cho quan hệ Việt Nam - Bắc Triều Tiên ? Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, tại Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston, Mỹ, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Mối quan hệ giữa Việt Nam và Bắc Triều Tiên trở thành đề tài được chú sau khi nhà lãnh đạo Kim Jong Un mời tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm đến dự 80 thành lập đảng Lao Động Triều Triên và lễ duyệt binh ở Bình Nhưỡng. Năm 2025 cũng đánh dấu 75 năm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên, mối quan hệ này không phải lúc nào cũng suôn sẻ ! Vũ Xuân Khang : Quan hệ Việt Nam-Bắc Triều Tiên thực ra từ sau chiến tranh Lạnh không có nhiều phát triển so với quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc. Nói như vậy không có nghĩa là quan hệ Việt-Triều không quan trọng. Trong tình hình chính sách đối ngoại hiện nay của Việt Nam, Bắc Triều Tiên là một trong những đối tác truyền thống của Hà Nội, khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao kể từ rất sớm, vào tháng 01/1950. Và Bắc Triều Tiên là nước thứ 3 đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, chỉ sau Trung Quốc và Liên Xô. Trong chiến tranh chống Mỹ, Bắc Triều Tiên đã cam kết sẽ bảo vệ miền Bắc khỏi các cuộc tấn công của Mỹ và chính họ đã gửi phi công tham chiến, cũng như một lượng lớn khí tài và viện trợ kinh tế cho miền Bắc. Mặc dù quan hệ hai bên đã bị sứt mẻ trong chiến tranh Đông Dương lần 3 khi Bắc Triều Tiên ủng hộ Trung Quốc và Khmer Đỏ chống lại Việt Nam, hai bên đã không có bất kỳ cuộc trao đổi cấp cao nào. Và đó gần như là giai đoạn mà hai bên không muốn nhắc tới. Đọc thêmViệt Nam cố giữ trung lập giữa Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên Kể từ năm 1988-1989 đến nay, sau khi Việt Nam rút quân khỏi Cam Bốt, thì hai nước mới bắt đầu có những trao đổi cấp cao trở lại. Tuy nhiên, việc Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc vào năm 1992 đã khiến cho quan hệ Việt Nam-Bắc Triều Tiên tạm thời trở nên đóng băng. Kể từ đầu những năm 2000 trở lại đây, Việt Nam và Bắc Triều Tiên mới bắt đầu nối lại những đàm phán cấp cao do chính Bình Nhưỡng bày tỏ mong muốn là được thử nghiệm các mô hình mở cửa kinh tế như Việt Nam và Trung Quốc đã làm. Có thể thấy là quan hệ giữa Việt Nam và Bắc Triều Tiên kể từ sau Chiến tranh Lạnh không có nhiều phát triển, nhất là quan hệ thương mại gần như nhỏ giọt, chỉ khoảng 20 triệu đô la/năm. Và về quan hệ quân sự, càng không có một chi tiết nào được công bố trên truyền thông. Những năm gần đây, Việt Nam và Bắc Triều Tiên mong muốn tiếp tục nối lại quan hệ ngoại giao sau khi đại dịch Covid-19 làm ảnh hưởng tới trao đổi cấp cao giữa hai nước mà do chủ tịch Bắc Triều Tiên Kim Jong Un đã cố gắng nối lại trong chuyến thăm Hà Nội năm 2019. RFI : Tổng bí thư Tô Lâm là nhà lãnh đạo đảng thứ 3 đến thăm Bắc Triều Tiên trong 75 năm qua, lần gần đây nhất là chuyến thăm của tổng bí thư Nông Đức Mạnh năm 2007. Vậy chuyến công du này có ý nghĩa như thế nào ? Vũ Xuân Khang : Cần phải nói rõ là trong những năm gần đây, vì những lý do về kinh tế, về đại dịch nên Bắc Triều Tiên đã đóng cửa rất nhiều đại sứ quán và lãnh sự quán ở các nước đối tác truyền thống khác, như Uganda, Angola, Nepal, Senegal, Bangladesh, Hồng Kông, và Tây Ban Nha… nhưng họ vẫn duy trì hiện diện ở Việt Nam. Điều này cho thấy Bắc Triều Tiên vẫn nhìn nhận Việt Nam như là một đối tác rất quan trọng ở Đông Nam Á. Và trong những năm gần đây, cho dù hai nước không gặp nhau trực tiếp do đại dịch Covid-19, nhưng vẫn có những thư mừng hoặc những lời chúc mừng trong giai đoạn hai nước tổ chức Đại hội Đảng. Đặc biệt kể từ năm 2024, hai nước bắt đầu thực sự nối lại các cuộc gặp mặt cấp cao như chuyến thăm Việt Nam của ông Kim Song Nam, trưởng ban quốc tế trung ương của Đảng Lao động Triều Tiên, vào tháng 03/2024. Việt Nam cũng đã gửi thứ trưởng bộ Quốc Phòng và bộ Ngoại Giao đến thăm Bắc Triều Tiên vào tháng 9 và tháng 10/2024. Việc Bắc Triều Tiên hiện giờ mới mời được tổng bí thư Tô Lâm qua cũng là do đại dịch Covid-19 cũng như là hai bên vẫn chưa tìm được dịp đủ lớn, đủ trang trọng để mời tổng bí thư của Việt Nam qua. Dịp 80 năm thành lập đảng Lao Động Triều Tiên là một dịp rất hợp lý để Bắc Triều Tiên có thể nối lại các đàm phán cấp cao với Việt Nam ở cấp tổng bí thư. Đọc thêmViệt Nam giúp được gì Bắc Triều Tiên để gỡ thế cô lập ? RFI : Bắc Triều Tiên được cho là nhà cung cấp vũ khí, đạn dược cho Nga để duy trì cuộc chiến ở Ukraina. Bắc Triều Tiên cũng nổi tiếng về sản xuất tên lửa đạn đạo, hạt nhân, trong đó có một tên lửa đạn đạo tầm xa mới đã được giới thiệu trong lễ duyệt binh. Liệu mảng quân sự sẽ được đề cập trong quá trình thắt chặt quan hệ hữu nghị với Bình Nhưỡng không ? Hai bên dự kiến phát triển quá trình hợp tác này như thế nào ? Vũ Xuân Khang : Trong chuyến thăm lần này của tổng bí thư Tô Lâm, Việt Nam và Bắc Triều Tiên đã ký kết Ý định thư giữa hai bộ Quốc Phòng về hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng. Cần nói rõ đây chỉ là ý định thư, nghĩa là hai nước bày tỏ quan điểm và các nội dung hợp tác trong tương lai khi các điều kiện cho phép. Và ở đây, lại cần nhấn mạnh vào yếu tố "khi các điều kiện cho phép" bởi vì Việt Nam hiểu rằng Bắc Triều Tiên vẫn đang chịu cấm vận rất lớn từ phương Tây. Đặc biệt là chương trình vũ khí hạt nhân và tên lửa tầm xa, bất kỳ hoạt động hợp tác nào của Việt Nam với Bắc Triều Tiên trong lĩnh vực tên lửa tầm xa có thể vi phạm các lệnh trừng phạt của Liên Hiệp Quốc. Việc này có thể sẽ ảnh hưởng tới quan hệ của Việt Nam với các nước phương Tây khi mà các nước phương Tây cũng như Hàn Quốc luôn luôn đặt vấn đề rằng Việt Nam phải cố gắng duy trì và bảo đảm các lệnh trừng phạt của Liên Hiệp Quốc đối với Bắc Triều Tiên trong các cuộc gặp cấp cao. Nhưng phải nói rằng thực ra, Việt Nam lại rất hợp với vũ khí của Bắc Triều Tiên. Trong thời gian gần đây, Việt Nam mới thành lập Bộ Tư lệnh Pháo binh Tên lửa và Hà Nội mong muốn nâng cấp tầm bắn của các tên lửa Scud-B do Liên Xô sản xuất và Liên Xô đã trao cho Việt Nam rất nhiều tên lửa Scud vào giai đoạn 1980. Còn Việt Nam, kể từ sau Chiến tranh Lạnh, lại không có điều kiện để thực sự tìm được một nguồn cung dồi dào hoặc một lời khuyên để phát triển loại vũ khí này. Bắc Triều Tiên lại có một nền tảng quốc phòng rất mạnh, kể cả Liên Xô sụp đổ, họ cũng đã tự cải tiến tên lửa Scud, như chúng ta thấy là họ đã có một hệ thống tên lửa tầm xa rất phát triển, như mới đây nhất là trong lễ diễu binh có tên lửa Hỏa Tinh-20 có khả năng bắn đến Mỹ và sử dụng nhiên liệu rắn. Đọc thêmMô hình Việt Nam có thích hợp với Bắc Triều Tiên? Do đó, Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi kinh nghiệm từ chương trình vũ khí hoặc là về công nghiệp quốc phòng nói chung của Bắc Triều Tiên. Nhưng như tôi đã đề cập ở trên, Việt Nam vẫn phải chú ý rất kỹ đến lệnh trừng phạt của Liên Hiệp Quốc. Đây mới chỉ là một ý định thư chưa chưa phải là một thỏa thuận hợp tác quốc phòng rõ ràng giữa hai nước. RFI : Tổng bí thư Tô Lâm trước đó đã công du Seoul. Việt Nam được cho là mua pháo K9 Thunder của Hàn Quốc. Và bây giờ là chuyến công du Bình Nhưỡng. Những hoạt động này có ý nghĩa như thế nào ? Vũ Xuân Khang : Chuyến thăm đến Triều Tiên của tổng bí thư Tô Lâm gần như là ngay sau chuyến thăm Hàn Quốc hồi tháng 08, đây là một lời khẳng định rõ ràng về đường lối ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam trong tương lai cũng như hiện tại và Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả nước và mong làm cầu nối giữa các bên. Đặc biệt chuyến thăm Bắc Triều Tiên lần này còn có tiềm năng lớn với Việt Nam trong hoàn cảnh chủ tịch Bắc Triều Tiên Kim Jong Un và tổng thống Mỹ Donald Trump đều để ngỏ khả năng gặp mặt trong trường hợp hai bên đồng ý về một thỏa thuận hạt nhân. Đọc thêmVũ khí: Hàn Quốc giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào Nga Việt Nam với tư cách là đối tác tin cậy của cả hai nước và là chủ nhà của thượng đỉnh Mỹ-Triều năm 2019 sẽ mong muốn lại một lần nữa được thể hiện vai trò, cầu nối, trung gian hòa giải và đóng góp vào xây dựng hòa bình trên bán đảo Triều Tiên. Trong các tuyên bố với cả phía Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc, Việt Nam đều nhấn mạnh rất rõ là mong muốn hai miền Triều Tiên tiếp tục đối thoại và hợp tác với nhau và Việt Nam cũng đề cập vai trò của mình trong việc ủng hộ bảo vệ an ninh khu vực. Đặc biệt, trong chuyến thăm Hàn Quốc của tổng bí thư Tô Lâm, Việt Nam cũng đề cập rất rõ là ủng hộ chính sách hòa giải liên Triều của tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung. Điều này thể hiện Việt Nam mong muốn được tiếp tục làm cầu nối giữa hai miền. Việc Bắc Triều Tiên vẫn gửi lời mời tổng bí thư Tô Lâm sau khi Việt Nam ký kết mua pháo K9 Thunder của Hàn Quốc cho thấy Bình Nhưỡng coi trọng vai trò trung gian hòa giải, cũng như đường lối đối ngoại độc lập tự chủ của Việt Nam. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, tại Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston, Hoa Kỳ.
Kể từ sau đại dịch Covid-19, ngành du lịch Việt Nam đã dần dần phục hồi, số du khách quốc tế đã tăng mạnh trở lại. Tuy nhiên, nhiều yếu tố địa chính trị, đặc biệt là chiến tranh Ukraina, vẫn ảnh hưởng đến đà phục hồi này. Diễn ra từ ngày 23/09 đến 25/09/2025, tại Paris, IFTM Top Resa là triển lãm du lịch quốc tế hàng đầu thế giới, quy tụ hơn 3.000 doanh nghiệp từ hơn 100 quốc gia. Đây là dịp rất quan trọng để các doanh nghiệp lữ hành kết nối với nhau, cho nên nhiều nước đã có hẳn một không gian riêng để quảng bá cho du lịch quốc gia. Riêng Việt Nam không có gian hàng quốc gia, nhưng có một khu triển lãm của thành phố Hà Nội, với sự tham gia của hãng hàng không Vietnam Airlines và 11 doanh nghiệp lữ hành chuyên tổ chức các chuyến du lịch Việt Nam cho khách từ châu Âu. Một vài doanh nghiệp khác thì có gian hàng riêng. Top Resa 2025 diễn ra trong bối cảnh ngành du lịch Việt Nam tiếp tục con đường phục hồi sau đại dịch Covid-19 tuy nhiên cũng phần nào bị tác động của tình hình kinh tế khó khăn trên toàn cầu cũng như tác động của những đảo lộn địa chính trị, nhất là chiến tranh Ukraina. Trả lời RFI Việt ngữ tại triển lãm, ông Trần Sơn, giám đốc công ty Vietspace Travel, được thành lập từ năm 2002, cho biết: “Sau dịch, hoạt động của ngành du lịch nói chung đến với Việt Nam đã từng bước được phục hồi. Chính phủ Việt Nam cũng đã tạo điều kiện hết sức cho tất cả khách nước ngoài nói chung, cũng như cho các doanh nghiệp đưa khách du lịch vào Việt Nam. Chúng tôi cũng nằm ở trong số đó, nhưng sau đại dịch thì hoạt động nói chung phục hồi hơi chậm, vì nhiều lý do. Một lý do là kinh tế toàn cầu không được thuận lợi. Thói quen trong thời gian đại dịch làm cho người ta cũng thay đổi. Chi phí cho tất cả những sinh hoạt đã có những thay đổi nhiều, người ta thận trọng hơn trong chi tiêu. Một lý do nữa là trên thế giới có nhiều thay đổi về chính trị và một số nước đang có chiến tranh. Do vậy đường bay cũng ảnh hưởng, khiến giá vé trở nên đắt đỏ. Mặc dù Việt Nam cũng đã có những cải thiện rất tốt về dịch vụ cũng như về giá cả, nhưng đấy là một trong những nguyên nhân làm cho khách du lịch chưa được nhiều. Tôi hi vọng sắp tới sẽ được nhiều hơn. Cụ thể thì chiến tranh Ukraina đã ảnh hưởng như thế nào đến các đường bay của những hãng hàng không tới Việt Nam trong thời gian qua? Ví dụ đường bay ở phía Bắc Âu. Trước đây người ta có thể đi thẳng hoặc là chỉ transit ( quá cảnh ) một chặng đến Việt Nam. Hoặc là đối với Nga thì trước đây người ta có những chuyến bay charter đến Việt Nam, trực tiếp đến Khánh Hòa, Nha Trang, hoặc Phú Quốc. Nhưng sau đó, do ảnh hưởng của chiến tranh, các hoạt động trên đường bay đó có những thay đổi và chính vì đường bay thay đổi nên lượng máy bay cũng ít đi, làm cho giá cả tăng lên. Đấy là một tác động rất lớn đến tài chính. Khách vốn đã giảm bớt chi tiêu sau dịch bây giờ phải gánh thêm một chi tiêu khác. Tất nhiên người ta vẫn thích bay thẳng, đỡ mệt mỏi, nhưng bây giờ thì phải bay khá nhiều chặng. Vé máy bay lại tăng lên, đấy là một điều khiến người ta phải suy nghĩ lại." Ông Đỗ Quang Tiến, giám đốc công ty Typic Travel ở Hà Nội, cũng nhìn nhận tác động của yếu tố địa chính trị đối với du lịch Việt Nam, nhưng ông nhận thấy là số khách từ châu Âu đang tăng trở lại, vì Việt Nam nay được xem là một điểm đến an toàn so với một số nước láng giềng Đông Nam Á: “Lẽ ra sau Covid, nếu không có chiến tranh ( Ukraina ) thì Việt Nam sẽ là một điểm đến được rất nhiều du khách lựa chọn. Tuy nhiên chính phủ Việt Nam cũng nhận thấy tình hình đó và đã có những chính sách rất phù hợp và kịp thời,thứ nhất là mở cửa sớm và thứ hai là miễn thị thực cho rất nhiều nước thuộc Liên Hiệp Châu Âu và Châu Âu nói chung. Biện pháp đó đã kích thích, làm tăng một lượng khách đến Việt Nam rất là lớn. Trong năm 2023, 2024, lượng khách quốc tế từ Châu Âu tới Việt Nam tăng vọt và nhiều hơn so với trước Covid 2019 khoảng từ 20 cho đến 40%. Đấy là một dấu hiệu rất tích cực. Mặc dù cũng có bị ảnh hưởng bởi tình hình địa chính trị thế giới và chiến tranh ở châu Âu, tuy nhiên, hiện tại, sau Covid, mọi người có nhu cầu khám phá và chọn điểm đến an toàn, trong đó Việt Nam cũng luôn là một điểm đến được lựa chọn bởi khách du lịch châu Âu, trong đó Pháp và Đức là hai quốc gia có lượng khách du lịch đến Việt Nam nhiều nhất kể từ 2022, 2023 và 2024 cho đến nay. Khách cũng có sự lựa chọn nhất định. Phần lớn là khách thường có tiền một chút thì mới đi. Mức chi tiêu trước Covid rất là tốt, nhưng sau Covid, về mức chi tiêu cho những dịch vụ gia tăng tại chỗ thì họ dè chừng hơn. Tuy nhiên họ lại sử dụng những dịch vụ cao cấp hơn, chọn những khách sạn bốn, năm sao, hoặc những khu nghỉ dưỡng chuẩn quốc tế nhiều hơn so với trước Covid. Trước Covid phần lớn người ta đi theo cách, một là “bụi”, hai là sử dụng dịch vụ có mức hạn chế về chỗ ăn chỗ ở, còn lại họ dùng tiền để chi tiêu cho mua sắm. Bây giờ ngược lại họ dành chi tiêu cho việc lưu trú tốt và phần lớn không mua sắm nữa. Người Pháp hay người Đức hay người châu Âu nói chung vẫn thích điểm đến Việt Nam so với một số các nước khác. Văn hóa Việt Nam hay, phong cảnh đẹp, người dân thân thiện và đặc biệt là ăn uống rất ngon với một mức giá vô cùng rẻ so với mức sinh hoạt tại châu Âu. Trong khi đó thì các nước bên cạnh như Cam Bốt, Thái Lan hoặc xa hơn một chút là Indonesia, Malaysia, Philippines thì đều có những xáo trộn về chính trị. Chính vì vậy mà khách du lịch châu Âu lẽ ra chọn Thái Lan, Philippines, Malaysia hoặc Indonesia để đi, thì do tình hình bất ổn đó, họ đã thay đổi kế hoạch. Khoảng 30 đến 40% những khách đã có ý định đi Thái Lan hoặc các nước bên cạnh Việt Nam thay đổi ý định và chọn Việt Nam, vì Việt Nam vẫn là một điểm đến thứ nhất là thân thiện, thứ hai là an toàn, thứ ba là phong cảnh và văn hóa rất đẹp cùng với chi phí có thể nói là rẻ nhất trong khu vực Đông Nam Á, với một dịch vụ gần như là tốt nhất với chi phí đó.” Theo số liệu thống kê, trong 8 tháng đầu năm nay, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 13,9 triệu lượt người, tăng gần 22% so với cùng kỳ năm trước. Châu Á là khu vực có nhiều khách quốc tế lớn nhất tại Việt Nam với gần 11 triệu lượt khách, tiếp đến là châu Âu với gần 1,8 triệu lượt khách. Nhằm thu hút thêm du khách châu Âu đến Việt Nam, chính phủ Hà Nội đã quyết định miễn thị thực 45 ngày cho thêm 12 nước ở châu lục này ( Bỉ, Bulgari, Croatia, Cộng hòa Séc, Hungary, Luxembourg, Hà Lan, Ba Lan, Rumani, Slovakia, Slovenia và Thụy Sĩ ) Đối với ông Trần Sơn, giám đốc công ty Vietspace, ngoài chính sách miễn thị thực, chính phủ cần có một kế hoạch dài hạn hơn để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lữ hành: “Đấy là một chính sách rất cởi mở, chủ động, để chào đón khách trở lại Việt Nam và chứng minh Việt Nam đã có sự chuẩn bị và có những cơ sở rất tốt về dịch vụ. Trước mắt thì đương nhiên giải quyết vấn đề về visa, nhưng dài hơn nữa là phải có chính sách 5 năm, 10 năm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ở Việt Nam. Công ty chúng tôi thì đang cố gắng. Các đối tác cũ hầu hết tất cả đã quay lại, đã nối lại để làm việc. Nhưng đối với những người mới, chúng tôi cũng đang cố gắng để giới thiệu cho các khách hàng này. Giới thiệu ở đây là giới thiệu về văn hóa ẩm thực và các sản phẩm mới. Vì sau dịch đã có rất nhiều sự thay đổi tốt hơn. Dịch vụ ở Việt Nam rất sẵn sàng để phục vụ. Nhưng còn còn về phía Pháp nói riêng và tất cả các nước nói chung, điều này tùy thuộc vào khách hàng và tùy thuộc hoàn cảnh chung của thế giới, về tài chính, về tình hình chiến sự vân vân…” Việt Nam đã đặt ra mục tiêu đạt 25 triệu lượt du khách quốc tế trong năm 2025. Tuy nhiên, trên báo chí trong nước, các chuyên gia về du lịch của Việt Nam cho rằng ngành du lịch không nên dựa hoàn toàn vào chính sách miễn visa. Khách có đến đông, tiêu nhiều tiền và ở lâu hay không phần lớn vẫn phụ thuộc vào các sản phẩm du lịch có đủ sức thu hút khách đến mức nào. Bên cạnh đó là cách thức quảng bá cho du lịch Việt Nam. Ngoài việc tham gia các triển lãm du lịch lớn như Top Resa ở Paris, các chuyên gia đề nghị Việt Nam mở những văn phòng xúc tiến du lịch tại các thị trường quan trọng, như cách mà các nước láng giềng như Malaysia hay Thái Lan đang làm. Về phần giám đốc công ty Typic Travel, trước tình hình số du khách vào Việt Nam đang tăng trở lại, một thách thức đối với các doanh nghiệp lữ hành đó là đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch, hiện đang thiếu rất nhiều kể từ sau Covid: “Dự kiến từ năm nay đến năm 2026, lượng khách du lịch quốc tế sẽ đến Việt Nam nhiều hơn nữa. Việt Nam cũng đang cố gắng củng cố và xây dựng các cơ sở hạ tầng tốt nhất, những khu nghỉ dưỡng hoặc những điểm đến thực sự hay, đồng thời có kế hoạch đào tạo nhân lực chuyên nghiệp. Sau Covid thì nhân lực về du lịch cũng mất rất là nhiều. Nhiều người đã chuyển sang những nghề khác nhau. Việt Nam đã bắt đầu từ 2022 kế hoạch đào tạo nhân sự mới, để làm sao đáp ứng được tất cả các nhu cầu phục vụ khách du lịch quốc tế. Việt Nam bây giờ có rất nhiều khách du lịch quốc tế với nhiều ngôn ngữ khác nhau. Số người nói tiếng Anh, Pháp, Đức hay Tây Ban Nha, hay nói tiếng Hàn, tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc đều có, nhưng ở một mức vẫn còn hạn chế, có nghĩa là không đủ nhân lực để cung cấp cho một lượng khách du lịch đang đến rất là đông. Không thể đào tạo ngay được nhân lực chuyên nghiệp, sẽ phải mất tối thiểu từ một năm đến ba năm để làm việc đó.”
- Nhóm phóng viên Ban Thời sự, Đài TNVN giành giải xuất sắc thể loại Thông điệp xã hội ở hạng mục Phát thanh tại lễ trao Giải báo chí của Hiệp hội phát thanh truyền hình châu Á – Thái Bình Dương.- Số ca sốt xuất huyết tại tỉnh Vĩnh Long đang tăng cao, gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái.- Hệ thống bầu cử của Nga hứng chịu hàng trăm nghìn cuộc tấn công mạng.- Mỹ Trung bắt đầu đàm phán thương mại tại Madrit, Tây Ban Nha.
- Chủ tịch nước Lương Cường dự lễ khai giảng năm học mới 2025 – 2026 tại Học viện Quốc phòng.- Chủ trì phiên họp thứ 2, Hội đồng bầu cử Quốc gia, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác bầu cử.- Lãnh đạo các quốc gia Ả Rập và Hồi giáo sẽ họp khẩn trong ngày hôm nay nhằm thống nhất phản ứng trước cuộc không kích của Ixraen vào thủ đô Doha của Quata.- Các quan chức cấp cao của Mỹ và Trung Quốc nhóm họp tại thủ đô Madrid của Tây Ban Nha để đối thoại về các vấn đề kinh tế và thương mại.
Sau một mùa hè mà phần lớn Tây Âu và Nam Âu bị ảnh hưởng bởi các vụ cháy rừng thảm khốc và nắng nóng thiêu đốt, Tây Ban Nha hiện đang xây dựng kế hoạch chuẩn bị cho những thảm họa trong tương lai. Các nhà khoa học cho rằng cần phải hành động để giảm phát thải và tăng cường khả năng phục hồi, trước những điều kiện thời tiết ngày càng xấu đi không thể tránh khỏi.
Nắng nóng khắc nghiệt và các đám cháy rừng dữ dội tiếp tục tàn phá miền nam châu Âu, với một phần tư trạm khí tượng tại Tây Ban Nha ghi nhận mức nhiệt 40°C. Thủ tướng nước này kêu gọi người dân hãy “đặt tình trạng khẩn cấp khí hậu".
Các đám cháy rừng được tiếp sức bởi nhiệt độ cao và gió mạnh, tiếp tục hoành hành ở nhiều khu vực Châu Âu, bao gồm Scotland, Ý và Tây Ban Nha. Hơn 1.400 người đã được di tản khỏi các vùng Castille và Leon ở tây bắc Tây Ban Nha.
Phong cách rõ ràng, kỷ luật và không ủy mị của HLV Weigman đã truyền cảm hứng cho các nữ học trò, và giúp đội tuyển bóng đá nữ Anh Quốc lên ngôi vô địch Euro 2025, đòi lại món nợ cách đây hai năm tại World Cup trước Tây Ban Nha.
Bán kết bóng đá nữ Euro 2025 chứng kiến các cặp đấu thú vị, đại diện cho lối chơi và phong cách trái ngược nhau, Anh gặp Ý, Đức đối đầu Tây Ban Nha. Đây là sự chuẩn bị hoàn hảo cho các cầu thủ trẻ cho World Cup lần tới.
Làng túc cầu đang ngập tràn sự tiếc thương trước sự ra đi của ngôi sao tấn công Liverpool, Diogo Jota, người đã thiệt mạng trong một vụ tai nạn xe hơi tại Tây Ban Nha cùng với em trai của anh. Cầu thủ người Bồ Đào Nha, 28 tuổi, ra đi đột ngột khiến giới bóng đá bàng hoàng. Jota vừa kết hôn chỉ mười ngày trước khi mất, và không lâu trước đó, anh đã góp công lớn giúp Liverpool vô địch Ngoại Hạng Anh.