POPULARITY
Là thành viên ban giám khảo quốc tế của Liên hoan Điện ảnh Châu Á Vesoul 2026 ( 27/01-03/02/2026 ), trong lễ khai mạc khai mạc sự kiện này tối 27/01, bà Katayoon Shahabi, nhà sản xuất phim người Iran nay sống lưu vong tại Pháp, đã mạnh mẽ lên tiếng tố cáo những tội ác của chế độ Teheran, thảm sát hàng chục ngàn người biểu tình chống chính quyền. Đối với bà Shahabi, Iran ngày nay càng giống như là một "nhà tù lớn". Sinh tại Teheran năm 1963, Katayoun Shahabi theo học văn học Pháp trước khi gia nhập Quỹ Điện ảnh Farabi (FCF) năm 1984. Mười năm sau, bà thành lập Cima Media International, chuyên quảng bá các chương trình nghe nhìn và đồng sản xuất nhiều phim tài liệu và phim truyện. Năm 2001, bà thành lập công ty riêng, Sheherazad Media International (SMI), trở thành nhà phân phối tư nhân lớn nhất các bộ phim Iran trên toàn thế giới. Katayoun Shahabi cũng đã đồng sản xuất nhiều phim tài liệu, như với kênh truyền hình Pháp-Đức Arte và sau đó sản xuất phim truyện, vẫn theo hình thức đồng sản xuất. Katayoon Shahabi từng là thành viên ban giám khảo tại các liên hoan phim quốc tế như San Sebastian (với tư cách chủ tịch), Liên hoan phim tài liệu quốc tế Amsterdam (IDFA) và Mannheim-Heidelberg. Bà còn là thành iên ban giám khảo cho hạng mục tranh giải chính tại Liên hoan phim Cannes 2016, là người Iran thứ ba được chọn vào ban giám khảo này sau các đạo diễn Abbas Kiarostami và Leila Hatami. Trả lời RFI Việt ngữ tại Liên hoan Vesoul ngày 28/01/2026, Katayoun Shahabi cho biết: “Tôi bắt đầu sự nghiệp ở tuổi 20 tại Quỹ Điện ảnh Farabi, chuyên quảng bá phim Iran trên toàn thế giới. Chính tại đó mà tôi thực sự khám phá ra điện ảnh Iran, khám phá những đạo diễn lớn. Tôi chưa từng học về điện ảnh và ban đầu không có mục tiêu làm phim, nhưng lúc đó tôi quyết định sẽ làm việc trong lĩnh vực điện ảnh. Tôi lớn lên trong một gia đình mà không ai bảo tôi rằng một phụ nữ sẽ bị những hạn chế. Vì vậy, khi bắt đầu làm việc, tôi không hiểu tại sao tất cả các đồng nghiệp mới được tuyển dụng đều được đi dự liên hoan phim, trong khi tôi thì không được cử đi. Tôi cũng không hiểu tại sao tôi không thể viết tên mình mà luôn phải viết tên của những người đàn ông làm việc với tôi. Như thể tôi là người vô hình vậy! Đó là lý do tại sao tôi đã từ chức khỏi Quỹ Điện ảnh Farabi và sau chín năm, tôi rời khỏi Cima Media International, rồi quyết định thành lập công ty riêng của mình. Khi còn làm công tác truyền thông, tôi đã yêu cầu được cử đi nước ngoài vì tôi là giám đốc phụ trách các vấn đề quốc tế, nhưng họ không muốn cử tôi đi, chẳng hạn như tham gia Liên hoan phim Cannes. Tôi bèn nói với họ: "Hoặc là các ông cử tôi đi, hoặc là tôi sẽ từ chức." Thế là họ phải cử tôi đi, vì tôi là người có kinh nghiệm nhất, họ không có ai khác. Vì vậy, tôi hiểu rằng mình luôn phải đòi những gì mình phải được hưởng, vì không ai tự nhiên cho mình cả.” Ngày 17/09/2011, Katayoon và sáu nhà làm phim khác bị bắt giữ với cáo buộc "làm gián điệp cho Đài BBC tiếng Ba Tư". Chính quyền cho rằng các phim tài liệu do BBC phát sóng là bất hợp pháp và vẽ nên "một bức tranh đen tối về Iran và người dân Iran". Các vụ bắt giữ này đã dẫn đến nhiều cuộc biểu tình phản đối trên thế giới. Katayoon Shahabi kể lại: “Tôi đã bị bắt sau khi ban tiếng Ba Tư của đài BBC được thành lập ở Iran. Vào năm 2008 đã có các cuộc bạo loạn đầu tiên và BBC Ba Tư đã đưa tin về những vụ đó. Họ đã tiếp cận tôi với tư cách là nhà sản xuất và phân phối phim để đề nghị tôi làm phim, nhưng tôi từ chối. Sau đó, họ sản xuất một bộ phim về Khamenei và muốn phát sóng nó. Chính quyền đã nói với họ: "Nếu các ông phát sóng bộ phim đó, chúng tôi sẽ coi đó là lằn ranh đỏ. Chúng tôi sẽ khiến không ai có thể làm việc với các ông nữa." Tôi là nhà sản xuất kiêm nhà phân phối quốc tế duy nhất trong số họ và là phụ nữ duy nhất. Vì tôi khá nổi tiếng trong giới điện ảnh lúc đó, họ muốn lấy tôi làm gương và nói rằng: “Hãy cẩn thận, cô có thể bị bắt bất cứ lúc nào”. Khi bị bắt giữ, lúc đầu tôi rất ngạc nhiên và sợ hãi. Nhưng sau đó tôi tự nhủ mình không làm gì sai, chỉ làm nhiệm vụ của mình thôi. Vì vậy, tôi không sợ nữa. Họ muốn ghi hình tôi để làm một lời thú tội giả trên truyền hình, nhưng tôi không đồng ý, nên đã bị thẩm vấn bốn hoặc năm lần và bị biệt giam cho đến khi họ hiểu rằng tôi sẽ không làm theo ý của họ. Rất nhiều bạn bè của tôi ở bên ngoài đã làm đơn kiến nghị, có rất nhiều tiếng nói đòi thả tôi, cuối cùng họ buộc phải thả tôi.” Sau 54 ngày ngồi tù, Katayoon Shahabi được tự do, nhưng bị thu hồi giấy phép kinh doanh, đồng thời bị cấm xuất cảnh. Khi lệnh cấm được dỡ bỏ, bà đã sang Pháp đăng ký thành lập công ty mới, Noori Pictures, vào năm 2012 trước khi trở về Iran. Với công ty mới này, bà đã mở rộng hoạt động sản xuất phim và phân phối quốc tế các tác phẩm của Iran và đạt được nhiều thành công. Một số phim do công ty của bà phân phối đã đoạt giải tại các liên hoan phim quốc tế như Cannes và Venise. Với việc chính quyền Cộng hòa Hồi giáo Iran tăng cường các hạn chế đối với các nhà sản xuất phim trong những năm gần đây, Katayoon Shahabi buộc phải sản xuất phim ở nước ngoài, cụ thể là sản xuất một phim ở Afghanistan năm 2019 và một phim ở Azerbaijan ba năm sau đó. Cả hai phim đều được trình chiếu tại Liên hoan phim Venise. Bà Katayoon Shahabi thổ lộ: "Trong một chế độ độc tài thần quyền, mọi điều người dân làm, ngay cả trong nhà, nghe nhạc gì, có uống rượu hay không, có sử dụng truyền hình vệ tinh hay không, đều bị kiểm soát. Giờ đây khi đã được sống tự do ba năm ở bên ngoài, tôi càng nhận ra Iran là một nhà tù lớn.” Nhưng ngay chính bà cũng không ngờ rằng chính quyền Cộng hòa Hồi giáo nay lại tỏ ra tàn bạo như thế, thảm sát đến hàng chục ngàn người biểu tình chống chính quyền: “Đối với một người đã tham gia tất cả các cuộc biểu tình trước khi có phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do”( phong trào nỗ ra sau cái chết của nữ sinh viên Mahsa Amini, bị cảnh sát bắt vì đeo khăng choàng Hồi Giáo không đúng cách ), ngay lập tức tôi đã hiểu rằng đây là một cuộc cách mạng. Đối với tôi, những gì đang xảy ra ở Iran là sự tiếp nối của phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do”. Trên thực tế, tất cả các cuộc biểu tình trong những năm 2009, 2017, 2019 thực sự bổ sung cho nhau. Nhưng trên hết, phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do” là một cuộc cách mạng, đặc biệt là vì chính thế hệ Z đã khởi xướng cuộc cách mạng này. Chúng tôi nghĩ rằng không chỉ là do khó khăn kinh tế, mà là do người dân Iran đã quá chán ghét chế độ. Trên xe taxi, trên các phương tiện giao thông công cộng, mọi người đều phàn nàn, mọi người đã bắt đầu lăng mạ giáo chủ Khamenei Vì vậy, đối với tôi, đó là điều có thể dự đoán được. Tôi không ngạc nhiên, tôi hiểu sự phẫn nộ và tôi chắc chắn sẽ có một cuộc đàn áp đẫm máu, nhưng chưa bao giờ trong đời tôi nghĩ con số người bị giết lại lên đến 50.000. Thật sự là chưa từng có! Họ đã giết quá nhiều người, mỗi người bị giết, cả gia đình đều nổi dậy. Nay mọi người đều hiểu rằng, ở một đất nước không có tự do, không có dân chủ, ngay cả khi nền kinh tế phát triển tốt, đất nước cũng sẽ không thể tiến xa hơn nữa. Nhưng quá nhiều người chết, những người con ưu tú nhất của đất nước chúng tôi đã ra đi vì tự do, và điều đó làm tôi đau lòng.” Trước mức độ tàn bạo của cuộc đàn áp biểu tình, bà Katayoon Shahabi cho rằng đã đến lúc Pháp nói riêng và châu Âu nói chung phải thật sự có hành động để đứng hẳn về phía người dân Iran: “Tôi nghĩ vấn đề ở châu Âu là có rất nhiều lời nói suông mà không có hành động cụ thể. Đặc biệt là với Pháp, ví dụ lập trường của họ đối với Palestine và Ukraina nhìn chung được coi là những lập trường tốt. Nhưng trên thực tế, hành động của họ không phù hợp với lập trường đó. Chắc chắn đó là lý do tại sao, thật không may, chỉ có Mỹ và Israel. Họ vẫn chưa can thiệp, nhưng tôi chắc chắn rằng Trump là người tính toán về kinh tế và biết rằng Iran là một quốc gia rộng lớn với rất nhiều tài nguyên. Ông ấy sẽ can thiệp vì ông ấy đã hứa. Nhưng thật đáng tiếc, vì tôi thích các nước dân chủ can thiệp hơn, giống như họ đã làm ở Serbia với Kosovo hay với Bosnia - Herzegovina vào những năm 1980. Vì đây thực sự là tội ác chống nhân loại. Chế độ Iran là một chế độ mafia. ADN của chế độ này giống như của Putin. Ta không thể nói chuyện với Putin, không thể nói chuyện với Hitler, không thể nói chuyện với Mussolini. Họ đối thoại chỉ để câu giờ. Chỉ có vũ lực mới giải quyết được. Hoặc là châu Âu có lập trường cứng rắn và không chỉ dựa vào các giải pháp ngoại giao, hoặc họ sẽ nói: "Hãy nhìn xem, đây là tội ác chống nhân loại. Nếu các người tiếp tục, chúng tôi phải can thiệp." Tôi tin Iran cũng cần hiểu rằng vào năm 1979, với cuộc cách mạng của mình, họ đã cho thế giới thấy tôn giáo có thể được sử dụng để cai trị. Giờ đây, với phong trào Phụ nữ Cuộc sống Tự do, họ đang trình bày một mô hình hoàn toàn trái ngược với mô hình năm 1979. Đây thực sự là một cuộc cách mạng rất hiện đại mà thế giới cần đến để đạt được bình đẳng nam nữ. Vì vậy, đây không phải chỉ riêng ở Iran, mà là một vấn đề mang tính phổ quát.” Trong khi đó, giới điện ảnh trong ước tiếp tục bị chính quyền Cộng hòa Hồi Giáo đàn áp. Đạo diễn Iran Mehdi Mahmoudian nằm trong số ba người bị bắt ngày 01/02 vì nghi ngờ giúp lan truyền thông điệp của cựu thủ tướng Mir Hossein Mousavi ( một nhân vật hàng đầu trong phe đối lập Iran, bị quản thúc tại gia từ năm 2011 ) chỉ trích chế độ Teheran, theo tin từ hãng thông tấn Fars của Iran. Mehdi Mahmoudian là đồng biên kịch của bộ phim "A Simple Accident", đoạt giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes năm 2025. Phẫn nộ vì chiến dịch đàn áp biểu tình, ngày 02/02, nữ tài tử nổi tiếng người Iran Elnaz Shakerdoost, từng đóng vai chính trong hàng chục bộ phim, tuyên bố cô sẽ không tiếp tục làm việc tại đất nước mình, "một nơi nồng nặc mùi máu". Trên trang Instagram của cô, Elnaz Shakerdoost thông báo tẩy chay Liên hoan phim quốc tế Fajr ở Teheran ( 31/01 - 11/02/2026 ).
Là thành viên ban giám khảo quốc tế của Liên hoan Điện ảnh Châu Á Vesoul 2026 ( 27/01-03/02/2026 ), trong lễ khai mạc khai mạc sự kiện này tối 27/01, bà Katayoon Shahabi, nhà sản xuất phim người Iran nay sống lưu vong tại Pháp, đã mạnh mẽ lên tiếng tố cáo những tội ác của chế độ Teheran, thảm sát hàng chục ngàn người biểu tình chống chính quyền. Đối với bà Shahabi, Iran ngày nay càng giống như là một "nhà tù lớn". Sinh tại Teheran năm 1963, Katayoun Shahabi theo học văn học Pháp trước khi gia nhập Quỹ Điện ảnh Farabi (FCF) năm 1984. Mười năm sau, bà thành lập Cima Media International, chuyên quảng bá các chương trình nghe nhìn và đồng sản xuất nhiều phim tài liệu và phim truyện. Năm 2001, bà thành lập công ty riêng, Sheherazad Media International (SMI), trở thành nhà phân phối tư nhân lớn nhất các bộ phim Iran trên toàn thế giới. Katayoun Shahabi cũng đã đồng sản xuất nhiều phim tài liệu, như với kênh truyền hình Pháp-Đức Arte và sau đó sản xuất phim truyện, vẫn theo hình thức đồng sản xuất. Katayoon Shahabi từng là thành viên ban giám khảo tại các liên hoan phim quốc tế như San Sebastian (với tư cách chủ tịch), Liên hoan phim tài liệu quốc tế Amsterdam (IDFA) và Mannheim-Heidelberg. Bà còn là thành iên ban giám khảo cho hạng mục tranh giải chính tại Liên hoan phim Cannes 2016, là người Iran thứ ba được chọn vào ban giám khảo này sau các đạo diễn Abbas Kiarostami và Leila Hatami. Trả lời RFI Việt ngữ tại Liên hoan Vesoul ngày 28/01/2026, Katayoun Shahabi cho biết: “Tôi bắt đầu sự nghiệp ở tuổi 20 tại Quỹ Điện ảnh Farabi, chuyên quảng bá phim Iran trên toàn thế giới. Chính tại đó mà tôi thực sự khám phá ra điện ảnh Iran, khám phá những đạo diễn lớn. Tôi chưa từng học về điện ảnh và ban đầu không có mục tiêu làm phim, nhưng lúc đó tôi quyết định sẽ làm việc trong lĩnh vực điện ảnh. Tôi lớn lên trong một gia đình mà không ai bảo tôi rằng một phụ nữ sẽ bị những hạn chế. Vì vậy, khi bắt đầu làm việc, tôi không hiểu tại sao tất cả các đồng nghiệp mới được tuyển dụng đều được đi dự liên hoan phim, trong khi tôi thì không được cử đi. Tôi cũng không hiểu tại sao tôi không thể viết tên mình mà luôn phải viết tên của những người đàn ông làm việc với tôi. Như thể tôi là người vô hình vậy! Đó là lý do tại sao tôi đã từ chức khỏi Quỹ Điện ảnh Farabi và sau chín năm, tôi rời khỏi Cima Media International, rồi quyết định thành lập công ty riêng của mình. Khi còn làm công tác truyền thông, tôi đã yêu cầu được cử đi nước ngoài vì tôi là giám đốc phụ trách các vấn đề quốc tế, nhưng họ không muốn cử tôi đi, chẳng hạn như tham gia Liên hoan phim Cannes. Tôi bèn nói với họ: "Hoặc là các ông cử tôi đi, hoặc là tôi sẽ từ chức." Thế là họ phải cử tôi đi, vì tôi là người có kinh nghiệm nhất, họ không có ai khác. Vì vậy, tôi hiểu rằng mình luôn phải đòi những gì mình phải được hưởng, vì không ai tự nhiên cho mình cả.” Ngày 17/09/2011, Katayoon và sáu nhà làm phim khác bị bắt giữ với cáo buộc "làm gián điệp cho Đài BBC tiếng Ba Tư". Chính quyền cho rằng các phim tài liệu do BBC phát sóng là bất hợp pháp và vẽ nên "một bức tranh đen tối về Iran và người dân Iran". Các vụ bắt giữ này đã dẫn đến nhiều cuộc biểu tình phản đối trên thế giới. Katayoon Shahabi kể lại: “Tôi đã bị bắt sau khi ban tiếng Ba Tư của đài BBC được thành lập ở Iran. Vào năm 2008 đã có các cuộc bạo loạn đầu tiên và BBC Ba Tư đã đưa tin về những vụ đó. Họ đã tiếp cận tôi với tư cách là nhà sản xuất và phân phối phim để đề nghị tôi làm phim, nhưng tôi từ chối. Sau đó, họ sản xuất một bộ phim về Khamenei và muốn phát sóng nó. Chính quyền đã nói với họ: "Nếu các ông phát sóng bộ phim đó, chúng tôi sẽ coi đó là lằn ranh đỏ. Chúng tôi sẽ khiến không ai có thể làm việc với các ông nữa." Tôi là nhà sản xuất kiêm nhà phân phối quốc tế duy nhất trong số họ và là phụ nữ duy nhất. Vì tôi khá nổi tiếng trong giới điện ảnh lúc đó, họ muốn lấy tôi làm gương và nói rằng: “Hãy cẩn thận, cô có thể bị bắt bất cứ lúc nào”. Khi bị bắt giữ, lúc đầu tôi rất ngạc nhiên và sợ hãi. Nhưng sau đó tôi tự nhủ mình không làm gì sai, chỉ làm nhiệm vụ của mình thôi. Vì vậy, tôi không sợ nữa. Họ muốn ghi hình tôi để làm một lời thú tội giả trên truyền hình, nhưng tôi không đồng ý, nên đã bị thẩm vấn bốn hoặc năm lần và bị biệt giam cho đến khi họ hiểu rằng tôi sẽ không làm theo ý của họ. Rất nhiều bạn bè của tôi ở bên ngoài đã làm đơn kiến nghị, có rất nhiều tiếng nói đòi thả tôi, cuối cùng họ buộc phải thả tôi.” Sau 54 ngày ngồi tù, Katayoon Shahabi được tự do, nhưng bị thu hồi giấy phép kinh doanh, đồng thời bị cấm xuất cảnh. Khi lệnh cấm được dỡ bỏ, bà đã sang Pháp đăng ký thành lập công ty mới, Noori Pictures, vào năm 2012 trước khi trở về Iran. Với công ty mới này, bà đã mở rộng hoạt động sản xuất phim và phân phối quốc tế các tác phẩm của Iran và đạt được nhiều thành công. Một số phim do công ty của bà phân phối đã đoạt giải tại các liên hoan phim quốc tế như Cannes và Venise. Với việc chính quyền Cộng hòa Hồi giáo Iran tăng cường các hạn chế đối với các nhà sản xuất phim trong những năm gần đây, Katayoon Shahabi buộc phải sản xuất phim ở nước ngoài, cụ thể là sản xuất một phim ở Afghanistan năm 2019 và một phim ở Azerbaijan ba năm sau đó. Cả hai phim đều được trình chiếu tại Liên hoan phim Venise. Bà Katayoon Shahabi thổ lộ: "Trong một chế độ độc tài thần quyền, mọi điều người dân làm, ngay cả trong nhà, nghe nhạc gì, có uống rượu hay không, có sử dụng truyền hình vệ tinh hay không, đều bị kiểm soát. Giờ đây khi đã được sống tự do ba năm ở bên ngoài, tôi càng nhận ra Iran là một nhà tù lớn.” Nhưng ngay chính bà cũng không ngờ rằng chính quyền Cộng hòa Hồi giáo nay lại tỏ ra tàn bạo như thế, thảm sát đến hàng chục ngàn người biểu tình chống chính quyền: “Đối với một người đã tham gia tất cả các cuộc biểu tình trước khi có phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do”( phong trào nỗ ra sau cái chết của nữ sinh viên Mahsa Amini, bị cảnh sát bắt vì đeo khăng choàng Hồi Giáo không đúng cách ), ngay lập tức tôi đã hiểu rằng đây là một cuộc cách mạng. Đối với tôi, những gì đang xảy ra ở Iran là sự tiếp nối của phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do”. Trên thực tế, tất cả các cuộc biểu tình trong những năm 2009, 2017, 2019 thực sự bổ sung cho nhau. Nhưng trên hết, phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do” là một cuộc cách mạng, đặc biệt là vì chính thế hệ Z đã khởi xướng cuộc cách mạng này. Chúng tôi nghĩ rằng không chỉ là do khó khăn kinh tế, mà là do người dân Iran đã quá chán ghét chế độ. Trên xe taxi, trên các phương tiện giao thông công cộng, mọi người đều phàn nàn, mọi người đã bắt đầu lăng mạ giáo chủ Khamenei Vì vậy, đối với tôi, đó là điều có thể dự đoán được. Tôi không ngạc nhiên, tôi hiểu sự phẫn nộ và tôi chắc chắn sẽ có một cuộc đàn áp đẫm máu, nhưng chưa bao giờ trong đời tôi nghĩ con số người bị giết lại lên đến 50.000. Thật sự là chưa từng có! Họ đã giết quá nhiều người, mỗi người bị giết, cả gia đình đều nổi dậy. Nay mọi người đều hiểu rằng, ở một đất nước không có tự do, không có dân chủ, ngay cả khi nền kinh tế phát triển tốt, đất nước cũng sẽ không thể tiến xa hơn nữa. Nhưng quá nhiều người chết, những người con ưu tú nhất của đất nước chúng tôi đã ra đi vì tự do, và điều đó làm tôi đau lòng.” Trước mức độ tàn bạo của cuộc đàn áp biểu tình, bà Katayoon Shahabi cho rằng đã đến lúc Pháp nói riêng và châu Âu nói chung phải thật sự có hành động để đứng hẳn về phía người dân Iran: “Tôi nghĩ vấn đề ở châu Âu là có rất nhiều lời nói suông mà không có hành động cụ thể. Đặc biệt là với Pháp, ví dụ lập trường của họ đối với Palestine và Ukraina nhìn chung được coi là những lập trường tốt. Nhưng trên thực tế, hành động của họ không phù hợp với lập trường đó. Chắc chắn đó là lý do tại sao, thật không may, chỉ có Mỹ và Israel. Họ vẫn chưa can thiệp, nhưng tôi chắc chắn rằng Trump là người tính toán về kinh tế và biết rằng Iran là một quốc gia rộng lớn với rất nhiều tài nguyên. Ông ấy sẽ can thiệp vì ông ấy đã hứa. Nhưng thật đáng tiếc, vì tôi thích các nước dân chủ can thiệp hơn, giống như họ đã làm ở Serbia với Kosovo hay với Bosnia - Herzegovina vào những năm 1980. Vì đây thực sự là tội ác chống nhân loại. Chế độ Iran là một chế độ mafia. ADN của chế độ này giống như của Putin. Ta không thể nói chuyện với Putin, không thể nói chuyện với Hitler, không thể nói chuyện với Mussolini. Họ đối thoại chỉ để câu giờ. Chỉ có vũ lực mới giải quyết được. Hoặc là châu Âu có lập trường cứng rắn và không chỉ dựa vào các giải pháp ngoại giao, hoặc họ sẽ nói: "Hãy nhìn xem, đây là tội ác chống nhân loại. Nếu các người tiếp tục, chúng tôi phải can thiệp." Tôi tin Iran cũng cần hiểu rằng vào năm 1979, với cuộc cách mạng của mình, họ đã cho thế giới thấy tôn giáo có thể được sử dụng để cai trị. Giờ đây, với phong trào Phụ nữ Cuộc sống Tự do, họ đang trình bày một mô hình hoàn toàn trái ngược với mô hình năm 1979. Đây thực sự là một cuộc cách mạng rất hiện đại mà thế giới cần đến để đạt được bình đẳng nam nữ. Vì vậy, đây không phải chỉ riêng ở Iran, mà là một vấn đề mang tính phổ quát.” Trong khi đó, giới điện ảnh trong ước tiếp tục bị chính quyền Cộng hòa Hồi Giáo đàn áp. Đạo diễn Iran Mehdi Mahmoudian nằm trong số ba người bị bắt ngày 01/02 vì nghi ngờ giúp lan truyền thông điệp của cựu thủ tướng Mir Hossein Mousavi ( một nhân vật hàng đầu trong phe đối lập Iran, bị quản thúc tại gia từ năm 2011 ) chỉ trích chế độ Teheran, theo tin từ hãng thông tấn Fars của Iran. Mehdi Mahmoudian là đồng biên kịch của bộ phim "A Simple Accident", đoạt giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes năm 2025. Phẫn nộ vì chiến dịch đàn áp biểu tình, ngày 02/02, nữ tài tử nổi tiếng người Iran Elnaz Shakerdoost, từng đóng vai chính trong hàng chục bộ phim, tuyên bố cô sẽ không tiếp tục làm việc tại đất nước mình, "một nơi nồng nặc mùi máu". Trên trang Instagram của cô, Elnaz Shakerdoost thông báo tẩy chay Liên hoan phim quốc tế Fajr ở Teheran ( 31/01 - 11/02/2026 ).
Pháp luật là một trong những lĩnh vực hợp tác lâu năm nhất giữa Pháp và Việt Nam. Hợp tác trong lĩnh vực này bắt đầu từ những năm 1990 và dựa trên sự tương đồng giữa hệ thống pháp luật của hai nước, cũng như sự quan tâm của Việt Nam đến kinh nghiệm của Pháp. Mục tiêu chủ yếu của quan hệ đối tác này là hỗ trợ các cải cách hướng tới xây dựng một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Sự hợp tác này được tổ chức thông qua các hội thảo chia sẻ chuyên môn và các hội nghị với các bộ, ngành của Việt Nam, các chuyên gia pháp luật và các học giả. Để đánh dấu 30 năm hợp tác trong lĩnh vực pháp luật, trong tháng 11 vừa qua, Pháp và Việt Nam đã tổ chức Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp. Nhân dịp này, một phái đoàn của bộ Tư Pháp của Pháp đã đến thăm Việt Nam, dẫn đầu là bà Valérie Delnaud, tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín. Theo thông báo của đại sứ quán Pháp, phái đoàn Pháp đã trao đổi với lãnh đạo Vụ Hợp tác quốc tế Tòa án Nhân dân Tối cao “về những vấn đề pháp lý cùng quan tâm”, trao đổi về tương trợ dân sự quốc tế với Vụ Pháp luật quốc tế thuộc bộ Tư pháp Việt Nam, đồng thời ký kết Chương trình hợp tác giai đoạn 2026–2027 giữa bộ Tư Pháp của hai nước. Tham gia phái đoàn Pháp đến thăm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh còn có nhiều chuyên gia pháp lý (công chứng viên, luật sư, thẩm phán và chấp hành viên), trong đó có luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot, chủ tịch Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam ( ACJEV ) và cũng là chủ tịch Ủy ban Việt Nam của Luật sư đoàn Paris, một ủy ban được thành lập vào năm 2013. Trả lời RFI Việt ngữ tại Paris ngày 12/12/2025, luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot cho biết: “Tôi tham gia phái đoàn Pháp từ ngày 24 đến 21/11 tham dự Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp Pháp-Việt. Đây là lần đầu tiên sự kiện được tổ chức và chúng tôi đã tham dự nhiều hội thảo, gặp gỡ Tòa án Nhân dân Tối cao và bộ trưởng Tư Pháp, cũng như dự lễ ký kết chương trình hành động hai năm 2026-2027 với sự hiện diện của thứ trưởng bộ Tư Pháp. Phái đoàn Pháp do bộ Tư Pháp dẫn đầu, bao gồm bà Valérie Delnaud, tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín và một số quan chức khác của bộ Tư Pháp, cùng với hai luật sư từ Hội đồng Luật sư Quốc gia (mà tôi là một trong những thành viên), hai công chứng viên từ Hội đồng Công chứng cấp cao, các chấp hành viên và đại diện từ Quỹ Luật Châu lục. Hợp tác pháp lý Pháp-Việt là lâu đời nhất, bắt đầu từ những năm 1990, khi tổng thống François Mitterrand thăm Việt Nam và Đại sứ Blanche Maison đang tại nhiệm. Vào thời điểm đó, Nhà Pháp luật Việt-Pháp được thành lập. Trung tâm này đã đóng cửa vào năm 2012 và năm 2013, Luật sư đoàn Paris đã lập cơ sở quốc tế đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh, thu hút một lượng lớn các chuyên gia pháp lý từ các trường đại học cũng như các luật sư Pháp, Việt Nam và châu Âu. Kể từ đó, theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam, chúng tôi đã tham gia vào sự hợp tác này. Đầu tiên, chúng tôi thành lập một hiệp hội gọi là Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam, hầu như năm nào cũng đến Việt Nam để đóng góp vào sự hợp tác này theo cách riêng và ở cấp độ của mình, thông qua các hội thảo về nhiều chủ đề khác nhau, theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam. Nhóm của chúng tôi luôn sẵn sàng và trong nhóm, chúng tôi bổ sung cho nhau rất tốt, và có một sự liên tục nhất định trong sự hợp tác này, một sự hợp tác cũng gắn liền với cộng đồng Pháp ngữ. Chúng tôi hoàn toàn muốn các hội thảo của mình được tổ chức bằng tiếng Pháp và điều này là theo yêu cầu của các học giả và hiệp hội luật sư Việt Nam.” Trong Tuần lễ Pháp - Việt Nam về Pháp luật và Tư pháp, một cuộc gặp gỡ đã diễn ra tại trụ sở Liên đoàn Luật sư Việt Nam giữa các luật sư của phái đoàn Pháp với Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các phó chủ tịch và các thành viên Ban Quan hệ Quốc tế của Liên đoàn. Cuộc gặp này là trong khuôn khổ các trao đổi giữa Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Hội đồng Quốc gia các Luật sư đoàn Pháp. Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp được tổ chức trong tháng 11 vừa qua đã là dịp thúc đẩy và định hình các trao đổi mới trong lĩnh vực đại học, đặc biệt xoay quanh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, những chủ đề then chốt trong tiến trình hiện đại hóa hệ thống pháp luật của hai nước. Theo bộ Tư Pháp Việt Nam, trong những năm gần đây, phía Pháp đã tiếp tục hỗ trợ bộ này trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế, trong đó có các đạo luật quan trọng như Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình, Nghị định Hòa giải thương mại…, đồng thời tăng cường hợp tác giữa các nghề luật của hai nước như công chứng viên, thừa phát lại, đấu giá viên… Ngoài các phiên họp chính thức, đây đã là dịp để các chuyên gia Việt Nam và Pháp tham gia ba buổi hội thảo về những thách thức pháp lý phát sinh từ quá trình đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, theo lời luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot: “Pháp luôn được tham vấn mỗi khi Việt Nam thực hiện một dự án cải cách. Pháp được xem là mô hình cho Việt Nam. Năm nay, bộ Tư Pháp của Pháp, trong khuôn khổ Tuần lễ Pháp luật, đã nêu bật những thách thức ở cấp độ châu Âu do việc quản lý trí tuệ nhân tạo và bảo vệ dữ liệu cá nhân đặt ra. Mục tiêu là dung hòa những đổi mới công nghệ với việc bảo vệ các quyền cơ bản và bảo vệ tính độc lập của tư pháp, vốn là nguyên tắc thiết yếu của nhà nước pháp quyền. Do bộ Tư Pháp của Pháp và bộ Tư Pháp của Việt Nam phối hợp tổ chức, với sự hỗ trợ của Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội, chương trình của Tuần lễ Pháp luật rất dày đặc, bao gồm chuyến thăm và cuộc gặp với một trong các phó chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Tiếp theo, ngày hôm sau, chúng tôi có một hội thảo kéo dài cả ngày với Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Hội thảo này tập trung vào đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, với các bài thuyết trình của nhiều học giả đến từ Đại học Luật Hà Nội và Đại học Huế, cũng như các giáo sư đến từ Pháp. Dĩ nhiên đã có bài thuyết trình của tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín của Pháp, cũng như của các công chứng viên và chấp hành viên. Chủ đề chính là trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, và làm thế nào để kết hợp những đổi mới công nghệ này với việc bảo vệ các quyền cơ bản, duy trì tính độc lập của tư pháp, và làm thế nào để dung hòa tất cả những điều này. Việc xây dựng một môi trường tin cậy là rất cần thiết để đảm bảo AI hoạt động hiệu quả. Chúng tôi đang làm việc cho tương lai. AI không phải là mới, nhưng đúng là chúng ta vẫn chưa hoàn toàn kiểm soát được công nghệ. Chúng ta cần tập hợp các nguồn lực. Bộ Tư Pháp của Pháp giới thiệu các mô hình châu Âu và trao đổi ý tưởng với các đối tác Việt Nam, những người cũng đã tiến rất xa trong lĩnh vực này. Vì vậy, tôi nghĩ tương lai hoàn toàn khả thi đối với việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp.” Hội thảo chuyên đề đầu tiên, được tổ chức vào ngày 25/11/2025 tại Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, là về chủ đề “Thể chế pháp lý và đổi mới sáng tạo”, tập trung vào việc điều chỉnh pháp luật tại Pháp, Việt Nam và trên thế giới trong bối cảnh phát triển xã hội, khoa học và công nghệ. Hội thảo thứ hai, với chủ đề « Thể chế pháp lý và Trí tuệ Nhân tạo », được tổ chức vào ngày 27/11 tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đặt ra những tranh luận thiết yếu về các vấn đề pháp lý xoay quanh trí tuệ nhân tạo và các quy định liên quan. Trong khuôn khổ quan hệ đối tác giữa Trường Thẩm phán Quốc gia (Pháp) và Học viện Tư pháp (Việt Nam), một hội thảo kết hợp trực tuyến và trực tiếp về « Sử dụng trí tuệ nhân tạo của thẩm phán » đã được tổ chức để phân tích sự đóng góp của AI vào việc quản lý tư pháp tại Pháp và Việt Nam. Theo luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot, trong khi đó Hội Hợp tác Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam vẫn tiếp tục đáp ứng các nhu cầu đào tạo của phía Việt Nam: “Nhu cầu đào tạo ngày càng tăng, đặc biệt là kể từ khi Việt Nam khởi xướng việc thành lập hai trung tâm tài chính quốc tế trong năm nay tại Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, và chúng tôi có yêu cầu cấp thiết là quay lại hàng năm để cung cấp các khóa đào tạo bằng tiếng Pháp cho các học giả và luật sư nhằm tiếp tục tăng cường hợp tác và cùng nhau tiến lên. Hiệp hội của tôi và cá nhân tôi đã tham gia vào hợp tác pháp lý Pháp-Việt này trong suốt 25 năm qua. Tôi đã mang theo cả một đội ngũ, hầu như năm nào cũng sẵn sàng đến Việt Nam theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam. Đó là một đội ngũ bổ sung, mang đến cách tiếp cận đa ngành, và mỗi thành viên đều đóng góp đáng kể vào hợp tác pháp lý Pháp-Việt. Hầu hết các tổ chức và trường đại học đều do những người nói tiếng Pháp, từng học ở Pháp điều hành. Vì vậy, việc đào tạo tiếng Pháp không phải là vấn đề. Họ hoàn toàn có khả năng, và ngay cả khi đôi khi một số người trẻ không được đào tạo tiếng Pháp cũng nói tiếng Anh và giao tiếp rất tốt với chúng tôi. Chúng tôi đã bắt đầu soạn thảo dự án với các trường đại học và hiệp hội luật sư. Tại hội nghị ngày 25/11/2025, tôi đã gặp lại các sinh viên đến từ các trường đại học Toulouse-Capitole, Lyon 3 và Bordeaux. Theo yêu cầu của các giáo sư, tôi đã hướng dẫn các em trong một ngày học vào tháng Tư năm ngoái trước khi các em sang Việt Nam. Hiện các sinh viên này đang theo học năm thứ hai chương trình Thạc sĩ Hợp tác Kinh tế và Luật Thương mại Quốc tế tại Hà Nội. Ngoài ra, năm 2026 sẽ diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ lần thứ 20 tại Siem Reap, Cam Bốt , ngay sát bên. Chúng tôi sẽ cố gắng có mặt ở đó, vì một trong những mục tiêu của hiệp hội chúng tôi là Cộng đồng Pháp ngữ. Chúng tôi sẽ cố gắng kết nối hai bên và phát triển hơn nữa tiếng Pháp tại Việt Nam.” Theo báo chí Việt Nam, bộ Tư Pháp Pháp, Quỹ Luật lục địa cũng như Trường Đại học Paris-Assas đang phối hợp với bộ Tư Pháp Việt Nam và Trường Đại học Luật Hà Nội để thúc đẩy việc thành lập Trung tâm Pháp luật Pháp tại đại học này. Phía Việt Nam cho biết Trường Đại học Luật Hà Nội đã chuẩn bị sẵn sàng cơ sở vật chất cho Trung tâm và mong muốn phía Pháp hỗ trợ chuyên gia và giảng viên tới giảng dạy tại Trung tâm Pháp luật Pháp. Tuy nhiên phía Pháp hiện chưa đáp ứng các yêu cầu này.
Pháp luật là một trong những lĩnh vực hợp tác lâu năm nhất giữa Pháp và Việt Nam. Hợp tác trong lĩnh vực này bắt đầu từ những năm 1990 và dựa trên sự tương đồng giữa hệ thống pháp luật của hai nước, cũng như sự quan tâm của Việt Nam đến kinh nghiệm của Pháp. Mục tiêu chủ yếu của quan hệ đối tác này là hỗ trợ các cải cách hướng tới xây dựng một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Sự hợp tác này được tổ chức thông qua các hội thảo chia sẻ chuyên môn và các hội nghị với các bộ, ngành của Việt Nam, các chuyên gia pháp luật và các học giả. Để đánh dấu 30 năm hợp tác trong lĩnh vực pháp luật, trong tháng 11 vừa qua, Pháp và Việt Nam đã tổ chức Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp. Nhân dịp này, một phái đoàn của bộ Tư Pháp của Pháp đã đến thăm Việt Nam, dẫn đầu là bà Valérie Delnaud, tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín. Theo thông báo của đại sứ quán Pháp, phái đoàn Pháp đã trao đổi với lãnh đạo Vụ Hợp tác quốc tế Tòa án Nhân dân Tối cao “về những vấn đề pháp lý cùng quan tâm”, trao đổi về tương trợ dân sự quốc tế với Vụ Pháp luật quốc tế thuộc bộ Tư pháp Việt Nam, đồng thời ký kết Chương trình hợp tác giai đoạn 2026–2027 giữa bộ Tư Pháp của hai nước. Tham gia phái đoàn Pháp đến thăm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh còn có nhiều chuyên gia pháp lý (công chứng viên, luật sư, thẩm phán và chấp hành viên), trong đó có luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot, chủ tịch Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam ( ACJEV ) và cũng là chủ tịch Ủy ban Việt Nam của Luật sư đoàn Paris, một ủy ban được thành lập vào năm 2013. Trả lời RFI Việt ngữ tại Paris ngày 12/12/2025, luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot cho biết: “Tôi tham gia phái đoàn Pháp từ ngày 24 đến 21/11 tham dự Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp Pháp-Việt. Đây là lần đầu tiên sự kiện được tổ chức và chúng tôi đã tham dự nhiều hội thảo, gặp gỡ Tòa án Nhân dân Tối cao và bộ trưởng Tư Pháp, cũng như dự lễ ký kết chương trình hành động hai năm 2026-2027 với sự hiện diện của thứ trưởng bộ Tư Pháp. Phái đoàn Pháp do bộ Tư Pháp dẫn đầu, bao gồm bà Valérie Delnaud, tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín và một số quan chức khác của bộ Tư Pháp, cùng với hai luật sư từ Hội đồng Luật sư Quốc gia (mà tôi là một trong những thành viên), hai công chứng viên từ Hội đồng Công chứng cấp cao, các chấp hành viên và đại diện từ Quỹ Luật Châu lục. Hợp tác pháp lý Pháp-Việt là lâu đời nhất, bắt đầu từ những năm 1990, khi tổng thống François Mitterrand thăm Việt Nam và Đại sứ Blanche Maison đang tại nhiệm. Vào thời điểm đó, Nhà Pháp luật Việt-Pháp được thành lập. Trung tâm này đã đóng cửa vào năm 2012 và năm 2013, Luật sư đoàn Paris đã lập cơ sở quốc tế đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh, thu hút một lượng lớn các chuyên gia pháp lý từ các trường đại học cũng như các luật sư Pháp, Việt Nam và châu Âu. Kể từ đó, theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam, chúng tôi đã tham gia vào sự hợp tác này. Đầu tiên, chúng tôi thành lập một hiệp hội gọi là Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam, hầu như năm nào cũng đến Việt Nam để đóng góp vào sự hợp tác này theo cách riêng và ở cấp độ của mình, thông qua các hội thảo về nhiều chủ đề khác nhau, theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam. Nhóm của chúng tôi luôn sẵn sàng và trong nhóm, chúng tôi bổ sung cho nhau rất tốt, và có một sự liên tục nhất định trong sự hợp tác này, một sự hợp tác cũng gắn liền với cộng đồng Pháp ngữ. Chúng tôi hoàn toàn muốn các hội thảo của mình được tổ chức bằng tiếng Pháp và điều này là theo yêu cầu của các học giả và hiệp hội luật sư Việt Nam.” Trong Tuần lễ Pháp - Việt Nam về Pháp luật và Tư pháp, một cuộc gặp gỡ đã diễn ra tại trụ sở Liên đoàn Luật sư Việt Nam giữa các luật sư của phái đoàn Pháp với Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các phó chủ tịch và các thành viên Ban Quan hệ Quốc tế của Liên đoàn. Cuộc gặp này là trong khuôn khổ các trao đổi giữa Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Hội đồng Quốc gia các Luật sư đoàn Pháp. Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp được tổ chức trong tháng 11 vừa qua đã là dịp thúc đẩy và định hình các trao đổi mới trong lĩnh vực đại học, đặc biệt xoay quanh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, những chủ đề then chốt trong tiến trình hiện đại hóa hệ thống pháp luật của hai nước. Theo bộ Tư Pháp Việt Nam, trong những năm gần đây, phía Pháp đã tiếp tục hỗ trợ bộ này trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế, trong đó có các đạo luật quan trọng như Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình, Nghị định Hòa giải thương mại…, đồng thời tăng cường hợp tác giữa các nghề luật của hai nước như công chứng viên, thừa phát lại, đấu giá viên… Ngoài các phiên họp chính thức, đây đã là dịp để các chuyên gia Việt Nam và Pháp tham gia ba buổi hội thảo về những thách thức pháp lý phát sinh từ quá trình đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, theo lời luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot: “Pháp luôn được tham vấn mỗi khi Việt Nam thực hiện một dự án cải cách. Pháp được xem là mô hình cho Việt Nam. Năm nay, bộ Tư Pháp của Pháp, trong khuôn khổ Tuần lễ Pháp luật, đã nêu bật những thách thức ở cấp độ châu Âu do việc quản lý trí tuệ nhân tạo và bảo vệ dữ liệu cá nhân đặt ra. Mục tiêu là dung hòa những đổi mới công nghệ với việc bảo vệ các quyền cơ bản và bảo vệ tính độc lập của tư pháp, vốn là nguyên tắc thiết yếu của nhà nước pháp quyền. Do bộ Tư Pháp của Pháp và bộ Tư Pháp của Việt Nam phối hợp tổ chức, với sự hỗ trợ của Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội, chương trình của Tuần lễ Pháp luật rất dày đặc, bao gồm chuyến thăm và cuộc gặp với một trong các phó chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Tiếp theo, ngày hôm sau, chúng tôi có một hội thảo kéo dài cả ngày với Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Hội thảo này tập trung vào đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, với các bài thuyết trình của nhiều học giả đến từ Đại học Luật Hà Nội và Đại học Huế, cũng như các giáo sư đến từ Pháp. Dĩ nhiên đã có bài thuyết trình của tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín của Pháp, cũng như của các công chứng viên và chấp hành viên. Chủ đề chính là trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, và làm thế nào để kết hợp những đổi mới công nghệ này với việc bảo vệ các quyền cơ bản, duy trì tính độc lập của tư pháp, và làm thế nào để dung hòa tất cả những điều này. Việc xây dựng một môi trường tin cậy là rất cần thiết để đảm bảo AI hoạt động hiệu quả. Chúng tôi đang làm việc cho tương lai. AI không phải là mới, nhưng đúng là chúng ta vẫn chưa hoàn toàn kiểm soát được công nghệ. Chúng ta cần tập hợp các nguồn lực. Bộ Tư Pháp của Pháp giới thiệu các mô hình châu Âu và trao đổi ý tưởng với các đối tác Việt Nam, những người cũng đã tiến rất xa trong lĩnh vực này. Vì vậy, tôi nghĩ tương lai hoàn toàn khả thi đối với việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp.” Hội thảo chuyên đề đầu tiên, được tổ chức vào ngày 25/11/2025 tại Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, là về chủ đề “Thể chế pháp lý và đổi mới sáng tạo”, tập trung vào việc điều chỉnh pháp luật tại Pháp, Việt Nam và trên thế giới trong bối cảnh phát triển xã hội, khoa học và công nghệ. Hội thảo thứ hai, với chủ đề « Thể chế pháp lý và Trí tuệ Nhân tạo », được tổ chức vào ngày 27/11 tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đặt ra những tranh luận thiết yếu về các vấn đề pháp lý xoay quanh trí tuệ nhân tạo và các quy định liên quan. Trong khuôn khổ quan hệ đối tác giữa Trường Thẩm phán Quốc gia (Pháp) và Học viện Tư pháp (Việt Nam), một hội thảo kết hợp trực tuyến và trực tiếp về « Sử dụng trí tuệ nhân tạo của thẩm phán » đã được tổ chức để phân tích sự đóng góp của AI vào việc quản lý tư pháp tại Pháp và Việt Nam. Theo luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot, trong khi đó Hội Hợp tác Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam vẫn tiếp tục đáp ứng các nhu cầu đào tạo của phía Việt Nam: “Nhu cầu đào tạo ngày càng tăng, đặc biệt là kể từ khi Việt Nam khởi xướng việc thành lập hai trung tâm tài chính quốc tế trong năm nay tại Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, và chúng tôi có yêu cầu cấp thiết là quay lại hàng năm để cung cấp các khóa đào tạo bằng tiếng Pháp cho các học giả và luật sư nhằm tiếp tục tăng cường hợp tác và cùng nhau tiến lên. Hiệp hội của tôi và cá nhân tôi đã tham gia vào hợp tác pháp lý Pháp-Việt này trong suốt 25 năm qua. Tôi đã mang theo cả một đội ngũ, hầu như năm nào cũng sẵn sàng đến Việt Nam theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam. Đó là một đội ngũ bổ sung, mang đến cách tiếp cận đa ngành, và mỗi thành viên đều đóng góp đáng kể vào hợp tác pháp lý Pháp-Việt. Hầu hết các tổ chức và trường đại học đều do những người nói tiếng Pháp, từng học ở Pháp điều hành. Vì vậy, việc đào tạo tiếng Pháp không phải là vấn đề. Họ hoàn toàn có khả năng, và ngay cả khi đôi khi một số người trẻ không được đào tạo tiếng Pháp cũng nói tiếng Anh và giao tiếp rất tốt với chúng tôi. Chúng tôi đã bắt đầu soạn thảo dự án với các trường đại học và hiệp hội luật sư. Tại hội nghị ngày 25/11/2025, tôi đã gặp lại các sinh viên đến từ các trường đại học Toulouse-Capitole, Lyon 3 và Bordeaux. Theo yêu cầu của các giáo sư, tôi đã hướng dẫn các em trong một ngày học vào tháng Tư năm ngoái trước khi các em sang Việt Nam. Hiện các sinh viên này đang theo học năm thứ hai chương trình Thạc sĩ Hợp tác Kinh tế và Luật Thương mại Quốc tế tại Hà Nội. Ngoài ra, năm 2026 sẽ diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ lần thứ 20 tại Siem Reap, Cam Bốt , ngay sát bên. Chúng tôi sẽ cố gắng có mặt ở đó, vì một trong những mục tiêu của hiệp hội chúng tôi là Cộng đồng Pháp ngữ. Chúng tôi sẽ cố gắng kết nối hai bên và phát triển hơn nữa tiếng Pháp tại Việt Nam.” Theo báo chí Việt Nam, bộ Tư Pháp Pháp, Quỹ Luật lục địa cũng như Trường Đại học Paris-Assas đang phối hợp với bộ Tư Pháp Việt Nam và Trường Đại học Luật Hà Nội để thúc đẩy việc thành lập Trung tâm Pháp luật Pháp tại đại học này. Phía Việt Nam cho biết Trường Đại học Luật Hà Nội đã chuẩn bị sẵn sàng cơ sở vật chất cho Trung tâm và mong muốn phía Pháp hỗ trợ chuyên gia và giảng viên tới giảng dạy tại Trung tâm Pháp luật Pháp. Tuy nhiên phía Pháp hiện chưa đáp ứng các yêu cầu này.
Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 14 đã kết thúc ngày 23/01/2026 sau khi Ban Chấp hành Trung ương "thống nhất tuyệt đối" bầu ông Tô Lâm tiếp tục giữ chức tổng bí thư. Ông Tô Lâm đã từng tuyên bố Đại hội Đảng lần này đánh dấu sự khởi đầu của một “kỷ nguyên mới”, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành “một quốc gia hiện đại có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và một quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.” Trong bài phát biểu khai mạc Đại hội hôm 20/01, tổng bí thư Đảng cũng đã đề ra một mục tiêu đầy tham vọng : đạt mức tăng trưởng GDP hàng năm ít nhất 10% trong giai đoạn 2026-2030. Nhưng đó là những mục tiêu đầy thách thức đối với ban lãnh đạo mới của đảng Cộng Sản Việt Nam. Cải cách hành chính: Tác động tích cực và tiêu cực Nguyên là bộ trưởng Công An, ông Tô Lâm đã lên làm tổng bí thư sau khi ông Nguyễn Phú Trọng qua đời vào tháng 8/2024. Trong thời gian ngắn nắm quyền, ông đã đẩy nhanh các cải cách hành chính, cắt giảm số lượng bộ, ngành của chính phủ từ 30 xuống còn 22, giảm số lượng các đơn vị hành chính cấp tỉnh và thành phố từ 63 xuống chỉ còn 34. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 21/01/206, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore, nhận định: "Các cải cách này đã gây ra những tác động sâu rộng chưa từng có từ trước tới nay. Thứ nhất là về mặt tích cực, các biện pháp này giúp giảm bớt sự cồng kềnh của bộ máy hành chính, bộ máy Đảng và các cơ quan đoàn thể, qua đó giúp tăng hiệu quả quản lý nhà nước, cũng như tăng hiệu quả của công tác quản trị và xây dựng Đảng. Thứ hai, bộ máy được tinh gọn như vậy thì giúp nhà nước tiết kiệm được ngân sách để đầu tư vào các lĩnh vực phát triển, cũng như đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng, hay là đầu tư vào hệ thống phúc lợi cho người dân. Mặt tích cực thứ ba là việc tinh gọn guồng máy sẽ giúp tăng tính thích ứng trước những thay đổi nhanh chóng, tăng hiệu quả quản trị nhà nước và nâng cao năng lực của bộ máy chính trị và hành chính về lâu dài, qua đó giúp Việt Nam ngày càng ổn định, vững chắc hơn, cũng như có thể phát triển nhanh hơn trong thời gian tới. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những mặt trái hay những rủi ro. Ví dụ như trong thời gian qua cũng có những phản ánh, những lời phàn nàn về sự đứt gãy, hay gián đoạn trong công tác quản trị, hay trong việc cung cấp một số dịch vụ công, do tình trạng thiếu nhân lực khi bộ máy bị tinh gọn. Nhiều cán bộ ở lại thì chưa được trang bị những kiến thức mới để đảm nhiệm các nhiệm vụ mới, do tình trạng thiếu trang thiết bị máy móc, hay do hệ thống công nghệ thông tin chưa được điều chỉnh hay cập nhật kịp thời để tương thích với cơ cấu bộ máy chính quyền mới. Tình trạng này cũng có thể ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, vì như tôi được biết, việc cấp phép hoặc xét duyệt các dự án, hay là thông qua các giấy phép cho một số doanh nghiệp cũng bị đinh trệ. Một mặt tiêu cực khác, đó là xuất hiện sự bất mãn trong một bộ phận cán bộ. Những cán bộ này được ở lại, nhưng do những vấn đề như tôi đã nói trên, họ bị quá tải công việc. Bộ máy tinh gọn nhưng công việc thì không những không giảm mà có thể tăng lên. Đặc biệt là những cán bộ ở các tỉnh thành bị sát nhập mà trung tâm hành chính lại đặt ở tỉnh khác, họ phải di chuyển rất xa đến nơi làm việc, họ phải sống xa vợ con gia đình nhiều ngày trong tuần. Trong số những người mà tôi đã phỏng vấn trong những chuyến tôi về Việt Nam, rất nhiều ý kiến cho rằng chủ trương sát nhập tỉnh thành hay tinh gọn bộ máy là cần thiết, nhưng những cải cách này đã được tiến hành một cách quá vội vàng, chưa cân nhắc thấu đáo các hậu quả. Đáng lẽ nó có thể được tiến hành theo từng giai đoạn, theo một trình tự, để bộ máy điều chỉnh kịp thời, thích nghi dần, rồi sau đấy mới đi tới các bước tiếp theo." Trong bài viết đăng trên trang mạng East Asia Forum ngày 10/01/2026, nhà nghiên cứu Alexander L. Vuving nhắc lại, dưới sự lãnh đạo của ông Tô Lâm, Bộ Chính Trị đã thông qua 4 nghị quyết từ cuối năm 2024 đến giữa năm 2025, vạch ra chiến lược để đạt được các mục tiêu đề ra. Các nghị quyết bao gồm đổi mới khoa học và công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo ông Alexander L. Vuving, “cách thức thực hiện các chính sách cụ thể lại gây ra nhiều tranh cãi. Việc tái cấu trúc lãnh thổ quy mô lớn đã được thực hiện mà không tôn trọng cấu trúc theo chiều ngang và bản sắc địa phương. Các quyết định quan trọng về phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng cũng được đưa ra mà không có sự tham vấn công chúng một cách thực chất, như quyết định xây dựng đường sắt cao tốc dọc bờ biển, xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân và đặt mục tiêu tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm 10% trở lên trong những thập kỷ tới.” Phát triển kinh tế tư nhân: Chỉ có lợi cho các tập đoàn lớn Ông Tô Lâm xem khu vực tư nhân là một “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế Việt Nam, cho dù khu vực nhà nước vẫn giữ “vai trò chủ đạo”. Nhưng theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân cho tới nay chủ yếu có lợi cho các tập đoàn lớn: "Từ khi ông Tô Lâm lên nắm quyền, chúng ta thấy là một số doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã phát triển rất nhanh, đã mở rộng rất nhanh, đặc biệt là một số các doanh nghiệp mà tôi cho rằng có quan hệ tốt với chính quyền, cụ thể là với bộ Công An, hay với những cơ quan liên quan tới an ninh, những tập đoàn như là Vingroup, Sun Group, Masterise Group hay TNT v.v.... Trong khoảng hơn một năm qua, họ phát triển rất nhanh về số lượng dự án, rồi đầu tư vào các lĩnh vực mới. Điều này cho thấy rằng những doanh nghiệp đó đã ít nhiều được hưởng lợi từ chính sách tạo điều kiện cho lĩnh vực kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, các chính sách này hầu như chỉ mang lại lợi ích cho một số tập đoàn lớn, mà chưa tạo ra được những lợi ích đồng đều, lan tỏa ra các doanh nghiệp khác. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chưa có được những sự hỗ trợ cần thiết. Một số thành phần như kinh tế cá thể, kinh tế gia đình thì đang gặp rất nhiều khó khăn và thách thức. Họ là những bộ phận rất quan trọng tạo ra việc làm cho người dân, nhưng họ cũng đang tuân thủ các quy định về thuế, về hóa đơn, chứng từ..., khiến rất nhiều doanh nghiệp đóng cửa. Chính phủ Việt Nam phải cải cách pháp lý và chính sách để làm sao tạo ra được môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng, không chỉ giúp các doanh nghiệp tư nhân lớn phát triển, mà có thể thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển theo. Thứ hai là cũng phải cải thiện cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân. Thứ ba là tạo thuận lợi cho việc tiếp cận tài chính và tín dụng, đặc biệt là cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thứ tư là thời gian qua Việt Nam đã thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Trong thời gian tới, khía cạnh này cũng cần được tiếp tục thúc đẩy trong khu vực kinh tế tư nhân, không chỉ ở các doanh nghiệp lớn, mà còn ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, để họ có thể nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo đà để họ có thể phát triển ngày càng lớn mạnh, trở thành các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp quốc tế. Trong bài viết đăng trên mạng ngày 19/01/2026, nhật báo Mỹ The New York Times ghi nhận ông Tô Lâm được xem là một nhân vật “có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho nhiều loại hình doanh nghiệp tư nhân”. Nhưng các nhà phân tích nhấn mạnh “đảng vẫn ưu tiên sự kiểm soát tập trung. Mặc dù có năng suất thấp, các công ty nhà nước vẫn được hưởng ưu đãi đặc biệt.” Đảng có kế hoạch xây dựng một mô hình mới cho tăng trưởng kinh tế, giảm bớt sự phụ thuộc vào lao động tay nghề thấp và dựa nhiều hơn vào khoa học và công nghệ. Theo The New York Times, “thách thức chính của Việt Nam là ở việc thực hiện các chính sách nhằm xây dựng một môi trường cởi mở hơn, hiệu quả hơn và cạnh tranh hơn. Về nội bộ, một mối nguy hiểm là sự tồn tại của một nhóm nhỏ các doanh nghiệp được nhà nước ưu ái với năng suất thấp.” Theo mô hình chaebol: Cần thiết, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro Bên cạnh việc nhìn nhận kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất, ông Tô Lâm còn có tham vọng phát triển những đại tập đoàn tư nhân theo kiểu các chaebol của Hàn Quốc. Nghị quyết 68 nêu rõ tham vọng của Việt Nam thúc đẩy sự phát triển 20 doanh nghiệp hàng đầu quốc gia vào năm 2030. Nhưng nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp đưa ra lời cảnh báo: "Điều quan trọng là chúng ta cần học hỏi các điểm tốt, nhưng phải tránh các mặt bất lợi, các mặt xấu. Điểm tốt từ mô hình chaeebol Việt Nam có thể học hỏi đó là tạo ra những cơ chế giúp các doanh nghiệp tư nhân có thể tập trung các nguồn lực và qua đó trở thành các tập đoàn lớn, có sức cạnh tranh cao, không chỉ ở phạm vi trong nước, mà phạm vi quốc tế. Qua đó có thể giúp Việt Nam mở rộng tiềm lực kinh tế và ảnh hưởng của mình lên toàn cầu. Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp này phát triển như vậy thì nó cũng có những mặt trái. Ví dụ như ở Hàn Quốc, các chaebol nổi tiếng là có sự tham gia vào những mạng lưới chính trị và qua các mạng lưới này thì họ giành được các nguồn lực để phát triển. Tuy nhiên, đi kèm theo là tình trạng hối lộ, tham nhũng, hay các mối quan hệ thân hữu, qua đấy nó làm xói mòn niềm tin của công chúng vào chính quyền. Khi các doanh nghiệp này tận dụng những mối quan hệ với chính phủ để phát triển như vậy thì nó cũng bóp nghẹt sự cạnh tranh và khả năng sáng tạo, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi mà các chaebol của Hàn Quốc phát triển thì họ cũng phát triển một cách liều lĩnh, ví dụ như vay nợ quá mức để tham gia vào nhiều lĩnh vực phát triển đa ngành. Các chaebol Hàn Quốc đã là một phần nguyên nhân quan trọng của khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Một số mặt trái như vậy tôi thấy cũng đang xuất hiện ở một số tập đoàn tư nhân trong nước, cụ thể là vay nợ quá mức để theo đuổi các dự án rủi ro, không có hiệu quả cao về mặt kinh tế, không có tính bền vững về mặt tài chính. Tình trạng bóp nghẹt cạnh tranh ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang trở nên càng ngày càng phổ biến." Mục tiêu 10%: Tăng tốc quá nhanh? Mặt khác, đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên theo mục tiêu mà ông Tô Lâm đề ra, trong khi phải giảm sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài và đối phó với các rào cản thương mại sẽ là thử thách đối với Việt Nam trong những năm tới. Tuần báo của Anh The Economist trong bài viết đăng ngày 08/01/2026, ghi nhận “nền kinh tế Việt Nam, nhờ xuất khẩu tăng mạnh, đã đạt mức tăng trưởng 8% trong năm 2025 – nhanh nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu 8,3-8,5% của năm. Mặc dù mục tiêu 10% của năm nay có vẻ khó đạt được hơn, nhưng vẫn có lý do để lạc quan: Những cải cách lớn nhất của ông Lâm vẫn chưa phát huy hết tác dụng, trong đó có Nghị quyết 68, một nỗ lực nhằm thúc đẩy khu vực tư nhân bằng các biện pháp ưu đãi thuế và giảm bớt thủ tục hành chính. Các cơ quan quản lý đã được yêu cầu chấp nhận rủi ro cao hơn khi phê duyệt các dự án.” Vấn đề là theo The Economist, “hiện vẫn chưa rõ các tập đoàn lớn của Việt Nam sẽ chịu trách nhiệm như thế nào nếu họ không hoàn thành các dự án quan trọng. Một số tập đoàn ngại rủi ro nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước. Ví dụ, vào ngày 25/12 vừa qua, Vingroup đã rút khỏi dự án trị giá 67 tỷ đôla xây dựng tuyến đường sắt xuyên Việt Nam. Tập đoàn này đã yêu cầu 80% dự án được tài trợ bằng khoản vay không lãi suất từ nhà nước, nhưng nhà nước đã từ chối. Các tập đoàn khác có thể sẽ thay Vingroup tham gia dự án, nhưng tình trạng tương tự vẫn sẽ tiếp diễn. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, dù gây ấn tượng mạnh, vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi thái độ tùy hứng của một vài doanh nghiệp.” Về phần mình, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp e ngại là tăng tốc quá nhanh sẽ gây phản ứng ngược cho nền kinh tế Việt Nam: "Chúng ta thấy là năm 2025 vừa qua Việt Nam cũng đã nỗ lực rất nhiều, nhưng chỉ đạt được mức tăng trưởng 8%. Thậm chí có nhiều người đặt câu hỏi liệu có phải là thực sự 8%, hay chỉ là một con số được "chế biến" để có thể đáp ứng được các mục tiêu chính trị của ban lãnh đạo. Tăng trưởng ít nhất 10% trong thời gian tới là một mục tiêu rất là thách thức. Việt Nam một hai năm trước chỉ đạt tăng trưởng 6 hay 7%. Bây giờ trong vòng một hai năm Việt Nam muốn tăng trưởng lên 10% thì tôi nghĩ rằng người ta đã đốt cháy giai đoạn ở một mức độ nào đấy. Muốn tăng tốc thì ta phải tăng tốc từ từ. Tôi sợ rằng trong thời gian tới, nếu Việt Nam quá nôn nóng để tăng trưởng và sử dụng các biện pháp không bền vững, không hiệu quả về lâu dài, thì có thể gặp sự cố, có thể là không phải ngay trong trước mắt 1, 2 năm tới, mà có thể là 3, 4 năm tới. Khi nền kinh tế phát triển quá nóng và dựa trên việc bơm tiền vào nền kinh tế, mà không dựa vào các biện pháp mang tính bền vững như phát triển khoa học công nghệ hay đổi mới sáng tạo, nền kinh tế Việt Nam sẽ có thể gặp các vấn đề nghiêm trọng trong vòng 4 đến 5 năm tới. Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc rất nhiều vào đầu tư nước ngoài, nhưng trong bối cảnh môi trường địa chính trị toàn cầu gặp rất nhiều biến động như vậy, vốn đầu tư nước ngoài Việt Nam có thể bị chựng lại, thậm chí có thể giảm trong thời gian tới. Việt Nam cũng phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, đặc biệt là thương mại với Mỹ. Năm ngoái chúng ta thấy là thuế đối ứng chỉ bắt đầu được áp dụng vào nửa cuối năm, còn nửa đầu năm thì thuế đối ứng này chưa có tác động nhiều. Năm nay chúng ta sẽ thấy bức tranh toàn cảnh hơn về tác động của thuế đối với kinh tế Việt Nam. Trong trường hợp thuế đối ứng này làm giảm xuất khẩu Việt Nam, thì rõ ràng mục tiêu tăng trưởng 10% của Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng. Thứ ba là tiêu dùng cá nhân ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Tiêu dùng chủ yếu vẫn tập trung ở một số bộ phận cư dân thu nhập cao ở thành thị. Còn rất nhiều gia đình đang thắt lưng buột bụng. Trong bối cảnh đấy, tiêu dùng khó có thể tăng trưởng mạnh để trở thành một động lực của nền kinh tế. Bên cạnh đấy, các động lực mới sẽ được ưu tiên phát triển trong cái thời gian tới, như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, hay phát triển doanh nghiệp tư nhân thì vẫn cần thời gian không chỉ một hai năm mà có lẽ lâu hơn mới có thể phát huy tác dụng, để trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai. Trong bối cảnh đấy thì có lẽ các đòn bẩy quan trọng nhất mà chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục sử dụng đấy là chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng, đặc biệt là thông qua đầu tư công, đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng để kích thích kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, biện pháp này đi kèm với mặt trái, đó là có thể dẫn tới giá tài sản tăng nhanh, dẫn tới bong bóng thị trường bất động sản, có thể đe dọa ổn định tài chính của Việt Nam và tạo ra những mầm móng bất ổn cho kinh tế Việt Nam trong lâu dài."
Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 14 đã kết thúc ngày 23/01/2026 sau khi Ban Chấp hành Trung ương "thống nhất tuyệt đối" bầu ông Tô Lâm tiếp tục giữ chức tổng bí thư. Ông Tô Lâm đã từng tuyên bố Đại hội Đảng lần này đánh dấu sự khởi đầu của một “kỷ nguyên mới”, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành “một quốc gia hiện đại có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và một quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.” Trong bài phát biểu khai mạc Đại hội hôm 20/01, tổng bí thư Đảng cũng đã đề ra một mục tiêu đầy tham vọng : đạt mức tăng trưởng GDP hàng năm ít nhất 10% trong giai đoạn 2026-2030. Nhưng đó là những mục tiêu đầy thách thức đối với ban lãnh đạo mới của đảng Cộng Sản Việt Nam. Cải cách hành chính: Tác động tích cực và tiêu cực Nguyên là bộ trưởng Công An, ông Tô Lâm đã lên làm tổng bí thư sau khi ông Nguyễn Phú Trọng qua đời vào tháng 8/2024. Trong thời gian ngắn nắm quyền, ông đã đẩy nhanh các cải cách hành chính, cắt giảm số lượng bộ, ngành của chính phủ từ 30 xuống còn 22, giảm số lượng các đơn vị hành chính cấp tỉnh và thành phố từ 63 xuống chỉ còn 34. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 21/01/206, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore, nhận định: "Các cải cách này đã gây ra những tác động sâu rộng chưa từng có từ trước tới nay. Thứ nhất là về mặt tích cực, các biện pháp này giúp giảm bớt sự cồng kềnh của bộ máy hành chính, bộ máy Đảng và các cơ quan đoàn thể, qua đó giúp tăng hiệu quả quản lý nhà nước, cũng như tăng hiệu quả của công tác quản trị và xây dựng Đảng. Thứ hai, bộ máy được tinh gọn như vậy thì giúp nhà nước tiết kiệm được ngân sách để đầu tư vào các lĩnh vực phát triển, cũng như đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng, hay là đầu tư vào hệ thống phúc lợi cho người dân. Mặt tích cực thứ ba là việc tinh gọn guồng máy sẽ giúp tăng tính thích ứng trước những thay đổi nhanh chóng, tăng hiệu quả quản trị nhà nước và nâng cao năng lực của bộ máy chính trị và hành chính về lâu dài, qua đó giúp Việt Nam ngày càng ổn định, vững chắc hơn, cũng như có thể phát triển nhanh hơn trong thời gian tới. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những mặt trái hay những rủi ro. Ví dụ như trong thời gian qua cũng có những phản ánh, những lời phàn nàn về sự đứt gãy, hay gián đoạn trong công tác quản trị, hay trong việc cung cấp một số dịch vụ công, do tình trạng thiếu nhân lực khi bộ máy bị tinh gọn. Nhiều cán bộ ở lại thì chưa được trang bị những kiến thức mới để đảm nhiệm các nhiệm vụ mới, do tình trạng thiếu trang thiết bị máy móc, hay do hệ thống công nghệ thông tin chưa được điều chỉnh hay cập nhật kịp thời để tương thích với cơ cấu bộ máy chính quyền mới. Tình trạng này cũng có thể ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, vì như tôi được biết, việc cấp phép hoặc xét duyệt các dự án, hay là thông qua các giấy phép cho một số doanh nghiệp cũng bị đinh trệ. Một mặt tiêu cực khác, đó là xuất hiện sự bất mãn trong một bộ phận cán bộ. Những cán bộ này được ở lại, nhưng do những vấn đề như tôi đã nói trên, họ bị quá tải công việc. Bộ máy tinh gọn nhưng công việc thì không những không giảm mà có thể tăng lên. Đặc biệt là những cán bộ ở các tỉnh thành bị sát nhập mà trung tâm hành chính lại đặt ở tỉnh khác, họ phải di chuyển rất xa đến nơi làm việc, họ phải sống xa vợ con gia đình nhiều ngày trong tuần. Trong số những người mà tôi đã phỏng vấn trong những chuyến tôi về Việt Nam, rất nhiều ý kiến cho rằng chủ trương sát nhập tỉnh thành hay tinh gọn bộ máy là cần thiết, nhưng những cải cách này đã được tiến hành một cách quá vội vàng, chưa cân nhắc thấu đáo các hậu quả. Đáng lẽ nó có thể được tiến hành theo từng giai đoạn, theo một trình tự, để bộ máy điều chỉnh kịp thời, thích nghi dần, rồi sau đấy mới đi tới các bước tiếp theo." Trong bài viết đăng trên trang mạng East Asia Forum ngày 10/01/2026, nhà nghiên cứu Alexander L. Vuving nhắc lại, dưới sự lãnh đạo của ông Tô Lâm, Bộ Chính Trị đã thông qua 4 nghị quyết từ cuối năm 2024 đến giữa năm 2025, vạch ra chiến lược để đạt được các mục tiêu đề ra. Các nghị quyết bao gồm đổi mới khoa học và công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo ông Alexander L. Vuving, “cách thức thực hiện các chính sách cụ thể lại gây ra nhiều tranh cãi. Việc tái cấu trúc lãnh thổ quy mô lớn đã được thực hiện mà không tôn trọng cấu trúc theo chiều ngang và bản sắc địa phương. Các quyết định quan trọng về phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng cũng được đưa ra mà không có sự tham vấn công chúng một cách thực chất, như quyết định xây dựng đường sắt cao tốc dọc bờ biển, xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân và đặt mục tiêu tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm 10% trở lên trong những thập kỷ tới.” Phát triển kinh tế tư nhân: Chỉ có lợi cho các tập đoàn lớn Ông Tô Lâm xem khu vực tư nhân là một “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế Việt Nam, cho dù khu vực nhà nước vẫn giữ “vai trò chủ đạo”. Nhưng theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân cho tới nay chủ yếu có lợi cho các tập đoàn lớn: "Từ khi ông Tô Lâm lên nắm quyền, chúng ta thấy là một số doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã phát triển rất nhanh, đã mở rộng rất nhanh, đặc biệt là một số các doanh nghiệp mà tôi cho rằng có quan hệ tốt với chính quyền, cụ thể là với bộ Công An, hay với những cơ quan liên quan tới an ninh, những tập đoàn như là Vingroup, Sun Group, Masterise Group hay TNT v.v.... Trong khoảng hơn một năm qua, họ phát triển rất nhanh về số lượng dự án, rồi đầu tư vào các lĩnh vực mới. Điều này cho thấy rằng những doanh nghiệp đó đã ít nhiều được hưởng lợi từ chính sách tạo điều kiện cho lĩnh vực kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, các chính sách này hầu như chỉ mang lại lợi ích cho một số tập đoàn lớn, mà chưa tạo ra được những lợi ích đồng đều, lan tỏa ra các doanh nghiệp khác. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chưa có được những sự hỗ trợ cần thiết. Một số thành phần như kinh tế cá thể, kinh tế gia đình thì đang gặp rất nhiều khó khăn và thách thức. Họ là những bộ phận rất quan trọng tạo ra việc làm cho người dân, nhưng họ cũng đang tuân thủ các quy định về thuế, về hóa đơn, chứng từ..., khiến rất nhiều doanh nghiệp đóng cửa. Chính phủ Việt Nam phải cải cách pháp lý và chính sách để làm sao tạo ra được môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng, không chỉ giúp các doanh nghiệp tư nhân lớn phát triển, mà có thể thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển theo. Thứ hai là cũng phải cải thiện cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân. Thứ ba là tạo thuận lợi cho việc tiếp cận tài chính và tín dụng, đặc biệt là cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thứ tư là thời gian qua Việt Nam đã thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Trong thời gian tới, khía cạnh này cũng cần được tiếp tục thúc đẩy trong khu vực kinh tế tư nhân, không chỉ ở các doanh nghiệp lớn, mà còn ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, để họ có thể nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo đà để họ có thể phát triển ngày càng lớn mạnh, trở thành các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp quốc tế. Trong bài viết đăng trên mạng ngày 19/01/2026, nhật báo Mỹ The New York Times ghi nhận ông Tô Lâm được xem là một nhân vật “có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho nhiều loại hình doanh nghiệp tư nhân”. Nhưng các nhà phân tích nhấn mạnh “đảng vẫn ưu tiên sự kiểm soát tập trung. Mặc dù có năng suất thấp, các công ty nhà nước vẫn được hưởng ưu đãi đặc biệt.” Đảng có kế hoạch xây dựng một mô hình mới cho tăng trưởng kinh tế, giảm bớt sự phụ thuộc vào lao động tay nghề thấp và dựa nhiều hơn vào khoa học và công nghệ. Theo The New York Times, “thách thức chính của Việt Nam là ở việc thực hiện các chính sách nhằm xây dựng một môi trường cởi mở hơn, hiệu quả hơn và cạnh tranh hơn. Về nội bộ, một mối nguy hiểm là sự tồn tại của một nhóm nhỏ các doanh nghiệp được nhà nước ưu ái với năng suất thấp.” Theo mô hình chaebol: Cần thiết, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro Bên cạnh việc nhìn nhận kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất, ông Tô Lâm còn có tham vọng phát triển những đại tập đoàn tư nhân theo kiểu các chaebol của Hàn Quốc. Nghị quyết 68 nêu rõ tham vọng của Việt Nam thúc đẩy sự phát triển 20 doanh nghiệp hàng đầu quốc gia vào năm 2030. Nhưng nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp đưa ra lời cảnh báo: "Điều quan trọng là chúng ta cần học hỏi các điểm tốt, nhưng phải tránh các mặt bất lợi, các mặt xấu. Điểm tốt từ mô hình chaeebol Việt Nam có thể học hỏi đó là tạo ra những cơ chế giúp các doanh nghiệp tư nhân có thể tập trung các nguồn lực và qua đó trở thành các tập đoàn lớn, có sức cạnh tranh cao, không chỉ ở phạm vi trong nước, mà phạm vi quốc tế. Qua đó có thể giúp Việt Nam mở rộng tiềm lực kinh tế và ảnh hưởng của mình lên toàn cầu. Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp này phát triển như vậy thì nó cũng có những mặt trái. Ví dụ như ở Hàn Quốc, các chaebol nổi tiếng là có sự tham gia vào những mạng lưới chính trị và qua các mạng lưới này thì họ giành được các nguồn lực để phát triển. Tuy nhiên, đi kèm theo là tình trạng hối lộ, tham nhũng, hay các mối quan hệ thân hữu, qua đấy nó làm xói mòn niềm tin của công chúng vào chính quyền. Khi các doanh nghiệp này tận dụng những mối quan hệ với chính phủ để phát triển như vậy thì nó cũng bóp nghẹt sự cạnh tranh và khả năng sáng tạo, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi mà các chaebol của Hàn Quốc phát triển thì họ cũng phát triển một cách liều lĩnh, ví dụ như vay nợ quá mức để tham gia vào nhiều lĩnh vực phát triển đa ngành. Các chaebol Hàn Quốc đã là một phần nguyên nhân quan trọng của khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Một số mặt trái như vậy tôi thấy cũng đang xuất hiện ở một số tập đoàn tư nhân trong nước, cụ thể là vay nợ quá mức để theo đuổi các dự án rủi ro, không có hiệu quả cao về mặt kinh tế, không có tính bền vững về mặt tài chính. Tình trạng bóp nghẹt cạnh tranh ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang trở nên càng ngày càng phổ biến." Mục tiêu 10%: Tăng tốc quá nhanh? Mặt khác, đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên theo mục tiêu mà ông Tô Lâm đề ra, trong khi phải giảm sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài và đối phó với các rào cản thương mại sẽ là thử thách đối với Việt Nam trong những năm tới. Tuần báo của Anh The Economist trong bài viết đăng ngày 08/01/2026, ghi nhận “nền kinh tế Việt Nam, nhờ xuất khẩu tăng mạnh, đã đạt mức tăng trưởng 8% trong năm 2025 – nhanh nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu 8,3-8,5% của năm. Mặc dù mục tiêu 10% của năm nay có vẻ khó đạt được hơn, nhưng vẫn có lý do để lạc quan: Những cải cách lớn nhất của ông Lâm vẫn chưa phát huy hết tác dụng, trong đó có Nghị quyết 68, một nỗ lực nhằm thúc đẩy khu vực tư nhân bằng các biện pháp ưu đãi thuế và giảm bớt thủ tục hành chính. Các cơ quan quản lý đã được yêu cầu chấp nhận rủi ro cao hơn khi phê duyệt các dự án.” Vấn đề là theo The Economist, “hiện vẫn chưa rõ các tập đoàn lớn của Việt Nam sẽ chịu trách nhiệm như thế nào nếu họ không hoàn thành các dự án quan trọng. Một số tập đoàn ngại rủi ro nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước. Ví dụ, vào ngày 25/12 vừa qua, Vingroup đã rút khỏi dự án trị giá 67 tỷ đôla xây dựng tuyến đường sắt xuyên Việt Nam. Tập đoàn này đã yêu cầu 80% dự án được tài trợ bằng khoản vay không lãi suất từ nhà nước, nhưng nhà nước đã từ chối. Các tập đoàn khác có thể sẽ thay Vingroup tham gia dự án, nhưng tình trạng tương tự vẫn sẽ tiếp diễn. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, dù gây ấn tượng mạnh, vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi thái độ tùy hứng của một vài doanh nghiệp.” Về phần mình, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp e ngại là tăng tốc quá nhanh sẽ gây phản ứng ngược cho nền kinh tế Việt Nam: "Chúng ta thấy là năm 2025 vừa qua Việt Nam cũng đã nỗ lực rất nhiều, nhưng chỉ đạt được mức tăng trưởng 8%. Thậm chí có nhiều người đặt câu hỏi liệu có phải là thực sự 8%, hay chỉ là một con số được "chế biến" để có thể đáp ứng được các mục tiêu chính trị của ban lãnh đạo. Tăng trưởng ít nhất 10% trong thời gian tới là một mục tiêu rất là thách thức. Việt Nam một hai năm trước chỉ đạt tăng trưởng 6 hay 7%. Bây giờ trong vòng một hai năm Việt Nam muốn tăng trưởng lên 10% thì tôi nghĩ rằng người ta đã đốt cháy giai đoạn ở một mức độ nào đấy. Muốn tăng tốc thì ta phải tăng tốc từ từ. Tôi sợ rằng trong thời gian tới, nếu Việt Nam quá nôn nóng để tăng trưởng và sử dụng các biện pháp không bền vững, không hiệu quả về lâu dài, thì có thể gặp sự cố, có thể là không phải ngay trong trước mắt 1, 2 năm tới, mà có thể là 3, 4 năm tới. Khi nền kinh tế phát triển quá nóng và dựa trên việc bơm tiền vào nền kinh tế, mà không dựa vào các biện pháp mang tính bền vững như phát triển khoa học công nghệ hay đổi mới sáng tạo, nền kinh tế Việt Nam sẽ có thể gặp các vấn đề nghiêm trọng trong vòng 4 đến 5 năm tới. Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc rất nhiều vào đầu tư nước ngoài, nhưng trong bối cảnh môi trường địa chính trị toàn cầu gặp rất nhiều biến động như vậy, vốn đầu tư nước ngoài Việt Nam có thể bị chựng lại, thậm chí có thể giảm trong thời gian tới. Việt Nam cũng phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, đặc biệt là thương mại với Mỹ. Năm ngoái chúng ta thấy là thuế đối ứng chỉ bắt đầu được áp dụng vào nửa cuối năm, còn nửa đầu năm thì thuế đối ứng này chưa có tác động nhiều. Năm nay chúng ta sẽ thấy bức tranh toàn cảnh hơn về tác động của thuế đối với kinh tế Việt Nam. Trong trường hợp thuế đối ứng này làm giảm xuất khẩu Việt Nam, thì rõ ràng mục tiêu tăng trưởng 10% của Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng. Thứ ba là tiêu dùng cá nhân ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Tiêu dùng chủ yếu vẫn tập trung ở một số bộ phận cư dân thu nhập cao ở thành thị. Còn rất nhiều gia đình đang thắt lưng buột bụng. Trong bối cảnh đấy, tiêu dùng khó có thể tăng trưởng mạnh để trở thành một động lực của nền kinh tế. Bên cạnh đấy, các động lực mới sẽ được ưu tiên phát triển trong cái thời gian tới, như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, hay phát triển doanh nghiệp tư nhân thì vẫn cần thời gian không chỉ một hai năm mà có lẽ lâu hơn mới có thể phát huy tác dụng, để trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai. Trong bối cảnh đấy thì có lẽ các đòn bẩy quan trọng nhất mà chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục sử dụng đấy là chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng, đặc biệt là thông qua đầu tư công, đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng để kích thích kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, biện pháp này đi kèm với mặt trái, đó là có thể dẫn tới giá tài sản tăng nhanh, dẫn tới bong bóng thị trường bất động sản, có thể đe dọa ổn định tài chính của Việt Nam và tạo ra những mầm móng bất ổn cho kinh tế Việt Nam trong lâu dài."
Nhu cầu tiêu thụ điện của ngành công nghiệp Việt Nam, nơi đặt cơ sở sản xuất của nhiều tập đoàn đa quốc gia như Samsung và Apple, thường xuyên vượt quá nguồn cung, vốn bị ảnh hưởng bởi thời tiết cực đoan ngày càng thường xuyên, như hạn hán và mưa bão. Trước tình hình này, Việt Nam muốn tăng sản lượng điện từ nhiều nguồn, chủ yếu là năng lượng tái tạo và khí đốt, nhưng các dự án đã bị chậm trễ và gặp trắc trở do các vấn đề quy định và giá cả, cho nên nay rất trông chờ vào điện hạt nhân. Sau khi quyết định khởi động lại chương trình năng lượng hạt nhân vào năm ngoái, Việt Nam đã giao cho Nga thực hiện dự án Ninh Thuận 1 và Nhật Bản thực hiện dự án Ninh Thuận 2. Vào đầu tháng 12 vừa qua, chính phủ Việt Nam vừa phê duyệt danh mục các công trình và dự án được xếp vào nhóm quan trọng quốc gia, trọng điểm của ngành năng lượng, trong đó có dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, 2 tại Khánh Hòa. Theo lộ trình của chính phủ, 2 nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2 tại Khánh Hòa, công suất 2.000-3.200MW, dự kiến sẽ được đưa vào hoạt động trong giai đoạn 2030-2035. Thế nhưng, chỉ vài ngày sau, Nhật Bản, một trong hai đối tác mà Việt Nam đã chọn, lại thông báo rút khỏi dự án hạt nhân. Hôm 08/12/2025, đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Naoki Ito nói với hãng tin Anh Reuters rằng Nhật Bản đã rút khỏi kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân quy mô lớn tại Việt Nam “vì thời gian quá gấp rút”. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 16/12/2025, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt, giải thích: "Thông tin mà đại sứ Nhật ở Việt Nam nêu ra tóm tắt là như thế này: Đấy là những công trình rất là lớn và tiêu chuẩn an toàn của nó thì càng ngày càng cao, mà Việt Nam đặt thời hạn quá gấp, tức là muốn năm 2035 phải xong. Ông ấy cho là không khả thi. Tôi thấy cũng đúng thôi: Đấy là loại lò thế hệ III+, tức là có trang bị các thiết bị chống lại mất an toàn bằng phương pháp thụ động. Trong thời gian gần đây, các lò có công suất tương đương như thế được xây ở Mỹ , ở Phần Lan, ở Trung Quốc, đặc biệt ở Bangladesh, do Nga giúp xây dựng. Công trình rất lớn và rất phức tạp, đòi hỏi tiêu chuẩn an toàn cao, nhưng Việt Nam lại yêu cầu là năm 2035 phải xong, thậm chí Việt Nam còn có một yêu cầu khác, tức là trong quá trình xây dựng lò như thế thì phải có chuyển giao công nghệ. Những điều đó là Nhật không thể thực hiện được. Nhật còn nói thêm là bây giờ, sau vụ Fukushima, hiện nay là ở Nhật cũng có những đòi hỏi về xây các lò phản ứng mới. Do đó họ không đủ khả năng để làm theo yêu cầu của Việt Nam. Căn cứ trên kết quả xây các lò loại thế hệ III + ở các nước thì đều hoặc là trễ tiến độ, hoặc là đội giá thành lên gấp một vài lần. Ở Bangladesh chẳng hạn, công trình do Nga trực tiếp làm đáng lý ra phải được đưa vào vận hành năm 2023, nhưng đã trễ sang năm 2024, rồi lùi sang năm 2025 và bây giờ phải đến tháng 12/26 may ra mới có thể vận hành được. Như thế rõ ràng việc xây dựng các lò lớn như thế hiện nay là một vấn đề rất khó khăn." Quyết định của Tokyo có thể làm phức tạp thêm chiến lược dài hạn của Việt Nam phát triển điện hạt nhân nhằm tránh tình trạng thiếu điện. Nói cách khác, Việt Nam khó mà đạt mục tiêu về thời hạn đặt ra cho 2 dự án nhà máy hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2: "Bây giờ Nhật Bản từ chối, như thế là Việt Nam cũng sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện các mục tiêu lớn của Việt Nam: phải có điện là một, điện sạch là hai và ngoài ra đến năm 2050 phải đạt trung hòa carbon. Những mục tiêu đó là rất là khó đạt. Nhưng đại sứ Nhật cũng có nói Nhật mở ra một khả năng, tức là sẽ tham gia phát triển các công nghệ lò gọi là lò module, có thể lắp ghép được, gọi là SMR, công suất khoảng vài trăm megawatt. Nhật Bản sẽ hợp tác với Việt Nam trong các dự án đó." Sau khi Nhật Bản rút khỏi dự án Ninh Thuận 2, phía Nga đã trấn an là họ sẽ không bỏ rơi Việt Nam. Theo báo chí trong nước, trong cuộc điện đàm ngày 11/12 với thủ tướng Phạm Minh Chính, tổng giám đốc Tập đoàn Rosatom của Nga đã cam kết hợp tác với Việt Nam "xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 theo công nghệ hiện đại nhất." Tuy nhiên, theo giáo sư Phạm Duy Hiển, cũng không chắc là Nga có thể làm theo đúng tiến độ như mục tiêu mà Việt Nam đề ra "Nga thì quyết tâm làm, khác với Nhật Bản. Họ còn có một chương trình hợp tác với Việt Nam rộng rãi hơn, bao gồm việc xây dựng trung tâm phát triển hạt nhân với lò phản ứng 10 MW và một số chuyện nữa liên quan đến nhiên liệu của trung tâm Đà Lạt. Đó là một dự án có thể nói là tổng hợp nhiều thứ và do đó việc họ phải làm dự án Ninh Thuận 1 là điều chắc chắn. Thế còn họ làm được đến mức nào thì như tôi nói khi nãy, căn cứ theo cái mà họ làm với Bangladesh thì thấy là trễ tiến độ khoảng hơn 7 năm. Cho nên nếu mà Việt Nam có làm, thì phải có những cọc mốc. Những cái cọc mốc đó rất là quan trọng, ví dụ như phải ký kết giữa hai bên, cam kết là nước Nga sẽ xây nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và cung cấp đủ tài chính để làm dự án. Cho đến bây giờ vẫn chưa thấy cọc mốc đó. Sau khi hai bên chính thức ký kết, có tiền bạc đủ rồi, tôi nghĩ ít nhất phải hơn 10 năm thì mới có thể hoàn thành được. Cho nên khả năng hoàn tất dự án vào năm 2035 đối với Nga cũng là không dễ. Tuy Nga chưa nói cụ thể hạn định nào,ví dụ như là bao giờ đổ mẻ bê tông đầu tiên để mà xây nhà lò , sau đó ít nhất là 7 năm, 8 năm thì mới hoàn thành. Bây giờ cho đến lúc đổ bê tông đầu tiên chưa thấy con đường đi như thế nào cả. Các nhà lãnh đạo Việt Nam có những kế hoạch, có những mục tiêu muốn đặt ra. Đối với một số công trình cổ điển thì có thể đặt kế hoạch năm này năm khác được, còn loại công trình này Việt Nam chưa hề có những trải nghiệm nào cả. Với kinh nghiệm trong những năm gần đây về xây các lò công suất lớn ở nhiều nước, kể cả những nước tư bản hiện đại, tôi cho rằng con đường đó sẽ không tồn tại lâu được. Những lò công suất trung bình, công suất bé có thể là giải pháp tổng thể cho bài toán điện hạt nhân của nhiều nước. Và nó cũng thích hợp với Việt Nam trong nhiều mặt, tức là về vấn đề chọn địa điểm, vấn đề vốn, vân vân... Có điều hiện nay chưa có nước nào đưa ra một lò thương mại hóa cho toàn thế giới cả. Mọi người đều có ý kiến là có thể loại lò đó sẽ chỉ được thương mại hóa sau năm 2030. Tôi nghĩ cũng có lý." Với sự chậm trễ trong các dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu điện trầm trọng và phải gấp rút tìm những nguồn năng lượng bổ sung, theo giáo sư Phạm Duy Hiển: "Tôi nghĩ là điều đó cần phải đem ra bàn bạc và đó là một nguy cơ có thể có. Hai nhà máy điện Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 đóng góp công suất rất lớn, mà bây giờ một nhà máy dứt khoát là không có rồi, cho nên là Việt Nam trong tương lai cho đến những năm 2040 là sẽ thiếu điện. Bây giờ trở lại dùng than thì khó .May ra hiện nay có một triển vọng là phát triển một số mỏ khí. Có những thông tin như vậy và cũng khá chắc chắn, thậm chí người ta cũng đã nói đến đường dẫn ống khí về đất liền. Tôi hy vọng đó là một nguồn có thể thay thế, nhưng cũng phải chờ những thông báo chính thức. Nếu không có những nguồn khí như vậy thì rõ ràng là Việt Nam phải đặt vấn đề lấy đâu ra nguồn để thay thế ít nhất là một nhà máy của Nhật sẽ không đưa vào hoạt động." Theo nguồn tin mà giáo sư Phạm Duy Hiển có được, Hàn Quốc đã chính thức nhận xây nhà máy điện hạt nhân thứ hai, thay chỗ của Nhật Bản và hiện "đang vào cuộc nhanh chóng". Tuy nhiên, hiện thông tin này chưa được chính thức xác nhận. Trong cuộc họp ngày 07/01 vừa qua, thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính đã bày tỏ quan ngại về sự chậm trễ trong dự án nhà máy hạt nhân, "tiến độ công việc chưa được như mong muốn, có nhiều vướng mắc phải tháo gỡ ngay như công tác đàm phán hiệp định hợp tác còn chậm, phụ thuộc nhiều vào các đối tác nước ngoài; bố trí vốn cho giải phóng mặt bằng…" Ông Phạm Minh Chính giao cho bộ Công Thương và bộ Ngoại Giao trong tháng 1/2026 phải kết thúc đàm phán với phía Nga về hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Đồng thời thủ tướng Việt Nam thúc giục tập đoàn Petrovietnam, bộ Công Thương, Bộ Ngoại Giao đề xuất lựa chọn thay thế Nhật Bản một đối tác mới "có công nghệ nguồn tiên tiến phù hợp với tình hình mới" để hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2. Nhưng có vẻ như Việt Nam không có lựa chọn nào khác ngoài việc phát triển các lò phản ứng hạt nhân kiểu module. Theo Nghị quyết phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, được Quốc Hội Việt Nam thông qua, có hiệu lực từ ngày 1.3.2026, chính phủ được giao ban hành cơ chế đầu tư phát triển điện hạt nhân (ĐHN) module nhỏ (SMR) "theo từng thời kỳ, căn cứ nhu cầu và tình hình thương mại hóa công nghệ và đảm bảo an ninh, an toàn hạt nhân".
Nhu cầu tiêu thụ điện của ngành công nghiệp Việt Nam, nơi đặt cơ sở sản xuất của nhiều tập đoàn đa quốc gia như Samsung và Apple, thường xuyên vượt quá nguồn cung, vốn bị ảnh hưởng bởi thời tiết cực đoan ngày càng thường xuyên, như hạn hán và mưa bão. Trước tình hình này, Việt Nam muốn tăng sản lượng điện từ nhiều nguồn, chủ yếu là năng lượng tái tạo và khí đốt, nhưng các dự án đã bị chậm trễ và gặp trắc trở do các vấn đề quy định và giá cả, cho nên nay rất trông chờ vào điện hạt nhân. Sau khi quyết định khởi động lại chương trình năng lượng hạt nhân vào năm ngoái, Việt Nam đã giao cho Nga thực hiện dự án Ninh Thuận 1 và Nhật Bản thực hiện dự án Ninh Thuận 2. Vào đầu tháng 12 vừa qua, chính phủ Việt Nam vừa phê duyệt danh mục các công trình và dự án được xếp vào nhóm quan trọng quốc gia, trọng điểm của ngành năng lượng, trong đó có dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, 2 tại Khánh Hòa. Theo lộ trình của chính phủ, 2 nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2 tại Khánh Hòa, công suất 2.000-3.200MW, dự kiến sẽ được đưa vào hoạt động trong giai đoạn 2030-2035. Thế nhưng, chỉ vài ngày sau, Nhật Bản, một trong hai đối tác mà Việt Nam đã chọn, lại thông báo rút khỏi dự án hạt nhân. Hôm 08/12/2025, đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Naoki Ito nói với hãng tin Anh Reuters rằng Nhật Bản đã rút khỏi kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân quy mô lớn tại Việt Nam “vì thời gian quá gấp rút”. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 16/12/2025, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt, giải thích: "Thông tin mà đại sứ Nhật ở Việt Nam nêu ra tóm tắt là như thế này: Đấy là những công trình rất là lớn và tiêu chuẩn an toàn của nó thì càng ngày càng cao, mà Việt Nam đặt thời hạn quá gấp, tức là muốn năm 2035 phải xong. Ông ấy cho là không khả thi. Tôi thấy cũng đúng thôi: Đấy là loại lò thế hệ III+, tức là có trang bị các thiết bị chống lại mất an toàn bằng phương pháp thụ động. Trong thời gian gần đây, các lò có công suất tương đương như thế được xây ở Mỹ , ở Phần Lan, ở Trung Quốc, đặc biệt ở Bangladesh, do Nga giúp xây dựng. Công trình rất lớn và rất phức tạp, đòi hỏi tiêu chuẩn an toàn cao, nhưng Việt Nam lại yêu cầu là năm 2035 phải xong, thậm chí Việt Nam còn có một yêu cầu khác, tức là trong quá trình xây dựng lò như thế thì phải có chuyển giao công nghệ. Những điều đó là Nhật không thể thực hiện được. Nhật còn nói thêm là bây giờ, sau vụ Fukushima, hiện nay là ở Nhật cũng có những đòi hỏi về xây các lò phản ứng mới. Do đó họ không đủ khả năng để làm theo yêu cầu của Việt Nam. Căn cứ trên kết quả xây các lò loại thế hệ III + ở các nước thì đều hoặc là trễ tiến độ, hoặc là đội giá thành lên gấp một vài lần. Ở Bangladesh chẳng hạn, công trình do Nga trực tiếp làm đáng lý ra phải được đưa vào vận hành năm 2023, nhưng đã trễ sang năm 2024, rồi lùi sang năm 2025 và bây giờ phải đến tháng 12/26 may ra mới có thể vận hành được. Như thế rõ ràng việc xây dựng các lò lớn như thế hiện nay là một vấn đề rất khó khăn." Quyết định của Tokyo có thể làm phức tạp thêm chiến lược dài hạn của Việt Nam phát triển điện hạt nhân nhằm tránh tình trạng thiếu điện. Nói cách khác, Việt Nam khó mà đạt mục tiêu về thời hạn đặt ra cho 2 dự án nhà máy hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2: "Bây giờ Nhật Bản từ chối, như thế là Việt Nam cũng sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện các mục tiêu lớn của Việt Nam: phải có điện là một, điện sạch là hai và ngoài ra đến năm 2050 phải đạt trung hòa carbon. Những mục tiêu đó là rất là khó đạt. Nhưng đại sứ Nhật cũng có nói Nhật mở ra một khả năng, tức là sẽ tham gia phát triển các công nghệ lò gọi là lò module, có thể lắp ghép được, gọi là SMR, công suất khoảng vài trăm megawatt. Nhật Bản sẽ hợp tác với Việt Nam trong các dự án đó." Sau khi Nhật Bản rút khỏi dự án Ninh Thuận 2, phía Nga đã trấn an là họ sẽ không bỏ rơi Việt Nam. Theo báo chí trong nước, trong cuộc điện đàm ngày 11/12 với thủ tướng Phạm Minh Chính, tổng giám đốc Tập đoàn Rosatom của Nga đã cam kết hợp tác với Việt Nam "xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 theo công nghệ hiện đại nhất." Tuy nhiên, theo giáo sư Phạm Duy Hiển, cũng không chắc là Nga có thể làm theo đúng tiến độ như mục tiêu mà Việt Nam đề ra "Nga thì quyết tâm làm, khác với Nhật Bản. Họ còn có một chương trình hợp tác với Việt Nam rộng rãi hơn, bao gồm việc xây dựng trung tâm phát triển hạt nhân với lò phản ứng 10 MW và một số chuyện nữa liên quan đến nhiên liệu của trung tâm Đà Lạt. Đó là một dự án có thể nói là tổng hợp nhiều thứ và do đó việc họ phải làm dự án Ninh Thuận 1 là điều chắc chắn. Thế còn họ làm được đến mức nào thì như tôi nói khi nãy, căn cứ theo cái mà họ làm với Bangladesh thì thấy là trễ tiến độ khoảng hơn 7 năm. Cho nên nếu mà Việt Nam có làm, thì phải có những cọc mốc. Những cái cọc mốc đó rất là quan trọng, ví dụ như phải ký kết giữa hai bên, cam kết là nước Nga sẽ xây nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và cung cấp đủ tài chính để làm dự án. Cho đến bây giờ vẫn chưa thấy cọc mốc đó. Sau khi hai bên chính thức ký kết, có tiền bạc đủ rồi, tôi nghĩ ít nhất phải hơn 10 năm thì mới có thể hoàn thành được. Cho nên khả năng hoàn tất dự án vào năm 2035 đối với Nga cũng là không dễ. Tuy Nga chưa nói cụ thể hạn định nào,ví dụ như là bao giờ đổ mẻ bê tông đầu tiên để mà xây nhà lò , sau đó ít nhất là 7 năm, 8 năm thì mới hoàn thành. Bây giờ cho đến lúc đổ bê tông đầu tiên chưa thấy con đường đi như thế nào cả. Các nhà lãnh đạo Việt Nam có những kế hoạch, có những mục tiêu muốn đặt ra. Đối với một số công trình cổ điển thì có thể đặt kế hoạch năm này năm khác được, còn loại công trình này Việt Nam chưa hề có những trải nghiệm nào cả. Với kinh nghiệm trong những năm gần đây về xây các lò công suất lớn ở nhiều nước, kể cả những nước tư bản hiện đại, tôi cho rằng con đường đó sẽ không tồn tại lâu được. Những lò công suất trung bình, công suất bé có thể là giải pháp tổng thể cho bài toán điện hạt nhân của nhiều nước. Và nó cũng thích hợp với Việt Nam trong nhiều mặt, tức là về vấn đề chọn địa điểm, vấn đề vốn, vân vân... Có điều hiện nay chưa có nước nào đưa ra một lò thương mại hóa cho toàn thế giới cả. Mọi người đều có ý kiến là có thể loại lò đó sẽ chỉ được thương mại hóa sau năm 2030. Tôi nghĩ cũng có lý." Với sự chậm trễ trong các dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu điện trầm trọng và phải gấp rút tìm những nguồn năng lượng bổ sung, theo giáo sư Phạm Duy Hiển: "Tôi nghĩ là điều đó cần phải đem ra bàn bạc và đó là một nguy cơ có thể có. Hai nhà máy điện Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 đóng góp công suất rất lớn, mà bây giờ một nhà máy dứt khoát là không có rồi, cho nên là Việt Nam trong tương lai cho đến những năm 2040 là sẽ thiếu điện. Bây giờ trở lại dùng than thì khó .May ra hiện nay có một triển vọng là phát triển một số mỏ khí. Có những thông tin như vậy và cũng khá chắc chắn, thậm chí người ta cũng đã nói đến đường dẫn ống khí về đất liền. Tôi hy vọng đó là một nguồn có thể thay thế, nhưng cũng phải chờ những thông báo chính thức. Nếu không có những nguồn khí như vậy thì rõ ràng là Việt Nam phải đặt vấn đề lấy đâu ra nguồn để thay thế ít nhất là một nhà máy của Nhật sẽ không đưa vào hoạt động." Theo nguồn tin mà giáo sư Phạm Duy Hiển có được, Hàn Quốc đã chính thức nhận xây nhà máy điện hạt nhân thứ hai, thay chỗ của Nhật Bản và hiện "đang vào cuộc nhanh chóng". Tuy nhiên, hiện thông tin này chưa được chính thức xác nhận. Trong cuộc họp ngày 07/01 vừa qua, thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính đã bày tỏ quan ngại về sự chậm trễ trong dự án nhà máy hạt nhân, "tiến độ công việc chưa được như mong muốn, có nhiều vướng mắc phải tháo gỡ ngay như công tác đàm phán hiệp định hợp tác còn chậm, phụ thuộc nhiều vào các đối tác nước ngoài; bố trí vốn cho giải phóng mặt bằng…" Ông Phạm Minh Chính giao cho bộ Công Thương và bộ Ngoại Giao trong tháng 1/2026 phải kết thúc đàm phán với phía Nga về hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Đồng thời thủ tướng Việt Nam thúc giục tập đoàn Petrovietnam, bộ Công Thương, Bộ Ngoại Giao đề xuất lựa chọn thay thế Nhật Bản một đối tác mới "có công nghệ nguồn tiên tiến phù hợp với tình hình mới" để hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2. Nhưng có vẻ như Việt Nam không có lựa chọn nào khác ngoài việc phát triển các lò phản ứng hạt nhân kiểu module. Theo Nghị quyết phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, được Quốc Hội Việt Nam thông qua, có hiệu lực từ ngày 1.3.2026, chính phủ được giao ban hành cơ chế đầu tư phát triển điện hạt nhân (ĐHN) module nhỏ (SMR) "theo từng thời kỳ, căn cứ nhu cầu và tình hình thương mại hóa công nghệ và đảm bảo an ninh, an toàn hạt nhân".
Tháng 10/2025, tổng thống Mỹ Donald Trump đến Kuala Lumpur, Malaysia, họp thượng đỉnh với các nước ASEAN nhằm trấn an đồng minh, đối tác. Hoa Kỳ đã ký nhiều thỏa thuận, cam kết liên quan đến an ninh với Việt Nam, Malaysia, Philippines, Cam Bốt. Liệu Đông Nam Á lại trở thành tâm điểm trong chính sách đối ngoại của Mỹ năm 2026 ? Tại sao Washington lại tái khẳng định hiện diện mạnh mẽ hơn ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Biển Đông, trong thời điểm này ? Liệu những cam kết như vậy có lợi cho Việt Nam không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon, tại Viện Đông Á (Institut d'Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. RFI : Việc Hoa Kỳ trở lại hội nghị thượng đỉnh châu Á gửi đi một tín hiệu chính trị mạnh mẽ. Washington thực sự đang tìm kiếm điều gì thông qua việc tái khẳng định sự hiện diện của họ ở Đông Nam Á này ? Laurent Gédéon : Đúng là Pete Hegseth đã đến Kuala Lumpur ngày 30/10/2025 để tham dự cuộc họp của các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng. Có thể thấy rõ Mỹ muốn tận dụng cơ hội này để tái khởi động mối quan hệ với ba kiểu quốc gia : Trung Quốc ; các nước trong khu vực có quan hệ tốt nhưng không mang tính chiến lược ; các nước có mối liên hệ chặt chẽ với Mỹ về quốc phòng. Ông Hegseth đã gặp bộ trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Đổng Quân để thảo luận về việc nối lại các cuộc trao đổi quân sự trực tiếp giữa Washington và Bắc Kinh, nhưng cũng chia sẻ những lo ngại của Mỹ về hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và xung quanh Đài Loan. Thông qua cuộc gặp với người đồng cấp Trung Quốc, bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ muốn tái khẳng định cam kết của Washington về hai vấn đề này. Rất có thể là việc tỏ thái độ kiên quyết đó chủ yếu nhằm mục đích trấn an các bên khác tham dự hội cấp cao về quyết tâm của Washington. Ngoài ra, ông Hegseth cũng đã tận dụng cơ hội đó để ký nhiều thỏa thuận quân sự với ba quốc gia trong khu vực. Trước tiên là với Philippines, ông Hegseth gặp bộ trưởng Quốc Phòng Philippines và tuyên bố thành lập Lực lượng Đặc nhiệm Philippines (Task Force-Philippines). Đây là một sáng kiến chung nhằm cải thiện sự hợp tác và khả năng tương tác giữa Mỹ và Philippines trong trường hợp khẩn cấp ở Biển Đông và các khu vực khác. Đọc thêmMỹ và Malaysia củng cố hợp tác quốc phòng ở Biển Đông để đối phó với "chiến thuật vùng xám" Với Malaysia, ông Hegseth đã họp với bộ trưởng Quốc Phòng Mohamed Khaled Nordin. Hai bên đã ký một bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng, công bố gia hạn thỏa thuận chung về mua sắm thiết bị quân sự và hỗ trợ nhau. Và cuối cùng, với Cam Bốt, ông và người đồng cấp Cam Bốt đã tuyên bố nối lại cuộc tập trận chung thường niên, vốn bị đình chỉ từ năm 2017. Hai bên cũng đề cập đến khả năng một tàu chiến của Mỹ đến thăm Căn cứ Hải quân Ream ở Cam Bốt. Căn cứ này được Trung Quốc hỗ trợ hiện đại hóa và lực lượng Trung Quốc được hưởng quyền tiếp cận đặc biệt. Tất cả những yếu tố này, bao gồm cả cuộc gặp với bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam, đều thể hiện rõ mong muốn tái đầu tư của Mỹ vào khu vực và, thông qua các thỏa thuận này, mong muốn tích hợp một số nước trong khu vực vào một cấu trúc an ninh trong tương lai mà phần nào có thể nhắm đến Trung Quốc. RFI : “Nước Mỹ trên hết không có nghĩa là Nước Mỹ đơn độc”. Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ đối với khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Điều này đã được thể hiện qua quan hệ đối tác an ninh giữa Mỹ với Malaysia và với Philippines, như ông đã giải thích. Liệu sự trở lại ấn tượng như vậy có thuyết phục được các nước ASEAN và có lợi cho họ không, khi mà những nước này không hề nhắc đích danh Bắc Kinh trong những lời chỉ trích về hành động gây bất ổn của Trung Quốc ? Laurent Gédéon : Đúng vậy, không gian hàng hải đã được nhấn mạnh thành trọng tâm bởi vì trong tuyên bố ngày 01/11/2025, ông Hegseth nói : Chúng tôi đang thực hiện nguyên tắc “Nước Mỹ trên hết”. Nhưng “Nước Mỹ trên hết” không có nghĩa là chỉ riêng nước Mỹ. Nó có nghĩa là cùng với các đồng minh và đối tác của chúng tôi, những bên có khả năng duy trì an ninh, ổn định, tự do hàng hải và cuối cùng là hòa bình. Mặc dù các nước ASEAN không nêu đích danh Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh đã được bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ nhắc đến rất nhiều. Ví dụ, trong cuộc họp không chính thức, ông Hegseth đã cảnh báo các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN về mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra cho chủ quyền của nước họ. Ông nói : Hành động của Trung Quốc là một lời cảnh tỉnh... Các hành động khiêu khích của Trung Quốc cũng thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với đất nước của quý vị, thách thức và đe dọa chủ quyền lãnh thổ của đất nước quý vị. Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ trong việc duy trì một khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương an toàn và ổn định. Ông cũng cổ vũ sự hợp tác giữa Mỹ và ASEAN để phát triển nhận thức tình hình hàng hải chung, đặc biệt là ở Biển Đông. Đây là điểm quan trọng. Thêm vào đó, ngày 09/09, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đã nói với người đồng cấp Trung Quốc Đổng Quân rằng Mỹ có những lợi ích sống còn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mà Washington coi là một khu vực hoạt động ưu tiên, và Mỹ sẽ kiên quyết bảo vệ những lợi ích đó. Tuy nhiên, có thể nhận thấy cho dù Mỹ thể hiện quyết đoán, có lập trường vững chắc như vậy, các quốc gia trong khu vực vẫn còn khá lưỡng lự về mức độ cam kết của Washington đối với các vấn đề như Biển Đông và Đài Loan. Thái độ lưỡng lự này được thôi thúc bởi điều được gọi là “sự mơ hồ chiến lược” của Mỹ, khi Washington không nêu rõ là sẽ tham gia hay không, hoặc là họ sẽ tham gia như thế nào vào một cuộc xung đột công khai với Trung Quốc. RFI : Sự trở lại của Mỹ, hay nói đúng hơn là sự tăng cường cam kết của Mỹ đối với khu vực có thể sẽ mang lại lợi ích như thế nào cho Việt Nam ? Laurent Gédéon : Tôi nghĩ rằng bất kỳ sự tái đầu tư nào của Mỹ vào khu vực, nếu không dẫn đến xung đột trực tiếp với Trung Quốc, đều chỉ có lợi cho Việt Nam, vì nó củng cố cán cân chiến lược khu vực và giảm bớt quan hệ bất đối xứng với Trung Quốc, ngay cả khi không có thỏa thuận quân sự chính thức giữa Hà Nội và Washington. Đọc thêmBiển Đông, Trung Quốc : Việt Nam cần đề phòng khả năng Trump "rũ áo" như với Ukraina? Do đó, chắc chắn rằng lập trường kiên quyết của ông Hegseth, đặc biệt là về Biển Đông, chỉ có thể được Hà Nội hoan nghênh vì nó phù hợp với các tuyên bố và yêu cầu của Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn tồn đọng một sự bất trắc chiến lược, đặc biệt là về ý muốn thực sự của Mỹ trong việc ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc bằng vũ lực nếu tình hình đòi hỏi. Điểm bất trắc thứ hai liên quan đến kết quả của một cuộc đối đầu tiềm tàng giữa Trung Quốc và Mỹ. Các kịch bản được thảo ra cho kết quả khác nhau, và không phải tất cả đều cho rằng lực lượng Mỹ thắng quân đội Trung Quốc. Do đó, tôi tin rằng những điểm không chắc chắn này sẽ khiến Việt Nam tiếp tục thận trọng trong lập trường ngoại giao, ưu tiên giữ trung lập giữa Washington và Bắc Kinh để bảo vệ tương lai của mình. RFI : Thỏa thuận được gọi là “Thỏa thuận hòa bình” giữa Thái Lan và Cam Bốt được ký kết dưới sự bảo trợ của tổng thống Mỹ Donald Trump. Sự kiện này cho thấy mức độ ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nhưng liệu kiểu ảnh hưởng đó, dưới sự đe dọa về hậu quả kinh tế, có bền vững hay không ? Laurent Gédéon : Chính sách của chính quyền Trump nhìn chung được coi là tương đối khó đoán, điều này làm suy yếu niềm tin vào tính ổn định chiến lược của Hoa Kỳ. Về thỏa thuận do Donald Trump, thủ tướng Thái Lan và thủ tướng Cam Bốt cùng ký, mặc dù được mô tả là một “thỏa thuận hòa bình”, nhưng nó giống với một thỏa thuận ngừng bắn hơn, bởi vì không giải quyết được vấn đề cốt lõi, liên quan đến tranh chấp biên giới giữa hai nước. Đọc thêmChính sách thuế của Trump cản trở chiến lược « xoay trục sang châu Á » của Mỹ Đúng là Donald Trump tự nhận là đóng vai trò quan trọng trong quá trình này, nhất là bằng cách đe dọa đình chỉ các cuộc đàm phán thương mại với cả hai nước và tăng thuế quan. Điều này diễn ra trong bối cảnh Cam Bốt lúc đó chịu mức thuế 49% và Thái Lan 36%. Rõ ràng là áp lực của Mỹ đã thúc đẩy cả hai bên tạm ngừng giao tranh nhưng không chấm dứt được xung đột. Hơn nữa, hai quốc gia khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tạm thời tranh chấp : Malaysia, quốc gia giữ chức chủ tịch ASEAN năm 2025, và Trung Quốc. Cả Kuala Lumpur và Bắc Kinh đều gây áp lực để ngăn chặn xung đột leo thang, bởi vì sẽ đi ngược lại lợi ích của họ. Do đó, sáng kiến của Mỹ quan trọng nhưng cần được xem xét dưới góc độ hai hạn chế sau đây : Thứ nhất, đây không phải là một giải pháp dứt điểm cho xung đột, mà chỉ là một thỏa thuận ngừng bắn ; Thứ hai, điều đó chỉ có thể thực hiện được nhờ hành động phối hợp, dù kín đáo, của hai quốc gia khác. Và đó chính là cách mà các nước trong khu vực nhìn nhận và phân tích. RFI : Philippines giữ chức chủ tịch luân phiên ASEAN năm 2026. Manila có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc, cùng với cam kết của Mỹ, về vấn đề Biển Đông. Chúng ta có thể kỳ vọng những diễn biến nào trong năm 2026 ? Laurent Gédéon : Đúng là rất khó để dự đoán tương lai. Nhưng những yếu tố hiện có cho thấy Philippines, quốc gia đã xích lại gần hơn đáng kể với Mỹ kể từ khi ông Ferdinand Marcos Jr. lên nắm quyền vào năm 2022, có thể sẽ tìm cách thúc đẩy một động thái cứng rắn hơn, hoặc thậm chí là cưỡng chế, đối với Trung Quốc. Ví dụ, Philippines có thể sẽ cố gắng khôi phục việc xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) ở Biển Đông. Dự án này có từ năm 2002 nhưng chưa bao giờ thành hiện thực, chủ yếu là do Trung Quốc thiếu hành động. Chính quyền Manila cũng có thể cố gắng đạt được sự lên án rõ ràng đối với các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông, điều mà ASEAN chưa từng làm cho đến nay. Tuy nhiên, Philippines sẽ phải tính đến việc các nước thành viên ASEAN có mức độ quan hệ khác nhau với Trung Quốc, điển hình như các nước Cam Bốt, Thái Lan và Miến Điện sẽ cố gắng làm giảm nhẹ bất kỳ sáng kiến nào của nước chủ tịch ASEAN mà họ coi là không thân thiện, hoặc quá không thân thiện với Trung Quốc. Đọc thêmPhilippines-Mỹ-Nhật diễn tập tại Biển Đông, Trung Quốc kêu gọi Manila ngừng khiêu khích Một điểm đáng chú ý khác, có thể sẽ được quan tâm trong năm 2026, liên quan đến Đài Loan và khả năng Trung Quốc tiến hành hành động quân sự nhắm đến hòn đảo. Nếu kịch bản này xảy ra và Mỹ can thiệp, Philippines sẽ ở tuyến đầu, thậm chí có thể là một bên tham chiến. Trong giả thuyết này, câu hỏi đặt ra là về khả năng hành động và mức độ chủ động của Philippines trong ASEAN, bởi vì Philippines vừa là một bên tham gia xung đột vừa giữ chức chủ tịch ASEAN. Do đó, năm 2026 chắc chắn sẽ có rất nhiều biến động và cần được theo dõi sát sao. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon.
Tháng 10/2025, tổng thống Mỹ Donald Trump đến Kuala Lumpur, Malaysia, họp thượng đỉnh với các nước ASEAN nhằm trấn an đồng minh, đối tác. Hoa Kỳ đã ký nhiều thỏa thuận, cam kết liên quan đến an ninh với Việt Nam, Malaysia, Philippines, Cam Bốt. Liệu Đông Nam Á lại trở thành tâm điểm trong chính sách đối ngoại của Mỹ năm 2026 ? Tại sao Washington lại tái khẳng định hiện diện mạnh mẽ hơn ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Biển Đông, trong thời điểm này ? Liệu những cam kết như vậy có lợi cho Việt Nam không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon, tại Viện Đông Á (Institut d'Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. RFI : Việc Hoa Kỳ trở lại hội nghị thượng đỉnh châu Á gửi đi một tín hiệu chính trị mạnh mẽ. Washington thực sự đang tìm kiếm điều gì thông qua việc tái khẳng định sự hiện diện của họ ở Đông Nam Á này ? Laurent Gédéon : Đúng là Pete Hegseth đã đến Kuala Lumpur ngày 30/10/2025 để tham dự cuộc họp của các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng. Có thể thấy rõ Mỹ muốn tận dụng cơ hội này để tái khởi động mối quan hệ với ba kiểu quốc gia : Trung Quốc ; các nước trong khu vực có quan hệ tốt nhưng không mang tính chiến lược ; các nước có mối liên hệ chặt chẽ với Mỹ về quốc phòng. Ông Hegseth đã gặp bộ trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Đổng Quân để thảo luận về việc nối lại các cuộc trao đổi quân sự trực tiếp giữa Washington và Bắc Kinh, nhưng cũng chia sẻ những lo ngại của Mỹ về hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và xung quanh Đài Loan. Thông qua cuộc gặp với người đồng cấp Trung Quốc, bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ muốn tái khẳng định cam kết của Washington về hai vấn đề này. Rất có thể là việc tỏ thái độ kiên quyết đó chủ yếu nhằm mục đích trấn an các bên khác tham dự hội cấp cao về quyết tâm của Washington. Ngoài ra, ông Hegseth cũng đã tận dụng cơ hội đó để ký nhiều thỏa thuận quân sự với ba quốc gia trong khu vực. Trước tiên là với Philippines, ông Hegseth gặp bộ trưởng Quốc Phòng Philippines và tuyên bố thành lập Lực lượng Đặc nhiệm Philippines (Task Force-Philippines). Đây là một sáng kiến chung nhằm cải thiện sự hợp tác và khả năng tương tác giữa Mỹ và Philippines trong trường hợp khẩn cấp ở Biển Đông và các khu vực khác. Đọc thêmMỹ và Malaysia củng cố hợp tác quốc phòng ở Biển Đông để đối phó với "chiến thuật vùng xám" Với Malaysia, ông Hegseth đã họp với bộ trưởng Quốc Phòng Mohamed Khaled Nordin. Hai bên đã ký một bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng, công bố gia hạn thỏa thuận chung về mua sắm thiết bị quân sự và hỗ trợ nhau. Và cuối cùng, với Cam Bốt, ông và người đồng cấp Cam Bốt đã tuyên bố nối lại cuộc tập trận chung thường niên, vốn bị đình chỉ từ năm 2017. Hai bên cũng đề cập đến khả năng một tàu chiến của Mỹ đến thăm Căn cứ Hải quân Ream ở Cam Bốt. Căn cứ này được Trung Quốc hỗ trợ hiện đại hóa và lực lượng Trung Quốc được hưởng quyền tiếp cận đặc biệt. Tất cả những yếu tố này, bao gồm cả cuộc gặp với bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam, đều thể hiện rõ mong muốn tái đầu tư của Mỹ vào khu vực và, thông qua các thỏa thuận này, mong muốn tích hợp một số nước trong khu vực vào một cấu trúc an ninh trong tương lai mà phần nào có thể nhắm đến Trung Quốc. RFI : “Nước Mỹ trên hết không có nghĩa là Nước Mỹ đơn độc”. Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ đối với khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Điều này đã được thể hiện qua quan hệ đối tác an ninh giữa Mỹ với Malaysia và với Philippines, như ông đã giải thích. Liệu sự trở lại ấn tượng như vậy có thuyết phục được các nước ASEAN và có lợi cho họ không, khi mà những nước này không hề nhắc đích danh Bắc Kinh trong những lời chỉ trích về hành động gây bất ổn của Trung Quốc ? Laurent Gédéon : Đúng vậy, không gian hàng hải đã được nhấn mạnh thành trọng tâm bởi vì trong tuyên bố ngày 01/11/2025, ông Hegseth nói : Chúng tôi đang thực hiện nguyên tắc “Nước Mỹ trên hết”. Nhưng “Nước Mỹ trên hết” không có nghĩa là chỉ riêng nước Mỹ. Nó có nghĩa là cùng với các đồng minh và đối tác của chúng tôi, những bên có khả năng duy trì an ninh, ổn định, tự do hàng hải và cuối cùng là hòa bình. Mặc dù các nước ASEAN không nêu đích danh Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh đã được bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ nhắc đến rất nhiều. Ví dụ, trong cuộc họp không chính thức, ông Hegseth đã cảnh báo các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN về mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra cho chủ quyền của nước họ. Ông nói : Hành động của Trung Quốc là một lời cảnh tỉnh... Các hành động khiêu khích của Trung Quốc cũng thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với đất nước của quý vị, thách thức và đe dọa chủ quyền lãnh thổ của đất nước quý vị. Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ trong việc duy trì một khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương an toàn và ổn định. Ông cũng cổ vũ sự hợp tác giữa Mỹ và ASEAN để phát triển nhận thức tình hình hàng hải chung, đặc biệt là ở Biển Đông. Đây là điểm quan trọng. Thêm vào đó, ngày 09/09, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đã nói với người đồng cấp Trung Quốc Đổng Quân rằng Mỹ có những lợi ích sống còn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mà Washington coi là một khu vực hoạt động ưu tiên, và Mỹ sẽ kiên quyết bảo vệ những lợi ích đó. Tuy nhiên, có thể nhận thấy cho dù Mỹ thể hiện quyết đoán, có lập trường vững chắc như vậy, các quốc gia trong khu vực vẫn còn khá lưỡng lự về mức độ cam kết của Washington đối với các vấn đề như Biển Đông và Đài Loan. Thái độ lưỡng lự này được thôi thúc bởi điều được gọi là “sự mơ hồ chiến lược” của Mỹ, khi Washington không nêu rõ là sẽ tham gia hay không, hoặc là họ sẽ tham gia như thế nào vào một cuộc xung đột công khai với Trung Quốc. RFI : Sự trở lại của Mỹ, hay nói đúng hơn là sự tăng cường cam kết của Mỹ đối với khu vực có thể sẽ mang lại lợi ích như thế nào cho Việt Nam ? Laurent Gédéon : Tôi nghĩ rằng bất kỳ sự tái đầu tư nào của Mỹ vào khu vực, nếu không dẫn đến xung đột trực tiếp với Trung Quốc, đều chỉ có lợi cho Việt Nam, vì nó củng cố cán cân chiến lược khu vực và giảm bớt quan hệ bất đối xứng với Trung Quốc, ngay cả khi không có thỏa thuận quân sự chính thức giữa Hà Nội và Washington. Đọc thêmBiển Đông, Trung Quốc : Việt Nam cần đề phòng khả năng Trump "rũ áo" như với Ukraina? Do đó, chắc chắn rằng lập trường kiên quyết của ông Hegseth, đặc biệt là về Biển Đông, chỉ có thể được Hà Nội hoan nghênh vì nó phù hợp với các tuyên bố và yêu cầu của Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn tồn đọng một sự bất trắc chiến lược, đặc biệt là về ý muốn thực sự của Mỹ trong việc ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc bằng vũ lực nếu tình hình đòi hỏi. Điểm bất trắc thứ hai liên quan đến kết quả của một cuộc đối đầu tiềm tàng giữa Trung Quốc và Mỹ. Các kịch bản được thảo ra cho kết quả khác nhau, và không phải tất cả đều cho rằng lực lượng Mỹ thắng quân đội Trung Quốc. Do đó, tôi tin rằng những điểm không chắc chắn này sẽ khiến Việt Nam tiếp tục thận trọng trong lập trường ngoại giao, ưu tiên giữ trung lập giữa Washington và Bắc Kinh để bảo vệ tương lai của mình. RFI : Thỏa thuận được gọi là “Thỏa thuận hòa bình” giữa Thái Lan và Cam Bốt được ký kết dưới sự bảo trợ của tổng thống Mỹ Donald Trump. Sự kiện này cho thấy mức độ ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nhưng liệu kiểu ảnh hưởng đó, dưới sự đe dọa về hậu quả kinh tế, có bền vững hay không ? Laurent Gédéon : Chính sách của chính quyền Trump nhìn chung được coi là tương đối khó đoán, điều này làm suy yếu niềm tin vào tính ổn định chiến lược của Hoa Kỳ. Về thỏa thuận do Donald Trump, thủ tướng Thái Lan và thủ tướng Cam Bốt cùng ký, mặc dù được mô tả là một “thỏa thuận hòa bình”, nhưng nó giống với một thỏa thuận ngừng bắn hơn, bởi vì không giải quyết được vấn đề cốt lõi, liên quan đến tranh chấp biên giới giữa hai nước. Đọc thêmChính sách thuế của Trump cản trở chiến lược « xoay trục sang châu Á » của Mỹ Đúng là Donald Trump tự nhận là đóng vai trò quan trọng trong quá trình này, nhất là bằng cách đe dọa đình chỉ các cuộc đàm phán thương mại với cả hai nước và tăng thuế quan. Điều này diễn ra trong bối cảnh Cam Bốt lúc đó chịu mức thuế 49% và Thái Lan 36%. Rõ ràng là áp lực của Mỹ đã thúc đẩy cả hai bên tạm ngừng giao tranh nhưng không chấm dứt được xung đột. Hơn nữa, hai quốc gia khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tạm thời tranh chấp : Malaysia, quốc gia giữ chức chủ tịch ASEAN năm 2025, và Trung Quốc. Cả Kuala Lumpur và Bắc Kinh đều gây áp lực để ngăn chặn xung đột leo thang, bởi vì sẽ đi ngược lại lợi ích của họ. Do đó, sáng kiến của Mỹ quan trọng nhưng cần được xem xét dưới góc độ hai hạn chế sau đây : Thứ nhất, đây không phải là một giải pháp dứt điểm cho xung đột, mà chỉ là một thỏa thuận ngừng bắn ; Thứ hai, điều đó chỉ có thể thực hiện được nhờ hành động phối hợp, dù kín đáo, của hai quốc gia khác. Và đó chính là cách mà các nước trong khu vực nhìn nhận và phân tích. RFI : Philippines giữ chức chủ tịch luân phiên ASEAN năm 2026. Manila có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc, cùng với cam kết của Mỹ, về vấn đề Biển Đông. Chúng ta có thể kỳ vọng những diễn biến nào trong năm 2026 ? Laurent Gédéon : Đúng là rất khó để dự đoán tương lai. Nhưng những yếu tố hiện có cho thấy Philippines, quốc gia đã xích lại gần hơn đáng kể với Mỹ kể từ khi ông Ferdinand Marcos Jr. lên nắm quyền vào năm 2022, có thể sẽ tìm cách thúc đẩy một động thái cứng rắn hơn, hoặc thậm chí là cưỡng chế, đối với Trung Quốc. Ví dụ, Philippines có thể sẽ cố gắng khôi phục việc xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) ở Biển Đông. Dự án này có từ năm 2002 nhưng chưa bao giờ thành hiện thực, chủ yếu là do Trung Quốc thiếu hành động. Chính quyền Manila cũng có thể cố gắng đạt được sự lên án rõ ràng đối với các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông, điều mà ASEAN chưa từng làm cho đến nay. Tuy nhiên, Philippines sẽ phải tính đến việc các nước thành viên ASEAN có mức độ quan hệ khác nhau với Trung Quốc, điển hình như các nước Cam Bốt, Thái Lan và Miến Điện sẽ cố gắng làm giảm nhẹ bất kỳ sáng kiến nào của nước chủ tịch ASEAN mà họ coi là không thân thiện, hoặc quá không thân thiện với Trung Quốc. Đọc thêmPhilippines-Mỹ-Nhật diễn tập tại Biển Đông, Trung Quốc kêu gọi Manila ngừng khiêu khích Một điểm đáng chú ý khác, có thể sẽ được quan tâm trong năm 2026, liên quan đến Đài Loan và khả năng Trung Quốc tiến hành hành động quân sự nhắm đến hòn đảo. Nếu kịch bản này xảy ra và Mỹ can thiệp, Philippines sẽ ở tuyến đầu, thậm chí có thể là một bên tham chiến. Trong giả thuyết này, câu hỏi đặt ra là về khả năng hành động và mức độ chủ động của Philippines trong ASEAN, bởi vì Philippines vừa là một bên tham gia xung đột vừa giữ chức chủ tịch ASEAN. Do đó, năm 2026 chắc chắn sẽ có rất nhiều biến động và cần được theo dõi sát sao. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon.
Ngày 28/09/2025, nam ca sĩ Thế Sơn từ Hoa Kỳ đã sang Paris để trình diễn trong chương trình kỷ niệm 30 năm định cư tại Pháp của nữ ca sĩ Lệ Thu Nguyễn. Chuyến lưu diễn tại Pháp lần này cũng đánh dấu 40 năm sự nghiệp ca nhạc của Thế Sơn, vốn đã nổi tiếng từ khi còn ở Việt Nam và sau khi đến Hoa Kỳ định cư đã cộng tác trong suốt nhiều năm với các trung tâm Thúy Nga và Asia, trở thành một tên tuổi quen thuộc trên các sân khấu hải ngoại. Nhân dịp sang Paris, Thế Sơn đã dành cho RFI Việt ngữ một bài phỏng vấn sau đây: Hôm nay RFI Việt ngữ rất vui mừng được tiếp chuyện với nam ca sĩ Thế Sơn tại Paris. Trước tiên Thế Sơn xin kính chào quý vị khán thính giả của RFI và xin mến chào anh Thanh Phương. Đây không biết là lần thứ bao nhiêu rồi Thế Sơn đến với thủ đô nước Pháp. Đối với Thế Sơn, Paris chắc không có gì xa lạ? Kính thưa quý vị, Thế Sơn rất yêu mến Paris ngay từ khi còn ở Việt Nam và Thế Sơn cũng có rất nhiều họ hàng định cư ở Paris trước đây rất lâu. Sơn cũng có may mắn là trước đây cộng tác với Paris by night, cho nên qua thu hình cũng như qua trình diễn tại Paris rất nhiều. Thế Sơn học Lasan Taberd, lúc đó không còn chương trình Pháp nữa mà là chương trình Việt, nhưng Sơn học sinh ngữ là Pháp văn. Sơn rất thích nhạc Pháp, rất thích phát âm tiếng Pháp, tại vì Sơn thấy Pháp ngữ phát âm rất là gọn, rất là bén, nghe hay lắm, êm tai lắm! Bây giờ trở lại từ khởi đầu sự nghiệp ca nhạc của Thế Sơn. Lúc đầu chắc là Thế Sơn đâu có tính chọn con đường ca nhạc, vì hình như là trước đây Thế Sơn học trường Trung học Sư phạm? Thưa anh và thưa quý vị, trong dòng họ Thế Sơn, ai cũng đi theo con đường học vấn. Đa số đều thành tài ở những lĩnh vực như kỹ sư, bác sĩ. Gia đình đều hướng con cái đi theo con đường học. Nhưng có thể là do duyên Trời hay đó là một cái nghiệp, trong họ hàng chỉ có mình Thế Sơn là rẻ qua đường ca nhạc thôi. Lúc đầu ba má Sơn cũng không ủng hộ. Má Sơn là giáo viên thành ra bà rất mẫu mực, vẫn còn theo xưa, bà không có thích giới văn nghệ, nên không ủng hộ Sơn vô con đường ca hát. Nhưng mà như Sơn đã nói, chính cái nghiệp cái duyên đưa đẩy Sơn vô con đường ca hát vào năm 1985. Vậy thì cơ duyên nào đã đẩy Thế Sơn vào con đường này? Khi Thế Sơn học Trung học Sư phạm, nhân dịp sinh hoạt hè ở Duyên Hải Cần Giờ khoảng năm 83, 84, buổi tối buồn không biết làm gì hết, cả lớp kéo nhau ra ngoài trời, đốt lửa trại rồi cầm đàn nghêu ngao hát, văn nghệ văn gừng với nhau. Thì Sơn cầm đàn và hát bài "Đó! Quê hương tôi" của Vĩnh Điện, thì bạn bè trong lớp ai cũng thích hết và thích giọng hát của Sơn. Có một thằng bạn thân nói: “Giọng mày hay lắm, học thêm thanh nhạc, luyện thêm là làm ca sĩ được”. Thì từ đó nó gieo vào đầu Sơn một tư tưởng là đi làm ca sĩ, chứ từ trước đến giờ Sơn chỉ hát chơi thôi và tánh mình cũng nhút nhát nên không nghĩ tới chuyện ra trước đám đông để trình diễn. Sơn đi học ngoài giờ ở nhạc viện, thì cũng rất may mắn có người thầy tên là Bùi Trần Tiến cũng thích giọng của Thế Sơn lắm, cho nên gợi ý với Thế Sơn là nếu muốn thi vô trường nhạc chính quy thì tới nhà thầy, thầy sẽ luyện thi miễn phí để thi đậu vô trường nhạc. Sơn nghe lời thầy và tới để thầy luyện, rồi sau đó thi đậu vô trường nhạc. Đó là lúc bắt đầu nghiệp ca hát luôn. Chúng tôi được biết là trong trường nhạc, Thế Sơn được dạy hát opera chứ không phải là hát nhạc pop như bây giờ. Như vậy là lúc đầu, đối với một người tuy có giọng ca bẩm sinh, có phải mất rất nhiều công sức để luyện tập hát được opera không? Opera là một môn nghệ thuật về ca hát rất khó. Có những người luyện cả đời cũng không được, vì không có giọng, không có giọng Trời cho. Lúc Sơn bắt đầu học, vì từ trước giờ mình hát giọng tự nhiên, nên không cảm nhận được thể loại opera. Lúc đó Sơn không thích, thật sự không thích opera, nhưng vô trong đó là bắt buộc phải hát opera. Hát loại nhạc modern ở ngoài, hát bằng giọng tự nhiên là bị thầy la liền! Nhưng sau thời gian học miệt mài ba năm thì giọng của Sơn mở ra theo đường hướng opera, nghe nó vang lắm. Đến chừng đó mình mới cảm nhận được và mới bắt đầu thích opera. Mình kiếm những cassette của Pavarotti nghe để học hỏi thêm, nghe những cassette của các ca sĩ cổ điển của Ý, của Nga để bắt chước luyện theo. Có lẽ nhờ học hát opera thành ra cái âm vực của Thế Sơn rất là rộng, Thế Sơn có thể đi từ cái nốt khá là trầm lên cái nốt rất là cao. Thì điều đó có giúp gì nhiều cho Thế Sơn trong con đường ca nhạc khi trở thành một ca sĩ nhạc pop? Thưa anh, giúp rất là nhiều. Hồi mới bắt đầu vô trường nhạc, Sơn chỉ lên được nốt mí thôi, mà đã căng thẳng lắm, rát cổ lắm! Nhưng tới bây giờ Sơn lên được tới nốt đô thăng lúc mà mình khỏe, tức là một khoảng rất rộng đối với một người ca sĩ, thành ra nó giúp ích rất nhiều khi mình hát. Mình không sợ hát bất cứ bài nào mà âm vực cao. Nhờ opera mình sẽ có thể hát được hết những bài nhạc của Việt Nam. Thế Sơn không chỉ hát những nốt rất cao mà có thể kéo dài cái nốt đó rất là lâu. Khi mà kết thúc mỗi bài hát chúng tôi thấy Thế Sơn thường là ngân chữ cuối cùng rất là lâu. Vâng, đó là do trong trường họ dạy mình luyện hơi, mình lấy hơi bụng và luyện để cho hơi của mình không mau hết, tức là mình xì ra từ từ để cho hơi mình kéo dài được. Nhưng nếu chúng ta ra ngoài mà hát như được học ở trường thì chắc khó mà thu hút được khán giả. Vậy thì làm sao Thế Sơn có thể làm cho giọng hát của mình thích ứng với loại nhạc phổ thông? Nếu đem nguyên si kỹ thuật hát opera ra ngoài thì rất ít khán giả biết thưởng thức thể loại nhạc đó. Mình hát kiểu đó là có thể bị đuổi vô. Ở Việt Nam hồi xưa khán giả khó tính lắm. Không đúng ý họ là họ đuổi thẳng vô! Khi Sơn học kỹ thuật opera rồi thì ra ngoài Sơn vẫn hát với giọng bình thường, giọng tự nhiên của mình. Sơn chỉ áp dụng kỹ thuật opera là lấy hơi. Tức là mình lấy hơi cho đầy phổi đầy thì mình hát câu dài hơn và không bao giờ bị hụt hơi. Khán giả họ không thấy gì khác biệt với những ca sĩ khác hết. Chỉ khi lên cao thì Sơn mới sử dụng một chút kỹ thuật opera là mở cái vòm họng và cuốn họng thật lớn để mình có thể lên cao được. Với hành trang âm nhạc đó thì Thế Sơn đã bắt đầu bước vào con đường ca nhạc từ năm 1985. Thế Sơn giữ được những kỉ niệm nào về những ngày đầu tiên bước lên sân khấu? Kỷ niệm thì nhiều lắm, vì ở Việt Nam Sơn đi hát mỗi đêm ở các tụ điểm và nhiều khi hát những suất buổi trưa ở nhà hát Hòa Bình nữa. Rất là nhiều kỷ niệm. Nhưng Sơn nhớ một kỷ niệm là hồi Sơn hát ở nhà hát Hòa Bình, lúc đang học ở trường nhạc. Bữa đó thì nhà hát bị cúp điện ngay lúc Sơn đang hát. Lúc đó Sơn mới ngẫu hứng, nói với khán giả: "Trong lúc chờ họ mở máy phát điện riêng thì Sơn hát opera cho quý vị nghe, quý vị chịu không?" Thì khán giả ở dưới thích lắm, đồng ý, vì thấy lạ. Sơn hát bài hình như là "Mười năm tình cũ" hay bài gì đó bằng kỹ thuật opera, tức là hát cho nó vang thì cả khán phòng mấy ngàn người đều nghe được. Sơn hát một vài câu thôi là họ thích lắm, vỗ tay rất là nhiều. Điểm lại thời gian hát ở Việt Nam từ năm 85 cho đến khi Thế Sơn sang Hoa Kỳ định cư, con đường đó đã đóng góp như thế nào, làm phong phú hơn ở những điểm nào cho sự nghiệp âm nhạc của Thế Sơn? Thưa anh, trước tiên là mấy năm học ở trường nhạc cho mình vốn kiến thức, kỹ thuật opera để mình bổ sung ca nhạc nhẹ của mình ở ngoài. Đó là một cái may mắn và là một điều rất đáng quý đối với một người ca sĩ. Bên cạnh đó, trong 9 năm ở Việt Nam thì Sơn hát hằng đêm, hát mỗi ngày và có những ngày, vào những dịp lễ, Sơn hát một ngày tới 40 bài, từ sáng cho tới tối luôn, hát chỗ này, chỗ kia. Sơn hát miệt mài mỗi ngày trong suốt 9 năm. Đó là một hành trang rất đáng quý, là nơi để mình coi như là rèn luyện bản lĩnh sân khấu, để khi Sơn bước ra một xứ lạ, một chỗ mới là hải ngoại, thì không bỡ ngỡ, vững vàng để tiếp tục ngay con đường ca hát của mình. Thế Sơn sang định cư ở Hoa Kỳ từ năm nào? Từ tháng 3 năm 1994 tại California, San Jose. Khi sang Hoa Kỳ thì Thế Sơn có được đi hát trở lại ngay hay là cũng phải đợi một thời gian? Sơn rất may mắn là qua Mỹ 10 ngày sau Sơn hát liền ở vũ trường Lido tại San Jose. Hát cuối tuần thôi, nhưng cũng có đi show một vài nơi ở Stockton này kia. Sơn may mắn được hát liền tại San Jose. Khoảng vài tháng sau là Paris by Night bay lên San Jose để ký với độc quyền với Thế Sơn. Thế Sơn đã hát độc quyền cho Paris by Night hình như khoảng 20 năm phải không? Dạ đúng 20 năm. Tháng 7 năm 1994 là Sơn ký contract ( hợp đồng ) với Thúy Nga Paris by Night. Tới tháng 7 năm 2014 là đúng 20 năm, Sơn rời Thúy Nga để trở thành một một ca sĩ tự do. Chúng tôi biết là khi ở Việt Nam thì Sơn cũng có hát khá nhiều trong những đoàn ca nhạc như là Hương Miền Nam. Sang đến Hoa Kỳ, hát trên sân khấu Paris by Night, Thế Sơn thấy có sự khác biệt nào nhiều không? Thời mà Sơn hát ở Việt Nam thì văn nghệ chưa phát triển mạnh như bây giờ, còn đơn sơ lắm và còn nhiều thiếu sót lắm, chưa có chuyên nghiệp, chưa có professional. Nhưng khi Sơn qua hải ngoại mà được vô ngay một trung tâm lớn nhất tại hải ngoại là Paris by Night, Sơn thấy một sự khác biệt rất lớn, đó là họ tổ chức chặt chẽ lắm, đúng giờ, đúng giấc và đâu ra đó. Họ có một team để lo từng chi tiết trong một chương trình thâu hình. Sơn được cộng tác với những vũ công của Hollywood, rồi có những bài hòa âm bởi những nhạc sĩ người Mỹ rất là hay. Sơn học hỏi được rất nhiều điều có lợi cho nghề nghiệp trong thời gian cộng tác với Paris by Night về trình diễn với dancers. Trong phòng thâu thì có những chi tiết mà mình chưa thấy ra, thì chị Tô Ngọc Thủy với anh Huỳnh Thi đã gợi ý hướng dẫn để Sơn sửa những cái đó. Đó cũng là một trong những điều mà mình học hỏi được từ Paris by Night. Hai mươi năm đó đã giúp cho Thế Sơn trở thành một ca sĩ kỳ cựu của Paris by Night. Sau đó Thế Sơn cũng đã chuyển qua hát cho trung tâm Asia. Thời gian đó có những thay đổi gì đặc biệt đối với con đường nghệ thuật? Khoảng cuối năm 2014 thì Thế Sơn cộng tác với trung tâm Asia, với nhạc sĩ Trúc Hồ, cho tới 2018. Thật sự thì ở Paris by Night thời gian đó phải nói là thời hoàng kim của nhạc hải ngoại và cũng vì đó mà sự cạnh tranh rất là khốc liệt. Ai cũng muốn vô những trung tâm lớn như là Paris by Night. Thành ra mình phải cố gắng hết mức để giữ vững vị trí của mình trong trung tâm. Nhưng khi tới 2014 Sơn chuyển qua cộng tác với Asia thì Sơn cảm thấy nhẹ nhàng lắm, tại vì mình đã từng cộng tác với nơi mà cạnh tranh như vậy đó. Qua đây thì Asia rất là quý mến Thế Sơn và tạo mọi điều kiện để cộng tác với Thế Sơn rất tốt. Nhưng bên Asia thì có một số bài Sơn hướng về nhạc đấu tranh. Đó là một hướng mới: nhạc đấu tranh cho người dân thấp cổ bế miệng ở trong Việt Nam. Đó mà một chí hướng, một sự chọn lựa của Thế Sơn, chứ không phải do ai áp đặt? Đúng vậy. Lúc đó, thời gian khoảng 2014 -15, Sơn thấy cũng có nhiều khuất tất, nhiều bất công tại Việt Nam, cho nên Sơn nghĩ là một nghệ sĩ thì mình dùng tiếng hát của mình để mình góp phần lên tiếng nói ủng hộ cho những người dân nghèo tại Việt Nam. Trong những năm gần đây, có rất nhiều ca sĩ ở hải ngoại trở về Việt Nam để trình diễn, bởi vì đối với họ, Việt Nam là nơi mà có thể tìm được rất nhiều khán giả, nhất là đối với những người đã hát lâu năm bây giờ tìm được một lượng khán giả mới ở Việt Nam để tiếp tục sự nghiệp ca nhạc. Riêng Thế Sơn là một trong số rất hiếm hoi ca sĩ cho tới nay vẫn dứt khoát không trở về Việt Nam để trình diễn. Vậy thì lý do gì khiến cho Thế Sơn có quyết định như vậy? Như anh nói rất đúng là ở Việt Nam có khoảng 100 triệu dân thì lượng khán giả thích nhạc, thích tiếng hát của mình sẽ đông hơn rất nhiều so với ở hải ngoại, chỉ có vài triệu người Việt Nam mà sống rải rác, rồi một số bị đồng hóa vào dân bản xứ nữa. Cho nên ca sĩ bây giờ ai cũng muốn về Việt Nam hết. Nhưng Sơn cũng hơi lạ hơn người ta là Sơn nghĩ : Cuộc sống của mình đã rất ổn định rồi và bao nhiêu năm nay mình cũng chịu ơn của những khán giả hải ngoại. Phần rất là lớn nhờ họ mà mình tạo được tên tuổi cũng như một cuộc sống ổn định cho tới bây giờ, cho nên Sơn hát ở hải ngoại là cũng đủ rồi. Với lại ( về hát ) ở Việt Nam thì cũng có rất nhiều cái phiền phức, phe phái tùm lum hết. Một số nghệ sĩ nổi tiếng ở bên này về thì họ hay lợi dụng tên tuổi của người nghệ sĩ đó để họ tuyên truyền cho chế độ, cho nên Sơn không muốn điều đó. Không biết là trong thời gian qua thì ở Việt Nam có ai bắn tiếng sang hay là có người nhờ để mà mời Thế Sơn về nước hát không? Chuyện đó thì xảy ra lâu rồi, từ khoảng năm 2000 - 2001 tức là cách đây cũng 24 - 25 năm rồi. Đã có rất nhiều lời mời Sơn về Việt Nam, nhưng Sơn không nhận lời. Ngay cả có một lần Sơn nhớ là đang đi hát ở Calgary hay là Edmonton, ở Canada, thì có một cú phone từ Hà Nội mời Sơn về hát, nhưng Sơn từ chối. Rồi sau đó 2001 cũng có lời mời Sơn về làm liveshow và họ lo everything (tất cả ), Sơn chỉ về thôi, nhưng Sơn cũng từ chối. Rất, rất là nhiều lời mời. Nhưng sau này họ biết là Sơn không có ý muốn trở về cho nên họ thôi. Bây giờ đã 40 năm trên sân khấu ca nhạc, nhìn lại chặng đường đã qua, Thế Sơn có thấy là thời gian qua quá nhanh hay không? Hay là thấy rằng 40 năm vẫn còn chưa đủ, có thể còn tiếp tục thêm nữa? Bây giờ nhìn lại thì thấy thời gian qua nhanh. Nhưng mà phải nói là Trời thương, Tổ nghiệp đãi, cho nên mình vẫn còn sức khỏe để tiếp tục cống hiến. Sơn nghĩ nghề này không có tuổi về hưu. Khi nào hết duyên hoặc là không còn sức khỏe thì mình mới đành phải chia tay thôi, chứ còn bây giờ mình vẫn tiếp tục trau dồi để cống hiến khán giả. Mình hát vì đó là cái nghiệp và cũng là cái sở thích của mình. Thế Sơn có thể "bật mí" cho các khán giả biết là những cái bí quyết nào giúp cho Thế Sơn giữ được giọng ca cho tới ngày hôm nay, tức là vẫn hát rất khỏe, giọng rất cao, âm vực rất rộng? Thế Sơn nghĩ cái chính vẫn là bẩm sinh. Nếu mình không có giọng thì có học thanh nhạc, luyện giọng thế nào cũng khó lòng mà đi hát chuyên nghiệp trong suốt bao nhiêu năm. Cái thứ nhất là bẩm sinh và cái thứ hai là kỹ thuật opera. Và cái thứ ba rất quan trọng, ai cũng cần có, đó là giữ sức khỏe, giữ tinh thần cho lạc quan, thoải mái, đừng có bị stress, hay vướng vào một vấn đề gây phiền phức cho mình, để mình tập trung vô ca hát thôi. Giữ sức khỏe đối với Sơn là ăn ngủ đầy đủ, thậm chí ngủ cần hơn ăn. Ăn bình thường thôi nhưng mà ngủ là phải cần. Và không rượu bia, không thuốc lá. Tức là từ trước nay Thế Sơn không bao giờ dùng đến rượu bia, không hút thuốc luôn? Thuốc lá thì không bao giờ đụng tới, nhưng rượu bia thì ở Việt Nam thì có. Khán giả thích, hay mời mình trên sân khấu. Mình nể khán giả, chiều ý khán giả thành ra mình uống cũng nhiều lắm, có những show uống rất là nhiều. Nhưng sau đó Sơn nghĩ lại: chiều khán giả có nhiều cách khác để chiều, chiều kiểu đó gây hại cho sức khỏe, ảnh hưởng tới giọng hát, cho nên Sơn nghĩ mình phải tập trung 100% cho giọng hát. Người ta tới với mình vì người ta thích mình hát, chứ không phải là để lên cụng bia, để lấy những tiếng vỗ tay. Cho nên bao nhiêu năm nay Sơn không có một giọt rượu giọt bia nào trong người. Sơn có nói một trong những cái bí quyết để giữ giọng hát tồn tại lâu dài như vậy là chúng ta phải có một cuộc sống thoải mái, không có ganh đua, không có tính toán, không có suy nghĩ gì nhiều. Chúng tôi thấy hình như Thế Sơn sống cuộc sống khá là bình lặng, không thấy xuất hiện nhiều trong giới show biz ở bên Mỹ? Dạ đúng. Không hiểu sao ở Việt Nam trước đây, mỗi ngày Sơn phải ra đường, chứ ở trong nhà Sơn chịu không được! Ra đường gặp các nhạc sĩ, các ký giả, ngồi ăn uống nhậu nhẹt. Ngày nào cũng ra đường, trưa nào cũng đi ăn với họ, tối thì đi hát. Nhưng khi qua tới Mỹ nữa thì mình lại không thích đi ra ngoài, cứ ru rú trong nhà! Hiếm lắm mình mới ra ngoài mình đi ăn uống thôi, còn không thì thích ở nhà hơn. Với lại bây giờ là thời đại internet, mình lên internet học hỏi được nhiều thứ. Thành ra mình sống nội tâm nhiều hơn và khép kín hơn. Ngoài người vợ ra thì Thế Sơn có những người bạn đồng hành, đó là những chú chim két. Vì sao Thế Sơn lại thích nuôi chim két như vậy? Thật sự đây cũng là cái duyên tự nhiên. Sơn có người anh họ thích nuôi chim lắm. Một bữa nọ, ảnh xúi Sơn nuôi két, nuôi con két đuôi dài. Rồi ảnh dẫn đi chợ chim, rồi đi những cái bird show, cái show. Sơn thấy con két đẹp quá mà lại biết nói, nên ẵm về nuôi luôn. Bây giờ Sơn có bốn con két, hai con két lớn, hai con két nhỏ. Có con nuôi từ mười mấy năm nay rồi. Két sống lâu lắm. Nuôi chó mèo hay thì thường khoảng mười mấy năm là nó "đi" rồi. Ai cũng nói nuôi một con chó đến khi nó chết thì đau buồn lắm, hụt hẫng lắm. Nhưng con két này thì mình chết trước nó! Nó sống lâu lắm! Nó vừa đẹp mà vừa biết nói nữa. Một động vật biết nói là hiếm lắm. Thành ra Sơn Sơn nuôi két, rồi dính luôn tới bây giờ! Vâng chúng tôi rất cảm ơn Thế Sơn đã dành thời gian cho chương trình hôm nay của RFI để điểm lại 40 năm ca nhạc của Thế Sơn và xin chúc Thế Sơn Sơn nhiều sức khỏe và nhiều thành công mới trên con đường ca nhạc. Cảm ơn anh Thanh Phương cũng như đài RFI đã tạo điều kiện cho Thế Sơn có dịp thưa chuyện với quý vị khán thính giả. Cũng xin kính chúc quý vị khán thính giả và gia đình anh Thanh Phương thật nhiều sức khỏe, nhiều may mắn, nhiều thành công và bình an trong cuộc sống.
Ngày 28/09/2025, nam ca sĩ Thế Sơn từ Hoa Kỳ đã sang Paris để trình diễn trong chương trình kỷ niệm 30 năm định cư tại Pháp của nữ ca sĩ Lệ Thu Nguyễn. Chuyến lưu diễn tại Pháp lần này cũng đánh dấu 40 năm sự nghiệp ca nhạc của Thế Sơn, vốn đã nổi tiếng từ khi còn ở Việt Nam và sau khi đến Hoa Kỳ định cư đã cộng tác trong suốt nhiều năm với các trung tâm Thúy Nga và Asia, trở thành một tên tuổi quen thuộc trên các sân khấu hải ngoại. Nhân dịp sang Paris, Thế Sơn đã dành cho RFI Việt ngữ một bài phỏng vấn sau đây: Hôm nay RFI Việt ngữ rất vui mừng được tiếp chuyện với nam ca sĩ Thế Sơn tại Paris. Trước tiên Thế Sơn xin kính chào quý vị khán thính giả của RFI và xin mến chào anh Thanh Phương. Đây không biết là lần thứ bao nhiêu rồi Thế Sơn đến với thủ đô nước Pháp. Đối với Thế Sơn, Paris chắc không có gì xa lạ? Kính thưa quý vị, Thế Sơn rất yêu mến Paris ngay từ khi còn ở Việt Nam và Thế Sơn cũng có rất nhiều họ hàng định cư ở Paris trước đây rất lâu. Sơn cũng có may mắn là trước đây cộng tác với Paris by night, cho nên qua thu hình cũng như qua trình diễn tại Paris rất nhiều. Thế Sơn học Lasan Taberd, lúc đó không còn chương trình Pháp nữa mà là chương trình Việt, nhưng Sơn học sinh ngữ là Pháp văn. Sơn rất thích nhạc Pháp, rất thích phát âm tiếng Pháp, tại vì Sơn thấy Pháp ngữ phát âm rất là gọn, rất là bén, nghe hay lắm, êm tai lắm! Bây giờ trở lại từ khởi đầu sự nghiệp ca nhạc của Thế Sơn. Lúc đầu chắc là Thế Sơn đâu có tính chọn con đường ca nhạc, vì hình như là trước đây Thế Sơn học trường Trung học Sư phạm? Thưa anh và thưa quý vị, trong dòng họ Thế Sơn, ai cũng đi theo con đường học vấn. Đa số đều thành tài ở những lĩnh vực như kỹ sư, bác sĩ. Gia đình đều hướng con cái đi theo con đường học. Nhưng có thể là do duyên Trời hay đó là một cái nghiệp, trong họ hàng chỉ có mình Thế Sơn là rẻ qua đường ca nhạc thôi. Lúc đầu ba má Sơn cũng không ủng hộ. Má Sơn là giáo viên thành ra bà rất mẫu mực, vẫn còn theo xưa, bà không có thích giới văn nghệ, nên không ủng hộ Sơn vô con đường ca hát. Nhưng mà như Sơn đã nói, chính cái nghiệp cái duyên đưa đẩy Sơn vô con đường ca hát vào năm 1985. Vậy thì cơ duyên nào đã đẩy Thế Sơn vào con đường này? Khi Thế Sơn học Trung học Sư phạm, nhân dịp sinh hoạt hè ở Duyên Hải Cần Giờ khoảng năm 83, 84, buổi tối buồn không biết làm gì hết, cả lớp kéo nhau ra ngoài trời, đốt lửa trại rồi cầm đàn nghêu ngao hát, văn nghệ văn gừng với nhau. Thì Sơn cầm đàn và hát bài "Đó! Quê hương tôi" của Vĩnh Điện, thì bạn bè trong lớp ai cũng thích hết và thích giọng hát của Sơn. Có một thằng bạn thân nói: “Giọng mày hay lắm, học thêm thanh nhạc, luyện thêm là làm ca sĩ được”. Thì từ đó nó gieo vào đầu Sơn một tư tưởng là đi làm ca sĩ, chứ từ trước đến giờ Sơn chỉ hát chơi thôi và tánh mình cũng nhút nhát nên không nghĩ tới chuyện ra trước đám đông để trình diễn. Sơn đi học ngoài giờ ở nhạc viện, thì cũng rất may mắn có người thầy tên là Bùi Trần Tiến cũng thích giọng của Thế Sơn lắm, cho nên gợi ý với Thế Sơn là nếu muốn thi vô trường nhạc chính quy thì tới nhà thầy, thầy sẽ luyện thi miễn phí để thi đậu vô trường nhạc. Sơn nghe lời thầy và tới để thầy luyện, rồi sau đó thi đậu vô trường nhạc. Đó là lúc bắt đầu nghiệp ca hát luôn. Chúng tôi được biết là trong trường nhạc, Thế Sơn được dạy hát opera chứ không phải là hát nhạc pop như bây giờ. Như vậy là lúc đầu, đối với một người tuy có giọng ca bẩm sinh, có phải mất rất nhiều công sức để luyện tập hát được opera không? Opera là một môn nghệ thuật về ca hát rất khó. Có những người luyện cả đời cũng không được, vì không có giọng, không có giọng Trời cho. Lúc Sơn bắt đầu học, vì từ trước giờ mình hát giọng tự nhiên, nên không cảm nhận được thể loại opera. Lúc đó Sơn không thích, thật sự không thích opera, nhưng vô trong đó là bắt buộc phải hát opera. Hát loại nhạc modern ở ngoài, hát bằng giọng tự nhiên là bị thầy la liền! Nhưng sau thời gian học miệt mài ba năm thì giọng của Sơn mở ra theo đường hướng opera, nghe nó vang lắm. Đến chừng đó mình mới cảm nhận được và mới bắt đầu thích opera. Mình kiếm những cassette của Pavarotti nghe để học hỏi thêm, nghe những cassette của các ca sĩ cổ điển của Ý, của Nga để bắt chước luyện theo. Có lẽ nhờ học hát opera thành ra cái âm vực của Thế Sơn rất là rộng, Thế Sơn có thể đi từ cái nốt khá là trầm lên cái nốt rất là cao. Thì điều đó có giúp gì nhiều cho Thế Sơn trong con đường ca nhạc khi trở thành một ca sĩ nhạc pop? Thưa anh, giúp rất là nhiều. Hồi mới bắt đầu vô trường nhạc, Sơn chỉ lên được nốt mí thôi, mà đã căng thẳng lắm, rát cổ lắm! Nhưng tới bây giờ Sơn lên được tới nốt đô thăng lúc mà mình khỏe, tức là một khoảng rất rộng đối với một người ca sĩ, thành ra nó giúp ích rất nhiều khi mình hát. Mình không sợ hát bất cứ bài nào mà âm vực cao. Nhờ opera mình sẽ có thể hát được hết những bài nhạc của Việt Nam. Thế Sơn không chỉ hát những nốt rất cao mà có thể kéo dài cái nốt đó rất là lâu. Khi mà kết thúc mỗi bài hát chúng tôi thấy Thế Sơn thường là ngân chữ cuối cùng rất là lâu. Vâng, đó là do trong trường họ dạy mình luyện hơi, mình lấy hơi bụng và luyện để cho hơi của mình không mau hết, tức là mình xì ra từ từ để cho hơi mình kéo dài được. Nhưng nếu chúng ta ra ngoài mà hát như được học ở trường thì chắc khó mà thu hút được khán giả. Vậy thì làm sao Thế Sơn có thể làm cho giọng hát của mình thích ứng với loại nhạc phổ thông? Nếu đem nguyên si kỹ thuật hát opera ra ngoài thì rất ít khán giả biết thưởng thức thể loại nhạc đó. Mình hát kiểu đó là có thể bị đuổi vô. Ở Việt Nam hồi xưa khán giả khó tính lắm. Không đúng ý họ là họ đuổi thẳng vô! Khi Sơn học kỹ thuật opera rồi thì ra ngoài Sơn vẫn hát với giọng bình thường, giọng tự nhiên của mình. Sơn chỉ áp dụng kỹ thuật opera là lấy hơi. Tức là mình lấy hơi cho đầy phổi đầy thì mình hát câu dài hơn và không bao giờ bị hụt hơi. Khán giả họ không thấy gì khác biệt với những ca sĩ khác hết. Chỉ khi lên cao thì Sơn mới sử dụng một chút kỹ thuật opera là mở cái vòm họng và cuốn họng thật lớn để mình có thể lên cao được. Với hành trang âm nhạc đó thì Thế Sơn đã bắt đầu bước vào con đường ca nhạc từ năm 1985. Thế Sơn giữ được những kỉ niệm nào về những ngày đầu tiên bước lên sân khấu? Kỷ niệm thì nhiều lắm, vì ở Việt Nam Sơn đi hát mỗi đêm ở các tụ điểm và nhiều khi hát những suất buổi trưa ở nhà hát Hòa Bình nữa. Rất là nhiều kỷ niệm. Nhưng Sơn nhớ một kỷ niệm là hồi Sơn hát ở nhà hát Hòa Bình, lúc đang học ở trường nhạc. Bữa đó thì nhà hát bị cúp điện ngay lúc Sơn đang hát. Lúc đó Sơn mới ngẫu hứng, nói với khán giả: "Trong lúc chờ họ mở máy phát điện riêng thì Sơn hát opera cho quý vị nghe, quý vị chịu không?" Thì khán giả ở dưới thích lắm, đồng ý, vì thấy lạ. Sơn hát bài hình như là "Mười năm tình cũ" hay bài gì đó bằng kỹ thuật opera, tức là hát cho nó vang thì cả khán phòng mấy ngàn người đều nghe được. Sơn hát một vài câu thôi là họ thích lắm, vỗ tay rất là nhiều. Điểm lại thời gian hát ở Việt Nam từ năm 85 cho đến khi Thế Sơn sang Hoa Kỳ định cư, con đường đó đã đóng góp như thế nào, làm phong phú hơn ở những điểm nào cho sự nghiệp âm nhạc của Thế Sơn? Thưa anh, trước tiên là mấy năm học ở trường nhạc cho mình vốn kiến thức, kỹ thuật opera để mình bổ sung ca nhạc nhẹ của mình ở ngoài. Đó là một cái may mắn và là một điều rất đáng quý đối với một người ca sĩ. Bên cạnh đó, trong 9 năm ở Việt Nam thì Sơn hát hằng đêm, hát mỗi ngày và có những ngày, vào những dịp lễ, Sơn hát một ngày tới 40 bài, từ sáng cho tới tối luôn, hát chỗ này, chỗ kia. Sơn hát miệt mài mỗi ngày trong suốt 9 năm. Đó là một hành trang rất đáng quý, là nơi để mình coi như là rèn luyện bản lĩnh sân khấu, để khi Sơn bước ra một xứ lạ, một chỗ mới là hải ngoại, thì không bỡ ngỡ, vững vàng để tiếp tục ngay con đường ca hát của mình. Thế Sơn sang định cư ở Hoa Kỳ từ năm nào? Từ tháng 3 năm 1994 tại California, San Jose. Khi sang Hoa Kỳ thì Thế Sơn có được đi hát trở lại ngay hay là cũng phải đợi một thời gian? Sơn rất may mắn là qua Mỹ 10 ngày sau Sơn hát liền ở vũ trường Lido tại San Jose. Hát cuối tuần thôi, nhưng cũng có đi show một vài nơi ở Stockton này kia. Sơn may mắn được hát liền tại San Jose. Khoảng vài tháng sau là Paris by Night bay lên San Jose để ký với độc quyền với Thế Sơn. Thế Sơn đã hát độc quyền cho Paris by Night hình như khoảng 20 năm phải không? Dạ đúng 20 năm. Tháng 7 năm 1994 là Sơn ký contract ( hợp đồng ) với Thúy Nga Paris by Night. Tới tháng 7 năm 2014 là đúng 20 năm, Sơn rời Thúy Nga để trở thành một một ca sĩ tự do. Chúng tôi biết là khi ở Việt Nam thì Sơn cũng có hát khá nhiều trong những đoàn ca nhạc như là Hương Miền Nam. Sang đến Hoa Kỳ, hát trên sân khấu Paris by Night, Thế Sơn thấy có sự khác biệt nào nhiều không? Thời mà Sơn hát ở Việt Nam thì văn nghệ chưa phát triển mạnh như bây giờ, còn đơn sơ lắm và còn nhiều thiếu sót lắm, chưa có chuyên nghiệp, chưa có professional. Nhưng khi Sơn qua hải ngoại mà được vô ngay một trung tâm lớn nhất tại hải ngoại là Paris by Night, Sơn thấy một sự khác biệt rất lớn, đó là họ tổ chức chặt chẽ lắm, đúng giờ, đúng giấc và đâu ra đó. Họ có một team để lo từng chi tiết trong một chương trình thâu hình. Sơn được cộng tác với những vũ công của Hollywood, rồi có những bài hòa âm bởi những nhạc sĩ người Mỹ rất là hay. Sơn học hỏi được rất nhiều điều có lợi cho nghề nghiệp trong thời gian cộng tác với Paris by Night về trình diễn với dancers. Trong phòng thâu thì có những chi tiết mà mình chưa thấy ra, thì chị Tô Ngọc Thủy với anh Huỳnh Thi đã gợi ý hướng dẫn để Sơn sửa những cái đó. Đó cũng là một trong những điều mà mình học hỏi được từ Paris by Night. Hai mươi năm đó đã giúp cho Thế Sơn trở thành một ca sĩ kỳ cựu của Paris by Night. Sau đó Thế Sơn cũng đã chuyển qua hát cho trung tâm Asia. Thời gian đó có những thay đổi gì đặc biệt đối với con đường nghệ thuật? Khoảng cuối năm 2014 thì Thế Sơn cộng tác với trung tâm Asia, với nhạc sĩ Trúc Hồ, cho tới 2018. Thật sự thì ở Paris by Night thời gian đó phải nói là thời hoàng kim của nhạc hải ngoại và cũng vì đó mà sự cạnh tranh rất là khốc liệt. Ai cũng muốn vô những trung tâm lớn như là Paris by Night. Thành ra mình phải cố gắng hết mức để giữ vững vị trí của mình trong trung tâm. Nhưng khi tới 2014 Sơn chuyển qua cộng tác với Asia thì Sơn cảm thấy nhẹ nhàng lắm, tại vì mình đã từng cộng tác với nơi mà cạnh tranh như vậy đó. Qua đây thì Asia rất là quý mến Thế Sơn và tạo mọi điều kiện để cộng tác với Thế Sơn rất tốt. Nhưng bên Asia thì có một số bài Sơn hướng về nhạc đấu tranh. Đó là một hướng mới: nhạc đấu tranh cho người dân thấp cổ bế miệng ở trong Việt Nam. Đó mà một chí hướng, một sự chọn lựa của Thế Sơn, chứ không phải do ai áp đặt? Đúng vậy. Lúc đó, thời gian khoảng 2014 -15, Sơn thấy cũng có nhiều khuất tất, nhiều bất công tại Việt Nam, cho nên Sơn nghĩ là một nghệ sĩ thì mình dùng tiếng hát của mình để mình góp phần lên tiếng nói ủng hộ cho những người dân nghèo tại Việt Nam. Trong những năm gần đây, có rất nhiều ca sĩ ở hải ngoại trở về Việt Nam để trình diễn, bởi vì đối với họ, Việt Nam là nơi mà có thể tìm được rất nhiều khán giả, nhất là đối với những người đã hát lâu năm bây giờ tìm được một lượng khán giả mới ở Việt Nam để tiếp tục sự nghiệp ca nhạc. Riêng Thế Sơn là một trong số rất hiếm hoi ca sĩ cho tới nay vẫn dứt khoát không trở về Việt Nam để trình diễn. Vậy thì lý do gì khiến cho Thế Sơn có quyết định như vậy? Như anh nói rất đúng là ở Việt Nam có khoảng 100 triệu dân thì lượng khán giả thích nhạc, thích tiếng hát của mình sẽ đông hơn rất nhiều so với ở hải ngoại, chỉ có vài triệu người Việt Nam mà sống rải rác, rồi một số bị đồng hóa vào dân bản xứ nữa. Cho nên ca sĩ bây giờ ai cũng muốn về Việt Nam hết. Nhưng Sơn cũng hơi lạ hơn người ta là Sơn nghĩ : Cuộc sống của mình đã rất ổn định rồi và bao nhiêu năm nay mình cũng chịu ơn của những khán giả hải ngoại. Phần rất là lớn nhờ họ mà mình tạo được tên tuổi cũng như một cuộc sống ổn định cho tới bây giờ, cho nên Sơn hát ở hải ngoại là cũng đủ rồi. Với lại ( về hát ) ở Việt Nam thì cũng có rất nhiều cái phiền phức, phe phái tùm lum hết. Một số nghệ sĩ nổi tiếng ở bên này về thì họ hay lợi dụng tên tuổi của người nghệ sĩ đó để họ tuyên truyền cho chế độ, cho nên Sơn không muốn điều đó. Không biết là trong thời gian qua thì ở Việt Nam có ai bắn tiếng sang hay là có người nhờ để mà mời Thế Sơn về nước hát không? Chuyện đó thì xảy ra lâu rồi, từ khoảng năm 2000 - 2001 tức là cách đây cũng 24 - 25 năm rồi. Đã có rất nhiều lời mời Sơn về Việt Nam, nhưng Sơn không nhận lời. Ngay cả có một lần Sơn nhớ là đang đi hát ở Calgary hay là Edmonton, ở Canada, thì có một cú phone từ Hà Nội mời Sơn về hát, nhưng Sơn từ chối. Rồi sau đó 2001 cũng có lời mời Sơn về làm liveshow và họ lo everything (tất cả ), Sơn chỉ về thôi, nhưng Sơn cũng từ chối. Rất, rất là nhiều lời mời. Nhưng sau này họ biết là Sơn không có ý muốn trở về cho nên họ thôi. Bây giờ đã 40 năm trên sân khấu ca nhạc, nhìn lại chặng đường đã qua, Thế Sơn có thấy là thời gian qua quá nhanh hay không? Hay là thấy rằng 40 năm vẫn còn chưa đủ, có thể còn tiếp tục thêm nữa? Bây giờ nhìn lại thì thấy thời gian qua nhanh. Nhưng mà phải nói là Trời thương, Tổ nghiệp đãi, cho nên mình vẫn còn sức khỏe để tiếp tục cống hiến. Sơn nghĩ nghề này không có tuổi về hưu. Khi nào hết duyên hoặc là không còn sức khỏe thì mình mới đành phải chia tay thôi, chứ còn bây giờ mình vẫn tiếp tục trau dồi để cống hiến khán giả. Mình hát vì đó là cái nghiệp và cũng là cái sở thích của mình. Thế Sơn có thể "bật mí" cho các khán giả biết là những cái bí quyết nào giúp cho Thế Sơn giữ được giọng ca cho tới ngày hôm nay, tức là vẫn hát rất khỏe, giọng rất cao, âm vực rất rộng? Thế Sơn nghĩ cái chính vẫn là bẩm sinh. Nếu mình không có giọng thì có học thanh nhạc, luyện giọng thế nào cũng khó lòng mà đi hát chuyên nghiệp trong suốt bao nhiêu năm. Cái thứ nhất là bẩm sinh và cái thứ hai là kỹ thuật opera. Và cái thứ ba rất quan trọng, ai cũng cần có, đó là giữ sức khỏe, giữ tinh thần cho lạc quan, thoải mái, đừng có bị stress, hay vướng vào một vấn đề gây phiền phức cho mình, để mình tập trung vô ca hát thôi. Giữ sức khỏe đối với Sơn là ăn ngủ đầy đủ, thậm chí ngủ cần hơn ăn. Ăn bình thường thôi nhưng mà ngủ là phải cần. Và không rượu bia, không thuốc lá. Tức là từ trước nay Thế Sơn không bao giờ dùng đến rượu bia, không hút thuốc luôn? Thuốc lá thì không bao giờ đụng tới, nhưng rượu bia thì ở Việt Nam thì có. Khán giả thích, hay mời mình trên sân khấu. Mình nể khán giả, chiều ý khán giả thành ra mình uống cũng nhiều lắm, có những show uống rất là nhiều. Nhưng sau đó Sơn nghĩ lại: chiều khán giả có nhiều cách khác để chiều, chiều kiểu đó gây hại cho sức khỏe, ảnh hưởng tới giọng hát, cho nên Sơn nghĩ mình phải tập trung 100% cho giọng hát. Người ta tới với mình vì người ta thích mình hát, chứ không phải là để lên cụng bia, để lấy những tiếng vỗ tay. Cho nên bao nhiêu năm nay Sơn không có một giọt rượu giọt bia nào trong người. Sơn có nói một trong những cái bí quyết để giữ giọng hát tồn tại lâu dài như vậy là chúng ta phải có một cuộc sống thoải mái, không có ganh đua, không có tính toán, không có suy nghĩ gì nhiều. Chúng tôi thấy hình như Thế Sơn sống cuộc sống khá là bình lặng, không thấy xuất hiện nhiều trong giới show biz ở bên Mỹ? Dạ đúng. Không hiểu sao ở Việt Nam trước đây, mỗi ngày Sơn phải ra đường, chứ ở trong nhà Sơn chịu không được! Ra đường gặp các nhạc sĩ, các ký giả, ngồi ăn uống nhậu nhẹt. Ngày nào cũng ra đường, trưa nào cũng đi ăn với họ, tối thì đi hát. Nhưng khi qua tới Mỹ nữa thì mình lại không thích đi ra ngoài, cứ ru rú trong nhà! Hiếm lắm mình mới ra ngoài mình đi ăn uống thôi, còn không thì thích ở nhà hơn. Với lại bây giờ là thời đại internet, mình lên internet học hỏi được nhiều thứ. Thành ra mình sống nội tâm nhiều hơn và khép kín hơn. Ngoài người vợ ra thì Thế Sơn có những người bạn đồng hành, đó là những chú chim két. Vì sao Thế Sơn lại thích nuôi chim két như vậy? Thật sự đây cũng là cái duyên tự nhiên. Sơn có người anh họ thích nuôi chim lắm. Một bữa nọ, ảnh xúi Sơn nuôi két, nuôi con két đuôi dài. Rồi ảnh dẫn đi chợ chim, rồi đi những cái bird show, cái show. Sơn thấy con két đẹp quá mà lại biết nói, nên ẵm về nuôi luôn. Bây giờ Sơn có bốn con két, hai con két lớn, hai con két nhỏ. Có con nuôi từ mười mấy năm nay rồi. Két sống lâu lắm. Nuôi chó mèo hay thì thường khoảng mười mấy năm là nó "đi" rồi. Ai cũng nói nuôi một con chó đến khi nó chết thì đau buồn lắm, hụt hẫng lắm. Nhưng con két này thì mình chết trước nó! Nó sống lâu lắm! Nó vừa đẹp mà vừa biết nói nữa. Một động vật biết nói là hiếm lắm. Thành ra Sơn Sơn nuôi két, rồi dính luôn tới bây giờ! Vâng chúng tôi rất cảm ơn Thế Sơn đã dành thời gian cho chương trình hôm nay của RFI để điểm lại 40 năm ca nhạc của Thế Sơn và xin chúc Thế Sơn Sơn nhiều sức khỏe và nhiều thành công mới trên con đường ca nhạc. Cảm ơn anh Thanh Phương cũng như đài RFI đã tạo điều kiện cho Thế Sơn có dịp thưa chuyện với quý vị khán thính giả. Cũng xin kính chúc quý vị khán thính giả và gia đình anh Thanh Phương thật nhiều sức khỏe, nhiều may mắn, nhiều thành công và bình an trong cuộc sống.
Ngày 15/08/2021, quân đội Mỹ rút đi, phe Taliban giành lại chính quyền ở Afghanistan, hai mươi năm sau khi bị lật đổ. Sau những năm tháng tương đối tự do, người dân tại quốc gia Trung Á này lại sống dưới một chế độ vô cùng hà khắc, nhất là đối với nữ giới: Trẻ em gái bị loại khỏi giáo dục trung học, phụ nữ khi ra ngoài phải che kín từ đầu đến chân, thậm chí trên đường phố không được nói chuyện với nhau. Họ gần như bị xóa bỏ khỏi không gian công cộng. Cuộc sống tăm tối của phụ nữ Afghanistan ngày nay đã được nữ phóng viên nhiếp ảnh người Pháp Sandra Calligaro ghi lại trong một phóng sự ảnh được trưng bày gần đây tại Pháp. Năm 2007, Sandra Calligaro mới 25 tuổi và đang làm thêm tại một quán bar trong thời gian học nghệ thuật và nhiếp ảnh. Ước mơ của cô là trở thành một phóng viên kỳ cựu và đưa tin về các quốc gia đang có xung đột. Khi biết một người bạn phóng viên sẽ đi Afghanistan, Sandra đã xin đi theo. Một tháng rưỡi sau, cô phóng viên trẻ người Pháp đặt chân đến Kabul. Rồi vì say mê đất nước này, Sandra đã sống ở đó mười năm, trước khi trở lại Paris, nhưng vẫn thường xuyên đi lại giữa Pháp và Afghanistan. Người nữ phóng viên nhiếp ảnh này đã quyết định ghi lại cuộc sống thường nhật của người dân Afghanistan, nhất là của phụ nữ, dưới ách thống trị của Taliban. Sau khi đoạt Giải thưởng Françoise Demulder ( tên của phóng viên nhiếp ảnh chiến trường người Pháp ) vào năm 2024, Sandra Calligaro đã một lần nữa tham gia triển lãm tại Liên hoan ảnh báo chí quốc tế Visa pour l'image ở thành phố Perpignan, miền nam nước Pháp, đầu tháng 9/2025. Loạt ảnh được trưng bày có tựa đề “Afghanistan: Dưới Bóng Cờ Trắng”. Trả lời RFI Việt ngữ tại Liên hoan Visa pour l'image ngày 03/09/2025, Sandra Calligaro cho biết: “Tôi đã làm việc ở Afghanistan hơn 15 năm, với thời gian sống ở đó là khoảng mười năm. Giờ đây, tôi vẫn thường xuyên đi lại giữa hai nước Pháp và Afghanistan. Cho đến bây giờ, tôi luôn muốn ghi lại những hình ảnh về toàn bộ xã hội Afghanistan, cả nam lẫn nữ. Nhưng đúng là từ khi Taliban trở lại, tôi nhấn mạnh hơn một chút về những người phụ nữ đang sống một cuộc sống thường nhật như bị giam cầm. Đó là điều cần thiết và quan trọng. Chính sách đàn áp đã được thực hiện từng bước khá nhanh chóng. Khi Taliban trở lại nắm quyền vào năm 2021, không phải mọi thứ đều bị dừng lại cùng một lúc. Đầu tiên, các trường học bị đóng cửa đối với các bé gái đã qua tuổi dậy thì. Sau đó phụ nữ bị cấm vào các công viên, rồi các tiệm làm đẹp cũng bị đóng cửa. Hàng loạt biện pháp như vậy đã được áp dụng trong nhiều tháng sau đó. Trước sự đàn áp này, trước những sắc lệnh ngày càng hạn chế quyền tự do, tôi muốn cho thấy phụ nữ Afghanistan đang kháng cự như thế nào.” Tuy Afghanistan nay sống dưới chế độ hà khắc của Taliban, nhưng do cũng là phụ nữ nên Sandra Calligaro có phần nào dễ dàng tiếp cận những người mà nay hầu như chỉ sống trong không gian hạn hẹp của những căn nhà, căn hộ: “Hiện nay, làm việc ở Afghanistan hay đi đến nước này là rất khó khăn. Nhưng mặt khác, vì tôi là phụ nữ và hầu hết phụ nữ nay phải sống trong nhà, cho nên gặp gỡ trò chuyện với họ thực sự là khá dễ dàng. Hầu hết các bức ảnh chúng ta thấy trong triển lãm này đều được chụp trong nhà. Tôi muốn cho thấy sự phân đôi của xã hội Afghanistan thông qua các bức ảnh, với một không gian công cộng, không gian bên ngoài chủ yếu dành cho đàn ông và một không gian bên trong, nơi mà phụ nữ phần nào được tự do hơn một chút vì không bị quấy rầy. Những người phụ nữ, những cô gái trẻ mà tôi gặp đều có những cảm xúc khác nhau, vừa chán nản, vừa cam chịu và nhưng cũng vừa hy vọng. Đó chính là điều tôi muốn thể hiện trong loạt ảnh này: Trong nỗi tuyệt vọng tột cùng, chúng ta vẫn thấy rất nhiều hy vọng, hoặc ít nhất không chỉ là sự cam chịu, mà là rất nhiều sự chống chọi, rất nhiều sự thích nghi. Tôi muốn ghi lại bằng hình ảnh tất cả những điều đó.” Minh họa cho hai không gian cách biệt này là một bức ảnh của Sandra Calligaro chụp một nhà hàng truyền thống ở Shar-e Naw, trung tâm Kabul, vào giờ ăn tối ngày 12/04/2025. Trong nhà hàng này, phụ nữ không được phép ngồi trong phòng ăn chính. Đàn ông chỉ được phép ngồi cùng con gái chưa đến tuổi dậy thì. Bị cấm đoán, bị hạn chế đủ điều, sống như những cái bóng lặng lẽ, tâm trạng của phụ nữ Afghanistan hiện nay ra sao, Sandra Calligaro kể lại: “Tôi nhớ đến một câu mà một cô gái trẻ từng nói với tôi: “Sandra, trạng thái tâm lý bình thường của người dân Afghanistan hiện nay đó là trầm cảm. Đó là điều mà cô cảm nhận trong cuộc sống thường nhật của người dân Afghanistan. Nhưng không phải vì chán nản mà họ không làm gì cả. Họ không thể ngừng sống, họ vẫn đấu tranh cho những điều dù nhỏ nhặt. Đối với tất cả những người mà tôi đến gặp, được chụp ảnh hay làm nhân chứng là điều rất quan trọng. Họ muốn tôi ghi lại sự khắc nghiệt, khó khăn trong cuộc sống hàng ngày của họ, cùng với tất cả những hình thức kháng cự dù là nhỏ nhoi để họ tiếp tục sống sót, với những lớp học đang được thành lập, những tiệm làm đẹp đang mở cửa lại. Thực sự điều rất quan trọng đối với họ là được gặp tôi và để tôi cho thấy họ vẫn đang cố gắng để sống. Tôi nghĩ việc phơi bày sự khắc nghiệt trong cuộc sống thường nhật của họ, cũng như tất cả những hình kháng cự nhỏ nhặt đó thực sự mang lại cho họ một chút hy vọng để tiếp tục chiến đấu, tiếp tục sống, và cảm thấy bớt 'vô hình' hơn một chút.” Ngay cả những thiếu nữ cũng không cam chịu với cuộc sống thiếu vắng học đường. Trong một bức ảnh của Sandra Calliaga, Fatima, 17, ở Kabul, đang theo học một lớp trên mạng qua smartphone. Những thiếu nữ khác thì lén lút đến các lớp học tại gia. Sandra Calligaro đã đến một trong những lớp học này, nơi mà các “cô giáo” chỉ lớn hơn học trò có vài tuổi. Đó là những cô gái trẻ nay không còn được tiếp tục học đại học, hoặc không được đi làm cho nên muốn truyền đạt kiến thức cho những em gái cũng không được cắp sách đến trường. Sandra Calligaro giải thích: “Đây là những lớp học hoàn toàn không chính thức. Chính quyền Taliban biết là có những lớp học như vậy, nhưng họ không biết gì về những môn được dạy, cho nên họ để yên, mặc dù thỉnh thoảng họ cũng đến kiểm tra. Khi bị kiểm tra thì các cô giáo bảo họ chỉ dạy may vá, thêu thùa, dạy Kinh Coran, dạy các môn về tôn giáo, giống như ở các trường Hồi Giáo. Đó là điều thực sự rất, rất đau đớn đối với những người phụ nữ thuộc thế hệ đã trải qua chế độ Taliban đầu tiên vào những năm 90 và nay chứng kiến lịch sử lặp lại với con gái mình. Thật khó khăn cho những người mẹ đó và tôi nghĩ cũng rất khó khăn đối với những cô gái trẻ lớn tuổi hơn một chút, những người trong 20 năm trước đó đã được hưởng một chút tự do, rồi đột nhiên, cánh cửa đóng sầm lại trước mắt họ. Trong 20 năm, họ đã được thoáng thấy một thế giới khả dĩ sống được và đột nhiên, mọi thứ dừng lại, từ học tập đến sinh hoạt giải trí. Vào năm 2001, chế độ Taliban đã bị lật đổ nhờ có sự can thiệp mạnh mẽ của quốc tế, nhưng bây giờ tình hình không giống như trước và rõ ràng là quốc tế sẽ không quay lại đó. Thật không may là thế giới đang trở nên tồi tệ hơn. Điều thực sự phức tạp với Afghanistan, đó là dầu sao Taliban vẫn là người Afghanistan, đang ở trong nước họ và tôi nghĩ rằng rất khó mà quốc tế can thiệp vào, nhất là vì Taliban không hề có ý đồ bành trướng, họ chỉ làm những gì họ muốn trong đất nước của họ.” Hậu quả của chính sách mà phe Taliban thi hành từ 4 năm qua được thể hiện qua một bức ảnh mà Sandra Calligaro vào sáng sớm tại một vùng quê, trên đường, từ người đi bộ, đi xe đạp, đi xe gắn máy, cho đến người bán rong đều là đàn ông, không có một bóng dáng phụ nữ nào. Không chỉ sống dưới sự hà khắc của chế độ Taliban, các em gái ở Afghanistan nay còn chịu những hủ tục của một xã hội vẫn còn lạc hậu. Sandra Calligaro đã ghi lại hình ảnh của cô bé Nazanin đang ngồi trong góc nhà, tay ôm chặt chú gấu bông. Một giọt nước mắt lặng lẽ lăn dài trên má cô. Bố mẹ đã gả cô cho một người đàn ông cô không yêu, hiện đang sống ở New Zealand. Cô rất sợ phải rời xa nhà và sống trong sự kiểm soát của gia đình chồng, giống như mẹ của cô trước đây.
Ngày 15/08/2021, quân đội Mỹ rút đi, phe Taliban giành lại chính quyền ở Afghanistan, hai mươi năm sau khi bị lật đổ. Sau những năm tháng tương đối tự do, người dân tại quốc gia Trung Á này lại sống dưới một chế độ vô cùng hà khắc, nhất là đối với nữ giới: Trẻ em gái bị loại khỏi giáo dục trung học, phụ nữ khi ra ngoài phải che kín từ đầu đến chân, thậm chí trên đường phố không được nói chuyện với nhau. Họ gần như bị xóa bỏ khỏi không gian công cộng. Cuộc sống tăm tối của phụ nữ Afghanistan ngày nay đã được nữ phóng viên nhiếp ảnh người Pháp Sandra Calligaro ghi lại trong một phóng sự ảnh được trưng bày gần đây tại Pháp. Năm 2007, Sandra Calligaro mới 25 tuổi và đang làm thêm tại một quán bar trong thời gian học nghệ thuật và nhiếp ảnh. Ước mơ của cô là trở thành một phóng viên kỳ cựu và đưa tin về các quốc gia đang có xung đột. Khi biết một người bạn phóng viên sẽ đi Afghanistan, Sandra đã xin đi theo. Một tháng rưỡi sau, cô phóng viên trẻ người Pháp đặt chân đến Kabul. Rồi vì say mê đất nước này, Sandra đã sống ở đó mười năm, trước khi trở lại Paris, nhưng vẫn thường xuyên đi lại giữa Pháp và Afghanistan. Người nữ phóng viên nhiếp ảnh này đã quyết định ghi lại cuộc sống thường nhật của người dân Afghanistan, nhất là của phụ nữ, dưới ách thống trị của Taliban. Sau khi đoạt Giải thưởng Françoise Demulder ( tên của phóng viên nhiếp ảnh chiến trường người Pháp ) vào năm 2024, Sandra Calligaro đã một lần nữa tham gia triển lãm tại Liên hoan ảnh báo chí quốc tế Visa pour l'image ở thành phố Perpignan, miền nam nước Pháp, đầu tháng 9/2025. Loạt ảnh được trưng bày có tựa đề “Afghanistan: Dưới Bóng Cờ Trắng”. Trả lời RFI Việt ngữ tại Liên hoan Visa pour l'image ngày 03/09/2025, Sandra Calligaro cho biết: “Tôi đã làm việc ở Afghanistan hơn 15 năm, với thời gian sống ở đó là khoảng mười năm. Giờ đây, tôi vẫn thường xuyên đi lại giữa hai nước Pháp và Afghanistan. Cho đến bây giờ, tôi luôn muốn ghi lại những hình ảnh về toàn bộ xã hội Afghanistan, cả nam lẫn nữ. Nhưng đúng là từ khi Taliban trở lại, tôi nhấn mạnh hơn một chút về những người phụ nữ đang sống một cuộc sống thường nhật như bị giam cầm. Đó là điều cần thiết và quan trọng. Chính sách đàn áp đã được thực hiện từng bước khá nhanh chóng. Khi Taliban trở lại nắm quyền vào năm 2021, không phải mọi thứ đều bị dừng lại cùng một lúc. Đầu tiên, các trường học bị đóng cửa đối với các bé gái đã qua tuổi dậy thì. Sau đó phụ nữ bị cấm vào các công viên, rồi các tiệm làm đẹp cũng bị đóng cửa. Hàng loạt biện pháp như vậy đã được áp dụng trong nhiều tháng sau đó. Trước sự đàn áp này, trước những sắc lệnh ngày càng hạn chế quyền tự do, tôi muốn cho thấy phụ nữ Afghanistan đang kháng cự như thế nào.” Tuy Afghanistan nay sống dưới chế độ hà khắc của Taliban, nhưng do cũng là phụ nữ nên Sandra Calligaro có phần nào dễ dàng tiếp cận những người mà nay hầu như chỉ sống trong không gian hạn hẹp của những căn nhà, căn hộ: “Hiện nay, làm việc ở Afghanistan hay đi đến nước này là rất khó khăn. Nhưng mặt khác, vì tôi là phụ nữ và hầu hết phụ nữ nay phải sống trong nhà, cho nên gặp gỡ trò chuyện với họ thực sự là khá dễ dàng. Hầu hết các bức ảnh chúng ta thấy trong triển lãm này đều được chụp trong nhà. Tôi muốn cho thấy sự phân đôi của xã hội Afghanistan thông qua các bức ảnh, với một không gian công cộng, không gian bên ngoài chủ yếu dành cho đàn ông và một không gian bên trong, nơi mà phụ nữ phần nào được tự do hơn một chút vì không bị quấy rầy. Những người phụ nữ, những cô gái trẻ mà tôi gặp đều có những cảm xúc khác nhau, vừa chán nản, vừa cam chịu và nhưng cũng vừa hy vọng. Đó chính là điều tôi muốn thể hiện trong loạt ảnh này: Trong nỗi tuyệt vọng tột cùng, chúng ta vẫn thấy rất nhiều hy vọng, hoặc ít nhất không chỉ là sự cam chịu, mà là rất nhiều sự chống chọi, rất nhiều sự thích nghi. Tôi muốn ghi lại bằng hình ảnh tất cả những điều đó.” Minh họa cho hai không gian cách biệt này là một bức ảnh của Sandra Calligaro chụp một nhà hàng truyền thống ở Shar-e Naw, trung tâm Kabul, vào giờ ăn tối ngày 12/04/2025. Trong nhà hàng này, phụ nữ không được phép ngồi trong phòng ăn chính. Đàn ông chỉ được phép ngồi cùng con gái chưa đến tuổi dậy thì. Bị cấm đoán, bị hạn chế đủ điều, sống như những cái bóng lặng lẽ, tâm trạng của phụ nữ Afghanistan hiện nay ra sao, Sandra Calligaro kể lại: “Tôi nhớ đến một câu mà một cô gái trẻ từng nói với tôi: “Sandra, trạng thái tâm lý bình thường của người dân Afghanistan hiện nay đó là trầm cảm. Đó là điều mà cô cảm nhận trong cuộc sống thường nhật của người dân Afghanistan. Nhưng không phải vì chán nản mà họ không làm gì cả. Họ không thể ngừng sống, họ vẫn đấu tranh cho những điều dù nhỏ nhặt. Đối với tất cả những người mà tôi đến gặp, được chụp ảnh hay làm nhân chứng là điều rất quan trọng. Họ muốn tôi ghi lại sự khắc nghiệt, khó khăn trong cuộc sống hàng ngày của họ, cùng với tất cả những hình thức kháng cự dù là nhỏ nhoi để họ tiếp tục sống sót, với những lớp học đang được thành lập, những tiệm làm đẹp đang mở cửa lại. Thực sự điều rất quan trọng đối với họ là được gặp tôi và để tôi cho thấy họ vẫn đang cố gắng để sống. Tôi nghĩ việc phơi bày sự khắc nghiệt trong cuộc sống thường nhật của họ, cũng như tất cả những hình kháng cự nhỏ nhặt đó thực sự mang lại cho họ một chút hy vọng để tiếp tục chiến đấu, tiếp tục sống, và cảm thấy bớt 'vô hình' hơn một chút.” Ngay cả những thiếu nữ cũng không cam chịu với cuộc sống thiếu vắng học đường. Trong một bức ảnh của Sandra Calliaga, Fatima, 17, ở Kabul, đang theo học một lớp trên mạng qua smartphone. Những thiếu nữ khác thì lén lút đến các lớp học tại gia. Sandra Calligaro đã đến một trong những lớp học này, nơi mà các “cô giáo” chỉ lớn hơn học trò có vài tuổi. Đó là những cô gái trẻ nay không còn được tiếp tục học đại học, hoặc không được đi làm cho nên muốn truyền đạt kiến thức cho những em gái cũng không được cắp sách đến trường. Sandra Calligaro giải thích: “Đây là những lớp học hoàn toàn không chính thức. Chính quyền Taliban biết là có những lớp học như vậy, nhưng họ không biết gì về những môn được dạy, cho nên họ để yên, mặc dù thỉnh thoảng họ cũng đến kiểm tra. Khi bị kiểm tra thì các cô giáo bảo họ chỉ dạy may vá, thêu thùa, dạy Kinh Coran, dạy các môn về tôn giáo, giống như ở các trường Hồi Giáo. Đó là điều thực sự rất, rất đau đớn đối với những người phụ nữ thuộc thế hệ đã trải qua chế độ Taliban đầu tiên vào những năm 90 và nay chứng kiến lịch sử lặp lại với con gái mình. Thật khó khăn cho những người mẹ đó và tôi nghĩ cũng rất khó khăn đối với những cô gái trẻ lớn tuổi hơn một chút, những người trong 20 năm trước đó đã được hưởng một chút tự do, rồi đột nhiên, cánh cửa đóng sầm lại trước mắt họ. Trong 20 năm, họ đã được thoáng thấy một thế giới khả dĩ sống được và đột nhiên, mọi thứ dừng lại, từ học tập đến sinh hoạt giải trí. Vào năm 2001, chế độ Taliban đã bị lật đổ nhờ có sự can thiệp mạnh mẽ của quốc tế, nhưng bây giờ tình hình không giống như trước và rõ ràng là quốc tế sẽ không quay lại đó. Thật không may là thế giới đang trở nên tồi tệ hơn. Điều thực sự phức tạp với Afghanistan, đó là dầu sao Taliban vẫn là người Afghanistan, đang ở trong nước họ và tôi nghĩ rằng rất khó mà quốc tế can thiệp vào, nhất là vì Taliban không hề có ý đồ bành trướng, họ chỉ làm những gì họ muốn trong đất nước của họ.” Hậu quả của chính sách mà phe Taliban thi hành từ 4 năm qua được thể hiện qua một bức ảnh mà Sandra Calligaro vào sáng sớm tại một vùng quê, trên đường, từ người đi bộ, đi xe đạp, đi xe gắn máy, cho đến người bán rong đều là đàn ông, không có một bóng dáng phụ nữ nào. Không chỉ sống dưới sự hà khắc của chế độ Taliban, các em gái ở Afghanistan nay còn chịu những hủ tục của một xã hội vẫn còn lạc hậu. Sandra Calligaro đã ghi lại hình ảnh của cô bé Nazanin đang ngồi trong góc nhà, tay ôm chặt chú gấu bông. Một giọt nước mắt lặng lẽ lăn dài trên má cô. Bố mẹ đã gả cô cho một người đàn ông cô không yêu, hiện đang sống ở New Zealand. Cô rất sợ phải rời xa nhà và sống trong sự kiểm soát của gia đình chồng, giống như mẹ của cô trước đây.
Theo các chuyên gia, vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với nhiều nguy cơ với các hiện tượng triều cường, sụt lún và sạt lở đồng loạt gia tăng. Không chỉ gây ngập úng diện rộng, các hiện tượng này còn làm suy yếu hệ thống đê bao, có thể dẫn đến những sự cố nghiêm trọng nếu không có giải pháp ứng phó kịp thời. Theo báo chí trong nước, trong những ngày đầu tháng 10 âm lịch vừa qua, nhiều khu vực ở Đồng Tháp liên tục ngập sâu do triều cường lên mức cao nhất từ đầu năm. Triều cường mạnh cũng có nguy cơ làm vỡ đê. Cùng thời điểm, Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam (VAWR) cảnh báo nhiều khu vực trong vùng có khả năng tiếp tục bị ngập úng do kết hợp giữa triều cường, mưa trái mùa và dòng chảy yếu từ thượng nguồn. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 12/12/2025, tiến sĩ Dương Văn Ni, Khoa Môi trường và Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Đại học Cần Thơ và là chủ tịch Quỹ bảo tồn Mekong MCF, giải thích: "Nói về ngập, chúng ta phân biệt ba thông số. Thứ nhất là diện tích ngập, thứ hai là độ sâu ngập và thứ ba là thời gian ngập. Ví dụ các tỉnh ven phía Biển Đông như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều, thành thử khi bị ngập thì sẽ ngập rất nhanh, nhưng mà rút rất là lẹ, tại vì một ngày một đêm có tới hai lần nước ròng, hai lần nước kém. Các tỉnh khác như Kiên Giang, Cà Mau thì lại bị ảnh hưởng chế độ nhật triều, ngập thì cũng ngập nhanh, nhưng lại rút rất chậm, bởi vì một ngày một đêm chỉ có một lần nước ròng thôi. Những tỉnh đầu nguồn như Đồng Tháp, An Giang thì lại ít bị ảnh hưởng bởi chế độ thủy triều từ Biển Đông, mà bị ảnh hưởng hoàn toàn bởi lượng nước đổ về của sông Mekong và lượng mưa tại chỗ. Ở những nơi đây có mùa nước mà người ta hay gọi là mùa nước nổi, khoảng giữa rằm tháng 7 thì nước dâng lên từ từ nhưng lại kéo dài cho tới khoảng cuối tháng 9 âm lịch thì nước mới bắt đầu rút được. Còn những tỉnh nằm giữa như Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang thì lại bị ảnh hưởng bởi hai phần. Một phần là các tỉnh phía thượng nguồn như Đồng Tháp, An Giang và một phần khác là các tỉnh ven biển như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu... Nếu xảy ra ngập lụt ở Cần Thơ và nếu các tỉnh phía bên trên như Đồng Tháp, An Giang không có nước đổ về tiếp tục và trong khi đó phía Sóc Trăng và Trà Vinh không bị ngập, thì Cần Thơ bị ngập không đáng kể, có nghĩa là ngập, nhưng sau đó nước sẽ rút rất nhanh. Nhưng ngược lại, nếu các tỉnh ven biển như Trà Vinh, Sóc Trăng cũng bị ngập và cộng thêm các tỉnh đầu nguồn như Đồng Tháp, An Giang lại ngập nữa, thì lúc bây giờ các tỉnh phía giữa như Vĩnh Long và Cần Thơ sẽ ngập rất sâu. Khi muốn đánh giá ngập ở một chỗ nào thì có rất nhiều nguyên nhân, chứ không đơn thuần một hai nguyên nhân. Và bản chất của chuyện ngập là hoàn toàn khác nhau giữa tỉnh này với tỉnh khác. Nó không chịu một ảnh hưởng nguyên nhân chung, mà mỗi tỉnh có một nguyên nhân riêng. Thậm chí những địa phương trong cùng một tỉnh cũng có những nguyên nhân ngập khác nhau. Và điều đó tác động lên ba thông số mà tôi vừa trình bày: Diện tích ngập, độ sâu ngập và thời gian ngập." Tình trạng sụt lún Không chỉ đối mặt với ngập úng, vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn đang chịu tác động của sụt lún đất và sạt lở bờ sông, bờ biển. Mưa lớn, dòng chảy thay đổi và tác động của triều cường khiến các điểm sạt lở xuất hiện với tần suất dày hơn. Tại một số khu vực, sạt lở đã ăn sâu vào sát chân đê, làm tăng nguy cơ mất an toàn cho cả tuyến đê lẫn người dân sinh sống ven sông. Phân tích của các chuyên gia VAWR cho thấy việc khai thác nước ngầm kéo dài đã khiến nền đất hạ thấp. Khi nền đất lún xuống, mực nước vốn chỉ ngang bờ kênh nay có thể gây ngập ngay cả khi triều không quá cao. Theo phân tích của tiến sĩ Dương Văn Ni, có rất nhiều nguyên nhân giải thích tình trạng sụt lún của đồng bằng sông Cửu Long: "Đồng bằng chúng ta là một vùng đất non trẻ, trước khi hình thành chỉ là những bãi bùn rất là nhão. Sau đó đất bắt đầu dần dần săn chắc và như vậy có một quá trình gọi là 'sụt lún tự nhiên'. Hiện tượng này khác nhau ở từng vùng. Do điều kiện địa chất, có những nơi thì sụt lún tự nhiên khoảng chừng 5 cm, có những nơi thì chỉ sụt một vài cm thôi. Nó hoàn toàn lệ thuộc vào cấu tạo địa chất của lớp trầm tích nằm bên dưới. Nhưng một nguyên nhân thứ hai đó là do chúng ta khai thác nước ngầm. Mà lý do căn bản của chuyện khai thác nước ngầm không phải là người ta thiếu nước ngọt mà là thiếu nước có đủ chất lượng để mà sản xuất và sinh hoạt. Bấy lâu nay chúng ta thâm canh, chúng ta đã sử dụng quá nhiều phân bón, thuốc trừ sâu và như vậy tạo ra một lượng dư thừa đổ xuống sông rạch và làm ô nhiễm nước mặt. Đặc biệt là trong quá trình xây đê điều, cống đập để ngăn mặn, ngăn lũ, điều tiết nước thì chúng ta cản trở dòng chảy rất là lớn. Do đó bây giờ gần như người dân nông thôn không còn uống nước dưới sông nữa, hoặc là không còn sinh hoạt, tắm giặt dưới sông nữa, bởi vì người ta sợ ô nhiễm. Và chính vì sợ ô nhiễm như vậy, người ta phải khoan rất nhiều giếng để lấy nước ngầm lên xài. Nghiêm trọng hơn là ở những vùng ven biển, khi người ta nuôi tôm thì người ta cần những độ mặn thích hợp cho quá trình con tôm tăng trưởng. Thành thử người ta phải cần rất nhiều nước ngọt pha loãng với nước mặn để có độ mặn lý tưởng. Và người ta sử dụng một lượng nước ngầm vô cùng lớn không phải chỉ để sinh hoạt, mà cho cả sản xuất, góp phần rất đáng kể vào chuyện làm sụt lún mặt đất. Và nguyên nhân cuối cùng là các công trình xây dựng của chúng ta càng ngày càng dày đặc. Những thành phố ngày xưa chỉ là những nhà thấp thì bây giờ xuất hiện rất nhiều nhà cao tầng, thậm chí những nhà cao tầng đó tập trung rất dày đặc. Với trọng lượng rất là lớn trên mặt đất như vậy nó ép xuống và như vậy cũng sẽ làm tăng mức độ sụt lún chung cho cả vùng. Bao nhiêu năm nay khi nói là nước biển dâng, biến đổi khí hậu, nhưng mà nước biển chỉ dâng chừng vài mm trong vòng 1, 2 năm, trong khi tốc độ sụt lún của chúng ta tới mấy chục mm trong vòng 1 năm.Và như vậy chúng ta thấy là thiên tai đến chậm, nhưng nhân tai đến nhanh hơn!" Sống chung với lũ Theo tiến sĩ Dương Văn Ni, trước viễn cảnh đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục ngập úng diện rộng trong thời gian dài, thay vì chế ngự nguồn nước bằng đê điều như vẫn làm từ trước đến nay, chính quyền địa phương nên giúp cho người dân ở vùng này học cách sống chung với lũ: "Những năm gần đây, chúng ta thấy rõ ràng ngay cả trong các văn bản của nhà nước cũng không còn mạnh dạn nói chuyện chống hạn, chống mặn, chống lũ nữa, mà đang dần dần khuyến khích người dân sống chung với lũ, sống chung với mặn. Thách thức hiện nay đó là nhiều khi giải pháp sống chung đó chưa được phát triển một cách đầy đủ. Và như vậy người dân và các cấp chính quyền ở địa phương khá lúng túng khi áp dụng những mô hình cụ thể vào cuộc sống hàng ngày. Ở những tỉnh đầu nguồn như An Giang, Đồng Tháp vài chục năm trước người ta bao những đê triệt để, không cho nước lũ tràn vào trong mùa mưa, để người ta thâm canh lúa vụ ba nhằm tăng sản lượng lúa. Nhưng sau hàng chục năm sử dụng mô hình đó, bây giờ người ta đã thấy một điều rất rõ là ở những vùng đó gần như đất bị kiệt quệ về dinh dưỡng và người sản xuất phải bón phân ngày càng nhiều. Năng suất lúa thì không tăng bao nhiêu nhưng lượng phân bón phải tăng lên rất cao, do đó lợi nhuận của sản xuất lúa vụ ba này gần như không còn. Người dân ý thức được chuyện đó, chính quyền địa phương và mọi người ý thức được chuyện đó, nhưng bây giờ muốn xả nước trở lại để lấy phù sa, để lấy dinh dưỡng trở lại tự nhiên cho đất, thì đó là một vấn đề không dễ. Trong hàng chục năm qua, vì chúng ta đã giữ mực nước thấp như vậy, thành thử nhà cửa, chuồng trại, vườn tược, thậm chí mồ mả cũng xây thấp lè tè bằng với mực nước. Bây giờ nếu xả nước trở lại thì tất cả những công trình này sẽ bị chìm ngập hết. Và như vậy người dân không đồng thuận mặc dù người ta ý thức rất rõ là bây giờ phải xả nước trở lại để cho đất đai nó màu mỡ trở lại. Chúng ta cũng phải đi từng bước chứ không thể một ngày một buổi mà có giải pháp tổng thể được. Thứ nhất, phải chuyển đổi cách sử dụng đất làm thế nào để bảo đảm được thu nhập cho người dân ổn định hàng tháng, hàng năm chuyển đổi từ sinh kế không lệ thuộc vào nguồn nước sang thích nghi tốt với những nguồn nước. Khi chuyển đổi được những sinh kế cho bà con ở một vùng nào đó rồi đó thì bước tiếp theo là phải lần lần rút người dân ra khỏi những vùng không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nữa, ví dụ như những vùng bưng biền mà ngày xưa nó ngập rất lâu, khi mùa nước tới là nước nó ngập ba bốn mét. Những vùng này trong bao nhiêu năm qua chúng ta bao đê khô triệt để cho người dân sống trong đó, nhưng mà người ta sống với một tâm thế rất là phập phồng rủi ro, không biết đê bao bị vỡ gây ngập lụt bất cứ lúc nào, tài sản người ta xây dựng hàng chục năm có thể đổ sông đổ biển trong vòng một vài tiếng đồng hồ. Thứ ba là chúng ta cũng phải định hình lại chiến lược phát triển tổng thể của Đồng bằng sông Cửu Long và chiến lược đó phải phân khu vực. Những nơi nào mà bắt buộc chúng ta phải không cho nước nó ngập bất cứ lúc nào, thì những khu đó, với khoa học công nghệ hiện đại, chúng ta hoàn toàn có đủ khả năng kiểm soát hoàn toàn mực nước, để không có chuyện ngập tràn lan. Dĩ nhiên là những khu này phải tương xứng với cái trình độ phát triển và phải đóng góp rất lớn cho nền kinh tế của cả khu vực. Bởi vì đầu tư cho những khu vực này là vô cùng tốn kém và quản lý những khu này lại càng tốn kém hơn nữa. Đó là những khu vực đặc biệt phải ưu tiên, ví dụ như những khu công nghiệp, những nơi có những công trình phúc lợi công cộng như trường học, bệnh viện... Còn lại những khu vực không đóng góp thực sự lớn cho nền kinh tế thì chúng ta phải xem xét từng bước trả nó trở về với thiên nhiên. Khi chúng ta làm được điều đó đó thì tự bản thân cộng đồng đã thích nghi được rồi. Kinh nghiệm của Hà Lan Tiến sĩ Dương Văn Ni nêu ví dụ của Hà Lan, một quốc gia có giàu kinh nghiệm sống với nước, đồng thời có trình độ khoa học kỹ thuật rất cao trong việc xây dựng các đê điều và quản lý đê điều. Tuy nhiên, những năm sau này, họ thấy là cần thấy phải trả lại không gian cho dòng sông, cho nên họ đưa ra một chương trình rất lớn gọi là 'room for the river': Trong những năm mà mưa thuận gió hòa thì người ta vẫn canh tác được trên những vùng đất đó. Nhưng những năm nào mà dự đoán là thời tiết cực đoan, hay có thể xảy ra nước ngập nghiêm trọng, thì những vùng đó được cảnh báo và người ta không canh tác trong vùng đó. Vùng đó trở thành không gian để người ta chứa nước dư thừa của dòng sông. Theo tiến sĩ Dương Văn Ni, có thể áp dụng kinh nghiệm của Hà Lan cho đồng bằng sông Cửu Long : "Ở đồng bằng sông Cửu Long thật ra có hai vùng rất lớn. Một vùng là ở Tứ Giác Long Xuyên của các tỉnh như Kiên Giang và An Giang. Vùng thứ hai là vùng Đồng Tháp Mười của các tỉnh Đồng Tháp, Long An và Tiền Giang. Hai vùng này, trong tự nhiên có thể trữ được khoảng 8 đến 9 tỷ mét khối nước trong mùa mưa. Với khả năng trữ một lượng nước khổng lồ như vậy, chúng ta hoàn toàn không phải lo chuyện ngập úng của những vùng bên dưới. Mấy năm gần đây chúng ta đã biến những vùng này thành những vùng thâm canh nông nghiệp và như vậy là toàn bộ lượng nước thay vì có một không gian để tràn thì bây giờ phải tràn xuống những vùng bên dưới, gây ra ngập lụt thường xuyên, đặc biệt là ngập lụt ở những thành phố mà trong lịch sử chưa từng bị ngập, như Cần Thơ chẳng hạn. Khái niệm 'room for the river' đối với Hà Lan thì dễ làm hơn là vì cộng đồng của họ thưa thớt, họ dễ quy hoạch, dễ tính toán. Còn hiện nay những vùng như Đồng Tháp Mười hoặc Tứ Giác Long Xuyên của chúng ta thì đã có hàng triệu người dân sinh sống và đã ổn định nhà cửa cũng như vườn tược, chuồng trại. Và như vậy việc sử dụng hai vùng này mà tôi gọi là 'room for the delta' là một thách thức rất lớn, cần một nỗ lực rất lớn của toàn xã hội." "
Theo các chuyên gia, vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với nhiều nguy cơ với các hiện tượng triều cường, sụt lún và sạt lở đồng loạt gia tăng. Không chỉ gây ngập úng diện rộng, các hiện tượng này còn làm suy yếu hệ thống đê bao, có thể dẫn đến những sự cố nghiêm trọng nếu không có giải pháp ứng phó kịp thời. Theo báo chí trong nước, trong những ngày đầu tháng 10 âm lịch vừa qua, nhiều khu vực ở Đồng Tháp liên tục ngập sâu do triều cường lên mức cao nhất từ đầu năm. Triều cường mạnh cũng có nguy cơ làm vỡ đê. Cùng thời điểm, Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam (VAWR) cảnh báo nhiều khu vực trong vùng có khả năng tiếp tục bị ngập úng do kết hợp giữa triều cường, mưa trái mùa và dòng chảy yếu từ thượng nguồn. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 12/12/2025, tiến sĩ Dương Văn Ni, Khoa Môi trường và Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Đại học Cần Thơ và là chủ tịch Quỹ bảo tồn Mekong MCF, giải thích: "Nói về ngập, chúng ta phân biệt ba thông số. Thứ nhất là diện tích ngập, thứ hai là độ sâu ngập và thứ ba là thời gian ngập. Ví dụ các tỉnh ven phía Biển Đông như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều, thành thử khi bị ngập thì sẽ ngập rất nhanh, nhưng mà rút rất là lẹ, tại vì một ngày một đêm có tới hai lần nước ròng, hai lần nước kém. Các tỉnh khác như Kiên Giang, Cà Mau thì lại bị ảnh hưởng chế độ nhật triều, ngập thì cũng ngập nhanh, nhưng lại rút rất chậm, bởi vì một ngày một đêm chỉ có một lần nước ròng thôi. Những tỉnh đầu nguồn như Đồng Tháp, An Giang thì lại ít bị ảnh hưởng bởi chế độ thủy triều từ Biển Đông, mà bị ảnh hưởng hoàn toàn bởi lượng nước đổ về của sông Mekong và lượng mưa tại chỗ. Ở những nơi đây có mùa nước mà người ta hay gọi là mùa nước nổi, khoảng giữa rằm tháng 7 thì nước dâng lên từ từ nhưng lại kéo dài cho tới khoảng cuối tháng 9 âm lịch thì nước mới bắt đầu rút được. Còn những tỉnh nằm giữa như Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang thì lại bị ảnh hưởng bởi hai phần. Một phần là các tỉnh phía thượng nguồn như Đồng Tháp, An Giang và một phần khác là các tỉnh ven biển như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu... Nếu xảy ra ngập lụt ở Cần Thơ và nếu các tỉnh phía bên trên như Đồng Tháp, An Giang không có nước đổ về tiếp tục và trong khi đó phía Sóc Trăng và Trà Vinh không bị ngập, thì Cần Thơ bị ngập không đáng kể, có nghĩa là ngập, nhưng sau đó nước sẽ rút rất nhanh. Nhưng ngược lại, nếu các tỉnh ven biển như Trà Vinh, Sóc Trăng cũng bị ngập và cộng thêm các tỉnh đầu nguồn như Đồng Tháp, An Giang lại ngập nữa, thì lúc bây giờ các tỉnh phía giữa như Vĩnh Long và Cần Thơ sẽ ngập rất sâu. Khi muốn đánh giá ngập ở một chỗ nào thì có rất nhiều nguyên nhân, chứ không đơn thuần một hai nguyên nhân. Và bản chất của chuyện ngập là hoàn toàn khác nhau giữa tỉnh này với tỉnh khác. Nó không chịu một ảnh hưởng nguyên nhân chung, mà mỗi tỉnh có một nguyên nhân riêng. Thậm chí những địa phương trong cùng một tỉnh cũng có những nguyên nhân ngập khác nhau. Và điều đó tác động lên ba thông số mà tôi vừa trình bày: Diện tích ngập, độ sâu ngập và thời gian ngập." Tình trạng sụt lún Không chỉ đối mặt với ngập úng, vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn đang chịu tác động của sụt lún đất và sạt lở bờ sông, bờ biển. Mưa lớn, dòng chảy thay đổi và tác động của triều cường khiến các điểm sạt lở xuất hiện với tần suất dày hơn. Tại một số khu vực, sạt lở đã ăn sâu vào sát chân đê, làm tăng nguy cơ mất an toàn cho cả tuyến đê lẫn người dân sinh sống ven sông. Phân tích của các chuyên gia VAWR cho thấy việc khai thác nước ngầm kéo dài đã khiến nền đất hạ thấp. Khi nền đất lún xuống, mực nước vốn chỉ ngang bờ kênh nay có thể gây ngập ngay cả khi triều không quá cao. Theo phân tích của tiến sĩ Dương Văn Ni, có rất nhiều nguyên nhân giải thích tình trạng sụt lún của đồng bằng sông Cửu Long: "Đồng bằng chúng ta là một vùng đất non trẻ, trước khi hình thành chỉ là những bãi bùn rất là nhão. Sau đó đất bắt đầu dần dần săn chắc và như vậy có một quá trình gọi là 'sụt lún tự nhiên'. Hiện tượng này khác nhau ở từng vùng. Do điều kiện địa chất, có những nơi thì sụt lún tự nhiên khoảng chừng 5 cm, có những nơi thì chỉ sụt một vài cm thôi. Nó hoàn toàn lệ thuộc vào cấu tạo địa chất của lớp trầm tích nằm bên dưới. Nhưng một nguyên nhân thứ hai đó là do chúng ta khai thác nước ngầm. Mà lý do căn bản của chuyện khai thác nước ngầm không phải là người ta thiếu nước ngọt mà là thiếu nước có đủ chất lượng để mà sản xuất và sinh hoạt. Bấy lâu nay chúng ta thâm canh, chúng ta đã sử dụng quá nhiều phân bón, thuốc trừ sâu và như vậy tạo ra một lượng dư thừa đổ xuống sông rạch và làm ô nhiễm nước mặt. Đặc biệt là trong quá trình xây đê điều, cống đập để ngăn mặn, ngăn lũ, điều tiết nước thì chúng ta cản trở dòng chảy rất là lớn. Do đó bây giờ gần như người dân nông thôn không còn uống nước dưới sông nữa, hoặc là không còn sinh hoạt, tắm giặt dưới sông nữa, bởi vì người ta sợ ô nhiễm. Và chính vì sợ ô nhiễm như vậy, người ta phải khoan rất nhiều giếng để lấy nước ngầm lên xài. Nghiêm trọng hơn là ở những vùng ven biển, khi người ta nuôi tôm thì người ta cần những độ mặn thích hợp cho quá trình con tôm tăng trưởng. Thành thử người ta phải cần rất nhiều nước ngọt pha loãng với nước mặn để có độ mặn lý tưởng. Và người ta sử dụng một lượng nước ngầm vô cùng lớn không phải chỉ để sinh hoạt, mà cho cả sản xuất, góp phần rất đáng kể vào chuyện làm sụt lún mặt đất. Và nguyên nhân cuối cùng là các công trình xây dựng của chúng ta càng ngày càng dày đặc. Những thành phố ngày xưa chỉ là những nhà thấp thì bây giờ xuất hiện rất nhiều nhà cao tầng, thậm chí những nhà cao tầng đó tập trung rất dày đặc. Với trọng lượng rất là lớn trên mặt đất như vậy nó ép xuống và như vậy cũng sẽ làm tăng mức độ sụt lún chung cho cả vùng. Bao nhiêu năm nay khi nói là nước biển dâng, biến đổi khí hậu, nhưng mà nước biển chỉ dâng chừng vài mm trong vòng 1, 2 năm, trong khi tốc độ sụt lún của chúng ta tới mấy chục mm trong vòng 1 năm.Và như vậy chúng ta thấy là thiên tai đến chậm, nhưng nhân tai đến nhanh hơn!" Sống chung với lũ Theo tiến sĩ Dương Văn Ni, trước viễn cảnh đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục ngập úng diện rộng trong thời gian dài, thay vì chế ngự nguồn nước bằng đê điều như vẫn làm từ trước đến nay, chính quyền địa phương nên giúp cho người dân ở vùng này học cách sống chung với lũ: "Những năm gần đây, chúng ta thấy rõ ràng ngay cả trong các văn bản của nhà nước cũng không còn mạnh dạn nói chuyện chống hạn, chống mặn, chống lũ nữa, mà đang dần dần khuyến khích người dân sống chung với lũ, sống chung với mặn. Thách thức hiện nay đó là nhiều khi giải pháp sống chung đó chưa được phát triển một cách đầy đủ. Và như vậy người dân và các cấp chính quyền ở địa phương khá lúng túng khi áp dụng những mô hình cụ thể vào cuộc sống hàng ngày. Ở những tỉnh đầu nguồn như An Giang, Đồng Tháp vài chục năm trước người ta bao những đê triệt để, không cho nước lũ tràn vào trong mùa mưa, để người ta thâm canh lúa vụ ba nhằm tăng sản lượng lúa. Nhưng sau hàng chục năm sử dụng mô hình đó, bây giờ người ta đã thấy một điều rất rõ là ở những vùng đó gần như đất bị kiệt quệ về dinh dưỡng và người sản xuất phải bón phân ngày càng nhiều. Năng suất lúa thì không tăng bao nhiêu nhưng lượng phân bón phải tăng lên rất cao, do đó lợi nhuận của sản xuất lúa vụ ba này gần như không còn. Người dân ý thức được chuyện đó, chính quyền địa phương và mọi người ý thức được chuyện đó, nhưng bây giờ muốn xả nước trở lại để lấy phù sa, để lấy dinh dưỡng trở lại tự nhiên cho đất, thì đó là một vấn đề không dễ. Trong hàng chục năm qua, vì chúng ta đã giữ mực nước thấp như vậy, thành thử nhà cửa, chuồng trại, vườn tược, thậm chí mồ mả cũng xây thấp lè tè bằng với mực nước. Bây giờ nếu xả nước trở lại thì tất cả những công trình này sẽ bị chìm ngập hết. Và như vậy người dân không đồng thuận mặc dù người ta ý thức rất rõ là bây giờ phải xả nước trở lại để cho đất đai nó màu mỡ trở lại. Chúng ta cũng phải đi từng bước chứ không thể một ngày một buổi mà có giải pháp tổng thể được. Thứ nhất, phải chuyển đổi cách sử dụng đất làm thế nào để bảo đảm được thu nhập cho người dân ổn định hàng tháng, hàng năm chuyển đổi từ sinh kế không lệ thuộc vào nguồn nước sang thích nghi tốt với những nguồn nước. Khi chuyển đổi được những sinh kế cho bà con ở một vùng nào đó rồi đó thì bước tiếp theo là phải lần lần rút người dân ra khỏi những vùng không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nữa, ví dụ như những vùng bưng biền mà ngày xưa nó ngập rất lâu, khi mùa nước tới là nước nó ngập ba bốn mét. Những vùng này trong bao nhiêu năm qua chúng ta bao đê khô triệt để cho người dân sống trong đó, nhưng mà người ta sống với một tâm thế rất là phập phồng rủi ro, không biết đê bao bị vỡ gây ngập lụt bất cứ lúc nào, tài sản người ta xây dựng hàng chục năm có thể đổ sông đổ biển trong vòng một vài tiếng đồng hồ. Thứ ba là chúng ta cũng phải định hình lại chiến lược phát triển tổng thể của Đồng bằng sông Cửu Long và chiến lược đó phải phân khu vực. Những nơi nào mà bắt buộc chúng ta phải không cho nước nó ngập bất cứ lúc nào, thì những khu đó, với khoa học công nghệ hiện đại, chúng ta hoàn toàn có đủ khả năng kiểm soát hoàn toàn mực nước, để không có chuyện ngập tràn lan. Dĩ nhiên là những khu này phải tương xứng với cái trình độ phát triển và phải đóng góp rất lớn cho nền kinh tế của cả khu vực. Bởi vì đầu tư cho những khu vực này là vô cùng tốn kém và quản lý những khu này lại càng tốn kém hơn nữa. Đó là những khu vực đặc biệt phải ưu tiên, ví dụ như những khu công nghiệp, những nơi có những công trình phúc lợi công cộng như trường học, bệnh viện... Còn lại những khu vực không đóng góp thực sự lớn cho nền kinh tế thì chúng ta phải xem xét từng bước trả nó trở về với thiên nhiên. Khi chúng ta làm được điều đó đó thì tự bản thân cộng đồng đã thích nghi được rồi. Kinh nghiệm của Hà Lan Tiến sĩ Dương Văn Ni nêu ví dụ của Hà Lan, một quốc gia có giàu kinh nghiệm sống với nước, đồng thời có trình độ khoa học kỹ thuật rất cao trong việc xây dựng các đê điều và quản lý đê điều. Tuy nhiên, những năm sau này, họ thấy là cần thấy phải trả lại không gian cho dòng sông, cho nên họ đưa ra một chương trình rất lớn gọi là 'room for the river': Trong những năm mà mưa thuận gió hòa thì người ta vẫn canh tác được trên những vùng đất đó. Nhưng những năm nào mà dự đoán là thời tiết cực đoan, hay có thể xảy ra nước ngập nghiêm trọng, thì những vùng đó được cảnh báo và người ta không canh tác trong vùng đó. Vùng đó trở thành không gian để người ta chứa nước dư thừa của dòng sông. Theo tiến sĩ Dương Văn Ni, có thể áp dụng kinh nghiệm của Hà Lan cho đồng bằng sông Cửu Long : "Ở đồng bằng sông Cửu Long thật ra có hai vùng rất lớn. Một vùng là ở Tứ Giác Long Xuyên của các tỉnh như Kiên Giang và An Giang. Vùng thứ hai là vùng Đồng Tháp Mười của các tỉnh Đồng Tháp, Long An và Tiền Giang. Hai vùng này, trong tự nhiên có thể trữ được khoảng 8 đến 9 tỷ mét khối nước trong mùa mưa. Với khả năng trữ một lượng nước khổng lồ như vậy, chúng ta hoàn toàn không phải lo chuyện ngập úng của những vùng bên dưới. Mấy năm gần đây chúng ta đã biến những vùng này thành những vùng thâm canh nông nghiệp và như vậy là toàn bộ lượng nước thay vì có một không gian để tràn thì bây giờ phải tràn xuống những vùng bên dưới, gây ra ngập lụt thường xuyên, đặc biệt là ngập lụt ở những thành phố mà trong lịch sử chưa từng bị ngập, như Cần Thơ chẳng hạn. Khái niệm 'room for the river' đối với Hà Lan thì dễ làm hơn là vì cộng đồng của họ thưa thớt, họ dễ quy hoạch, dễ tính toán. Còn hiện nay những vùng như Đồng Tháp Mười hoặc Tứ Giác Long Xuyên của chúng ta thì đã có hàng triệu người dân sinh sống và đã ổn định nhà cửa cũng như vườn tược, chuồng trại. Và như vậy việc sử dụng hai vùng này mà tôi gọi là 'room for the delta' là một thách thức rất lớn, cần một nỗ lực rất lớn của toàn xã hội." "
Với những khu phố sầm uất và những tòa nhà chọc trời, Jakarta là một thành phố sôi động nhưng đang dần biến mất. Việc khai thác nước ngầm quá mức đã gây ra tình trạng sụt lún đất ở mức báo động: từ 8 đến 20 cm mỗi năm. Ở một số khu vực, mặt đất nằm dưới mực nước biển đến 4 mét. Hậu quả ngày càng khó lường: lũ lụt ngày càng trầm trọng, cơ sở hạ tầng bị hư hại và các dòng sông không còn chảy tự do ra biển. Vào năm 2014, nữ nhiếp ảnh gia người Hà Lan Cynthia Boll tình cờ đọc được thông tin về dự án xây dựng một bức tường chắn sóng khổng lồ ở Vịnh Jakarta. Đó chính là khởi đầu của một hành trình mà sau này sẽ dẫn đến "Thành phố đang chìm", một dự án nhiếp ảnh dài hạn về một trong những mối đe dọa đối với nhiều đô thị trên thế giới: tình trạng sụt lún đất. Năm 2022, Cynthia Boll đã hợp tác với nhà báo kiêm nhà làm phim tài liệu Stephanie Bakker để khám phá sâu hơn về dự án này, cả về mặt hình ảnh lẫn báo chí. Họ chia sẻ những trải nghiệm của cư dân thành phố khi đối mặt với cả hiện tượng sụt lún đất và biến đổi khí hậu. Mục tiêu của họ không chỉ là nêu bật những rủi ro mà còn khám phá cách mà mỗi cá nhân thích nghi, chống chọi hoặc suy nghĩ lại về môi trường của họ, cũng như những bài học mà trải nghiệm của họ có thể mang lại cho thế giới. Phóng sự ảnh của Cynthia Boll tựa đề “Cuộc di dời thủ đô Indonesia” ("La migration de la capitale indonésienne") đã được giới thiệu tại Liên hoan ảnh báo chí quốc tế Visa pour l'image tại thành phố Perpignan miền nam nước Pháp vào đầu tháng 09/2025. Trả lời RFI Việt ngữ tại Perpignan, Cynthia Boll cho biết: “Tình trạng sụt lún không chỉ là thách thức đối với Jakarta, mà có tới 20% thành phố trên toàn thế giới bị tình trạng này, tức là ảnh hưởng đến rất nhiều người, đến cả hàng triệu người. Jakarta đáng chú ý vì họ có kế hoạch di dời thủ đô để giải quyết vấn đề ngập nước, quá tải dân số và tắc nghẽn giao thông. Họ có làm được như vậy không, đó là một quá trình rất đáng theo dõi. Lần đầu tiên tôi đến Jakarta là vào năm 2014 và kể từ đó tôi đã quay lại thành phố này hàng năm, thậm chí đôi khi là hai lần một năm, tức là trong một thời gian dài. Điều đáng nói là ở miền bắc, mỗi lần đến tôi đều thấy có sự thay đổi. Dự án này thể hiện góc nhìn của những người đang sống ở đó, tùy theo là một nữ sinh, một ngư dân hay một kỹ sư. Tôi nói chuyện với họ để lắng nghe suy nghĩ của họ.” Cynthia Boll đã lặn lội (theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen) đến khu vực Muara Angke, phía bắc Jakarta, để chụp các bức ảnh tại nơi thường xuyên bị ngập lụt nghiêm trọng do thủy triều, khi nước biển tràn qua đê và chảy vào các vùng trũng thấp. Hiện tượng này, mà người dân địa phương gọi là "rob", gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của họ. Trong bức ảnh, một số người dân đang đi trên đường phố bị ngập quá nữa người, nhưng vẫn nở nụ cười cam chịu trước ống kính của nữ nhiếp ảnh gia người Hà Lan. Cynthia Boll nêu lên những quan sát của cô trong những lần đi thực tế đến các khu vực thường xuyên bị ngập nước ở Jakarta: ”Thật thú vị khi thấy mọi người thích nghi như thế nào với tình hình, với mỗi loại lũ lụt khác nhau, chẳng hạn như lũ lụt do mưa làm nước sông dâng cao. Ở miền bắc, người dân cũng phải hứng chịu nước từ biển khi thủy triều lên. Ai cũng lo chuyển đồ đạc có giá trị lên tầng một để bảo vệ chúng. Những giấy tờ quan trọng thì họ bọc kín lại. Nói chung, họ có một cơ chế đối phó và đã quen với điều đó. Nhưng họ cũng nói rằng lũ lụt đang trở nên thường xuyên hơn và tồi tệ hơn. Chẳng hạn như trong bức ảnh này, chúng ta thấy người dân trong xóm đang nâng một chiếc xe máy lên một chỗ cao hơn, vì nhà của một người đang bị ngập và nước ngày càng dâng cao.” Nói chung, tình trạng ngập lụt thường xuyên gây rất nhiều xáo trộn cho sinh hoạt của người dân Jakarta, nhất là ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là đối với trẻ em, nô đùa trong nước bị ô nhiễm, như ghi nhận của nhiếp ảnh gia Cynthia Boll: “Nhìn vào bức ảnh này, bạn sẽ thấy một người phụ nữ cùng chồng đang bán rau trên một chiếc xe đẩy và họ đi qua khu vực đó để bán trái cây và rau củ. Đường phố ngập lụt, họ vẫn đi bán, nhưng việc buôn bán trở nên khó khăn hơn. Trong hình này, đường phố trở thành giống như là một chợ nổi. Ấy là chưa kể khi lũ lụt xảy ra, giá nước sạch cũng tăng cao, giá cả mọi thứ đều tăng. Trong hình kia, bọn trẻ chơi đùa dưới nước và đối với chúng, đó là một sân chơi. Gia đình này sống ngay cạnh biển, thậm chí cách nhà họ chưa đầy 50 mét, khi thủy triều lên, nước tràn qua đê, khiến khu vực này thấp hơn mực nước biển. Vì vậy, toàn bộ nước tràn vào đường phố, và khi thủy triều xuống thấp hơn, nước lại tràn ra ngoài. Tình trạng này xảy ra vài lần mỗi hai tháng. Có rất nhiều vấn đề về sức khỏe cộng đồng đối với người dân nơi đây. Khi thủy triều xuống, nước sẽ đọng lại đôi khi trong nhiều ngày, dẫn đến các bệnh lây truyền qua nước. Vào những thời điểm mưa nhiều hơn và lũ lụt nghiêm trọng hơn, ta có thể thấy điều đó qua các buổi khám sức khỏe cho trẻ em, với số trẻ bị bệnh hơn cao hơn nhiều so với trước đây, do lũ lụt và bệnh tật.” Đối mặt với viễn cảnh Jakarta tiếp tục chìm, chính phủ đã chọn một giải pháp triệt để: xây dựng một thủ đô mới từ con số không. Ngày 18/01/2022, Quốc Hội Indonesia đã thông qua luật dời thủ đô từ Jakarta sang đảo Borneo. Công trình xây dựng đã bắt đầu ngay từ năm đó. Nusantara, thủ đô tương lai của Indonesia, nằm ở tỉnh Đông Kalimantan, được kỳ vọng trở thành di sản để đời đối với tổng thống sắp mãn nhiệm Joko Widodo. Ông muốn một trung tâm mới cho chính phủ, nơi sẽ không còn tình trạng quá tải và ngập lụt như thủ đô Jakarta hiện nay. Nusantara, một dự án tốn kém 32 tỷ đô la, theo dự kiến sẽ là một thành phố thông minh, bền vững, sử dụng 100% năng lượng tái tạo và đạt mức trung hòa carbon vào năm 2045. Được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của hai triệu người, dự án này được kỳ vọng sẽ giảm áp lực lên Jakarta. Nhiếp ảnh gia Cynthia Boll đã nhiều lần đến Nusantara để ghi lại những hình ảnh về tiến độ xây dựng thủ đô mới, nơi mà nước mưa sẽ được tích trữ và dòng chảy của nước sẽ được quản lý ở cấp độ địa phương, tạo thành một thành phố "thấm nước". Một bức ảnh của nữ nhiếp ảnh gia Hà Lan chụp một phòng điều khiển đã được xây dựng xong, sẵn sàng cho việc quản lý nước sạch, nước thải và báo động lũ lụt ở Nusantara. Nhưng việc xây dựng một thành phố mới không phải là đơn giản. Những vấn đề nhạy cảm về chính trị, đầu tư hạn chế và sự chậm trễ trong xây dựng đã phủ bóng đen bất định lên tiến độ thực hiện. Vẫn còn nhiều nghi vấn về việc di dời công chức, ban đầu được lên kế hoạch vào năm 2024. Cynthia Boll cũng bày tỏ sự hoài nghi về tính khả thi của dự án, nhất là dưới chính quyền của tổng thống mới Prabowo Subianto, nhậm chức từ tháng 10/2024: “Tôi bắt đầu theo dõi dự án này từ khi họ được cho là sẽ di dời người dân. Điều đó vẫn chưa xảy ra. Việc di dời thủ đô là một dự án đầy tham vọng và tốn kém. Bây giờ Indonesia đã có một tổng thống mới. Liệu ông có ưu tiên dự án này trong chương trình hành động của ông hay không, đây vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi. Không ai biết điều gì sẽ xảy ra nếu thành phố này trở thành thủ đô mới, hoặc không biết sẽ có người đến đó ở hay không. Mọi thứ đều không rõ ràng và không chắc chắn.” Những con đường rộng rãi, vắng vẻ của Nusantara nay vẫn tương phản rõ rệt với những con phố đông đúc của Jakarta. Liệu Nusantara có thể trở thành một thủ đô thịnh vượng? Hay nó sẽ chỉ là hình ảnh phác họa cho một tương lai không bao giờ thành hiện thực?
Bất chấp những áp lực của Hoa Kỳ, Ấn Độ vẫn mua dầu hỏa của Nga và Matxcơva vẫn là nguồn cung cấp năng lượng và vũ khí « đáng tin cậy » nhất cho quốc gia Nam Á này. Chuyên gia về địa chính trị Olivier Guillard thuộc viện nghiên cứu IEGA, Paris, nhận định tổng thống Vladimir Putin muốn khẳng định « quan hệ về năng lượng giữa Nga và Ấn Độ không bị áp lực quốc tế phá vỡ ». New Delhi lâm vào « thế kẹt » trong mối quan hệ tay ba Ấn-Nga-Mỹ nhưng không thể rời xa nguồn cung ứng « quan trọng nhất » đang bảo đảm 1/3 tổng kim ngạch nhập khẩu năng lượng cho toàn quốc. Tuần trước, trong chuyến công du Ấn Độ đầu tiên từ khi khởi động « chiến dịch quân sự » đặc biệt tại Ukraina, tổng thống Vladimir Putin vừa đặt chân đến New Delhi đã tuyên bố:« Nguồn dầu Nga cung dầu cho Ấn Độ sẽ tiếp tục mà không bị gián đoạn, bất chấp những áp lực từ bên ngoài ». Nga cung cấp 1/3 dầu hỏa cho Ấn Độ Phải đặt tuyên bố này trong bối cảnh từ năm 2022 khi Nga xâm chiếm Ukraina, dưới tác động của các lệnh trừng phạt mà phương Tây ban hành, xuất khẩu năng lượng của Nga sang châu Âu - khách hàng quan trọng nhất, giảm gần 80 %. Các tập đoàn dầu khí của Nga lập tức chuyển hướng sang châu Á, trông cậy nhiều vào Ấn Độ và Trung Quốc. Cả hai đã trở thành những khách hàng quan trọng nhất. Riêng Ấn Độ, từ năm 2024 bất ngờ qua mặt Trung Quốc, nhập khẩu đến hơn 2 triệu thùng dầu của Nga mỗi ngày, chiếm hơn 1/3 tổng kim ngạch nhập khẩu năng lượng của Ấn Độ. Cuối tháng 8/2025 tổng thống Donald Trump áp đặt mức thuế bổ sung 50% lên toàn bộ hàng hóa Ấn Độ nhập khẩu vào lãnh thổ Hoa Kỳ. Mục đích của Washington là gây sức ép, để New Delhi bớt mua dầu hỏa của Nga bởi khoản giao dịch này góp phần tài trợ cho cuộc chiến mà Nga đang tiến hành ở Ukraina. Đây cũng là một trong những yếu tố làm xấu đi quan hệ giữa Hoa Kỳ và Ân Độ. Chủ nhân Nhà Trắng cho biết, ông được thủ tướng Narendra Modi cam đoan là Ấn Độ « ngừng mua dầu của Nga ». New Delhi hoàn toàn im lặng về điều này cho dù theo các thống kê của hải quan Ấn Độ, trong giai đoạn từ đầu tháng 9 đến ngày 21/11/2025, tổng kim ngạch nhập khẩu dầu Nga của Ấn Độ giảm đi 30 %. Ấn Độ và chủ trương « không liên kết » Dầu hỏa là một trong hai hồ sơ quan trọng nhất trong bang giao giữa New Delhi và Matxcơva. Trả lời RFI Việt ngữ, chuyên gia Olivier Guillard thuộc Viện Nghiên Cứu về Địa Chính Trị Thực Hành -Institut d'Etudes de Géopolitique Appliquée -IEGA, Paris trước hết nhấn mạnh : tiếp đón trọng thể tổng thống Nga trong bối cảnh « cơm chẳng lành canh chẳng ngọt » với Mỹ, thủ tướng Modi thể hiện truyền thống không liên kết về đối ngoại của New Delhi. Hơn nữa hai hồ sơ lớn là năng lượng và quốc phòng luôn gắn chặt Ấn Độ với Nga : Olivier Guillard : « Chuyến thăm ngắn ngủi 27 giờ của tổng thống Nga tại Ấn Độ diễn ra đúng như những gì hai nhà lãnh đạo Vladimir Putin và Narendra Modi đã tính trước. Đây là một cuộc tái ngộ giữa hai đối tác lâu năm và họ rất ăn ý với nhau. Cả hai đánh giá cao đối tác và cũng chính những tình huống khó khăn giúp New Delhi và Matxcơva dễ dàng tạo dựng một liên minh. Đôi bên đã ký kết nhiều thỏa thuận, đặc biệt là về thương mại. Hợp tác mậu dịch giữa Ấn Độ và Nga đã mở rộng tới mục tiêu nâng tổng trao đổi mậu dịch hai chiều lên ngưỡng 100 tỷ đô la từ nay đến khoảng năm 2030. Đương nhiên đây là chuyến thăm đầu tiên của Vladimir Putin đến Ấn Độ kể từ khi Nga phát động cuộc chiến tại Ukraina. Phương tây muốn thủ tướng Modi dùng ảnh hưởng để thuyết phục tổng thống Nga trong vấn đề này ». Chiến tranh Ukraina đã truất phế Ả Rập Xê Út khỏi vị trí nhà cung cấp số 1 về dầu hỏa cho Ấn Độ. Cuối năm 2021, chỉ có 2 % nhập khẩu dầu vào Ấn Độ là do các tập đoàn Nga cung cấp, nhưng tỷ lệ này đã tăng vọt lên tới 35 % và có lúc lên đến 40 % trong năm 2024. Theo tạp chính năng lượng Connaissances des Energies, về dầu hỏa Ấn Độ phụ thuộc đến 85 % vào Nga. Có ít nhất hai lý do giải thích cho « bước nhảy vọt » nói trên: Nga cung cấp dầu cho Ấn Độ với giá thấp hơn nhiều so với thị trường. Theo tờ báo mạng Lenergeek Ấn Độ đang mua vào dầu của Nga với giá thấp hơn đến 12 % so với giá một thùng dầu Brent. Điểm thứ nhì là Ấn Độ nhập khẩu dầu thô của Nga, bảo đảm công tác lọc dầu trước khi xuất khẩu trở lại sang châu Âu và một số nước châu Á như Nhật Bản. Tiêu biểu nhất là đầu tư của Ấn Độ vào công nghiệp lọc dầu tăng mạnh từ 2023 đến nay. Olivier Guillard, viện IEGA Paris phân tích thêm : Olivier Guillard : « Về năng lượng, New Delhi từng bị chỉ trích mua dầu của Nga với giá rẻ trong khi một phần lớn dầu xuất khẩu của Nga bị phương Tây trừng phạt. Hoa Kỳ đang đòi Ấn Độ bớt mua dầu của Nga và chuyển hướng đến các nguồn cung cấp khác. Trên thực tế chính quyền Modi đã nhượng bộ Mỹ phần nào. Do vậy mục tiêu chuyến công du New Delhi lần này của tổng thống Vladimir Putin nhằm cứu vãn quan hệ đối tác năng lượng Nga – Ấn trong tương lai. Matxcơva cần được bảo đảm là liên hệ về năng lượng giữa hai nước vẫn không bị áp lực quốc tế phá vỡ. Chính vì thế mà ông Putin tuyên bố Nga vẫn cung cấp dầu hỏa cho Ấn Độ ». 70 % vũ khí của Ấn Độ do Nga cung cấp Đương nhiên hồ sơ quan trọng thứ hai và cũng đang chịu áp lực từ phía Mỹ là vấn đề quốc phòng : Hiện tại tổng trao đổi mậu dịch hai chiều giữa Ấn Độ và Nga đạt gần 70 tỷ đô la. Lãnh đạo 2 nước vừa cam kết nâng số này lên thành 100 tỷ trước ngưỡng năm 2030. Nhưng đây là một cán cân thương mại hoàn toàn bất lợi cho New Delhi. Nga do bán vũ khí và năng lượng xuất khẩu đến 64 tỷ đô la sang Ấn Độ năm ngoái, trong chiều ngược lại chỉ mua vào có 5 tỷ đô la hàng Made in India. Trước ngày tổng thống Putin gặp lại thủ tướng Modi ở New Delhi, Matxcơva để ngỏ khả năng đôi bên sẽ chính thức thông báo một loạt các hợp đồng vũ khí và thiết bị quân sự hạng nặng, nhưng theo các nguồn thạo tin, cho đến hôm nay, vẫn chưa có thêm thông tin về hợp đồng Matxcơva cung cấp tên lửa địa đối không tầm xa S-400 hay chiến đầu cơ Su-57 thế hệ mới nhất cho New Delhi. Một nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Quốc Tế Stockholm SIPRI trong thời gian từ 2010 đến 2017, 70 % đơn đặt hàng của Ấn Độ đều dồn cho các nhà cung cấp Nga, nhưng từ khi Matxcơva chiếm bán đảo Crimée của Ukraina, New Delhi bắt đầu đa dạng hóa các nguồn cung cấp, đặc biệt chuyển hướng tới các tập đoàn của Mỹ, Israel và của Pháp. Ấn Độ, « khách hàng Matxcơva không thể đánh mất » Trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng, thông điệp của tổng thống Vladimir Putin tuần trước với New Delhi cũng rất rõ ràng, như chuyên gia về địa chính trị viện IEGA Olivier Guillard nhận định : Olivier Guillard : « Hồ sơ lớn thứ hai, như thường thấy trong các cuộc thảo luận chiến lược giữa Nga và Ấn Độ, là vấn đề quốc phòng. Trong nhiều thập niên, Liên Xô xưa kia và nước Nga ngày nay luôn là nguồn cung cấp chính các trang thiết bị quân sự hạng nặng cho Ấn Độ — đặc biệt là máy bay chiến đấu, máy bay ném bom, cũng như các hệ thống phòng thủ tên lửa. Ấn Độ muốn tiếp tục hưởng lợi từ quan hệ đối tác này, bởi vì khi mua các hệ thống vũ khí hoặc máy bay chiến đấu, công tác bảo trì và theo dõi thiết bị kéo dài hàng chục năm; không thể « cắt đứt ngay lập tức » trong một sớm một chiều. Trong gần hai chục năm qua, New Delhi vẫn tương đối trung thành với nhà cung cấp Nga, nhất là trong bối cảnh quan hệ giữa New Delhi và Washington trở nên căng thẳng gần đây. Tương tự như trên vế năng lượng, Vladimir Putin đến Ấn Độ cũng là để nhắc nhở rằng Nga là một nhà cung cấp vũ khí đáng tin cậy ». Cuối cùng nhà địa chính trị học Guillard nhìn nhận vị trí khá tế nhị của thủ tướng Modi trong một ván cờ tay ba giữa Nga, Mỹ và Ấn Độ nhưng về năng lượng cũng như hợp tác quốc phòng, Vladimir Putin và Narendra Modi cùng muốn gửi đến tổng thống Donald Trump một thông điệp: Chính sách đối ngoại của Matxcơva hay New Delhi đều không do Hoa Kỳ định đoạt. Riêng đối với điện Kremlin, trên cả hai vế năng lượng và quốc phòng, Ấn Độ là « khách hàng không thể đánh mất ». Olivier Guillard : « Ngay hôm Thứ Hai, 08/12/2025 sau khi nguyên thủ Nga rời khỏi Ấn Độ, New Delhi đã tiếp nhiều quan chức Mỹ như thể để cân bằng lại mối quan hệ đồng thời trình bày về những gì đã thảo luận giữa thủ tướng Narendra Modi và tổng thống Vladimir Putin. Điều đó cho thấy Ấn Độ thận trọng giữ thế cân bằng giữa Nga và Mỹ. Tuy nhiên, New Delhi và Matxcơva đã ký một loạt thỏa thuận nhằm củng cố quan hệ đối tác kinh tế và và hợp tác song phương khá đa dạng chứ không chỉ bị thu hẹp ở các lĩnh vực năng lượng và quốc phòng. Hai đối tác lâu đời này muốn chứng minh rằng chính sách đối ngoại của mỗi bên không do Hoa Kỳ quyết định, và lợi ích của Ấn Độ cũng như của Nga không để Nhà Trắng chi phối. Trong cái thế tam giác giữa Ấn Độ - Mỹ và Nga, đến nay New Delhi vẫn giữ được thế chủ động, nhưng cũng có thể là chính quyền Modi được nhắc nhở là Mỹ không mấy hài lòng ».
“Washington muốn hợp tác chặt chẽ hơn với Việt Nam về mặt quân sự”. Mối quan hệ này được thể hiện qua việc Mỹ chuyển giao ba tàu tuần tra cho Cảnh sát biển Việt Nam (1), năm máy bay huấn luyện T-6C trên tổng số 12 chiếc (2). Một cột mốc quan trọng khác là chuyến công du Hà Nội của bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ Pete Hegseth đầu tháng 11/2025. Ông khẳng định “Hoa Kỳ quyết tâm theo đuổi những dự án này và nhiều dự án khác”. Việt Nam giữ vai trò như thế nào trong chiến lược quốc phòng vừa được tổng thống Trump điều chỉnh ngày 05/12, theo đó Trung Quốc vẫn là đối thủ “hàng đầu” của Mỹ ? Liệu Hà Nội có thể tăng cường mối quan hệ quân sự với Washington mà vẫn không tách rời Matxcơva ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon tại Viện Đông Á (Institut d'Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. RFI : Việt Nam nằm trong số các điểm dừng chân trong chuyến công du châu Á của bộ trưởng Chiến tranh Hoa Kỳ Pete Hegseth tháng 11/2025. Chuyến thăm này diễn ra trong bối cảnh nào ? Laurent Gédéon : Trước hết, cần lưu ý rằng ông Pete Hegseth được coi là một đồng minh thân cận của tổng thống Donald Trump và được biết là người có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc. Ngày 03/11, ông Hegseth kết thúc chuyến thăm Việt Nam kéo dài hai ngày, gặp bộ trưởng Quốc Phòng Phan Văn Giang và cam kết tăng cường quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Chuyến thăm này trùng với kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao song phương và hai năm nâng cấp lên thành Đối tác Chiến lược Toàn diện - cấp ngoại giao cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này diễn ra trong bối cảnh ngoại giao tế nhị, được đánh dấu bằng chuyến công du Bắc Triều Tiên của tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm ngày 09/10, dự lễ duyệt binh tại Bình Nhưỡng để kỷ niệm 80 năm thành lập đảng Lao Động Triều Tiên. Dĩ nhiên là chuyến công du đầu tiên của một quan chức cấp cao Việt Nam từ năm 2007 cũng được theo dõi sát sao ở Washington. Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư Tô Lâm thăm Bắc Triều Tiên, dự lễ 80 năm thành lập đảng Lao Động Việc tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam thăm Bình Nhưỡng có thể được phân tích trên hai cấp độ. Thứ nhất là thể hiện mong muốn của Hà Nội trong việc khôi phục quan hệ với Bình Nhưỡng bị đình trệ vì đại dịch Covid-19, Bắc Triều Tiên gần như đóng cửa hoàn toàn biên giới với du khách nước ngoài. Mặt khác, điều này có thể liên quan đến môi trường địa-chiến lược nhạy cảm ở Đông Nam Á, đặc biệt là liên quan đến Trung Quốc, cũng như sự bất cân xứng quân sự đặc trưng trong mối quan hệ Việt-Trung. Trong bối cảnh này, Hà Nội quan tâm đến các phương pháp hiện đại hóa hệ thống vũ khí Liên Xô do Bắc Triều Tiên phát triển, đặc biệt là không quân, bởi vì Việt Nam cũng được trang bị vũ khí hạng nặng từ Nga hoặc Liên Xô cũ. Mối quan tâm này có thể giải thích sự hiện diện của bộ trưởng Phan Văn Giang. Giả thuyết này càng được củng cố qua việc hai bên đã ký một thỏa thuận hợp tác quốc phòng song phương. Bên cạnh hai yếu tố này, Việt Nam cũng đang định hình là một trung gian tiềm năng nếu đối thoại giữa Mỹ và Bắc Triều Tiên được nối lại, như trường hợp hồi tháng 02/2019. Lập trường này sẽ giúp Hà Nội có được lợi thế ngoại giao quý giá đối với Washington, đặc biệt là trong giai đoạn quan hệ kinh tế song phương nhạy cảm. Chuyến thăm của bộ trưởng Pete Hegseth, diễn ra trong bối cảnh phức tạp như đã nói ở trên, còn được đánh dấu bởi mong muốn của Hà Nội trong việc tìm kiếm sự cân bằng giữa hợp tác với các bên liên quan trong khu vực, tìm kiếm ảnh hưởng của Mỹ làm đối trọng với Trung Quốc, và duy trì khoảng cách tương đối với Washington mà không cắt đứt quan hệ với Mỹ. RFI : Hoa Kỳ đã tạm dừng viện trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế USAID trên thế giới, yêu cầu các đối tác và đồng minh chi tiêu nhiều hơn cho an ninh của họ. Ngược lại, Washington lại công bố khoản tài trợ mới 130 triệu đô la cho dự án xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa, nâng tổng số viện trợ không hoàn lại lên 430 triệu đô la. Đâu là lý do có thể giải thích cho quyết định này ? Laurent Gédéon : Thông qua quyết định này có thể thấy kết quả của sự hợp tác về các vấn đề hậu chiến, vốn là nền tảng chính trị và biểu tượng thiết yếu trong quan hệ Việt-Mỹ. Năm 1995 khi bình thường hóa quan hệ, hai nước hợp tác trong việc rà phá bom mìn, tìm kiếm hài cốt quân nhân mất tích và tẩy sạch chất dioxin tại các căn cứ không quân cũ bị nhiễm của Mỹ. Vết tích chiến tranh vẫn in hằn đối với cả người Mỹ và người Việt Nam. Việc nêu bật hậu quả về con người và môi trường của các vụ ném bom của quân đội Mỹ ở Việt Nam đã nâng cao nhận thức tại Hoa Kỳ và thúc đẩy mong muốn giải quyết cuộc xung đột này. Bối cảnh này là một trong những yếu tố giải thích cho quyết định tài trợ của Washington. Đọc thêmMỹ - Việt Nam tăng cường hợp tác quân sự Ngoài ra, còn có một lý do khác liên quan đến mong muốn của Washington trong việc thúc đẩy bất cứ việc gì có thể giúp hai nước xích lại gần nhau về mặt chiến lược, cho dù chi phí không phải là nhỏ. Theo quan điểm của các chiến lược gia Mỹ, một Việt Nam trung lập nhưng hòa giải đối với Mỹ, hoặc thậm chí là một Việt Nam đồng minh, là một mục tiêu đặc biệt quan trọng, bởi vì sẽ giúp kiềm chế Trung Quốc. Đây chắc chắn là một trong những lý do cho sáng kiến của Mỹ. RFI : Liệu sự hợp tác về di sản chiến tranh có tạo nền tảng cho mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước sâu sắc hơn không ? Việt Nam có thể vận dụng sự hợp tác này như thế nào để phát triển quan hệ với một cựu thù ? Laurent Gédéon : Hợp tác về di sản chiến tranh chắc chắn rất quan trọng để củng cố quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Việc này cũng mang ý nghĩa chính trị nội bộ ở Việt Nam. Tại một đất nước mà cuộc chiến vẫn giữ ý nghĩa biểu tượng rất quan trọng đối với người dân, kể cả các thế hệ về sau, sự hợp tác về di sản chiến tranh này mang lại cho chính quyền tính chính danh chính trị cần thiết trong nỗ lực phát triển quan hệ với cựu thù. Tuy nhiên, sự hợp tác này không phải là động lực duy nhất thúc đẩy mối quan hệ Việt-Mỹ. Ngoài di sản chung của chiến tranh, mối quan hệ đó còn được thúc đẩy bởi thực tế cụ thể của bối cảnh địa-chiến lược hiện tại trong khu vực, được đánh dấu bằng sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chỉ riêng thực tế này cũng rất thuận lợi cho việc thúc đẩy các cuộc đàm phán giữa hai nước. Đọc thêmHoa Kỳ muốn hợp tác giúp Việt Nam có đủ vũ khí để tự vệ Các cuộc đàm về việc mua 24 chiến đấu cơ F-16, được tiết lộ ngày 22/04, cũng phải được đặt trong bối cảnh này. Mặc dù khởi đầu đầy hứa hẹn nhưng thỏa thuận lại không tiến triển trong chuyến thăm Hà Nội của bộ trưởng Pete Hegseth. Tuy nhiên, thất bại này không liên quan - hoặc chỉ liên quan tối thiểu - đến vấn đề ký ức lịch sử và di sản chiến tranh như vừa đề cập ở trên. Đó là lý do tại sao tôi nói rằng còn có những yếu tố tác động khác. Thật vậy, cần phải nói là song song với đàm phán Việt-Mỹ, nhiều cuộc đàm phán khác cũng diễn ra giữa Hà Nội và Matxcơva để Việt Nam mua chiến đấu cơ của Nga. Báo New York Times đưa tin vào ngày 27/10 rằng Hà Nội đã đặt mua vũ khí Nga trị giá 8 tỷ đô la, trong đó có 40 chiến đấu cơ Su-35 và Su-30. Nếu được xác nhận, hợp đồng này chứng minh hai điều : Thứ nhất, sự xích lại gần nhau ngày càng sâu sắc giữa Hà Nội và Matxcơva, và thứ hai, những thắc mắc của Việt Nam liên quan đến mức độ tin cậy lâu dài của Mỹ. Tuy nhiên, vì Washington hiểu rằng Việt Nam đã tăng cường quân sự đáng kể trong những năm gần đây, với ngân sách quốc phòng hiện chiếm gần 2% GDP, cho nên rất có thể Mỹ sẽ tiếp tục nỗ lực xích lại gần hơn bằng cách dựa vào những nền tảng được đặt ra trong hợp tác song phương về di sản chiến tranh, cũng như những chương trình hợp tác khác. RFI : Trong cuộc đối thoại ngày 02/11, bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam cũng bày tỏ mong muốn Mỹ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực quốc phòng và chia sẻ kinh nghiệm về an ninh mạng. Đâu là mục đích của Việt Nam trong việc này ? Laurent Gédéon : Đây là điểm đáng chú ý, bởi vì từ một năm nay, Việt Nam giữ vị thế nổi bật trong lĩnh vực an ninh mạng. Ngày 24/12/2024, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chính thức thông qua Công ước Liên Hiệp Quốc về Chống Tội phạm Mạng và chỉ định Hà Nội là địa điểm tổ chức ký kết. Lễ mở ký Công ước Hà Nội được tổ chức ngày 25 và 26/10/2025. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hợp tác quốc tế về an ninh mạng, đồng thời phản ánh tầm quan trọng đặc biệt cho ngành ngoại giao Việt Nam. Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, thiệt hại kinh tế hàng năm trên quy mô toàn cầu do tội phạm mạng dự kiến vượt quá 10.000 tỷ đô la Mỹ vào năm 2025, với hàng triệu cuộc tấn công mạng xảy ra mỗi ngày. Đọc thêmHơn 60 nước ký kết Công ước chống Tội phạm Mạng tại Hà Nội, nhiều tập đoàn kỹ thuật số tẩy chay Tại Việt Nam, cũng như nhiều nơi khác trên thế giới, tội phạm mạng ngày càng gia tăng về quy mô và tính chất phức tạp về bản chất, cũng như tác động. Theo thiếu tướng Lê Xuân Minh, cục trưởng Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm mạng, bộ Công An, năm 2024 đã xảy ra hơn 100.000 sự cố an ninh mạng. Tội phạm mạng chuyển hướng từ các cuộc tấn công đơn lẻ, quy mô nhỏ sang hoạt động xuyên quốc gia được tổ chức bài bản, nhắm vào các hệ thống quốc gia trọng yếu và các doanh nghiệp kinh tế lớn. Đầu tháng 12/2025, bộ Công An cũng đã cảnh báo về sự gia tăng nhanh chóng của các video và hình ảnh được AI tạo ra sau trận lũ lụt ở miền Trung Việt Nam một tuần trước đó. Rõ ràng đây là vấn đề dân sự. Nhưng vì có tính chất hỗn hợp, những vấn đề này thường đan xen giữa lĩnh vực dân sự và quân sự, hoặc thậm chí là an ninh dân sự và quốc phòng. Trong bối cảnh đó, Hoa Kỳ - quốc gia sở hữu một trong những chuyên môn hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này - rõ ràng có thể hỗ trợ Việt Nam, nếu Hà Nội yêu cầu, dưới hình thức đào tạo chuyên gia, cung cấp chuyên gia, chia sẻ dữ liệu số, xây dựng năng lực, thậm chí là hội nhập vào các mạng lưới quốc tế. Tuy nhiên, để đi xa hơn trong quá trình hợp tác này, ví dụ, liên quan đến việc chia sẻ kinh nghiệm từ xung đột Ukraina, có lẽ Việt Nam sẽ phải thay đổi triệt để các ưu tiên chiến lược và ngoại giao, trong đó có việc Hà Nội có thể sẽ phải tách khỏi Matxcơva và xích lại gần Washington, điều này sẽ đưa Việt Nam vào quỹ đạo đồng minh hoặc bán đồng minh của Mỹ. Nhưng đó sẽ là sự thay đổi mô hình mà Hà Nội có lẽ chưa sẵn sàng vào thời điểm này, cho dù được Washington khuyến khích. Do đó, hợp tác Mỹ-Việt trong lĩnh vực an ninh mạng nhiều khả năng sẽ vẫn ở mức độ hạn chế. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. (1) Hoa Kỳ mở rộng hợp tác quốc phòng Hoa Kỳ - Việt Nam với việc bàn giao máy bay huấn luyện T-6C (2) Hoa Kỳ chuyển giao tàu tuần tra thứ ba cho Cảnh sát Biển Việt Nam nhân kỉ niệm 30 năm quan hệ ngoại giao
“Washington muốn hợp tác chặt chẽ hơn với Việt Nam về mặt quân sự”. Mối quan hệ này được thể hiện qua việc Mỹ chuyển giao ba tàu tuần tra cho Cảnh sát biển Việt Nam (1), năm máy bay huấn luyện T-6C trên tổng số 12 chiếc (2). Một cột mốc quan trọng khác là chuyến công du Hà Nội của bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ Pete Hegseth đầu tháng 11/2025. Ông khẳng định “Hoa Kỳ quyết tâm theo đuổi những dự án này và nhiều dự án khác”. Việt Nam giữ vai trò như thế nào trong chiến lược quốc phòng vừa được tổng thống Trump điều chỉnh ngày 05/12, theo đó Trung Quốc vẫn là đối thủ “hàng đầu” của Mỹ ? Liệu Hà Nội có thể tăng cường mối quan hệ quân sự với Washington mà vẫn không tách rời Matxcơva ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon tại Viện Đông Á (Institut d'Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. RFI : Việt Nam nằm trong số các điểm dừng chân trong chuyến công du châu Á của bộ trưởng Chiến tranh Hoa Kỳ Pete Hegseth tháng 11/2025. Chuyến thăm này diễn ra trong bối cảnh nào ? Laurent Gédéon : Trước hết, cần lưu ý rằng ông Pete Hegseth được coi là một đồng minh thân cận của tổng thống Donald Trump và được biết là người có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc. Ngày 03/11, ông Hegseth kết thúc chuyến thăm Việt Nam kéo dài hai ngày, gặp bộ trưởng Quốc Phòng Phan Văn Giang và cam kết tăng cường quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Chuyến thăm này trùng với kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao song phương và hai năm nâng cấp lên thành Đối tác Chiến lược Toàn diện - cấp ngoại giao cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này diễn ra trong bối cảnh ngoại giao tế nhị, được đánh dấu bằng chuyến công du Bắc Triều Tiên của tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm ngày 09/10, dự lễ duyệt binh tại Bình Nhưỡng để kỷ niệm 80 năm thành lập đảng Lao Động Triều Tiên. Dĩ nhiên là chuyến công du đầu tiên của một quan chức cấp cao Việt Nam từ năm 2007 cũng được theo dõi sát sao ở Washington. Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư Tô Lâm thăm Bắc Triều Tiên, dự lễ 80 năm thành lập đảng Lao Động Việc tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam thăm Bình Nhưỡng có thể được phân tích trên hai cấp độ. Thứ nhất là thể hiện mong muốn của Hà Nội trong việc khôi phục quan hệ với Bình Nhưỡng bị đình trệ vì đại dịch Covid-19, Bắc Triều Tiên gần như đóng cửa hoàn toàn biên giới với du khách nước ngoài. Mặt khác, điều này có thể liên quan đến môi trường địa-chiến lược nhạy cảm ở Đông Nam Á, đặc biệt là liên quan đến Trung Quốc, cũng như sự bất cân xứng quân sự đặc trưng trong mối quan hệ Việt-Trung. Trong bối cảnh này, Hà Nội quan tâm đến các phương pháp hiện đại hóa hệ thống vũ khí Liên Xô do Bắc Triều Tiên phát triển, đặc biệt là không quân, bởi vì Việt Nam cũng được trang bị vũ khí hạng nặng từ Nga hoặc Liên Xô cũ. Mối quan tâm này có thể giải thích sự hiện diện của bộ trưởng Phan Văn Giang. Giả thuyết này càng được củng cố qua việc hai bên đã ký một thỏa thuận hợp tác quốc phòng song phương. Bên cạnh hai yếu tố này, Việt Nam cũng đang định hình là một trung gian tiềm năng nếu đối thoại giữa Mỹ và Bắc Triều Tiên được nối lại, như trường hợp hồi tháng 02/2019. Lập trường này sẽ giúp Hà Nội có được lợi thế ngoại giao quý giá đối với Washington, đặc biệt là trong giai đoạn quan hệ kinh tế song phương nhạy cảm. Chuyến thăm của bộ trưởng Pete Hegseth, diễn ra trong bối cảnh phức tạp như đã nói ở trên, còn được đánh dấu bởi mong muốn của Hà Nội trong việc tìm kiếm sự cân bằng giữa hợp tác với các bên liên quan trong khu vực, tìm kiếm ảnh hưởng của Mỹ làm đối trọng với Trung Quốc, và duy trì khoảng cách tương đối với Washington mà không cắt đứt quan hệ với Mỹ. RFI : Hoa Kỳ đã tạm dừng viện trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế USAID trên thế giới, yêu cầu các đối tác và đồng minh chi tiêu nhiều hơn cho an ninh của họ. Ngược lại, Washington lại công bố khoản tài trợ mới 130 triệu đô la cho dự án xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa, nâng tổng số viện trợ không hoàn lại lên 430 triệu đô la. Đâu là lý do có thể giải thích cho quyết định này ? Laurent Gédéon : Thông qua quyết định này có thể thấy kết quả của sự hợp tác về các vấn đề hậu chiến, vốn là nền tảng chính trị và biểu tượng thiết yếu trong quan hệ Việt-Mỹ. Năm 1995 khi bình thường hóa quan hệ, hai nước hợp tác trong việc rà phá bom mìn, tìm kiếm hài cốt quân nhân mất tích và tẩy sạch chất dioxin tại các căn cứ không quân cũ bị nhiễm của Mỹ. Vết tích chiến tranh vẫn in hằn đối với cả người Mỹ và người Việt Nam. Việc nêu bật hậu quả về con người và môi trường của các vụ ném bom của quân đội Mỹ ở Việt Nam đã nâng cao nhận thức tại Hoa Kỳ và thúc đẩy mong muốn giải quyết cuộc xung đột này. Bối cảnh này là một trong những yếu tố giải thích cho quyết định tài trợ của Washington. Đọc thêmMỹ - Việt Nam tăng cường hợp tác quân sự Ngoài ra, còn có một lý do khác liên quan đến mong muốn của Washington trong việc thúc đẩy bất cứ việc gì có thể giúp hai nước xích lại gần nhau về mặt chiến lược, cho dù chi phí không phải là nhỏ. Theo quan điểm của các chiến lược gia Mỹ, một Việt Nam trung lập nhưng hòa giải đối với Mỹ, hoặc thậm chí là một Việt Nam đồng minh, là một mục tiêu đặc biệt quan trọng, bởi vì sẽ giúp kiềm chế Trung Quốc. Đây chắc chắn là một trong những lý do cho sáng kiến của Mỹ. RFI : Liệu sự hợp tác về di sản chiến tranh có tạo nền tảng cho mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước sâu sắc hơn không ? Việt Nam có thể vận dụng sự hợp tác này như thế nào để phát triển quan hệ với một cựu thù ? Laurent Gédéon : Hợp tác về di sản chiến tranh chắc chắn rất quan trọng để củng cố quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Việc này cũng mang ý nghĩa chính trị nội bộ ở Việt Nam. Tại một đất nước mà cuộc chiến vẫn giữ ý nghĩa biểu tượng rất quan trọng đối với người dân, kể cả các thế hệ về sau, sự hợp tác về di sản chiến tranh này mang lại cho chính quyền tính chính danh chính trị cần thiết trong nỗ lực phát triển quan hệ với cựu thù. Tuy nhiên, sự hợp tác này không phải là động lực duy nhất thúc đẩy mối quan hệ Việt-Mỹ. Ngoài di sản chung của chiến tranh, mối quan hệ đó còn được thúc đẩy bởi thực tế cụ thể của bối cảnh địa-chiến lược hiện tại trong khu vực, được đánh dấu bằng sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chỉ riêng thực tế này cũng rất thuận lợi cho việc thúc đẩy các cuộc đàm phán giữa hai nước. Đọc thêmHoa Kỳ muốn hợp tác giúp Việt Nam có đủ vũ khí để tự vệ Các cuộc đàm về việc mua 24 chiến đấu cơ F-16, được tiết lộ ngày 22/04, cũng phải được đặt trong bối cảnh này. Mặc dù khởi đầu đầy hứa hẹn nhưng thỏa thuận lại không tiến triển trong chuyến thăm Hà Nội của bộ trưởng Pete Hegseth. Tuy nhiên, thất bại này không liên quan - hoặc chỉ liên quan tối thiểu - đến vấn đề ký ức lịch sử và di sản chiến tranh như vừa đề cập ở trên. Đó là lý do tại sao tôi nói rằng còn có những yếu tố tác động khác. Thật vậy, cần phải nói là song song với đàm phán Việt-Mỹ, nhiều cuộc đàm phán khác cũng diễn ra giữa Hà Nội và Matxcơva để Việt Nam mua chiến đấu cơ của Nga. Báo New York Times đưa tin vào ngày 27/10 rằng Hà Nội đã đặt mua vũ khí Nga trị giá 8 tỷ đô la, trong đó có 40 chiến đấu cơ Su-35 và Su-30. Nếu được xác nhận, hợp đồng này chứng minh hai điều : Thứ nhất, sự xích lại gần nhau ngày càng sâu sắc giữa Hà Nội và Matxcơva, và thứ hai, những thắc mắc của Việt Nam liên quan đến mức độ tin cậy lâu dài của Mỹ. Tuy nhiên, vì Washington hiểu rằng Việt Nam đã tăng cường quân sự đáng kể trong những năm gần đây, với ngân sách quốc phòng hiện chiếm gần 2% GDP, cho nên rất có thể Mỹ sẽ tiếp tục nỗ lực xích lại gần hơn bằng cách dựa vào những nền tảng được đặt ra trong hợp tác song phương về di sản chiến tranh, cũng như những chương trình hợp tác khác. RFI : Trong cuộc đối thoại ngày 02/11, bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam cũng bày tỏ mong muốn Mỹ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực quốc phòng và chia sẻ kinh nghiệm về an ninh mạng. Đâu là mục đích của Việt Nam trong việc này ? Laurent Gédéon : Đây là điểm đáng chú ý, bởi vì từ một năm nay, Việt Nam giữ vị thế nổi bật trong lĩnh vực an ninh mạng. Ngày 24/12/2024, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chính thức thông qua Công ước Liên Hiệp Quốc về Chống Tội phạm Mạng và chỉ định Hà Nội là địa điểm tổ chức ký kết. Lễ mở ký Công ước Hà Nội được tổ chức ngày 25 và 26/10/2025. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hợp tác quốc tế về an ninh mạng, đồng thời phản ánh tầm quan trọng đặc biệt cho ngành ngoại giao Việt Nam. Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, thiệt hại kinh tế hàng năm trên quy mô toàn cầu do tội phạm mạng dự kiến vượt quá 10.000 tỷ đô la Mỹ vào năm 2025, với hàng triệu cuộc tấn công mạng xảy ra mỗi ngày. Đọc thêmHơn 60 nước ký kết Công ước chống Tội phạm Mạng tại Hà Nội, nhiều tập đoàn kỹ thuật số tẩy chay Tại Việt Nam, cũng như nhiều nơi khác trên thế giới, tội phạm mạng ngày càng gia tăng về quy mô và tính chất phức tạp về bản chất, cũng như tác động. Theo thiếu tướng Lê Xuân Minh, cục trưởng Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm mạng, bộ Công An, năm 2024 đã xảy ra hơn 100.000 sự cố an ninh mạng. Tội phạm mạng chuyển hướng từ các cuộc tấn công đơn lẻ, quy mô nhỏ sang hoạt động xuyên quốc gia được tổ chức bài bản, nhắm vào các hệ thống quốc gia trọng yếu và các doanh nghiệp kinh tế lớn. Đầu tháng 12/2025, bộ Công An cũng đã cảnh báo về sự gia tăng nhanh chóng của các video và hình ảnh được AI tạo ra sau trận lũ lụt ở miền Trung Việt Nam một tuần trước đó. Rõ ràng đây là vấn đề dân sự. Nhưng vì có tính chất hỗn hợp, những vấn đề này thường đan xen giữa lĩnh vực dân sự và quân sự, hoặc thậm chí là an ninh dân sự và quốc phòng. Trong bối cảnh đó, Hoa Kỳ - quốc gia sở hữu một trong những chuyên môn hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này - rõ ràng có thể hỗ trợ Việt Nam, nếu Hà Nội yêu cầu, dưới hình thức đào tạo chuyên gia, cung cấp chuyên gia, chia sẻ dữ liệu số, xây dựng năng lực, thậm chí là hội nhập vào các mạng lưới quốc tế. Tuy nhiên, để đi xa hơn trong quá trình hợp tác này, ví dụ, liên quan đến việc chia sẻ kinh nghiệm từ xung đột Ukraina, có lẽ Việt Nam sẽ phải thay đổi triệt để các ưu tiên chiến lược và ngoại giao, trong đó có việc Hà Nội có thể sẽ phải tách khỏi Matxcơva và xích lại gần Washington, điều này sẽ đưa Việt Nam vào quỹ đạo đồng minh hoặc bán đồng minh của Mỹ. Nhưng đó sẽ là sự thay đổi mô hình mà Hà Nội có lẽ chưa sẵn sàng vào thời điểm này, cho dù được Washington khuyến khích. Do đó, hợp tác Mỹ-Việt trong lĩnh vực an ninh mạng nhiều khả năng sẽ vẫn ở mức độ hạn chế. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. (1) Hoa Kỳ mở rộng hợp tác quốc phòng Hoa Kỳ - Việt Nam với việc bàn giao máy bay huấn luyện T-6C (2) Hoa Kỳ chuyển giao tàu tuần tra thứ ba cho Cảnh sát Biển Việt Nam nhân kỉ niệm 30 năm quan hệ ngoại giao
Vào đầu tháng 10/2025, phóng viên nhiếp ảnh Antoni Lallican đã thiệt mạng tại vùng Donbass, miền đông Ukraina, do bị một drone của Nga tấn công. Đây là nhà báo Pháp đầu tiên bị chết ở Ukraina trong một cuộc tấn công rõ ràng là có chủ đích từ phía quân Nga. Bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, từ nhiều năm qua, nữ phóng viên ảnh độc lập người Pháp Gaelle Girbes vẫn sát cánh với người dân Ukraina. Tại triển lãm ảnh báo chí quốc tế Visa pour l'image 2025 ở thành phố Perpignan miền nam nước Pháp tháng 9/2025, Gaelle Girbes đã giới thiệu loạt ảnh chia sẻ cuộc sống thường nhật của những người không còn nơi nào để đi do nhà cửa đã bị bom đạn của quân Nga phá hủy. Qua tập ảnh "Ukraina, Sống Sót Giữa Đống Đổ Nát", Gaelle Girbes đưa độc giả đến những thành phố như Vouhledar ở vùng Donetsk, miền đông Ukraina, đã rơi vào tay quân Nga đầu tháng 10/2024, sau ba năm giao tranh ác liệt và bị phá hủy hoàn toàn. Trong những năm tháng trước đó, giữa cảnh hoang tàn, người dân Vouhledar vẫn cố gắn trồng rau, nuôi gà để ăn. Cũng ở vùng Donetsk, ngôi làng Borododychne đã không biết bao nhiêu lần bị quân Nga đánh chiếm rồi lại được quân Ukraina giành lại. Từ 556 dân trước khi bị Nga chiếm, nay chỉ còn 35 người dân sống tại ngôi làng giờ chỉ toàn là những đống gạch vụn. Nhân dịp tham gia triển lãm tại Perpignan, Gaelle Girbes đã dành cho RFI Việt ngữ bài phỏng vấn sau đây: Xin chào Gaelle Girbes, cô đã đến Ukraina từ năm 2017. Vì sao cô đã quyết định ở lại Ukraina, ngay cả sau khi Nga phát động cuộc chiến tranh xâm lược tháng 02/2022, bất chấp những nguy hiểm? Khi đến Ukraina lần đầu tiên, tôi đã rất xúc động trước tình hình tại đây. Ở tiền tuyến, cảnh tượng đầu tiên tôi chứng kiến là năm quả đạn cối rơi trúng một ngôi nhà của những người hưu trí và những người lớn tuổi này phải một mình chiến đấu với ngọn lửa, đối mặt với thảm họa. Ở tuổi 72, dập tắt ngọn lửa đang phá hủy ngôi nhà dĩ nhiên không hề dễ dàng. Cảnh tượng đó đã thật sự ảnh hưởng đến tôi và tôi nhận ra rằng không có ai ở đó để tường thuật. Ở châu Âu, người ta cho rằng đây chỉ là một cuộc chiến đang “đóng băng”, nhưng thực tế không phải vậy. Cuộc chiến này đúng là có cường độ thấp so với ngày nay, nhưng đó là tiền đề cho một điều gì đó thậm chí còn tồi tệ và trầm trọng hơn, sẽ ảnh hưởng đến tất cả chúng ta. Và tôi cũng vô cùng cảm kích trước tinh thần của người dân Ukraina, mà tôi thấy là rất dũng cảm. Họ là những người bảo vệ những giá trị mà chúng ta rất trân trọng, như tự do. Công việc của tôi là ghi nhận những tội ác và bất công của chiến tranh. Vì vậy, ngay từ khi quân đội Nga quyết định chính thức xâm lược Ukraina tháng 2/2022, tôi nghĩ đây là lúc mình phải ở lại và tiếp tục công việc của mình, chứ không được bỏ cuộc. Như vậy là trong suốt những năm qua, cô đã chứng kiến sự phá hủy các thị trấn và làng mạc ở Ukraina. Người dân đã đối phó như thế nào trong suốt thời gian đó? Trên thực tế, người dân Ukraina, trước khi có cuộc cách mạng Maidan năm 2014, đã từng làm cuộc Cách mạng Cam và thậm chí trước đó nữa, họ chưa bao giờ ngừng kháng cự và chiến đấu cho độc lập và tự do của mình. Khi đến đó, tôi đã ghi lại những diễn biến trên tiền tuyến ở vùng Donbass từ năm 2017 đến năm 2022. Vào năm 2022, khi cuộc xâm lược quy mô lớn của Nga bắt đầu, tôi đã tiếp tục ở bên cạnh những người dân mà tôi yêu thương, mà tôi đặc biệt trân trọng. Họ trải qua cuộc chiến đó với sức chịu đựng tuyệt vời và cũng bởi vì họ hoàn toàn nhận thức được rằng đó là một cuộc chiến sẽ không bao giờ kết thúc. Tôi hy vọng nó sẽ kết thúc, ngay bây giờ, nhưng sẽ cực kỳ khó. Họ đều tuyệt vọng, hay họ vẫn còn hy vọng rằng một ngày nào đó chiến tranh sẽ kết thúc? Về mặt tinh thần, người dân Ukraina có tuyệt vọng không? Không. Có mệt mỏi không ? Có, cực kỳ mệt mỏi, bởi vì với những cuộc ném bom dữ dội, không ai có thể ngủ được và ai cũng sợ, mối nguy hiểm luôn hiện hữu. Ai cũng có thể mất đi những người thân yêu, bạn bè của mình. Đó là một gánh nặng tâm lý rất, rất nặng nề. Tuy vậy họ vẫn tin là dù chuyện gì xảy ra, mọi thứ sẽ ổn thôi. Nhưng ở những thị trấn hay làng mạc liên tục bị quân Nga oanh kích, hầu hết đã rời đi, còn những người ở lại phải chăng là do họ không tìm được cách nào để đi nơi khác, hay là vì họ đã quyết định ở lại? Tại những ngôi làng và thị trấn ở tiền tuyến bị ném bom, tàn phá, cướp bóc, thành thật mà nói, rất khó mà sống sót được. Đối mặt với nguy hiểm, một bộ phận dân cư phải sơ tán, hoặc tìm nơi trú ẩn ở gia đình thân thiết, sống ở nơi khác, hoặc đến các trung tâm tiếp nhận mà số chỗ thực sự rất, rất hạn chế, không còn chỗ trống, và họ không được phép ở lại lâu. Đó là một cuộc sống lang thang, như những người vô gia cư. Nếu có nhiều tiền hơn, có thu nhập cao hơn và nói được một ngôn ngữ nước ngoài, họ có thể đến Châu Âu và những nơi khác để xin quy chế tị nạn, nhưng chỉ có một số người thôi. Sống tại những khu vực như thế, trên mặt trận, chủ yếu là những người có thu nhập thấp, những người về hưu, họ ở lại đó do thiếu phương tiện và cũng vì họ nói rằng: “ Đây là đất của tôi, tôi sinh ra ở đây, lớn lên ở đây, xây dựng mọi thứ ở đây, đó là cái giá của cả cuộc đời tôi đang phải trả, vì vậy tôi sẽ ở lại. Đây là đất của tôi và tôi sẽ không giao nó cho lính Nga." Chủ đề loạt ảnh của cô là “Sống sót giữa đống đổ nát”. Làm thế nào họ đã có thể sống sót trong suốt những năm qua? Như ông có thể thấy trong các bức ảnh, trên thực tế, đó là một cách sống hoàn toàn mới: đang có máy giặt, internet, ngân hàng, bưu điện, siêu thị, thế mà hôm sau thức dậy bỗng dưng không còn nước, không còn khí đốt, không còn điện, không còn ngân hàng, không còn siêu thị, không còn máy giặt, không còn gì cả. Nên họ phải học lại cách sưởi ấm nhà bằng củi, hay lọc nước ở bất cứ nơi nào bạn tìm thấy. Nếu có thể thì tìm ra cách sử dụng các tấm pin Mặt trời mini, ít nhất là có điện để thắp sáng. Không còn điện thoại, không còn internet nữa, họ đột nhiên giống như trở về thời Trung Cổ. Họ phải tự tổ chức lại cuộc sống bản thân, bắt đầu trồng rau, tạo dựng một lối sống mới để tồn tại. Vậy là cô đã quyết định ở lại suốt những năm qua để chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh. Nhưng công việc của cô có thực sự nguy hiểm không? Có nguy cơ cô bị bắt giam giữ hoặc thậm chí bị giết không? Điều đó phụ thuộc vào chủ đề tôi đề cập đến. Tôi quyết định ở lại Ukraina để tường thuật những gì đang xảy ra ở đó, cả những tội ác do binh lính Nga và chính phủ Nga gây ra trên lãnh thổ Ukraina. Và cũng để chứng kiến tác động lên từng cá nhân. Nói cách khác, ở đây có những chủ thể sống sót giữa đống đổ nát. Đột nhiên mất tất cả, làm thế nào họ có thể sống sót giữa cảnh đó? Làm thế nào họ có thể xây dựng lại bản thân khi biết rằng điều đó gần như là không thể. Tôi còn những chủ đề khác mà tôi đang làm việc trong dài hạn, có thể là về những người bị cắt cụt chân tay, hoặc những chủ đề khác mà tôi không thể nói đến ở đây nhưng sẽ sớm được đề cập đến. Nhưng nhìn chung, tùy thuộc vào chủ đề, có những chủ đề cực kỳ nguy hiểm, vì đó là những nơi bị bắn phá dữ dội, như trong loạt ảnh này đó là hai ngôi làng nơi mà không khéo là có thể giẫm phải mìn, nhưng nếu cẩn thận thì không sao. Ở hai ngôi làng khác, tôi đã phải làm việc dưới hỏa lực dữ dội. Cũng có những drone của Nga săn lùng bất cứ ai dù là nhà báo, thường dân hay binh lính. Khi biết có một nhà báo, họ càng cố truy sát. Tuy nhiên, lần thứ hai tôi đến đó, máy bay phản lực của Nga đang hoạt động, và tôi phải quay trở lại dưới những quả bom nặng từ 250 đến 500 kg. Vô cùng khó khăn, đặc biệt phức tạp. Mỗi lần tôi phải quay trở lại vào ban đêm để hạn chế nguy hiểm. Việc những bức ảnh của cô được triển lãm ở Perpignan, cô có hy vọng những ảnh đó sẽ có tác động nhất định đến dư luận ở Pháp hay châu Âu, tác động đến diễn biến của cuộc chiến? Hy vọng của tôi ở đây, trên hết, cũng là hy vọng của những người có mặt trong những bức ảnh này, những người biết đến triển lãm này. Họ đã thấy những bức ảnh, họ gửi tin nhắn cho tôi mỗi ngày. Đó là điều họ muốn: những gì đang xảy ra với họ, những gì người Nga đã làm với họ phải được biết đến, chứ không phải bị bịt miệng, vì đó là một phần lịch sử của họ. Đó cũng là về những vết thương, nỗi đau khổ của họ. Và điều quan trọng vẫn là phải cho thấy Ukraina thực sự là một quốc gia rộng lớn, lớn hơn cả nước Pháp, và 30% lãnh thổ hiện đang bị tàn phá, tương đương với diện tích của vương quốc Bỉ, ảnh hưởng đến hơn 5 triệu người. Năm nay, Nga đã chiếm hơn 460 km vuông lãnh thổ, mà họ đã tàn phá mọi thứ. Bao nhiêu ngàn sinh mạng con người đã bị mất? Họ sẽ tái thiết như thế nào? Chúng ta có thể tiếp tục để điều này xảy ra không? Tất cả đều là những câu hỏi chưa có lời giải đáp.
Vào đầu tháng 10/2025, phóng viên nhiếp ảnh Antoni Lallican đã thiệt mạng tại vùng Donbass, miền đông Ukraina, do bị một drone của Nga tấn công. Đây là nhà báo Pháp đầu tiên bị chết ở Ukraina trong một cuộc tấn công rõ ràng là có chủ đích từ phía quân Nga. Bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, từ nhiều năm qua, nữ phóng viên ảnh độc lập người Pháp Gaelle Girbes vẫn sát cánh với người dân Ukraina. Tại triển lãm ảnh báo chí quốc tế Visa pour l'image 2025 ở thành phố Perpignan miền nam nước Pháp tháng 9/2025, Gaelle Girbes đã giới thiệu loạt ảnh chia sẻ cuộc sống thường nhật của những người không còn nơi nào để đi do nhà cửa đã bị bom đạn của quân Nga phá hủy. Qua tập ảnh "Ukraina, Sống Sót Giữa Đống Đổ Nát", Gaelle Girbes đưa độc giả đến những thành phố như Vouhledar ở vùng Donetsk, miền đông Ukraina, đã rơi vào tay quân Nga đầu tháng 10/2024, sau ba năm giao tranh ác liệt và bị phá hủy hoàn toàn. Trong những năm tháng trước đó, giữa cảnh hoang tàn, người dân Vouhledar vẫn cố gắn trồng rau, nuôi gà để ăn. Cũng ở vùng Donetsk, ngôi làng Borododychne đã không biết bao nhiêu lần bị quân Nga đánh chiếm rồi lại được quân Ukraina giành lại. Từ 556 dân trước khi bị Nga chiếm, nay chỉ còn 35 người dân sống tại ngôi làng giờ chỉ toàn là những đống gạch vụn. Nhân dịp tham gia triển lãm tại Perpignan, Gaelle Girbes đã dành cho RFI Việt ngữ bài phỏng vấn sau đây: Xin chào Gaelle Girbes, cô đã đến Ukraina từ năm 2017. Vì sao cô đã quyết định ở lại Ukraina, ngay cả sau khi Nga phát động cuộc chiến tranh xâm lược tháng 02/2022, bất chấp những nguy hiểm? Khi đến Ukraina lần đầu tiên, tôi đã rất xúc động trước tình hình tại đây. Ở tiền tuyến, cảnh tượng đầu tiên tôi chứng kiến là năm quả đạn cối rơi trúng một ngôi nhà của những người hưu trí và những người lớn tuổi này phải một mình chiến đấu với ngọn lửa, đối mặt với thảm họa. Ở tuổi 72, dập tắt ngọn lửa đang phá hủy ngôi nhà dĩ nhiên không hề dễ dàng. Cảnh tượng đó đã thật sự ảnh hưởng đến tôi và tôi nhận ra rằng không có ai ở đó để tường thuật. Ở châu Âu, người ta cho rằng đây chỉ là một cuộc chiến đang “đóng băng”, nhưng thực tế không phải vậy. Cuộc chiến này đúng là có cường độ thấp so với ngày nay, nhưng đó là tiền đề cho một điều gì đó thậm chí còn tồi tệ và trầm trọng hơn, sẽ ảnh hưởng đến tất cả chúng ta. Và tôi cũng vô cùng cảm kích trước tinh thần của người dân Ukraina, mà tôi thấy là rất dũng cảm. Họ là những người bảo vệ những giá trị mà chúng ta rất trân trọng, như tự do. Công việc của tôi là ghi nhận những tội ác và bất công của chiến tranh. Vì vậy, ngay từ khi quân đội Nga quyết định chính thức xâm lược Ukraina tháng 2/2022, tôi nghĩ đây là lúc mình phải ở lại và tiếp tục công việc của mình, chứ không được bỏ cuộc. Như vậy là trong suốt những năm qua, cô đã chứng kiến sự phá hủy các thị trấn và làng mạc ở Ukraina. Người dân đã đối phó như thế nào trong suốt thời gian đó? Trên thực tế, người dân Ukraina, trước khi có cuộc cách mạng Maidan năm 2014, đã từng làm cuộc Cách mạng Cam và thậm chí trước đó nữa, họ chưa bao giờ ngừng kháng cự và chiến đấu cho độc lập và tự do của mình. Khi đến đó, tôi đã ghi lại những diễn biến trên tiền tuyến ở vùng Donbass từ năm 2017 đến năm 2022. Vào năm 2022, khi cuộc xâm lược quy mô lớn của Nga bắt đầu, tôi đã tiếp tục ở bên cạnh những người dân mà tôi yêu thương, mà tôi đặc biệt trân trọng. Họ trải qua cuộc chiến đó với sức chịu đựng tuyệt vời và cũng bởi vì họ hoàn toàn nhận thức được rằng đó là một cuộc chiến sẽ không bao giờ kết thúc. Tôi hy vọng nó sẽ kết thúc, ngay bây giờ, nhưng sẽ cực kỳ khó. Họ đều tuyệt vọng, hay họ vẫn còn hy vọng rằng một ngày nào đó chiến tranh sẽ kết thúc? Về mặt tinh thần, người dân Ukraina có tuyệt vọng không? Không. Có mệt mỏi không ? Có, cực kỳ mệt mỏi, bởi vì với những cuộc ném bom dữ dội, không ai có thể ngủ được và ai cũng sợ, mối nguy hiểm luôn hiện hữu. Ai cũng có thể mất đi những người thân yêu, bạn bè của mình. Đó là một gánh nặng tâm lý rất, rất nặng nề. Tuy vậy họ vẫn tin là dù chuyện gì xảy ra, mọi thứ sẽ ổn thôi. Nhưng ở những thị trấn hay làng mạc liên tục bị quân Nga oanh kích, hầu hết đã rời đi, còn những người ở lại phải chăng là do họ không tìm được cách nào để đi nơi khác, hay là vì họ đã quyết định ở lại? Tại những ngôi làng và thị trấn ở tiền tuyến bị ném bom, tàn phá, cướp bóc, thành thật mà nói, rất khó mà sống sót được. Đối mặt với nguy hiểm, một bộ phận dân cư phải sơ tán, hoặc tìm nơi trú ẩn ở gia đình thân thiết, sống ở nơi khác, hoặc đến các trung tâm tiếp nhận mà số chỗ thực sự rất, rất hạn chế, không còn chỗ trống, và họ không được phép ở lại lâu. Đó là một cuộc sống lang thang, như những người vô gia cư. Nếu có nhiều tiền hơn, có thu nhập cao hơn và nói được một ngôn ngữ nước ngoài, họ có thể đến Châu Âu và những nơi khác để xin quy chế tị nạn, nhưng chỉ có một số người thôi. Sống tại những khu vực như thế, trên mặt trận, chủ yếu là những người có thu nhập thấp, những người về hưu, họ ở lại đó do thiếu phương tiện và cũng vì họ nói rằng: “ Đây là đất của tôi, tôi sinh ra ở đây, lớn lên ở đây, xây dựng mọi thứ ở đây, đó là cái giá của cả cuộc đời tôi đang phải trả, vì vậy tôi sẽ ở lại. Đây là đất của tôi và tôi sẽ không giao nó cho lính Nga." Chủ đề loạt ảnh của cô là “Sống sót giữa đống đổ nát”. Làm thế nào họ đã có thể sống sót trong suốt những năm qua? Như ông có thể thấy trong các bức ảnh, trên thực tế, đó là một cách sống hoàn toàn mới: đang có máy giặt, internet, ngân hàng, bưu điện, siêu thị, thế mà hôm sau thức dậy bỗng dưng không còn nước, không còn khí đốt, không còn điện, không còn ngân hàng, không còn siêu thị, không còn máy giặt, không còn gì cả. Nên họ phải học lại cách sưởi ấm nhà bằng củi, hay lọc nước ở bất cứ nơi nào bạn tìm thấy. Nếu có thể thì tìm ra cách sử dụng các tấm pin Mặt trời mini, ít nhất là có điện để thắp sáng. Không còn điện thoại, không còn internet nữa, họ đột nhiên giống như trở về thời Trung Cổ. Họ phải tự tổ chức lại cuộc sống bản thân, bắt đầu trồng rau, tạo dựng một lối sống mới để tồn tại. Vậy là cô đã quyết định ở lại suốt những năm qua để chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh. Nhưng công việc của cô có thực sự nguy hiểm không? Có nguy cơ cô bị bắt giam giữ hoặc thậm chí bị giết không? Điều đó phụ thuộc vào chủ đề tôi đề cập đến. Tôi quyết định ở lại Ukraina để tường thuật những gì đang xảy ra ở đó, cả những tội ác do binh lính Nga và chính phủ Nga gây ra trên lãnh thổ Ukraina. Và cũng để chứng kiến tác động lên từng cá nhân. Nói cách khác, ở đây có những chủ thể sống sót giữa đống đổ nát. Đột nhiên mất tất cả, làm thế nào họ có thể sống sót giữa cảnh đó? Làm thế nào họ có thể xây dựng lại bản thân khi biết rằng điều đó gần như là không thể. Tôi còn những chủ đề khác mà tôi đang làm việc trong dài hạn, có thể là về những người bị cắt cụt chân tay, hoặc những chủ đề khác mà tôi không thể nói đến ở đây nhưng sẽ sớm được đề cập đến. Nhưng nhìn chung, tùy thuộc vào chủ đề, có những chủ đề cực kỳ nguy hiểm, vì đó là những nơi bị bắn phá dữ dội, như trong loạt ảnh này đó là hai ngôi làng nơi mà không khéo là có thể giẫm phải mìn, nhưng nếu cẩn thận thì không sao. Ở hai ngôi làng khác, tôi đã phải làm việc dưới hỏa lực dữ dội. Cũng có những drone của Nga săn lùng bất cứ ai dù là nhà báo, thường dân hay binh lính. Khi biết có một nhà báo, họ càng cố truy sát. Tuy nhiên, lần thứ hai tôi đến đó, máy bay phản lực của Nga đang hoạt động, và tôi phải quay trở lại dưới những quả bom nặng từ 250 đến 500 kg. Vô cùng khó khăn, đặc biệt phức tạp. Mỗi lần tôi phải quay trở lại vào ban đêm để hạn chế nguy hiểm. Việc những bức ảnh của cô được triển lãm ở Perpignan, cô có hy vọng những ảnh đó sẽ có tác động nhất định đến dư luận ở Pháp hay châu Âu, tác động đến diễn biến của cuộc chiến? Hy vọng của tôi ở đây, trên hết, cũng là hy vọng của những người có mặt trong những bức ảnh này, những người biết đến triển lãm này. Họ đã thấy những bức ảnh, họ gửi tin nhắn cho tôi mỗi ngày. Đó là điều họ muốn: những gì đang xảy ra với họ, những gì người Nga đã làm với họ phải được biết đến, chứ không phải bị bịt miệng, vì đó là một phần lịch sử của họ. Đó cũng là về những vết thương, nỗi đau khổ của họ. Và điều quan trọng vẫn là phải cho thấy Ukraina thực sự là một quốc gia rộng lớn, lớn hơn cả nước Pháp, và 30% lãnh thổ hiện đang bị tàn phá, tương đương với diện tích của vương quốc Bỉ, ảnh hưởng đến hơn 5 triệu người. Năm nay, Nga đã chiếm hơn 460 km vuông lãnh thổ, mà họ đã tàn phá mọi thứ. Bao nhiêu ngàn sinh mạng con người đã bị mất? Họ sẽ tái thiết như thế nào? Chúng ta có thể tiếp tục để điều này xảy ra không? Tất cả đều là những câu hỏi chưa có lời giải đáp.
The Stringer : The man who took the photo là một cuộc điều tra. Phóng viên ảnh người Mỹ Gary Knight là nhân vật trung tâm. Tất cả bắt nguồn từ một tuyên bố của Carl Robinson, nguyên là nhân viên của hãng thông tấn Agence Press ở Sàigon năm 1972. Nick Ut hay Nguyễn Thành Nghệ là tác giả bức ảnh Em Bé Napalm ? « Vài lời về một trong những tấm ảnh nổi tiếng nhất trong lịch sử của các phóng viên chiến trường từ 50 năm qua. Đó là hình ảnh một bé gái bị phỏng nặng chạy thoát sau một trận dội bom … Tác giả bức ảnh được cho là Nick Ut, phóng viên ảnh của hãng thông tấn Mỹ AP… Nhưng nếu như người chụp tấm Em Bé Napalm lại không phải là ông ấy thì sao ? » Nhà báo người Pháp Nicolas Poincaré hôm 11/10/2025 đã giới thiệu về phim tài liệu The Stringer, hành trình đi tìm sự thật về tác giả bức ảnh Em Bé Napalm. Phim được được trình chiếu trong khuôn khổ chương trình tuần lễ thành phố Bayeux vùng Calvados-Normandie vinh danh các phóng viên chiến trường. Ở Pháp, phim được trình chiếu trên nền tảng phim trực tuyến Netflix từ ngày 28/11/2025. Tất cả bắt nguồn từ một phát biểu của Carl Robinson, cựu nhân viên của hãng thông tấn Agence Press ở Sài Gòn năm 1972 với Gary Knight. Nick Ut hay Nguyễn Thành Nghệ là tác giả bức ảnh Em Bé Napalm ? Trong cuộc điều tra về tác giả bức ảnh còn được biết đến dưới tên gọi The Terror of War Gary Kngiht đã tìm đến rất nhiều người, tìm kiếm những ai từng có mặt ở Trảng Bàng, ngày 08/06/1972. Hai người vắng mặt trong phim là Em bé Napalm bà Phan Thị Kim Phúc và phóng viên ảnh, Nick Ut. Trong đoạn phim tài liệu năm 1972, một phóng viên người Mỹ nhận định « Sau hai lượt bay, rõ ràng là các máy bay ném bom Skyraiders đã chọn nhầm mục tiêu … và trong đợt bay thứ ba, họ thả 4 quả bom napalm, trúng vào thường dân và các quân nhân ở Trảng Bàng ». Trước ống kính truyền hình và báo chí quốc tế, bất chợt, một cô bé 9 tuổi, trần truồng, bị bỏng nặng, cùng nhiều đứa trẻ từ ngôi làng này hoảng loạn chạy ra quốc lộ : Vừa chạy vừa la khóc, đau đớn, hoảng loạn. Bức ảnh Em Bé Napalm ngày 08/06/1972 trở thành biểu tượng của « địa ngục chiến tranh Việt Nam », đi vòng quanh thế giới, được bình chọn là « hình ảnh trong năm » và đoạt giải thưởng Pulitzer. Gần nửa thế kỷ, phóng viên ảnh Nick Ut được cho là người đã ghi được khoảnh khắc nói lên sự ghê rợn của chiến tranh. Trong những thước phim đã bạc màu thời gian, Nick Út từng thuật lại với báo chí quốc tế là ông đã trông thấy Kim Phúc chạy ra khỏi ngôi làng vừa bị dội bom như thế nào và đã đưa cô đến bệnh viện. Thế nhưng, The Stringer ra mắt công chúng lần đầu tiên trong khuôn khổ liên hoan Sundance hồi tháng 1/2025 đã nêu lên một câu hỏi bất ngờ. Đạo diễn Bảo Nguyễn đã sớm được nhà sản xuất và đoàn phim mời cùng đồng hành trong cuộc điều tra về tác giả bức ảnh nổi tiếng nói trên. Trả lời RFI Việt ngữ trước khi The Stringer được công chiếu tại Bayeux tháng 10/2025 đạo diễn Bảo Nguyễn giải thích vì sao anh đã nhận lời với phóng viên ảnh Gary Knight và đoàn phim : Với anh, theo đuổi và tìm kiếm sự thật phải là một ưu tiên. Bảo Nguyễn : Bộ phim bắt đầu bằng cuộc điều tra với phóng viên ảnh Gary Knight và đã được dựng lên cùng với Terri Lichstein và Fionna Turner. Điểm khởi đầu là một thư điện tử của Carl Robinson, cựu biên tập ảnh của hãng tin AP tại văn phòng Sài Gòn. Ông ấy đã thú nhận với Gary Knight và thế là nhóm làm phim bắt đầu mở cuộc điều tra. Họ đã liên hệ với tôi khá sớm vì tôi là một nhà làm phim tài liệu. Cá nhân tôi cũng đang cân nhắc liệu mình có muốn thực hiện bộ phim này hay không, bởi như chị nói, bức ảnh Em Bé Napalm là cả một biểu tượng .. Tuy nhiên tôi nghĩ, với tư cách một người tiếp nhận báo chí – tôi không phải nhà báo, tôi là một nhà làm phim – ngành báo chí thôi thúc chúng ta luôn nêu lên những nghi vấn và luôn đi tìm sự thật. Khi chưa biết cuộc điều tra sẽ dẫn đến đâu, tôi nghĩ điều quan trọng đối với chúng tôi, đặc biệt là với tôi, là ghi lại quá trình điều tra, khám phá mọi góc nhìn khác nhau của ngày hôm đó -ngày mà tác giả đã chụp được bức ảnh Em Bé Napalm ở Trảng Bàng và tìm hiểu xem rằng, ai có thể đã chụp bức ảnh đó nếu như tác giả không phải là Nick Ut. RFI : Từ chiến dịch Tràng Bàng đến nay đã hơn 50 năm trôi qua. Trong quá trình làm phim anh và đoàn phim đã phải vượt qua những khó khăn nào ? Làm sao tìm lại được các nhân chứng từng có mặt ở ngôi làng này ngày 08/06/1972 ? Bảo Nguyễn : Vâng, tôi nghĩ một trong những thách thức lớn là bức ảnh được chụp đã hơn 50 năm trước. Rất nhiều nhân chứng trên hiện trường ngày hôm đó nay không còn nữa. Nhiều lần tôi cũng tự hỏi vì sao vấn đề lại được đặt ra sau 50 năm. Vì sao Carl Robinson lại lên tiếng? Vì sao phóng viên tự do Nguyễn Thành Nghệ chưa bao giờ công khai tiết lộ điều này ? Có rất nhiều câu hỏi mà tôi phải tự tìm hiểu và giải đáp trước khi chúng tôi thật sự bắt đầu hành trình làm phim. Trong quá trình thực hiện bộ phim tài liệu này, tôi dần hiểu rằng, giống như nhiều người tị nạn phải rời bỏ quê hương, họ không có điều kiện hay không hoàn toàn có quyền tự định đoạt để nói về những quá khứ, bởi vì mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kế sinh nhai, bảo đảm cuộc sống trong một môi trường mới. Trước hết họ phải chăm lo cho gia đình, cho nên họ không nói về quá khứ nữa. Và bây giờ, trong quá trình làm phim, tôi hiểu rằng đó là một trong những lý do ông Nghệ đã không thể lên tiếng, cũng như một người đảm trách phầm âm thanh cho đài NBC hôm đó, trước công chúng, ông này cũng chưa bao giờ kể về những gì đã diễn ra ở Trảng Bàng hôm 08/06/1972. Giờ đây mọi người mới hỏi : Tại sao đến 53 năm sau mới lại đặt ra câu hỏi ai là tác giả bức ảnh Em Bé Napalm. Khi đặt mình vào hoàn cảnh của ông Nghệ, bạn sẽ hiểu rằng họ cảm thấy là họ không có quyền hay không đủ tư cách để nói ra sự thật, nói ra những gì họ đã phải trải qua. Carl Robinson phóng viên của AP cũng vậy. Ông ta đã phải chăm sóc gia đình và không muốn mất việc. Nhìn dưới góc độ này, mọi người sẽ hiểu vì sao họ không lên tiếng. Và dĩ nhiên, việc cố gắng khai mở một câu chuyện và sự thật đã xảy ra hơn 50 năm trước là điều rất khó. Nhưng tôi nghĩ đội ngũ nhà báo đã hoàn thành bổn phận của họ : theo đuổi sự thật và đặt ra những câu hỏi cần thiết. Chúng tôi huy động được các nhà báo Việt Nam tại chỗ, và đây là những người đã đóng vai trò then chốt giúp chúng tôi tìm được những nhân chứng từng có mặt ở Trảng Bàng năm 1972. Là một nhà báo, chị có thể hiểu những khó khăn trong việc nghiên cứu và tìm kiếm nhân chứng. Tôi rất tôn trọng các nhà báo trong bộ phim và mức độ chuyên nghiệp của họ khi kết nối được với những người mà suốt 50 năm họ đã im lặng về chuyện ở Trảng Bàng. Các cộng tác viên ở Việt Nam đã gọi rất nhiều cuộc điện thoại, hỏi han mọi người, gõ cửa từng nhà. Theo nhiều cách, đó là lời tri ân đối với tinh thần báo chí đúng theo nghĩa của nó. RFI : The Stringer ra mắt công chúng lần đầu vào tháng 1/2025 ở liên hoan phim Sundance. Công chúng đã đón nhân phim này như thế nào ? Bảo Nguyễn : Chúng tôi rất vinh dự khi được trình chiếu phim tài liệu The Stringer trên khắp thế giới và như chị vừa nói, lần đầu ở Sundance, rồi tháng 10/2025 là tại thị trấn Bayeux. Sau đó là trên nền tảng truyền hình Netflix. Tại liên hoan phim Sundance, nhiều người đến gặp tôi và nói lời cảm ơn. Rất nhiều người nói rằng họ cảm ơn vì đã kể câu chuyện của ông Nghệ – một câu chuyện chưa bao giờ được nói ra suốt nhiều năm. Khán giả cũng đã cảm ơn vì chúng tôi đã dám mạo hiểm theo đuổi sự thật. Tại Bayeux sự kiện dành để vinh danh các phóng viên chiến trường, chị sẽ có dịp trao đổi với Gary Knight và Fiona Turner, nhưng tôi đã nghe rất nhiều người bày tỏ ngưỡng mộ, cho rằng cả hai đã thật dũng cảm khi thực hiện bộ phim này. RFI : Sau The Stringer dự án kế tiếp của đạo diễn Bảo Nguyễn là gì ? Bảo Nguyễn : Vâng, cảm ơn chị đã hỏi. Bộ phim tiếp theo của tôi rất khác với The Stringer. Tôi đang chuẩn bị làm phim về Jimi Hendrix, nghệ sĩ guitar rock huyền thoại. Phim này sẽ tập trung vào một giai đoạn cụ thể trong cuộc đời của ông khi sống ở Luân Đôn, vào thời điểm đầu sự nghiệp. Đương nhiên, thế giới của Hendrix hoàn toàn khác với The Stringer, nhưng tôi cảm thấy mình thật sự may mắn khi có thể kể lại những câu chuyện như vậy. RFI : Thành thật cảm ơn Bảo Nguyễn dành cho RFI tiếng Việt buổi nói chuyện hôm nay. Chương trình được thu âm trước khi phim ra mắt khán giả tại Pháp. Về phần nhiếp ảnh gia Nick Ut, trả lời nhà báo Thanh Phương nhân dịp được mời đến dự liên hoan ảnh Visa de l'Image tại thành phố Perpignan, miền nam nước Pháp hồi mùa hè vừa qua, ông cho biết đã xem phim The Stringer và khẳng định lại ông là tác giả bức ảnh Em Bé Napalm. Bất luận ai mới là tác giả thực thụ của Em Bé Napalm, một trong những bức ảnh nổi tiếng nhất về chiến tranh trên thế giới của thế kỷ 20, phim The Stringer trước hết là một cuộc điều tra nghiêm túc : Gary Knight và đoàn phim đã không quản công tìm kiếm các nhân chứng, họ còn huy động cả những đội ngũ chuyên gia từ Mỹ, từ Luân Đôn hay Paris …. để đi tìm sự thật… Trong thời đại mà sự thật thường bị bóp méo, chỉ riêng nỗ lực này cũng đủ mang lại giá trị cho bộ phim tài liệu nói về một phóng viên ảnh tự do : The Stringer.
The Stringer : The man who took the photo là một cuộc điều tra. Phóng viên ảnh người Mỹ Gary Knight là nhân vật trung tâm. Tất cả bắt nguồn từ một tuyên bố của Carl Robinson, nguyên là nhân viên của hãng thông tấn Agence Press ở Sàigon năm 1972. Nick Ut hay Nguyễn Thành Nghệ là tác giả bức ảnh Em Bé Napalm ? « Vài lời về một trong những tấm ảnh nổi tiếng nhất trong lịch sử của các phóng viên chiến trường từ 50 năm qua. Đó là hình ảnh một bé gái bị phỏng nặng chạy thoát sau một trận dội bom … Tác giả bức ảnh được cho là Nick Ut, phóng viên ảnh của hãng thông tấn Mỹ AP… Nhưng nếu như người chụp tấm Em Bé Napalm lại không phải là ông ấy thì sao ? » Nhà báo người Pháp Nicolas Poincaré hôm 11/10/2025 đã giới thiệu về phim tài liệu The Stringer, hành trình đi tìm sự thật về tác giả bức ảnh Em Bé Napalm. Phim được được trình chiếu trong khuôn khổ chương trình tuần lễ thành phố Bayeux vùng Calvados-Normandie vinh danh các phóng viên chiến trường. Ở Pháp, phim được trình chiếu trên nền tảng phim trực tuyến Netflix từ ngày 28/11/2025. Tất cả bắt nguồn từ một phát biểu của Carl Robinson, cựu nhân viên của hãng thông tấn Agence Press ở Sài Gòn năm 1972 với Gary Knight. Nick Ut hay Nguyễn Thành Nghệ là tác giả bức ảnh Em Bé Napalm ? Trong cuộc điều tra về tác giả bức ảnh còn được biết đến dưới tên gọi The Terror of War Gary Kngiht đã tìm đến rất nhiều người, tìm kiếm những ai từng có mặt ở Trảng Bàng, ngày 08/06/1972. Hai người vắng mặt trong phim là Em bé Napalm bà Phan Thị Kim Phúc và phóng viên ảnh, Nick Ut. Trong đoạn phim tài liệu năm 1972, một phóng viên người Mỹ nhận định « Sau hai lượt bay, rõ ràng là các máy bay ném bom Skyraiders đã chọn nhầm mục tiêu … và trong đợt bay thứ ba, họ thả 4 quả bom napalm, trúng vào thường dân và các quân nhân ở Trảng Bàng ». Trước ống kính truyền hình và báo chí quốc tế, bất chợt, một cô bé 9 tuổi, trần truồng, bị bỏng nặng, cùng nhiều đứa trẻ từ ngôi làng này hoảng loạn chạy ra quốc lộ : Vừa chạy vừa la khóc, đau đớn, hoảng loạn. Bức ảnh Em Bé Napalm ngày 08/06/1972 trở thành biểu tượng của « địa ngục chiến tranh Việt Nam », đi vòng quanh thế giới, được bình chọn là « hình ảnh trong năm » và đoạt giải thưởng Pulitzer. Gần nửa thế kỷ, phóng viên ảnh Nick Ut được cho là người đã ghi được khoảnh khắc nói lên sự ghê rợn của chiến tranh. Trong những thước phim đã bạc màu thời gian, Nick Út từng thuật lại với báo chí quốc tế là ông đã trông thấy Kim Phúc chạy ra khỏi ngôi làng vừa bị dội bom như thế nào và đã đưa cô đến bệnh viện. Thế nhưng, The Stringer ra mắt công chúng lần đầu tiên trong khuôn khổ liên hoan Sundance hồi tháng 1/2025 đã nêu lên một câu hỏi bất ngờ. Đạo diễn Bảo Nguyễn đã sớm được nhà sản xuất và đoàn phim mời cùng đồng hành trong cuộc điều tra về tác giả bức ảnh nổi tiếng nói trên. Trả lời RFI Việt ngữ trước khi The Stringer được công chiếu tại Bayeux tháng 10/2025 đạo diễn Bảo Nguyễn giải thích vì sao anh đã nhận lời với phóng viên ảnh Gary Knight và đoàn phim : Với anh, theo đuổi và tìm kiếm sự thật phải là một ưu tiên. Bảo Nguyễn : Bộ phim bắt đầu bằng cuộc điều tra với phóng viên ảnh Gary Knight và đã được dựng lên cùng với Terri Lichstein và Fionna Turner. Điểm khởi đầu là một thư điện tử của Carl Robinson, cựu biên tập ảnh của hãng tin AP tại văn phòng Sài Gòn. Ông ấy đã thú nhận với Gary Knight và thế là nhóm làm phim bắt đầu mở cuộc điều tra. Họ đã liên hệ với tôi khá sớm vì tôi là một nhà làm phim tài liệu. Cá nhân tôi cũng đang cân nhắc liệu mình có muốn thực hiện bộ phim này hay không, bởi như chị nói, bức ảnh Em Bé Napalm là cả một biểu tượng .. Tuy nhiên tôi nghĩ, với tư cách một người tiếp nhận báo chí – tôi không phải nhà báo, tôi là một nhà làm phim – ngành báo chí thôi thúc chúng ta luôn nêu lên những nghi vấn và luôn đi tìm sự thật. Khi chưa biết cuộc điều tra sẽ dẫn đến đâu, tôi nghĩ điều quan trọng đối với chúng tôi, đặc biệt là với tôi, là ghi lại quá trình điều tra, khám phá mọi góc nhìn khác nhau của ngày hôm đó -ngày mà tác giả đã chụp được bức ảnh Em Bé Napalm ở Trảng Bàng và tìm hiểu xem rằng, ai có thể đã chụp bức ảnh đó nếu như tác giả không phải là Nick Ut. RFI : Từ chiến dịch Tràng Bàng đến nay đã hơn 50 năm trôi qua. Trong quá trình làm phim anh và đoàn phim đã phải vượt qua những khó khăn nào ? Làm sao tìm lại được các nhân chứng từng có mặt ở ngôi làng này ngày 08/06/1972 ? Bảo Nguyễn : Vâng, tôi nghĩ một trong những thách thức lớn là bức ảnh được chụp đã hơn 50 năm trước. Rất nhiều nhân chứng trên hiện trường ngày hôm đó nay không còn nữa. Nhiều lần tôi cũng tự hỏi vì sao vấn đề lại được đặt ra sau 50 năm. Vì sao Carl Robinson lại lên tiếng? Vì sao phóng viên tự do Nguyễn Thành Nghệ chưa bao giờ công khai tiết lộ điều này ? Có rất nhiều câu hỏi mà tôi phải tự tìm hiểu và giải đáp trước khi chúng tôi thật sự bắt đầu hành trình làm phim. Trong quá trình thực hiện bộ phim tài liệu này, tôi dần hiểu rằng, giống như nhiều người tị nạn phải rời bỏ quê hương, họ không có điều kiện hay không hoàn toàn có quyền tự định đoạt để nói về những quá khứ, bởi vì mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kế sinh nhai, bảo đảm cuộc sống trong một môi trường mới. Trước hết họ phải chăm lo cho gia đình, cho nên họ không nói về quá khứ nữa. Và bây giờ, trong quá trình làm phim, tôi hiểu rằng đó là một trong những lý do ông Nghệ đã không thể lên tiếng, cũng như một người đảm trách phầm âm thanh cho đài NBC hôm đó, trước công chúng, ông này cũng chưa bao giờ kể về những gì đã diễn ra ở Trảng Bàng hôm 08/06/1972. Giờ đây mọi người mới hỏi : Tại sao đến 53 năm sau mới lại đặt ra câu hỏi ai là tác giả bức ảnh Em Bé Napalm. Khi đặt mình vào hoàn cảnh của ông Nghệ, bạn sẽ hiểu rằng họ cảm thấy là họ không có quyền hay không đủ tư cách để nói ra sự thật, nói ra những gì họ đã phải trải qua. Carl Robinson phóng viên của AP cũng vậy. Ông ta đã phải chăm sóc gia đình và không muốn mất việc. Nhìn dưới góc độ này, mọi người sẽ hiểu vì sao họ không lên tiếng. Và dĩ nhiên, việc cố gắng khai mở một câu chuyện và sự thật đã xảy ra hơn 50 năm trước là điều rất khó. Nhưng tôi nghĩ đội ngũ nhà báo đã hoàn thành bổn phận của họ : theo đuổi sự thật và đặt ra những câu hỏi cần thiết. Chúng tôi huy động được các nhà báo Việt Nam tại chỗ, và đây là những người đã đóng vai trò then chốt giúp chúng tôi tìm được những nhân chứng từng có mặt ở Trảng Bàng năm 1972. Là một nhà báo, chị có thể hiểu những khó khăn trong việc nghiên cứu và tìm kiếm nhân chứng. Tôi rất tôn trọng các nhà báo trong bộ phim và mức độ chuyên nghiệp của họ khi kết nối được với những người mà suốt 50 năm họ đã im lặng về chuyện ở Trảng Bàng. Các cộng tác viên ở Việt Nam đã gọi rất nhiều cuộc điện thoại, hỏi han mọi người, gõ cửa từng nhà. Theo nhiều cách, đó là lời tri ân đối với tinh thần báo chí đúng theo nghĩa của nó. RFI : The Stringer ra mắt công chúng lần đầu vào tháng 1/2025 ở liên hoan phim Sundance. Công chúng đã đón nhân phim này như thế nào ? Bảo Nguyễn : Chúng tôi rất vinh dự khi được trình chiếu phim tài liệu The Stringer trên khắp thế giới và như chị vừa nói, lần đầu ở Sundance, rồi tháng 10/2025 là tại thị trấn Bayeux. Sau đó là trên nền tảng truyền hình Netflix. Tại liên hoan phim Sundance, nhiều người đến gặp tôi và nói lời cảm ơn. Rất nhiều người nói rằng họ cảm ơn vì đã kể câu chuyện của ông Nghệ – một câu chuyện chưa bao giờ được nói ra suốt nhiều năm. Khán giả cũng đã cảm ơn vì chúng tôi đã dám mạo hiểm theo đuổi sự thật. Tại Bayeux sự kiện dành để vinh danh các phóng viên chiến trường, chị sẽ có dịp trao đổi với Gary Knight và Fiona Turner, nhưng tôi đã nghe rất nhiều người bày tỏ ngưỡng mộ, cho rằng cả hai đã thật dũng cảm khi thực hiện bộ phim này. RFI : Sau The Stringer dự án kế tiếp của đạo diễn Bảo Nguyễn là gì ? Bảo Nguyễn : Vâng, cảm ơn chị đã hỏi. Bộ phim tiếp theo của tôi rất khác với The Stringer. Tôi đang chuẩn bị làm phim về Jimi Hendrix, nghệ sĩ guitar rock huyền thoại. Phim này sẽ tập trung vào một giai đoạn cụ thể trong cuộc đời của ông khi sống ở Luân Đôn, vào thời điểm đầu sự nghiệp. Đương nhiên, thế giới của Hendrix hoàn toàn khác với The Stringer, nhưng tôi cảm thấy mình thật sự may mắn khi có thể kể lại những câu chuyện như vậy. RFI : Thành thật cảm ơn Bảo Nguyễn dành cho RFI tiếng Việt buổi nói chuyện hôm nay. Chương trình được thu âm trước khi phim ra mắt khán giả tại Pháp. Về phần nhiếp ảnh gia Nick Ut, trả lời nhà báo Thanh Phương nhân dịp được mời đến dự liên hoan ảnh Visa de l'Image tại thành phố Perpignan, miền nam nước Pháp hồi mùa hè vừa qua, ông cho biết đã xem phim The Stringer và khẳng định lại ông là tác giả bức ảnh Em Bé Napalm. Bất luận ai mới là tác giả thực thụ của Em Bé Napalm, một trong những bức ảnh nổi tiếng nhất về chiến tranh trên thế giới của thế kỷ 20, phim The Stringer trước hết là một cuộc điều tra nghiêm túc : Gary Knight và đoàn phim đã không quản công tìm kiếm các nhân chứng, họ còn huy động cả những đội ngũ chuyên gia từ Mỹ, từ Luân Đôn hay Paris …. để đi tìm sự thật… Trong thời đại mà sự thật thường bị bóp méo, chỉ riêng nỗ lực này cũng đủ mang lại giá trị cho bộ phim tài liệu nói về một phóng viên ảnh tự do : The Stringer.
Theo báo cáo do Văn phòng Liên Hiệp Quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC) công bố vào tháng 5 vừa qua, hoạt động sản xuất và buôn bán trái phép ma túy tổng hợp từ khu vực Tam giác Vàng ( khu vực nằm giữa biên giới ba nước Lào, Thái Lan, Miến Điện ) đã tăng gấp bội. Là quốc gia có đường biên giới chung với Lào, một trong 3 quốc gia của khu Tam Giác Vàng, Việt Nam đang phải đối phó với ngày càng nhiều đường dây buôn lậu ma túy tổng hợp từ nước láng giềng. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 15/09/2025, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải, giảng viên Trường Tư pháp hình sự và tội phạm học Griffith, Úc, và là chủ tịch Hội đồng nghiên cứu về tội phạm ma túy tại châu Á của Viện nghiên cứu AICS (Hoa Kỳ), trước hết nêu lên những tuyến đường mà ma túy tổng hợp xâm nhập vào Việt Nam : Lương Thanh Hải: Đến nay, việc thẩm lậu ma túy từ khu vực Tam Giác Vàng vào Việt Nam trải đều trên cả ba tuyến chính, đó là đường bộ, đường hàng không và đường biển. Việt Nam may mắn là không nằm trực tiếp trong vòng xoáy của Tam Giác Vàng. Thế nhưng Việt Nam lại là hàng xóm, chia sẻ đường biên trực tiếp với nước Lào, một trong ba nước của khu vực Tam Giác Vàng. Thành thử điều không tránh khỏi được là việc thẩm lậu ma túy, đặc biệt là ma túy tổng hợp, vào Việt Nam trải đều cả ba tuyến, đặc biệt là tuyến đường bộ. Báo cáo mới đây nhất của Liên Hiệp Quốc vào tháng 5 vẫn sử dụng các tài liệu của 63 tỉnh thành. Cho nên tôi cũng theo cái thói quen đó tạm thời đề cập đến các tỉnh trước ngày 01/07 năm nay, khi Việt Nam giảm xuống còn 34 tỉnh thành. Tôi lấy ví dụ đường biên giới Việt Nam và Lào, đặc biệt là các cái cửa khẩu Cầu Treo của Hà Tĩnh, Cha Lo của Quảng Bình và Lao Bảo của Quảng Trị, những vùng rất nóng bỏng, hoặc là tuyến Tây Bắc thì có những khu vực đặc biệt nóng bỏng ở Lóng Luông, Mộc Châu, Sơn La, hay là ở Lạng Sơn, vân vân... Các trục đường biên giới giữa Việt Nam và Lào là một trong những điểm nóng mà Cục cảnh sát phòng chống ma túy của Bộ Công an Việt Nam đã đưa vào tầm ngắm không chỉ bây giờ, mà từ rất lâu. Ngoài ra, tuyến biên giới Việt Nam - Cam Bốt cũng vậy. Ở các đường biên giữa hai nước như Tây Ninh, An Giang, Long An, giới buôn ma túy cũng lợi dụng các hoạt động thương mại, du lịch và vận tải đường bộ. Có thể nói rằng trên đường bộ, ngoài các khu vực cửa khẩu mà tôi có nhấn mạnh, với một đường biên giới trải dài tổng cộng hơn 3000 km tiếp giáp giữa Việt Nam, Lào, Cam Bốt, giữa Việt Nam và Trung Quốc, thì có thể nói rằng có rất nhiều đường mòn, lối mở. Lực lượng bộ đội biên phòng cũng như cảnh sát phòng chống ma túy của Việt Nam mặc dù đã chủ động và đã bố trí nhiều điểm chốt nhưng cũng không xuể được. Có thể nói nguồn nhân lực không thể kham hết được. RFI: Như vậy thì giữa Việt Nam với các nước láng giềng Lào, Cam Bốt, Trung Quốc, các lực lượng thực thi pháp luật có phối hợp với nhau để ngăn chận những đường dây đó? Lương Thanh Hải: Đó cũng là một trong những khía cạnh rất đáng ghi nhận. Nói gì thì nói, việc tăng cường hợp tác song phương và đa phương giữa Việt Nam và các nước láng giềng cũng có những tiến triển nhất định. Điều này đã được Ủy ban phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hiệp Quốc UNODC ghi nhận. Một điểm tôi muốn nhấn mạnh ở đây, đó chính là mô hình hợp tác song phương đường biên, mà chúng tôi hay gọi là Border Liaison Office, tức là việc bố trí song song lực lượng thực thi pháp luật của cả hai nước, bao gồm cảnh sát, biên phòng, hải quan, vân vân. Hai bên sẽ chia sẻ thông tin, kể cả thông tin tình báo, phối hợp các chuyên án để cùng nhau đánh sập các đường dây ma túy thẩm lậu giữa các nước với nhau. Tuy nhiên, thành công trong các chuyên án phối hợp song phương hoặc đa phương cũng chỉ dừng lại góc độ chừng mực nhất định. Việc thực thi pháp luật vẫn đang còn những hạn chế, bởi vì thứ nhất, có sự khác biệt về mặt luật pháp. Đôi khi việc bắt và đánh sập một đường dây ma túy sau đó còn liên quan đến việc truy tố, xét xử và thi hành án, thậm chí là có dẫn độ hay không? Tất cả những câu hỏi đó, những rào cản đó cũng góp phần làm cản trở hiệu quả mang tính chất bền vững trong hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia. Ngoài cái đầu tiên đó là đường mòn, như tôi nói, rất phức tạp, có thể là điểm nóng nhất, thì đường biển cũng vậy. Đặc biệt trong giai đoạn Covid thì hầu hết đường biên giới của các nước đều đóng cả. Chính vì vậy, giai đoạn từ 2021 cho đến 2023 có thể nói là giai đoạn bùng nổ, không chỉ đối với Việt Nam hay ba nước khu vực Tam Giác Vàng, mà kể cả là Úc, Nhật hay Trung Quốc, kể cả Nam Mỹ, tất cả các hoạt động buôn bán vận chuyển trái phép ma túy tổng hợp đều tận dụng đường biển rất nhiều. Cho nên khu vực eo biển nằm ở Vịnh Thái Lan và đi qua eo biển Malacca có thể nói cũng là một trong những đường biển mà Việt Nam cần phải tập trung để hạn chế tối đa. Ngoài đường bộ và đường biển, đường hàng không và bưu kiện có thể nói cũng là một trong những hướng thẩm lậu ma túy nổi lên trong nhiều năm trở lại đây đối với Việt Nam, mà lực lượng thực thi pháp luật cũng đã ít nhiều có những thành công nhất định và đã phá được nhiều chuyên án liên quan vận chuyển trái phép ma túy tổng hợp bằng đường hàng không và bưu kiện vào Việt Nam. RFI: Với lượng bưu kiện nhập vào Việt Nam rất là lớn thì làm sao các cơ quan chức năng có thể kiểm tra để mà phát hiện được ma túy tổng hợp giấu trong những bưu kiện đó? Lương Thanh Hải: Đây là một trong những vấn đề rất là đau đầu và cũng là một trong những cái khó, bởi vì thứ nhất nó liên quan đến chính sách, pháp luật về kiểm soát và giám sát hàng hóa của từng nước. Việt Nam cũng vậy, không tránh khỏi những vướng mắc và khó khăn. Chẳng hạn về phương tiện trang thiết bị cho các lực lượng thực thi pháp luật, không phải cơ quan nào cũng đều được trang bị một cách tối tân nhất như ở các nước phương Tây. Đó cũng là một hạn chế làm giảm thiểu khả năng phát hiện đối với lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam đối với các đối tượng vận chuyển ma túy qua đường hàng không, hoặc là đường bưu kiện. Ngoài ra, những phương thức, thủ đoạn của các đối tượng vận chuyển ngày càng tinh vi hơn, không chỉ là giấu trong vali hay các vật dụng, vân vân. Có nhiều đối tượng còn nuốt vào trong bụng và thậm chí còn phẫu thuật để nhét vào các bộ phận của cơ thể, vân vân... Tất cả những điều đó đặt ra những thách thức và đòi hỏi các lực lượng thực thi pháp luật phải nâng cao hơn nữa trình độ nghiệp vụ, cùng với việc sử dụng phối hợp các trang thiết bị. Hiện nay, đối với Việt Nam thì Cảnh sát Liên bang Úc AFP cũng hỗ trợ rất nhiều cả về vật chất lẫn chương trình đào tạo, hỗ trợ về trang thiết bị. Ở góc độ nhà nghiên cứu và cũng là người thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa lực lượng thực thi pháp luật Úc và Việt Nam, tôi hy vọng trong thời gian tới sẽ có nhiều hỗ trợ về trang thiết bị tối tân hơn. Ví dụ như các máy tia hồng ngoại có thể rà soát các loại chất ma túy qua đường bưu kiện và đường hàng không, hoặc là có thể có các khóa huấn luyện chuyên sâu đặc biệt đối với các detective dog, chó nghiệp vụ, để hỗ trợ Việt Nam trong quá trình điều tra, phát hiện và suy xét các chuyên án ma túy liên quan đến đường hàng không. RFI: Cũng nói về hợp tác giữa Việt Nam với Úc, bây giờ có những đường dây vận chuyển ma túy tổng hợp từ Việt Nam sang Úc, chắc là qua đường hàng không nhiều hơn, hay không? Như vậy hai nước phối hợp như thế nào để ngăn chặn những đường dây đó? Đúng vậy. Tuy nhiên, so với mặt bằng chung, so với các nước khác, việc vận chuyển từ Việt Nam trực tiếp sang Úc thì số lượng không đáng kể. Theo báo cáo hàng năm của Ủy ban nghiên cứu về tội phạm và ma túy của Úc, hầu hết các đối tượng vận chuyển ma túy tổng hợp từ Việt Nam qua Úc với số lượng vừa phải, nhỏ lẻ. Tức là nếu căn cứ theo định lượng tội danh của khung hình sự thì nó cũng ít nghiêm trọng, chứ không phải là hàng tạ hay hàng tấn, như khối lượng từ Tam Giác Vàng thẩm lậu vào Việt Nam. Các đối tượng vận chuyển như vậy thì rơi vào các nhóm thứ yếu, có thể là những du học sinh, những người lớn tuổi, những người nhẹ dạ cả tin cầm hành lý hộ, vân vân. Tuy nhiên, ở góc độ về thực thi pháp luật, hợp tác giữa Cảnh sát Liên bang Úc AFP và cảnh sát Việt Nam khá chặt chẽ, bởi vì AFP là một trong những lực lượng thực thi pháp luật triển khai khá sớm con người cụ thể ở đại sứ quán ở Hà Nội cũng như lãnh sự quán ở thành phố Hồ Chí Minh . Mô hình thành lập trung tâm phòng chống tội phạm xuyên quốc gia Việt - Úc có thể nói là một trong những mô hình đầu tiên mà một lực lượng cảnh sát ngoài Việt Nam, cụ thể là Úc, phối hợp cùng Tổng cục Cảnh sát trước đây, bây giờ là văn phòng cơ quan điều tra phụ trách. Cả hai bên đã phối hợp và xây dựng và đặt tại trụ sở thành phố Hồ Chí Minh. Trung tâm phòng chống tội phạm xâm quốc gia này hoạt động khá hiệu quả, là nơi trung chuyển, cung cấp, trao đổi thông tin, cả thông tin tình báo lẫn thông tin về các loại tội phạm, đặc biệt là về ma túy, để giúp lực lượng thực thi pháp luật cả hai nước có cơ sở để triển khai các hoạt động phòng chống hiệu quả.
Theo báo cáo do Văn phòng Liên Hiệp Quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC) công bố vào tháng 5 vừa qua, hoạt động sản xuất và buôn bán trái phép ma túy tổng hợp từ khu vực Tam giác Vàng ( khu vực nằm giữa biên giới ba nước Lào, Thái Lan, Miến Điện ) đã tăng gấp bội. Là quốc gia có đường biên giới chung với Lào, một trong 3 quốc gia của khu Tam Giác Vàng, Việt Nam đang phải đối phó với ngày càng nhiều đường dây buôn lậu ma túy tổng hợp từ nước láng giềng. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 15/09/2025, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải, giảng viên Trường Tư pháp hình sự và tội phạm học Griffith, Úc, và là chủ tịch Hội đồng nghiên cứu về tội phạm ma túy tại châu Á của Viện nghiên cứu AICS (Hoa Kỳ), trước hết nêu lên những tuyến đường mà ma túy tổng hợp xâm nhập vào Việt Nam : Lương Thanh Hải: Đến nay, việc thẩm lậu ma túy từ khu vực Tam Giác Vàng vào Việt Nam trải đều trên cả ba tuyến chính, đó là đường bộ, đường hàng không và đường biển. Việt Nam may mắn là không nằm trực tiếp trong vòng xoáy của Tam Giác Vàng. Thế nhưng Việt Nam lại là hàng xóm, chia sẻ đường biên trực tiếp với nước Lào, một trong ba nước của khu vực Tam Giác Vàng. Thành thử điều không tránh khỏi được là việc thẩm lậu ma túy, đặc biệt là ma túy tổng hợp, vào Việt Nam trải đều cả ba tuyến, đặc biệt là tuyến đường bộ. Báo cáo mới đây nhất của Liên Hiệp Quốc vào tháng 5 vẫn sử dụng các tài liệu của 63 tỉnh thành. Cho nên tôi cũng theo cái thói quen đó tạm thời đề cập đến các tỉnh trước ngày 01/07 năm nay, khi Việt Nam giảm xuống còn 34 tỉnh thành. Tôi lấy ví dụ đường biên giới Việt Nam và Lào, đặc biệt là các cái cửa khẩu Cầu Treo của Hà Tĩnh, Cha Lo của Quảng Bình và Lao Bảo của Quảng Trị, những vùng rất nóng bỏng, hoặc là tuyến Tây Bắc thì có những khu vực đặc biệt nóng bỏng ở Lóng Luông, Mộc Châu, Sơn La, hay là ở Lạng Sơn, vân vân... Các trục đường biên giới giữa Việt Nam và Lào là một trong những điểm nóng mà Cục cảnh sát phòng chống ma túy của Bộ Công an Việt Nam đã đưa vào tầm ngắm không chỉ bây giờ, mà từ rất lâu. Ngoài ra, tuyến biên giới Việt Nam - Cam Bốt cũng vậy. Ở các đường biên giữa hai nước như Tây Ninh, An Giang, Long An, giới buôn ma túy cũng lợi dụng các hoạt động thương mại, du lịch và vận tải đường bộ. Có thể nói rằng trên đường bộ, ngoài các khu vực cửa khẩu mà tôi có nhấn mạnh, với một đường biên giới trải dài tổng cộng hơn 3000 km tiếp giáp giữa Việt Nam, Lào, Cam Bốt, giữa Việt Nam và Trung Quốc, thì có thể nói rằng có rất nhiều đường mòn, lối mở. Lực lượng bộ đội biên phòng cũng như cảnh sát phòng chống ma túy của Việt Nam mặc dù đã chủ động và đã bố trí nhiều điểm chốt nhưng cũng không xuể được. Có thể nói nguồn nhân lực không thể kham hết được. RFI: Như vậy thì giữa Việt Nam với các nước láng giềng Lào, Cam Bốt, Trung Quốc, các lực lượng thực thi pháp luật có phối hợp với nhau để ngăn chận những đường dây đó? Lương Thanh Hải: Đó cũng là một trong những khía cạnh rất đáng ghi nhận. Nói gì thì nói, việc tăng cường hợp tác song phương và đa phương giữa Việt Nam và các nước láng giềng cũng có những tiến triển nhất định. Điều này đã được Ủy ban phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hiệp Quốc UNODC ghi nhận. Một điểm tôi muốn nhấn mạnh ở đây, đó chính là mô hình hợp tác song phương đường biên, mà chúng tôi hay gọi là Border Liaison Office, tức là việc bố trí song song lực lượng thực thi pháp luật của cả hai nước, bao gồm cảnh sát, biên phòng, hải quan, vân vân. Hai bên sẽ chia sẻ thông tin, kể cả thông tin tình báo, phối hợp các chuyên án để cùng nhau đánh sập các đường dây ma túy thẩm lậu giữa các nước với nhau. Tuy nhiên, thành công trong các chuyên án phối hợp song phương hoặc đa phương cũng chỉ dừng lại góc độ chừng mực nhất định. Việc thực thi pháp luật vẫn đang còn những hạn chế, bởi vì thứ nhất, có sự khác biệt về mặt luật pháp. Đôi khi việc bắt và đánh sập một đường dây ma túy sau đó còn liên quan đến việc truy tố, xét xử và thi hành án, thậm chí là có dẫn độ hay không? Tất cả những câu hỏi đó, những rào cản đó cũng góp phần làm cản trở hiệu quả mang tính chất bền vững trong hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia. Ngoài cái đầu tiên đó là đường mòn, như tôi nói, rất phức tạp, có thể là điểm nóng nhất, thì đường biển cũng vậy. Đặc biệt trong giai đoạn Covid thì hầu hết đường biên giới của các nước đều đóng cả. Chính vì vậy, giai đoạn từ 2021 cho đến 2023 có thể nói là giai đoạn bùng nổ, không chỉ đối với Việt Nam hay ba nước khu vực Tam Giác Vàng, mà kể cả là Úc, Nhật hay Trung Quốc, kể cả Nam Mỹ, tất cả các hoạt động buôn bán vận chuyển trái phép ma túy tổng hợp đều tận dụng đường biển rất nhiều. Cho nên khu vực eo biển nằm ở Vịnh Thái Lan và đi qua eo biển Malacca có thể nói cũng là một trong những đường biển mà Việt Nam cần phải tập trung để hạn chế tối đa. Ngoài đường bộ và đường biển, đường hàng không và bưu kiện có thể nói cũng là một trong những hướng thẩm lậu ma túy nổi lên trong nhiều năm trở lại đây đối với Việt Nam, mà lực lượng thực thi pháp luật cũng đã ít nhiều có những thành công nhất định và đã phá được nhiều chuyên án liên quan vận chuyển trái phép ma túy tổng hợp bằng đường hàng không và bưu kiện vào Việt Nam. RFI: Với lượng bưu kiện nhập vào Việt Nam rất là lớn thì làm sao các cơ quan chức năng có thể kiểm tra để mà phát hiện được ma túy tổng hợp giấu trong những bưu kiện đó? Lương Thanh Hải: Đây là một trong những vấn đề rất là đau đầu và cũng là một trong những cái khó, bởi vì thứ nhất nó liên quan đến chính sách, pháp luật về kiểm soát và giám sát hàng hóa của từng nước. Việt Nam cũng vậy, không tránh khỏi những vướng mắc và khó khăn. Chẳng hạn về phương tiện trang thiết bị cho các lực lượng thực thi pháp luật, không phải cơ quan nào cũng đều được trang bị một cách tối tân nhất như ở các nước phương Tây. Đó cũng là một hạn chế làm giảm thiểu khả năng phát hiện đối với lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam đối với các đối tượng vận chuyển ma túy qua đường hàng không, hoặc là đường bưu kiện. Ngoài ra, những phương thức, thủ đoạn của các đối tượng vận chuyển ngày càng tinh vi hơn, không chỉ là giấu trong vali hay các vật dụng, vân vân. Có nhiều đối tượng còn nuốt vào trong bụng và thậm chí còn phẫu thuật để nhét vào các bộ phận của cơ thể, vân vân... Tất cả những điều đó đặt ra những thách thức và đòi hỏi các lực lượng thực thi pháp luật phải nâng cao hơn nữa trình độ nghiệp vụ, cùng với việc sử dụng phối hợp các trang thiết bị. Hiện nay, đối với Việt Nam thì Cảnh sát Liên bang Úc AFP cũng hỗ trợ rất nhiều cả về vật chất lẫn chương trình đào tạo, hỗ trợ về trang thiết bị. Ở góc độ nhà nghiên cứu và cũng là người thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa lực lượng thực thi pháp luật Úc và Việt Nam, tôi hy vọng trong thời gian tới sẽ có nhiều hỗ trợ về trang thiết bị tối tân hơn. Ví dụ như các máy tia hồng ngoại có thể rà soát các loại chất ma túy qua đường bưu kiện và đường hàng không, hoặc là có thể có các khóa huấn luyện chuyên sâu đặc biệt đối với các detective dog, chó nghiệp vụ, để hỗ trợ Việt Nam trong quá trình điều tra, phát hiện và suy xét các chuyên án ma túy liên quan đến đường hàng không. RFI: Cũng nói về hợp tác giữa Việt Nam với Úc, bây giờ có những đường dây vận chuyển ma túy tổng hợp từ Việt Nam sang Úc, chắc là qua đường hàng không nhiều hơn, hay không? Như vậy hai nước phối hợp như thế nào để ngăn chặn những đường dây đó? Đúng vậy. Tuy nhiên, so với mặt bằng chung, so với các nước khác, việc vận chuyển từ Việt Nam trực tiếp sang Úc thì số lượng không đáng kể. Theo báo cáo hàng năm của Ủy ban nghiên cứu về tội phạm và ma túy của Úc, hầu hết các đối tượng vận chuyển ma túy tổng hợp từ Việt Nam qua Úc với số lượng vừa phải, nhỏ lẻ. Tức là nếu căn cứ theo định lượng tội danh của khung hình sự thì nó cũng ít nghiêm trọng, chứ không phải là hàng tạ hay hàng tấn, như khối lượng từ Tam Giác Vàng thẩm lậu vào Việt Nam. Các đối tượng vận chuyển như vậy thì rơi vào các nhóm thứ yếu, có thể là những du học sinh, những người lớn tuổi, những người nhẹ dạ cả tin cầm hành lý hộ, vân vân. Tuy nhiên, ở góc độ về thực thi pháp luật, hợp tác giữa Cảnh sát Liên bang Úc AFP và cảnh sát Việt Nam khá chặt chẽ, bởi vì AFP là một trong những lực lượng thực thi pháp luật triển khai khá sớm con người cụ thể ở đại sứ quán ở Hà Nội cũng như lãnh sự quán ở thành phố Hồ Chí Minh . Mô hình thành lập trung tâm phòng chống tội phạm xuyên quốc gia Việt - Úc có thể nói là một trong những mô hình đầu tiên mà một lực lượng cảnh sát ngoài Việt Nam, cụ thể là Úc, phối hợp cùng Tổng cục Cảnh sát trước đây, bây giờ là văn phòng cơ quan điều tra phụ trách. Cả hai bên đã phối hợp và xây dựng và đặt tại trụ sở thành phố Hồ Chí Minh. Trung tâm phòng chống tội phạm xâm quốc gia này hoạt động khá hiệu quả, là nơi trung chuyển, cung cấp, trao đổi thông tin, cả thông tin tình báo lẫn thông tin về các loại tội phạm, đặc biệt là về ma túy, để giúp lực lượng thực thi pháp luật cả hai nước có cơ sở để triển khai các hoạt động phòng chống hiệu quả.
Hôm 14/11/2025, tổng thống Trump lùi bước, tự dỡ bỏ một số hàng rào quan thuế đánh vào một số thực phẩm mà ông đã dựng lên. Mười ngày trước, đời sống khó khăn tại Mỹ giúp nhiều ứng cử viên của đảng Dân Chủ thắng cử trong các cuộc bầu cử địa phương. Washington vừa ra khỏi tình trạng 43 ngày shutdown, vì không có ngân sách hoạt động. Sau nhiều tháng đàm phán, Mỹ vẫn chờ các đối tác đầu tư thêm hàng ngàn tỷ đô la đưa Hoa Kỳ trở lại « thời kỳ vàng son ». Theo thăm dò của trung tâm Navigator công bố hôm 12/11/2025, 16 % những người được hỏi bày tỏ « thất vọng » vì chính sách kinh tế của tổng thống Trump, 16 % khác « hối hận » đã bỏ phiếu ủng hộ ông hồi tháng 11/2024 và nhìn chung thì 59 % « không hài lòng » về những quyết định kinh tế của chủ nhân Nhà Trắng. « Quá ồn ào nhưng kết quả lại chẳng là bao nhiêu ». Garett Melson thuộc ngân hàng đầu tư Natixis IM của Pháp đã đánh giá như trên phần trang tài chính của báo Le Figaro. Sau nhiều màn đầy kịch tính làm khuấy động thị trường ở Mỹ và thế giới, các chỉ số kinh tế của bàn thân Hoa Kỳ đã « trở về với thời điểm đầu năm 2025 », cuối nhiệm kỳ Biden và khi tổng thống Donald Trump trở lại cầm quyền. Thị trường chứng khoán của Mỹ và các doanh nghiệp « có sức chịu đựng tốt hơn dự kiến ». Tổng sản phẩm nội địa của Hoa Kỳ cho năm 2025 dự trù tăng 1,6 % ; lạm phát dao động ở mức 3 %. Thị trường lao động được đánh giá là « vẫn ổn định », cho dù giám đốc cơ quan đặc trách thống kê lao động Mỹ đã bị cho thôi việc và do tình trạng Shutdown, báo cáo về tình trạng lao động tại Hoa Kỳ tháng 10/2025 đã không thể được công bố đúng hạn kỳ. Trong những tuần lễ gần đây tập đoàn Amazon loan báo kế hoạch sa thải 14.000 nhân viên, công ty vận tải UPS chuẩn bị cho 48.000 nhân viên nghỉ việc … Nghiên cứu hàng tháng do Đại học Michigan thực hiện về tâm trạng người tiêu dùng trong tháng 10/2025 cho thấy chỉ số này đã sụt giảm đến 6 % so với hồi tháng trước và giảm đến 30 % so với cùng thời kỳ năm ngoái. Riêng tầng lớp giàu có nhất thì không bị ảnh hướng : đó là những người nắm giữ nhiều cổ phiếu chứng khoán. Chỉ số S&P500 tại Wall Street tăng liên tiếp trong 6 tháng qua, chủ yếu là nhờ các tên tuổi lớn trong lĩnh vực thông minh nhân tạo. Trong phần phỏng vấn dành cho RFI Việt Ngữ, kinh tế gia Jean -François Boittin, đại diện Hiệp hội giới chủ doanh nghiệp Pháp MEDEF tại Washington đã nêu bật vấn đề này và phân tích kỹ hơn về « logic khó hiểu » trong chính sách kinh tế của tổng thống Donald Trump. RFI : Kính chào Jean-François Boittin, câu hỏi đầu tiên : So với thời điểm bầu cử tổng thống Mỹ cách nay một năm, đời sống tại Washington nơi ông cư ngụ hiện tại ra sao ? Jean-François Boittin : « Chi phí sinh hoạt tại Hoa Kỳ nói chung, chứ không chỉ riêng ở Washington, rõ ràng đã tăng lên mặc dù lạm phát đã có xu hướng giảm so với đỉnh điểm của hồi 2022. Khi đó lạm phát ở Mỹ bị đẩy lên tới 8%. Chỉ số giá cả tại Mỹ hiện tại là khoảng 2,5%, tức là vẫn còn cao hơn so với mục tiêu của Ngân hàng Trung ương Mỹ là 2%. Tuy nhiên thời gian gần đây chỉ số lạm có khuynh hướng nhích lên tới gần 3 % và quả thực đó chính là yếu tố quyết định dẫn tới thắng lợi của nhiều ứng cử viên đảng Dân Chủ trong các cuộc bầu cử địa phương cách nay hai tuần ở các bang Virginia, New Jersey và cả thành phố New York. Đời sống đắt đỏ là chủ đề mà các ứng viên đảng Dân Chủ đã đặc biệt quan tâm và là yếu tố giúp họ chinh phục cử tri ». RFI : Hai điểm nổi bật trong chính sách của tổng thống Mỹ thứ 47 được nhắc đến nhiều, đó là chính sách thương mại, ông Trump dùng đòn thuế quan để giải quyết tình trạng nhập siêu mà đây còn là một công cụ ngoại giao, để giải quyết các xung đột trên thế giới ; và bên cạnh đó là chính sách thuế đối với doanh nghiệp và tư nhân. Nhưng dường như cả hai cùng khó thuyết phục được một phần lớn cử tri Hoa Kỳ ? Jean-François Boittin : « Có hai đặc điểm hoàn toàn mâu thuẫn với đường lối kinh tế vốn được coi là kim chỉ nam trong chính sách của bên đảng Cộng Hòa. Thứ nhất là chính quyền Trump đã thông qua đạo luật One Big Beautiful Bill Act, triển hạn biện pháp giảm thuế cho doanh nghiệp và cá nhân. Hệ quả kèm theo là đẩy thâm hụt ngân sách cả chính quyền liên bang lên cao. Đạo luật này sẽ khiến thâm hụt ngân sách Mỹ tăng thêm từ 3.000 đến 3.500 tỷ đô la theo tính toán của các tổ chức trung lập. Yếu tố thứ hai, dĩ nhiên là thuế quan. Từ rất lâu Trump đã tự nhận là Tariff Man, chỉ tin vào công cụ này để giải quyết tất cả. Hôm 02/04/2025 ông đã công bố kế hoạch tăng thuế quan rất mạnh. Tuy nhiên, Donald Trump đã buộc phải giảm bớt tham vọng này vì thị trường tài chính đã lao dốc ngay sau đó. Sau nhiều tháng đàm phán, mức thuế quan trung bình hiện nay vẫn ở mức 17,5%, trong khi trước khi ông lên nắm quyền, mức trung bình chỉ là 2,5%. Đây là một gánh nặng đối với mỗi người tiêu dùng, tác động đến sinh hoạt hàng ngày của họ. Giá nhiều mặt hàng bị đẩy lên cao. Cuối cùng áp lực lớn đến nỗi, cuối tuần qua tổng thống Trump đã phải bãi bỏ thuế quan đánh vào một số mặt hàng thực phẩm phải nhập khẩu từ những nơi khác để phục vụ thị trường Mỹ. Rất khó để hiểu được cái logic của ông Trump ». RFI : Cũng dưới chính quyền Donald Trump Hoa Kỳ vừa trải qua giai đoạn nhiều cơ quan chính phủ liên bang phải đóng cửa vì không có ngân sách hoạt động. Shutdown ảnh hưởng thế nào đến tăng trưởng của Mỹ ? Jean-François Boittin : « Việc chính phủ liên bang phải đóng cửa vì không có ngân sách hoạt động, thực chất là do bên đảng Dân Chủ gây ra. Họ muốn lợi dụng thời điểm này để thúc đẩy Quốc Hội thông qua một đạo luật về trợ cấp y tế, thường được biết đến dưới tên gọi là ObamaCare. Họ dùng đòn này để gây sức ép. Vì các khoản chi tiêu của chính phủ liên bang phải được Quốc Hội phê duyệt, phe Dân Chủ, thiểu số tại cả Thượng và Hạ Viện, đã chặn quá trình này và tuyên bố họ chỉ bỏ phiếu gia hạn các khoản chi tiêu của chính quyền liên bang nếu Hạ Viện đồng ý tài trợ trở lại các chương trình trợ cấp y tế. (…) Điều rất kỳ lạ là mặc dù rõ ràng đảng Dân Chủ là bên chặn quá trình và cố gắng lợi dụng hoàn cảnh để thông qua việc gia hạn trợ cấp y tế, nhưng dư luận, qua các cuộc thăm dò, lại đổ lỗi cho đảng Cộng Hòa đã gây ra tình trạng shutdown. Về câu hỏi shutdown trong thời gian dài kỷ lục, 43 ngày có tác động đến kinh tế Mỹ hay không, thì câu trả lời là có : đầu tiên hết là một số công chức của chính phủ liên bang đã không được trả lương đúng hạn. Do mức tiết kiệm của người Mỹ nói chung rất thấp, họ nhanh chóng rơi vào khó khăn. Ngoài ra, rất nhiều chương trình hỗ trợ lương thực, liên quan đến 1 người Mỹ trên 8, (đặc biệt là trẻ em và thanh thiếu niên) đã phải ngừng hoạt động, hoặc hoạt động một cách nhỏ giọt tại nhiều bang. Điều này cũng đã gây ra thêm nhiều khó khăn nữa cho dân Mỹ thời gian vừa qua. Nhìn rộng ra hơn, tác động không quá lớn từ viện chính phủ không có ngân sách hoạt động đối với GDP của Hoa Kỳ cho cả năm. Nhưng đúng là tăng trưởng của 3 tháng cuối năm nay bị thiệt hại. Dù vậy kinh nghiệm quá khứ cho thấy, sự chậm trễ trong quý 4 sẽ chóng được xóa nhòa ngay từ đầu năm sau thôi ». RFI : Với tư cách đại diện của Hiệp hội các chủ doanh nghiệp Pháp, theo ông, với môi trường bất ổn như vậy, trước những hứa hẹn đầu tư hàng ngàn tỷ đô la vào Mỹ mà ông cho rằng chưa chắc là các bên liên quan sẽ giữ lời… Liệu rằng đây có phải là thời điểm thuận lợi để các công ty nước ngoài mạnh dạn đầu tư vào Mỹ hay không ? Jean-François Boittin : « Chính quyền, mà thực tế là chính tổng thống Trump liên tục gây áp lực để thu hút đầu tư vào Hoa Kỳ với mục tiêu xây dựng lại nền công nghiệp Mỹ giống thời kỳ vàng son của những năm 1950–1960. Không ai tin mục tiêu này sẽ đạt được. Mỗi lần đàm phán với một quốc gia, Donald Trump luôn đòi đối tác phải cam kết đầu tư để phát triển nền công nghiệp của Hoa Kỳ. Thí dụ mới nhất là với Thụy Sĩ. Trước đây nước này bị với mức thuế hải quan là 39 % nhưng vừa đàm phán, hàng Thụy Sĩ nhập vào Mỹ chỉ bị đánh thuế 15%. Đổi lại các tập đoàn Thụy Sĩ cam kết đầu tư 200 tỷ đô la vào Hoa Kỳ trong 3 năm tới. Như nhiều quốc gia khác từng đám phán với Washington, sẽ không ai thực hiện cam kết này. Về câu hỏi của chị có nhiều yếu tố như sau : Dĩ nhiên, ai cũng muốn đầu tư vào Hoa Kỳ, một quốc gia giàu có. Nhưng các quy định, luật lệ, đặc biệt là thuế quan thay đổi từ ngày này sang ngày khác tùy theo tâm trạng của Donald Trump… Chính điều đó tạo ra một môi trường bất ổn. Giới đầu tư nói chung rất sợ sự bất ổn, vì họ đầu tư cho dài hạn nên muốn và cần biết rõ môi trường mà họ sẽ hoạt động trong đó. Ngoài ra, tùy vào những lĩnh vực chúng ta muốn đầu tư. Đây có thể là thời điểm tốt để dấn thân vào thị trường Mỹ. Rõ ràng là vậy, vì nền kinh tế hiện nay là một nền kinh tế theo mô hình chữ K : Nghĩa là một phần dân số, 10% người giàu nhất, chi tiêu rất nhiều vì giá trị cổ phiếu họ nắm giữ đã tăng mạnh. Trái lại, phần còn lại của dân số, đặc biệt là càng xuống các nhóm thu nhập thấp, thì tình hình càng khó khăn từ khi ông Trump trở lại cầm quyền. Vì vậy nếu chúng ta nhắm tới tầng lớp 10 % dầu có nhất, thậm chí là 1 % những tài sản đồ sộ nhất ở Mỹ, thì hãy nên đầu tư vào Hoa Kỳ ». RFI : Chân thành cảm ơn Jean-François Boittin, đại diện MEDEF các doanh nhân Pháp tại thủ đô Washington.
Một phần do tác động của biến đổi khí hậu, tình trạng ngập lụt đang trở nên thường xuyên hơn và trầm trọng hơn ở các đô thị lớn của Việt Nam như Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh. Hầu như bất cứ cơn mưa lớn nào cũng có thể biến đường phố thành sông hồ, không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến đời sống người dân. Đặc biệt là hai đợt mưa lớn cuối tháng 9 và đầu tháng 10 vừa qua đã khiến Hà Nội bị ngập nước ở rất nhiều điểm, có nơi bị ngập đến vài ngày, khiến giao thông tê liệt. Đâu là những nguyên nhân của tình trạng này? Những giải pháp nào thật sự hiệu quả để giải quyết tận gốc vấn đề? Trong chương trình hôm nay mời quý vị nghe ý kiến của kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn, trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ từ Việt Nam. RFI Việt ngữ hôm nay rất vui mừng được tiếp chuyện với kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn để nói về tình trạng ngập lụt tại các đô thị lớn ở Việt Nam hiện nay. Trước hết theo quan sát của ông, tình trạng ngập lụt ở các đô thị hiện nay đang trở nên trầm trọng như thế nào? Tình trạng ngập lụt ở Việt Nam trong hai năm gần đây ngày càng trầm trọng hơn, một phần là do biến đổi khí hậu, bởi vì có những cơn mưa rất lớn, bình thường là cả chục năm mới có một lần, còn bây giờ thì tần suất thường xuyên hơn. Lượng mưa và độ tăng thủy triều trở nên ngày càng thất thường hơn. Đó là ảnh hưởng chung trên cả thế giới. Thứ hai là những khu, đặc biệt là những khu đô thị mới, những khu đang xây nhà cao tầng, khi có mưa lớn thì thường là dễ bị ngập. Vừa rồi Hà Nội cũng có một trận ngập cả thành phố rất lớn, ngay cả sân bay cũng bị ngập. Nói chung là những đô thị lớn tại Việt Nam như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Cần Thơ, Đà Nẵng đều bị ngập và đặc biệt là những khu mới. Mặt khác, do Việt Nam đang có độ tăng trưởng cao hàng đầu thế giới, các đô thị là những nơi đang phát triển rất năng động. Ở những đô thị lớn thì có thể nói gần như con đường nào cũng có một vài công trình gì đó đang mọc lên. Rõ ràng là hệ thống thoát nước không theo kịp với cái đà phát triển đô thị. Tức là ở đây, ngoài yếu tố biến đổi khí hậu, theo ông, vấn đề chính phải chăng là do chúng ta quy hoạch không đúng quy cách? Ở đây cũng không hoàn toàn là do quy hoạch đô thị, mà là do nhiều yếu tố cộng lại. Thứ nhất, việc quy hoạch đô thị thường là có những tiêu chuẩn quy phạm thì mình chưa đổi mới kịp. Những tiêu chuẩn đó chỉ đáp ứng với điều kiện bình thường và khi có những tình huống như vậy, thì rõ ràng là những tiêu chuẩn, tiêu chí để phê duyệt quy hoạch phải được nâng tầm lên, để dự phòng những trường hợp có nguy cơ ngập cực đoan, mình có thể ứng phó với nó. Đó là một phần thôi, nhưng phần khác cũng khá quan trọng: Việt Nam sau này phát triển theo nền kinh tế thị trường rồi, thành ra những dự án phát triển đô thị không phải luôn luôn dùng vốn của nhà nước, mà đa số những dự án đó là dùng nguồn vốn của tư nhân. Có những trường hợp mà nhà đầu tư thiếu trách nhiệm xã hội. Khi phát triển dự án, họ nhắm đến lợi ích cá nhân nhiều, không coi trọng lợi ích của cộng đồng. Ví dụ như trong một bản quy hoạch khu đô thị mới được phê duyệt, người ta vẽ đầy đủ hết: Công viên, có đường xá, có cống rãnh, có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội. Nhưng khi đi vào thực hiện thì rất nhiều dự án người ta có lẽ muốn thu lợi nhanh, nên nhà cửa xây xong rồi, bán rồi, người dân dọn vô rồi, mà đường xá kết nối chưa xong, cống rãnh chưa xong, hệ thống hạ tầng xã hội, trường học còn thiếu thốn, dịch vụ thương mại còn thiếu rất nhiều thứ. Thứ hai, với những khu đô thị hiện hữu mà đã ổn định rồi, nếu chúng ta giữ nguyên như vậy thì không sao, ví dụ như khu trung tâm quận 1, quận 3 của Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng do trong quá trình phát triển, người ta lại xây dựng rất nhiều nhà cao tầng vào đó. Mật độ xây dựng, mật độ bê tông hóa rõ ràng tăng lên có thể gấp 5, gấp 10 lần. Tuy nhiên, việc nâng cấp cho hệ thống hạ tầng để đảm đương cho mật độ đó lại không được thực hiện đồng bộ. Như vậy là bản thân những khu chỉnh trang cũng gây ngập. Thành phố Hồ Chí Minh sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, trở thành một siêu đô thị rất là lớn, với quy mô diện tích tăng gấp ba, dân số cũng như quy mô kinh tế tăng gấp rưỡi. Việc quản lý một siêu đô thị 14 triệu dân cũng không phải dễ dàng. Chúng ta đang bị động với một quy mô đô thị ngày càng lớn, đô thị hóa ngày càng tăng. Phải có sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành, phối hợp giữa công và tư, phối hợp nhà đầu tư và ngay cả với cư dân đô thị. Mọi người đều cần tham gia trong việc chống ngập. Đối với người dân, cũng có những chuyện nhỏ nhưng mà không nhỏ. Ví dụ như một số người dân có thói quen đổ rác vào những chỗ thoát nước, làm nghẹt cống thoát nước, gây ngập và chính bản thân họ cũng là người bị thiệt hại. Thưa ông, ngoài vấn đề ông nêu lên, tức là phải có ý thức của cộng đồng nói chung, của các nhà đầu tư, của người dân, hiện nay cứ mỗi lần mưa lớn một chút là đường phố ngập lụt kéo dài nhiều giờ. Như vậy trước mắt chúng ta có những giải pháp gì về mặt xây dựng, ví dụ như có những cống thoát nước nhiều hơn, lớn hơn hoặc những hồ điều tiết để khi nào mưa lớn thì nước rút nhanh hơn? Đầu tiên, tỷ lệ bê tông hóa của các đô thị rất là cao, đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay cao đến mức là tỷ lệ không gian xanh chỉ đạt khoảng nửa mét vuông trên đầu người, trong khi tỷ lệ mà UNESCO đề xuất tối thiểu phải là 10 mét vuông trên đầu người. Những đô thị lớn như Berlin chẳng hạn thì lên tới 40 mét vuông cây xanh trên đầu người và những đô thị khác thì trung bình ít nhất cũng phải 20, 25, 30 mét vuông. Việc đầu tiên đối với các thành phố bị ngập là phải giảm bê tông hóa và tăng không gian xanh. Nói nôm na là mình phải quy hoạch lại để tăng không gian cho nước. Không gian cho nước bao gồm sông, hồ, kênh, rạch phải liên thông với nhau, để thoát nước nhanh. Thứ hai là phải tăng không gian xanh lên, như chúng tôi nói là Thành phố Hồ Chí Minh phải tăng lên ít nhất 20 lần để mà đạt tối thiểu là 10 mét vuông cây xanh trên đầu người. Bí thư mới Trần Lưu Quang cách đây vài ngày cũng vừa có một quyết định rõ ràng là một định hướng mới cho thành phố, đó là về khu đất ven cảng Sài Gòn ngày xưa. Trước đây nhà đầu tư muốn xây một cái bức tường cao ốc ở đây, bởi vì nó có vị trí đẹp, nhìn thẳng ra trung tâm, nhìn ra sông Sài Gòn. Vừa rồi thì bí thư Trần Hữu Quang đã quyết định không cấp phép cho dự án xây cao tầng ở đây nữa, mà biến nó thành một công viên kết hợp với công trình văn hóa cộng cộng. Đây là một quyết định rất là khó khăn, bởi vì người ta hay gọi những khu đất như vậy là đất "vàng" và nhà đầu tư khi đầu tư những dự án lớn như vậy thì họ sẽ đóng góp cho ngân sách cũng không nhỏ. Tuy nhiên, Thành phố Hồ Chí Minh quá thiếu không gian xanh, nếu như những khu đất này mà không làm thành không gian xanh thì còn ở đâu để làm nữa? Đây rõ ràng là một định hướng rất là bền vững, đáp ứng nhu cầu tăng không gian xanh cho thành phố và tăng không gian văn hóa công cộng cho thành phố. Làm nhiều công viên cũng rất quan trọng ở chỗ là khi mưa xuống mà mình có nhiều diện tích không gian xanh, thì nước từ khu vực cao xuống khu vực thấp sẽ chảy chậm lại, bởi vì không gian xanh làm chậm tốc độ chảy của nước và làm giảm áp lực nước dồn xuống thấp quá nhanh. Mặt khác nó sẽ thu hút được lượng nước bổ sung cho lượng nước ngầm ở dưới, vừa giúp để cho nước hấp thụ xuống dưới và dần dần chảy ra sông. Nó cũng sẽ tránh được tình trạng sụt lún đất, bởi vì khi nước ngầm ở dưới mà bị cạn, thì nó sẽ tạo những túi không khí ở dưới và gây tình trạng sụt lún đất. Thứ hai, việc tăng không gian cho nước là nạo vét sông, hồ, kênh, rạch. Thành phố cũng đang có ý thức là trả lại những con kênh trước đây. Trước đây, vì muốn thúc đẩy phát triển đô thị, người ta lấp kênh và làm cống hộp ở dưới, nhưng sau này, với nguy cơ ngập thì một số nơi đã đào lại con kênh. Không gian hở của kênh hiệu quả hơn rất nhiều so với không gian cống hộp ở dưới. Đây cũng là điều nên làm: xây dựng những hồ điều tiết, có thể là hồ nổi, kết hợp với cảnh quan và cũng có thể là ngầm, để khi mưa lớn thì mình hút nước vào đó và sau đó mưa tạnh thì dần dần nó thoát ra. Điều đó cũng giảm cho nguy cơ ngập. Bên cạnh đó, về mặt quy hoạch, tôi nghĩ là nên có một chính sách quản lý đô thị nhất quán. Trước đây đôi khi mình buông lỏng, để cho có tình trạng người ta xây nhà, xây những cao ốc để bán, nhưng thiếu đường xá, thiếu cống rãnh, thiếu hạ tầng. Bây giờ nên chuyển thành một chiến lược mới là hạ tầng phải đi trước, tức là những nhà đầu tư làm những khu đô thị, dù là chỉnh trang hay xây mới, phải bàn giao hạ tầng đảm bảo thì mới được bắt đầu bán những dự án đó. Mình không để cho trách nhiệm xã hội nhà đầu tư một cách tự giác nữa, mà mình phải đưa nó vào luật, bắt buộc là hạ tầng phải đi trước. Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh đã sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu thành một đô thị khổng lồ. Phải chăng đây là cơ hội để chính quyền địa phương đề ra những giải pháp rộng lớn hơn để giảm bớt tình trạng ngập lụt? Nhìn trên bản đồ, chúng ta cũng thấy là khu nội thành Thành phố Hồ Chí Minh rất là chen chúc, nhìn trên Google Maps nó trắng xóa hết, bê tông hết, không thấy bao nhiêu không gian xanh. Khi đô thị lớn gấp ba thành siêu đô thị thì đây là cơ hội để khuyến khích giãn dân ra, khuyến khích phát triển về phía Bình Dương, là nơi có thể tạo công ăn việc làm về công nghiệp, công nghệ cao, hay là giãn dân về phía biển là chuỗi đô thị Cần Giờ, Vũng Tàu, Long Hải, Hồ Tràm, những nơi cũng có công ăn việc làm phục vụ du lịch và hiện giờ tỷ lệ bê tông hóa không cao, quỹ đất còn rất nhiều. Khi chúng ta giãn dân ra như vậy, đây cũng là cơ hội để chúng ta nâng tầm chất lượng cho khu nội Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi kỳ vọng là trong 5,10 năm tới, chúng ta sẽ đạt được tiêu chí mà chúng ta đang mong muốn hàng mấy chục năm nay là 10 mét vuông cây xanh trên đầu người. Nó không chỉ giảm ngập mà nó còn giúp nâng cao giá trị của môi trường, tạo cho người dân nhiều không gian để thư giãn, sinh hoạt cộng đồng và cải thiện chất lượng không khí, không bị tiếng ồn. Không gian xanh rất là quan trọng trong việc tổ chức đô thị. Tôi kỳ vọng là Thành phố Hồ Chí Minh sắp tới sẽ phát triển theo hướng hướng đô thị xanh và bền vững.
Một phần do tác động của biến đổi khí hậu, tình trạng ngập lụt đang trở nên thường xuyên hơn và trầm trọng hơn ở các đô thị lớn của Việt Nam như Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh. Hầu như bất cứ cơn mưa lớn nào cũng có thể biến đường phố thành sông hồ, không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến đời sống người dân. Đặc biệt là hai đợt mưa lớn cuối tháng 9 và đầu tháng 10 vừa qua đã khiến Hà Nội bị ngập nước ở rất nhiều điểm, có nơi bị ngập đến vài ngày, khiến giao thông tê liệt. Đâu là những nguyên nhân của tình trạng này? Những giải pháp nào thật sự hiệu quả để giải quyết tận gốc vấn đề? Trong chương trình hôm nay mời quý vị nghe ý kiến của kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn, trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ từ Việt Nam. RFI Việt ngữ hôm nay rất vui mừng được tiếp chuyện với kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn để nói về tình trạng ngập lụt tại các đô thị lớn ở Việt Nam hiện nay. Trước hết theo quan sát của ông, tình trạng ngập lụt ở các đô thị hiện nay đang trở nên trầm trọng như thế nào? Tình trạng ngập lụt ở Việt Nam trong hai năm gần đây ngày càng trầm trọng hơn, một phần là do biến đổi khí hậu, bởi vì có những cơn mưa rất lớn, bình thường là cả chục năm mới có một lần, còn bây giờ thì tần suất thường xuyên hơn. Lượng mưa và độ tăng thủy triều trở nên ngày càng thất thường hơn. Đó là ảnh hưởng chung trên cả thế giới. Thứ hai là những khu, đặc biệt là những khu đô thị mới, những khu đang xây nhà cao tầng, khi có mưa lớn thì thường là dễ bị ngập. Vừa rồi Hà Nội cũng có một trận ngập cả thành phố rất lớn, ngay cả sân bay cũng bị ngập. Nói chung là những đô thị lớn tại Việt Nam như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Cần Thơ, Đà Nẵng đều bị ngập và đặc biệt là những khu mới. Mặt khác, do Việt Nam đang có độ tăng trưởng cao hàng đầu thế giới, các đô thị là những nơi đang phát triển rất năng động. Ở những đô thị lớn thì có thể nói gần như con đường nào cũng có một vài công trình gì đó đang mọc lên. Rõ ràng là hệ thống thoát nước không theo kịp với cái đà phát triển đô thị. Tức là ở đây, ngoài yếu tố biến đổi khí hậu, theo ông, vấn đề chính phải chăng là do chúng ta quy hoạch không đúng quy cách? Ở đây cũng không hoàn toàn là do quy hoạch đô thị, mà là do nhiều yếu tố cộng lại. Thứ nhất, việc quy hoạch đô thị thường là có những tiêu chuẩn quy phạm thì mình chưa đổi mới kịp. Những tiêu chuẩn đó chỉ đáp ứng với điều kiện bình thường và khi có những tình huống như vậy, thì rõ ràng là những tiêu chuẩn, tiêu chí để phê duyệt quy hoạch phải được nâng tầm lên, để dự phòng những trường hợp có nguy cơ ngập cực đoan, mình có thể ứng phó với nó. Đó là một phần thôi, nhưng phần khác cũng khá quan trọng: Việt Nam sau này phát triển theo nền kinh tế thị trường rồi, thành ra những dự án phát triển đô thị không phải luôn luôn dùng vốn của nhà nước, mà đa số những dự án đó là dùng nguồn vốn của tư nhân. Có những trường hợp mà nhà đầu tư thiếu trách nhiệm xã hội. Khi phát triển dự án, họ nhắm đến lợi ích cá nhân nhiều, không coi trọng lợi ích của cộng đồng. Ví dụ như trong một bản quy hoạch khu đô thị mới được phê duyệt, người ta vẽ đầy đủ hết: Công viên, có đường xá, có cống rãnh, có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội. Nhưng khi đi vào thực hiện thì rất nhiều dự án người ta có lẽ muốn thu lợi nhanh, nên nhà cửa xây xong rồi, bán rồi, người dân dọn vô rồi, mà đường xá kết nối chưa xong, cống rãnh chưa xong, hệ thống hạ tầng xã hội, trường học còn thiếu thốn, dịch vụ thương mại còn thiếu rất nhiều thứ. Thứ hai, với những khu đô thị hiện hữu mà đã ổn định rồi, nếu chúng ta giữ nguyên như vậy thì không sao, ví dụ như khu trung tâm quận 1, quận 3 của Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng do trong quá trình phát triển, người ta lại xây dựng rất nhiều nhà cao tầng vào đó. Mật độ xây dựng, mật độ bê tông hóa rõ ràng tăng lên có thể gấp 5, gấp 10 lần. Tuy nhiên, việc nâng cấp cho hệ thống hạ tầng để đảm đương cho mật độ đó lại không được thực hiện đồng bộ. Như vậy là bản thân những khu chỉnh trang cũng gây ngập. Thành phố Hồ Chí Minh sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, trở thành một siêu đô thị rất là lớn, với quy mô diện tích tăng gấp ba, dân số cũng như quy mô kinh tế tăng gấp rưỡi. Việc quản lý một siêu đô thị 14 triệu dân cũng không phải dễ dàng. Chúng ta đang bị động với một quy mô đô thị ngày càng lớn, đô thị hóa ngày càng tăng. Phải có sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành, phối hợp giữa công và tư, phối hợp nhà đầu tư và ngay cả với cư dân đô thị. Mọi người đều cần tham gia trong việc chống ngập. Đối với người dân, cũng có những chuyện nhỏ nhưng mà không nhỏ. Ví dụ như một số người dân có thói quen đổ rác vào những chỗ thoát nước, làm nghẹt cống thoát nước, gây ngập và chính bản thân họ cũng là người bị thiệt hại. Thưa ông, ngoài vấn đề ông nêu lên, tức là phải có ý thức của cộng đồng nói chung, của các nhà đầu tư, của người dân, hiện nay cứ mỗi lần mưa lớn một chút là đường phố ngập lụt kéo dài nhiều giờ. Như vậy trước mắt chúng ta có những giải pháp gì về mặt xây dựng, ví dụ như có những cống thoát nước nhiều hơn, lớn hơn hoặc những hồ điều tiết để khi nào mưa lớn thì nước rút nhanh hơn? Đầu tiên, tỷ lệ bê tông hóa của các đô thị rất là cao, đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay cao đến mức là tỷ lệ không gian xanh chỉ đạt khoảng nửa mét vuông trên đầu người, trong khi tỷ lệ mà UNESCO đề xuất tối thiểu phải là 10 mét vuông trên đầu người. Những đô thị lớn như Berlin chẳng hạn thì lên tới 40 mét vuông cây xanh trên đầu người và những đô thị khác thì trung bình ít nhất cũng phải 20, 25, 30 mét vuông. Việc đầu tiên đối với các thành phố bị ngập là phải giảm bê tông hóa và tăng không gian xanh. Nói nôm na là mình phải quy hoạch lại để tăng không gian cho nước. Không gian cho nước bao gồm sông, hồ, kênh, rạch phải liên thông với nhau, để thoát nước nhanh. Thứ hai là phải tăng không gian xanh lên, như chúng tôi nói là Thành phố Hồ Chí Minh phải tăng lên ít nhất 20 lần để mà đạt tối thiểu là 10 mét vuông cây xanh trên đầu người. Bí thư mới Trần Lưu Quang cách đây vài ngày cũng vừa có một quyết định rõ ràng là một định hướng mới cho thành phố, đó là về khu đất ven cảng Sài Gòn ngày xưa. Trước đây nhà đầu tư muốn xây một cái bức tường cao ốc ở đây, bởi vì nó có vị trí đẹp, nhìn thẳng ra trung tâm, nhìn ra sông Sài Gòn. Vừa rồi thì bí thư Trần Hữu Quang đã quyết định không cấp phép cho dự án xây cao tầng ở đây nữa, mà biến nó thành một công viên kết hợp với công trình văn hóa cộng cộng. Đây là một quyết định rất là khó khăn, bởi vì người ta hay gọi những khu đất như vậy là đất "vàng" và nhà đầu tư khi đầu tư những dự án lớn như vậy thì họ sẽ đóng góp cho ngân sách cũng không nhỏ. Tuy nhiên, Thành phố Hồ Chí Minh quá thiếu không gian xanh, nếu như những khu đất này mà không làm thành không gian xanh thì còn ở đâu để làm nữa? Đây rõ ràng là một định hướng rất là bền vững, đáp ứng nhu cầu tăng không gian xanh cho thành phố và tăng không gian văn hóa công cộng cho thành phố. Làm nhiều công viên cũng rất quan trọng ở chỗ là khi mưa xuống mà mình có nhiều diện tích không gian xanh, thì nước từ khu vực cao xuống khu vực thấp sẽ chảy chậm lại, bởi vì không gian xanh làm chậm tốc độ chảy của nước và làm giảm áp lực nước dồn xuống thấp quá nhanh. Mặt khác nó sẽ thu hút được lượng nước bổ sung cho lượng nước ngầm ở dưới, vừa giúp để cho nước hấp thụ xuống dưới và dần dần chảy ra sông. Nó cũng sẽ tránh được tình trạng sụt lún đất, bởi vì khi nước ngầm ở dưới mà bị cạn, thì nó sẽ tạo những túi không khí ở dưới và gây tình trạng sụt lún đất. Thứ hai, việc tăng không gian cho nước là nạo vét sông, hồ, kênh, rạch. Thành phố cũng đang có ý thức là trả lại những con kênh trước đây. Trước đây, vì muốn thúc đẩy phát triển đô thị, người ta lấp kênh và làm cống hộp ở dưới, nhưng sau này, với nguy cơ ngập thì một số nơi đã đào lại con kênh. Không gian hở của kênh hiệu quả hơn rất nhiều so với không gian cống hộp ở dưới. Đây cũng là điều nên làm: xây dựng những hồ điều tiết, có thể là hồ nổi, kết hợp với cảnh quan và cũng có thể là ngầm, để khi mưa lớn thì mình hút nước vào đó và sau đó mưa tạnh thì dần dần nó thoát ra. Điều đó cũng giảm cho nguy cơ ngập. Bên cạnh đó, về mặt quy hoạch, tôi nghĩ là nên có một chính sách quản lý đô thị nhất quán. Trước đây đôi khi mình buông lỏng, để cho có tình trạng người ta xây nhà, xây những cao ốc để bán, nhưng thiếu đường xá, thiếu cống rãnh, thiếu hạ tầng. Bây giờ nên chuyển thành một chiến lược mới là hạ tầng phải đi trước, tức là những nhà đầu tư làm những khu đô thị, dù là chỉnh trang hay xây mới, phải bàn giao hạ tầng đảm bảo thì mới được bắt đầu bán những dự án đó. Mình không để cho trách nhiệm xã hội nhà đầu tư một cách tự giác nữa, mà mình phải đưa nó vào luật, bắt buộc là hạ tầng phải đi trước. Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh đã sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu thành một đô thị khổng lồ. Phải chăng đây là cơ hội để chính quyền địa phương đề ra những giải pháp rộng lớn hơn để giảm bớt tình trạng ngập lụt? Nhìn trên bản đồ, chúng ta cũng thấy là khu nội thành Thành phố Hồ Chí Minh rất là chen chúc, nhìn trên Google Maps nó trắng xóa hết, bê tông hết, không thấy bao nhiêu không gian xanh. Khi đô thị lớn gấp ba thành siêu đô thị thì đây là cơ hội để khuyến khích giãn dân ra, khuyến khích phát triển về phía Bình Dương, là nơi có thể tạo công ăn việc làm về công nghiệp, công nghệ cao, hay là giãn dân về phía biển là chuỗi đô thị Cần Giờ, Vũng Tàu, Long Hải, Hồ Tràm, những nơi cũng có công ăn việc làm phục vụ du lịch và hiện giờ tỷ lệ bê tông hóa không cao, quỹ đất còn rất nhiều. Khi chúng ta giãn dân ra như vậy, đây cũng là cơ hội để chúng ta nâng tầm chất lượng cho khu nội Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi kỳ vọng là trong 5,10 năm tới, chúng ta sẽ đạt được tiêu chí mà chúng ta đang mong muốn hàng mấy chục năm nay là 10 mét vuông cây xanh trên đầu người. Nó không chỉ giảm ngập mà nó còn giúp nâng cao giá trị của môi trường, tạo cho người dân nhiều không gian để thư giãn, sinh hoạt cộng đồng và cải thiện chất lượng không khí, không bị tiếng ồn. Không gian xanh rất là quan trọng trong việc tổ chức đô thị. Tôi kỳ vọng là Thành phố Hồ Chí Minh sắp tới sẽ phát triển theo hướng hướng đô thị xanh và bền vững.
Nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến vừa cho ra mắt cuốn sách mới về lịch sử Sài Gòn, thành phố mà sự hình thành và phát triển vẫn gắn liền với con sông Sài Gòn và cả một hệ thống kênh rạch. Cuốn sách tựa đề Sài Gòn Kinh Đô Sông Nước đưa độc giả trở về cội nguồn của Sài Gòn, từ lâu đã là nơi buôn bán phồn thịnh nhờ thế mạnh sông nước, từng là thủ đô Liên Bang Đông Dương, rồi Quốc Gia Việt Nam, từng được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Ngoài cuốn sách Sài Gòn Kinh Đô Sông Nước, Trần Hữu Phúc Tiến còn là tác giả của những cuốn sách khác về Sài Gòn và Đông Dương xưa, như Sài Gòn không phải ngày hôm qua ( 2016 ), Sài Gòn hai đầu thế kỷ ( 2017 ), Kiến trúc Pháp-Đông Dương, những viên ngọc quý tại Hà Nội ( 2021 ), Du lịch Đông Dương xưa ( 2224 ), Kiến trúc Pháp Đông Dương, dấu tích Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông ( 2025 ). Sách Sài Gòn Kinh Đô Sông Nước, do Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, ấn hành, bao gồm 3 chương và phần phụ lục, với hơn 312 trang. Phần mở đầu trích dẫn các nhận xét của người xưa trong và ngoài nước từ về vẻ đẹp cảng thị và phố thị của Sài Gòn. Sách giới thiệu nhiều hình ảnh, bản đồ tư liệu sưu tầm công phu từ nhiều nguồn, trong đó có hình ảnh do tác giả chụp ở nhiều năm tháng khác nhau. Tác giả là người sinh trưởng tại Sài Gòn, thuở nhỏ đã thấy thành phố nguy nga lớn mạnh bên sông biển, kinh rạch. Lớn lên được học Sử và làm báo, tác giả có thêm cơ hội học hỏi các thời kỳ phát triển của thành phố, đồng thời khám phá các chốn phố phường, chợ búa, bến tàu, học đường và nhiều công trình di sản. Theo nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến, "dòng sông Sài Gòn không phải là dòng sông khuất nẻo mà là dòng sông vươn ra biển lớn, dòng sông sinh thành cảng thị và phố thị đông vui, thu hút tinh hoa xa gần". Công sức lớn lao của người Việt từ thế kỷ 17 đến nay đã làm nên Sài Gòn, một kinh đô lịch lãm và kiều diễm. Thông qua nhiều chi tiết cụ thể, cuốn sách Sài Gòn Kinh Đô Sông Nước điểm lại quá trình hình thành các thế mạnh của Sài Gòn từ sông biển, địa linh, nhân kiệt, đến kinh tế, dịch vụ, công nghiệp, đào tạo. Đặc biệt với sự mở rộng của thành phố, tác giả chú trọng giới thiệu các tiềm năng về kinh tế biển và kinh tế di sản. Thế nhưng, giống như nhiều đô thị lớn đang trong cơn sốt bùng nổ dân cư và kinh tế, thành phố này cũng đang đối mặt với biến đổi khí hậu, ô nhiễm, lũ lụt, đòi hỏi nhà nước phải có những giải pháp cấp bách cũng như dài hạn. Trả lời RFI Việt ngữ nhân dịp sang Paris để giới thiệu sách của ông, nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến trước hết cho biết, từ trước khi được người Pháp xây dựng thành một thành phố hiện đại, Sài Gòn đã là một chốn phồn hoa đô hội: “Sài Gòn Kinh Đô có nghĩa là Sài Gòn trong lịch sử đã từng là thủ đô, là thủ phủ, là trung tâm không chỉ của Nam Bộ, mà là của cả nước. Kinh Đô Sông Nước có nghĩa là một đại cảng thị, một đại phố thị lớn mạnh bên dòng sông Sài Gòn và đặc biệt vị trí của Sài Gòn là rất gần biển và nối kết với khu vực miền Đông Nam Bộ, cũng như miền Tây Nam Bộ, nối kết với miền Nam Đông Dương, rồi ra biển để đi đến với thế giới. Thật sự là từ thế kỷ 17, với công sức của người Việt Nam khai phá các miền đất mới, vai trò của Sài Gòn như là một trung tâm kinh tế, giao thương, phồn hoa đô thị rất là lớn. Trước khi người Pháp đến, Sài Gòn đã được hình thành như một trung tâm lớn và đặc biệt là từ 1788 - 1790, Sài Gòn đã được Chúa Nguyễn Ánh, sau này là Vua Gia Long, đặt tên là Gia Định Kinh, có nghĩa là Kinh Đô Gia Định. Ngay vào thời điểm đó thì một số chuyên gia Pháp đã giúp Nguyễn Ánh - Gia Long thiết kế Sài Gòn như là một thành phố kết hợp yếu tố phương Đông với yếu tố phương Tây, đặc biệt là coi trọng vị trí cảng thị của Sài Gòn. Khi vào xâm chiếm Việt Nam, người Pháp đã hiện đại hóa Sài Gòn kế thừa những sự phát triển sẵn có của Gia Định Kinh và người Pháp tổ chức những quy hoạch xây dựng rất là bài bản, rất là chuyên nghiệp, để thành phố này không những là một trung tâm về giao thương, mà đặc biệt còn là một trung tâm về giao thông và dịch vụ.” Vậy thì từ bao giờ thành phố Sài Gòn bắt đầu được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, nhà nghiên cứu Phúc Tiến giải thích: “Theo chúng tôi tìm hiểu, lúc đó người Pháp coi như là chỉ mới quản trị chủ yếu là phần Nam Bộ, Nam Kỳ, sau này họ mới phát triển ra toàn miền Bắc, rồi cả Đông Dương. Nhưng lúc đó họ đã đặt kế hoạch phát triển kinh tế, trong đó vấn đề giao thông có một mũi nhọn trên thế giới lúc đó cũng bắt đầu phát triển lớn mạnh đó là đường sắt. Vào năm 1881, thị trưởng Pháp của Sài Gòn Jules Blancsubé khi trả lời báo chí đã nói rằng người Pháp muốn phát triển hệ thống đường sắt xuyên Đông Dương từ Sài Gòn ra đến miền Bắc và đi đến đến Nam Trung Hoa, rồi có thể mở ra phía Lào, phía Cam Bốt, rồi các nước Đông Nam Á lục địa. Nếu hệ thống đường sắt này mà được hình thành thành công, thì Sài Gòn, với cảng Sài Gòn, sẽ có thêm vị trí quan trọng, có nghĩa là hàng hóa của nguyên khu vực Nam Trung Quốc và khu khu vực Đông Nam Á sẽ đổ về cảng Sài Gòn để mà xuất khẩu đi các nước. Ngược lại thì những hàng hóa từ các nước cũng từ Sài Gòn theo đường sắt, đường bộ, đường sông để mà ra với các nước trong khu vực. Và do vậy, ông nói, lúc đó Sài Gòn sẽ trở thành một Hòn Ngọc Viễn Đông. Tôi cho rằng là lời tiên đoán đó vào năm 1881 thực sự đã thể hiện một chiến lược quy hoạch kinh tế lớn lao và người Pháp lúc đó đã nhìn thấy được thế mạnh sông nước của Sài Gòn. Sau này, sang đầu thế kỷ 20, chúng ta thấy không chỉ có đường sắt, mà đường hàng không cũng phát triển và bây giờ nhìn toàn cục thì chúng ta có thể thấy là chữ Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông đã được mở rộng từ vấn đề kinh tế sang vấn đề kiến trúc, văn hóa, giáo dục, con người. Bây giờ thì từ Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông sang thế kỷ 20, sang thời kỳ trước 75, đã trở thành một tên gọi thân yêu để cho thấy một thành phố không những đẹp về mặt mỹ quan, đẹp về sự duyên dáng, yếu tố Đông Tây kết hợp, mà còn đẹp vì thế mạnh của nó, về kinh tế, đẹp về tinh thần cởi mở hội nhập quốc tế. Từ thời còn là Kinh Đô Gia Định ( 1789-1802 ), Thủ đô Liên bang Đông Dương ( 1887-1902 ), cho đến Thủ đô Quốc gia Việt Nam ( 1949-1955 ) và thủ đô Việt Nam Cộng Hòa ( 1955-1975 ), Sài Gòn luôn luôn là “đầu máy hùng mạnh” về nhiều mặt của cả nước, không chỉ về kinh tế, mà còn tiên phong cả về văn hóa - xã hội trong nhiều thời kỳ, theo ghi nhận của tác giả Trần Hữu Phúc Tiến. Đó chính là nhờ thế mạnh về sông nước của thành phố này: “Ngược dòng lịch sử thì chúng ta biết sông Đồng Nai là một hệ thống sông rất lớn, song song với hệ thống sông Tiền và sông Hậu, tức là hệ thống sông Mekong. Hai hệ thống sông này lại có một cầu nối là Sài Gòn. Hay nói cách khác là giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ thì Sài Gòn lúc nào cũng nằm ở trung điểm và Sài Gòn lại được xây dựng bên dòng sông Sài Gòn, một chi lưu của hệ thống sông Đồng Nai. Có thể có gần 200 km bắt đầu từ Tây Ninh rồi đi qua Bình Dương, đi qua Đồng Nai rồi xuống Sài Gòn để thoát ra được cửa biển. Trước ngày 1 tháng 7 năm 2025, đoạn sông đó đi qua diện tích lãnh thổ của Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh hơn 80 cây số. Và điều rất quan trọng là nó đi ra cửa biển Cần Giờ. Cửa biển Cần Giờ là khoảng hơn 20 cây số bờ biển. Nhưng sau ngày 1 tháng 7 năm 2025, với sự hợp nhất Sài Gòn với Bình Dương và Vũng Tàu - Bà Rịa, thế mạnh sông biển của Sài Gòn gia tăng rất lớn. Chỉ tính riêng về bờ biển thì bây giờ Sài Gòn có gần 400 km bờ biển và đặc biệt là có Côn Đảo bây giờ thuộc về siêu đô thị này. Và thêm nữa là hơn 100.000 km2 thềm lục địa, mà chúng ta biết là về thềm lục địa Biển Đông, trong ngành dầu khí họ nói là có hai vùng trũng là vùng Nam Côn Sơn và vùng Mekong, thì Sài Gòn nằm rất gần khu vực gọi là Nam Côn Sơn. Thế thì riêng về mặt kinh tế biển, thành phố đã phát triển. Đương nhiên người Pháp khi đến Việt Nam năm 1858, với tầm nhìn của một đế chế công nghiệp, họ nhận ra tài nguyên của Sài Gòn không phải là hàng hóa, mà là vị trí thuận lợi để giao thương kết nối được nhiều miền. Đặc biệt họ đưa ra tầm nhìn là Sài Gòn thuộc về khu vực Nam Đông Dương, nói cách khác chính là Đông Nam Á. Tôi còn nhớ là trong nhật ký của một sĩ quan Pháp tham gia trận đánh vào Sài Gòn năm 1859, ông này có ghi rằng vị trí Sài Gòn không khác gì Batavia, nay là Jakarta của Indonesia, như là Singapore hay là Hồng Kông và nó có những điểm độc đáo riêng. Chính vì vậy, theo nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến, một trong những mũi nhọn kinh tế mà người Pháp xây dựng ở Sài Gòn không phải là công nghiệp nặng, công nghiệp sản xuất hàng hóa, mà điều rất quan trọng là dịch vụ. Trong quyển sách, tác giả kể ra đến 6 ngành, gọi là 6 “cổ máy không khói” của Sài Gòn từ thời Pháp: Thứ nhất là hàng hải, bao gồm sửa chữa tàu biển và hải cảng. Thế mạnh thứ hai là giao thương, tổ chức thương mại, chế biến nông sản để xuất ra nước ngoài. Thứ ba là một trung tâm tài chính, vì đương nhiên là xuất khẩu thì phải cần có sự trợ giúp của ngân hàng, bảo lãnh tín dụng, vân vân…Ngay từ cuối thế kỷ 19, Sài Gòn đã là một trung tâm tài chính, với khá nhiều ngân hàng quốc tế cũng như các hãng bảo hiểm đóng tại Sài Gòn và hình thành một khu phố tài chính. Thế mạnh thứ tư là về viễn thông. Ngay trung tâm thành phố, ngay bên cạnh nhà thờ Đức Bà, có nhà bưu điện rất lớn, rất đẹp và đã được coi là kiến trúc nhà bưu điện đẹp thứ hai trên thế giới. Thế mạnh viễn thông của Sài Gòn thì phải nói rất là sớm. Năm 1865, 1870, người Pháp đã bắt đầu thiết lập đường điện tín cáp quang để liên thông giữa Sài Gòn với Paris, nối cáp dưới dưới biển đi qua Singapore và sau đó làm đường ngược lên Hồng Kông để liên thông với cả khu vực châu Mỹ. Kế đến là hệ thống giao thông vận tải, Sài Gòn có đủ phương tiện, từ đường bộ, đường sắt, rồi đường biển, đường thủy. Cái độc đáo của Sài Gòn lúc đó là người Pháp đã tổ chức những đội tàu, không những đi dọc theo bờ biển để đi ra Hải Phòng, đi ra phía Bắc, mà còn làm hệ thống tàu thuyền để chở khách đi khắp đồng bằng sông Cửu Long, rồi đi lên được cả Phnom Penh, thậm chí là đến được cả Bangkok. Ngay cả bây giờ, đường thủy lên Phnom Penh và đường thủy lên Bangkok, chúng ta vẫn chưa thực hiện lại được đầy đủ. Đặc biệt là khi ngành hàng không thế giới ra đời và được đẩy mạnh sau chiến tranh thế giới thứ nhất, sân bay Tân Sơn Nhất đã được xây dựng từ năm 1914. Lúc đó người Pháp đã gom ba làng là Tân Sơn Nhất, Tân Sơn Nhì và Tân Sơn Tam để làm sân bay rất lớn, phục vụ cho đến thế kỷ 21. Một thế mạnh nữa của Sài Gòn: Đây là trung tâm về khoa học, đào tạo, với những trường dạy nghề đầu tiên cũng như Viện Pasteur. Nơi mà chúng ta hay gọi là Sở thú còn có tên là Sở bông, vì còn là nơi ươm trồng những giống cây mới. Kể cả cây cao su ở Việt Nam cũng chính là đã được trồng thử nghiệm ở Sài Gòn. Sài Gòn dù không phải là một cảng biển, chỉ là cảng sông, nhưng dòng sông thì sâu. Tại vị trí ở quận 1 đối diện với Thủ Thiêm, độ sâu nhất là khoảng 40 m và khoảng cách giữa hai bờ Thủ Thiêm và bến Bạch Đằng, ở khu vực Nhà Rồng là khoảng 300 m, nên tàu bè đi vào rất là thuận tiện, có tới hai ngã đường sông từ Cần Giờ vào. Tàu thuyền các nước trên đường đi từ Singapore qua hoặc là đi từ Hồng Kông xuống thì ghé lại Sài Gòn để lấy hàng, đồng thời lấy nước ngọt, lấy thêm nhân lực. Chính những điều đó đã giúp cho Sài Gòn phát triển và những thế mạnh này lại tiếp tục xuyên suốt thế kỷ 20 và bây giờ bắt đầu phải được đẩy mạnh hơn trong thế kỷ 21.” Thế nhưng, cũng chính do có vị trí gắn liền với sông và biển, cùng với quá đô thị hóa quá nhanh mà lại thiếu quy hoạch chặt chẽ, bây giờ thêm tác động của biến đổi khí hậu, Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh nay lại phải đối đầu với tình trạng ngập lụt thường xuyên. Chính quyền của thành phố đang đối phó ra sao, nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến cho biết: “Tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện giờ nhà nước cũng đã có một số cố gắng giải quyết các vấn nạn môi trường và liên quan đến sông nước. Tôi có thể kể ra một thành công trong vòng 50 năm nay là đã thiết kế, cải tạo lại hai hệ thống kênh lớn, thứ nhất là hệ thống Kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè, có sự trợ giúp của Ngân hàng Thế giới. Thứ hai là hệ thống Kênh Tàu Hủ Bến Nghé. Đồng thời hiện giờ một số con kênh ở khu vực trước đây gọi là Tân Bình, Tân Phú, hoặc những nơi xa hơn, hoặc là ở quận 6, ngay khu vực chợ Bình Tây có những con kênh trước đây bị lấp nay đã được khơi lại. Trong vài năm trở lại đây đã bắt đầu có những công trình thiết lập các cống để xả nước kịp thời khi có triều cường. Tuy nhiên phải nói rằng các nhà khoa học của thế giới cũng đã báo động cho Việt Nam không chỉ về Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, mà toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long. Việt Nam là một nước sẽ phải hứng chịu những tác động rất lớn của biến đổi khí hậu. Khu vực đã được báo động sẽ bị ảnh hưởng rất là nặng nề là Cần Giờ, Nhà Bè, Phú Mỹ Hưng, là nơi mà tiếp giáp với biển. Tôi thấy có điểm tích cực là các nhà khoa học từ các viện nghiên cứu, với các trường đại học ,cũng đã bắt đầu đẩy mạnh nghiên cứu, lên tiếng yêu cầu chính quyền có những giải pháp tốt hơn. Ngoài ra còn có một dự án là Kênh Xuyên Tâm, băng ngang từ phía Tây Nam lên phía Đông Bắc xuyên qua thành phố. Nếu nhìn trong toàn cảnh thì chúng ta chưa làm được nhiều và cần có sự hỗ trợ. Cũng đã có nhiều cuộc hội thảo mà nước ngoài tham gia, với mong muốn là thúc đẩy ( các dự án ). Đương nhiên là những chương trình đó cần một kinh phí lớn, nhưng điều quan trọng là dư luận xã hội cũng đã rất quan tâm. Báo chí cũng đã lên tiếng và trong chương trình hành động của chính quyền thành phố mà bây giờ được mở rộng ra, bao gồm cả Bình Dương và Bà Rịa Vũng Tàu, có những dấu hiệu cho thấy phải xúc tiến càng nhanh càng tốt.” Về sự hỗ trợ của nước ngoài, nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến cho rằng có những kinh nghiệm của nước Pháp về môi trường, về trị thủy có thể áp dụng được cho Sài Gòn. Ông hy vọng nước Pháp có thể hỗ trợ nhiều hơn cho Việt Nam và kêu gọi sự tham gia của các nhà khoa học Pháp cũng như nhà khoa học người Việt sống tại Pháp.
Nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến vừa cho ra mắt cuốn sách mới về lịch sử Sài Gòn, thành phố mà sự hình thành và phát triển vẫn gắn liền với con sông Sài Gòn và cả một hệ thống kênh rạch. Cuốn sách tựa đề Sài Gòn Kinh Đô Sông Nước đưa độc giả trở về cội nguồn của Sài Gòn, từ lâu đã là nơi buôn bán phồn thịnh nhờ thế mạnh sông nước, từng là thủ đô Liên Bang Đông Dương, rồi Quốc Gia Việt Nam, từng được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Ngoài cuốn sách Sài Gòn Kinh Đô Sông Nước, Trần Hữu Phúc Tiến còn là tác giả của những cuốn sách khác về Sài Gòn và Đông Dương xưa, như Sài Gòn không phải ngày hôm qua ( 2016 ), Sài Gòn hai đầu thế kỷ ( 2017 ), Kiến trúc Pháp-Đông Dương, những viên ngọc quý tại Hà Nội ( 2021 ), Du lịch Đông Dương xưa ( 2224 ), Kiến trúc Pháp Đông Dương, dấu tích Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông ( 2025 ). Sách Sài Gòn Kinh Đô Sông Nước, do Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, ấn hành, bao gồm 3 chương và phần phụ lục, với hơn 312 trang. Phần mở đầu trích dẫn các nhận xét của người xưa trong và ngoài nước từ về vẻ đẹp cảng thị và phố thị của Sài Gòn. Sách giới thiệu nhiều hình ảnh, bản đồ tư liệu sưu tầm công phu từ nhiều nguồn, trong đó có hình ảnh do tác giả chụp ở nhiều năm tháng khác nhau. Tác giả là người sinh trưởng tại Sài Gòn, thuở nhỏ đã thấy thành phố nguy nga lớn mạnh bên sông biển, kinh rạch. Lớn lên được học Sử và làm báo, tác giả có thêm cơ hội học hỏi các thời kỳ phát triển của thành phố, đồng thời khám phá các chốn phố phường, chợ búa, bến tàu, học đường và nhiều công trình di sản. Theo nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến, "dòng sông Sài Gòn không phải là dòng sông khuất nẻo mà là dòng sông vươn ra biển lớn, dòng sông sinh thành cảng thị và phố thị đông vui, thu hút tinh hoa xa gần". Công sức lớn lao của người Việt từ thế kỷ 17 đến nay đã làm nên Sài Gòn, một kinh đô lịch lãm và kiều diễm. Thông qua nhiều chi tiết cụ thể, cuốn sách Sài Gòn Kinh Đô Sông Nước điểm lại quá trình hình thành các thế mạnh của Sài Gòn từ sông biển, địa linh, nhân kiệt, đến kinh tế, dịch vụ, công nghiệp, đào tạo. Đặc biệt với sự mở rộng của thành phố, tác giả chú trọng giới thiệu các tiềm năng về kinh tế biển và kinh tế di sản. Thế nhưng, giống như nhiều đô thị lớn đang trong cơn sốt bùng nổ dân cư và kinh tế, thành phố này cũng đang đối mặt với biến đổi khí hậu, ô nhiễm, lũ lụt, đòi hỏi nhà nước phải có những giải pháp cấp bách cũng như dài hạn. Trả lời RFI Việt ngữ nhân dịp sang Paris để giới thiệu sách của ông, nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến trước hết cho biết, từ trước khi được người Pháp xây dựng thành một thành phố hiện đại, Sài Gòn đã là một chốn phồn hoa đô hội: “Sài Gòn Kinh Đô có nghĩa là Sài Gòn trong lịch sử đã từng là thủ đô, là thủ phủ, là trung tâm không chỉ của Nam Bộ, mà là của cả nước. Kinh Đô Sông Nước có nghĩa là một đại cảng thị, một đại phố thị lớn mạnh bên dòng sông Sài Gòn và đặc biệt vị trí của Sài Gòn là rất gần biển và nối kết với khu vực miền Đông Nam Bộ, cũng như miền Tây Nam Bộ, nối kết với miền Nam Đông Dương, rồi ra biển để đi đến với thế giới. Thật sự là từ thế kỷ 17, với công sức của người Việt Nam khai phá các miền đất mới, vai trò của Sài Gòn như là một trung tâm kinh tế, giao thương, phồn hoa đô thị rất là lớn. Trước khi người Pháp đến, Sài Gòn đã được hình thành như một trung tâm lớn và đặc biệt là từ 1788 - 1790, Sài Gòn đã được Chúa Nguyễn Ánh, sau này là Vua Gia Long, đặt tên là Gia Định Kinh, có nghĩa là Kinh Đô Gia Định. Ngay vào thời điểm đó thì một số chuyên gia Pháp đã giúp Nguyễn Ánh - Gia Long thiết kế Sài Gòn như là một thành phố kết hợp yếu tố phương Đông với yếu tố phương Tây, đặc biệt là coi trọng vị trí cảng thị của Sài Gòn. Khi vào xâm chiếm Việt Nam, người Pháp đã hiện đại hóa Sài Gòn kế thừa những sự phát triển sẵn có của Gia Định Kinh và người Pháp tổ chức những quy hoạch xây dựng rất là bài bản, rất là chuyên nghiệp, để thành phố này không những là một trung tâm về giao thương, mà đặc biệt còn là một trung tâm về giao thông và dịch vụ.” Vậy thì từ bao giờ thành phố Sài Gòn bắt đầu được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, nhà nghiên cứu Phúc Tiến giải thích: “Theo chúng tôi tìm hiểu, lúc đó người Pháp coi như là chỉ mới quản trị chủ yếu là phần Nam Bộ, Nam Kỳ, sau này họ mới phát triển ra toàn miền Bắc, rồi cả Đông Dương. Nhưng lúc đó họ đã đặt kế hoạch phát triển kinh tế, trong đó vấn đề giao thông có một mũi nhọn trên thế giới lúc đó cũng bắt đầu phát triển lớn mạnh đó là đường sắt. Vào năm 1881, thị trưởng Pháp của Sài Gòn Jules Blancsubé khi trả lời báo chí đã nói rằng người Pháp muốn phát triển hệ thống đường sắt xuyên Đông Dương từ Sài Gòn ra đến miền Bắc và đi đến đến Nam Trung Hoa, rồi có thể mở ra phía Lào, phía Cam Bốt, rồi các nước Đông Nam Á lục địa. Nếu hệ thống đường sắt này mà được hình thành thành công, thì Sài Gòn, với cảng Sài Gòn, sẽ có thêm vị trí quan trọng, có nghĩa là hàng hóa của nguyên khu vực Nam Trung Quốc và khu khu vực Đông Nam Á sẽ đổ về cảng Sài Gòn để mà xuất khẩu đi các nước. Ngược lại thì những hàng hóa từ các nước cũng từ Sài Gòn theo đường sắt, đường bộ, đường sông để mà ra với các nước trong khu vực. Và do vậy, ông nói, lúc đó Sài Gòn sẽ trở thành một Hòn Ngọc Viễn Đông. Tôi cho rằng là lời tiên đoán đó vào năm 1881 thực sự đã thể hiện một chiến lược quy hoạch kinh tế lớn lao và người Pháp lúc đó đã nhìn thấy được thế mạnh sông nước của Sài Gòn. Sau này, sang đầu thế kỷ 20, chúng ta thấy không chỉ có đường sắt, mà đường hàng không cũng phát triển và bây giờ nhìn toàn cục thì chúng ta có thể thấy là chữ Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông đã được mở rộng từ vấn đề kinh tế sang vấn đề kiến trúc, văn hóa, giáo dục, con người. Bây giờ thì từ Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông sang thế kỷ 20, sang thời kỳ trước 75, đã trở thành một tên gọi thân yêu để cho thấy một thành phố không những đẹp về mặt mỹ quan, đẹp về sự duyên dáng, yếu tố Đông Tây kết hợp, mà còn đẹp vì thế mạnh của nó, về kinh tế, đẹp về tinh thần cởi mở hội nhập quốc tế. Từ thời còn là Kinh Đô Gia Định ( 1789-1802 ), Thủ đô Liên bang Đông Dương ( 1887-1902 ), cho đến Thủ đô Quốc gia Việt Nam ( 1949-1955 ) và thủ đô Việt Nam Cộng Hòa ( 1955-1975 ), Sài Gòn luôn luôn là “đầu máy hùng mạnh” về nhiều mặt của cả nước, không chỉ về kinh tế, mà còn tiên phong cả về văn hóa - xã hội trong nhiều thời kỳ, theo ghi nhận của tác giả Trần Hữu Phúc Tiến. Đó chính là nhờ thế mạnh về sông nước của thành phố này: “Ngược dòng lịch sử thì chúng ta biết sông Đồng Nai là một hệ thống sông rất lớn, song song với hệ thống sông Tiền và sông Hậu, tức là hệ thống sông Mekong. Hai hệ thống sông này lại có một cầu nối là Sài Gòn. Hay nói cách khác là giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ thì Sài Gòn lúc nào cũng nằm ở trung điểm và Sài Gòn lại được xây dựng bên dòng sông Sài Gòn, một chi lưu của hệ thống sông Đồng Nai. Có thể có gần 200 km bắt đầu từ Tây Ninh rồi đi qua Bình Dương, đi qua Đồng Nai rồi xuống Sài Gòn để thoát ra được cửa biển. Trước ngày 1 tháng 7 năm 2025, đoạn sông đó đi qua diện tích lãnh thổ của Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh hơn 80 cây số. Và điều rất quan trọng là nó đi ra cửa biển Cần Giờ. Cửa biển Cần Giờ là khoảng hơn 20 cây số bờ biển. Nhưng sau ngày 1 tháng 7 năm 2025, với sự hợp nhất Sài Gòn với Bình Dương và Vũng Tàu - Bà Rịa, thế mạnh sông biển của Sài Gòn gia tăng rất lớn. Chỉ tính riêng về bờ biển thì bây giờ Sài Gòn có gần 400 km bờ biển và đặc biệt là có Côn Đảo bây giờ thuộc về siêu đô thị này. Và thêm nữa là hơn 100.000 km2 thềm lục địa, mà chúng ta biết là về thềm lục địa Biển Đông, trong ngành dầu khí họ nói là có hai vùng trũng là vùng Nam Côn Sơn và vùng Mekong, thì Sài Gòn nằm rất gần khu vực gọi là Nam Côn Sơn. Thế thì riêng về mặt kinh tế biển, thành phố đã phát triển. Đương nhiên người Pháp khi đến Việt Nam năm 1858, với tầm nhìn của một đế chế công nghiệp, họ nhận ra tài nguyên của Sài Gòn không phải là hàng hóa, mà là vị trí thuận lợi để giao thương kết nối được nhiều miền. Đặc biệt họ đưa ra tầm nhìn là Sài Gòn thuộc về khu vực Nam Đông Dương, nói cách khác chính là Đông Nam Á. Tôi còn nhớ là trong nhật ký của một sĩ quan Pháp tham gia trận đánh vào Sài Gòn năm 1859, ông này có ghi rằng vị trí Sài Gòn không khác gì Batavia, nay là Jakarta của Indonesia, như là Singapore hay là Hồng Kông và nó có những điểm độc đáo riêng. Chính vì vậy, theo nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến, một trong những mũi nhọn kinh tế mà người Pháp xây dựng ở Sài Gòn không phải là công nghiệp nặng, công nghiệp sản xuất hàng hóa, mà điều rất quan trọng là dịch vụ. Trong quyển sách, tác giả kể ra đến 6 ngành, gọi là 6 “cổ máy không khói” của Sài Gòn từ thời Pháp: Thứ nhất là hàng hải, bao gồm sửa chữa tàu biển và hải cảng. Thế mạnh thứ hai là giao thương, tổ chức thương mại, chế biến nông sản để xuất ra nước ngoài. Thứ ba là một trung tâm tài chính, vì đương nhiên là xuất khẩu thì phải cần có sự trợ giúp của ngân hàng, bảo lãnh tín dụng, vân vân…Ngay từ cuối thế kỷ 19, Sài Gòn đã là một trung tâm tài chính, với khá nhiều ngân hàng quốc tế cũng như các hãng bảo hiểm đóng tại Sài Gòn và hình thành một khu phố tài chính. Thế mạnh thứ tư là về viễn thông. Ngay trung tâm thành phố, ngay bên cạnh nhà thờ Đức Bà, có nhà bưu điện rất lớn, rất đẹp và đã được coi là kiến trúc nhà bưu điện đẹp thứ hai trên thế giới. Thế mạnh viễn thông của Sài Gòn thì phải nói rất là sớm. Năm 1865, 1870, người Pháp đã bắt đầu thiết lập đường điện tín cáp quang để liên thông giữa Sài Gòn với Paris, nối cáp dưới dưới biển đi qua Singapore và sau đó làm đường ngược lên Hồng Kông để liên thông với cả khu vực châu Mỹ. Kế đến là hệ thống giao thông vận tải, Sài Gòn có đủ phương tiện, từ đường bộ, đường sắt, rồi đường biển, đường thủy. Cái độc đáo của Sài Gòn lúc đó là người Pháp đã tổ chức những đội tàu, không những đi dọc theo bờ biển để đi ra Hải Phòng, đi ra phía Bắc, mà còn làm hệ thống tàu thuyền để chở khách đi khắp đồng bằng sông Cửu Long, rồi đi lên được cả Phnom Penh, thậm chí là đến được cả Bangkok. Ngay cả bây giờ, đường thủy lên Phnom Penh và đường thủy lên Bangkok, chúng ta vẫn chưa thực hiện lại được đầy đủ. Đặc biệt là khi ngành hàng không thế giới ra đời và được đẩy mạnh sau chiến tranh thế giới thứ nhất, sân bay Tân Sơn Nhất đã được xây dựng từ năm 1914. Lúc đó người Pháp đã gom ba làng là Tân Sơn Nhất, Tân Sơn Nhì và Tân Sơn Tam để làm sân bay rất lớn, phục vụ cho đến thế kỷ 21. Một thế mạnh nữa của Sài Gòn: Đây là trung tâm về khoa học, đào tạo, với những trường dạy nghề đầu tiên cũng như Viện Pasteur. Nơi mà chúng ta hay gọi là Sở thú còn có tên là Sở bông, vì còn là nơi ươm trồng những giống cây mới. Kể cả cây cao su ở Việt Nam cũng chính là đã được trồng thử nghiệm ở Sài Gòn. Sài Gòn dù không phải là một cảng biển, chỉ là cảng sông, nhưng dòng sông thì sâu. Tại vị trí ở quận 1 đối diện với Thủ Thiêm, độ sâu nhất là khoảng 40 m và khoảng cách giữa hai bờ Thủ Thiêm và bến Bạch Đằng, ở khu vực Nhà Rồng là khoảng 300 m, nên tàu bè đi vào rất là thuận tiện, có tới hai ngã đường sông từ Cần Giờ vào. Tàu thuyền các nước trên đường đi từ Singapore qua hoặc là đi từ Hồng Kông xuống thì ghé lại Sài Gòn để lấy hàng, đồng thời lấy nước ngọt, lấy thêm nhân lực. Chính những điều đó đã giúp cho Sài Gòn phát triển và những thế mạnh này lại tiếp tục xuyên suốt thế kỷ 20 và bây giờ bắt đầu phải được đẩy mạnh hơn trong thế kỷ 21.” Thế nhưng, cũng chính do có vị trí gắn liền với sông và biển, cùng với quá đô thị hóa quá nhanh mà lại thiếu quy hoạch chặt chẽ, bây giờ thêm tác động của biến đổi khí hậu, Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh nay lại phải đối đầu với tình trạng ngập lụt thường xuyên. Chính quyền của thành phố đang đối phó ra sao, nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến cho biết: “Tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện giờ nhà nước cũng đã có một số cố gắng giải quyết các vấn nạn môi trường và liên quan đến sông nước. Tôi có thể kể ra một thành công trong vòng 50 năm nay là đã thiết kế, cải tạo lại hai hệ thống kênh lớn, thứ nhất là hệ thống Kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè, có sự trợ giúp của Ngân hàng Thế giới. Thứ hai là hệ thống Kênh Tàu Hủ Bến Nghé. Đồng thời hiện giờ một số con kênh ở khu vực trước đây gọi là Tân Bình, Tân Phú, hoặc những nơi xa hơn, hoặc là ở quận 6, ngay khu vực chợ Bình Tây có những con kênh trước đây bị lấp nay đã được khơi lại. Trong vài năm trở lại đây đã bắt đầu có những công trình thiết lập các cống để xả nước kịp thời khi có triều cường. Tuy nhiên phải nói rằng các nhà khoa học của thế giới cũng đã báo động cho Việt Nam không chỉ về Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, mà toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long. Việt Nam là một nước sẽ phải hứng chịu những tác động rất lớn của biến đổi khí hậu. Khu vực đã được báo động sẽ bị ảnh hưởng rất là nặng nề là Cần Giờ, Nhà Bè, Phú Mỹ Hưng, là nơi mà tiếp giáp với biển. Tôi thấy có điểm tích cực là các nhà khoa học từ các viện nghiên cứu, với các trường đại học ,cũng đã bắt đầu đẩy mạnh nghiên cứu, lên tiếng yêu cầu chính quyền có những giải pháp tốt hơn. Ngoài ra còn có một dự án là Kênh Xuyên Tâm, băng ngang từ phía Tây Nam lên phía Đông Bắc xuyên qua thành phố. Nếu nhìn trong toàn cảnh thì chúng ta chưa làm được nhiều và cần có sự hỗ trợ. Cũng đã có nhiều cuộc hội thảo mà nước ngoài tham gia, với mong muốn là thúc đẩy ( các dự án ). Đương nhiên là những chương trình đó cần một kinh phí lớn, nhưng điều quan trọng là dư luận xã hội cũng đã rất quan tâm. Báo chí cũng đã lên tiếng và trong chương trình hành động của chính quyền thành phố mà bây giờ được mở rộng ra, bao gồm cả Bình Dương và Bà Rịa Vũng Tàu, có những dấu hiệu cho thấy phải xúc tiến càng nhanh càng tốt.” Về sự hỗ trợ của nước ngoài, nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến cho rằng có những kinh nghiệm của nước Pháp về môi trường, về trị thủy có thể áp dụng được cho Sài Gòn. Ông hy vọng nước Pháp có thể hỗ trợ nhiều hơn cho Việt Nam và kêu gọi sự tham gia của các nhà khoa học Pháp cũng như nhà khoa học người Việt sống tại Pháp.
Kể từ ngày 01/07/2025, Việt Nam không còn áp dụng án tử hình đối với 8 tội danh, theo xu thế chung hiện nay của thế giới là dần dần xóa bỏ án tử hình. Việt Nam là một trong số ít quốc gia còn duy trì án tử hình. Như mọi năm, ngày 10/10/2025 đã là Ngày Thế giới Chống Án Tử hình. Ngày này do tổ chức Liên minh thế giới chống án tử hình tổ chức lần đầu tiên vào năm 2003 nhằm thống nhất phong trào bãi bỏ án tử hình toàn cầu và huy động xã hội dân sự, các nhà lãnh đạo chính trị, luật sư, dư luận xã hội… ủng hộ lời kêu gọi bãi bỏ án tử hình trên toàn thế giới. Theo thống kê từ tổ chức Ân xá Quốc tế, 113 quốc gia đã bãi bỏ án tử hình đối với tất cả các loại tội phạm, 23 quốc gia đang bãi bỏ án tử hình trong thực tế, 54 quốc gia đang duy trì án tử hình, trong đó có Việt Nam. Tuy nằm trong số các nước vẫn còn duy trì án tử hình, Việt Nam nay cũng đã giảm bớt số tội danh lãnh án tử hình. Cụ thể, ngày 25/06/2025, Quốc Hội Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự, trong đó bỏ án tử hình với 8 tội kể từ 01/07, đồng thời chuyển sang tù chung thân với người bị tuyên tử hình về các tội này trước ngày 01/07. Tám tội danh không còn bị kết án tử hình bao gồm: Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109); Phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114); Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, phòng bệnh (Điều 194); Vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250); Phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược (Điều 421); Gián điệp (Điều 110); Tham ô tài sản (Điều 353); Nhận hối lộ (Điều 354). Theo báo chí trong nước, giải thích về việc bỏ án tử hình với 8 tội danh, bộ Công An Việt Nam đã nêu lên 4 lý do. Thứ nhất, thực tiễn cho thấy, “các tội danh này đã được đa số các nước trên thế giới không quy định hình phạt tử hình hoặc đang có xu hướng bỏ hình phạt tử hình.” Thứ hai, “nhiều nước trên thế giới đã yêu cầu Việt Nam phải cam kết không áp dụng hình phạt tử hình hoặc tuyên nhưng không thi hành án tử hình đối với những vụ án về tham nhũng, chức vụ, nhưng Việt Nam chưa cam kết, cho nên khi Việt Nam yêu cầu tương trợ tư pháp có liên quan đến án tử hình thì gần như không có phản hồi.” Thứ ba, đây cũng là “xu thế chung của thế giới”, hiện nay đa số các quốc gia đều không áp dụng hình phạt tử hình đối với các tội không phải là “tội ác”. Thứ tư, bỏ án tử hình cũng là nhằm “đảm bảo hiệu quả thu hồi tài sản, đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa; đồng thời khuyến khích người phạm tội hợp tác với cơ quan chức năng” Trả lời RFI Việt ngữ, luật sư Hoàng Cao Sang, Văn phòng Luật sư Hoàng Việt Luật ở Sài Gòn, nhận định: “Chúng tôi cho rằng việc Việt Nam bỏ án tử hình là một xu thế mà tất cả các quốc gia đều hướng tới. Thứ nhất là mang tính nhân văn, thứ hai là tránh oan sai, vì thông thường một quốc gia nào cho dù có tối tân về máy móc và chuyên môn đến đâu thì cũng dễ dẫn tới những oan sai về tội tử hình. Nếu mà đã tử hình rồi thì hậu quả là không lường được và không thể khắc phục được. Chúng ta thấy là càng về trước thì những hình phạt càng nghiêm khắc, gần giống như là “trả thù” người phạm tội, chẳng hạn như cho vào vạc dầu, tứ mã phanh thây, rồi tùng xẻo, hoặc là tử hình bằng cách làm cho người phạm tội đau đớn nhất. Nhưng càng văn minh thì người ta càng bỏ những hình phạt mang tính độc ác như vậy. Cho nên hướng tới là Việt Nam cũng hòa nhập với xu thế của thế giới. Việc Việt Nam bỏ bản tử hình là một điều hết sức mang tính văn minh và hội nhập quốc tế cao. Có một điều mà tôi thấy các quốc gia cũng hay áp dụng, đó là tuy bỏ hình phạt tử hình nhưng thay vào đó là một án chung thân không giảm án, có nghĩa là tránh oan sai cho người phạm tội đó. Tôi cho rằng quy định đó cũng hợp lý: Không tước đi mạng sống của người phạm tội, nhưng họ vẫn phải chịu một hình phạt, đó là phạt tù mà không bao giờ giảm án. Việt Nam cũng có một sự tiến bộ là bỏ án tử hình nhưng có một hình phạt là không giảm án. Tôi cho đấy là cũng phù hợp với xu thế chung của các quốc gia.” Theo báo chí trong nước, giải thích về việc bỏ án tử hình với 8 tội danh, bộ trưởng Tư Pháp Nguyễn Hải Ninh đã cho biết một phần là trong thời gian qua Việt Nam trên thực tế không áp dụng án tử hình với các tội đó. Việc bỏ hình phạt tử hình với các tội này cũng là nhằm “phục vụ hoạt động hợp tác quốc tế, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy các quan hệ ngày càng bền chặt và tin tưởng lẫn nhau.” Trong số các tội danh được bỏ án tử hình, có tội Vận chuyển ma túy. Nhiều người cho tới nay chỉ vì nhẹ dạ cả tin, hoặc vì túng quẫn làm liều, hoặc hám lời, đã nhận vận chuyển dùm cho các đường dây buôn ma túy nên phải chịu hình phạt cao nhất là tử hình. Luật sư Hoàng Cao Sang giải thích: “Trong nhóm tội phạm ma túy, trước đây có ba hành vi đưa đến mức cao nhất của khung hình phạt đó là tử hình: Tội sản xuất ma túy, tội mua bán ma túy và tội vận chuyển ma túy. Tuy nhiên, đến lần sửa đổi luật vừa rồi thì Việt Nam bỏ tội vận chuyển ma túy, còn tội sản xuất và tội mua bán thì vẫn giữ ở khung hình phạt tử hình. Tôi cho rằng đối với 3 hành vi nghiêm trọng có mức khung hình phạt tử hình thì vận chuyển là hành vi nhẹ nhất, ít gây nguy hiểm nhất so với hai hành vi kia. Cho nên nhà nước bỏ tội tử hình đối với hành vi vận chuyển cũng là hợp lý.” Một điểm đáng chú ý khác đó là trong danh sách các tội không còn áp dụng án tử hình, có tội danh Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109). Theo các tổ chức nhân quyền quốc tế, điều 109 là một trong những điều luật có nội dung mơ hồ và có thể diễn giải tùy tiện trong Bộ Luật Hình sự mà chính quyền Việt Nam thường sử dụng kết án tù các nhà hoạt động chính trị và tôn giáo, với hình phạt cao nhất là chung thân và tử hình. Các tổ chức nhân quyền đã từng kêu gọi Hà Nội hủy bỏ hoặc sửa đổi điều luật này cho phù hợp với các nghĩa vụ Việt Nam theo Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị. Có lẽ chính là dưới áp lực của quốc tế mà Việt Nam đã bỏ án tử hình đối với tội danh Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Về điểm này, luật sư Hoàng Cao Sang ghi nhận: “Xu thế của các quốc gia trên thế giới đều là không áp dụng hình phạt tử hình. Cho nên trong tội hoạt động lật đổ chính quyền, họ cũng yêu cầu không thực hiện việc tử hình đối với hành vi mà trước đây Bộ Luật hình sự Việt Nam cho là một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, cần phải tách ly người này ra khỏi cuộc sống xã hội. Tôi cho rằng bây giờ xã hội đã ổn định hơn và theo xu thế hội nhập thì cũng phải bỏ tội danh đấy và tôi nghĩ thế giới cũng tránh việc một bộ luật lạm dụng điều đó để khống chế hoạt động của người dân nhằm phát triển quyền của con người. Trong thời gian qua, khi bộ luật có sửa đổi với việc bỏ 8 tội danh này thì tôi thấy là dư luận hay nhắc đến tội tham ô, nhận hối lộ, rồi tội vận chuyển trái phép chất ma túy, còn đối với các tội danh khác thì người dân ít quan tâm, hoặc là vì một lý do nhạy cảm nào đó người dân ít nhắc tới. Nhiều khi hành vi cũng không quá nghiêm trọng, nhưng rớt vào điều 109 này, tôi nghĩ nếu áp dụng khung hình phạt tử hình thì cũng hơi nghiêm khắc, cho nên tôi cho rằng bỏ cái hình phạt tử hình đối với tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền dân dân cũng là hợp lý.” Riêng với tội Tham ô tài sản và tội Nhận hối lộ, sau khi bỏ hình phạt tử hình, "nhằm bảo đảm thu hồi tài sản và khuyến khích người phạm tội tích cực khai báo", luật sửa đổi có quy định người bị kết án tù chung thân có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt “khi chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng.” Nhưng như vậy thì phải chăng các quan chức cứ việc tham ô, nhận hối lộ, nhất là nay không còn án tử hình nữa và nếu có bị phát giác, bị đưa ra xử thì chỉ cần hoàn trả lại tiền tham nhũng là được giảm án? Luật sư Hoàng Cao Sang nêu ý kiến: “Tôi thì thì lại không hiểu như vậy, vì tất cả mọi điều luật đều có quy định rằng khắc phục hậu quả thì sẽ được xem là tình tiết giảm nhẹ khi truy tố xét xử. Cho nên đối với người phạm tội tham ô mà có đóng lại khoản tiền, xem đó là tình tiết giảm nhẹ để giảm án thì tôi cho rằng cũng phù hợp với các tội danh khác. Tuy nhiên, trong thời thời gian vừa rồi, có những trường hợp mà đóng tiền lại thì được giảm án quá "sâu" so với quy định thì dư luận cũng không đồng tình. Trước mắt, vì là người phạm tội bị kết án tử hình trước ngày 01/07, bà TRươngMỹ Lan, chủ tịch tập đoàn Đại Thịnh Phát, trên nguyên tắc có thể được xem xét chuyển hình phạt từ tử hình xuống chung thân, nhưng việc bà "khắc phục hậu quả" như thế nào chắc chắn sẽ được dư luật tiếp tục quan tâm. Quốc tế dĩ nhiên đã hoan nghênh việc Việt Nam xóa bỏ án tử hình đối với 8 tội danh, chẳng hạn vào ngày 08/08/2025, đồng chủ tịch Viện Nhân quyền thuộc Hiệp hội Luật sư Quốc tế (IBAHRI) Mark Stephens đã ra thông cáo nhấn mạnh: "Bước đi lịch sử này của Việt Nam đánh dấu một bước phát triển đáng kể, hòa nhập hơn với xu hướng xóa bỏ án tử hình trên toàn cầu. Với nghĩa vụ không trì hoãn hoặc ngăn cản việc xóa bỏ án tử hình theo Điều 6(6) của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), IBAHRI kêu gọi Việt Nam tiến tới xóa bỏ hoàn toàn án tử hình đối với mọi tội phạm." Việt Nam hiện vẫn duy trì hình phạt tử hình đối với các tội phản quốc (Điều 108); tội nổi loạn (Điều 112); tội khủng bố nhằm chống Chính phủ (Điều 113); tội giết người (Điều 123); tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142); tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248); tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251); tội khủng bố (Điều 299); tội ác chống nhân loại (Điều 422); và tội ác chiến tranh (Điều 423). Theo IHBARI, dữ liệu về việc áp dụng án tử hình tại Việt Nam được cho là bí mật nhà nước, gây khó khăn cho việc xác định số liệu chính xác về việc áp dụng hình phạt này. Cũng trong thông cáo nói trên, đồng chủ tịch IBAHRI, bà Hina Jilani, kêu gọi Việt Nam “ tăng cường minh bạch trong việc áp dụng án tử hình, bao gồm việc cung cấp dữ liệu đầy đủ và chính xác về các bản án tử hình, các vụ hành quyết và các điều kiện giam giữ tại khu tử tù.”
Kể từ ngày 01/07/2025, Việt Nam không còn áp dụng án tử hình đối với 8 tội danh, theo xu thế chung hiện nay của thế giới là dần dần xóa bỏ án tử hình. Việt Nam là một trong số ít quốc gia còn duy trì án tử hình. Như mọi năm, ngày 10/10/2025 đã là Ngày Thế giới Chống Án Tử hình. Ngày này do tổ chức Liên minh thế giới chống án tử hình tổ chức lần đầu tiên vào năm 2003 nhằm thống nhất phong trào bãi bỏ án tử hình toàn cầu và huy động xã hội dân sự, các nhà lãnh đạo chính trị, luật sư, dư luận xã hội… ủng hộ lời kêu gọi bãi bỏ án tử hình trên toàn thế giới. Theo thống kê từ tổ chức Ân xá Quốc tế, 113 quốc gia đã bãi bỏ án tử hình đối với tất cả các loại tội phạm, 23 quốc gia đang bãi bỏ án tử hình trong thực tế, 54 quốc gia đang duy trì án tử hình, trong đó có Việt Nam. Tuy nằm trong số các nước vẫn còn duy trì án tử hình, Việt Nam nay cũng đã giảm bớt số tội danh lãnh án tử hình. Cụ thể, ngày 25/06/2025, Quốc Hội Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự, trong đó bỏ án tử hình với 8 tội kể từ 01/07, đồng thời chuyển sang tù chung thân với người bị tuyên tử hình về các tội này trước ngày 01/07. Tám tội danh không còn bị kết án tử hình bao gồm: Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109); Phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114); Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, phòng bệnh (Điều 194); Vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250); Phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược (Điều 421); Gián điệp (Điều 110); Tham ô tài sản (Điều 353); Nhận hối lộ (Điều 354). Theo báo chí trong nước, giải thích về việc bỏ án tử hình với 8 tội danh, bộ Công An Việt Nam đã nêu lên 4 lý do. Thứ nhất, thực tiễn cho thấy, “các tội danh này đã được đa số các nước trên thế giới không quy định hình phạt tử hình hoặc đang có xu hướng bỏ hình phạt tử hình.” Thứ hai, “nhiều nước trên thế giới đã yêu cầu Việt Nam phải cam kết không áp dụng hình phạt tử hình hoặc tuyên nhưng không thi hành án tử hình đối với những vụ án về tham nhũng, chức vụ, nhưng Việt Nam chưa cam kết, cho nên khi Việt Nam yêu cầu tương trợ tư pháp có liên quan đến án tử hình thì gần như không có phản hồi.” Thứ ba, đây cũng là “xu thế chung của thế giới”, hiện nay đa số các quốc gia đều không áp dụng hình phạt tử hình đối với các tội không phải là “tội ác”. Thứ tư, bỏ án tử hình cũng là nhằm “đảm bảo hiệu quả thu hồi tài sản, đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa; đồng thời khuyến khích người phạm tội hợp tác với cơ quan chức năng” Trả lời RFI Việt ngữ, luật sư Hoàng Cao Sang, Văn phòng Luật sư Hoàng Việt Luật ở Sài Gòn, nhận định: “Chúng tôi cho rằng việc Việt Nam bỏ án tử hình là một xu thế mà tất cả các quốc gia đều hướng tới. Thứ nhất là mang tính nhân văn, thứ hai là tránh oan sai, vì thông thường một quốc gia nào cho dù có tối tân về máy móc và chuyên môn đến đâu thì cũng dễ dẫn tới những oan sai về tội tử hình. Nếu mà đã tử hình rồi thì hậu quả là không lường được và không thể khắc phục được. Chúng ta thấy là càng về trước thì những hình phạt càng nghiêm khắc, gần giống như là “trả thù” người phạm tội, chẳng hạn như cho vào vạc dầu, tứ mã phanh thây, rồi tùng xẻo, hoặc là tử hình bằng cách làm cho người phạm tội đau đớn nhất. Nhưng càng văn minh thì người ta càng bỏ những hình phạt mang tính độc ác như vậy. Cho nên hướng tới là Việt Nam cũng hòa nhập với xu thế của thế giới. Việc Việt Nam bỏ bản tử hình là một điều hết sức mang tính văn minh và hội nhập quốc tế cao. Có một điều mà tôi thấy các quốc gia cũng hay áp dụng, đó là tuy bỏ hình phạt tử hình nhưng thay vào đó là một án chung thân không giảm án, có nghĩa là tránh oan sai cho người phạm tội đó. Tôi cho rằng quy định đó cũng hợp lý: Không tước đi mạng sống của người phạm tội, nhưng họ vẫn phải chịu một hình phạt, đó là phạt tù mà không bao giờ giảm án. Việt Nam cũng có một sự tiến bộ là bỏ án tử hình nhưng có một hình phạt là không giảm án. Tôi cho đấy là cũng phù hợp với xu thế chung của các quốc gia.” Theo báo chí trong nước, giải thích về việc bỏ án tử hình với 8 tội danh, bộ trưởng Tư Pháp Nguyễn Hải Ninh đã cho biết một phần là trong thời gian qua Việt Nam trên thực tế không áp dụng án tử hình với các tội đó. Việc bỏ hình phạt tử hình với các tội này cũng là nhằm “phục vụ hoạt động hợp tác quốc tế, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy các quan hệ ngày càng bền chặt và tin tưởng lẫn nhau.” Trong số các tội danh được bỏ án tử hình, có tội Vận chuyển ma túy. Nhiều người cho tới nay chỉ vì nhẹ dạ cả tin, hoặc vì túng quẫn làm liều, hoặc hám lời, đã nhận vận chuyển dùm cho các đường dây buôn ma túy nên phải chịu hình phạt cao nhất là tử hình. Luật sư Hoàng Cao Sang giải thích: “Trong nhóm tội phạm ma túy, trước đây có ba hành vi đưa đến mức cao nhất của khung hình phạt đó là tử hình: Tội sản xuất ma túy, tội mua bán ma túy và tội vận chuyển ma túy. Tuy nhiên, đến lần sửa đổi luật vừa rồi thì Việt Nam bỏ tội vận chuyển ma túy, còn tội sản xuất và tội mua bán thì vẫn giữ ở khung hình phạt tử hình. Tôi cho rằng đối với 3 hành vi nghiêm trọng có mức khung hình phạt tử hình thì vận chuyển là hành vi nhẹ nhất, ít gây nguy hiểm nhất so với hai hành vi kia. Cho nên nhà nước bỏ tội tử hình đối với hành vi vận chuyển cũng là hợp lý.” Một điểm đáng chú ý khác đó là trong danh sách các tội không còn áp dụng án tử hình, có tội danh Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109). Theo các tổ chức nhân quyền quốc tế, điều 109 là một trong những điều luật có nội dung mơ hồ và có thể diễn giải tùy tiện trong Bộ Luật Hình sự mà chính quyền Việt Nam thường sử dụng kết án tù các nhà hoạt động chính trị và tôn giáo, với hình phạt cao nhất là chung thân và tử hình. Các tổ chức nhân quyền đã từng kêu gọi Hà Nội hủy bỏ hoặc sửa đổi điều luật này cho phù hợp với các nghĩa vụ Việt Nam theo Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị. Có lẽ chính là dưới áp lực của quốc tế mà Việt Nam đã bỏ án tử hình đối với tội danh Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Về điểm này, luật sư Hoàng Cao Sang ghi nhận: “Xu thế của các quốc gia trên thế giới đều là không áp dụng hình phạt tử hình. Cho nên trong tội hoạt động lật đổ chính quyền, họ cũng yêu cầu không thực hiện việc tử hình đối với hành vi mà trước đây Bộ Luật hình sự Việt Nam cho là một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, cần phải tách ly người này ra khỏi cuộc sống xã hội. Tôi cho rằng bây giờ xã hội đã ổn định hơn và theo xu thế hội nhập thì cũng phải bỏ tội danh đấy và tôi nghĩ thế giới cũng tránh việc một bộ luật lạm dụng điều đó để khống chế hoạt động của người dân nhằm phát triển quyền của con người. Trong thời gian qua, khi bộ luật có sửa đổi với việc bỏ 8 tội danh này thì tôi thấy là dư luận hay nhắc đến tội tham ô, nhận hối lộ, rồi tội vận chuyển trái phép chất ma túy, còn đối với các tội danh khác thì người dân ít quan tâm, hoặc là vì một lý do nhạy cảm nào đó người dân ít nhắc tới. Nhiều khi hành vi cũng không quá nghiêm trọng, nhưng rớt vào điều 109 này, tôi nghĩ nếu áp dụng khung hình phạt tử hình thì cũng hơi nghiêm khắc, cho nên tôi cho rằng bỏ cái hình phạt tử hình đối với tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền dân dân cũng là hợp lý.” Riêng với tội Tham ô tài sản và tội Nhận hối lộ, sau khi bỏ hình phạt tử hình, "nhằm bảo đảm thu hồi tài sản và khuyến khích người phạm tội tích cực khai báo", luật sửa đổi có quy định người bị kết án tù chung thân có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt “khi chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng.” Nhưng như vậy thì phải chăng các quan chức cứ việc tham ô, nhận hối lộ, nhất là nay không còn án tử hình nữa và nếu có bị phát giác, bị đưa ra xử thì chỉ cần hoàn trả lại tiền tham nhũng là được giảm án? Luật sư Hoàng Cao Sang nêu ý kiến: “Tôi thì thì lại không hiểu như vậy, vì tất cả mọi điều luật đều có quy định rằng khắc phục hậu quả thì sẽ được xem là tình tiết giảm nhẹ khi truy tố xét xử. Cho nên đối với người phạm tội tham ô mà có đóng lại khoản tiền, xem đó là tình tiết giảm nhẹ để giảm án thì tôi cho rằng cũng phù hợp với các tội danh khác. Tuy nhiên, trong thời thời gian vừa rồi, có những trường hợp mà đóng tiền lại thì được giảm án quá "sâu" so với quy định thì dư luận cũng không đồng tình. Trước mắt, vì là người phạm tội bị kết án tử hình trước ngày 01/07, bà TRươngMỹ Lan, chủ tịch tập đoàn Đại Thịnh Phát, trên nguyên tắc có thể được xem xét chuyển hình phạt từ tử hình xuống chung thân, nhưng việc bà "khắc phục hậu quả" như thế nào chắc chắn sẽ được dư luật tiếp tục quan tâm. Quốc tế dĩ nhiên đã hoan nghênh việc Việt Nam xóa bỏ án tử hình đối với 8 tội danh, chẳng hạn vào ngày 08/08/2025, đồng chủ tịch Viện Nhân quyền thuộc Hiệp hội Luật sư Quốc tế (IBAHRI) Mark Stephens đã ra thông cáo nhấn mạnh: "Bước đi lịch sử này của Việt Nam đánh dấu một bước phát triển đáng kể, hòa nhập hơn với xu hướng xóa bỏ án tử hình trên toàn cầu. Với nghĩa vụ không trì hoãn hoặc ngăn cản việc xóa bỏ án tử hình theo Điều 6(6) của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), IBAHRI kêu gọi Việt Nam tiến tới xóa bỏ hoàn toàn án tử hình đối với mọi tội phạm." Việt Nam hiện vẫn duy trì hình phạt tử hình đối với các tội phản quốc (Điều 108); tội nổi loạn (Điều 112); tội khủng bố nhằm chống Chính phủ (Điều 113); tội giết người (Điều 123); tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142); tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248); tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251); tội khủng bố (Điều 299); tội ác chống nhân loại (Điều 422); và tội ác chiến tranh (Điều 423). Theo IHBARI, dữ liệu về việc áp dụng án tử hình tại Việt Nam được cho là bí mật nhà nước, gây khó khăn cho việc xác định số liệu chính xác về việc áp dụng hình phạt này. Cũng trong thông cáo nói trên, đồng chủ tịch IBAHRI, bà Hina Jilani, kêu gọi Việt Nam “ tăng cường minh bạch trong việc áp dụng án tử hình, bao gồm việc cung cấp dữ liệu đầy đủ và chính xác về các bản án tử hình, các vụ hành quyết và các điều kiện giam giữ tại khu tử tù.”
Kể từ sau đại dịch Covid-19, ngành du lịch Việt Nam đã dần dần phục hồi, số du khách quốc tế đã tăng mạnh trở lại. Tuy nhiên, nhiều yếu tố địa chính trị, đặc biệt là chiến tranh Ukraina, vẫn ảnh hưởng đến đà phục hồi này. Diễn ra từ ngày 23/09 đến 25/09/2025, tại Paris, IFTM Top Resa là triển lãm du lịch quốc tế hàng đầu thế giới, quy tụ hơn 3.000 doanh nghiệp từ hơn 100 quốc gia. Đây là dịp rất quan trọng để các doanh nghiệp lữ hành kết nối với nhau, cho nên nhiều nước đã có hẳn một không gian riêng để quảng bá cho du lịch quốc gia. Riêng Việt Nam không có gian hàng quốc gia, nhưng có một khu triển lãm của thành phố Hà Nội, với sự tham gia của hãng hàng không Vietnam Airlines và 11 doanh nghiệp lữ hành chuyên tổ chức các chuyến du lịch Việt Nam cho khách từ châu Âu. Một vài doanh nghiệp khác thì có gian hàng riêng. Top Resa 2025 diễn ra trong bối cảnh ngành du lịch Việt Nam tiếp tục con đường phục hồi sau đại dịch Covid-19 tuy nhiên cũng phần nào bị tác động của tình hình kinh tế khó khăn trên toàn cầu cũng như tác động của những đảo lộn địa chính trị, nhất là chiến tranh Ukraina. Trả lời RFI Việt ngữ tại triển lãm, ông Trần Sơn, giám đốc công ty Vietspace Travel, được thành lập từ năm 2002, cho biết: “Sau dịch, hoạt động của ngành du lịch nói chung đến với Việt Nam đã từng bước được phục hồi. Chính phủ Việt Nam cũng đã tạo điều kiện hết sức cho tất cả khách nước ngoài nói chung, cũng như cho các doanh nghiệp đưa khách du lịch vào Việt Nam. Chúng tôi cũng nằm ở trong số đó, nhưng sau đại dịch thì hoạt động nói chung phục hồi hơi chậm, vì nhiều lý do. Một lý do là kinh tế toàn cầu không được thuận lợi. Thói quen trong thời gian đại dịch làm cho người ta cũng thay đổi. Chi phí cho tất cả những sinh hoạt đã có những thay đổi nhiều, người ta thận trọng hơn trong chi tiêu. Một lý do nữa là trên thế giới có nhiều thay đổi về chính trị và một số nước đang có chiến tranh. Do vậy đường bay cũng ảnh hưởng, khiến giá vé trở nên đắt đỏ. Mặc dù Việt Nam cũng đã có những cải thiện rất tốt về dịch vụ cũng như về giá cả, nhưng đấy là một trong những nguyên nhân làm cho khách du lịch chưa được nhiều. Tôi hi vọng sắp tới sẽ được nhiều hơn. Cụ thể thì chiến tranh Ukraina đã ảnh hưởng như thế nào đến các đường bay của những hãng hàng không tới Việt Nam trong thời gian qua? Ví dụ đường bay ở phía Bắc Âu. Trước đây người ta có thể đi thẳng hoặc là chỉ transit ( quá cảnh ) một chặng đến Việt Nam. Hoặc là đối với Nga thì trước đây người ta có những chuyến bay charter đến Việt Nam, trực tiếp đến Khánh Hòa, Nha Trang, hoặc Phú Quốc. Nhưng sau đó, do ảnh hưởng của chiến tranh, các hoạt động trên đường bay đó có những thay đổi và chính vì đường bay thay đổi nên lượng máy bay cũng ít đi, làm cho giá cả tăng lên. Đấy là một tác động rất lớn đến tài chính. Khách vốn đã giảm bớt chi tiêu sau dịch bây giờ phải gánh thêm một chi tiêu khác. Tất nhiên người ta vẫn thích bay thẳng, đỡ mệt mỏi, nhưng bây giờ thì phải bay khá nhiều chặng. Vé máy bay lại tăng lên, đấy là một điều khiến người ta phải suy nghĩ lại." Ông Đỗ Quang Tiến, giám đốc công ty Typic Travel ở Hà Nội, cũng nhìn nhận tác động của yếu tố địa chính trị đối với du lịch Việt Nam, nhưng ông nhận thấy là số khách từ châu Âu đang tăng trở lại, vì Việt Nam nay được xem là một điểm đến an toàn so với một số nước láng giềng Đông Nam Á: “Lẽ ra sau Covid, nếu không có chiến tranh ( Ukraina ) thì Việt Nam sẽ là một điểm đến được rất nhiều du khách lựa chọn. Tuy nhiên chính phủ Việt Nam cũng nhận thấy tình hình đó và đã có những chính sách rất phù hợp và kịp thời,thứ nhất là mở cửa sớm và thứ hai là miễn thị thực cho rất nhiều nước thuộc Liên Hiệp Châu Âu và Châu Âu nói chung. Biện pháp đó đã kích thích, làm tăng một lượng khách đến Việt Nam rất là lớn. Trong năm 2023, 2024, lượng khách quốc tế từ Châu Âu tới Việt Nam tăng vọt và nhiều hơn so với trước Covid 2019 khoảng từ 20 cho đến 40%. Đấy là một dấu hiệu rất tích cực. Mặc dù cũng có bị ảnh hưởng bởi tình hình địa chính trị thế giới và chiến tranh ở châu Âu, tuy nhiên, hiện tại, sau Covid, mọi người có nhu cầu khám phá và chọn điểm đến an toàn, trong đó Việt Nam cũng luôn là một điểm đến được lựa chọn bởi khách du lịch châu Âu, trong đó Pháp và Đức là hai quốc gia có lượng khách du lịch đến Việt Nam nhiều nhất kể từ 2022, 2023 và 2024 cho đến nay. Khách cũng có sự lựa chọn nhất định. Phần lớn là khách thường có tiền một chút thì mới đi. Mức chi tiêu trước Covid rất là tốt, nhưng sau Covid, về mức chi tiêu cho những dịch vụ gia tăng tại chỗ thì họ dè chừng hơn. Tuy nhiên họ lại sử dụng những dịch vụ cao cấp hơn, chọn những khách sạn bốn, năm sao, hoặc những khu nghỉ dưỡng chuẩn quốc tế nhiều hơn so với trước Covid. Trước Covid phần lớn người ta đi theo cách, một là “bụi”, hai là sử dụng dịch vụ có mức hạn chế về chỗ ăn chỗ ở, còn lại họ dùng tiền để chi tiêu cho mua sắm. Bây giờ ngược lại họ dành chi tiêu cho việc lưu trú tốt và phần lớn không mua sắm nữa. Người Pháp hay người Đức hay người châu Âu nói chung vẫn thích điểm đến Việt Nam so với một số các nước khác. Văn hóa Việt Nam hay, phong cảnh đẹp, người dân thân thiện và đặc biệt là ăn uống rất ngon với một mức giá vô cùng rẻ so với mức sinh hoạt tại châu Âu. Trong khi đó thì các nước bên cạnh như Cam Bốt, Thái Lan hoặc xa hơn một chút là Indonesia, Malaysia, Philippines thì đều có những xáo trộn về chính trị. Chính vì vậy mà khách du lịch châu Âu lẽ ra chọn Thái Lan, Philippines, Malaysia hoặc Indonesia để đi, thì do tình hình bất ổn đó, họ đã thay đổi kế hoạch. Khoảng 30 đến 40% những khách đã có ý định đi Thái Lan hoặc các nước bên cạnh Việt Nam thay đổi ý định và chọn Việt Nam, vì Việt Nam vẫn là một điểm đến thứ nhất là thân thiện, thứ hai là an toàn, thứ ba là phong cảnh và văn hóa rất đẹp cùng với chi phí có thể nói là rẻ nhất trong khu vực Đông Nam Á, với một dịch vụ gần như là tốt nhất với chi phí đó.” Theo số liệu thống kê, trong 8 tháng đầu năm nay, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 13,9 triệu lượt người, tăng gần 22% so với cùng kỳ năm trước. Châu Á là khu vực có nhiều khách quốc tế lớn nhất tại Việt Nam với gần 11 triệu lượt khách, tiếp đến là châu Âu với gần 1,8 triệu lượt khách. Nhằm thu hút thêm du khách châu Âu đến Việt Nam, chính phủ Hà Nội đã quyết định miễn thị thực 45 ngày cho thêm 12 nước ở châu lục này ( Bỉ, Bulgari, Croatia, Cộng hòa Séc, Hungary, Luxembourg, Hà Lan, Ba Lan, Rumani, Slovakia, Slovenia và Thụy Sĩ ) Đối với ông Trần Sơn, giám đốc công ty Vietspace, ngoài chính sách miễn thị thực, chính phủ cần có một kế hoạch dài hạn hơn để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lữ hành: “Đấy là một chính sách rất cởi mở, chủ động, để chào đón khách trở lại Việt Nam và chứng minh Việt Nam đã có sự chuẩn bị và có những cơ sở rất tốt về dịch vụ. Trước mắt thì đương nhiên giải quyết vấn đề về visa, nhưng dài hơn nữa là phải có chính sách 5 năm, 10 năm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ở Việt Nam. Công ty chúng tôi thì đang cố gắng. Các đối tác cũ hầu hết tất cả đã quay lại, đã nối lại để làm việc. Nhưng đối với những người mới, chúng tôi cũng đang cố gắng để giới thiệu cho các khách hàng này. Giới thiệu ở đây là giới thiệu về văn hóa ẩm thực và các sản phẩm mới. Vì sau dịch đã có rất nhiều sự thay đổi tốt hơn. Dịch vụ ở Việt Nam rất sẵn sàng để phục vụ. Nhưng còn còn về phía Pháp nói riêng và tất cả các nước nói chung, điều này tùy thuộc vào khách hàng và tùy thuộc hoàn cảnh chung của thế giới, về tài chính, về tình hình chiến sự vân vân…” Việt Nam đã đặt ra mục tiêu đạt 25 triệu lượt du khách quốc tế trong năm 2025. Tuy nhiên, trên báo chí trong nước, các chuyên gia về du lịch của Việt Nam cho rằng ngành du lịch không nên dựa hoàn toàn vào chính sách miễn visa. Khách có đến đông, tiêu nhiều tiền và ở lâu hay không phần lớn vẫn phụ thuộc vào các sản phẩm du lịch có đủ sức thu hút khách đến mức nào. Bên cạnh đó là cách thức quảng bá cho du lịch Việt Nam. Ngoài việc tham gia các triển lãm du lịch lớn như Top Resa ở Paris, các chuyên gia đề nghị Việt Nam mở những văn phòng xúc tiến du lịch tại các thị trường quan trọng, như cách mà các nước láng giềng như Malaysia hay Thái Lan đang làm. Về phần giám đốc công ty Typic Travel, trước tình hình số du khách vào Việt Nam đang tăng trở lại, một thách thức đối với các doanh nghiệp lữ hành đó là đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch, hiện đang thiếu rất nhiều kể từ sau Covid: “Dự kiến từ năm nay đến năm 2026, lượng khách du lịch quốc tế sẽ đến Việt Nam nhiều hơn nữa. Việt Nam cũng đang cố gắng củng cố và xây dựng các cơ sở hạ tầng tốt nhất, những khu nghỉ dưỡng hoặc những điểm đến thực sự hay, đồng thời có kế hoạch đào tạo nhân lực chuyên nghiệp. Sau Covid thì nhân lực về du lịch cũng mất rất là nhiều. Nhiều người đã chuyển sang những nghề khác nhau. Việt Nam đã bắt đầu từ 2022 kế hoạch đào tạo nhân sự mới, để làm sao đáp ứng được tất cả các nhu cầu phục vụ khách du lịch quốc tế. Việt Nam bây giờ có rất nhiều khách du lịch quốc tế với nhiều ngôn ngữ khác nhau. Số người nói tiếng Anh, Pháp, Đức hay Tây Ban Nha, hay nói tiếng Hàn, tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc đều có, nhưng ở một mức vẫn còn hạn chế, có nghĩa là không đủ nhân lực để cung cấp cho một lượng khách du lịch đang đến rất là đông. Không thể đào tạo ngay được nhân lực chuyên nghiệp, sẽ phải mất tối thiểu từ một năm đến ba năm để làm việc đó.”
Kể từ sau đại dịch Covid-19, ngành du lịch Việt Nam đã dần dần phục hồi, số du khách quốc tế đã tăng mạnh trở lại. Tuy nhiên, nhiều yếu tố địa chính trị, đặc biệt là chiến tranh Ukraina, vẫn ảnh hưởng đến đà phục hồi này. Diễn ra từ ngày 23/09 đến 25/09/2025, tại Paris, IFTM Top Resa là triển lãm du lịch quốc tế hàng đầu thế giới, quy tụ hơn 3.000 doanh nghiệp từ hơn 100 quốc gia. Đây là dịp rất quan trọng để các doanh nghiệp lữ hành kết nối với nhau, cho nên nhiều nước đã có hẳn một không gian riêng để quảng bá cho du lịch quốc gia. Riêng Việt Nam không có gian hàng quốc gia, nhưng có một khu triển lãm của thành phố Hà Nội, với sự tham gia của hãng hàng không Vietnam Airlines và 11 doanh nghiệp lữ hành chuyên tổ chức các chuyến du lịch Việt Nam cho khách từ châu Âu. Một vài doanh nghiệp khác thì có gian hàng riêng. Top Resa 2025 diễn ra trong bối cảnh ngành du lịch Việt Nam tiếp tục con đường phục hồi sau đại dịch Covid-19 tuy nhiên cũng phần nào bị tác động của tình hình kinh tế khó khăn trên toàn cầu cũng như tác động của những đảo lộn địa chính trị, nhất là chiến tranh Ukraina. Trả lời RFI Việt ngữ tại triển lãm, ông Trần Sơn, giám đốc công ty Vietspace Travel, được thành lập từ năm 2002, cho biết: “Sau dịch, hoạt động của ngành du lịch nói chung đến với Việt Nam đã từng bước được phục hồi. Chính phủ Việt Nam cũng đã tạo điều kiện hết sức cho tất cả khách nước ngoài nói chung, cũng như cho các doanh nghiệp đưa khách du lịch vào Việt Nam. Chúng tôi cũng nằm ở trong số đó, nhưng sau đại dịch thì hoạt động nói chung phục hồi hơi chậm, vì nhiều lý do. Một lý do là kinh tế toàn cầu không được thuận lợi. Thói quen trong thời gian đại dịch làm cho người ta cũng thay đổi. Chi phí cho tất cả những sinh hoạt đã có những thay đổi nhiều, người ta thận trọng hơn trong chi tiêu. Một lý do nữa là trên thế giới có nhiều thay đổi về chính trị và một số nước đang có chiến tranh. Do vậy đường bay cũng ảnh hưởng, khiến giá vé trở nên đắt đỏ. Mặc dù Việt Nam cũng đã có những cải thiện rất tốt về dịch vụ cũng như về giá cả, nhưng đấy là một trong những nguyên nhân làm cho khách du lịch chưa được nhiều. Tôi hi vọng sắp tới sẽ được nhiều hơn. Cụ thể thì chiến tranh Ukraina đã ảnh hưởng như thế nào đến các đường bay của những hãng hàng không tới Việt Nam trong thời gian qua? Ví dụ đường bay ở phía Bắc Âu. Trước đây người ta có thể đi thẳng hoặc là chỉ transit ( quá cảnh ) một chặng đến Việt Nam. Hoặc là đối với Nga thì trước đây người ta có những chuyến bay charter đến Việt Nam, trực tiếp đến Khánh Hòa, Nha Trang, hoặc Phú Quốc. Nhưng sau đó, do ảnh hưởng của chiến tranh, các hoạt động trên đường bay đó có những thay đổi và chính vì đường bay thay đổi nên lượng máy bay cũng ít đi, làm cho giá cả tăng lên. Đấy là một tác động rất lớn đến tài chính. Khách vốn đã giảm bớt chi tiêu sau dịch bây giờ phải gánh thêm một chi tiêu khác. Tất nhiên người ta vẫn thích bay thẳng, đỡ mệt mỏi, nhưng bây giờ thì phải bay khá nhiều chặng. Vé máy bay lại tăng lên, đấy là một điều khiến người ta phải suy nghĩ lại." Ông Đỗ Quang Tiến, giám đốc công ty Typic Travel ở Hà Nội, cũng nhìn nhận tác động của yếu tố địa chính trị đối với du lịch Việt Nam, nhưng ông nhận thấy là số khách từ châu Âu đang tăng trở lại, vì Việt Nam nay được xem là một điểm đến an toàn so với một số nước láng giềng Đông Nam Á: “Lẽ ra sau Covid, nếu không có chiến tranh ( Ukraina ) thì Việt Nam sẽ là một điểm đến được rất nhiều du khách lựa chọn. Tuy nhiên chính phủ Việt Nam cũng nhận thấy tình hình đó và đã có những chính sách rất phù hợp và kịp thời,thứ nhất là mở cửa sớm và thứ hai là miễn thị thực cho rất nhiều nước thuộc Liên Hiệp Châu Âu và Châu Âu nói chung. Biện pháp đó đã kích thích, làm tăng một lượng khách đến Việt Nam rất là lớn. Trong năm 2023, 2024, lượng khách quốc tế từ Châu Âu tới Việt Nam tăng vọt và nhiều hơn so với trước Covid 2019 khoảng từ 20 cho đến 40%. Đấy là một dấu hiệu rất tích cực. Mặc dù cũng có bị ảnh hưởng bởi tình hình địa chính trị thế giới và chiến tranh ở châu Âu, tuy nhiên, hiện tại, sau Covid, mọi người có nhu cầu khám phá và chọn điểm đến an toàn, trong đó Việt Nam cũng luôn là một điểm đến được lựa chọn bởi khách du lịch châu Âu, trong đó Pháp và Đức là hai quốc gia có lượng khách du lịch đến Việt Nam nhiều nhất kể từ 2022, 2023 và 2024 cho đến nay. Khách cũng có sự lựa chọn nhất định. Phần lớn là khách thường có tiền một chút thì mới đi. Mức chi tiêu trước Covid rất là tốt, nhưng sau Covid, về mức chi tiêu cho những dịch vụ gia tăng tại chỗ thì họ dè chừng hơn. Tuy nhiên họ lại sử dụng những dịch vụ cao cấp hơn, chọn những khách sạn bốn, năm sao, hoặc những khu nghỉ dưỡng chuẩn quốc tế nhiều hơn so với trước Covid. Trước Covid phần lớn người ta đi theo cách, một là “bụi”, hai là sử dụng dịch vụ có mức hạn chế về chỗ ăn chỗ ở, còn lại họ dùng tiền để chi tiêu cho mua sắm. Bây giờ ngược lại họ dành chi tiêu cho việc lưu trú tốt và phần lớn không mua sắm nữa. Người Pháp hay người Đức hay người châu Âu nói chung vẫn thích điểm đến Việt Nam so với một số các nước khác. Văn hóa Việt Nam hay, phong cảnh đẹp, người dân thân thiện và đặc biệt là ăn uống rất ngon với một mức giá vô cùng rẻ so với mức sinh hoạt tại châu Âu. Trong khi đó thì các nước bên cạnh như Cam Bốt, Thái Lan hoặc xa hơn một chút là Indonesia, Malaysia, Philippines thì đều có những xáo trộn về chính trị. Chính vì vậy mà khách du lịch châu Âu lẽ ra chọn Thái Lan, Philippines, Malaysia hoặc Indonesia để đi, thì do tình hình bất ổn đó, họ đã thay đổi kế hoạch. Khoảng 30 đến 40% những khách đã có ý định đi Thái Lan hoặc các nước bên cạnh Việt Nam thay đổi ý định và chọn Việt Nam, vì Việt Nam vẫn là một điểm đến thứ nhất là thân thiện, thứ hai là an toàn, thứ ba là phong cảnh và văn hóa rất đẹp cùng với chi phí có thể nói là rẻ nhất trong khu vực Đông Nam Á, với một dịch vụ gần như là tốt nhất với chi phí đó.” Theo số liệu thống kê, trong 8 tháng đầu năm nay, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 13,9 triệu lượt người, tăng gần 22% so với cùng kỳ năm trước. Châu Á là khu vực có nhiều khách quốc tế lớn nhất tại Việt Nam với gần 11 triệu lượt khách, tiếp đến là châu Âu với gần 1,8 triệu lượt khách. Nhằm thu hút thêm du khách châu Âu đến Việt Nam, chính phủ Hà Nội đã quyết định miễn thị thực 45 ngày cho thêm 12 nước ở châu lục này ( Bỉ, Bulgari, Croatia, Cộng hòa Séc, Hungary, Luxembourg, Hà Lan, Ba Lan, Rumani, Slovakia, Slovenia và Thụy Sĩ ) Đối với ông Trần Sơn, giám đốc công ty Vietspace, ngoài chính sách miễn thị thực, chính phủ cần có một kế hoạch dài hạn hơn để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lữ hành: “Đấy là một chính sách rất cởi mở, chủ động, để chào đón khách trở lại Việt Nam và chứng minh Việt Nam đã có sự chuẩn bị và có những cơ sở rất tốt về dịch vụ. Trước mắt thì đương nhiên giải quyết vấn đề về visa, nhưng dài hơn nữa là phải có chính sách 5 năm, 10 năm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ở Việt Nam. Công ty chúng tôi thì đang cố gắng. Các đối tác cũ hầu hết tất cả đã quay lại, đã nối lại để làm việc. Nhưng đối với những người mới, chúng tôi cũng đang cố gắng để giới thiệu cho các khách hàng này. Giới thiệu ở đây là giới thiệu về văn hóa ẩm thực và các sản phẩm mới. Vì sau dịch đã có rất nhiều sự thay đổi tốt hơn. Dịch vụ ở Việt Nam rất sẵn sàng để phục vụ. Nhưng còn còn về phía Pháp nói riêng và tất cả các nước nói chung, điều này tùy thuộc vào khách hàng và tùy thuộc hoàn cảnh chung của thế giới, về tài chính, về tình hình chiến sự vân vân…” Việt Nam đã đặt ra mục tiêu đạt 25 triệu lượt du khách quốc tế trong năm 2025. Tuy nhiên, trên báo chí trong nước, các chuyên gia về du lịch của Việt Nam cho rằng ngành du lịch không nên dựa hoàn toàn vào chính sách miễn visa. Khách có đến đông, tiêu nhiều tiền và ở lâu hay không phần lớn vẫn phụ thuộc vào các sản phẩm du lịch có đủ sức thu hút khách đến mức nào. Bên cạnh đó là cách thức quảng bá cho du lịch Việt Nam. Ngoài việc tham gia các triển lãm du lịch lớn như Top Resa ở Paris, các chuyên gia đề nghị Việt Nam mở những văn phòng xúc tiến du lịch tại các thị trường quan trọng, như cách mà các nước láng giềng như Malaysia hay Thái Lan đang làm. Về phần giám đốc công ty Typic Travel, trước tình hình số du khách vào Việt Nam đang tăng trở lại, một thách thức đối với các doanh nghiệp lữ hành đó là đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch, hiện đang thiếu rất nhiều kể từ sau Covid: “Dự kiến từ năm nay đến năm 2026, lượng khách du lịch quốc tế sẽ đến Việt Nam nhiều hơn nữa. Việt Nam cũng đang cố gắng củng cố và xây dựng các cơ sở hạ tầng tốt nhất, những khu nghỉ dưỡng hoặc những điểm đến thực sự hay, đồng thời có kế hoạch đào tạo nhân lực chuyên nghiệp. Sau Covid thì nhân lực về du lịch cũng mất rất là nhiều. Nhiều người đã chuyển sang những nghề khác nhau. Việt Nam đã bắt đầu từ 2022 kế hoạch đào tạo nhân sự mới, để làm sao đáp ứng được tất cả các nhu cầu phục vụ khách du lịch quốc tế. Việt Nam bây giờ có rất nhiều khách du lịch quốc tế với nhiều ngôn ngữ khác nhau. Số người nói tiếng Anh, Pháp, Đức hay Tây Ban Nha, hay nói tiếng Hàn, tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc đều có, nhưng ở một mức vẫn còn hạn chế, có nghĩa là không đủ nhân lực để cung cấp cho một lượng khách du lịch đang đến rất là đông. Không thể đào tạo ngay được nhân lực chuyên nghiệp, sẽ phải mất tối thiểu từ một năm đến ba năm để làm việc đó.”
Theo một báo cáo của tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á AMTI, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế CSIS ( Mỹ), được công bố ngày 22/08/2025, Việt Nam đã mở rộng đáng kể hoạt động xây dựng đảo tại các khu vực mà Hà Nội tuyên bố chủ quyền thuộc quần đảo Trường Sa ở Biển Đông. Theo báo cáo, những hoạt động này của Việt Nam “sẽ nhanh chóng ngang bằng, thậm chí có thể vượt qua” quy mô hoạt động tương tự của Trung Quốc tại khu vực đó. Các ảnh vệ tinh gần đây cho thấy, kể từ đầu năm nay, Việt Nam đã mở rộng hoạt động xây dựng đảo trên 8 thực thể, cụ thể là đã tiến hành nạo vét và san lấp tại Bãi Tốc Tan ( Alison Reef ), Đá Cô Lin ( Collins Reef ), Đá Đông ( East Reef ), Đá Len Đao ( Lansdowne Reef ) và Đá Núi Thị ( Petley Reef ). Như vậy là toàn bộ 21 bãi đá và bãi cạn lúc triều thấp mà Việt Nam chiếm hữu trong quần đảo Trường Sa hiện đã được mở rộng để bao gồm cả đất nhân tạo, trong khi bốn năm trước phần lớn chỉ là các công trình bê tông cốt thép biệt lập. Báo cáo cho biết hoạt động mở rộng mới cũng đã bắt đầu tại những đảo nhân tạo cỡ trung đã được xây dựng trong các đợt nạo vét trước đó: Đảo An Bang ( Amboyna Cay), Đảo Sinh Tồn Đông ( Grierson Reef ) và Đá Tây ( West Reef ). Theo báo cáo, "tính đến tháng 3 năm 2025, Việt Nam đã tạo ra khoảng 70% diện tích đất nhân tạo ở quần đảo Trường Sa so với Trung Quốc". Việc cải tạo tại tám thực thể mới này gần như đảm bảo rằng Việt Nam "sẽ ngang bằng - và có thể vượt qua - quy mô xây dựng đảo của Bắc Kinh." Theo báo cáo của AMTI, các hình ảnh cho thấy cơ sở hạ tầng, bao gồm các container chứa đạn dược, đang bắt đầu xuất hiện trên các rạn san hô mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, những nơi mà công việc nạo vét sắp hoàn tất, chẳng hạn như Bãi Thuyền Chài ( Barque Canada ), Đá Lớn ( Discovery Great Reef ), Đá Lát ( Ladd Reef ), Đảo Nam Yết ( Namyit Reef ), Đảo Phan Vinh ( Pearson Reef ), Đảo Sơn Ca ( Sand Cay ) và Đá Tiên Nữ ( Tennent Reef ). Việt Nam chưa đưa ra bình luận công khai nào về hoạt động cải tạo mới nhất của mình, một sự im lặng phù hợp với cách tiếp cận kín đáo của Hà Nội ở Biển Đông. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 27/08/2025, nhà nghiên cứu về Biển Đông Hoàng Việt nhận định: “Về chuyện này có vẻ chắc chắn là Việt Nam không bao giờ lên tiếng. Năm trước, Việt Nam đã bồi lấp và mở rộng, năm nay họ cũng đang làm như vậy thì tôi nghĩ cũng là hợp lý, bình thường thôi. Hiện nay, tất cả các công trình đó, theo AMTI, đã bằng 70% so với Trung Quốc. Có lẽ Việt Nam sẽ là một đối thủ quan trọng đối với Trung Quốc. Điều này đối với Việt Nam có thể là vừa có lợi và có hại. Cái lợi là Việt Nam có thể chống đỡ được khá nhiều với Trung Quốc, có thể mở rộng và cạnh tranh với Trung Quốc. Nhưng mặt khác, có thể Trung Quốc sẽ có phản ứng, thì Việt Nam cũng phải hứng chịu. Trên khu vực Biển Đông thì chúng ta biết quan điểm Trung Quốc từ xưa đến nay: Bao giờ họ cũng khẳng định toàn bộ Biển Đông đều thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Trung Quốc cũng không dựa trên cái gì cả, mà chỉ dựa trên cái gọi là đường chín đoạn, chiếm khoảng chừng 80% Biển Đông. Và gần đây thì họ còn mở rộng hơn rất nhiều. Theo thông tin của Mỹ, họ đã mở rộng đến khoảng 90% Biển Đông. Việt Nam cùng với nhiều quốc gia khác ở Đông Nam Á cũng đã đòi những vùng biển thuộc về họ, nhưng có lẽ chỉ có Việt Nam là tập trung sức lực và đủ sức cạnh tranh với Trung Quốc trên Biển Đông. Trung Quốc nói là không ai có quyền mở rộng Biển Đông ngoài họ, nhưng Trung Quốc không có cơ sở pháp lý nào hết, bởi vì từ những năm 1935, Trung Quốc còn chưa nghĩ tới chuyện đi buôn xa hơn và một số bản đồ của nhà Thanh cũng cho thấy Trung Quốc chỉ ở trong vùng phụ cận thôi chứ không có đi ra xa. Có lẽ sau này Trung Quốc cảm thấy những đảo này cần thiết, cho nên họ tìm mọi cách để đưa vào trong bản đồ, trong sách lịch sử cho trẻ con học, khiến cho người dân Trung Quốc cảm thấy Biển Đông là của họ, mặc dù họ không có bằng chứng nào cả và thậm chí bằng chứng của họ đã bị tòa án quốc tế năm 2016 ra phán quyết bác bỏ trong vụ Philippines kiện Trung Quốc năm 2013. Tuy nhiên chúng ta thấy rằng là Trung Quốc chưa bao giờ từ bỏ đường lưỡi bò. Gần đây, bản đồ của họ còn vẽ thêm thành 10 đoạn chứ không phải 9 đoạn, với một đoạn ở khu vực Đài Loan nữa. Họ vẫn cho thấy luật pháp quốc tế không là cái gì cả.” Báo cáo mới của AMTI được đưa ra trong bối cảnh căng thẳng gia tăng giữa Trung Quốc và Philippines trên Biển Đông. Gần đây nhất, vào tháng 7, ở phía bắc quần đảo Trường Sa gần Bãi cạn Scarborough, một tàu khu trục của hải quân Trung Quốc đã va chạm với một tàu Hải cảnh Trung Quốc khi các tàu này đang quấy rối một tàu của lực lượng tuần duyên Philippines trong vùng biển tranh chấp. Các nhà phân tích được kênh truyền hình Mỹ CNN trích dẫn ngày 29/08 cho rằng các xung đột giữa Trung Quốc và Philippines có thể đã tạo cho Việt Nam "một vỏ bọc tuyệt vời" cho hoạt động xây dựng trên các đảo mà họ kiểm soát. Collin Koh, nghiên cứu viên tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (RSIS) ở Singapore, ghi nhận: “Hiện tại, phần lớn sự chú ý của Trung Quốc đang hướng về Philippines, và họ muốn duy trì một mặt trận ổn định với các đối thủ Đông Nam Á khác ở Biển Đông”. Ray Powell, giám đốc của SeaLight, một dự án minh bạch hàng hải tại Trung tâm Đổi mới An ninh Quốc gia Gordian Knot, thuộc Đại học Stanford, đồng tình với nhận xét của Collin Koh: “Dường như Bắc Kinh đã tính toán rằng nên giữ Philippines cô lập khỏi các bên có tuyên bố chủ quyền khác ở Biển Đông hơn là ngăn cản Việt Nam đạt được những bước tiến đáng kể về lãnh thổ”. Thật ra thì Trung Quốc đã có lên tiếng phản đối Việt Nam về những hoạt động xây dựng đảo theo như báo cáo của AMTI. Ngày 25/08, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc Ông Quách Gia Khôn tuyên bố: "Quần đảo Nam Sa (Trường Sa) là lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc và Trung Quốc kiên quyết phản đối các hoạt động xây dựng của các quốc gia liên quan trên các đảo và rạn san hô bị chiếm đóng trái phép, đồng thời sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và quyền hàng hải của mình." Như vậy là sau báo cáo của AMTI, Biển Đông có thể sẽ khiến quan hệ Việt - Trung căng thẳng trở lại, trong lúc bang giao giữa hai nước đang trong giai đoạn nồng ấm. Tuy vậy, các nhà phân tích như Collin Koh, nghiên cứu viên cao cấp tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam ở Singapore, cho rằng chỉ riêng quy mô của những đảo nhân tạo này sẽ không làm thay đổi cán cân chiến lược của khu vực. Theo các nhà quan sát, Hà Nội có thể sẽ coi các hoạt động nói trên là mang tính phòng thủ, củng cố các thực thể mà họ đã chiếm hữu để đáp trả nhiều năm mà Trung Quốc quân sự hóa các đảo mà Bắc Kinh đang kiểm soát. Nhà nghiên cứu Hoàng Việt cũng có nhận định tương tự: “Chúng ta biết Việt Nam là một quốc gia kiên trì đấu tranh ở Biển Đông từ rất lâu. Nhiều năm trước, những năm 1980, Việt Nam cũng đã chịu nhiều áp bức từ phía Trung Quốc. Thế nhưng Việt Nam vẫn cố gắng và vẫn nghĩ có đầy đủ bằng chứng lịch sử, pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình trên các đảo này. Cho nên Việt Nam hết sức bảo vệ. Hiện nay, quần đảo Hoàng Sa thì Việt Nam không thể giữ được nữa, nhưng ở quần đảo Trường Sa thì Việt Nam đã giữ khá nhiều cơ sở ở đó. Theo những con số mà của AMTI đưa ra, phía Việt Nam cũng đã mở rộng rất nhiều và thứ nhất là sẽ khiến cho ngư dân Việt Nam an tâm hơn. Khi đánh bắt xa bờ, nếu có chuyện gì thì họ có thể quay về trở về để tránh bão. Thứ hai, Việt Nam cũng nghĩ rằng những công trình xây dựng trên biển hay bị hư hại, không giống như trên đất liền, cho nên Việt Nam cũng phải sửa chữa. Và thứ ba là Việt Nam cũng muốn thể hiện cho Trung Quốc thấy rằng Việt Nam mạnh mẽ nhắc đến chủ quyền. Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta có đủ bằng chứng, đủ căn cứ pháp lý để xây dựng, thì tại sao không xây dựng?” Tuy nhiên, theo nhật báo Hồng Kông South China Morning Post ngày 27/08, các nhà phân tích cảnh báo rằng việc Việt Nam mở rộng hoạt động xây dựng đảo ở Trường Sa “có thể làm gia tăng căng thẳng trong nội bộ ASEAN, khi các quốc gia thành viên và các bên có yêu sách đối nghịch nhau tìm cách cân bằng giữa tranh chấp chủ quyền với sự đoàn kết, thống nhất trong khối." Ngoài Việt Nam, các thành viên ASEAN khác là Philippines, Malaysia và Brunei đều có các tuyên bố chủ quyền đối lập, trong khi Bắc Kinh khẳng định chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông. South China Morning Post trích dẫn ông Tô Minh Sơn, nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Quốc gia Úc, chuyên nghiên cứu về quan hệ quốc tế Đông Nam Á: cho biết: "Hà Nội sẽ kết hợp điều đó với việc ủng hộ các cuộc đàm phán về Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) và về Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC), cùng với việc quản lý song phương một cách kín đáo với các bên có yêu sách khác, đồng thời duy trì các kênh liên lạc với Trung Quốc". Ông Tô Minh Sơn nói thêm, mặc dù hoạt động nạo vét của Việt Nam "sẽ khiến việc truyền tải thông điệp của ASEAN trở nên khó khăn hơn [...] nhưng nó sẽ không chia rẽ khối này". Đồng thời ông lưu ý rằng các bên yêu sách khác như Philippines cũng tập trung vào hành vi của Trung Quốc. Việc thắt chặt quan hệ giữa Hà Nội và Manila - bao gồm đường dây nóng của lực lượng bảo vệ bờ biển và các giao thức phòng ngừa sự cố - có thể giúp cả hai quốc gia quản lý tốt các yêu sách chồng chéo, đồng thời thể hiện một mặt trận thống nhất hơn đối với Trung Quốc. Còn theo nhận định của ông Vũ Lâm, một nhà phân tích chính sách và quan sát viên ASEAN, cũng được South China Morning Post trích dẫn, nhìn chung, Việt Nam “không muốn làm xáo trộn mối quan hệ với ASEAN, vốn vẫn là một trong những thành tựu về chính sách đối ngoại quan trọng nhất mà họ đã đạt được trong lịch sử gần đây". Đối với chuyên gia Biển Đông Hoàng Việt, phản ứng của các bên tranh chấp khác trong khối Đông Nam Á sẽ chỉ có mức độ nào đó thôi: Chúng ta biết là giữa các nước Đông Nam Á vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh. Có những điều mà chúng ta có thể hợp tác được, nhưng cũng có những điều mà chúng ta phải đấu tranh với nhau, như Philippines cũng có những cái đấu tranh với Việt Nam. Đương nhiên là giữa các quốc gia nhỏ thì nói chuyện dễ dàng hơn. Thực ra việc bồi lấp một số đảo này có lẽ không phải là vấn đề quá quan trọng. Việt Nam cũng đã bằng lòng với nhiều quốc gia rồi. Hiện nay cũng thấy ít quốc gia lên tiếng. Tôi nghĩ rằng cũng sẽ có một số quốc gia phản đối, nhưng phản đối có mức độ thôi, chứ còn đáng lo ngại nhất vẫn là từ phía Bắc Kinh. Trung Quốc vẫn quen làm trùm khu vực rồi. Họ lớn, họ mạnh, cho nên họ là luật quốc tế. Thế nhưng quan trọng nhất là Trung Quốc lại không có cơ sở hợp lý để bảo vệ chủ quyền của họ trên Biển Đông. Trung Quốc đưa ra những lập luận hết sức là mơ hồ và trái với luật pháp quốc tế, như là đường 9 đoạn. Thế nhưng, việc này đã được đưa ra tòa án quốc tế một lần rồi và nếu các quốc gia tiếp tục đưa ra tòa thì Trung Quốc cũng sẽ bị những phán quyết tương tự như vậy. Trung Quốc nghĩ rằng làm mạnh như vậy thì họ có thể làm thay đổi cả thế giới. Tôi nghĩ sẽ khó đấy. Sức mạnh là sức mạnh, nhưng không phải lúc nào muốn là làm được, mà luật pháp quốc tế có giá trị của nó.”
Từ đối tác kinh tế tin cậy, Việt Nam và Hàn Quốc tiến một bước lớn trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng. Hợp đồng cung cấp 20 pháo K9 Thunder của tập đoàn Hanwha Aerospace, trị giá 250 triệu đô la Mỹ mở ra hướng đi mới cho xuất khẩu vũ khí cho Hà Nội. Việt Nam là khách hàng thứ 11 trên thế giới của loại pháo K9 nhưng đây là lần đầu tiên Hàn Quốc xuất khẩu vũ khí sang một nước Cộng Sản. Đây cũng là lần đầu tiên, Hà Nội mua vũ khí của Seoul trong bối cảnh muốn đa dạng nguồn cung để giảm bớt phụ thuộc vào Nga. Thỏa thuận này được đúc kết sau chuyến thăm cấp Nhà nước từ ngày 10-13/08/2025 của tổng bí thư Tô Lâm tới Seoul. Theo trang Korea Herald, việc giao hàng sẽ được quản lý thông qua Cơ quan Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Hàn Quốc và dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2025. Để hiểu thêm về ý nghĩa của hợp đồng vũ khí đầu tiên này và mối quan hệ hợp tác quốc phòng Việt Nam - Hàn Quốc, RFI Tiếng Việt phỏng vấn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, tại Canberra, Úc. RFI : Việt Nam mua 20 pháo tự hành K9 Thunder do tập đoàn Hàn Quốc Hanwha Aerospace sản xuất, trị giá 250 triệu đô la. Hợp đồng sẽ được bàn giao vào cuối năm nay. Đây là lần đầu tiên Việt Nam mua vũ khí của Hàn Quốc, trong khi Nga vẫn là nhà cung cấp chính. Về phía Seoul, đây cũng là lần đầu tiên xuất khẩu vũ khí cho một quốc gia Cộng Sản, theo như nhận định của một chuyên gia Hàn Quốc. Xin anh cho biết đối với cả hai nước, hợp đồng “lần đầu tiên” có ý nghĩa như thế nào ? Nguyễn Thế Phương : Hợp đồng này có nhiều hàm ý. Thứ nhất, lần đầu tiên nó mở ra một thị trường nhập khẩu vũ khí mới cho Việt Nam. Trước đây, tầm 70 tới 80% số lượng vũ khí của Việt Nam là nhập từ Nga và một phần nhỏ khác là nhập từ một số nước Đông Âu, Israel. Bây giờ Hàn Quốc trở thành một thị trường nhập khẩu vũ khí cực kỳ tiềm năng cho Việt Nam. Hàm ý thứ hai, sau cuộc chiến Nga Ukraina, Việt Nam đã cố gắng đa dạng hóa nguồn cung vũ khí. Và thành công bước đầu là có thêm được một đối tác nhập khẩu vũ khí mà có thể nói là tương đối bền vững. Vì Hàn Quốc suy cho cùng cũng là một trong những nước đối tác chiến lược toàn diện. Việt Nam - Hàn Quốc mặc dù mới thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1993 nhưng quan hệ toàn diện từ chính trị, kinh tế, xã hội đặc biệt là quan hệ giữa người dân với nhau, từ đó tới nay phát triển rất tốt và dự báo là cũng sẽ phát triển tiếp. Đọc thêmCông nghiệp quốc phòng Hàn Quốc giúp Việt Nam tự chủ an ninh, đa dạng hợp tác Và có thể trong tương lai, Việt Nam cũng sẽ tìm kiếm thêm một số đối tác khác, không phải là các đối tác truyền thống trước đây như Ấn Độ hay Iran nữa mà là những đối tác mới, bây giờ là Hàn Quốc, sau này có thể là Thổ Nhĩ Kỳ. Đây chỉ là một bước đầu trong nỗ lực đa dạng hóa của nguồn cung vũ khí. Và thứ ba, nó thể hiện sự đa phương hóa và đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế - chiến lược ngoại giao của Việt Nam vốn đã bắt đầu từ năm 2003 cho tới bây giờ - và nó mang lại một số kết quả khích lệ trong bối cảnh tình hình thế giới đang diễn biến hết sức phức tạp, hết sức khó lường và ưu tiên chính sách ở thời điểm hiện tại vẫn phải là chuẩn bị cho năng lực quốc phòng đạt được hiệu quả răn đe nhất định. RFI : Trong cẩm nang thị trường quốc phòng về Việt Nam công bố tháng 12/2024, Cơ quan Quản lý Chương trình mua sắm Quốc phòng Hàn Quốc (DAPA) đã liệt kê các mặt hàng xuất khẩu đầy hứa hẹn sang Việt Nam vào năm 2033 (pháo tự hành K9, hệ thống tên lửa địa đối không tầm trung Cheongung-II, hệ thống ngắm pháo cho xe bọc thép và xe tăng, hệ thống nhận dạng laser…). Căn cứ vào những con số này, có thể thấy là hợp tác quốc phòng song phương đầy tiềm năng. Những yếu tố nào có thể giải thích cho việc hai nước tăng cường phát triển hợp tác quốc phòng ? Nguyễn Thế Phương : Yếu tố để giải thích thì một phần tôi đã trình bày ở trên : Đó là nhu cầu mua sắm quốc phòng của Việt Nam hiện tại là rất lớn trong bối cảnh những thách thức an ninh khu vực nổi lên, không chỉ là vấn đề Biển Đông với Trung Quốc mà còn là vấn đề an ninh phi truyền thống ở phía Tây nữa, đặc biệt là vấn đề sông Mêkông, phòng chống tội phạm buôn người xuyên quốc gia. Những yếu tố an ninh như vậy yêu cầu là quá trình hiện đại hóa quân đội Việt Nam phải được đẩy mạnh và mang tính hiệu quả. Nhu cầu quốc phòng lớn nhưng mà bạn hàng truyền thống - đó là Nga - hiện tại đang gặp cực kỳ nhiều rắc rối. Trong bối cảnh đó và dưới áp lực phải hiện đại hóa một cách hiệu quả, việc đa dạng hóa nguồn cung vũ khí, tìm tới những đối tác vừa truyền thống, vừa an toàn, vừa bền vững, là một hướng đi tất yếu thì Hàn Quốc nằm trong sự lựa chọn đó. Đọc thêmHàn Quốc : Phát triển công nghiệp quốc phòng để tự vệ ? Điểm thứ hai, tại sao là Hàn Quốc mà không phải là một số quốc gia khác ? Thứ nhất, Hàn Quốc có nền công nghiệp quốc phòng mạnh, hiện nay là quốc gia xuất khẩu vũ khí đứng hàng thứ tư thế giới. Các loại công nghệ quốc phòng của họ được đánh giá tiên tiến hàng đầu thế giới, đặc biệt tại những mảng công nghệ và những mảng vũ khí mà Việt Nam đang cần, ví dụ pháo binh, các loại công nghệ vũ khí phòng không. Đặc biệt là ngành công nghiệp đóng tàu chiến Hàn Quốc. Ngành công nghiệp đóng tàu Hàn Quốc nói chung là gần như số 2, số 3 thế giới, chỉ sau Trung Quốc với Nhật Bản và nhiều khi Hàn Quốc còn cân bằng với Nhật Bản. Đối với Việt Nam, nhu cầu đóng tàu cũng như là nhu cầu về những mặt hàng vũ khí phòng không, không quân ở thời điểm hiện tại là rất cần thiết tại vì Nga đang bị cấm vận. Cho nên việc có một bạn hàng mới giỏi về vấn đề đóng tàu và các loại vũ khí không quân là cần thiết. Và Việt Nam có thể tận dụng điều đó trong mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt-Hàn. Tiếp theo, quan hệ chính trị ngoại giao và quốc phòng giữa Việt Nam với Hàn Quốc khá là sâu rộng và cả hai nước có một niềm tin chiến lược chiến lược nhất định. Nó khác với Mỹ. Ở thời điểm hiện tại, có vẻ Việt Nam không có nhiều lòng tin chiến lược với Mỹ. Cho nên là một số dự án hợp tác quốc phòng tiềm năng giữa Việt Nam và Mỹ đang hơi bị trì hoãn, ví dụ đàm phán mua máy bay vận tải C130 đang bị trì hoãn rất là nhiều bởi vì rất nhiều vấn đề khác nhau. Đọc thêmTriển lãm quốc phòng quốc tế: Việt Nam tìm giải pháp thay thế vũ khí Nga Chưa kể rằng yếu tố ý thức hệ cũng là một trong những điểm khiến cho hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và phương Tây nói chung, cũng như là giữa Việt Nam và Mỹ nói riêng, có một số rào cản lớn. Những điểm đó đối với quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc hầu như rất là nhỏ. Mặc dù là một trong những quốc gia đồng minh của Mỹ nhưng Hàn Quốc nằm trong vùng văn hóa Đông Á. Họ hiểu được cách thức mà chính trị ở các quốc gia Đông Á cũng như Đông Nam Á vận hành. Họ chấp nhận mối quan hệ đó, do vậy niềm tin chiến lược giữa hai bên là có. Bởi vì có niềm tin chiến lược, cho nên những rào cản như Việt Nam đối mặt với Mỹ hay phương Tây nằm ở mức tối thiểu. Do đó nó cho phép Hàn Quốc có thể chuyển giao công nghệ tới Việt Nam, đặc biệt là một số loại công nghệ quân sự nhạy cảm mà không gặp phải nhiều rào cản quá lớn. Trong khi vấn đề dân chủ, nhân quyền hay là những vấn đề liên quan tới rào cản kỹ thuật hoặc là sự cho phép sử dụng vũ khí giữa Việt Nam và Mỹ, lại lớn. Yếu tố niềm tin chiến lược trong chính trị và quân sự chính là một điểm nổi bật khiến cho Hàn Quốc trở thành một trong những đối tác quốc phòng mới của Việt Nam ở thời điểm mà nhu cầu mua sắm vũ khí của Việt Nam là cấp thiết. RFI : Như anh đã đề cập ở trên về năng lực đóng tàu của Hàn Quốc thì Việt Nam cũng có nhu cầu về tàu tuần tra tốc độ cao và tàu ngầm nhỏ để bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông. Liệu đây có phải là một vấn đề tế nhị mà cả Việt Nam và Hàn Quốc cần hết sức chú ý vì đều không muốn khiêu khích Trung Quốc ? Nguyễn Thế Phương : Tác động tới quyết định Việt Nam mua vũ khí của nước nào, thực ra sức ép của Trung Quốc là có. Nhưng yếu tố Trung Quốc không có tác động quyết định tới việc là Việt Nam mua vũ khí, tàu chiến hay là máy bay của bất kỳ nước nào. Những mặt hàng như là tàu tuần tra cỡ nhỏ hoặc là tàu ngầm mini, thực ra Việt Nam đã có thể tự chế tạo được những gam tàu đó. Điều mà Việt Nam cần ở hiện tại và điều mà Hàn Quốc có thể cung cấp là khả năng đóng những gam tàu lớn. Hiện nay tàu chiến lớn nhất của Việt Nam, không tính của cảnh sát biển, dao động tầm 1.200 tới 1.500 tấn. Điều mà Việt Nam cần hiện nay là những tàu chiến cỡ lớn, có khả năng hoạt động biển xa, trang bị các loại vũ khí phòng thủ cũng như tấn công phù hợp, tầm từ 3.000 tới 6.000 tấn. Hiện tại phải nói là Việt Nam chưa có đủ tiềm lực để đóng những cái gam tàu cỡ lớn như vậy. Với ví dụ Philippines cho thấy rằng Hàn Quốc có thể có tiềm năng trong tương lai cung cấp công nghệ, cũng như giúp Việt Nam đóng những gam tàu chiến có độ giãn nước lớn từ 3.000 đến 6.000 tấn. Còn dưới 2.000 tấn thì theo sự tìm hiểu của tôi, ở thời điểm hiện tại Việt Nam có khả năng tự đóng được. Ngay cả một số dự án tàu ngầm mini cỡ từ 1.000 tấn chở xuống thì Việt Nam cũng đã có thể tự đóng. Mặc dù chưa xác định rõ được tính hiệu quả trong tác chiến của các loại vũ khí hải quân đó nhưng về mặt công nghệ thì Việt Nam đã đóng được rồi. Trung Quốc sẽ không ảnh hưởng gì tới quyết định đó bởi vì đó là nhu cầu Việt Nam. Và Trung Quốc cũng hiểu rằng khoảng cách về mặt quyền lực, về mặt quân sự giữa hai bên quá là lớn. Việt Nam mua thêm khoảng một vài tàu cũng không làm thay đổi mấy cán cân quyền lực, chỉ là Việt Nam cải thiện hơn một chút khả năng răn đe về hướng biển. Đọc thêmTriển lãm Quốc phòng : Việt Nam thể hiện “khả năng răn đe”, hướng đến xuất khẩu thiết bị quân sự RFI : Sau 17 năm không hoạt động, Ủy ban hợp tác Quốc phòng và Quân sự Hàn Quốc - Việt Nam đã được khôi phục. Quyết định này mang ý nghĩa như thế nào ? Và Ủy ban sẽ hoạt động như thế nào ? Nguyễn Thế Phương : Ủy ban Hợp tác Quốc phòng Việt Nam Hàn Quốc là một cơ quan làm cầu nối để có thể trao đổi về những nhu cầu, cũng như là những mong muốn của hai bên về hợp tác quốc phòng. Nó sẽ đẩy nhanh quá trình trao đổi thông tin, quá trình ra quyết định chính sách, quá trình tham vấn chính sách giữa hai bên để có được những quyết định phù hợp, không những trong mua sắm vũ khí, khí tài, mà còn trong hợp tác những vấn đề an ninh khác, ví dụ như là những vấn đề phi truyền thống hay là những hợp tác ngoại giao quốc phòng, chia sẻ thông tin… Nói tóm lại, ủy ban này là một cơ chế song phương mang tính kết nối - coordination để hai bên đẩy mạnh hơn nữa hợp tác quốc phòng, vốn dĩ là sắp tới cộng với việc hai bên đã là đối tác chiến lược toàn diện rồi, thì ngoài kinh tế, tài chính, đầu tư - FDI, thì quốc phòng sẽ là một trong những trụ cột mới trong quan hệ hợp tác song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc. RFI Tiếng Việt xin trân thành cảm ơn anh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.
Những tranh cãi xung quanh bức ảnh nổi tiếng “Napalm Girl” ( Em bé Napalm ) đã bùng lên kể từ khi một bộ phim được chiếu tại Mỹ khẳng định tác giả của bức ảnh này không phải là Nick Ut mà là một người khác. Trong suốt 53 năm qua, bức ảnh “Napalm Girl”, còn được biết dưới cái tên "Terror of war" ,vẫn được xem là biểu tượng cho sự tàn khốc của chiến tranh Việt Nam. Bức ảnh được chụp ngày 08/06/1972 tại Trảng Bàng khi máy bay của không quân Việt Nam Cộng Hòa ném bom napalm nhầm mục tiêu vào một thánh thất Cao Đài nơi mà một nhóm phụ nữ và trẻ em lúc đó đang trú ẩn. Trong ảnh, người ta thấy Kim Phúc, một cô bé 9 tuổi, bị bỏng nặng, thân thể lõa lồ vì quần áo bị cháy hết, cùng với một số trẻ em, từ làng Trảng Bàng vừa chạy vừa la khóc đau đớn, hoảng loạn trên quốc lộ, trước khi bất tỉnh và được đưa vào bệnh viện. Chính nhờ bức ảnh này mà ông Nick Ut, một phóng viên nhiếp ảnh trẻ làm việc cho hãng tin Mỹ AP ở Sài Gòn lúc ấy, trở nên nổi tiếng thế giới: Ngay ngày hôm sau “Napalm Girl” được đăng trên trang bìa của New York Times, gây chấn động dư luận quốc tế. Tác giả của bức ảnh ngay năm đó được trao Giải Pulitzer về báo chí. Sang năm 1973, tổ chức World Press Photo ( Giải Báo ảnh Thế giới ) đã trao giải “Bức ảnh của năm” cho “Napalm Girl”. Thế nhưng, ngày 16/05/2025, World Press Photo lại thông báo tạm ngưng ghi tên tác giả của bức ảnh “Napalm Girl” là Nick Ut sau khi một bộ phim tài liệu của đạo diễn Mỹ gốc Việt Bảo Nguyễn tựa đề “The Stringer: The Man Who Took The Photo”, được trình chiếu lần đầu tiên tại Liên hoan phim Sundance ngày 25/01/2025. Các tác giả của bộ phim khẳng định, sau nhiều năm điều tra, thật ra tác giả của bức ảnh ”Napalm Girl” không phải là Nick Ut, mà là ông Nguyễn Thành Nghệ, được giới thiệu là một “nhà báo tự do” (a stringer). Bộ phim dựa trên cuộc điều tra của nhà báo Mỹ Gary Knight về tuyên bố vào năm 2022 của Carl Robinson, một nhân viên của hãng tin AP ở Sài Gòn năm 1972. Theo Robinson, ông đã được Horst Faas, trưởng bộ phận ảnh của AP tại Sài Gòn vào thời điểm đó, ra lệnh phải ghi Nick Ut là tác giả bức ảnh, vì Nick Ut là phóng viên chính thức của hãng tin. Bộ phim phỏng vấn rất nhiều người, trong đó có một số phóng viên có mặt tại Trảng Bàng ngày 08/06/1972, nhưng lại không hỏi hai nhân vật chính trong câu chuyện này là Nick Ut (hiện sống tại Mỹ) và bà Kim Phúc (hiện sống ở Canada). Sau một cuộc điều ra riêng của World Press Photo, giám đốc điều hành World Press Photo, Joumana El Zein Khoury, đưa ra một tuyên bố vào tháng 5: "Mức độ nghi ngờ quá lớn để duy trì việc ghi nhận tên tác giả như hiện tại". Tuy nhiên, World Press Photo cũng không ghi lại tên tác giả bức ảnh. Theo trang mạng PetaPixel, ông Bảo Nguyễn, đạo diễn phim "The Stringer" đã hoan nghênh quyết định của Worlfd Press Photo. Đạo diễn phim đã viết vào tháng 5: "Những phát hiện của họ kết luận rằng, dựa trên các bằng chứng hình ảnh và kỹ thuật hiện có, Nguyễn Thành Nghệ, một nhiếp ảnh gia người Việt Nam lâu nay bị lãng quên, dường như có nhiều khả năng là người chụp bức ảnh này hơn Nick Ut. Việc xem xét lại này một phần được thúc đẩy bởi bằng chứng được trình bày trong "The Stringer", một bộ phim tài liệu điều tra do tôi đạo diễn với sự hợp tác chặt chẽ của một nhóm các nhà báo và đoàn làm phim, nhiều người trong số họ là người Việt Nam.Sự công nhận này có ý nghĩa sâu sắc đối với tất cả chúng tôi, những người tham gia. Nhưng trên hết, nó đại diện cho bước đầu tiên quan trọng trong việc ghi nhận người mà chúng tôi tin là đã thật sự chụp bức ảnh đó: Nguyễn Thành Nghệ. Chúng tôi hy vọng thế giới sẽ biết đến và gọi tên ông ấy". Ông Bảo Nguyễn còn khẳng định rằng "The Stringer" không phải là một bộ phim về Nick Ut, mà là một cuộc khám phá sự thật, ký ức và "gánh nặng thầm lặng của một người đàn ông đã mang trong mình một bí mật hơn năm mươi năm". Ngay sau khi được trình chiếu, bộ phim đã gây tranh cãi rất nhiều trong giới phóng viên nhiếp ảnh quốc tế, nhiều người tin vào những khẳng định trong phim “The Stringer”, nhưng cũng có nhiều người nghi ngờ tính xác thực của bộ phim. Về phần mình, ngay trước khi "The Stringer" được trình chiếu lần đầu tiên, hãng tin AP đã bác bỏ những khẳng định trong bộ phim và đã tiến hành các cuộc điều tra riêng để đi đến kết luận là không có lý do gì để thay đổi tên tác giả của bức ảnh “Napalm Girl”. Ngay sau khi World Press Photo đình chỉ quyền tác giả của Nick Ut cho bức ảnh "Em bé Napalm", ba nhân vậy nguyên là chủ tịch và giám khảo của World Press Photo đã viết một bức thư ngỏ bày tỏ sự thất vọng trước quyết định của tổ chức này và yêu cầu World Press Photo khôi phục quyền tác giả của Nick Ut. Tính đến đầu tháng 6, 400 nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp đã ký vào bức thư đó. Mặc dù không nêu rõ ai là người chụp bức ảnh nổi tiếng “Napalm Girl”, bức thư ngỏ cho là "vẫn chưa có đủ bằng chứng không thể chối cãi" để có thể kết luận đó không phải là ảnh do Nick Ut chụp. Cũng nhằm biểu thị sự ủng hộ đối với Nick Ut trong vụ này, năm nay ban tổ chức Liên hoan Ảnh Báo chí Thế giới "Visa pour l'image" tại thành phố Perpignan của Pháp, mà giám đốc là ông Jean - François Leroy, ngay từ tháng 5 đã mời ông đến dự. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 02/09/2025 tại Perpignan nhân Liên hoan Visa pour l'image, ông Nick Ut cho biết: “Họ đã mời tôi cách đây mấy tháng rồi. Nhân dịp này tôi vừa tới thì gặp ông Jean - François Leroy hôm qua. Ông rất mừng khi gặp lại tôi và ông nói: “Chúng tôi ủng hộ Nick Ut trong vụ bức hình Em bé Napalm”. Họ rất là phản đối, bởi vì bức ảnh “Em bé Napalm” đã từng được nói rất nhiều tại Pháp, nhất là tờ báo Paris Match đã từng sử dụng bức hình này rất nhiều. Cách đây ba mươi mấy năm, Visa pour l'image cũng đã từng mời tôi tới đây và tôi đã gặp những phóng viên nổi tiếng, họ luôn luôn ủng hộ tôi. Khi bức hình đó được làm thành phim “The Stringer”, họ rất bực tức và phản đối luôn cả World Press rất nhiều. Cách đây hơn một năm tôi đã nghe câu chuyện đó. Sau đó phim thành hình là phim “The Stringer”. Tôi cũng đã coi phim đó rồi. Phim hoàn toàn là không đúng sự thật, bởi vì họ nói ảnh đó là tôi lấy của một người làm cho NBC. Thật ra ông ấy không phải là nhà báo, mà là một tài xế được mướn mấy tiếng đồng hồ một ngày thôi. Báo chí Việt ngữ nói ông ấy là một nhà báo làm cho đài truyền hình là không đúng sự thật, tại vì tất cả những người Việt Nam làm cho báo Mỹ trong thời chiến tranh tôi đều biết hết. Tôi được người bạn từ bên Úc gọi tôi một cái message ( tin nhắn ) nói rằng ông Nghệ không có làm báo gì hết. Ông ấy đi du học ở tại Mỹ năm 63 vào thời ông Diệm, học một khóa học về truyền hình tại New Jersey, nhưng thật sự là học làm tình báo. Khi trở về Việt Nam, ông là sĩ quan Việt Nam dưới chính quyền Sài Gòn, chuyên đi khai thác tù binh. Vào ngày 08/06/1972 ở Trảng Bàng, ông ấy đứng nhìn vào máy hình để bắt những tù binh của Cộng sản về điều tra. Người bạn tôi cho biết là trước khi mất nước năm 75, ông Nghệ đã được tòa đại sứ Mỹ đưa đi trước một tháng. Chỉ có những người nhân viên mật vụ của Mỹ mới được đi sớm. Ông này chưa làm nhà báo bao giờ! Ông chỉ là một tài xế lái xe chở những người của đài truyền hình cameraman, soundman đi Trảng Bàng hôm đó. Tôi cũng không ngờ 53 năm bây giờ mới đem câu chuyện này ra. Những người làm trong AP với tôi tại sao năm mươi mấy năm trước không tố cáo, đợi bây giờ mới tố cáo chuyện này? Trong lúc những người làm việc của AP tới nay vẫn còn tố cáo ông Robinson. Họ nói: "Anh em làm việc chung với mà tại sao ông lại nói Nick Ut như vậy?" Vào dịp kỷ niệm 50 năm ( chấm dứt chiến tranh Việt Nam ), cũng có một cô giám đốc của AP tới dự lễ ở Sài Gòn. Cô đã nói thẳng với ông Carl Robinson: "Nick Ut có làm gì ông đâu mà ông tố cáo ông ấy ăn cắp hình này kia?" Ông không trả lời gì hết. Trong bộ phim, họ khẳng định là khi xảy ra vụ ném bom ở Trảng Bàng, từ cái góc đang đứng thì ông không thể chụp được bức hình "Em bé Napalm" nổi tiếng đó. Một người phóng viên thì không phải đứng một chỗ, tôi phải chạy cùng hết. Khi thấy bom nổ, tôi chụp bằng ( ống kính ) tele ( chụp từ xa ). Sau khi cô Kim Phúc bắt đầu chạy ra với mấy đứa em cùng với quân đội Việt Nam Cộng Hòa thì tôi chạy tới chụp hình đó, rồi tôi chạy thụt lùi lại. Tôi chạy cùng hết, bởi vì tôi biết là Kim Phúc sẽ tới chỗ nào để mà ngừng lại Những hình ảnh đó sẽ được chiếu thứ sáu tuần này ( 05/09/2025 ) tại Visa pour l'image, hàng chục tấm hình tôi đều có. Ông tài xế ông nói ông có một bức hình mà hình của ông ấy bây giờ ở đâu, phim của ông ấy đâu? Không bằng chứng gì hết! Lúc tôi về hãng AP để tráng phim, tôi không phải là người tráng phim, mà do một người Nhật tráng phim thành ảnh. Lúc đó tôi rất là bận với phỏng vấn của hãng AP và sau đó tôi đi về để đợi quay trở lại Trảng Bàng sáng sớm hôm sau cùng với ông giám đốc của tôi và một người reporter. Ngày hôm sau, tôi tới đó khoảng 8 giờ sáng thì gặp bố mẹ Kim Phúc đang chạy trên quốc lộ đi tìm con. Tôi chụp hình cha mẹ đang chạy đi tìm thì tôi mới hỏi: “ Bà kiếm ai?” Bà nói là đang tìm một đứa con gái mà hôm qua đến nay không có tin tức". "Con tên gì?" "Tên là Kim Phúc". "Con bà tôi đã đưa bệnh viện rồi, không biết còn sống hay chết, bởi vì cô đã bị cháy phỏng hết rồi". Hai vợ chồng nhảy lên xe đò chạy về Củ Chi để vô thăm con. Bức hình quá nổi tiếng, cho nên Kim Phúc chỉ nằm trong bệnh viện có mấy tiếng đồng hồ thì được đưa về bệnh viện Sài Gòn ngay. Sau khi bức hình được đăng lên báo trên toàn thế giới, chính phủ Mỹ yêu cầu tất cả bác sĩ cố cứu sống Kim Phúc. Lúc đưa vô bệnh viện thì họ nghĩ là Kim Phúc sẽ chết, nên để cô nằm chung với mấy người đã chết rồi. Khi thấy cô còn tỉnh họ mới đưa về bệnh viện Sài Gòn cứu cấp . Những nhân chứng của tôi trong trận Trảng Bàng mà còn sống thì bây giờ có ông Dave Burnett và những người phóng viên đã làm cho báo New York Times. Họ đã lên tiếng rất nhiều. Thế còn cô Kim Phúc, "Em bé Napalm" trong bức ảnh, có đã lên tiếng về vụ này chưa? Cô đã lên tiếng rất nhiều. Cô khóc và nói: “Tại sao chú tôi chụp hình tôi và đưa tôi vô bệnh viện mấy chục năm nay không ai nói về bức hình đó, tại sao bây giờ tố cáo chú Nick Ut của tôi?” Cô đã đưa lên Facebook hết rồi chứng nhận "chú tôi đã chụp hình và đưa tôi đi bệnh viện. Đã mấy chục năm chú tôi lúc nào cũng gọi điện thoại thăm mỗi tuần”. Tôi sẽ gặp lại cô Kim Phúc tại Washington ngày 09/09. Về quyết định của World Press Photo liên quan đến tác giả bức ảnh "Napalm Girl" này thì ông có nhận định như thế nào? Thật ra tôi không có bao giờ để ý chuyện đó, bởi vì hình đó là của AP. Là một hãng lớn nhất thế giới, AP lúc nào cũng ủng hộ, họ đã tuyên bố đã đi điều tra lâu lắm rồi. Sau khi nghe tin về vụ làm phim họ đã phỏng vấn tôi trong một ngày. Sau đó họ đưa tin đến tất cả các hãng thông tấn nước ngoài để nói hình đó là của Nick Ut và AP vẫn ủng hộ tôi. Khi làm phim The Stringer, họ không hề phỏng vấn tôi về chuyện này. Diễn viên Đỗ Yến ở thành phố Hồ Chí Minh, là bạn thân tôi của tôi, đã có mời Bảo Nguyễn tới một bữa cơm cùng nhiều đạo diễn Việt Nam. Thật sự tôi lúc tôi không quen biết (những người đó ), tôi chỉ ngồi nói chuyện, chào hỏi sơ qua. Tôi không ngờ những người đó đã âm thầm làm phim về tôi. Như vậy sắp tới đây ông sẽ có những hành động gì để chống lại những khẳng định đó? Bây giờ tôi có hai luật sư. Luật sư của tôi bên Mỹ và luật sư tại Paris. Họ sẽ đưa bộ phim ra tòa, hy vọng là phim này sẽ bị hủy bỏ. Đạo diễn phải rút lại bộ phim đó. Bởi vì người bỏ tiền ra làm phim đó là ông Gary Knight. Chúng tôi đã làm việc với nhau tại Hà Nội cách đây ba năm. Tôi không ngờ người bạn mà tôi mới biết đây tự nhiên đi làm phim để tố cáo tôi. Trả lời qua email trong cuộc trả lời phỏng vấn độc quyền với BBC ngày 17/5, ông Nguyễn Thành Nghệ đã khẳng định ông không phải là lái xe làm việc cho đài NBC mà là một phóng viên tự do, đi cùng anh rể là Trần Văn Thân, người làm việc cho NBC. Vào ngày 8/6/1972, NBC khi ấy đang không có tài xế trong khi ông có bằng lái nên đã tình nguyện chở nhóm phóng viên đến hiện trường và hôm đó ông mang theo duy nhất một chiếc máy ảnh Pentax. Thật ra, chính hãng tin AP cũng đã nhìn nhận "cuộc điều tra của chúng tôi đặt ra những câu hỏi quan trọng mà có thể chúng tôi sẽ không bao giờ có thể trả lời được", "hơn năm mươi năm đã trôi qua, nhiều người liên quan đã qua đời, và công nghệ có giới hạn của nó". Theo hãng thông tấn Mỹ, "có nhiều khả năng" là bức ảnh được chụp bằng máy ảnh Pentax, trong khi Nick Ut đã tuyên bố trong một số cuộc phỏng vấn rằng ông sử dụng hai máy ảnh Leica và hai máy ảnh Nikon vào hôm đó. AP cho biết thêm: "Câu chuyện là Ut đã chụp bức ảnh bằng máy ảnh Leica. Cuộc điều tra của AP cho thấy điều đó rất khó xảy ra. Nhưng Nick Ut cũng sử dụng các máy ảnh khác, bao gồm cả máy ảnh Pentax thừa hưởng từ người anh trai quá cố của ông". Tranh cãi có thể sẽ còn kéo dài, nhất là vì, theo thông báo của các nhà sản xuất và đạo diễn, hãng Netflix vừa mua lại bộ phim "The Stringer" và sẽ chiếu trên nền tảng của họ trong năm nay. Tuy nhiên, Netflix hiện chưa đưa ra thông báo chính thức về vụ này.
Thuế đối ứng 20% của Hoa Kỳ đối với hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ đã bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 07/08/2025. Thật ra, theo bộ Công Thương, trong thời gian tới, Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục đàm phán về thỏa thuận “thương mại đối ứng” và Hà Nội vẫn hy vọng sẽ được hưởng một mức thuế thấp hơn. Trước mắt, một số các chuyên gia nhận định mức thuế 20% cho hàng hóa Việt Nam là cao hơn so với một số nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Cam Bốt, Indonesia, Malaysia, Philippines (19%), nhưng đây vẫn là mức thuế "tương đối phù hợp" trong bối cảnh Việt Nam là nước đứng đầu Đông Nam Á về xuất khẩu vào Hoa Kỳ và có mức thặng dư thương mại lớn thứ tư với Hoa Kỳ. Tuy vậy, theo chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại từ Hà Nội, mức thuế 20% vẫn bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam: “Mức thuế 20% này là vẫn rất bất lợi so với một số nước khác được mức thuế 19% hay là 15%, cho nên nó ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các hàng hóa Việt Nam và kết quả là xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã chậm lại và giảm sút khoảng hơn 20%.Theo tôi, những mặt hàng bị tác động bao gồm may mặc, da giày và kể cả một số mặt hàng đồ gỗ. Nếu như tình hình tiếp tục như thế này, các nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ phải tìm cách đa dạng hóa các thị trường và tìm các biện pháp để có thể tiếp tục duy trì sản xuất và xuất khẩu của mình và tìm cách né tránh thuế 20% này. Hiện nay Việt Nam đang cố gắng tìm cách mở rộng thị trường ở Trung Đông và tìm kiếm những thị trường ở Châu Phi, đồng thời muốn phát triển những thị trường khác tuy nhỏ nhưng hy vọng là sẽ vẫn có thể đón nhận được hàng hóa của Việt Nam một cách thuận lợi. Tình hình đó đối với sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam, nhất là đối với những doanh nghiệp trung bình và nhỏ, đang gây khá nhiều khó khăn. Những doanh nghiệp đó chắc là sẽ phải tìm cách kết nối với các doanh nghiệp lớn hơn, để có thể tiếp tục tồn tại. Có nghĩa là họ có lẽ sẽ phải, nhiều hay ít, thay đổi sản phẩm của họ và tìm kiếm những đối tác mới.” Riêng về thủy sản, một trong những mặt hàng chủ yếu xuất khẩu sang Hoa Kỳ, theo dự báo của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), do mức thuế đối ứng 20% của Hoa Kỳ, tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam năm 2025 sẽ chỉ là khoảng 9 tỷ đôla, giảm gần 10% so với năm 2024. Nhưng vấn đề lớn hơn, có thể ảnh hưởng đến cả đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đó là mức thuế 40% mà chính quyền Trum áp dụng đối với những hàng hóa “trung chuyển”, chủ yếu là hàng có nguyên liệu, linh kiện từ Trung Quốc nhưng được sản xuất ở Việt Nam để được dán nhãn, nhằm né thuế quan của Mỹ. Chỉ có điều cho tới nay phía Mỹ vẫn chưa đưa ra một định nghĩa rõ ràng thế nào là hàng “trung chuyển”. Chuyên gia Lê Đăng Doanh giải thích: “Hiện nay, thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kỳ và thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc. Mỹ xem xét những mặt hàng gọi là “trung chuyển” dựa trên tỷ lệ giá trị gia tăng của sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam. Nếu như Việt Nam cố gắng gia tăng được tỷ lệ đó, để các hàng hóa đó không còn bị xem là hàng hóa trung chuyển, mà là hàng hóa sản xuất tại Việt Nam, thì có thể giảm được mức thuế 40% này. Còn mức thuế 40% này rất bất lợi đối với hàng hóa của Việt Nam bị gọi là trung chuyển. Rất nhiều sản phẩm của các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào Việt Nam nhưng lại nhập khẩu các linh kiện từ các nhà sản xuất cũng của hãng ấy tại Trung Quốc, mà những đầu tư của họ vào Trung Quốc thì có quy mô rất lớn. Vì vậy, ví dụ như trong một điện thoại của hãng Samsung sản xuất tại Việt Nam, tỷ lệ phụ thuộc vào các linh kiện nhập khẩu từ cơ sở của Samsung ở Trung Quốc là không nhỏ. Cho nên vấn đề ở đây là phải hợp tác với các nhà đầu tư, với các nhà xuất khẩu, để nâng cao tỷ lệ sản xuất tại Việt Nam, nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng trong các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam, kể cả các sản phẩm gọi là “made in Việt Nam” nhưng tỷ lệ giá trị gia tăng thì còn tương đối thấp và rất có thể sẽ bị Mỹ xếp vào loại hàng trung chuyển và chịu mức thuế cao. Mức thuế này dĩ nhiên là một tín hiệu rất là quan trọng. Các nhà đầu tư nước ngoài, cũng như các nhà xuất khẩu của Việt Nam đang phải xem xét các phương án đa dạng hóa những nguồn linh kiện và sản phẩm, để có thể giảm bớt việc chịu thuế trung chuyển 40% này. Biện pháp quan trọng nhất là nâng cao chất lượng của các doanh nghiệp hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài, các nhà xuất khẩu nước ngoài. Chúng ta phải tiến tới một trình độ công nghệ cao hơn, một trình độ chất lượng sản phẩm cao hơn và có những nguồn nhân lực chất lượng cao hơn, am hiểu về chuyển đổi số, về thị trường nước ngoài. Với nỗ lực đa dạng như vậy, tôi hy vọng là Việt Nam trong một thời gian nhất định sẽ cố gắng vươn lên để giảm bớt tỷ lệ những mặt hàng bị xếp là trung chuyển.” Trang mạng Luật Khoa tạp chí ngày 12/08 ghi nhận: “Sự mơ hồ của chính sách thuế quan mới từ Mỹ, khi chưa có định nghĩa rõ ràng về dạng hàng hóa “trung chuyển” cũng khiến các doanh nghiệp FDI ( đầu tư nước ngoài ) lo ngại và phải tìm những giải pháp phòng ngừa từ xa. Một số doanh nghiệp đã bắt đầu lựa chọn phương thức thu hẹp quy mô sản xuất. Một số khác lại dần di chuyển chuỗi cung ứng ra khỏi Việt Nam. Những điều này đã phơi bày những điểm yếu trong cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam, cho thấy nền kinh tế Việt Nam đặc biệt dễ bị tổn thương trước những biến động của chính sách thương mại toàn cầu.” Tác giả bài viết giải thích: “Việt Nam là nền kinh tế phụ thuộc hơn 70% giá trị xuất khẩu vào các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI). Chưa kể là ngành sản xuất trong nước phải lệ thuộc phần lớn nguồn nguyên liệu nhập khẩu, mà trong đó khoảng 80% đến từ Trung Quốc. Trong khi đó, tỷ lệ hàng thực sự đạt tiêu chí nội địa hóa, tức là do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ hoàn toàn công nghệ và dây chuyền sản xuất, chỉ dừng lại ở mức 5 – 10% trong giá trị hàng hóa xuất khẩu. Do vậy, nếu hàng hóa trung chuyển được hiểu là những hàng hóa do doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn làm chủ quá trình sản xuất, thì hầu như hàng Việt Nam xuất đi các nước, không riêng gì Mỹ, chỉ là hàng trung chuyển. Tính không rõ ràng trong cách định nghĩa hàng hóa “transshipment” của Mỹ đang làm tê liệt quá trình ra quyết định của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Hay nói khác đi, trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực nâng cấp chuỗi giá trị và thu hút các dự án FDI chất lượng cao, sự mơ hồ trong chính sách thương mại của Mỹ có thể trở thành một rào cản không hề nhỏ.” Thế nhưng, thuế “trung chuyển” của chính quyền Trump hiện giờ có vẻ không ảnh gì đến đầu tư của Trung Quốc ở Việt Nam, theo ghi nhận của hãng tin Bloomberg. Trong khi Trung Quốc phải đối mặt với mức thuế khoảng 55%, Việt Nam, chịu mức thuế 20%, vẫn được xem là tương đối an toàn. Nhà phân tích Steven Tseng của Bloomberg Intelligence cho biết: "Việt Nam vẫn đang ở vị thế tương đối thuận lợi. Mặc dù mức thuế 20% không phải là mức thấp nhất, nhưng nó không nhất thiết làm giảm khả năng cạnh tranh do Việt Nam có lợi thế về chi phí, cơ sở công nghiệp đã được thiết lập và có vị trí địa lý gần Trung Quốc. Việc các nhà sản xuất Trung Quốc chuyển sang Việt Nam vẫn là điều hợp lý." Hãng tin Bloomberg nhắc lại: Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Theo số liệu của chính phủ Việt Nam, đầu tư từ Trung Quốc và Hồng Kông trong nửa đầu năm nay đã tăng 23% so với cùng kỳ năm ngoái, lên 3,6 tỷ đô la. Trong quý II, sau khi tổng thống Trump công bố mức thuế quan đối với thế giới, con số này đã tăng 24% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, các quan chức tại Hà Nội cũng thừa nhận rằng thuế quan có thể ảnh hưởng nặng nề đến xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ, và ngành công nghệ đặc biệt dễ bị tổn thương. Theo một đánh giá nội bộ của chính phủ ngày 11/0 7, lượng hàng xuất khẩu sang Mỹ có thể giảm tới một phần ba và xuất khẩu công nghệ có thể giảm khoảng 15 tỷ đôla.
Ngày 01/08/2025, cùng ngày Mỹ công bố mức thuế đối ứng đối với 69 quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt Nam và Liên Hiệp Châu Âu kỷ niệm tròn 5 năm Hiệp định Tự do Thương mại - EVFTA - có hiệu lực. Hoa Kỳ luôn là thị trường lớn nhất cho cả hai bên, nhưng những mức thuế quan do tổng thống Donald Trump áp đặt buộc các đối tác, trong đó có Việt Nam và Liên Hiệp Châu Âu, phải đa dạng hóa thị trường, giảm bớt phụ thuộc xuất khẩu sang Mỹ. Mức thuế đối ứng áp dụng cho Việt Nam, từ 46% xuống còn 20%, đã có hiệu lực từ ngày 07/08. Theo tính toán của nhóm nghiên cứu Ban Tài Khoản Quốc Gia, được ông Lê Trung Hiếu, phó cục trưởng Cục Thống Kê (Bộ Tài Chính) trích dẫn (1), mức thuế 20% này sẽ tác động làm giảm 11-12 tỷ đô la trị giá hàng xuất khẩu vào Mỹ (tương đương khoảng 9-10% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa). Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Điều này được tái khẳng định qua số liệu thống kê hải quan Mỹ trong 5 tháng đầu năm 2025 : Trao đổi thương mại song phương đạt 77,4 tỷ đô la, tăng 36,5% so với cùng kỳ năm 2024. Đối với Liên Hiệp Châu Âu, Việt Nam là đối tác thương mại hàng đầu ở ASEAN và là đối tác đứng thứ 16 trên toàn cầu, với tổng kim ngạch thương mại song phương tích lũy gần 300 tỷ đô la trong 5 năm hiệp định EVFTA có hiệu lực (2). Cùng chịu sức ép về thuế quan của Mỹ, Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam có thể tận dụng Hiệp định Thương mại Tự do - EVFTA như thế nào ? Ông Jean-Jacques Bouflet, phó chủ tịch Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam - EuroCham, trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 08/08/2025. RFI : Bộ Công Thương Việt Nam đã công bố mức thuế 20% mà Hoa Kỳ áp dụng đối với hàng hóa Việt Nam. Xin ông cho biết phản ứng của EuroCham và các thành viên ? Liệu đây có phải là một bất lợi cho Việt Nam, trong bối cảnh cạnh tranh với các nước láng giềng ASEAN (chịu mức thuế 19%) đang rất căng thẳng ? Jean-Jacques Bouflet : Đúng là có phần nhẹ nhõm vì mức thuế đó xa với mức 46% được công bố ban đầu. Nhưng rõ ràng đây là một bất lợi. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất, đó là mức độ cạnh tranh tương đối với các nước láng giềng trong khu vực. Chênh lệch 20%, 19%, không thực sự đáng kể, và tôi nghĩ Việt Nam có nhiều biên độ cạnh tranh và năng suất cho phép vượt qua bất lợi này. Dù sao thì đó vẫn là một bất lợi, nhưng tôi không nghĩ là sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho xuất khẩu, trong khi mức thuế 46% có lẽ sẽ gây bất lợi lớn cho hoạt động sản xuất. Tôi nghĩ là Việt Nam sẽ có thể đối phó được. Đọc thêmViệt Nam sẵn sàng nhập thêm nông sản Mỹ để đối phó với chính sách thuế quan mới của TT Trump RFI : Tháng 04, khi tổng thống Mỹ thông báo mức thuế đối ứng 46% đối với Việt Nam, EuroCham tiến hành một cuộc thăm dò, theo đó 25% các công ty châu Âu hoạt động tại Việt Nam cảm thấy hoạt động kinh doanh của họ bị đe dọa và 20% dự đoán doanh thu sẽ giảm. Mức thuế hiện tại là 20% sẽ tác động đến các doanh nghiệp này như thế nào ? Jean-Jacques Bouflet : Đúng vậy. Mức thuế 46% sẽ rất khó khăn. 20% thì khả thi. Tuy nhiên, tôi muốn lưu ý là có hai mức thuế khác nhau. Mức thuế 20% được áp dụng cho các sản phẩm có nguồn gốc Việt Nam. Ngoài ra còn có mức thuế 40% nổi tiếng, mà Mỹ gọi là “trung chuyển” (transshipment). Theo thuật ngữ hải quan Hoa Kỳ, “trung chuyển” không chỉ đơn giản là dỡ hàng từ một phương tiện vận chuyển hay từ một hình thức vận chuyển này sang một phương tiện hoặc hình thức vận chuyển khác, mà chủ yếu là sự thay đổi nguồn gốc ở nước cuối cùng. Nói cách khác, nếu quyết định đánh thuế hàng “trung chuyển” được sử dụng để áp đặt một hàm lượng nội địa tối thiểu đáng kể, thì có nghĩa là để ngăn chặn nhập khẩu nguyên liệu từ các nước thứ ba, ý tôi muốn nói ở đây là Trung Quốc chẳng hạn. Đọc thêmBị Mỹ đánh thuế 46% : Việt Nam trả giá vì làm “sân sau” cho Trung Quốc ? Việc này có lẽ sẽ là một vấn đề lớn đối với phần lớn lĩnh vực sản xuất của Việt Nam. Tôi lấy ví dụ về ngành dệt may ở Việt Nam, một phần rất lớn vải vóc là được nhập khẩu từ Trung Quốc. Vì vậy, mức thuế 40% đánh vào hàng “trung chuyển” này sẽ mang tính quyết định cho khả năng tiếp tục phát triển của ngành công nghiệp ở Việt Nam, bởi vì hiện tại, Việt Nam không thể bảo đảm sản xuất được 100% hoặc 80% sản lượng nội địa, có thể là trừ sản xuất nông nghiệp. RFI : Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam có Quy định Xuất xứ. Các doanh nghiệp châu Âu cũng gặp vấn đề tương tự. Tuy nhiên quy định về xuất xứ của Mỹ sẽ tác động như thế nào đến hoạt động của các doanh nghiệp châu Âu ở Việt Nam ? Jean-Jacques Bouflet : Trong khuôn khổ EVFTA, chúng tôi có các tiêu chuẩn quy tắc xuất xứ quy ước, xuất phát từ Tổ Chức Thương Mại Thế Giới - OMC/WTO và đã được đàm phán trong khuôn khổ này. Đúng là việc ngành công nghiệp Việt Nam không hoàn toàn tự chủ, và kết hợp một số lượng nguyên vật liệu đầu vào nhất định từ các nước thứ ba, đặc biệt là từ Trung Quốc, tạo ra một khó khăn, nhưng không phải là không thể vượt qua được. Vấn đề ở chỗ là với định nghĩa mới về “trung chuyển” - chúng ta hãy thử thử hình dung là sắp tới Mỹ yêu cầu 40% giá trị gia tăng (nguyên vật liệu đầu vào của hàng hóa) phải thuộc về nội địa, thì Việt Nam sẽ rất khó xuất khẩu hàng dệt may hoặc giày dép. Điều này hơi khác một chút trong khuôn khổ trao đổi với Liên Hiệp Châu Âu, bởi vì chúng tôi có các quy tắc của OMC. Đó là những quy tắc được đàm phán trong khuôn khổ của hiệp định song phương và đã được ghi nhận, đàm phán, do đó có thể dự đoán được, trong khi ở đây (với Mỹ), không ai biết điều gì sẽ xảy ra. Hơn nữa, chúng ta thấy là chưa bên nào thông tin về chủ đề này. Có tin đồn rằng đàn anh Trung Quốc không mấy hài lòng và đó là một trong những lý do tại sao thỏa thuận vẫn chưa được công bố đầy đủ chi tiết, đặc biệt là về khía cạnh hàng “trung chuyển” - điều sẽ rất quan trọng đối với quá trình chuyển đổi sản xuất tại Việt Nam. Đọc thêmQuan hệ Việt-Trung trong cơn bão thuế quan Mỹ RFI : Trong khi các hành động của Hoa Kỳ đang hướng tới chiến lược thương mại đơn phương hơn, các hiệp định thương mại tự do chiếm ưu thế như thế nào, ví dụ hiệp định EVFTA giữa Liên Hiệp Châu Âu-Việt Nam ? Jean-Jacques Bouflet : Câu trả lời đã nằm trong câu hỏi. Như tôi đã đề cập, các hiệp định thương mại tự do thiết lập một khuôn khổ tin cậy, hợp lý và trên hết là có thể dự đoán được, cho phép đầu tư. Đừng quên rằng để phát triển sản xuất, cần đầu tư trong 2 hoặc 3 năm. Điều này không thể xảy ra trong một sớm một chiều, và ông Trump sẽ phải chấp nhận điều này. Chiến lược được gọi là “đơn phương” của Mỹ, trước tiên là không thể đoán trước được, đó là điều rất tệ cho đầu tư, cho việc xây dựng hoặc di dời chuỗi giá trị. Tôi nghĩ rằng các khuôn khổ ổn định và có thể dự đoán được, chẳng hạn như các hiệp định thương mại tự do, sẽ mang lại sự bền vững và đảm bảo tính lâu dài. RFI : Làm thế nào các công ty và nhà đầu tư châu Âu, hợp tác với các đối tác Việt Nam, có thể khai thác EVFTA sau 5 năm có hiệu lực để bù đắp những khó khăn do thuế quan của Mỹ gây ra ? Jean-Jacques Bouflet : Đầu tiên là phải có các điều kiện cạnh tranh công bằng. Tôi xin nhắc lại rằng Liên Hiệp Châu Âu đã chấp nhận sự bất đối xứng trong việc thực hiện EVFTA, vì Việt Nam là một quốc gia đang phát triển. Việt Nam có 10 năm để đạt được thương mại tự do hoàn toàn. Họ vẫn còn 5 năm nữa. Và có một số hàng hóa vẫn còn thuế quan đáng kể, mặc dù chúng đã bắt đầu giảm đáng kể. Nhưng vẫn còn những loại thuế, ví dụ như đối với ô tô. Tất nhiên, ô tô do Liên Hiệp Châu Âu xuất khẩu sẽ có thuế quan bằng 0 sau 9 hoặc 10 năm. Thử tưởng tượng rằng ô tô của Mỹ sẽ có thuế quan bằng 0 vào tháng 10 hoặc ngày 01/01/2026. Nếu như vậy, các điều kiện cạnh tranh sẽ không hoàn toàn công bằng, cho nên sẽ phải xem Liên Âu phản ứng như thế nào. Tôi xin nhắc lại rằng trong số các quy tắc của OMC, có một quy tắc được gọi là điều khoản tối huệ quốc và Hoa Kỳ đã nhận được những lợi thế về thuế quan ưu đãi và phân biệt đối xử. Nếu chúng không được ghi trong khổ một hiệp định thương mại tự do, thì về lý thuyết, những nước dành ưu đãi thuế quan đơn phương này cho Mỹ cũng phải mở rộng những ưu đãi đó cho tất cả các thành viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Cho nên, chúng ta cùng chờ xem. Ủy viên châu Âu Sefcovic sẽ đến Việt Nam và chúng tôi sẽ hỏi ông ấy về cách ông ấy dự định khôi phục các điều kiện cạnh tranh công bằng, đặc biệt liên quan đến các đối thủ cạnh tranh có lợi thế về thuế quan ưu đãi nằm ngoài khuôn khổ pháp lý của các hiệp định thương mại tự do của OMC. RFI : Việt Nam thấy không còn lựa chọn nào khác ngoài việc mở rộng các thị trường và tận dụng tốt hơn các hiệp định thương mại tự do. Liên Âu có thể giúp Việt Nam cải thiện năng lực cạnh tranh như thế nào ? Jean-Jacques Bouflet : Dĩ nhiên là bằng việc áp dụng hiệp định thương mại tự do. Như tôi đã nói, hiệp định thương mại tự do là một khuôn khổ ổn định và có thể dự đoán được, có thể tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư. Dĩ nhiên thuế quan đóng một vai trò then chốt, nhưng vấn đề cốt lõi vẫn là năng lực cạnh tranh quốc tế. Và để làm được điều đó, Việt Nam cần cải thiện chất lượng sản xuất, thu hút đầu tư và tiếp thu bí quyết để có thể hy vọng tìm kiếm thị trường mới. Đọc thêmEuroCham : Tinh giản hành chính nhưng cần nhanh, hiệu quả để Việt Nam tăng hấp lực Dĩ nhiên là với tình hình Mỹ hiện nay, có một sự bất ổn và khó lường nhất định, cho nên Việt Nam vừa phải có chiến lược đa dạng hóa, vừa phải tăng cường trao đổi thương mại với các quốc gia có một khuôn khổ trao đổi thương mại ổn định và có thể dự đoán được, tức là những nước có hiệp định thương mại tự do. Về năng lực cạnh tranh, như tôi đã nói, đó là đầu tư. Ở điểm này, Việt Nam vẫn còn một số việc phải làm để điều chỉnh chính sách của mình. Họ đã bắt đầu thực hiện cải cách, hiện giờ chủ yếu là ở cấp độ hành chính. Nhưng họ phải tiếp tục mở cửa cho thương mại quốc tế, cho nước ngoài. Cách tốt nhất để cải thiện năng lực cạnh tranh của mình là tự mình đối mặt với cạnh tranh quốc tế. Và đó là điều Việt Nam cần hiểu. Việt Nam cũng phải tự do hóa chính sách nhập khẩu, chính sách đầu tư để trở thành một nhân tố chủ chốt trong chuỗi giá trị toàn cầu của thương mại thế giới. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn ông Jean-Jacques Bouflet, phó chủ tịch EuroCham tại Việt Nam, phụ trách vận động chính sách. (1) Tri Thức - Znews, ngày 06/08/2025. (2) EuroCham, Thông cáo báo chí "EVFTA tròn 5 tuổi".
Vào lúc đang tìm cách ứng phó với cuộc chiến thuế quan của Hoa Kỳ, Việt Nam thắt chặt quan hệ quân sự với Trung Quốc. Theo tin báo chí Việt Nam, ngày 22/07/2025, lực lượng lục quân của Việt Nam và Trung Quốc đã khai mạc đợt Huấn luyện “Chung tay đồng hành - 2025” tại Quảng Tây, một tỉnh nằm ở vùng biên giới Việt-Trung. Đây là lần đầu tiên lục quân Việt Nam và Trung Quốc tổ chức thao dượt chung, theo dự kiến sẽ kéo dài đến 30/07. Theo thông báo của bộ Quốc Phòng Trung Quốc, đợt huấn luyện này “nhằm tăng cường học hỏi lẫn nhau và trao đổi kinh nghiệm công tác biên giới, đồng thời làm sâu sắc hơn nữa hợp tác thực tiễn giữa quân đội hai nước”. Theo nhận định của nhật báo Hồng Kông South China Morning Post ngày 20/07, đây là dấu hiệu cho thấy quan hệ quân sự giữa hai nước láng giềng đang ngày càng chặt chẽ trong những tháng gần đây bất chấp các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ. South China Morning Post nhắc lại, về mặt kinh tế, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và là nhà cung cấp quan trọng cho ngành sản xuất của Việt Nam. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đến thăm Việt Nam vào tháng 4, vài ngày sau khi tổng thống Mỹ Donald Trump phát động cuộc chiến thuế quan với toàn cầu. Tại Hà Nội, ông Tập Cận Bình đã kêu gọi các nước láng giềng châu Á hợp tác để "chống lại hành vi bắt nạt đơn phương". Hợp tác quốc phòng đã trở nên chặt chẽ hơn giữa hai nước trong năm nay, đánh dấu kỷ niệm 75 năm quan hệ ngoại giao, được thể hiện qua việc lần đầu tiên quân đội Trung Quốc được mời tham gia diễu binh tại Sài Gòn kỷ niệm 50 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam. Cũng trong tháng 4, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Đổng Tuấn đã đến thăm miền Bắc Việt Nam và gặp người đồng cấp Việt Nam Phan Văn Giang, với cam kết tăng cường hợp tác quốc phòng của cả hai bên. Tháng 7 năm ngoái, Lực lượng Cảnh sát Vũ trang Trung Quốc và Lực lượng Cảnh sát Cơ động Việt Nam đã tiến hành các cuộc thao dượt chống khủng bố chung tại Quảng Tây. Mỹ, đối thủ thương mại chung Hợp tác song phương về quốc phòng và an ninh đã được đẩy mạnh cho dù hai bên cũng đang tăng cường nỗ lực khẳng định các yêu sách lãnh thổ chồng lấn của mình ở Biển Đông, nơi Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền gần như toàn bộ. Kể từ năm 2021, Việt Nam đã âm thầm nhưng đều đặn đẩy mạnh các hoạt động xây dựng đảo tại quần đảo Trường Sa. Nhưng Bắc Kinh nói chung vẫn kiềm chế, không chỉ trích công khai Hà Nội. Lý do có lẽ là vì cả hai nước đều đang tập trung đối phó với đối thủ chung về mặt thương mại, đó là Hoa Kỳ. Về phía Bắc Kinh, trong tuần này sẽ diễn ra vòng đàm phán thương mại song phương mới giữa Trung Quốc với Mỹ tại Thụy Điển vào lúc hai nước đang “hưu chiến” thuế quan đến giữa tháng 8. Còn về phía Việt Nam, mặc dù vào đầu tháng 7 vừa qua, tổng thống Mỹ Donald Trump thông báo đã đạt được thỏa thuận về thuế quan với Hoa Kỳ, nhưng trên thực tế hai nước vẫn đang đàm phán để hoàn tất các điều khoản chính . Cho tới nay, cả Washington lẫn Hà Nội đều không công bố bất cứ tài liệu chính thức hoặc điều khoản chi tiết nào. Tại cuộc họp báo Ở Hà Nội ngày 17/07, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam Phạm Thu Hằng cho biết hai bên vẫn đang "tiếp tục thảo luận để làm rõ và cụ thể hóa các nội dung liên quan", sau cuộc điện đàm giữa tổng thống Trump và tổng bí thư Tô Lâm. Ông Trump thậm chí đã thông báo luôn cả mức thuế 20% đối với hàng Việt Nam nhập vào Hoa Kỳ. Riêng các mặt hàng, chủ yếu từ Trung Quốc, bị xem là trung chuyển qua Việt Nam để “né” thuế của Hoa Kỳ, sẽ bị áp thuế đến 40%. Tuy nhiên, theo hãng tin Bloomberg, các nguồn tin thân cận cho biết các nhà lãnh đạo Việt Nam đã bị bất ngờ trước thông báo nói trên và đang tích cực đàm phán với phía Mỹ để giảm thuế suất. Khi đơn phương thông báo mức thuế 20% trong khi Việt Nam chưa xác nhận, phải chăng Hoa Kỳ đang “xử ép” Việt Nam? Trả lời RFI Việt ngữ ngày 24/07/2025, nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang, hiện là học giả thỉnh giảng (visiting scholar) về quan hệ quốc tế tại đại học Boston College, Hoa Kỳ, nhận định: "Việt Nam có lý do chính đáng khi không xác nhận mức thuế 20% tổng thống Trump thông báo, vì Việt Nam mong muốn mức thuế quan của mình không được nhiều hơn 10% so với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực. Việt Nam cũng là nước thứ hai sau Vương Quốc Anh mà ông Trump công bố đạt được thỏa thuận thương mại với Mỹ. Hiện nay, cả Philippines, Indonesia, và Nhật Bản đều đã đàm phán xong với Mỹ và nhận được mức thuế quan ít hơn Việt Nam. Trong những ngày tới có thể Mỹ sẽ đạt thêm được thỏa thuận với những đối thủ cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam như Thái Lan, Malaysia, hay Ấn Độ. Việt Nam đang cố gắng kềm mức thuế quan ở mức 10 đến 15%, để duy trì tính cạnh tranh với các đối thủ khác. Rõ ràng việc Việt Nam chưa xác nhận mức thuế quan cho thấy hai nước vẫn còn nhiều bất đồng phải giải quyết, nhất là điều khoản về mức thuế 40% đối với hàng hóa trung chuyển qua lãnh thổ Việt Nam. Điều khoản không rõ ràng này có thể gây tổn hại cho kinh tế Việt Nam, nếu Mỹ mặc định bất kỳ nguyên liệu sản xuất nào mà Việt Nam nhập từ Trung Quốc cũng cấu thành hàng 'Made in China'. Việc ông Trump ra thông báo sớm trước khi Việt Nam xác nhận cho thấy Hoa Kỳ có thể muốn đánh đòn phủ đầu để ép Việt Nam phải chấp nhận mức 20%, cao hơn mức Việt Nam mong muốn." Việt Nam, "sân sau" của Trung Quốc ? Thật ra khi áp thuế cao đối với Việt Nam, Mỹ muốn nhắm tới đối thủ lớn hơn là Trung Quốc, vì chính quyền Trump vẫn xem Việt Nam là “sân sau” của hàng Trung Quốc. Nhưng thực tế có hoàn toàn đúng như vậy không? Nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang ghi nhận: "Nếu tính về mặt kinh tế sản xuất đơn thuần, các nghiên cứu từ Hoa Kỳ và Úc đã chứng minh điều này là không đúng. Ở Mỹ, các nhà kinh tế trong chính quyền Trump thường hay sử dụng hai biểu đồ Việt Nam nhập hàng từ Trung Quốc và Việt Nam xuất qua Mỹ, để chứng minh Việt Nam là sân sau của Trung Quốc, khi hai biểu đồ này tăng giảm song song. Tuy nhiên, sự so sánh này là thiếu logic, vì biểu đồ không tính đến vai trò đang lên của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Đúng là Việt Nam nhập thêm hàng từ Trung Quốc, nhưng Việt Nam nhập hàng để đáp ứng nhu cầu tăng mạnh trong nước, cũng như xuất đi các thị trường khác ngoài Mỹ. Không thể phủ nhận một số hàng hóa Việt Nam nhập từ Trung Quốc có thể bị gắn mác Việt Nam để xuất qua Mỹ, tuy nhiên, theo nghiên cứu của viện Lowy ở Úc thì số lượng này chỉ chiếm khoảng 1/4 hàng hóa Việt Nam nhập từ Trung Quốc, còn lại 3/4 thì hoàn toàn không phải là như vậy. Điều này cũng không phải quá bất ngờ khi nhiều nhà máy từ Trung Quốc đã dịch chuyển qua Việt Nam để sản xuất kể từ nhiệm kỳ thứ 1 của tổng thống Trump, khi thương mại Mỹ-Trung có hục hặc." Trước những đòn thuế quan của Mỹ, Việt Nam phải xử lý như thế nào để làm vừa lòng Trump nhưng cũng không làm mất lòng Trung Quốc? Nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang nêu ý kiến: "Việt Nam vẫn sẽ dựa vào chính sách ngoại giao và ngoại thương đa phương hóa, đa dạng hóa để tránh làm mất lòng cả Mỹ và Trung Quốc. Một mặt, Việt Nam sẽ cố gắng đáp ứng các điều kiện của Mỹ để làm giảm thuế quan, đặc biệt là chống hàng giả, hàng vi phạm bản quyền trên thị trường. Mặt khác, Việt Nam sẽ nỗ lực đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để tránh phụ thuộc quá nhiều vào Mỹ. Hiện nay Việt Nam xuất khẩu qua Mỹ khoảng 140 tỷ đô, tương đương 30% GDP của Việt Nam. Đối với Trung Quốc, Việt Nam sẽ tiếp tục tăng cường quan hệ thương mại song phương, cũng như tăng cường hợp tác chính trị và quân sự để Trung Quốc thấy là Việt Nam không có ý định chống Trung Quốc và ngả về Mỹ do áp lực thuế quan." Không thể dựa vào Mỹ Vì Việt Nam phụ thuộc nhiều về Hoa Kỳ về thương mại, chính quyền Trump có vẻ muốn dùng chiến tranh thuế quan để buộc Việt Nam phải “chọn phe”. Chính sách này liệu có thể lôi kéo Việt Nam đứng hẳn về phe Mỹ để chống Trung Quốc ? Hay là ngược lại sẽ đẩy Việt Nam xích gần hơn với Trung Quốc? Nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang nhận định: "Chính sách này sẽ không thể lôi kéo Việt Nam đứng về phe Mỹ chống Trung Quốc, do Việt Nam luôn ưu tiên an ninh hơn là kinh tế. Thứ nhất, Trung Quốc là nước có ảnh hưởng căn bản đến an ninh của Việt Nam, do Trung Quốc có thể tấn công và chiếm đóng lãnh thổ Việt Nam cả trên bộ lẫn trên biển. Bài học Ukraina cho Việt Nam thấy rõ là không nên tin tưởng vào hỗ trợ quân sự hay kinh tế của Mỹ để chống lại láng giềng mạnh hơn, nhất là khi chiến tranh Nga-Ukraina đã kéo dài hơn 3 năm và Ukrain mất 1/5 lãnh thổ ở phía đông vào tay Nga, còn Mỹ thì cũng không có khả năng giúp Ukraina lấy lại lãnh thổ đã mất. Mỹ mặc dù là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với 140 tỷ đô mỗi năm, nhưng 140 tỷ đô không đáng kể gì nếu đặt chủ quyền lãnh thổ và ổn định an ninh lên bàn cân. Việt Nam đã nhiều lần khẳng định cần phải duy trì môi trường an ninh hòa bình để phát triển kinh tế lâu dài. Thứ hai, Mỹ không phải là cường quốc trên bộ, nên kể cả khi Mỹ có muốn toàn tâm giúp Việt Nam cũng sẽ không đủ khả năng đáp trả lại các đòn tấn công của Trung Quốc đối với Việt Nam. Cần phải nhớ Mỹ đã không thể đánh bại Trung Quốc trong chiến tranh Triều Tiên, hay chiến tranh ở Đông Dương, mặc dù Mỹ được trang bị khí tài hiện tại hơn. Đấy là chuyện của 50 năm trước, còn bây giờ thì khả năng Mỹ đánh bại được Trung Quốc trên bộ còn ít hơn rất nhiều, do Trung Quốc đã hiện đại hóa quân sự từ năm 1979 đến nay. Còn về hải quân thì chính Mỹ cũng không còn khả năng chạy đua vũ trang trên biển với Trung Quốc, do năng lực đóng tàu của Trung Quốc đã gấp 200 lần Mỹ. Và tôi xin nhắc lại là 200 lần, chứ không phải nói nhầm. Việt Nam sẽ mong muốn giữ vị trí trung lập như hiện nay để tránh mất lòng cả Mỹ và Trung Quốc, nhất là tránh một cuộc chiến tranh giữa Việt Nam với Trung Quốc, nhưng nếu Mỹ ép Việt Nam đến mức quá đáng, còn Trung Quốc cam kết mua nhiều hơn hàng hóa của Việt Nam, thì khả năng Mỹ mất nốt con bài thương mại với Việt Nam là rất cao. Mỹ nên ngừng hy vọng có thể dùng lá bài thương mại 140 tỷ đô một năm, cũng như một vài tàu tuần tra hay máy bay F-16, để thuyết phục Việt Nam chống Trung Quốc, bởi vì Trung Quốc, với tiềm lực quân sự và kinh tế của một siêu cường, hoàn toàn có thể khiến Việt Nam phải trá đắt hơn nhiều những gì Mỹ có thể cho Việt Nam." Chưa biết cụ thể là mức thuế quan mà Trump loan báo sẽ tác động như thế nào đến xuất khẩu của Việt Nam, nhưng trước mắt, theo báo chí trong nước, Trung Quốc nay đã vượt qua Hoa Kỳ để trở thành thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), Trung Quốc đã nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam với tổng trị giá 1,1 tỷ đô la trong nửa đầu năm 2025, tăng đến 45% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, Hoa Kỳ đã nhập khẩu 905 triệu đô la trong cùng kỳ.
“Ngày 01/07/2025 sẽ đi vào lịch sử cải cách bộ máy nhà nước Việt Nam như một dấu mốc mang tính đột phá và kiến tạo, cũng như lịch sử xây dựng và phát triển đất nước”. Tuyên bố được đăng trên trang web Cải cách Hành chính vì Việt Nam chính thức có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố, giảm gần một nửa so với trước đây. Đề án sáp nhập là do tổng bí thư Tô Lâm chủ trương và Quốc Hội biểu quyết thông qua ngày 12/06. Tinh giản bộ máy nhà nước được coi là điều vô cùng cần thiết để Việt Nam trở thành nước có thu nhập cao từ nay đến năm 2045. Thực hiện thành công công cuộc cải cách lần này, tổng bí thứ Tô Lâm còn cho thấy quyền lực cá nhân và những chiến lược tập trung quyền lực đằng sau. Đây là nhận định của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, khi trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 04/07/2025. RFI : Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính đã diễn ra nhiều lần trong lịch sử Việt Nam và lần gần đây nhất có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2025. Mục tiêu của cuộc cải cách này là gì ? Benoît de Tréglodé : Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính, cụ thể là giảm từ 63 tỉnh, thành xuống còn 34, bao gồm 28 tỉnh và 6 thành phố do chính quyền trung ương quản lý. Đây là một bước vô cùng quan trọng trong công cuộc cải cách đất nước, theo mong muốn của tổng bí thư Tô Lâm, với mục tiêu đầy tham vọng : thúc đẩy phát triển để đưa Việt Nam thành nước phát triển có thu nhập cao từ nay đến năm 2045. Vì vậy, cải cách bộ máy Nhà nước là một chặng, việc sáp nhập tỉnh cũng rất quan trọng, bởi vì qua đó người ta thấy một quyết tâm kỹ trị, một mong muốn kinh doanh và cả kinh tế, trong khi người tiền nhiệm Nguyễn Phú Trọng luôn đặt trọng tâm vào sự trong sạch thuần túy về mặt tư tưởng và kỷ luật của đảng. Điều mà tổng bí thư Tô Lâm thúc đẩy trong cuộc cải cách lần này là tạo ra những thực thể hành chính mới có khả năng cạnh tranh từ góc độ kinh tế. Tôi muốn nói đó là điều rất cụ thể, chứ không chỉ là lý thuyết. Có hai lưu ý sơ bộ để hiểu về cuộc cải cách này. Điều đáng chú ý trước tiên là ý muốn của một người, ở đây là ông Tô Lâm. Những địa giới hành chính mới của các tỉnh cũng là cách cho thấy quyết định được đưa từ trên xuống. Việc này đưa Đảng, và cuối cùng là tổng bí thư, vào trung tâm của quá trình ra quyết định mang tính quốc gia. Quốc Hội không thảo luận về dự án này mà chỉ phê duyệt. Chúng ta đang quay trở lại với một logic khá cũ, bị quên trong hơn một thập niên, là các đại biểu Quốc Hội tranh luận về các dự án lớn của bộ máy. Ở đây, ông Tô Lâm áp đặt cải cách mà Quốc Hội sẽ thông qua. Điểm này rất quan trọng mà tôi sẽ đề cập sau. Lưu ý thứ hai, đó là ông Tô Lâm gọi “cuộc cách mạng chống quan liêu” để tăng thêm hiệu quả. Có một điều không thể phủ nhận mà bất kỳ ai theo dõi hoặc quan sát các vấn đề chính trị, hành chính, cuộc sống hàng ngày của người Việt Nam đều không thể nói ngược lại : Hết thập niên này sang thập niên khác, một bộ máy quan liêu ngày càng phình to được lập ở nhiều cấp độ, từ xã, huyện đến tỉnh và trung ương, cho nên đã hạn chế hiệu quả hoạt động. Khi tổng bí thư nói đến việc tinh gọn, làm cho bộ máy hành chính chặt chẽ, mạnh mẽ, hiệu quả, hiệu suất hơn (về mặt giấy tờ), người ta có thể nói rằng ông ấy có lẽ đúng. Quá trình hiện đại hóa kinh tế của đất nước chắc chắn sẽ liên quan đến cuộc đổi mới này, bởi vì một bộ máy hành chính kém hiệu quả, cồng kềnh là rất tốn kém và chỉ tạo thêm “cửa” cho các nhà đầu tư muốn làm việc với Việt Nam. Đọc thêmTô Lâm, tân lãnh đạo cứng rắn của Việt Nam thiên về tư bản Ngoài ra, còn phải kể đến 3 lý do chính đằng sau việc tái cấu trúc hành chính và sáp nhập tỉnh. Thứ nhất, việc tinh giản bộ máy hành chính địa phương làm giảm các điểm tiếp xúc, các cấp ra quyết định và các tuyến chỉ huy, cho nên giảm được gánh nặng hành chính cho những người muốn làm việc với một địa phương. Có nghĩa là ít “cửa” hơn, ít tham nhũng hơn một chút, bởi vì có ít người để “làm việc” hơn. Lý do chính thứ hai, cải tổ ở cấp độ các vùng lãnh thổ Việt Nam sẽ tạo nên các không gian thúc đẩy động lực kinh tế và hạn chế chủ nghĩa địa phương. Cho nên cần nhắc lại, tinh giản là để hiệu quả hơn. Điểm thứ ba, được nhiều chuyên gia nêu lên : Cuộc cải cách lần này là nhằm giảm bớt ngân sách nhà nước, hiện dành tới 70% cho chi phí vận hành định kỳ của các cơ quan hành chính. Mục tiêu mang tính kinh tế, rất cụ thể. Nhưng đó không phải là những lý do duy nhất mà chúng ta sẽ nói đến sau. RFI : Ở Pháp, việc phân chia đơn vị hành chính đôi khi cũng được thực hiện vì mục đích bầu cử. Liệu trường hợp này có diễn ra ở Việt Nam không vì Đại hội Đảng cũng đang đến gần, trong khi lợi ích tài chính, đơn giản hóa hành chính… vẫn được nhấn mạnh khi sáp nhập tỉnh, như ông nhắc đến ở trên ? Benoît de Tréglodé : Tôi nói ngay là có. Đó là điều hiển nhiên. Tôi đã nhấn mạnh đến khía cạnh mục tiêu và tổ chức, rất cơ bản của cuộc cách mạng chống quan liêu. Đừng quên rằng chúng ta đang ở Việt Nam, Đại hội Đảng sẽ diễn ra trong chưa đầy một năm. Vì vậy, cuộc cách mạng mang hai mục tiêu, vừa về kinh tế, và đối với ông Tô Lâm, chắc chắn là còn mang tính chính trị. Sự tập trung chính trị này có nghĩa là gì ? Đây chỉ là một vấn đề đơn giản về số học. Cuộc cải cách sẽ củng cố sự tập trung chính trị. Ít tỉnh hơn, sẽ có ít người tham gia vào Ban Chấp hành Trung ương hơn, và như vậy sẽ tạo thuận lợi cho bộ Chính trị hoặc ban bí thư, chỉ phải kiểm soát ít hơn. Việc giảm số lượng tỉnh cũng dẫn đến việc giảm số lượng đại biểu được cử vào Ban Chấp hành Trung ương. Điều này rất quan trọng, bởi vì Ban Chấp hành Trung ương và các ban chính trị của đảng sẽ được bầu tại Đại hội toàn quốc lần thứ 14 của đảng vào đầu năm 2026. Với việc ít tỉnh hơn, ít đại diện hơn, rõ ràng việc này sẽ giúp tập trung ảnh hưởng nhiều hơn vào tay ông Tô Lâm và các đồng minh của ông. Không cần phải che giấu, cuộc cải cách này còn có mục đích tập trung quyền lực xung quanh lãnh đạo quyền lực của hệ thống chính trị Việt Nam, trong trường hợp này là tổng bí thư. Theo logic của Tô Lâm hiện nay, tập trung quyền lực cũng là bảo đảm thêm sự ổn định chính trị cho đất nước, cho đội ngũ lãnh đạo đất nước. Lập luận này xuất phát từ nhận định là cần phải phát triển Việt Nam về kinh tế để đạt được mục tiêu phát triển đầy tham vọng năm 2045 và để chống lại những bất ổn trên chính trường khu vực và quốc tế, cũng tác động đến Việt Nam. Nói tóm lại, mục đích chính trị cũng đi kèm với mục tiêu hành chính và kinh tế trong đợt cải cách quy mô lớn này. RFI : Làm thế nào có thể tiến hành cuộc cải cách vào thời điểm này và nhanh đến như vậy ? Benoît de Tréglodé : Quả thực, rất nhiều người thắc mắc về vấn đề này. Đã thành thông lệ là mỗi năm trước kỳ Đại hội đảng vẫn có những chiến dịch chống tham nhũng lớn (tiếp tục hoặc tái khởi động) để phân loại trong số những người thân cận hoặc đối thủ của những nhân vật chuẩn bị cho đại hội sau đó. Năm nay, không nhất thiết phải là một chiến dịch chống tham nhũng mới khiến toàn bộ môi trường chính trị ngưng đọng hoàn toàn, mà là cuộc đại cải cách đầy tham vọng hệ thống hành chính Việt Nam, theo mong muốn của ông Tô Lâm. Điều có thể nghĩ tới ngay lập tức, nếu một cuộc cải cách đầy tham vọng như vậy được thực hiện bởi một người duy nhất thì đó là do ông ấy không cảm thấy bị bất kỳ ai đe dọa và điều này nằm trong quyền lực to lớn của ông trong bộ máy chính trị Việt Nam. Vào đúng năm trước Đại hội Đảng, với cuộc tinh giản bộ máy hành chính ở cấp địa phương, nhưng cũng có thể nói là ở cấp trung ương, ở cấp bộ, không ai chắc chắn là giữ được vị trí của mình, kể cả trong Ban Chấp hành Trung ương. Số người may mắn được chọn sẽ ít hơn vào năm 2026. Có thể nói rằng chiến dịch kiểm soát khổng lồ này thậm chí còn hiệu quả hơn các chiến dịch chống tham nhũng thông thường. Bởi vì chúng khiến mọi người run sợ, ai cũng muốn giữ lấy chỗ và có thể theo đuổi sự nghiệp trong một bộ máy hành chính bị thu hẹp lại. Đọc thêmViệt Nam : Chủ tịch nước bị cách chức, tổng bí thư bị tiếm quyền ? Cuối cùng, chỉ một người thắng cuộc lớn nhất, đó là ông Tô Lâm, người tổ chức công cuộc này cùng với ban lãnh đạo của ông hiện tại hoặc trước đây trong bộ Công An. Có một bầu không khí chung, có thể nói là lo lắng, về sự chuyển đổi xã hội này, cho dù nhiều người hoan nghênh, đánh giá dự án là “cao cả”, để bộ máy hành chính cồng kềnh trở nên hiệu quả hơn, sáp nhập các đơn vị hành chính chồng chéo để giúp đất nước giàu mạnh hơn, các địa phương hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài hơn. Nhưng thường thì ở Việt Nam, người ta vẫn làm “một công đôi việc”. Người ta mang đến cho người dân một cuộc cải cách được hoan nghênh với những mục tiêu rất tham vọng, cao cả. Nhưng đồng thời, công cuộc này lại được thực hiện bởi một chính trị gia đang tận dụng nó để trụ vững ở trung tâm và thể hiện toàn bộ quyền lực của mình trong trung tâm bộ máy. RFI : Những tỉnh mới, từ giờ rộng lớn hơn rất nhiều, có thể sẽ phải đối mặt với những thách thức nào trong tương lai ? Benoît de Tréglodé : Đây là cả một vấn đề. Đúng là có thể có những tác động tích cực, đúng đắn. Việc thành lập các siêu tỉnh để thu hút đầu tư nước ngoài có thể giúp địa phương phát triển hiệu quả hơn, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài qua việc “giảm hai, ba lần” số “cửa” tham nhũng. Trước đây, các nhà đầu tư nước ngoài đôi khi phải gõ cửa các ủy ban tỉnh, ủy ban huyện, xã, địa phương liên quan… càng nhiều cửa thì càng có nhiều công chức tham nhũng và càng khiến hoạt động thêm phức tạp. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, các chính quyền mới sẽ đơn giản hơn và minh bạch hơn trong việc hợp tác sau khi cải cách sáp nhập tỉnh có hiệu lực từ ngày 01/07/2025. Đọc thêmChủ tịch nước kiêm tổng bí thư, ông Tô Lâm nắm trọn quyền lực ở Việt Nam Mặt khác, có thể là còn quá sớm để nói hoặc hình dung cụ thể hoạt động sẽ như thế nào, nhưng việc thành lập những tỉnh lớn như vậy có thể tạo nên sự bất ổn lâu dài nếu các nhà lãnh đạo tỉnh tương lai dần trở nên quyền lực hơn, một ngày nào đó không hoàn toàn chia sẻ năng lực hoặc tầm nhìn với ông Tô Lâm và bắt đầu tập trung quyền lực cho các mục đích cá nhân. Họ sẽ ít hơn về số lượng, họ sẽ quản lý các khu vực rộng hơn, giàu có hơn, phát triển hơn, họ có thể có tham vọng chính trị lớn hơn. Điều rủi ro là sự xuất hiện của các sếp lớn hoặc “lãnh chúa” lớn, đầy sức mạnh. Tôi nghĩ rằng ở cấp trung ương, trong vòng thân cận của tổng bí thư, mọi chuyện đã được xem xét rất chặt chẽ, bởi vì phải nhắc lại rằng mặt trái của việc sáp nhập tỉnh là các lãnh đạo tỉnh sẽ ít hơn nhưng có thể sẽ quyền lực hơn vì tỉnh của họ lớn hơn, đa dạng hơn, nhưng cũng có thể là họ sẽ bị cấp trung ương kiểm soát nhiều hơn vì họ không đông. Vì vậy, tương lai của mối liên kết giữa quyền tự chủ khu vực, phi tập trung nhưng dưới sự kiểm soát là cả một câu hỏi, là cả sự đánh cược mà ông Tô Lâm đang thực hiện để hiện đại hóa đất nước, thâu tóm và tập trung quyền lực tốt hơn trong 20 năm tới, giai đoạn mang tính quyết định trong việc đạt được mục tiêu đề ra cho năm 2045. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược - IRSEM, Trường Quân sự Pháp.
Để có thể tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng như hiện nay, Việt Nam đã đề ra một kế hoạch đầy tham vọng với nhiều dự án cơ sở hạ tầng lớn. Nhưng để những dự án này có thể được thật sự có hiệu quả, phải làm sao giải quyết được những nguyên nhân dẫn đến hai vấn đề chính, đó là đội vốn và trễ hạn. Trong năm 2025, tổng vốn đầu tư công được phê duyệt dự kiến sẽ lên tới 875 nghìn tỷ đồng (35 tỷ đô la ), tăng 37,7% so với tổng số vốn được giải ngân vào năm 2024. Các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng đang được xây dựng bao gồm Đường cao tốc Bắc-Nam và Sân bay quốc tế Long Thành. Riêng dự án tuyến đường sắt cao tốc Bắc-Nam, sẽ có chi phí hơn 67 tỷ đô la và dự kiến hoàn thành vào năm 2035, đang gây rất nhiều tranh cãi ở Việt Nam. Theo bộ Xây Dựng Việt Nam, hiện đã có 5 doanh nghiệp nộp đề xuất sơ bộ đầu tư vào dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, trong đó có Công ty Đầu tư và Phát triển Đường sắt tốc độ cao Vinspeed, thuộc tập đoàn tư nhân Vingroup của nhà tỷ phú Phạm Nhật Vượng. Theo phương án đề xuất, VinSpeed cam kết tự tìm 20% vốn (tương đương khoảng 12 tỷ đô la), phần còn lại họ đề nghị được vay từ nguồn vốn nhà nước với lãi suất 0% trong 35 năm. Thời gian thi công dự kiến 5 năm và khai thác trong 99 năm. Tương tự, Thaco (Tập đoàn Trường Hải) cũng đề xuất phương án đầu tư với 20% vốn tự có, phần còn lại huy động từ các nguồn trong và ngoài nước, thời gian thi công 7 năm, vận hành 70 năm. Nhưng các chuyên gia đang đặt nhiều nghi vấn về khả năng của những tập đoàn nói trên huy động được số vốn cần thiết, cũng như khả năng hoàn thành dự án đúng thời hạn cam kết. Vấn đề là các dự án cơ sở hạ tầng công ở Việt Nam cho tới nay thường bị chậm tiến độ, lãng phí và bị đội vốn. Những nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng đó? RFI Việt ngữ phỏng vấn nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore. RFI: Thưa anh Lê Hồng Hiệp, Việt Nam đã thông qua rất nhiều dự án xây dựng cơ sở tầng lớn, đặc biệt là dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam. Đối với một dự án lớn kéo dài nhiều năm như dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam, liệu Việt Nam có đủ khả năng để huy động nguồn vốn? Và nhất là nếu có sự tham gia của các tập đoàn tư nhân như Vinspeed, liệu họ có đủ khả năng để huy động vốn? Lê Hồng Hiệp: Năm nay Việt Nam đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP là 8% và các năm sau là ít nhất là 10%. Trong bối cảnh các trụ cột khác của tăng trưởng kinh tế như là xuất khẩu, tiêu dùng trong nước, đổi mới sáng tạo, còn đang gặp rất là nhiều khó khăn, việc tăng cường đầu tư cả tư nhân lẫn đầu tư công, đặc biệt là đầu tư vào cơ sở hạ tầng, trở thành một lựa chọn bắt buộc đối với Việt Nam để giúp tăng trưởng kinh tế. Việt Nam cần một nguồn vốn khổng lồ. Gần đây, các chuyên gia của tập đoàn phát triển hạ tầng tư nhân có ước tính là từ giờ tới năm 2040, Việt Nam cần khoảng 570 tỷ đô la đầu tư vào cơ sở tầng cho các lĩnh vực như giao thông vận tải, năng lượng, viễn thông, hay các hạ tầng liên quan. Để mà huy động được nguồn vốn khổng lồ như vậy thì Việt Nam sẽ phải thông qua nhiều con đường phổ biến nhất. Thứ nhất là ngân sách nhà nước thông qua các thu xếp cho các khoản đầu tư phát triển, đầu tư cơ sở tầng. Thứ hai là vay nợ của nhà nước thông qua việc phát hành trái phiếu trong nước cũng như ở nước ngoài và vay nợ từ các cái đối tác phát triển, bao gồm các đối tác ODA, cũng như các tổ chức tín dụng phát triển quốc tế. Thứ ba là huy động vốn từ khu vực tư nhân, như VinGroup hay Thaco, để tham gia phát triển dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Thứ tư là hợp tác công tư, hình thức hợp tác giữa nhà nước và lĩnh vực tư nhân để có các giải pháp tài chính phục vụ cho những mục tiêu phát triển. Việt Nam phải phối hợp các cái nguồn vốn khác nhau. Có những dự án thì có thể phải huy động ngân sách nhà nước, đặc biệt là những dự án mà lĩnh vực tư nhân có thể không đủ năng lực hay là không có lợi ích nhiều khi tham gia. Tôi lấy ví dụ dự án phát triển điện hạt nhân: Hiện tại Việt Nam đang đề ra mục tiêu phát triển hai nhà máy điện hạt nhân. Nguồn vốn ước tính lên tới khoảng 22 tỷ đô la. Các doanh nghiệp tư nhân không đủ năng lực, cũng như không có lợi ích nhiều khi tham gia các dự án này. Trong những lĩnh vực như vậy thì nhà nước sẽ phải huy động vốn từ ngân sách nhà nước hay là vay nợ của nước ngoài. Tuy nhiên, những lĩnh vực khác như phát triển đường cao tốc, hay đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam thì có thể xem xét việc tạo nguồn vốn từ lĩnh vực tư nhân. Tuy nhiên, do lĩnh vực hạ tầng đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian thu hồi vốn kéo dài và khả năng thua lỗ rất là cao, việc huy động từ lĩnh vực tư nhân cũng không hề đơn giản và đấy là lý do mà chúng ta sẽ thấy trong cái thời gian tới sẽ có các cuộc tranh luận, các cân nhắc liên quan tới dự án đường sắt tốc độ cao Bắc -Nam: Liệu có nên giao cho các tập đoàn tư nhân hay không và nếu giao cho họ thì các điều kiện, điều khoản liên quan tới các ưu đãi cho nhà đầu tư, để làm sao họ có thể thu hồi vốn trong quá trình tham gia phát triển các dự án đầu tư cơ sở tầng lớn như vậy thì sẽ được tiến hành như nào? RFI: Thưa anh, cho dù là vốn tư nhân hay vốn nhà nước, thì các vấn đề lớn cho tới nay ở Việt Nam, đó là những dự án cơ sở hạ tầng thường hay bị chậm tiến độ cũng như là hay bị đội vốn, tức là số vốn ban đầu ước tính như thế nhưng cuối cùng thì rất là cao, như dự án Metro ở Thành phố Hồ Chí Minh. Đây có phải là vấn đề sẽ đặt ra trong những năm tới đối với những cái dự án vừa nói ở trên? Lê Hồng Hiệp: Đội vốn hay là chậm tiến độ, trễ hạn là một vấn đề sẽ còn lặp lại ở nhiều dự án khác nhau. Đây không chỉ là vấn đề của riêng của Việt Nam, mà còn xảy ra với nhiều dự án ở các quốc gia khác, kể cả các nước phát triển, vì nhiều lý do khác nhau. Riêng ở Việt Nam thì chúng ta thấy vấn đề này diễn ra quá thường xuyên, những dự án càng lớn thì nguy cơ đội vốn hay trễ hạn thì càng cao hơn. Có một số nguyên nhân.Thứ nhất là việc lập kế hoạch thiếu thực tế, không có tính khả thi cao. Ví dụ như Việt Nam vừa rồi đề xuất mục tiêu phát triển hai nhà máy điện hạt nhân trong vòng 5 năm tới, năm 2030, 2031 là hoàn thành. Tôi nghĩ đấy là một mục tiêu không thực tế. Thực tiễn ở các quốc gia khác chỉ ra rằng phát triển những dự án điện hạt nhân lớn như vậy cần rất nhiều thời gian. Việc lập kế hoạch cũng phải kỹ càng hơn. Trong bối cảnh Việt Nam, việc phát triển trong vòng 5 năm hai nhà máy điện hạt nhân công suất lớn như vậy là hoàn toàn là không khả thi. Chưa kể là chúng ta chưa có một kế hoạch rõ ràng cụ thể chi tiết các công nghệ mà chúng ta sẽ sử dụng là gì và sẽ mua từ đâu. Thứ hai là năng lực quản lý, chúng ta thấy Việt Nam cũng thiếu kinh nghiệm quản lý các dự án, đặc biệt là các dự án quy mô lớn, do đó dẫn tới chậm trễ trong việc phối hợp giữa các bên và các biện pháp phê duyệt thủ tục. Các dự án nhỏ hơn rất nhiều như Metro Nhổn - Ga Hà Nội, hay Metro số 1 ở Sài Gòn quy mô không phải quá lớn, nhưng cũng trễ hạn rất nhiều và đội vốn rất nhiều. Lâu nay chúng ta cũng thường đổ lỗi là do các nhà thầu nước ngoài, nhưng rất nhiều nguyên nhân là xuất phát từ phía Việt Nam. Liên quan tới năng lực quản lý thì còn có vấn đề thủ tục hành chính phức tạp. Trong dự án metro Bến Thành - Suối Tiên chẳng hạn, có rất nhiều vướng mắc liên quan tới giải ngân của ODA từ Nhật Bản, do thủ tục pháp lý hành chính từ phía Việt Nam rất phức tạp về quy trình phê duyệt rồi quy trình thay đổi các chi tiết của dự án, dẫn tới chậm trễ trong việc giải ngân, dẫn tới định trệ của tiến độ dự án. Ở nhiều dự án của Việt Nam thì còn có vướng mắc về giải phóng mặt bằng. Đây cũng là một nguyên nhân dẫn tới chậm trễ và đội vốn. Thứ tư là phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài. Nhập khẩu các công nghệ và thiết bị nước ngoài có thể khiến chi phí tăng cao, đặc biệt là khi tỷ giá biến động hoặc là khi nhà thầu ngoại quốc trì hoãn việc nhập khẩu thì có thể cũng dẫn tới tiến độ bị chậm trễ và chi phí gia tăng. Trong thời gian tới, khi Việt Nam tiến hành các dự án quy mô lớn hơn như đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, nếu không có các biện pháp chuẩn bị kỹ lưỡng và các bước đi nhằm tháo gỡ các vướng mắc như tôi vừa nêu, chắc chắn dự án cũng sẽ gặp phải những vấn đề đội vốn và trễ hạn. RFI: Đối với những dự án quan trọng như đường sắt cao tốc Bắc - Nam thì liệu Việt Nam có đủ trình độ kỹ thuật để tự mình thực hiện, hay là chúng ta phải nhờ đến trợ giúp của những nước đã có những kinh nghiệm, trình độ về những dự án tương tự? Lê Hồng Hiệp: Trong lĩnh vực xây dựng các tuyến đường cao tốc chẳng hạn, tôi nghĩ là Việt Nam có thể hoàn toàn đủ trình độ để làm được. Còn đối với lĩnh vực đường sắt thì chắc chắn là Việt Nam sẽ không đủ năng lực về mặt kỹ thuật để tự mình thực hiện. Các dự án đơn giản hơn rất nhiều như các tuyến metro ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thì cho tới lúc này chúng ta không tự chủ được về công nghệ mà phải dựa vào công nghệ nước ngoài. Tuyến Cát Linh - Hà Đông là dựa vào công nghệ Trung Quốc, hay tuyến Bến Thành - Suối Tiên ở Thành phố Hồ Chí Minh là dựa vào công nghệ của Nhật. Ngay cả những dự án đường sắt đô thị như vậy mà chúng ta cũng phải dựa vào công nghệ nước ngoài, thì dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam chắc chắn cũng sẽ phải dựa vào công nghệ nước ngoài. Hiện tại Việt Nam chưa nêu rõ là sẽ nhập công nghệ từ nước nào, nhưng chúng ta có thể dễ dàng đoán được chắc chắn là sẽ tới từ những quốc gia có công nghệ đường sắt phát triển như là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hay là Pháp, Đức ... Bên cạnh việc nhập về các công nghệ lõi, liên quan tới hệ thống động cơ, hệ thống đầu kéo, hay hệ thống điều khiển tín hiệu, vân vân, thì Việt Nam sẽ tự làm được những hạng mục nào và có thể nội địa hóa được bao nhiêu phần trăm các công đoạn các công nghệ liên quan tới cái dự án này? Vừa rồi tập đoàn Hòa Phát tuyên bố họ có khả năng cung cấp được thép làm đường ray của đường sắt tốc độ cao chẳng hạn. Ngoài Hòa Phát, còn có những công ty nào có thể cung cấp được các được các trang thiết bị đầu vào cho dự án này? Đấy là vấn đề mà chúng ta cần quan tâm. Bao nhiêu phần trăm trong suất đầu tư lên lên tới 67 tỷ đô la Mỹ đấy sẽ ở lại Việt Nam và bao nhiêu sẽ chi trả cho đối tác nước ngoài? Tôi nghĩ đấy là vấn đề cần đặt ra. Vấn đề đặt ra tiếp theo là Việt Nam sẽ nhận chuyển giao công nghệ bao nhiêu từ các đối tác nước ngoài đó để có thể ít nhất là tự chủ được quá trình bảo trì bảo dưỡng dự án trong quá trình vận hành? Tại vì một khi chúng ta phụ thuộc vào các đối tác nước ngoài về cả công tác bảo trì, bảo dưỡng, thì chắc chắn sẽ rất khó khăn trong việc vận hành. Thứ hai, sẽ có rất nhiều rủi ro dẫn tới việc gián đoạn dự án trong giai đoạn vận hành và chi phí để mà vận hành thì cũng sẽ đổi lên rất là nhiều. Tôi chắc chắn rằng là trong các điều khoản hợp tác với nước ngoài đó, Việt Nam sẽ nêu vấn đề này và sẽ coi nó như một điều kiện tiên quyết để có thể nhận chuyển giao các công nghệ và giao các gói thầu cho các đối tác nước ngoài thực hiện. RFI: Tóm lại, làm sao có thể khắc phục được những nguyên nhân đó để mà thật sự có được những công trình hạ tầng cơ sở hiệu quả và bền vững, có thể thật sự đóng góp cho phát triển kinh tế của Việt Nam? Lê Hồng Hiệp: Việt Nam phải áp dụng đồng loạt nhiều biện pháp khác nhau để làm sao bảo đảm rằng các dự án đó có thể được tiến hành một cách hiệu quả nhất, với chi phí tiết kiệm nhất và phát huy được hiệu quả cao nhất. Thứ nhất là về tính minh bạch, tiết kiệm và chống tham nhũng, Việt Nam phải có các biện pháp liên quan tới công nghệ, tới chính sách, vân vân, để minh bạch hóa quá trình đấu thầu và quản lý chi tiêu, để làm sao quá trình này được minh bạch, hay là xử lý nghiêm các trường hợp tham nhũng, lợi ích nhóm, giảm thiểu lãng phí và thất thoát trong quá trình đầu tư. Thứ hai là phải cải thiện việc lập kế hoạch và dự toán các dự án này để đánh giá được tính khả thi, hay là dự trù các cái rủi ro như là biến động giá hay giải phóng mặt bằng ngay từ giai đoạn lập giá, để làm sao giảm đến mức tối thiểu các vấn đề đội vốn, hay kéo dài thời gian thực hiện dự án. Thứ ba là phải nâng cao năng lực quản lý dự án: Đào tạo đội ngũ quản lý dự án chuyên nghiệp, áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời phân quyền rõ ràng, giảm các thủ tục hành chính, vân vân, để làm sao rút ngắn được thời gian phê duyệt các dự án và đảm bảo có sự phối hợp hiệu quả giữa các bộ ngành và địa phương, để làm sao các dự án này được thực hiện được một cách thông suốt nhất. Thứ tư là làm sao có thể giảm phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài, đặc biệt là trong quá trình bảo trì bảo dưỡng. Công nghệ nước ngoài trong quá trình xây dựng thì chúng ta có lẽ là sẽ có ít lựa chọn, đặc biệt là đối với những lĩnh vực phức tạp, đòi hỏi công nghệ cao, như đường sắt tốc độ cao, còn đối với các lĩnh vực như bảo trì bảo dưỡng, chúng ta phải có sự tự chủ ở một mức độ tối đa, để làm sao phát huy được hiệu quả của dự án trong quá trình vận hành. Thứ năm là làm sao huy động vốn một cách là hiệu quả và đa dạng hóa các nguồn lực. Chúng ta phải phát triển các thị trường vốn trong nước, thúc đẩy các mô hình hợp tác công tư chẳng hạn, với các cơ chế rõ ràng minh bạch để thu hút các nguồn lực từ lĩnh vực tư nhân, để làm sao giảm được gánh nặng cho ngân sách nhà nước và đồng thời phát huy nguồn lực xã hội ở mức tốt nhất. Thứ sáu là làm sao đảm bảo hiệu quả bền vững về mặt kinh tế. Việt Nam hiện đang có rất nhiều dự án tham vọng.Tuy nhiên, không phải dự án nào cũng cần thiết hay là hiệu quả, mà Việt Nam phải tinh lọc để làm sao tập trung vào những dự án có tác động kinh tế lớn nhất và tránh dàn trải các nguồn vốn, dẫn tới cái sự lãng phí và kém hiệu quả. Và điều cuối cùng tôi nghĩ cũng rất là quan trọng, đó là tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan bộ ngành và các lãnh đạo của các bộ ngành, các bộ trưởng, vân vân, để họ phải chịu trách nhiệm giải trình trực tiếp về tiến độ cũng như chất lượng dự án. Trong quá trình này, Việt Nam cũng cần phải công khai các thông tin về tiến độ, về chi phí dự án, về năng lực của các nhà thầu, để người dân có thể giám sát.
Sau 12 năm đàm phán, Việt Nam và Indonesia đã đạt được thỏa thuận về phân định vùng đặc quyền kinh tế. Văn bản được công bố chính thức ngày 23/12/2022 trong chuyến thăm cấp Nhà nước Jakarta của chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc. Bước cuối cùng là Quốc Hội hai nước phê chuẩn văn bản để có chính thức có hiệu lực và giải quyết những căng thẳng, bất đồng và cùng phát triển khai thác tài nguyên theo đúng luật biển quốc tế. Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 18/04/2025, nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Trường Sư phạm Lyon (École normale supérieure de Lyon), nhấn mạnh bối cảnh quan hệ song phương tốt đẹp là một trong những yếu tố giúp Việt Nam và Indonesia thiết lập được thỏa thuận. Năm 2025, hai nước kỷ niệm 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Quan hệ “đối tác chiến lược” có từ năm 2013 được nâng lên thành “đối tác chiến lược toàn diện” vào ngày 09/03/2025 nhân chuyến thăm cấp Nhà nước của tổng bí thư Tô Lâm tới Indonesia. Về kinh tế, trong ASEAN, Indonesia là đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam và Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ tư của Indonesia. Mục tiêu của hai chính phủ là tăng kim ngạch thương mại song phương lên 18 tỷ đô la vào năm 2028. RFI : Việt Nam và Indonesia sớm phê chuẩn hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ). Việt Nam và Indonesia có những yêu sách cụ thể như nào ở Biển Đông ? Laurent Gédéon : Các cuộc đàm phán về pháp lý liên quan đến hiệp định tập trung vào việc giải quyết các vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn mà Việt Nam và Indonesia đều đòi chủ quyền. Tôi muốn nhắc lại cả hai nước đều là thành viên của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, được Indonesia phê chuẩn ngày 03/02/1986 và Việt Nam phê chuẩn ngày 25/07/1994. Như vậy, cả hai nước đều công nhận luật biển quốc tế. Sự chồng lấn về chủ quyền giữa hai nước liên quan đến vùng biển xung quanh quần đảo Natuna ở phía nam Biển Đông. Đối với Việt Nam, đường phân định EEZ phải trùng với ranh giới thềm lục địa giữa Indonesia và Việt Nam. Hà Nội dựa vào thực tế là ranh giới này đã được xác định vào năm 2003 thông qua một thỏa thuận song phương. Ngược lại, Indonesia cho rằng ranh giới của vùng đặc quyền kinh tế cần được đàm phán riêng biệt với ranh giới của thềm lục địa. Jakarta lập luận rằng theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), đây là hai vùng biển riêng biệt, cho nên phải được đàm phán riêng. Do đó, Indonesia muốn tính đến đường trung tuyến giữa quần đảo Natuna và Côn Đảo : Quần đảo Natuna cách đảo Kalimantan của Indonesia khoảng 300 km, còn Côn Đảo cách bờ biển Việt Nam khoảng 90 km. Nhưng đối với Hà Nội, việc sử dụng đường trung tuyến giữa các quần đảo là không công bằng vì có lợi cho Indonesia. Đọc thêmViệt Nam và Indonesia đạt đồng thuận về phân định vùng đặc quyền kinh tế Nhiều vấn đề pháp lý khác cũng đã được nêu lên trong quá trình đàm phán, đặc biệt là những khác biệt trong các đường cơ sở được sử dụng để đo khu vực phân định. Là một quốc gia quần đảo, Indonesia được phép sử dụng đường cơ sở quần đảo, tức là các đường thẳng, không nhất thiết phải chạy theo đường bờ biển, trong khi Việt Nam chỉ có thể sử dụng đường cơ sở thông thường chạy theo đường bờ biển. Hai phương pháp cơ bản khác nhau này làm phức tạp các cuộc đàm phán vì Hà Nội cho rằng điều này làm suy yếu vị thế của họ. Bất chấp những khác biệt, Indonesia và Việt Nam cuối cùng đã thống nhất về hai đường ranh giới phù hợp với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, trong đó quy định rằng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế là hai vùng biển riêng biệt cần được đàm phán riêng. Tuy nhiên, do tính chất bảo mật của các cuộc đàm phán song phương, cách thức hai bên áp dụng phương pháp đường trung tuyến để giải quyết tranh chấp của họ đã không được tiết lộ, nhưng không thể phủ nhận rằng đây là một sự thỏa hiệp mang tính sáng tạo, thể hiện bước tiến pháp lý đáng kể trong khi vẫn tuân thủ các nguyên tắc của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. RFI : Thỏa thuận về vùng đặc quyền kinh tế là bước tiến quan trọng sau hơn một thập niên đàm phán. Triển vọng của cả hai nước sẽ thế nào, cũng như tương lai về mối quan hệ giữa hai nước với Trung Quốc ? Laurent Gédéon : Như đã nói, Hiệp định về vùng đặc quyền kinh tế giữa Indonesia và Việt Nam là một bước tiến lớn không chỉ trong quan hệ song phương giữa hai nước mà còn cho toàn bộ môi trường khu vực. Hệ quả đầu tiên và rõ ràng nhất là thỏa thuận này sẽ chấm dứt căng thẳng giữa hai nước liên quan đến hoạt động đánh bắt cá của tàu thuyền Việt Nam trong vùng biển vẫn được Indonesia coi là vùng đặc quyền kinh tế của họ. Hệ quả thứ hai liên quan đến các nguồn năng lượng trong khu vực này, đặc biệt là khí đốt tự nhiên, một số mỏ nằm ở phần EEZ của Indonesia giáp với EEZ của Việt Nam. Việc làm rõ ranh giới giữa hai vùng đặc quyền kinh tế sẽ cho phép Indonesia tự do phát triển hoạt động thăm dò và khai thác nguồn tài nguyên này. Hệ quả thứ ba mang tính chất pháp lý bởi vì thỏa thuận Việt Nam-Indonesia mở đường cho các thỏa thuận tương tự có thể có giữa các nước khác trong khu vực, có nghĩa là có thể thấy trong việc áp dụng đường phân định kép (thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế) một mô hình cho các cuộc đàm phán trong tương lai. Hệ quả cuối cùng ảnh hưởng đến Trung Quốc vì đường ranh giới chung do Việt Nam và Indonesia thiết lập chồng lấn một phần với đường chín đoạn đánh dấu yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với phần lớn Biển Đông. Đọc thêmViệt Nam kêu gọi ASEAN đoàn kết vào lúc Bắc Kinh lấn lướt ở Biển Đông Tuy nhiên, có một thắc mắc về chính sách của Indonesia liên quan đến Trung Quốc. Nhân chuyến thăm Bắc Kinh ngày 09/11/2024 của tổng thống Indonesia Prabowo Subianto, nhiều thỏa thuận đã được ký kết, kể cả hợp tác công nghiệp và khai khoáng, hợp tác thương mại, với tổng giá trị lên tới 10 tỷ đô la. Ngoài ra còn có một thỏa thuận về hợp tác hàng hải, trong đó hai bên cam kết cùng nhau phát triển kinh tế hàng hải ở Biển Đông, bao gồm cả những khu vực có tranh chấp chồng lấn. Tuyên bố chung được đưa ra trong dịp này nêu rõ rằng hai nước đã “đạt được một thỏa thuận quan trọng về phát triển chung ở những khu vực có yêu sách chồng lấn”. Tuy nhiên cho đến nay, tất cả các nước có tranh chấp hàng hải với Bắc Kinh, như Indonesia, Philippines, Việt Nam, Brunei, Malaysia và Đài Loan, đều tránh tham gia vào thỏa thuận phát triển chung với Trung Quốc vì sợ rằng việc đó sẽ bị hiểu là công nhận chính thức các yêu sách của Trung Quốc. Mặc dù Indonesia đã thận trọng khẳng định lại rằng họ không công nhận các yêu sách quá đáng của Trung Quốc đối với Biển Đông, nhưng thỏa thuận giữa Bắc Kinh và Jakarta đã đánh dấu sự phá vỡ lập luận trước đây và cho thấy rõ mâu thuẫn trong lập trường của Indonesia về luật hàng hải quốc tế. Về phần Việt Nam, quốc gia không bị ràng buộc bởi bất kỳ thỏa thuận chung nào với Trung Quốc về các khu vực tranh chấp, vẫn kiên định với lập trường của họ và trong phản đối các yêu sách hàng hải của Trung Quốc. Đối với Hà Nội, thỏa thuận này chắc chắn là một bước đột phá ngoại giao lớn và là tiền lệ pháp lý mà Hà Nội có thể khai thác ở cấp độ ngoại giao. Ngoài ra, thỏa thuận cũng có lợi thế là không đặt Hà Nội vào thế đối đầu trực tiếp với Bắc Kinh trong khi vẫn khẳng định được cam kết của họ đối với luật pháp quốc tế. RFI : Sau thỏa thuận về vùng đặc quyền kinh tế giữa Việt Nam và Indonesia, liệu đã có thể nói đến một liên minh đối trọng Philippines, Indonesia, Việt Nam để đối phó với các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông không ? Laurent Gédéon : Có, trong bối cảnh Trung Quốc luôn chú ý đến việc không để một mặt trận chống Trung Quốc trỗi dậy giữa các quốc gia ven Biển Đông và rộng hơn là trong ASEAN, thì thỏa thuận Việt Nam-Indonesia mở đường cho sự xuất hiện của các chiến lược tập thể đối phó với những tranh chấp hàng hải ở Biển Đông. Những chiến lược này đáng chú ý - và cũng gây vấn đề cho Trung Quốc - vì chúng được thực hiện theo cách tuân thủ chặt chẽ luật hàng hải quốc tế. Việc này càng giành được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế và củng cố thêm sự cô lập của Trung Quốc đối với các yêu sách chủ quyền tối đa của nước này. Đọc thêmThỏa thuận Việt Nam - Indonesia: Một hướng giải quyết tranh chấp Biển Đông? Cho nên chúng ta có thể thấy những thỏa thuận kiểu này gia tăng trong tương lai, đặc biệt là liên quan đến Việt Nam, Philippines và Malaysia. Đó là một quá trình dài, trước hết đòi hỏi các đối tác tăng cường tin tưởng nhau, và sẽ ngày càng phức tạp hơn vì liên quan đến các vùng biển quanh quần đảo Trường Sa, nơi vẫn được biết đến là trung tâm của các vấn đề địa-chiến lược đặc biệt quan trọng. Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng việc ký kết các hiệp định quốc tế là sự kiện quan trọng nhưng việc thực hiện chúng cũng quan trọng không kém. Và về điểm này, sẽ cần phải phân tích cẩn thận những tác động thực địa của hiệp định Việt Nam-Indonesia để đưa ra kết luận và phát triển các phân tích triển vọng có thể diễn ra. Cho nên, ngoài một liên minh đối trọng giữa Philippines, Việt Nam và Indonesia, chúng ta có thể xem rằng các thỏa thuận kiểu này phù hợp với sự hội tụ lợi ích ngầm hoặc rõ ràng của ba nước vì chúng hạn chế khả năng của Trung Quốc trong việc khẳng định các yêu sách chủ quyền và dẫn đến việc Bắc Kinh ngày càng bị cô lập về pháp lý. Dĩ nhiên Trung Quốc có thể tìm cách đảo ngược để áp đặt quan điểm của họ, nhưng việc đó sẽ làm giảm thêm tính hợp pháp về mặt pháp lý của các hành động, yêu sách của Bắc Kinh. Do đó, thỏa thuận này có thể đóng vai trò là mô hình giải quyết các tranh chấp hàng hải khác ở Đông Nam Á và tạo thành đòn bẩy ngoại giao khôn khéo để thay đổi tình hình trong khu vực. RFI : Việt Nam đã bị Ủy Ban Châu Âu đưa ra “thẻ vàng” về tình trạng đánh bắt cá bất hợp pháp. Thỏa thuận với Indonesia được coi là dấu chấm hết cho tình trạng đánh bắt cá bất hợp pháp trong khu vực. Liệu đây có phải là một kiểu cam kết để cá Việt Nam có thể vào thị trường châu Âu không ? Laurent Gédéon : Vùng đặc quyền kinh tế cho phép một quốc gia tiếp cận độc quyền các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở vùng biển và đáy biển của nước đó. Việc phân định rõ ràng không gian này thường giúp tránh được những hiểu lầm và mâu thuẫn trong quản lý nguồn cá nếu các đối tác có thiện chí. Về mặt này, thỏa thuận giữa Việt Nam và Indonesia làm rõ quyền đánh bắt cá của cả hai bên ở Biển Đông và thể hiện sự cải thiện rõ rệt so với giai đoạn trước đây, khi cả hai nước đều có yêu sách riêng, khiến việc xác định tàu cá có vượt qua ranh giới hay không trở nên khó khăn. Do đó, việc làm rõ biên giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các quy định và trừng phạt những người vi phạm, đặc biệt là xung quanh quần đảo Natuna, nơi giàu tài nguyên thiên nhiên. Nhìn chung, kiểu thỏa thuận này có giá trị vì nó tăng cường năng lực hợp tác và quản lý lẫn nhau giữa hai bên. Tình hình này chỉ có thể có lợi cho Việt Nam khi chứng tỏ rằng đất nước đã trưởng thành về năng lực quản lý nguồn lợi thủy sản. Đọc thêmChồng lấn EEZ, nguyên nhân vụ va chạm giữa tàu Việt Nam và Indonesia Không chỉ riêng ở Biển Đông, đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) là một vấn đề toàn cầu đe dọa hệ sinh thái đại dương và “đánh bắt cá bền vững”. Đây là lý do tại sao chính quyền Liên Hiệp Châu Âu đã giám sát Việt Nam sau cảnh báo vào năm 2017. Xin nhắc lại, những nước xuất khẩu sang Liên Âu được phân loại và có thể chịu trừng phạt tương ứng với hệ thống mã màu : xanh lá cây, vàng, đỏ, các lệnh trừng phạt có thể lên tới mức dừng hoàn toàn hoạt động thương mại. Do đó, thỏa thuận giữa Việt Nam và Indonesia có thể được coi là một giải pháp đôi bên cùng có lợi vì nó củng cố quan hệ song phương, tránh leo thang giữa ngư dân và cơ quan thực thi pháp luật. Còn đối với Việt Nam, thỏa thuận này cho thấy quốc gia này nghiêm túc thực hiện các cam kết quốc tế và là đối tác đáng tin cậy cho Liên Hiệp Châu Âu. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon, Pháp.
Trong lĩnh vực pháp lý, hợp tác giữa Pháp với Việt Nam là hợp tác lâu đời nhất so với các nước phương Tây khác và hiện nay, một trong những tổ chức tham gia tích cực nhất vào hợp tác pháp lý Pháp - Việt, đó là Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam ( ACJEV ), mà chủ tịch là nữ luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot. Bà Ngô Folliot cũng là chủ tịch Ủy ban Việt Nam của Luật sư đoàn Paris, một ủy ban được thành lập vào năm 2013. Trả lời RFI Việt ngữ tại Paris ngày 09/05/2025, luật sư Ngô Folliot nhắc lại: “Hợp tác pháp lý giữa Pháp và Việt Nam là hợp tác lâu đời nhất trong số các nước phương Tây với Việt Nam. Hợp tác này bắt đầu từ năm 1993, với việc thành lập Nhà Pháp luật Việt-Pháp. Trung tâm này đã hoạt động rất tốt cho đến khi đóng cửa năm 2012, vì nhiều lý do. Luật sư đoàn Paris đã thành lập Ủy ban Việt Nam để tiếp nối hoạt động của Nhà Pháp luật, thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo để hỗ trợ Việt Nam. Có thể nói là tôi hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực pháp lý gần như hằng ngày. Tôi thường xuyên phải trả lời những tham vấn, những câu hỏi của một sinh viên, một giáo sư hay một luật sư từ Việt Nam. Nhất là ở Pháp, với tư cách là chủ tịch Ủy ban Việt Nam của Luật sư đoàn Paris, trong khuôn khổ chương trình thực tập quốc tế, tôi còn tiếp nhận các sinh viên ngành luật, các luật sư Việt Nam sang Pháp thực tập. Họ tham gia các khóa thực tập bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, từ 3 tuần học lý thuyết tại Luật sư đoàn Paris và 3 tuần đến 1 tháng thực tập trong văn phòng luật sư của tôi. ” Cùng với đà phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, tranh chấp xảy ra ngày càng nhiều và vì thế cần phải có những phương thức giải quyết tranh chấp, bao gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài và giải quyết tranh chấp bằng toà án. Hiện nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, hoà giải đang dần dần trở thành phương thức giải quyết tranh chấp được các luật sư cũng như doanh nghiệp ưa chuộng. Các nhà hòa giải ở Việt Nam càng cần phải học hỏi kinh nghiệm từ các nước, trong đó có Pháp. Dưới sự bảo trợ của đại sứ quán Pháp tại Hà Nội, vào tháng 7 tới, Hội ACJEV sẽ phối hợp sẽ với Trung tâm Hòa giải Thương mại Quốc tế của Việt Nam và một số cơ quan khác, tổ chức những cuộc hội thảo ở ba thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và Quy Nhơn về đề tài: “Hòa giải, hòa giải ở năm lục địa và vai trò của luật sư”. Luật sư Ngô Folliot cho biết: “Đây là lần thứ ba chúng tôi tổ chức hội thảo về vấn đề hòa giải. Dầu sao thì các chủ đề chính là do phía Việt Nam lựa chọn theo nhu cầu của họ. Gần đây nhất là vào năm 2023, chúng tôi đã trình bày về hòa giải tại Pháp và châu Âu. Điều mà những người bạn trong giới đại học Việt Nam, cũng như các hiệp hội luật sư và sinh viên quan tâm chính là các trung tâm hòa giải, mà đó cũng chính là hoạt động của chúng tôi. Vì vậy, chúng tôi trao đổi rất nhiều về hoạt động chuyên môn của mình. Hoạt động hòa giải ở Việt Nam có nền tảng chung với hoạt động hòa giải ở Pháp và châu Âu. Ở Việt Nam hiện nay, hòa giải là bắt buộc, là điều kiện tiên quyết trước khi đưa vụ việc ra tòa, giống như ở Pháp, Ý và các nước khác ở châu Âu. Đó là hòa giải trong khuôn khổ của tòa án. Nhưng cũng có những hình thức hòa giải ngoài tòa án, như hòa giải cơ sở, được sử dụng để giải quyết các tranh chấp trong khu phố. Đây là hình thức hòa giải thành công nhất và vẫn luôn tồn tại ở Việt Nam. Còn hoạt động hòa giải thương mại tại Việt Nam ra đời từ nghị định năm 2017 khi các tranh chấp thương mại bùng nổ tại Việt Nam. Việc hòa giải là cần thiết và đặc điểm của nó là tính bảo mật. Người hòa giải cũng như các bên được yêu cầu không tiết lộ những gì đang diễn ra trong quá trình hòa giải, để có được sự tin tưởng của các bên liên quan khi sử dụng phương pháp giải quyết tranh chấp này. Tất nhiên vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng đến nay, với nghị định về hòa giải thương mại năm 2017, tức là 8 năm sau, hòa giải thương mại tại Việt Nam đã có nhiều tiến bộ. Tuy vậy, đây vẫn chưa phải là biện pháp thành công nhất để giải quyết các tranh chấp thương mại. Những cuộc hội thảo đầu tiên do hội ACJEV tổ chức cũng như trong các cuộc hội thảo sắp tới chính là dịp để hai bên trao đổi kinh nghiệm về các hoạt động hòa giải, đặc biệt là kinh nghiệm của phía Pháp về những nhà hòa giải chuyên trách, theo lời luật sư Ngô Folliot:“Ví dụ, có những tranh chấp chuyên biệt, tức là trong các lĩnh vực phân phối, xây dựng, năng lượng tái tạo, có những người hòa giải chuyên về các lĩnh vực này và họ sẽ can thiệp. Ngoài ra, ngay cả ở Việt Nam, ngày càng có nhiều tranh chấp với chính quyền có thể được giải quyết bằng phương pháp hòa giải. Trong lĩnh vực này, nhóm chúng tôi có hai chuyên gia, một cựu thẩm phán và một luật sư. Nói chung là các nhà hòa giải được chuyên môn hóa theo từng lĩnh vực. Ngoài những người làm công việc hòa giải cơ sở hoặc các hoạt động hòa giải khác, còn có các nhà hòa giải chuyên về một số lĩnh vực nhất định. Bằng chứng là trong hội thảo mà chúng tôi tổ chức, có một nhà hòa giải trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, một nhà hòa giải trong lĩnh vực xây dựng, một nhà hòa giải trong các tranh chấp giữa nhà phân phối và nhà cung cấp. Những kinh nghiệm của Pháp và châu Âu luôn được bạn bè Việt Nam quan tâm, vì chúng ta không hành động theo cùng một cách. Ngay cả khi về cơ bản luật của hai nước có những nét giống nhau, nhưng về thực tiễn chắc chắn có những khác biệt. Chúng tôi quan tâm đến các hoạt động của Việt Nam, cũng như Việt Nam quan tâm đến các hoạt động của Pháp và châu Âu. Các hội thảo sẽ được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 4 tháng 7, tại Đà Nẵng ngày 9 tháng 7 và sau đó là tại Quy Nhơn ngày 12 tháng 7. Tại sao lại phải tổ chức ở ba địa điểm khác nhau? Đó chính là để cho càng nhiều người Việt Nam càng tốt tham dự các hội thảo này và có thể trao đổi với chúng tôi. Ngoài các hội thảo, còn có các cuộc thảo luận. Trong suốt năm, vẫn có những trao đổi ý tưởng giữa luật sư Việt Nam và Pháp và chúng tôi liên tục trao đổi ý tưởng để cải thiện cả hoạt động thực hành và kiến thức của mình.”Chính là qua các cuộc hội thảo cũng như qua các trao đổi thường xuyên mà luật sư Ngô Folliot hiểu rõ hơn về hoạt động hòa giải ở Việt Nam, một lĩnh vực còn khá mới so với các lĩnh vực pháp lý khác:“Dĩ nhiên là luật lệ luôn cần được thay đổi để thích ứng với nhu cầu, với bối cảnh của đất nước, bối cảnh toàn cầu. Luôn có những điểm cần cải thiện, nhưng tôi thấy luật hòa giải của Việt Nam đã khá hoàn chỉnh mặc dù được ban hành những năm gần đây. Chắc chắn có những điểm cần hoàn thiện, nhưng không phải là về nội dung, mà chỉ là trong thực hành, chúng ta cần phải tiến xa hơn nữa. Luật hòa giải thương mại đã có từ 8 năm trước, Luật hòa giải, đối thoại thì mới được soạn thảo từ năm 2020 và có hiệu lực từ năm 2021. Chúng ta đã ở giai đoạn đầu với tất cả 16 tỉnh đều đã thực hiện thử nghiệm, tình hình chỉ có thể được cải thiện hơn. Hòa giải người tiêu dùng là phương thức hòa giải cơ bản nhất, có từ lâu nhất. Ở Pháp, chúng tôi có những người hòa giải chuyên trách cho từng lĩnh vực, ví dụ, nếu bạn có tranh chấp với một tiệm giặt ủi, bạn nên liên hệ với tổ chức quản lý các tiệm này. Nếu bạn có vấn đề về năng lượng hoặc điện, bạn hãy liên hệ với một chuyên gia hòa giải, mỗi lĩnh vực đều phải có người trung gian hòa giải riêng. Ngay cả trong giới luật sư, khi có tranh chấp giữa chúng tôi thì cũng cần có người hòa giải, phải cố giải quyết vấn đề thông qua người hòa giải trước khi tiến hành tố tụng. Tôi không biết ở Việt Nam có người hòa giải nào cho luật sư hay không, nhưng ngày càng có nhiều người hòa giải chuyên trách và họ sẽ phải được đào tạo trong các lĩnh vực họ hành nghề. Những người hòa giải phải hành xử một cách độc lập, vô tư và phải xử lý vấn đề như thể họ không biết các bên. Ngoại trừ trong các tranh chấp láng giềng: Ở Việt Nam có một đặc thù là người hòa giải phải là người biết rõ các bên, vì xung đột thường xảy ra ở làng quê, hay ở các thành phố nơi mọi người đều biết nhau, gia đình rất quan trọng. Trong trường hợp này, người hòa giải biết rõ các bên và gia đình của họ. Điều này rõ ràng là giúp giải quyết vấn đề tốt hơn.”Cuộc hội thảo được tổ chức tại Đại học Ngoại thương ở Hà Nội ngày 04/07 sẽ là dịp để hai bên Pháp - Việt Nam trao đổi về hoạt động hòa giải trên khắp 5 châu, đặc biệt là tại Pháp, châu Âu và châu Phi cũng như tại châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Các diễn giả cũng sẽ trình bày về hòa giải cho những tranh chấp trong các lĩnh vực phân phối, xây dựng, năng lượng sạch và tranh chấp với cơ quan hành chính.
Nhân kỷ niệm 50 năm ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam 30/04/2025, Hà Nội đã tổ chức một cuộc diễu binh rầm rộ tại Thành phố Hồ Chí Minh và đặc biệt, lần đầu tiên đã mời quân đội Trung Quốc tham gia cuộc diễu binh. Trước đó, vào giữa tháng 4, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đến thăm Việt Nam và đã được tiếp đón rất trọng thể. Trong chuyến đi này, ông Tập Cận Bình đã kêu gọi Việt Nam hãy cùng với Trung Quốc "chống lại hành động hù dọa", ám chỉ Hoa Kỳ. Những sự kiện nói trên diễn ra đúng vào lúc căng thẳng thương mại Mỹ-Trung lên đến cao độ và Việt Nam đang đàm phán với Hoa Kỳ với hy vọng được giảm mức thuế "đối ứng" rất cao, lên đến 46%, mà tổng thống Donald Trump công bố ngày 02/04.Căng thẳng thương mại Mỹ-Trung hiện tạm thời lắng xuống sau khi hai nước đạt được thỏa thuận về thuế quan trong cuộc gặp tại Genève hai ngày 10 và 11/05/2025, cụ thể là trong thời gian 90 ngày sẽ giảm mức thuế đối ứng xuống còn 30% ( đối với hàng Trung Quốc ) và 10% ( đối với hàng Mỹ ). Theo nhận định của hãng tin Reuters ngày 13/05, thỏa thuận thuế quan Mỹ - Trung làm gia tăng áp lực đối với những nước như Việt Nam, nơi cũng thu hút các nhà sản xuất Trung Quốc kể từ khi Trump áp thuế trong nhiệm kỳ đầu của ông. Như vậy là Việt Nam sẽ buộc phải cố gắng đạt được một thỏa thuận với Mỹ tốt hơn thỏa thuận Mỹ-Trung ở Genève. Vào lúc Việt Nam đang đàm phán với Mỹ thì Bắc Kinh lại cảnh cáo là các nước không nên đạt được một thỏa thuận thương mại nào "bất lợi" cho Trung Quốc, và nếu xẩy ra trường hợp này, Trung Quốc sẽ thi hành các biện pháp trả đũa kinh tế. Lời đe dọa này có liên hệ trực tiếp với Việt Nam, vì Việt Nam vẫn bị Hoa Kỳ xem là nơi sản xuất hàng hóa cho Trung Quốc để xuất sang thị trường Mỹ mà không bị đánh thuế nặng. Trong một bài viết đăng ngày 16/05/2025 trên trang mạng của Tổ chức Châu Á - Thái Bình Dương Canada (APF Canada), nhà nghiên cứu Sasha Lee cũng lưu ý "những nhượng bộ thương mại của Việt Nam (giám sát chặt chẽ hơn nguồn gốc xuất xứ hàng hóa được sử dụng trong sản xuất, khuyến khích mua thêm hàng giá trị cao của Mỹ...) có thể giúp xoa dịu Hoa Kỳ, nhưng có nguy cơ làm mất ổn định mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc. Bất kỳ sự thỏa hiệp kinh tế đáng kể nào đối với Hoa Kỳ đều có thể bị Trung Quốc trả đũa."Bà Sasha Lee nhấn mạnh "Quan trọng hơn, do chuỗi cung ứng của Việt Nam liên kết quá chặt chẽ với Trung Quốc, phản ứng kinh tế từ Bắc Kinh, chẳng hạn như tăng thuế đối với hàng hóa Việt Nam hoặc giảm đầu tư của Trung Quốc, có thể làm gián đoạn đáng kể các ngành công nghiệp của Việt Nam. Do đó, Việt Nam đang đi trên dây, tìm cách khẳng định tầm quan trọng của mình như một trung tâm sản xuất thay thế cho Hoa Kỳ trong khi cẩn thận tránh các hành động bị xem là liên kết kinh tế hoặc chính trị với Washington."Cuộc chiến thuế quan của Mỹ tác động như thế nào đến quan hệ Việt-Trung? RFI Việt ngữ phỏng vấn tiến sĩ Vũ Xuân Khang, hiện là học giả thỉnh giảng (visiting scholar) về quan hệ quốc tế tại đại học Boston College, Hoa Kỳ.RFI: Việt Nam lần đầu tiên đã cho quân đội Trung Quốc tham gia diễu binh ngày 30/04/2025 đúng vào lúc căng thẳng thương mại với Mỹ đang lên đến cao độ. Cộng thêm với việc chủ tịch Tập Cận Bình đã được đón tiếp một cách đặc biệt trọng thể, việc quân đội Trung Quốc tham gia diễu binh có phải là một thắng lợi có tính chất biểu tượng của Bắc Kinh trong cuộc tranh giành ảnh hưởng với Hoa Kỳ để thu phục Việt Nam?Vũ Xuân Khang: Việt Nam kể khi từ bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1991 đã luôn đặt Trung Quốc làm đối tác quan trọng nhất về cả an ninh, chính trị, và kinh tế. Điều này có nguyên do từ việc Việt Nam đã bị Liên Xô bỏ rơi và phải giải quyết vấn đề Cam Bốt, cũng như xung đột biên giới Việt-Trung trên thế yếu với Trung Quốc. Việt Nam hiểu rằng họ cần tránh tái diễn một cuộc xung đột với Trung Quốc, nên kể từ khi bình thường hóa quan hệ, Việt Nam đã luôn luôn từ chối tham gia liên minh hay hợp tác với một quốc gia khác để chống Trung Quốc. Việt Nam luôn muốn tăng cường hợp tác quốc phòng với Mỹ, nhất là để hiện đại hóa năng lực của lực lượng hải quân và không quân, nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tuy vậy, Việt Nam rất muốn duy trì quan hệ hữu hảo với Trung Quốc và trong bài toán này thì Trung Quốc luôn luôn được đặt trên mối quan hệ với Hoa Kỳ, do Trung Quốc có thể làm tổn hại an ninh của Việt Nam về mọi mặt từ đất liền, hải đảo, cho đến kinh tế, lẫn chính trị. Chính vì thế việc Việt Nam lần đầu tiên cho quân đội Trung Quốc tham gia diễu binh ngày 30/04 là một tín hiệu với Trung Quốc, đó là Việt Nam có tăng cường quan hệ với Mỹ hay với bất kỳ quốc gia nào, bản chất quan hệ Việt - Trung từ trước đến nay vẫn luôn hữu hảo và Việt Nam muốn ghi nhận sự giúp đỡ của Trung Quốc trong quá khứ, cũng như hiện tại và tương lai. Có thể là lời mời quân đội Trung Quốc tham gia diễu binh ngày 30/04 đã có từ trước khi tổng thống Mỹ Donald Trump công bố các mức thuế quan, cho nên hai sự kiện này có thể không liên quan đến nhau. Nhưng có thể nói rõ là căng thẳng thương mại Việt-Mỹ hiện nay là một điều không đáng có trong quan hệ giữa hai nước và hai bên sẽ tiếp tục đàm phán để giảm thiểu các rào cản về thuế quan. RFI: Dầu sao thì phía Trung Quốc đã mô tả chuyến thăm vừa qua của Tập Cận Bình ở Việt Nam bằng những từ ngữ hiếm khi thấy trong thời gian gần đây, như “vừa là đồng chí vừa là anh em”, phải chăng họ muốn nhấn mạnh quan hệ giữa hai nước đã tăng thêm một nấc, trong lúc có vẻ như Hoa Kỳ đang đi bước lùi trong quan hệ với Việt Nam?Vũ Xuân Khang: Thật ra quan hệ Việt Nam - Trung Quốc kể từ 2023 mặc dù tên gọi vẫn là Đối tác chiến lược toàn diện, nhưng về bản chất thì Việt Nam đã nâng quan hệ lên mức cao hơn khi chấp nhận tham gia "Cộng đồng chung vận mệnh" của Trung Quốc. Gọi Việt Nam "vừa là đồng chí, vừa là anh em" cũng là một lời khẳng định, đó là Trung Quốc luôn coi trọng quan hệ giữa hai nước và Việt Nam không nên để các bất đồng khác trong quan hệ song phương làm ảnh hưởng đến đại cục, hay tạo điều kiện cho thế lực bên ngoài phá hoại quan hệ giữa hai bên.Rõ ràng là khi chính quan hệ Mỹ-Trung căng thẳng, Trung Quốc lại càng muốn thân thiện với Việt Nam để ngăn Hoa Kỳ sử dụng Việt Nam làm bàn đạp để làm tổn hại lợi ích quốc gia của Trung Quốc. Việc Hoa Kỳ với Việt Nam có căng thẳng thương mại sẽ tạo điều kiện cho Trung Quốc thuyết phục Việt Nam là không nên tin tưởng vào Hoa Kỳ.RFI: Việt Nam đang đàm phán với Hoa Kỳ để được giảm mức thuế đối ứng, nhưng trong khi đó Trung Quốc đã cảnh cáo các nước không được ký các thỏa thuận thuế quan với Mỹ mà bất lợi cho Trung Quốc. Liệu Việt Nam có thể thoát ra được thế "gọng kìm" này?Vũ Xuân Khang: Có thể thấy Việt Nam đúng là đang bị kẹt vào thế khó khi cả hai đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam là Mỹ và Trung Quốc đều muốn Hà Nội ngả về phe mình. Tuy nhiên, may mắn cho Việt Nam, đây mới chỉ là xung đột về thương mại, nên bản chất của cuộc cạnh tranh không tổn hại đến an ninh của Việt Nam như một cuộc xung đột quân sự Mỹ-Trung. Hiện tại, Việt Nam đang cố thoát khỏi thế gọng kìm bằng cách mở rộng thị trường xuất khẩu ra các thị trường ngoài Mỹ, như là châu Âu, hay thuyết phục Trung Quốc mua thêm nhiều hàng hóa của Việt Nam. Tuy vậy, Mỹ là một thị trường xuất khẩu quá lớn của Việt Nam, do đó sẽ phải mất một thời gian để Việt Nam điều chỉnh thị trường xuất khẩu. Rõ ràng với khối lượng trao đổi hàng hóa rất lớn với Mỹ như vậy, trong ngắn hạn, Việt Nam sẽ gặp khó khăn khi chính sách thuế quan của Mỹ chưa rõ ràng, nhưng về bản chất, Việt Nam sẽ tiếp tục điều chỉnh chính sách thương mại tuân theo chính sách ngoại giao đa phương hóa đa dạng hóa, để tránh làm mất lòng cả Mỹ và Trung Quốc.RFI: Nếu tổng thống Trump duy trì chính sách thuế quan bất lợi cho Việt Nam như vậy, về lâu dài liệu có nguy cơ là Việt Nam sẽ phụ thuộc Trung Quốc nhiều hơn về mặt kinh tế và như vậy sẽ dần dần lọt sâu vào quỹ đạo của Bắc Kinh?Vũ Xuân Khang: Thực ra Việt Nam đã nằm trong quỹ đạo của Bắc Kinh kể từ năm 1991. Đây không phải là một sự lựa chọn chủ động của Việt Nam, mà là do chính sách củaTrung Quốc sử dụng áp lực quân sự và kinh tế ép Việt Nam phải tôn trọng vị thế của Trung Quốc, khi Việt Nam trong giai đoạn 1970-1980 dùng liên minh với Liên Xô để khẳng định vị thế của mình và làm phật lòng Trung Quốc. Có thể hiểu đơn giản là Việt Nam đang quay trở lại một quỹ đạo mà từ ngàn xưa đến nay các hoàng đế Việt Nam đã phải tuân thủ: sau khi chiến thắng các cuộc xâm lược từ phương Bắc, họ đều phải triều cống và thuần phục Bắc Kinh nhằm tránh các cuộc chiến tranh không cần thiết với láng giềng phương Bắc. Trong hoàn cảnh hiện nay, Việt Nam chỉ có thể phát triển hòa bình ổn định khi quan hệ Việt-Trung ổn định. Tổng thống Mỹ duy trì chính sách thuế quan bất lợi cho Việt Nam sẽ là một bước lùi trong quan hệ Việt-Mỹ, và một sự phát triển rất có lợi cho Trung Quốc. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ cố gắng giữ một nền ngoại giao độc lập, tự chủ, luôn mong muốn tìm kiếm các đối tác kinh tế mới, hay mở rộng quan hệ kinh tế với các đối tác hiện tại, bao gồm cả Trung Quốc và Mỹ, để làm giảm tổn thất đến phát triển kinh tế. Cần phải nói lại là mặc dù nằm trong quỹ đạo của Trung Quốc,Việt Nam có một lợi ích kinh tế rất lớn khi duy trì quan hệ hữu hảo với Hoa Kỳ, nhất là trong trường hợp Việt Nam cần hiện đại hóa quân đội để bảo vệ chủ quyền biển đảo của mình.
Nguyên là đại sứ Pháp tại Việt Nam từ 1989 đến 1993, ông Claude Blanchemaison vừa cho ra mắt độc giả ở Pháp một cuốn sách gần như là hồi ký của một nhà ngoại giao. Tác giả đặt tựa cho quyển sách là “Fragments d'un parcours aventureux” ( tạm dịch là “Những phân đoạn của một hành trình kỳ thú” ). Ngoài Việt Nam, ông Blanchemaison đã từng là đại sứ ở các nước Ấn Độ, Nga, Tadjikistan và Tây Ban Nha và cũng đã từng giữ nhiều chức vụ cao cấp trong bộ Ngoại Giao Pháp. Hiện là một chuyên gia về châu Âu và châu Á, ông vẫn thường xuyên bình luận về thời sự quốc tế trên các kênh truyền hình và truyền thanh của Pháp. Cuốn sách của ông “Sống với Putin” đã nhận được giải Jacques Fouchier của Viện Hàn lâm Pháp năm 2020. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ, cựu đại sứ Blanchemaison kể lại, vào ngày 24/02/2022 (đúng vào ngày Putin xua quân xâm lăng Ukraina !), khi đang ở một nhà hàng ở Paris ông đã bước hụt và bị ngã, vỡ cả hai đầu gối, nên phải được phẫu thuật và phải nằm viện một thời gian dài do chấn thương đầu gối khá nghiêm trọng. Chính trong thời gian đó mà Claude Blanchemaison nảy ra ý định viết một cuốn sách kể lại đời mình từ thuở thiếu niên cho đến ngày nay, nhưng phần lớn tác phẩm này được dành cho sự nghiệp rất dài của một nhà ngoại giao kỳ cựu, mà một trong những chặng đường mà ông đã đi qua là Việt Nam: Rồi một ngày đầu năm 1989, tôi được thông báo: "Họ đang suy tính bổ nhiệm ông làm đại sứ tại Việt Nam". Một khả năng khá là chắc chắn và tôi thậm chí còn được mời tham gia một phái đoàn của bộ trưởng Nông Nghiệp Pháp đến thăm Việt Nam vào tháng 2/1989. Thế là tôi đã đến đó cùng với ông và đã khám phá Việt Nam với những cảnh quan tuyệt đẹp. Tháp tùng bộ trưởng Nông Nghiệp Henri Nallet, chúng tôi đã đến Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, nơi chúng tôi gặp các giám đốc của các viện nông học đã từng du học ở Pháp và về cơ bản đã duy trì được mạng lưới hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, hợp tác với các kỹ sư nông nghiệp Việt Nam và Pháp. Đây gần như là lĩnh vực duy nhất thực sự có sự hợp tác, ngoài lĩnh vực ngôn ngữ, nghĩa là giảng dạy tiếng Pháp và duy trì đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp. Tôi nhận thấy rằng người Việt Nam luôn có thông tin đầy đủ: Một trong những phiên dịch viên nói với tôi: “ Có tin đồn rằng ngài sẽ đến Việt Nam với tư cách là đại sứ, vậy khi nào ngài sẽ đến?” Vị đại sứ trẻ Claude Blanchemaison đã nhậm chức đại sứ Pháp tại Việt Nam năm 1989, vào một thời điểm rất đặc biệt: Việt Nam vẫn còn bị Mỹ cấm vận, nhưng bắt đầu mở cửa với thế giới và cải cách kinh tế, trong khi đó cuộc chiến ở Cam Bốt vẫn chưa kết thúc hoàn toàn. Blanchemaison kể lại những ngày đầu tiên ông đại diện cho nước Pháp ở Việt Nam: Đối với tôi, đó quả là một thách thức, vì chỉ thị mà tôi nhận được từ tổng thống và ngoại trưởng là nối lại quan hệ với Việt Nam, nối lại hợp tác bất cứ khi nào có thể và giúp đỡ Việt Nam. Vào thời điểm đó, Việt Nam còn nghèo đói sau hơn 30 năm chiến tranh với Pháp, với Mỹ và sau đó Việt Nam đánh đuổi Khmer Đỏ ra khỏi Cam Bốt, khiến Trung Quốc tức giận và đã đánh sang miền bắc Việt Nam. Và như ông có nói, lệnh cấm vận của Mỹ rất nghiêm ngặt và thực tế là tình trạng kinh tế của đất nước rất khó khăn. Khi tôi đến thì Việt Nam đã quyết định thi hành chính sách Đổi Mới, tức là cải cách kinh tế. hơi giống với những gì Trung Quốc đã và đang là từ trước đó một thời gian, đó là chuyển từ nền kinh tế tập trung, kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường mang màu sắc Việt Nam. Nhưng vấn đề là chưa có một khuôn khổ pháp lý. Chỉ có quyết tâm chuyển sang nền kinh tế thị trường không thì chưa đủ, mà cần có những luật lệ, quy định, thể chế phù hợp với nền kinh tế thị trường. Và đó là nhiệm vụ đầu tiên của tôi. Phía Việt Nam hỏi tôi liệu có thể tìm được người trợ giúp họ, tư vấn cho họ về việc soạn thảo bộ Luật Thương mại không?Thật tình cờ là khi đó có một luật gia người Pháp rất nổi tiếng, là một trong những chánh án Tòa Phúc thẩm Paris, ông Pierre Bizard, sinh ra tại Việt Nam. Cha ông làm việc trong chính quyền Pháp và từng công tác ở Việt Nam. Ông Pierre Bizard đã tình nguyện đến Việt Nam rất thường xuyên, trong các chuyến đi 8 ngày hoặc 15 ngày để làm việc với nhóm của bộ trưởng Tư Pháp Việt Nam về bộ Luật Thương mại Việt Nam, vì ưu tiên là phải có khuôn khổ pháp lý để chuyển sang nền kinh tế thị trường. Hơn nữa, khi đó bộ Tài chính Pháp cũng có một cơ quan hợp tác với nước ngoài, đứng đầu là một thanh tra tài chính rất nổi tiếng vào thời điểm đó, ông Jacques de Chalendar. Ông de Chalendar nói: "Chúng ta có thể huy động chuyên môn của các công chức, phó giám đốc, giám đốc của chúng ta tại bộ Tài Chính". Và ông đã tổ chức hợp tác với bộ Tài Chính Việt Nam để Việt Nam có một kho bạc thực sự và một tổng cục thuế thực sự. Có nghĩa là, giống như bất kỳ Nhà nước hiện đại nào, thuế phải được thu theo đúng luật, theo các quy định pháp lý, và tiền thuế được đưa về trung ương, tức là về Hà Nội, về bộ Tài Chính, rồi sau đó việc phân bổ ngân sách phải thực hiện dựa trên ngân sách do Quốc Hội biểu quyết. Trong hệ thống trước đó ở Việt Nam, lãnh đạo các vùng có thể giữ lại một phần tiền thuế để phục vụ nhu cầu của địa phương và gửi phần còn lại về Hà Nội. Vì vậy, cần phải cải cách toàn diện và cơ bản. Các quan chức Việt Nam và Pháp đã hợp tác để thiết lập hệ thống giúp hình thành một nền kinh tế thị trường thay thế cho nền kinh tế tập trung, kế hoạch hóa kiểu Liên Xô. Chúng tôi thực sự đã mất khá nhiều thời gian.” Trong cuốn sách, ông Blanchemaison có kể lại chuyện tướng Võ Nguyên Giáp đã bất ngờ đến dự lễ kỷ niệm 200 năm Cách mạng Pháp, được tổ chức tại đại sứ quán Pháp ngày 14/07/1989. Cho tới lúc đó, tướng Giáp chưa bao giờ đến đại sứ quán Pháp và đối với đại sứ Blanchemaison, sự tham dự của vị tướng này một dấu hiệu của sự hòa giải, mà sứ mệnh của ông Blanchemaison cũng chính là mang lại sự hòa giải và xây dựng lòng tin giữa người Việt Nam và người Pháp. Tiến trình hòa giải giữa hai nước còn được đánh dấu bằng chuyến thăm lịch sử của tổng thống François Mitterrand 4 năm sau đó, năm 1993: “Chưa từng có chuyến thăm cấp Nhà nước của một tổng thống phương Tây tới Hà Nội và cũng chưa từng có một chuyến thăm của một tổng thống Pháp đến Việt Nam. Chuyến đi này thực sự đánh dấu kết quả của một quá trình hòa giải. Tổng thống Mitterrand cũng đã gặp tướng Giáp. Ông nhất quyết muốn đến Điện Biên Phủ để được Pierre Schoendorfer, một nhà làm phim trong quân đội ở Điện Biên Phủ, giải thích cho ông về trận chiến, do Schoendorfer hiểu rõ trận chiến, thậm chí sau đó đã bị bắt làm tù binh tại đây. Mọi chuyện diễn ra rất tốt đẹp và đó là biểu hiện to lớn của hòa giải ” Ngay cả sau khi hết nhiệm kỳ đại sứ Pháp tại Việt Nam, ông Blanchemaison tiếp tục giữ liên lạc với Việt Nam thông qua những hoạt động khác: “Sau đó tôi trở về Paris, vì chúng tôi phải luân phiên đảm nhiệm các vị trí ở nước ngoài và ở Paris. Rồi trở thành tôi trở thành vụ trưởng vụ Châu Á và Châu Đại Dương và vì thế, tôi luôn để mắt đến Việt Nam và tôi đã tiếp tất cả những vị khách quan trọng của Việt Nam đến Paris, những người mà tôi đã quen biết khi ở Việt Nam. Chúng tôi đã cùng nhau ăn trưa, trò chuyện và tôi cũng có cơ hội quay lại Việt Nam vào thời điểm đó. Sau đó, vẫn hướng châu Á, tôi đi nhận nhiệm vụ ở Ấn Độ. Sau khi rời Ấn Độ, tôi đã đi làm việc ở Nga, vào thời điểm Putin lên nắm quyền, tức là năm 2000. Sau nước Nga, tôi trở về Paris, được giao đặc trách mọi vấn đề hợp tác của Pháp với các nước thứ ba và như vậy tôi có dịp trở lại Việt Nam khi Hà Nội đăng cai hội nghị thượng đỉnh ASEM, tức là thượng đỉnh giữa châu Âu và châu Á. Do tổng thống Jacques Chirac phải tiếp tục chuyến công du của ông nên giữa chừng phải rời cuộc họp. Ông nói với tôi: "Ông thay tôi nhé, vì họ biết ông rất rõ, ông giữ dùm ghế đại diện cho nước Pháp trong nửa sau của cuộc họp. Thật là thú vị, bởi vì tôi biết rất rõ thủ tướng Việt Nam, người chủ trì hội nghị. Vì vậy, chúng tôi đã trao đổi rất nhiều ý kiến và cả những chuyện đùa nữa.” Vẫn theo dõi sát tình hình Việt Nam, Claude Blanchemaison đưa ra đánh giá của ông về tiến triển của Việt Nam kể từ thời ông làm đại sứ Pháp cho đến ngày nay, tức là trong hơn 30 năm qua: Khi tôi đến Việt Nam vào năm 89, lúc đầu chúng tôi đã phải cử những người trẻ trong đại sứ quán đi mua các thứ cần thiết ở Bangkok. Nhưng tình hình đã diễn biến rất nhanh chóng, vì Việt Nam đã mở cửa rất nhanh và hiện nay rõ ràng Việt Nam là một trong những con hổ châu Á, đã phát triển toàn diện và hội nhập hoàn toàn vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), điều mà chúng tôi đã thúc đẩy vào lúc đó. Ngoài ra, Việt Nam cũng như các nước khác trong khu vực đều cho rằng liên minh quân sự là một điều hơi nguy hiểm và mong muốn có quan hệ với tất cả các nước muốn có quan hệ tốt với mình và do đó hợp tác chiến lược với rất nhiều nước, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau tùy thuộc vào những gì quốc gia đó có thể mang lại cho Việt Nam và tùy thuộc vào những gì có thể thực hiện được trong các hợp tác hai chiều này. Rõ ràng nhất là hợp tác với Liên Hiệp Châu Âu. Khi tôi còn tại nhiệm, chúng tôi đã nhấn mạnh Việt Nam phải ký kết các hiệp định kinh tế với Liên Hiệp Châu Âu. Và hai bên đã ký hiệp định. Tôi thấy bà Ursula von der Leyen sẽ đến Việt Nam để tăng cường quan hệ và nâng quan hệ lên một nấc cao hơn. Điều này rất quan trọng, đặc biệt là vào thời điểm ông Trump đang làm đảo lộn hoàn toàn nền kinh tế thế giới. Chúng ta phải có những biện pháp phòng ngừa và thực sự những biện pháp phòng ngừa còn mang tính chiến lược trong lĩnh vực kinh tế giữa Pháp và Việt Nam, giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam.”Kết thúc phần nói về Việt Nam trong cuốn sách của ông, cựu đại sứ Blanchemaison đặt câu hỏi: "Nước Pháp có thể phát triển được quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam trong các lãnh vực nhạy cảm công nghệ lưỡng dụng, thậm chí thuần túy quân sự?" Tác giả nhắc lại trong chuyến thăm cấp Nhà nước ở Pháp hai ngày 6 và 7/10/2024, tổng bí thư Tô Lâm ( lúc đó còn kiêm nhiệm chức chủ tịch nước ) và tổng thống Emmanuel Macron đã nâng quan hệ Pháp-Việt lên thành Đối tác chiến lược toàn diện. Ông Blanchemaison ghi nhận: "Hợp tác giữa Pháp và Việt Nam đã phát triển đều đặn trong một bầu không khí tin cậy. Chúng ta có một lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh tại một quốc gia nay có đến 100 triệu dân và có một mức tăng trưởng hàng năm hơn 7%."
Mức thuế “đối ứng” 46% đối với Việt Nam là một trong những mức thuế cao nhất mà tổng thống Mỹ Donald Trump ban hành ngày 02/04/2025. Đòn thuế quan này, trên nguyên tắc có hiệu lực từ ngày 09/04 nhưng được tạm hoãn áp dụng trong 90 ngày, có thể sẽ gây tổn hại nặng nề cho tăng trưởng của Việt Nam, vì kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào xuất khẩu, trong đó Hoa Kỳ là một trong những thị trường chính. Theo chuyên gia Chu Thanh Tuấn, Đại học RMIT Việt Nam, trong bài viết tên trang web của đại học này ngày 04/04, "các ngành xuất khẩu chủ lực, bao gồm dệt may, điện tử, da giày, thủy sản và đồ gỗ, đều phụ thuộc nặng nề vào thị trường Mỹ. Gần 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam hướng đến người tiêu dùng Mỹ. Việc chính quyền Trump áp thuế cao như vậy có thể làm xói mòn lợi thế cạnh tranh về giá, dẫn đến nguy cơ bị hủy đơn hàng và buộc doanh nghiệp hoặc phải chấp nhận giảm biên lợi nhuận, hoặc phải chuyển hoạt động sản xuất sang khu vực khác".Chuyên gia Chu Thanh Tuấn nhấn mạnh, hệ quả không chỉ giới hạn ở các doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp, vì thuế quan nhắm vào hàng Việt Nam xuất đi Mỹ “có thể gây gián đoạn trên toàn bộ chuỗi cung ứng, làm tăng chi phí đầu vào và làm giảm nhu cầu trên nhiều lĩnh vực trong nước; ảnh hưởng dây chuyền tới các lĩnh vực trong nước như logistics, tài chính, đóng gói và tuân thủ quy chuẩn”.Nhưng trả lời RFI Việt ngữ ngày 09/04/2025, ông Francesco Trần Văn Liêng, Chủ tịch kiêm sáng lập viên Công ty cổ phần Ca cao Việt Nam VINACACAO, đưa ra một nhận định khác về tác động của thuế quan Mỹ: “Thứ nhất, thuế này không phải là thuế song phương, mà mang tính đa biên rất rõ, tức là ít nhiều cả thế giới này đều bị ảnh hưởng và cả thế giới sẽ bị đẩy lên một mặt bằng lạm phát mới. Các mức giá cả sẽ cao hơn rất nhiều. Ngay cả ở Hoa Kỳ, các mức giá từ điện tử, xe hơi, xăng dầu, thực phẩm sẽ đều tăng từ 15 đến 20%. Riêng trứng gà đã tăng 56%. Điều này tạo ra một “khung kháng thể mới” cho người tiêu dùng Mỹ, có nghĩa là việc tăng giá này sẽ làm cho họ quen dần với mức giá mới cho tất cả các mặt hàng, trong đó có hàng Việt Nam. Thứ hai, xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ chỉ chiếm 35% tổng lượng xuất khẩu của quốc gia, trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI chiếm tới 70%. Các mặt hàng của họ thường là điện tử, điện thoại, những mặt hàng mà người ta lắp ráp ở Việt Nam để tận dụng các ưu thế về nhân công. Còn lại thì ngành dệt may bị ảnh hưởng, vì “tạm nhập tái xuất” nhiều, tức là trị giá gia tăng không cao. Ngành bị ảnh hưởng khá nhiều đó là nông sản, hải sản, như tôm, đồ gỗ, cà phê, gạo...Nếu nhìn tổng quát thì kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế mở. Điều này có nghĩa là những “con đại bàng” lớn, như Nike, hoặc Intel, hoặc Samsung bị “trúng tên”. Mức thuế này có thể làm chùn bước một số doanh nghiệp mà từ trước đến giờ vẫn tận hưởng ưu thế về lao động.Còn lại các mặt hàng, chủ yếu là nông sản, thì bán theo hình thức FOB ( giá tại cửa khẩu bên nước của người bán ), tức là giá xuất khẩu. Giá xuất khẩu có thể không đổi, nhưng giá vào Hoa Kỳ thì sẽ tăng. Trách nhiệm này thuộc về nhà nhập khẩu Mỹ. Họ sẽ điều chỉnh, tái phân bố chi phí mới này để trung hòa vào chuỗi cung ứng của họ, để người Mỹ, vốn đã có sức đề kháng mới về giá cả, sẽ không bị tác động nhiều bởi mức giá mới này.Sắp tới nền kinh tế Mỹ có thể bị suy thoái, lạm phát sẽ tăng, người Mỹ sẽ phải đối phó với rất nhiều hướng, chứ không chỉ có những mặt hàng mà Việt Nam xuất khẩu qua. Những nhà nhập khẩu Mỹ có thể quay lại thương lượng với người bán hàng Việt Nam. Cũng có thể là hai bên sẽ thương lượng để tìm ra một mức giá hợp lý để người xuất khẩu FOB có thể gánh một phần chi phí. Còn về phía các doanh nghiệp Việt Nam thì rõ ràng nếu họ bán giá FOB với mức như từ trước đến nay cũng được. Có thể sức mua sẽ giảm, nhưng có những mặt hàng thì Mỹ có thể không có chọn lựa nào khác, ví dụ như cà phê của Việt Nam thì quá tốt, họ không thể chuyển qua chọn cà phê Brazil, vì nếu chọn thì họ đã chọn từ lâu rồi. Tôm của Việt Nam thì rất ngon, nhưng họ có thể chọn của Thái Lan, có điều tôm của Thái Lan thì cũng bị tăng giá.Chính phủ đã mạnh dạn thương lượng song phương để tìm ra một con đường chung cho cả hai bên. Chính phủ cũng sẽ tiếp cận với các doanh nghiệp lớn bị ảnh hưởng trực tiếp bởi mức thuế này ( hầu hết các doanh nghiệp như Samsung, Intel, Nike, sang Việt Nam đầu tư thì tìm những thị trường như thị trường Mỹ ), để có những đối sách cần thiết, giúp họ giảm bớt chi phí của thuế 46% này." ” Trước những tác động của mức thuế 46%, Việt Nam không thể làm gì khác hơn là “năn nỉ” Hoa Kỳ nhẹ tay một chút. Hôm thứ năm tuần trước, 10/04/2025, chính phủ Việt Nam thông báo là hai nước sẽ tiến hành đàm phán về một "thỏa thuận thương mại đối ứng". Thông báo này được đưa ra sau cuộc gặp hôm trước tại Washington giữa phó thủ tướng Hồ Đức Phớc, đặc phái viên của tổng bí thư Tô Lâm, với Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Jamieson Greer. Ban đầu, ông Tô Lâm đề nghị Mỹ tạm hoãn áp thuế trong 45 ngày, nhưng rốt cuộc coi như sẽ có đến 90 ngày để đàm phán.Trước đó, Hà Nội đã tuyên bố sẵn sàng đàm phán để hai bên giảm thuế nhập khẩu đối với nhau xuống còn 0%, đồng thời cam kết sẽ “tiếp tục mua thêm các mặt hàng Hoa Kỳ có thế mạnh mà Việt Nam có nhu cầu, kể cả các mặt hàng liên quan an ninh - quốc phòng”.Nhưng không chắc là những cam kết giảm nói trên sẽ đủ để Hoa Kỳ nương tay. Chiến lược gia tiền tệ kỳ cựu Bilal Hafeez, hiện là giám đốc nghiên cứu tại Macro Hive, cho biết để đưa cán cân thương mại của Hoa Kỳ từ thâm hụt xuống mức 0, các quốc gia sẽ phải tăng cường tiền tệ, kích thích nhu cầu tiêu thụ nội địa trong nước, để họ có thể mua nhiều hàng hóa của Hoa Kỳ hơn và xuất khẩu ít hơn nhiều. Vấn đề là Việt Nam khó có thể làm những điều đó trong một thời gian ngắn. Trên trên tờ The Economist ngày 07/04/2025, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Giang ghi nhận, theo các dữ liệu mới nhất, trong 12 tháng tính đến cuối tháng 3, Việt Nam đã chỉ nhập khẩu hàng hóa trị giá 16 tỷ đô la từ Hoa Kỳ, những hàng hóa được áp dụng mức thuế trung bình là 3%. Tuy nhiên, theo ông Francesco Trần Văn Liêng, cân bằng lại trao đổi mậu dịch với Mỹ không phải là quá khó đối với Việt Nam :“Nếu chỉ có thâm hụt mậu dịch thì dễ giải quyết, tại vì hiện nay dư địa về hàng hóa của Mỹ cho Việt Nam còn rất lớn, như là đậu tương, gia súc, lúa mì. Lúa mì thì trước đây mình mua của Mỹ, Canada, Úc, thậm chí của Ấn Độ, thì bây giờ mình có thể ưu tiên mua của Mỹ, giảm mua từ các nước kia, đồng thời mua thêm khí hóa lỏng. Hiện nay, ô tô cũng có thể là một mặt hàng mà người Việt Nam rất là thích, nhất là ô tô Mỹ hay ô tô sản xuất tại Mỹ. Giả sử Toyota, Mercedes hay Volvo sản xuất tại Mỹ và nếu mức thuế tiêu thụ đặc biệt giảm hay thuế nhập khẩu giảm bớt, người Việt Nam sẽ thích mua những ô tô đó. Nói chung, dư địa để cân bằng cán cân thương mại là không có gì khó.”Nhưng vấn đề là đối với Peter Navarro, cố vấn thương mại của Trump, cho dù Hoa Kỳ và Việt Nam cùng xóa bỏ thuế quan, thì thâm hụt thương mại 120 tỷ đô la vẫn còn nguyên do những "gian lận phi thuế quan". Ông Navarro cáo buộc Việt Nam trợ cấp cho hàng xuất khẩu của mình và hoạt động như một "thuộc địa" ( colony ) sản xuất hàng hóa Trung Quốc. Tuy vậy, theo The Economist, trong một bài viết đăng trên mạng ngày 07/04, nếu không thể sớm đạt được thỏa thuận, vẫn có thể có một số tia hy vọng cho Việt Nam. Một là các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp khó có thể rời bỏ Việt Nam ngay lập tức. Các dự án của họ có chi phí cố định cao và sẽ mất nhiều năm để di dời. Họ sẽ không bỏ những dự án đó cho đến khi có một số thông tin rõ ràng về điểm đến nào có thể tốt hơn. Mặt khác, theo ông Francesco Trần Văn Liêng, Chủ tịch VINACACAO, Việt Nam có thể thích ứng với thuế quan mới của Hoa Kỳ, vì là một nền kinh tế "mở":“Việt Nam đã làm từ mười mấy, hai chục năm nay, tức là Việt Nam được biết là một nền kinh tế mở, có nhiều đối tác international trade ( mậu dịch quốc tế ). Như tôi nói ở trên, 35% xuất khẩu là sang Mỹ, đúng là đủ lớn, nhưng rõ ràng không phải là tất cả xuất khẩu của Việt Nam. Chẳng hạn như với đối tác châu Âu chúng ta đã có free trade agreement FTA ( hiệp định thương mại tự do ). Đó là một đối tác thương mại rất lớn. Với nhiều nước khác như Nhật Bản và Hàn Quốc, mình cũng có FTA.Việc cải tổ kinh tế hoặc tăng độ mở của nền kinh tế thì Việt Nam đã làm từ lâu và nay có thể làm cho nó sâu sắc hơn hoặc rộng mở hơn thôi. Bản thân các công ty Việt Nam cũng hiểu là hiện nay không nên xuất khẩu thô, mà sẽ xuất khẩu hàng thương hiệu ( brand ), bởi vì người tiêu dùng sẽ trung thành với thương hiệu, chứ không trung thành với giá cả, chẳng hạn như Mercedes đã tăng giá không biết bao nhiêu lần, nhưng người ta vẫn thích Mercedes thì người ta phải chịu như thế thôi! TV cũng vậy, nếu bạn thích một nhãn hiệu TV nào thì bạn có thể trả giá cao hơn chút xít. Vấn đề này là nằm trong tầm tay của chính phủ và doanh nghiệp. Phần lớn các doanh nghiệp vào Việt Nam để “tạm nhập tái xuất”, tức là chỉ sử dụng các nguồn lao động rẻ hoặc là đất đai, thì tôi nghĩ là chính phủ sẽ hành động nhanh và chính xác, tức là sẽ tiếp cận các doanh nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thị trường xuất khẩu Hoa Kỳ, bởi mức thuế 46% này. Chính phủ Việt Nam sẽ tìm cách hỗ trợ họ, bằng cách giảm các chi phí đầu vào, thậm chí giảm thuế nhập khẩu hoặc là giảm giá đất cũng là một cách giảm chi phí đầu vào, hoặc là delay ( hoãn lại ), tức là chưa cần bắt trả ngay các khoản đối với các doanh nghiệp mà chịu ảnh hưởng trực tiếp, đồng hành với các doanh nghiệp để giảm cú sốc. Chính phủ ra tay giúp đỡ trong ngắn hạn thôi, trong hai năm 2025 và 2026, để chờ xem chính phủ Mỹ có vượt qua được midterm election ( bầu cử giữa kỳ ) 2026 hay không. Trong cuộc bầu cử đó, chính người Mỹ sẽ hiểu rằng cái gì vô lý thì phải dừng lại, chứ không thể mà “đơn đao phó hội”, tức là một mình nước Mỹ chống cả thế giới!”.Ấy là chưa kể một đòn mạnh vào tăng trưởng chủ yếu dựa trên xuất khẩu của Việt Nam có thể khiến đồng tiền Việt Nam giảm giá hơn nữa. Điều này sẽ thúc đẩy khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu của Việt Nam tại các thị trường thay thế, chẳng hạn như châu Âu. Theo chuyên gia Thang Nguyen của Oxford Economics, Ngân hàng trung ương Việt Nam thông thường vẫn quản lý đồng tiền Việt Nam sao cho giá trị của nó theo sát đồng đô la - một lựa chọn phổ biến của các nền kinh tế nhỏ hơn, phụ thuộc vào thương mại -, nhưng có lẽ họ sẽ phải để đồng tiền yếu đi để ứng phó với thuế quan của Mỹ. Nhưng trớ trêu thay, một hành động như vậy có thể khiến Việt Nam sẽ lại bị Mỹ cáo buộc là nước thao túng tiền tệ, như dưới chính quyền Trump nhiệm kỳ đầu tiên!
Hôm 17/03/2025, báo chí chính thức ở Việt Nam đã đồng loạt đăng một bài viết của tổng bí thư đảng Cộng sản Tô Lâm. Việc truyền thông nhà nước phổ biến quan điểm của lãnh đạo đảng là chuyện bình thường ở Việt Nam, nhưng bài viết này đáng chú ý vì ông Tô Lâm đã không hết lời ca ngợi khu vực kinh tế tư nhân tại một đất nước mà về mặt chính thức kinh tế nhà nước vẫn nắm vai trò chủ đạo “trong một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Ngay từ năm 1986, khi bắt đầu “đổi mới”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã công nhận “kinh tế tư bản tư nhân là một thành phần kinh tế”. Đến năm 2001, đảng cầm quyền ở Việt Nam tiếp tục phát triển kinh tế tư nhân “trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.” Nhưng thực ra thì đến năm 2011, tại Đại hội Đảng lần thứ 11, cụm từ "kinh tế tư nhân" mới lần đầu tiên được sử dụng chính thức, với chủ trương "hoàn thiện cơ chế, chính sách để kinh tế tư nhân trở thành một trong những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế". Năm 2017, Đảng ra nghị quyết nhấn mạnh cần "phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Nghị quyết này lần đầu tiên đưa ra các chỉ tiêu cụ thể về phát triển kinh tế tư nhân, như đến năm 2025 sẽ có 1,5 triệu doanh nghiệp, đóng góp khoảng 55% GDP. Tuy nhiên, những mục tiêu này đến nay vẫn chưa đạt được.Trong bài viết mang tựa đề "Phát triển kinh tế tư nhân: Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng", tổng bí thư Tô Lâm ghi nhận: “Với gần 1 triệu doanh nghiệp, khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể, khu vực kinh tế tư nhân hiện đóng góp khoảng 51% GDP.” Nói chung, theo ông Tô Lâm, khu vực tư nhân “ngày càng thể hiện là động lực quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia.”Quan điểm của ông Tô Lâm là: “Một nền kinh tế cường thịnh không thể chỉ dựa vào khu vực nhà nước hay FDI, mà phải dựa vào nội lực là khu vực tư nhân vững mạnh, đóng vai trò tiên phong trong đổi mới và phát triển đất nước.”Nhưng ông Tô Lâm nhìn nhận rằng kinh tế tư nhân ở Việt Nam “vẫn đối mặt với nhiều rào cản kìm hãm sự phát triển và năng lực cạnh tranh.” Cụ thể, theo lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam doanh nghiệp tư nhân “còn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là vốn tín dụng, đất đai, tài nguyên và nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các ngành công nghệ, kỹ thuật và tài chính. Trong khi đó, một số doanh nghiệp nhà nước nắm giữ nhiều tài nguyên, đất đai, nguồn vốn, nguồn nhân lực chất lượng nhưng lại chưa khai thác hiệu quả, thậm chí còn để lãng phí.”Ấy là chưa kể “hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập, chồng chéo, môi trường kinh doanh nhiều trở ngại, thủ tục hành chính phức tạp, tốn nhiều thời gian, chi phí và tiềm ẩn rủi ro. Nhiều trường hợp quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản vẫn bị xâm hại bởi sự yếu kém hoặc lạm quyền của một số cán bộ, công chức trong thực thi công vụ.”Trong bản đánh giá về hiện trạng của khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam, đăng vào tháng 09/2021, Tổ chức Tài chính Quốc tế (International Finance Corporation - IFC), thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giới, cũng đã từng nêu bật sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam :“Quy mô và ảnh hưởng lớn của doanh nghiệp nhà nước có thể cản trở cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và mới hoạt động. Doanh nghiệp tư nhân khó tham gia và cạnh tranh đầy đủ ở nhiều thị trường do các ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhà nước. Các ngân hàng thương mại tiếp tục cho những doanh nghiệp nhà nước có kết quả hoạt động yếu kém được vay tiền trên cơ sở phi thương mại, do đó làm tăng chi phí vay trong nước của các công ty làm ăn có lợi nhuận tốt. Các doanh nghiệp nhà nước gặp khó khăn về tài chính có thể nhận được hỗ trợ của nhà nước bằng việc xóa nợ và kéo dài thời gian trả nợ, hạn chế các nguồn lực lẽ ra có thể được chuyển đến các công ty tư nhân. Trong khi luật lệ, quy định hiện hành về giao đất và cho thuê đất kinh doanh, sản xuất không phân biệt doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân, doanh nghiệp nhà nước vẫn nắm giữ 70% đất đai dành cho sản xuất và kinh doanh”.Trong bài viết nói trên, ông Tô Lâm còn nhìn nhận: “ Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài nhận được nhiều ưu đãi hơn so với khu vực tư nhân. Doanh nghiệp nhà nước thường thuận lợi hơn trong tiếp cận đất đai, vốn, tín dụng; còn doanh nghiệp nước ngoài thường được hỗ trợ về thuế, thủ tục hải quan, tiếp cận đất đai.” Trả lời RFI Việt ngữ ngày 18/03/2025, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng chính phủ phải tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam được tiếp cận đất đai và tiếp cận các ưu đãi như là với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài: “Ví dụ như là một tập đoàn lớn của Hàn Quốc mà đầu tư vào một tỉnh thì tỉnh đó sẵn sàng cấp thêm đất và giảm giá đất vượt khỏi khung pháp luật của Việt Nam để giữ tập đoàn đó ở địa phương đó. Bây giờ nên áp dụng ưu đãi đó cho doanh nghiệp trong nước.Hiện nay, vì nhiều lý do, cho nên một số địa phương ưu đãi rất lớn đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, bởi vì doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có tiềm lực lớn, có thể, trong một thời gian ngắn, phù hợp với thời gian cầm quyền của ông bí thư hay chủ tịch tỉnh, có thể đầu tư và nhanh chóng nâng cao thu nhập về thuế hay GDP, nhưng thực chất giá trị gia tăng được tạo ra ở Việt Nam thì lại không cao. Và tôi muốn nhấn mạnh rằng doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp dân tộc, còn doanh nghiệp nước ngoài thì mang thương hiệu nước ngoài và sẽ chuyển lợi nhuận cũng như vốn đầu tư về nước họ. Doanh nghiệp tư nhân thì mang thương hiệu Việt Nam, sẽ đóng thuế và ở lại với đất nước Việt Nam.”Một hướng phát triển khác để tạo thuận lợi cho khu vực tư nhân, theo chuyên gia Lê Đăng Doanh, đó là phải đẩy mạnh việc chuyển sang chính phủ điện tử và thực hiện công khai, minh bạch.“Luật doanh nghiệp năm 1999 đã thực hiện sự thay đổi quan trọng đó và bây giờ cần phải tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa. Tôi nghĩ rằng để làm việc đó thì phải chuyển mạnh sang kinh tế, chính phủ điện tử, thực hiện công khai minh bạch và tinh giản tối đa các giấy phép, các thủ tục hành chính, công khai trên mạng cho mọi người biết là việc này là do ai xử lý và xử lý đến bao giờ.Cũng về công khai minh bạch, nếu nhìn vào niên giám thống kê của Việt Nam thì phần lớn chỉ có thu, chi, tức là không nói rõ chi cho những gì, thu thì từ đâu. Trong khi đó, nếu đọc niên giám thống kê của Thụy Điển thì họ nói rất rõ, tức là nhà vua chi như thế nào, có đi chuyên cơ hay là đi máy bay thương mại. Thậm chí bữa cơm mà nhà vua tiếp khách nước ngoài thì gồm có 3 món nào, đãi rượu vang gì.Trên cơ sở đó, tôi hy vọng là môi trường kinh doanh của Việt Nam sẽ được và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ mạnh hơn. Hiện nay thì trước hết là con số giấy phép con hiện nay đã tăng rất nhiều.Theo báo cáo của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp thì con số giấy phép con đã vượt hơn 5.000.Rất cần lập lại một lần nữa bài học của thủ tướng Phan Văn Khải, người đã ký và bãi bỏ 258 giấy phép vào năm 2001. Tôi nghĩ là bây giờ bên cạnh việc vận dụng chính phủ điện tử và công khai minh bạch, việc giảm bớt các thủ tục hành chính, các giấy tờ là điều hoàn toàn có thể thực hiện được.Việt Nam đã có những tiến bộ như ta đã thấy, tức là có những hãng hàng không tư nhân như Vietjet, có quy mô và hoạt động về mặt trình độ chuyên môn có thể cạnh tranh được với. Với tầm nhìn như vậy, tôi nghĩ là nên mở rộng hơn nữa sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân vào chính phủ điện tử, vào công nghệ thông tin.”Bên cạnh đó, chuyên gia Lê Đăng Doanh còn lưu ý về chính sách thu hút nhân tài để đóng góp cho việc phát triển nền kinh tế tư nhân ở Việt Nam: “Còn rất nhiều vấn đề mà chúng ta cần cải cách và phát triển lên. Một là chiến lược về nhân lực và chính sách đối với nhân tài, làm sao cho các nhân tài từ nước ngoài về được sử dụng ở Việt Nam sẽ được đối xử một cách tương xứng. Tôi không muốn nói là thu nhập của họ phải bằng như ở Pháp hay ở Mỹ, nhưng cũng phải là thu nhập cao đáng kể so với thu nhập bình thường ở Việt Nam, để họ có thể sống một cách thoải mái."Trong bài viết nói trên, tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm cũng đã đề ra một số giải pháp để « tạo ra một động lực đột phá » cho các doanh nghiệp tư nhân, trong đó có việc tiếp tục đẩy nhanh việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đầy đủ, thứ hai, bảo vệ hữu hiệu quyền tài sản, quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh, ưu tiên xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân tầm cỡ khu vực và toàn cầu, , tạo cơ hội cho khu vực tư nhân tiếp cận hiệu quả, công bằng các nguồn vốn, đất đai, nhân lực, công nghệ.
Ngày 19/02/2025, Việt Nam tinh giản bộ máy Nhà nước, từ 18 bộ xuống còn 14 bộ và từ 4 cơ quan ngang bộ xuống 3. Tiếp theo là sáp nhập tỉnh thành, sẽ phải hoàn tất trước ngày 30/08 và đi vào hoạt động từ tháng 09. “Cuộc cách mạng” hành chính cho phép Việt Nam nâng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu trong bối cảnh từ năm 2018, Việt Nam được coi là nước hưởng lợi chính từ việc dịch chuyển chuỗi cung ứng khỏi Trung Quốc. Việc tinh gọn bộ máy được Hiệp hội Doanh nghiệp Châu Âu - EuroCham, cũng như các nhà đầu tư nước ngoài, đánh giá là tiền đề để Việt Nam thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, qua đó khẳng định vị thế là trung tâm đầu tư của Đông Nam Á. Hoạt động từ năm 1998, EuroCham hiện là một trong những hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam với hơn 1.400 thành viên sử dụng hơn 150.000 lao động.Trả lời RFI Tiếng Việt ngày 06/03/2025, phó chủ tịch Jean-Jacques Bouflet phụ trách Chính sách EuroCham đề cao quyết tâm của chính quyền Việt Nam nhưng ông cũng lưu ý cần phải khẩn trương và tiến hành một cách hiệu quả.RFI : Việt Nam tiến hành tinh giản bộ máy Nhà nước, được coi là "cuộc cách mạng lần thứ hai". Phòng Thương mại Châu Âu (EuroCham) và các thành viên đánh giá biện pháp cải cách này như thế nào ? EuroCham và các thành viên được thông tin như thế nào về những thay đổi mà quá trình này mang lại ?Phó chủ tịch EuroCham Jean-Jacques Bouflet : Các doanh nghiệp tiếp đón thông tin tương đối tích cực. Chúng tôi cũng tiến hành một cuộc điều tra, được gọi là “chỉ số tin tưởng” của các doanh nghiệp (BCI), và nhìn chung cam kết của chính phủ được coi là một bước theo hướng tốt. 43% trên tổng số các doanh nghiệp thuộc Liên Hiệp Châu Âu cho rằng về lâu dài thủ tục hành chính sẽ được đơn giản hóa, trong đó có việc thông qua các nền tảng kỹ thuật số và nhất là qua việc tinh giản bộ máy hành chính đang diễn ra. Tuy nhiên, 36% thành viên trong EuroCham vẫn bày tỏ quan ngại về những chậm trễ có thể xảy ra trong quá trình chuyển tiếp. Nhưng chúng ta cứ giữ lạc quan xem sao !Chúng tôi được thông tin như nào ư ? Chúng tôi có được ưu ái là có một buổi làm việc với thủ tướng Việt Nam ngày 02/03. Có hơn 50 người tham gia, trong đó có đại sứ Liên Hiệp Châu Âu, cũng như đại sứ nhiều nước thành viên. Chúng tôi đối thoại với thủ tướng Phạm Minh Chính cùng hai phó thủ tướng và rất nhiều bộ ngành liên quan. Ông Chính đã trình bày về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính để kích thích đầu tư vì đây là mục tiêu chính của cuộc cải cách. Sau buổi họp đó, EuroCham đã tổ chức nhiều sự kiện để thông tin đến các thành viên. Có thể thấy là cho đến nay đã có nhiều ý tưởng. Dĩ nhiên là sẽ còn phải chờ xem thực tế liệu những chủ trương đó có biến thành những cải cách cụ thể hay không. Nhưng dù sao cũng đã có ý tưởng.RFI : Sau khi cải cách được thông báo, cũng như sau cuộc họp với thủ tướng Việt Nam thì EuroCham trông đợi cụ thể điều gì ?Ông Jean-Jacques Bouflet : Điểm chính của cuộc cải cách là giảm đáng kể số lượng bộ. Nhiều bộ đã được hợp nhất, ví dụ bộ Nông Nghiệp và Môi Trường, điều này cho thấy một bước đi và mong muốn đi theo hướng quá độ và chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam, hoặc ví dụ bộ Kế Hoạch Đầu Tư được gộp vào bộ Tài Chính. Tôi nhớ không nhầm là từ 18 bộ xuống còn 14 bộ. Có thể thấy mong muốn tinh giản bộ máy Nhà nước và mặt khác chính phủ cũng tìm cách phi tập trung hóa, có nghĩa là một phần các thủ tục hành chính sẽ được áp dụng ở cấp địa phương, tại các tỉnh với khoảng 60 tỉnh ở Việt Nam, và điều này sẽ cho phép chúng tôi tiếp cận gần với các nhà ra quyết định hơn.Nói tóm lại, mục đích của đợt tinh giản bộ máy Nhà nước là giảm bớt thủ tục hành chính, khoảng 30% toàn bộ thủ tục, và thúc đẩy việc áp dụng để đẩy nhanh chính những thủ tục đó. 30% là con số ấn tượng nên chúng tôi đầy hy vọng. RFI : Cuộc cải cách này là một điều kiện tiên quyết để Việt Nam thu hút đầu từ nước ngoài. Nhìn từ các nhà đầu tư nước ngoài, ví dụ các thành viên của EuroCham, cần phải có những điều kiện nào khác để Việt Nam có thể khẳng định vị trí trung tâm đầu tư ở Đông Nam Á như tham vọng của chính phủ Việt Nam ?Ông Jean-Jacques Bouflet : Như tôi đề cập ở trên, điều mà EuroCham trông đợi, cũng là điều kiện chính đối với chúng tôi, để kích thích đầu tư của châu Âu vào Việt Nam, vẫn là giảm thủ tục hành chính, chấm dứt những phức tạp, chồng chéo và phân chia rải rác giữa các bộ ngành, cơ quan ở cấp trung ương cũng như địa phương. Nhiều khi cứ như lạc vào rừng rậm, thủ tục tích tụ, chồng chéo và phải vượt qua một số ngưỡng. Vì vậy cuộc cải cách này thực sự là cần thiết.Ngoài ra, như chúng ta đã biết, Việt Nam và Liên Hiệp Châu Âu đã ký Hiệp định Tự do Thương mại và đang trong giai đoạn triển khai. Chúng tôi cũng mong giai đoạn này triển khai này giúp giải phóng thực sự điều kiện thâm nhập thị trường, cũng như hoạt động của các doanh nghiệp châu Âu được kết trái từ đầu tư vào Việt Nam. Về điểm này, tiếc là chúng tôi vẫn chưa nhận được sự phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ Đầu tư vì hiệp định này phải qua hai vòng phê chuẩn của Liên Hiệp Châu Âu và của các nước thành viên. Hiện giờ vẫn còn khoảng 10 nước thành viên chưa phê chuẩn.Còn về bản thân Hiệp định Tự do Thương mại, điều quan trọng là hiệp định phải được áp dụng triệt để và theo đúng tinh thần. Có nghĩa là cần phải tránh để việc giảm thuế quan bị vi phạm hoặc bị bù lại bằng cách tăng thuế ở trong nước đối với sản phẩm đó hoặc bằng các rào cản kỹ thuật cho trao đổi thương mại.RFI : Các thành viên EuroCham đầu tư vào những lĩnh vực nào ở Việt Nam hiện nay, cũng như xu hướng đầu tư trong tương lai ? Ông Jean-Jacques Bouflet : EuroCham đại diện cho toàn bộ các doanh nghiệp châu Âu, ở cấp độ Liên Hiệp Châu Âu, do đó, lĩnh vực hoạt động của chúng tôi rất rộng. Chỉ riêng nội bộ EuroCham đã có khoảng 20 ủy ban chuyên ngành, từ dược phẩm, nông nghiệp, đến rượu vang, rượu mạnh hoặc điện tử cho nên mảng hoạt động rất rộng, trong lĩnh vực nhập khẩu bởi vì có rất nhiều doanh nghiệp xuất khẩu sang Việt Nam, cũng như sản xuất, chiếm một phần quan trọng bởi vì chúng tôi cũng có rất nhiều thành viên sản xuất ở Việt Nam, sau đó tái xuất khẩu sang Liên Hiệp Châu Âu hoặc sang các thị trường thứ ba.Liên quan đến việc sản xuất ở Việt Nam, lĩnh vực chủ đạo vẫn là đồ điện tử. Việt Nam đang giữ vị trí quan trọng về điểm này, dường như là điện tử giữ vị trí thứ nhất về xuất khẩu, vượt qua cả nông nghiệp. Cho dù châu Âu có thể ít mạnh hơn trong lĩnh vực này ở Việt Nam nhưng còn rất nhiều cơ hội đầu tư.Ngoài ra còn có cả quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tôn trọng môi trường hơn, vẫn được gọi là “Green Deal” và chúng tôi muốn thể hiện và khẳng định ở Việt Nam. Tôi phải nói là về điểm này, Việt Nam đã nắm được phần nào vị trí đầu tầu so với các nước đang phát triển khác trong vùng. Đó là những lĩnh vực mà chúng tôi đầu tư đặc biệt hơn. Chúng tôi có một ủy ban đặc trách “Green Growth” - tăng trưởng xanh - rất năng động. Chúng tôi đối thoại rất nhiều với chính quyền Việt Nam. Việt Nam đang hiện đại hóa lĩnh vực năng lượng bằng cách thúc đẩy các loại hình năng lượng tái tạo, cho dù chúng ta khởi động từ mức khá thấp, và tất cả các doanh nghiệp của chúng tôi tập trung, điều phối với nhau về những lĩnh vực đầy hứa hẹn như này. RFI : Chủ tịch Ủy Ban Châu Âu Ursula von der Leyen dự kiến thăm Việt Nam. Ông có nghĩ là chuyến công du sẽ sớm diễn ra không ? Ông Jean-Jacques Bouflet : Chúng tôi hy vọng bà Ursula von der Leyen sớm đến thăm chúng tôi. Tôi nghĩ Việt Nam là một nhân tố quan trọng cho thương mại quốc tế và cho hợp tác đối tác giữa các nước phát triển như Liên Hiệp Châu Âu và những nền kinh tế mới đang trỗi dậy mạnh mẽ như Việt Nam. Tôi nghĩ là trong thời điểm phần nào xáo trộn như hiện nay, cần phải nhắc lại sự gắn bó vào hệ thống thương mại quốc tế dựa trên khuôn khổ luật pháp rõ ràng, dự đoán được và đa phương, các quy định của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) cũng như Hiệp định Tự do Thương mại như tôi đề cập ở trên. Điều này rất quan trọng ! Đúng là chuyến thăm của bà Ursula von der Leyen sẽ tượng trưng phần nào cho điểm trên. Ngoài ra, cũng đừng quên rằng Việt Nam là thị trường có 100 triệu dân, đó là đất nước có tiềm năng rất lớn và là một nhân tố chủ đạo cho việc phân bổ lao động quốc tế.Ngoài chuyến thăm của chủ tịch Ủy Ban Châu Âu, chúng tôi cũng mong ủy viên thương mại châu Âu Maroš Šefčovič đến thăm để phát hành "Sách Trắng" mà chúng tôi vẫn soạn thảo hàng năm để trình bày những đề xuất với chính quyền Việt Nam nhằm cải thiện trao đổi và đầu tư giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam. Chúng tôi hy vọng năm nay ông Maroš Šefčovič đứng ra chủ trì buổi lễ này. Có thể thấy là mọi chuyện đang đi vào quy củ với Việt Nam theo chiều hướng năng động được hình thành từ Hiệp định Tự do Thương mại ký vào năm 2019 và phê chuẩn năm 2020 và vẫn đang tiếp tục cho kết quả dù chậm nhưng chắc. Dĩ nhiên cũng phải chú ý đến bối cảnh quốc tế khó khăn hiện nay nhưng tôi tin Liên Hiệp Châu Âu phải tái khẳng định gắn kết với khuôn khổ đa phương dựa trên quy định luật pháp rõ ràng và tin cậy. Bởi vì, đối với các doanh nghiệp châu Âu chúng tôi, ở rất xa châu Âu, điều quan trọng là phải có được khuôn khổ ổn định, rõ ràng, dự đoán được chứ không phải chịu ảnh hưởng từ những sự kiện, những “rối loạn” gây bất ổn. Khi người ta đầu tư, nhất là ở nước ngoài, đó là những khoản tiền khá lớn, cần nhiều năm mới khấu hao được đầu tư, vì thế có được niềm tin như vậy là điều rất quan trọng.RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn ông Jean-Jacques Bouflet, phó chủ tịch phụ trách Chính sách tại Hiệp hội Doanh nghiệp Châu Âu tại Việt Nam EuroCham.