Podcasts about rfi vi

  • 8PODCASTS
  • 410EPISODES
  • 10mAVG DURATION
  • 5WEEKLY NEW EPISODES
  • Jun 22, 2026LATEST

POPULARITY

20192020202120222023202420252026


Best podcasts about rfi vi

Latest podcast episodes about rfi vi

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Chiến tranh Trung Đông khiến Việt Nam phải dựa nhiều hơn vào điện than

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Jun 22, 2026 9:03


Cũng như nhiều nước khác, trước tình hình nguồn cung dầu hỏa bị gián đoạn do chiến tranh Mỹ-Iran, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam buộc phải dựa vào điện than nhiều hơn cho dù làm như vậy sẽ càng khó mà thực hiện các cam kết về chống biến đổi khí hậu. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), hơn 80% lượng dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) đi qua eo biển Hormuz là được xuất khẩu sang châu Á. Việc tuyến hàng hải này bị phong tỏa đẩy khu vực vào tình thế vô cùng khó khăn. Đặc biệt, do nguồn cung khan hiếm, giá khí LNG đã tăng vọt ở thị trường châu Á, trong khi giá than tăng ít hơn nhiều, cho nên nhiều nước trong khu vực quay trở lại với điện than.  Trả lời RFI Việt ngữ ngày 12/05/2026, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, cũng ghi nhận đây là tình hình chung của các nước châu Á: “Không chỉ riêng Việt Nam mà hầu hết nhiều nước ở châu Á và các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ ... đều bị tác động. Trung Quốc là một nước có rất nhiều than, cho nên có lợi thế. Bây giờ họ quay sang sử dụng than nhiều hơn trong một thời gian, tuy cũng biết làm như thế là ảnh hưởng đến lời hứa của Trung Quốc về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Các chuyên gia, các công ty về quản lý năng lượng lớn thế giới đều dự báo Trung Quốc trong 5 năm tới vẫn phải dựa vào việc mở rộng các nhà máy điện chạy than, chứ không có cách nào khác cả. Ấn Độ cũng vậy. Còn những nước như Hàn Quốc và Nhật Bản trước tình hình hiện nay đều phải cho phép nâng lên tỷ lệ điện than.”  Theo nhận định của Discovery Alert, trang thông tin chuyên về khai thác mỏ trên thế giới, trong bài viết đăng ngày 13/04/2026, “không giống như các quốc gia phát triển có các nguồn năng lượng đa dạng và dự trữ chiến lược dồi dào, các nền kinh tế nhỏ hơn như Việt Nam thường phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu nhập khẩu và thiếu tính linh hoạt về cơ sở hạ tầng để nhanh chóng chuyển đổi giữa các nguồn năng lượng trong trường hợp khẩn cấp về nguồn cung. Hơn nữa, các quốc gia này còn đối mặt với tác động của thị trường khí hóa lỏng (LNG) và sự biến động giá dầu, làm trầm trọng thêm tính dễ bị tổn thương của kinh tế.”  Discovery Alert ghi nhận việc Việt Nam dựa vào điện than khi chiến tranh Mỹ-Iran leo thang đã trở nên rõ nét trong tháng 3/2026, khi sản lượng điện than tăng vọt, chiếm 56% tổng sản lượng điện, mức cao nhất kể từ giữa năm 2025. Giáo sư Phạm Duy Hiển cho rằng trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải tiếp tục dựa nhiều vào điện than, vì các nguồn điện năng khác không đủ để đáp ứng nhu cầu: “Việt Nam hiện nay đã sống với điện than. Điện than bình thường chiếm tỷ lệ gần 50% công suất phát điện, cho nên Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Mà về điện than, Việt Nam phải đi mua thêm than của các nước như Indonesia và Trung Quốc, cụ thể là tháng 3 vừa rồi đã nhập đến mấy triệu tấn than. Dự kiến con số đó có thể sẽ phải tăng lên. Kinh phí để nhập khẩu than cũng lớn, nhưng bây giờ dầu sao thì vẫn hơn là không có. Cho nên tạm thời trong một thời gian phải sử dụng điện than và theo tôi nghĩ Việt Nam cũng chưa có cách nào khác. Còn nếu dựa vào những nguồn năng lượng khác, thì bây giờ nguồn năng lượng tái tạo cũng đã được khai thác khá nhiều rồi và cũng có tác dụng nhất định. Nhưng nguồn năng lượng này cũng hạn chế, không thể nâng lên nhiều hơn nữa.  Gần đây người nói nhiều về điện hạt nhân. Nếu có được thì điện hạt nhân sẽ là một giải pháp tương đối lớn để giải quyết vấn đề thiếu điện thay cho than. Đó là một loại năng lượng sạch. Thế nhưng chưa biết là bao giờ mới có thể đặt bút ký với một đối tác bên ngoài để cung cấp nhà máy điện hạt nhân cho mình. Từ thời điểm đó thì sau hàng chục năm nữa may ra mới có điện. Kinh nghiệm của Bangladesh cho thấy nước này bắt đầu có kinh phí để xây dựng và có các hợp đồng liên chính phủ là vào năm 2017. Nhưng tới cuối năm 2026 thì may ra mới có thể đưa điện lên lưới được. Gần đây thế giới cũng hô hào đẩy mạnh điện hạt nhân, nhưng điện hạt nhân đâu có dễ làm đối với Việt Nam cũng như đối với những nước khác . Đó không phải là một công nghệ có sẵn như than. Nhà máy điện chạy than thì quá là cổ điển rồi, mua về là có thể lắp đặt và cho chạy được ngay. Còn điện hạt nhân thì cần bao nhiêu thứ: cơ sở hạ tầng, năng lượng, nhiên liệu, an toàn….  Bây giờ có một hy vọng là khí thiên nhiên từ các mỏ khí mới được phát hiện được, sẽ giúp giải quyết vấn đề cân bằng năng lượng ở Việt Nam." Thế nhưng vấn đề là hiện nay công suất điện khí còn khiêm tốn của Việt Nam càng làm hạn chế các giải pháp thay thế trong thời kỳ khủng hoảng. Các nhà máy điện khí chỉ sản xuất được 2,1 TWh trong tháng 3 năm 2026, chiếm khoảng 7% tổng sản lượng điện. Hạn chế về cơ sở hạ tầng này có nghĩa là khí đốt tự nhiên không thể đóng vai trò cơ chế thay thế tức thời khi giá năng lượng nhập khẩu tăng vọt, hoặc khi nguồn cung bị gián đoạn.  Việt Nam cũng đang phải sản xuất than nhiều hơn để đáp ứng cho các nhà máy nhiệt điện. Theo báo chí trong nước, ngày 15/04, bộ Nông Nghiệp và Môi Trường đã đề nghị chính phủ cho phép tăng công suất khai thác than, cụ thể là cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác than đang còn hiệu lực, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Theo bộ này, “than trong nước tiếp tục giữ vai trò là nguồn năng lượng nền tảng và năng lực khai thác thực tế của các mỏ còn dư địa để tăng sản lượng”.  Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II ở tỉnh Hà Tĩnh cũng vừa được khánh thành ngày 18/04. Đây là dự án hợp tác giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, trong đó 60% cổ phần thuộc về các công ty Nhật Bản đứng đầu là tập đoàn Mitsubishi và 40% cổ phần thuộc về Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc. Với tổng công suất hơn 1.300MW, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II được giới thiệu là sử dụng “công nghệ hiện đại nhất đối với các nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam”, làm giảm lượng tiêu hao nhiên liệu dẫn đến cắt giảm phát thải. Vấn đề đặt ra là phải làm sao hạn chế tác động của các nhà máy điện than đối với môi trường và khí hậu, bởi vì Việt Nam còn phải thực hiện những cam kết với quốc tế về chống biến đổi khí hậu. Giáo sư Phạm Duy Hiển ghi nhận: “Các nhà máy điện chạy than bây giờ cũng sử dụng những công nghệ tương đối là tiên tiến, tránh ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường nay cũng đỡ một phần là bởi vì ngày xưa các nhà máy phát ra bừa bãi từ ống khói chứ bây giờ thì có những quy chế nhất định. Các khí thải từ nhà máy điện than thì cũng đã bắt đầu được xử lý để không gây ô nhiễm môi trường. Rồi còn phải xử lý những xỉ than. Lâu lâu thì vẫn thấy nói có ô nhiễm chỗ này chỗ khác, nhưng tôi chắc là dần dần rồi cũng phải giải quyết. Ô nhiễm ở chỗ nào thì người dân ở đó sẽ phản ảnh, các cơ quan có trách nhiệm phải giải quyết. Thực ra mà nói thì dùng điện than không chỉ làm tăng lượng khí CO2, mà còn có rất nhiều khí độc khác từ nhà máy điện than thải ra. Trung Quốc đã thành công trong vấn đề này, cho nên bắt đầu từ 2006, tức là cách đây đến 20 chục năm, họ đã có quyết định của nhà nước là bắt buộc giảm phát thải các cái khí độc từ các nhà máy điện chạy than. Và họ đã thành công nhiều, tức là giảm ô nhiễm khá nhiều. Thế thì bây giờ nếu sản lượng điện than nhiều quá, thì có lẽ cũng phải đề nghị nhà nước có một cách kiểm tra toàn diện, làm thế nào để các khí phát thải ô nhiễm, không chỉ CO2 và các khí ô nhiễm khác đều thấp, phù hợp với các tiêu chuẩn về môi trường ở Việt Nam."  Cũng theo chiều hướng đó, Việt Nam dự kiến sẽ đóng cửa các nhà máy điện than cũ trên 40 năm tuổi, nếu các nhà máy này không thể chuyển đổi sang sử dụng nhiên liệu sạch như hydrogen, amoniac xanh. Cụ thể, ngày 23/03, chính phủ Hà Nội đã phê duyệt "Đề án cập nhật triển khai tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng" (JETP).   Sau năm 2030, chính phủ yêu cầu không xây mới nhà máy điện than, đồng thời đàm phán đóng cửa với các nhà máy có tuổi thọ trên 40 năm, không thể chuyển đổi nhiên liệu và không thể đáp ứng lộ trình giảm thải khí nhà kính.

Tạp chí Việt Nam
Chiến tranh Trung Đông khiến Việt Nam phải dựa nhiều hơn vào điện than

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later Jun 22, 2026 9:03


Cũng như nhiều nước khác, trước tình hình nguồn cung dầu hỏa bị gián đoạn do chiến tranh Mỹ-Iran, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam buộc phải dựa vào điện than nhiều hơn cho dù làm như vậy sẽ càng khó mà thực hiện các cam kết về chống biến đổi khí hậu. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), hơn 80% lượng dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) đi qua eo biển Hormuz là được xuất khẩu sang châu Á. Việc tuyến hàng hải này bị phong tỏa đẩy khu vực vào tình thế vô cùng khó khăn. Đặc biệt, do nguồn cung khan hiếm, giá khí LNG đã tăng vọt ở thị trường châu Á, trong khi giá than tăng ít hơn nhiều, cho nên nhiều nước trong khu vực quay trở lại với điện than.  Trả lời RFI Việt ngữ ngày 12/05/2026, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, cũng ghi nhận đây là tình hình chung của các nước châu Á: “Không chỉ riêng Việt Nam mà hầu hết nhiều nước ở châu Á và các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ ... đều bị tác động. Trung Quốc là một nước có rất nhiều than, cho nên có lợi thế. Bây giờ họ quay sang sử dụng than nhiều hơn trong một thời gian, tuy cũng biết làm như thế là ảnh hưởng đến lời hứa của Trung Quốc về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Các chuyên gia, các công ty về quản lý năng lượng lớn thế giới đều dự báo Trung Quốc trong 5 năm tới vẫn phải dựa vào việc mở rộng các nhà máy điện chạy than, chứ không có cách nào khác cả. Ấn Độ cũng vậy. Còn những nước như Hàn Quốc và Nhật Bản trước tình hình hiện nay đều phải cho phép nâng lên tỷ lệ điện than.”  Theo nhận định của Discovery Alert, trang thông tin chuyên về khai thác mỏ trên thế giới, trong bài viết đăng ngày 13/04/2026, “không giống như các quốc gia phát triển có các nguồn năng lượng đa dạng và dự trữ chiến lược dồi dào, các nền kinh tế nhỏ hơn như Việt Nam thường phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu nhập khẩu và thiếu tính linh hoạt về cơ sở hạ tầng để nhanh chóng chuyển đổi giữa các nguồn năng lượng trong trường hợp khẩn cấp về nguồn cung. Hơn nữa, các quốc gia này còn đối mặt với tác động của thị trường khí hóa lỏng (LNG) và sự biến động giá dầu, làm trầm trọng thêm tính dễ bị tổn thương của kinh tế.”  Discovery Alert ghi nhận việc Việt Nam dựa vào điện than khi chiến tranh Mỹ-Iran leo thang đã trở nên rõ nét trong tháng 3/2026, khi sản lượng điện than tăng vọt, chiếm 56% tổng sản lượng điện, mức cao nhất kể từ giữa năm 2025. Giáo sư Phạm Duy Hiển cho rằng trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải tiếp tục dựa nhiều vào điện than, vì các nguồn điện năng khác không đủ để đáp ứng nhu cầu: “Việt Nam hiện nay đã sống với điện than. Điện than bình thường chiếm tỷ lệ gần 50% công suất phát điện, cho nên Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Mà về điện than, Việt Nam phải đi mua thêm than của các nước như Indonesia và Trung Quốc, cụ thể là tháng 3 vừa rồi đã nhập đến mấy triệu tấn than. Dự kiến con số đó có thể sẽ phải tăng lên. Kinh phí để nhập khẩu than cũng lớn, nhưng bây giờ dầu sao thì vẫn hơn là không có. Cho nên tạm thời trong một thời gian phải sử dụng điện than và theo tôi nghĩ Việt Nam cũng chưa có cách nào khác. Còn nếu dựa vào những nguồn năng lượng khác, thì bây giờ nguồn năng lượng tái tạo cũng đã được khai thác khá nhiều rồi và cũng có tác dụng nhất định. Nhưng nguồn năng lượng này cũng hạn chế, không thể nâng lên nhiều hơn nữa.  Gần đây nhiều người nói về điện hạt nhân. Nếu có được thì điện hạt nhân sẽ là một giải pháp tương đối lớn để giải quyết vấn đề thiếu điện thay cho than. Đó là một loại năng lượng sạch. Thế nhưng chưa biết là bao giờ mới có thể đặt bút ký với một đối tác bên ngoài để cung cấp nhà máy điện hạt nhân cho mình. Từ thời điểm đó thì sau hàng chục năm nữa may ra mới có điện. Kinh nghiệm của Bangladesh cho thấy nước này bắt đầu có kinh phí để xây dựng và có các hợp đồng liên chính phủ là vào năm 2017. Nhưng tới cuối năm 2026 thì may ra mới có thể đưa điện lên lưới được. Gần đây thế giới cũng hô hào đẩy mạnh điện hạt nhân, nhưng điện hạt nhân đâu có dễ làm đối với Việt Nam cũng như đối với những nước khác . Đó không phải là một công nghệ có sẵn như than. Nhà máy điện chạy than thì quá là cổ điển rồi, mua về là có thể lắp đặt và cho chạy được ngay. Còn điện hạt nhân thì cần bao nhiêu thứ: cơ sở hạ tầng, năng lượng, nhiên liệu, an toàn….  Bây giờ có một hy vọng là khí thiên nhiên từ các mỏ khí mới được phát hiện được, sẽ giúp giải quyết vấn đề cân bằng năng lượng ở Việt Nam." Thế nhưng vấn đề là hiện nay công suất điện khí còn khiêm tốn của Việt Nam càng làm hạn chế các giải pháp thay thế trong thời kỳ khủng hoảng. Các nhà máy điện khí chỉ sản xuất được 2,1 TWh trong tháng 3 năm 2026, chiếm khoảng 7% tổng sản lượng điện. Hạn chế về cơ sở hạ tầng này có nghĩa là khí đốt tự nhiên không thể đóng vai trò cơ chế thay thế tức thời khi giá năng lượng nhập khẩu tăng vọt, hoặc khi nguồn cung bị gián đoạn.  Việt Nam cũng đang phải sản xuất than nhiều hơn để đáp ứng cho các nhà máy nhiệt điện. Theo báo chí trong nước, ngày 15/04, bộ Nông Nghiệp và Môi Trường đã đề nghị chính phủ cho phép tăng công suất khai thác than, cụ thể là cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác than đang còn hiệu lực, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Theo bộ này, “than trong nước tiếp tục giữ vai trò là nguồn năng lượng nền tảng và năng lực khai thác thực tế của các mỏ còn dư địa để tăng sản lượng”.  Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II ở tỉnh Hà Tĩnh cũng vừa được khánh thành ngày 18/04. Đây là dự án hợp tác giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, trong đó 60% cổ phần thuộc về các công ty Nhật Bản đứng đầu là tập đoàn Mitsubishi và 40% cổ phần thuộc về Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc. Với tổng công suất hơn 1.300MW, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II được giới thiệu là sử dụng “công nghệ hiện đại nhất đối với các nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam”, làm giảm lượng tiêu hao nhiên liệu dẫn đến cắt giảm phát thải. Vấn đề đặt ra là phải làm sao hạn chế tác động của các nhà máy điện than đối với môi trường và khí hậu, bởi vì Việt Nam còn phải thực hiện những cam kết với quốc tế về chống biến đổi khí hậu. Giáo sư Phạm Duy Hiển ghi nhận: “Các nhà máy điện chạy than bây giờ cũng sử dụng những công nghệ tương đối là tiên tiến, tránh ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường nay cũng đỡ một phần là bởi vì ngày xưa các nhà máy phát ra bừa bãi từ ống khói chứ bây giờ thì có những quy chế nhất định. Các khí thải từ nhà máy điện than thì cũng đã bắt đầu được xử lý để không gây ô nhiễm môi trường. Rồi còn phải xử lý những xỉ than. Lâu lâu thì vẫn thấy nói có ô nhiễm chỗ này chỗ khác, nhưng tôi chắc là dần dần rồi cũng phải giải quyết. Ô nhiễm ở chỗ nào thì người dân ở đó sẽ phản ảnh, các cơ quan có trách nhiệm phải giải quyết. Thực ra mà nói thì dùng điện than không chỉ làm tăng lượng khí CO2, mà còn có rất nhiều khí độc khác từ nhà máy điện than thải ra. Trung Quốc đã thành công trong vấn đề này, cho nên bắt đầu từ 2006, tức là cách đây đến 20 chục năm, họ đã có quyết định của nhà nước là bắt buộc giảm phát thải các cái khí độc từ các nhà máy điện chạy than. Và họ đã thành công nhiều, tức là giảm ô nhiễm khá nhiều. Thế thì bây giờ nếu sản lượng điện than nhiều quá, thì có lẽ cũng phải đề nghị nhà nước có một cách kiểm tra toàn diện, làm thế nào để các khí phát thải ô nhiễm, không chỉ CO2 và các khí ô nhiễm khác đều thấp, phù hợp với các tiêu chuẩn về môi trường ở Việt Nam."  Cũng theo chiều hướng đó, Việt Nam dự kiến sẽ đóng cửa các nhà máy điện than cũ trên 40 năm tuổi, nếu các nhà máy này không thể chuyển đổi sang sử dụng nhiên liệu sạch như hydrogen, amoniac xanh. Cụ thể, ngày 23/03, chính phủ Hà Nội đã phê duyệt "Đề án cập nhật triển khai tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng" (JETP).   Sau năm 2030, chính phủ yêu cầu không xây mới nhà máy điện than, đồng thời đàm phán đóng cửa với các nhà máy có tuổi thọ trên 40 năm, không thể chuyển đổi nhiên liệu và không thể đáp ứng lộ trình giảm thải khí nhà kính.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Việt Nam : Mắt xích quan trọng trong chiến lược thay đổi quốc phòng của Nhật Bản

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Jun 15, 2026 10:02


Tháng 04/2026, Nhật Bản “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng” để xây dựng chiến lược quốc phòng mới, trong đó có mục đích mở rộng hoạt động xuất khẩu sang cả các loại vũ khí sát thương. Một cơ chế mới cũng đã được thành lập - Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA) - nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và trang thiết bị quốc phòng. Và Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên trong chương trình OSA. Những thay đổi mới trong chính sách quốc phòng của Nhật Bản có tạo thêm những cơ hội mới cho hợp tác với Hà Nội trong lĩnh vực này không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về lĩnh vực an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Úc. RFI : Trả lời báo tài chính Nikkei Asia ngày 23/04/2026, ông Minoru Kihara, chánh văn phòng thủ tướng Nhật Bản, cho biết Tokyo đã cho phép “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng”. Nội dung chính sách mới của Nhật Bản là gì? Tại sao Tokyo lại thay đổi chính sách vào thời điểm này ? Nguyễn Thế Phương : Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, toàn bộ tư duy chiến lược của Nhật là tập trung vô phát triển kinh tế nội địa và tư duy chiến lược của Nhật là chủ hòa. Việc Nhật Bản thay đổi “ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị quốc phòng” nằm trong sự thay đổi căn bản trong tư duy quốc phòng, văn hóa chiến lược của họ kể từ khoảng đầu thế kỷ thứ XXI với sự trỗi dậy của Trung Quốc, môi trường an ninh khu vực diễn biến ngày càng phức tạp : Sự gia tăng sức mạnh của các hoạt động đơn phương mà nhiều học giả nói là “cố tình thay đổi trạng thái trật tự” của Trung Quốc, đặc biệt là những vấn đề tranh chấp trên biển. Đối với Nhật Bản, một trong những mối nguy nữa, đó là mối đe dọa từ Bắc Triều Bắc. Cũng nói thêm một chút, nước Mỹ dưới thời Donald Trump mong muốn đồng minh, đặc biệt là những đồng minh hiệp ước của họ, có những chính sách và có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc tự lực xây dựng năng lực quốc phòng, chứ không còn hoàn toàn dựa vào Mỹ với tư cách là một quốc gia bảo trợ an ninh nữa. Điểm thứ ba là điểm mà nhiều người bỏ qua, đó là Nhật Bản cần một cách tiếp cận mới hơn để làm mới ngành công nghệ quốc phòng trong nước. Bởi vì từ trước tới nay, Nhật Bản cấm xuất khẩu trang thiết bị quốc phòng và vũ khí ra nước ngoài. Toàn bộ hạn chế về mặt xuất khẩu này khiến cho ngành công nghiệp Nhật, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, bị hạn chế tính cạnh tranh, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, với những cuộc xung đột khắp nơi trên thế giới thì thị trường vũ khí bắt đầu mang lại lợi nhuận rất lớn. Và Nhật Bản dường như cũng muốn bắt đầu thay đổi cách tiếp cận và tham gia vào thị trường công nghiệp quốc phòng chủ động hơn. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản "mạnh mẽ" chống lại việc làm thay đổi nguyên trạng các vùng biển trong khu vực Và cuối cùng là yếu tố nội bộ, đó là sự thay đổi về mặt tư duy của liên minh cầm quyền Nhật Bản, bắt đầu từ thời Shinzo Abe. Cách đây khoảng 10-15 năm, đảng Dân Chủ Tự Do đề xuất Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương. Việc này cho thấy rằng đảng Dân Chủ Tự Do mong muốn đưa nước Nhật ra khỏi tư duy chủ hòa và tham gia nhiều hơn về việc tái định hình cấu trúc an ninh khu vực. Đây là bốn điểm tạm gọi là “bốn nền tảng” để giải thích tại sao Nhật Bản bắt đầu phải thay đổi nguyên tắc về chuyển giao thiết bị công nghệ quốc phòng. Với việc thay đổi nguyên tắc mới, họ sẽ bắt đầu không giới hạn thiết bị chuyển giao, mà sẽ mở rộng tới những loại trang thiết bị có thể là sát thương, ví dụ vũ khí tấn công, xe tăng, máy bay và những trang bị khác. Điểm thứ hai, Nhật Bản cho phép hợp tác phát triển các loại vũ khí song phương, một ví dụ ở đây là phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm giữa Nhật, Anh và Ý. Điểm này sẽ cho phép Nhật chủ động hơn, thích ứng linh hoạt hơn trong chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng. RFI : Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nhật Bản. Việt Nam là quốc gia thứ 11 ký một thỏa thuận chuyển giao thiết bị, công nghệ quốc phòng với Nhật Bản. Cho đến nay, Tokyo hỗ trợ Hà Nội như thế nào trong khuôn khổ này ? Nguyễn Thế Phương : Trước đây, việc hỗ trợ về mặt chuyển giao thiết bị hoặc công nghệ quốc phòng song phương, chủ yếu Việt Nam sẽ là bên nhận. Những hỗ trợ này chủ yếu xoay quanh việc nâng cao năng lực nhận thức hàng hải, an ninh biển và chủ yếu liên quan đến những loại trang thiết bị vũ khí phi sát thương. Điểm nổi bật thứ nhất là việc chuyển giao tàu tuần tra và phương tiện giúp Việt Nam có thể cải thiện năng lực tuần tra hàng hải, tiêu biểu là việc Việt Nam nhận một số loại tàu cảnh sát biển loại biên của Nhật Bản. Những tàu này thực ra vẫn rất tốt và vẫn phục vụ rất hiệu quả trong quá trình Việt Nam bảo vệ lợi ích trên biển ở thời điểm hiện tại. Đây là khoản hỗ trợ lớn nhất. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản đạt thỏa thuận về chuyển giao công nghệ quốc phòng Thứ hai là thiết bị giám sát công nghệ hàng hải, ví dụ radar, các thiết bị lặn, công nghệ viễn thám, thông tin liên lạc phục vụ cho quá trình tìm kiếm, cứu nạn, giám sát thực địa trên biển. Và thứ ba là đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn cho các lực lượng của Việt Nam, đặc biệt là lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư. Đây là điểm mà hai bên thường xuyên tiến hành : Trao đổi đoàn, trao đổi tàu, lực lượng Việt Nam qua Nhật Bản để tập huấn. Ở đây tập trung vào một số vấn đề phi tác chiến, ví dụ quân y, phá bom mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh, an ninh mạng. Đối với quân đội còn có gìn giữ hòa bình. Đó là ba mảng mà Việt Nam nhận được hỗ trợ có thể nói là rõ ràng nhất từ Nhật Bản thông qua chương trình chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng. RFI : Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên cho Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA). Anh có thể giải thích OSA là gì ? Theo một quan chức chính phủ Nhật Bản, “quá trình này đôi khi có thể mất thời gian”. Những nước được chọn để hợp tác an ninh thông qua OSA có vai trò như thế nào trong chiến lược của Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : OSA (Official Security Assistance) là hỗ trợ an ninh chính thức. Đây là một trong những chương trình rất mới, là một công cụ đối ngoại rất mới của Nhật, được thông qua trong chiến lược an ninh quốc gia cuối năm 2022. ODA, là một khái niệm mà chúng ta rất quen thuộc, chỉ giới hạn nghiêm ngặt (ở đây từ “nghiêm ngặt” là từ quan trọng) cho phát triển kinh tế-xã hội. Cho nên nếu như Nhật Bản muốn hỗ trợ về mặt an ninh quốc phòng cho các quốc gia khác thì họ phải tạo ra một cơ chế hoàn toàn mới, chứ không phải là ODA. Thì OSA chính là kết quả. Nói một cách đơn giản OSA chính là ODA nhưng chỉ được dùng cho lĩnh vực an ninh và quân sự. Quá trình này rất mất thời gian bởi vì Nhật Bản sẽ phải thiết lập quy trình khảo sát nhu cầu của bên nhận, đối chiếu nhu cầu đó với pháp luật nội bộ của Nhật, mà chúng ta biết là pháp luật của Nhật về mặt này rất khắt khe. Và nó yêu cầu cả bên cho - ở đây là Nhật - và cả bên nhận - là các quốc gia khác - phải thảo luận rất lâu và rất kỹ để có thể đưa ra được một danh sách tiếp nhận các loại hỗ trợ cho phù hợp. Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam tăng cường hợp tác an ninh, ủng hộ thương mại tự do Danh sách các quốc gia được hỗ trợ và có tiềm năng nhận được hỗ trợ OSA từ Nhật Bản vào thời điểm hiện tại chỉ tầm 12 nước, chủ yếu là các nước ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, trong đó có 5 nước Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Thái Lan). Nam Á có hai nước là Bangladesh với Sri Lanka. Ngoài ra còn một số quốc đảo Thái Bình Dương, ví dụ Papua New Guinea, Tonga. Có thể thấy rõ là có Đông Nam Á, khu vực cốt lõi trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Nhật Bản, và đặc biệt là khu vực các quốc đảo Nam Thái Bình Dương hiện đang là khu vực cạnh tranh địa lý khá gay gắt giữa các quốc gia đồng minh của Mỹ và Trung Quốc. Gần đây, Tokyo tăng ngân sách dành cho OSA trong năm tài khóa 2026 lên tầm 112 triệu đô la. Số lượng sẽ không lớn đứng dưới góc độ về mặt ngân sách. Nhưng trong tương lai, ngân sách mà Nhật dành cho OSA sẽ ngày càng tăng và sẽ dựa vào khả năng nước Nhật thích ứng với sự thay đổi không ngừng của môi trường an ninh bên ngoài, cũng như trong chính sách đối nội của Nhật Bản, đặc biệt là việc Nhật điều chỉnh ba nguyên tắc hỗ trợ vũ khí và công nghệ quốc phòng. Trong tương lai, số lượng nước được nhận sẽ tăng lên, cũng như nội dung của OSA cũng sẽ được mở rộng hơn. RFI : Với chiến lược quốc phòng mới của Tokyo mở ra việc bán vũ khí sát thương, liệu trong tương lai, có thể có một chương trình hợp tác sâu rộng hơn về lĩnh vực này giữa Việt Nam và Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : Nhiều người kỳ vọng rằng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong tương về chuyển giao trang thiết bị cũng như là hỗ trợ OSA của Nhật Bản đối với Việt Nam sẽ được mở rộng. Tuy nhiên như đã trình bày, quá trình này sẽ không nhanh. Thứ nhất một phần cũng bởi vì phía Nhật Bản, như đã nói, họ sẽ rất kỹ trong vấn đề lựa chọn chuyển giao, tính minh bạch ra sao. Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành đối tác chiến lược toàn diện Thứ hai, nhu cầu của Việt Nam ở đây là gì ? Nhu cầu Việt Nam vẫn sẽ có. Nhưng theo tôi, trong tương lai gần, khoảng 5 năm, hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng sẽ chủ yếu xoay quanh nội dung về an ninh hàng hải, hỗ trợ các loại tàu cảnh sát biển, hỗ trợ Việt Nam đóng một số loại tàu cho cảnh sát biển hoặc là cho kiểm ngư ở trong nước, nhận một số loại trang thiết bị liên quan tới bảo đảm an ninh hàng hải, cũng như là nhận thức hàng hải ở khu vực, hỗ trợ liên quan tới vệ tinh chẳng hạn và tiếp tục huấn luyện. Còn những vũ khí tác chiến, theo tôi, sẽ phải là tương lai xa, cho tới khi nào Nhật Bản hoàn toàn dỡ bỏ những hạn chế về mặt xuất khẩu vũ khí tiến công và cho tới khi nào ngành công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản trở nên cạnh tranh hơn, thì khi đó Việt Nam mới bắt đầu xem xét có hay không lựa chọn các loại vũ khí tác chiến của Nhật Bản như là một lựa chọn trong quá trình hiện đại hóa quân đội. Còn ở thời điểm hiện tại, khả năng đó rất là thấp. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.

Tạp chí Việt Nam
Việt Nam : Mắt xích quan trọng trong chiến lược thay đổi quốc phòng của Nhật Bản

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later Jun 15, 2026 10:02


Tháng 04/2026, Nhật Bản “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng” để xây dựng chiến lược quốc phòng mới, trong đó có mục đích mở rộng hoạt động xuất khẩu sang cả các loại vũ khí sát thương. Một cơ chế mới cũng đã được thành lập - Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA) - nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và trang thiết bị quốc phòng. Và Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên trong chương trình OSA. Những thay đổi mới trong chính sách quốc phòng của Nhật Bản có tạo thêm những cơ hội mới cho hợp tác với Hà Nội trong lĩnh vực này không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về lĩnh vực an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Úc. RFI : Trả lời báo tài chính Nikkei Asia ngày 23/04/2026, ông Minoru Kihara, chánh văn phòng thủ tướng Nhật Bản, cho biết Tokyo đã cho phép “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng”. Nội dung chính sách mới của Nhật Bản là gì? Tại sao Tokyo lại thay đổi chính sách vào thời điểm này ? Nguyễn Thế Phương : Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, toàn bộ tư duy chiến lược của Nhật là tập trung vô phát triển kinh tế nội địa và tư duy chiến lược của Nhật là chủ hòa. Việc Nhật Bản thay đổi “ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị quốc phòng” nằm trong sự thay đổi căn bản trong tư duy quốc phòng, văn hóa chiến lược của họ kể từ khoảng đầu thế kỷ thứ XXI với sự trỗi dậy của Trung Quốc, môi trường an ninh khu vực diễn biến ngày càng phức tạp : Sự gia tăng sức mạnh của các hoạt động đơn phương mà nhiều học giả nói là “cố tình thay đổi trạng thái trật tự” của Trung Quốc, đặc biệt là những vấn đề tranh chấp trên biển. Đối với Nhật Bản, một trong những mối nguy nữa, đó là mối đe dọa từ Bắc Triều Bắc. Cũng nói thêm một chút, nước Mỹ dưới thời Donald Trump mong muốn đồng minh, đặc biệt là những đồng minh hiệp ước của họ, có những chính sách và có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc tự lực xây dựng năng lực quốc phòng, chứ không còn hoàn toàn dựa vào Mỹ với tư cách là một quốc gia bảo trợ an ninh nữa. Điểm thứ ba là điểm mà nhiều người bỏ qua, đó là Nhật Bản cần một cách tiếp cận mới hơn để làm mới ngành công nghệ quốc phòng trong nước. Bởi vì từ trước tới nay, Nhật Bản cấm xuất khẩu trang thiết bị quốc phòng và vũ khí ra nước ngoài. Toàn bộ hạn chế về mặt xuất khẩu này khiến cho ngành công nghiệp Nhật, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, bị hạn chế tính cạnh tranh, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, với những cuộc xung đột khắp nơi trên thế giới thì thị trường vũ khí bắt đầu mang lại lợi nhuận rất lớn. Và Nhật Bản dường như cũng muốn bắt đầu thay đổi cách tiếp cận và tham gia vào thị trường công nghiệp quốc phòng chủ động hơn. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản "mạnh mẽ" chống lại việc làm thay đổi nguyên trạng các vùng biển trong khu vực Và cuối cùng là yếu tố nội bộ, đó là sự thay đổi về mặt tư duy của liên minh cầm quyền Nhật Bản, bắt đầu từ thời Shinzo Abe. Cách đây khoảng 10-15 năm, đảng Dân Chủ Tự Do đề xuất Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương. Việc này cho thấy rằng đảng Dân Chủ Tự Do mong muốn đưa nước Nhật ra khỏi tư duy chủ hòa và tham gia nhiều hơn về việc tái định hình cấu trúc an ninh khu vực. Đây là bốn điểm tạm gọi là “bốn nền tảng” để giải thích tại sao Nhật Bản bắt đầu phải thay đổi nguyên tắc về chuyển giao thiết bị công nghệ quốc phòng. Với việc thay đổi nguyên tắc mới, họ sẽ bắt đầu không giới hạn thiết bị chuyển giao, mà sẽ mở rộng tới những loại trang thiết bị có thể là sát thương, ví dụ vũ khí tấn công, xe tăng, máy bay và những trang bị khác. Điểm thứ hai, Nhật Bản cho phép hợp tác phát triển các loại vũ khí song phương, một ví dụ ở đây là phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm giữa Nhật, Anh và Ý. Điểm này sẽ cho phép Nhật chủ động hơn, thích ứng linh hoạt hơn trong chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng. RFI : Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nhật Bản. Việt Nam là quốc gia thứ 11 ký một thỏa thuận chuyển giao thiết bị, công nghệ quốc phòng với Nhật Bản. Cho đến nay, Tokyo hỗ trợ Hà Nội như thế nào trong khuôn khổ này ? Nguyễn Thế Phương : Trước đây, việc hỗ trợ về mặt chuyển giao thiết bị hoặc công nghệ quốc phòng song phương, chủ yếu Việt Nam sẽ là bên nhận. Những hỗ trợ này chủ yếu xoay quanh việc nâng cao năng lực nhận thức hàng hải, an ninh biển và chủ yếu liên quan đến những loại trang thiết bị vũ khí phi sát thương. Điểm nổi bật thứ nhất là việc chuyển giao tàu tuần tra và phương tiện giúp Việt Nam có thể cải thiện năng lực tuần tra hàng hải, tiêu biểu là việc Việt Nam nhận một số loại tàu cảnh sát biển loại biên của Nhật Bản. Những tàu này thực ra vẫn rất tốt và vẫn phục vụ rất hiệu quả trong quá trình Việt Nam bảo vệ lợi ích trên biển ở thời điểm hiện tại. Đây là khoản hỗ trợ lớn nhất. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản đạt thỏa thuận về chuyển giao công nghệ quốc phòng Thứ hai là thiết bị giám sát công nghệ hàng hải, ví dụ radar, các thiết bị lặn, công nghệ viễn thám, thông tin liên lạc phục vụ cho quá trình tìm kiếm, cứu nạn, giám sát thực địa trên biển. Và thứ ba là đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn cho các lực lượng của Việt Nam, đặc biệt là lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư. Đây là điểm mà hai bên thường xuyên tiến hành : Trao đổi đoàn, trao đổi tàu, lực lượng Việt Nam qua Nhật Bản để tập huấn. Ở đây tập trung vào một số vấn đề phi tác chiến, ví dụ quân y, phá bom mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh, an ninh mạng. Đối với quân đội còn có gìn giữ hòa bình. Đó là ba mảng mà Việt Nam nhận được hỗ trợ có thể nói là rõ ràng nhất từ Nhật Bản thông qua chương trình chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng. RFI : Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên cho Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA). Anh có thể giải thích OSA là gì ? Theo một quan chức chính phủ Nhật Bản, “quá trình này đôi khi có thể mất thời gian”. Những nước được chọn để hợp tác an ninh thông qua OSA có vai trò như thế nào trong chiến lược của Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : OSA (Official Security Assistance) là hỗ trợ an ninh chính thức. Đây là một trong những chương trình rất mới, là một công cụ đối ngoại rất mới của Nhật, được thông qua trong chiến lược an ninh quốc gia cuối năm 2022. ODA, là một khái niệm mà chúng ta rất quen thuộc, chỉ giới hạn nghiêm ngặt (ở đây từ “nghiêm ngặt” là từ quan trọng) cho phát triển kinh tế-xã hội. Cho nên nếu như Nhật Bản muốn hỗ trợ về mặt an ninh quốc phòng cho các quốc gia khác thì họ phải tạo ra một cơ chế hoàn toàn mới, chứ không phải là ODA. Thì OSA chính là kết quả. Nói một cách đơn giản OSA chính là ODA nhưng chỉ được dùng cho lĩnh vực an ninh và quân sự. Quá trình này rất mất thời gian bởi vì Nhật Bản sẽ phải thiết lập quy trình khảo sát nhu cầu của bên nhận, đối chiếu nhu cầu đó với pháp luật nội bộ của Nhật, mà chúng ta biết là pháp luật của Nhật về mặt này rất khắt khe. Và nó yêu cầu cả bên cho - ở đây là Nhật - và cả bên nhận - là các quốc gia khác - phải thảo luận rất lâu và rất kỹ để có thể đưa ra được một danh sách tiếp nhận các loại hỗ trợ cho phù hợp. Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam tăng cường hợp tác an ninh, ủng hộ thương mại tự do Danh sách các quốc gia được hỗ trợ và có tiềm năng nhận được hỗ trợ OSA từ Nhật Bản vào thời điểm hiện tại chỉ tầm 12 nước, chủ yếu là các nước ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, trong đó có 5 nước Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Thái Lan). Nam Á có hai nước là Bangladesh với Sri Lanka. Ngoài ra còn một số quốc đảo Thái Bình Dương, ví dụ Papua New Guinea, Tonga. Có thể thấy rõ là có Đông Nam Á, khu vực cốt lõi trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Nhật Bản, và đặc biệt là khu vực các quốc đảo Nam Thái Bình Dương hiện đang là khu vực cạnh tranh địa lý khá gay gắt giữa các quốc gia đồng minh của Mỹ và Trung Quốc. Gần đây, Tokyo tăng ngân sách dành cho OSA trong năm tài khóa 2026 lên tầm 112 triệu đô la. Số lượng sẽ không lớn đứng dưới góc độ về mặt ngân sách. Nhưng trong tương lai, ngân sách mà Nhật dành cho OSA sẽ ngày càng tăng và sẽ dựa vào khả năng nước Nhật thích ứng với sự thay đổi không ngừng của môi trường an ninh bên ngoài, cũng như trong chính sách đối nội của Nhật Bản, đặc biệt là việc Nhật điều chỉnh ba nguyên tắc hỗ trợ vũ khí và công nghệ quốc phòng. Trong tương lai, số lượng nước được nhận sẽ tăng lên, cũng như nội dung của OSA cũng sẽ được mở rộng hơn. RFI : Với chiến lược quốc phòng mới của Tokyo mở ra việc bán vũ khí sát thương, liệu trong tương lai, có thể có một chương trình hợp tác sâu rộng hơn về lĩnh vực này giữa Việt Nam và Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : Nhiều người kỳ vọng rằng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong tương về chuyển giao trang thiết bị cũng như là hỗ trợ OSA của Nhật Bản đối với Việt Nam sẽ được mở rộng. Tuy nhiên như đã trình bày, quá trình này sẽ không nhanh. Thứ nhất một phần cũng bởi vì phía Nhật Bản, như đã nói, họ sẽ rất kỹ trong vấn đề lựa chọn chuyển giao, tính minh bạch ra sao. Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành đối tác chiến lược toàn diện Thứ hai, nhu cầu của Việt Nam ở đây là gì ? Nhu cầu Việt Nam vẫn sẽ có. Nhưng theo tôi, trong tương lai gần, khoảng 5 năm, hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng sẽ chủ yếu xoay quanh nội dung về an ninh hàng hải, hỗ trợ các loại tàu cảnh sát biển, hỗ trợ Việt Nam đóng một số loại tàu cho cảnh sát biển hoặc là cho kiểm ngư ở trong nước, nhận một số loại trang thiết bị liên quan tới bảo đảm an ninh hàng hải, cũng như là nhận thức hàng hải ở khu vực, hỗ trợ liên quan tới vệ tinh chẳng hạn và tiếp tục huấn luyện. Còn những vũ khí tác chiến, theo tôi, sẽ phải là tương lai xa, cho tới khi nào Nhật Bản hoàn toàn dỡ bỏ những hạn chế về mặt xuất khẩu vũ khí tiến công và cho tới khi nào ngành công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản trở nên cạnh tranh hơn, thì khi đó Việt Nam mới bắt đầu xem xét có hay không lựa chọn các loại vũ khí tác chiến của Nhật Bản như là một lựa chọn trong quá trình hiện đại hóa quân đội. Còn ở thời điểm hiện tại, khả năng đó rất là thấp. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Công ước Hà Nội và phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Jun 8, 2026 9:58


Ngày 07/04/2026, tổng bí thư Đảng kiêm chủ tịch nước Tô Lâm đã ký quyết định phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội), đưa Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á và là nước thứ hai trên thế giới chính thức phê chuẩn Công ước này. Công ước mang tên Hà Nội là vì lễ ký Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng đã được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10/2025. Cho tới nay đã có 75 quốc gia ký công ước này. Tuy nhiên, Công ước Hà Nội sẽ chỉ có hiệu lực một khi có đủ 40 quốc gia chính thức phê chuẩn để trở thành thành viên chính thức.  Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng đang ngày càng trở thành một trong những trung tâm của tội phạm mạng trên thế giới. Trong một bài viết đăng trên mạng ngày 09/03/2026, công ty Okta, chuyên về quản lý danh tính ( Identity Management ), cho biết: “Một hệ sinh thái tội phạm mạng rộng lớn bắt nguồn từ Việt Nam đã được liên kết với các chiến dịch đăng ký tài khoản giả mạo quy mô lớn nhắm vào các nhà cung cấp dịch vụ và nền tảng trực tuyến trên toàn thế giới. Các nhà nghiên cứu đã truy tìm hoạt động này đến một cụm cơ sở hạ tầng được đặt tên nội bộ là O-UNC-036, sử dụng địa chỉ email dùng một lần và bot tự động để tạo ra các danh tính kỹ thuật số giả mạo ở quy mô đáng báo động.” Theo công ty này, các tội phạm sử dụng những tài khoản trực tuyến gian lận như một cánh cửa để thực hiện các hoạt động tội phạm tài chính, từ thư rác và lừa đảo trực tuyến đến các vụ lừa đảo cá nhân. Các tổ chức tội phạm có tổ chức ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở khu vực gần biên giới Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan và Cam Bốt dùng những thủ đoạn này để dụ dỗ nạn nhân vào các vụ lừa đảo tiền điện tử, lừa đảo tình cảm và tống tiền tình dục,... Các nhà phân tích của Okta đã xác định được một lượng lớn các đăng ký tài khoản đáng ngờ liên kết với nhiều tên miền email dùng một lần, trở thành sợi dây liên kết quan trọng giữa hoạt động này với một thị trường lừa đảo rộng lớn hơn có trụ sở tại Việt Nam. Thiệt hại về tài chính từ hoạt động này là rất lớn. Trong một báo cáo tháng 4/2025, Văn phòng Liên Hiệp Quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC) đã chỉ ra rằng thị trường ngầm này hiện có những người chuyên buôn bán bộ công cụ lừa đảo, dữ liệu bị đánh cắp, phần mềm độc hại, công cụ dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) và dịch vụ rửa tiền được sử dụng để nhắm mục tiêu vào các nạn nhân trên toàn cầu. Chính là để phòng chống những hoạt động lừa đảo trực tuyến như trên mà Công ước Hà Nội thiết lập một khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện về phòng ngừa, phát hiện, điều tra, truy tố và hợp tác quốc tế trong xử lý tội phạm mạng. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 22/05/2026, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải, giảng viên Trường Tư pháp hình sự và tội phạm học Griffith, Úc và là chủ tịch Hội đồng nghiên cứu về tội phạm ma túy tại châu Á của Viện nghiên cứu AICS (Hoa Kỳ), cho biết Việt Nam đã chuẩn bị như thế nào cho việc tham gia Công ước Hà Nội : "Thứ nhất là Việt Nam đã hoàn thiện khung pháp lý nội địa, đặc biệt là trong các lĩnh vực an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và xử lý chứng cứ điện tử. Có thể nói rằng trong những năm trở lại đây, Quốc Hội của Việt Nam và các cơ quan, trong đó có vai trò rất là lớn bộ Công An Việt Nam, đã điều chỉnh, bổ sung và ban hành các luật, khung pháp lý nội địa rất  kịp thời trong lĩnh vực an ninh mạng và xử lý điện tử, chứng cứ điện tử. Thứ hai là Việt Nam đã chuẩn bị khá kỹ trong việc nâng cao năng lực thực thi pháp luật, đặc biệt là đào tạo chuyên sâu cho các lực lượng điều tra tội phạm công nghệ cao. Song song với đó, đầu tư vào các hệ thống cơ sở hạ tầng số cũng rất là ổn định để kịp thời trước lúc tham gia Công ước Hà Nội. Thứ ba là tăng cường hợp tác quốc tế thông qua các cơ chế song phương, đa phương mà Việt Nam đã tham gia. Việt Nam không tham gia Công ước Hà Nội một cách hình thức mà đang từng bước thích nghi với các chuẩn mực toàn cầu về quản trị an ninh mạng và phòng chống tội phạm công nghệ cao." Công ước Hà Nội quy định đầy đủ các vấn đề từ hình sự hóa hành vi phạm tội, thẩm quyền điều tra, dẫn độ, tương trợ tư pháp, đến bảo vệ dữ liệu cá nhân. Các hành vi như truy cập trái phép, đánh cắp dữ liệu, gian lận điện tử, tấn công cơ sở hạ tầng trọng yếu, sử dụng không gian mạng để tài trợ khủng bố hay rửa tiền bằng tài sản số đều được định danh rõ ràng. Quan trọng hơn, Công ước tạo ra “chuẩn mực pháp lý chung”, giúp các quốc gia phối hợp hiệu quả trong xử lý các vụ án xuyên biên giới. Việc tham gia Công ước giúp Việt Nam có thêm công cụ pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm mạng. Trả lời RFI Việt ngữ, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải giải thích: "Công ước Hà Nội quy định rất toàn diện các vấn đề về hình sự hóa tội phạm mạng, thẩm quyền điều tra, hợp tác quốc tế, dẫn độ, hỗ trợ tư pháp và bảo vệ dữ liệu và cá nhân. Công ước mang lại cho Việt Nam một số công cụ pháp lý rất quan trọng, đáng chú ý ở đây là chia sẻ thông tin và chứng cứ điện tử nhanh hơn giữa các quốc gia. Có thể nói đây là một trong những    yếu tố then chốt trong điều tra tội phạm mạng xuyên biên giới. Ngoài ra, Công ước Hà Nội còn hỗ trợ cho phía Việt Nam và các cơ quan tư pháp hình sự của Việt Nam hài hòa các định nghĩa, các cách tiếp cận về pháp lý liên quan đến tội phạm mạng giữa các quốc gia. Thứ hai là tăng cường cơ chế tương trợ tư pháp và dẫn độ khi triển khai Công ước Hà Nội. Thứ ba là Công ước này sẽ hỗ trợ trực tiếp các cuộc điều tra chung. Khi được thông qua, Công ước Hà Nội sẽ có thêm cơ sở pháp lý, hành lang pháp lý cụ thể và chính thống để tiến hành các cuộc điều tra chung, thành lập các đội điều tra chung ( investigation teams ) giữa các nước trong khu vực và thế giới, khi phát sinh các yếu tố liên quan đến phòng chống tội phạm mạng, đặc biệt là trong các vụ lừa đảo xuyên quốc gia và rửa tiền kỹ thuật số. Điều này giúp đáng kể khoảng trống pháp lý mà tội phạm mạng thường lợi dụng. Hiện nay không gian mạng rất khó kiểm soát và không có biên giới." Những công cụ mới mà Công ước Hà Nội mang lại sẽ tác động như thế nào đến việc phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải dự báo: "Ở đây ta có thể tiếp cận từ hai góc độ. Góc độ thứ nhất là tác động của Công ước Hà Nội đối với Việt Nam. Góc độ thứ hai là tác động của Công ước Hà Nội đối với các đối tác của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Đầu tiên là trong nước, Công ước Hà Nội sẽ giúp cho Việt Nam, cụ thể là các cơ quan chức năng như bộ Công An hoặc bộ Thông Tin Truyền Thông, chuẩn hóa quy trình điều tra và xử lý tội phạm mạng, vừa bám theo Công ước Hà Nội, vừa nội hóa các luật nội địa Việt Nam đã ban hành, ví dụ như Luật an ninh mạng và gần đây nhất là luật về trí tuệ nhân tạo AI. Nó sẽ giúp chuẩn hóa quy trình điều tra và xử lý tội phạm liên quan đến không gian mạng, đồng thời nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong thu thập chứng cứ điện tử, thúc đẩy cách tiếp cận dựa trên dữ liệu và bằng chứng trong thực thi pháp luật của các cơ quan ở Việt Nam.  Cấp độ thứ hai là với các đối tác của Việt Nam trong khu vực ASEAN, cũng như các nước ngoài ASEAN, trong đó có Úc, Châu Âu, hay Mỹ. Ở cấp độ xuyên quốc gia, tác động sẽ rõ nét hơn. Công ước tạo nền tảng cho việc phối hợp hành động nhanh hơn giữa các quốc gia, đặc biệt là trong việc truy xét dòng tiền, xác định máy chủ và triệt phá các mạng lưới tội phạm hoạt động ở nhiều quốc gia cùng một lúc trên không gian mạng. Tuy nhiên ở đây tôi cũng cần lưu ý rằng hiệu quả thực sự sẽ phụ thuộc rất nhiều vào mức độ thực thi và niềm tin giữa các quốc gia. Bởi vì xây dựng niềm tin pháp lý, chia sẻ thông tin ở không gian mạng hiện nay có lúc vẫn bị nhiều nước, trong đó có Việt Nam, đánh giá là những vấn đề nhạy cảm. Việc chia sẻ giữa các đối tác trong khu vực và ngoài khu vực đều có những hạn chế nhất định. Thậm chí nhiều lúc chưa có sự tin tưởng một cách tuyệt đối." Trong việc phòng chống tội phạm mạng, Việt Nam từ nhiều năm qua vẫn có sự hỗ trợ của Cảnh sát Liên bang Úc ( AFP ). Tháng 5/2026, Cảnh sát Liên bang Úc đã phối hợp với bộ Công An Việt Nam và cảnh sát các nước Đông Nam Á khác tổ chức một hội thảo ở Đà Nẵng về nâng cao hợp tác giữa các bên trong lĩnh vực. Là một trong những người tham gia hội thảo, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải cho biết: "Hiện nay Cảnh sát Liên bang Úc ( AFP ) có một hệ thống sĩ quan liên lạc cảnh sát quốc tế phủ rộng toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Văn phòng Việt Nam đã mở hơn 20 năm nay. Có thể nói, theo đánh giá của cá nhân tôi, văn phòng đại diện sĩ quan liên lạc cảnh sát Úc ở Việt Nam đã đóng một vai trò rất lớn là một cầu nối quan trọng để kết nối lực lượng thực thi pháp luật của hai nước trong việc cập nhật, trao đổi thông tin, phối hợp điều tra, xử lý, dẫn độ cũng như giải quyết các vụ án mang tính chất xuyên quốc gia. Sự kiện ở Đà Nẵng có ba nội dung trọng tâm mà hiện nay Cảnh sát Liên bang Úc nâng cao hiệu quả hợp tác với đối tác Việt Nam. Thứ nhất là chia sẻ thông tin tình báo và dữ liệu tội phạm mạng, một trong những điểm rất quan trọng. Hội thảo vừa rồi cũng đánh giá cao sự chia sẻ giữa các đối tác trong khu vực ASEAN và lực lượng cảnh sát Úc. Thứ hai là hỗ trợ đào tạo và nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi pháp luật ở Việt Nam, thông qua nhiều kênh khác nhau, ví dụ như kênh về chương trình đào tạo quản lý lực lượng thực thi pháp luật khu vực châu Á - Thái Bình Dương, được tổ chức thường niên mỗi năm khoảng hai đến ba khóa, tùy vào các chủ đề liên quan đến tội phạm xuyên quốc gia. Những năm gần đây ưu tiên đặc biệt là các vụ lừa đảo scam qua mạng ( scam ) rất là nhiều. Qua kênh đào tạo này thì hiện đã có hơn 1000 cán bộ thực thi pháp luật, trong đó có nhiều cán bộ của Việt Nam đã được đào tạo cùng với các nước ASEAN và khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Chính điểm thứ hai này đã tạo ra được một lực lượng rất là thiện chiến trong phòng chống tội phạm mạng và các vấn đề liên quan đến an ninh mạng cho phía Việt Nam mà phía Úc đã hỗ trợ. Hợp tác thứ ba nữa mà tại diễn đàn này tôi cũng đã tập trung trao đổi, đó là chia sẻ những kinh nghiệm, phương thức, chiến thuật, các hoạt động phối hợp điều tra các vụ án xuyên biên giới, đặc biệt liên quan đến các vụ lừa đảo trực tuyến, rửa tiền số và bóc lột lao động trong các đường dây lừa đảo. Có thể nói trong bối cảnh Đông Nam Á đang nổi lên như một điểm nóng của các trung tâm lừa đảo xuyên quốc gia, hợp tác Việt Nam và Cảnh sát Liên bang Úc đóng một cái vai trò quan trọng không chỉ ở khía cạnh thực thi pháp luật, mà còn trong việc chia sẻ các kinh nghiệm thực chiến và xây dựng các chiến lược phòng ngừa mang tính nhất dài hạn."

Tạp chí Việt Nam
Công ước Hà Nội và phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later Jun 8, 2026 9:58


Ngày 07/04/2026, tổng bí thư Đảng kiêm chủ tịch nước Tô Lâm đã ký quyết định phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội), đưa Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á và là nước thứ hai trên thế giới chính thức phê chuẩn Công ước này. Công ước mang tên Hà Nội là vì lễ ký Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng đã được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10/2025. Cho tới nay đã có 75 quốc gia ký công ước này. Tuy nhiên, Công ước Hà Nội sẽ chỉ có hiệu lực một khi có đủ 40 quốc gia chính thức phê chuẩn để trở thành thành viên chính thức.  Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng đang ngày càng trở thành một trong những trung tâm của tội phạm mạng trên thế giới. Trong một bài viết đăng trên mạng ngày 09/03/2026, công ty Okta, chuyên về quản lý danh tính ( Identity Management ), cho biết: “Một hệ sinh thái tội phạm mạng rộng lớn bắt nguồn từ Việt Nam đã được liên kết với các chiến dịch đăng ký tài khoản giả mạo quy mô lớn nhắm vào các nhà cung cấp dịch vụ và nền tảng trực tuyến trên toàn thế giới. Các nhà nghiên cứu đã truy tìm hoạt động này đến một cụm cơ sở hạ tầng được đặt tên nội bộ là O-UNC-036, sử dụng địa chỉ email dùng một lần và bot tự động để tạo ra các danh tính kỹ thuật số giả mạo ở quy mô đáng báo động.” Theo công ty này, các tội phạm sử dụng những tài khoản trực tuyến gian lận như một cánh cửa để thực hiện các hoạt động tội phạm tài chính, từ thư rác và lừa đảo trực tuyến đến các vụ lừa đảo cá nhân. Các tổ chức tội phạm có tổ chức ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở khu vực gần biên giới Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan và Cam Bốt dùng những thủ đoạn này để dụ dỗ nạn nhân vào các vụ lừa đảo tiền điện tử, lừa đảo tình cảm và tống tiền tình dục,... Các nhà phân tích của Okta đã xác định được một lượng lớn các đăng ký tài khoản đáng ngờ liên kết với nhiều tên miền email dùng một lần, trở thành sợi dây liên kết quan trọng giữa hoạt động này với một thị trường lừa đảo rộng lớn hơn có trụ sở tại Việt Nam. Thiệt hại về tài chính từ hoạt động này là rất lớn. Trong một báo cáo tháng 4/2025, Văn phòng Liên Hiệp Quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC) đã chỉ ra rằng thị trường ngầm này hiện có những người chuyên buôn bán bộ công cụ lừa đảo, dữ liệu bị đánh cắp, phần mềm độc hại, công cụ dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) và dịch vụ rửa tiền được sử dụng để nhắm mục tiêu vào các nạn nhân trên toàn cầu. Chính là để phòng chống những hoạt động lừa đảo trực tuyến như trên mà Công ước Hà Nội thiết lập một khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện về phòng ngừa, phát hiện, điều tra, truy tố và hợp tác quốc tế trong xử lý tội phạm mạng. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 22/05/2026, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải, giảng viên Trường Tư pháp hình sự và tội phạm học Griffith, Úc và là chủ tịch Hội đồng nghiên cứu về tội phạm ma túy tại châu Á của Viện nghiên cứu AICS (Hoa Kỳ), cho biết Việt Nam đã chuẩn bị như thế nào cho việc tham gia Công ước Hà Nội : "Thứ nhất là Việt Nam đã hoàn thiện khung pháp lý nội địa, đặc biệt là trong các lĩnh vực an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và xử lý chứng cứ điện tử. Có thể nói rằng trong những năm trở lại đây, Quốc Hội của Việt Nam và các cơ quan, trong đó có vai trò rất là lớn bộ Công An Việt Nam, đã điều chỉnh, bổ sung và ban hành các luật, khung pháp lý nội địa rất  kịp thời trong lĩnh vực an ninh mạng và xử lý điện tử, chứng cứ điện tử. Thứ hai là Việt Nam đã chuẩn bị khá kỹ trong việc nâng cao năng lực thực thi pháp luật, đặc biệt là đào tạo chuyên sâu cho các lực lượng điều tra tội phạm công nghệ cao. Song song với đó, đầu tư vào các hệ thống cơ sở hạ tầng số cũng rất là ổn định để kịp thời trước lúc tham gia Công ước Hà Nội. Thứ ba là tăng cường hợp tác quốc tế thông qua các cơ chế song phương, đa phương mà Việt Nam đã tham gia. Việt Nam không tham gia Công ước Hà Nội một cách hình thức mà đang từng bước thích nghi với các chuẩn mực toàn cầu về quản trị an ninh mạng và phòng chống tội phạm công nghệ cao." Công ước Hà Nội quy định đầy đủ các vấn đề từ hình sự hóa hành vi phạm tội, thẩm quyền điều tra, dẫn độ, tương trợ tư pháp, đến bảo vệ dữ liệu cá nhân. Các hành vi như truy cập trái phép, đánh cắp dữ liệu, gian lận điện tử, tấn công cơ sở hạ tầng trọng yếu, sử dụng không gian mạng để tài trợ khủng bố hay rửa tiền bằng tài sản số đều được định danh rõ ràng. Quan trọng hơn, Công ước tạo ra “chuẩn mực pháp lý chung”, giúp các quốc gia phối hợp hiệu quả trong xử lý các vụ án xuyên biên giới. Việc tham gia Công ước giúp Việt Nam có thêm công cụ pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm mạng. Trả lời RFI Việt ngữ, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải giải thích: "Công ước Hà Nội quy định rất toàn diện các vấn đề về hình sự hóa tội phạm mạng, thẩm quyền điều tra, hợp tác quốc tế, dẫn độ, hỗ trợ tư pháp và bảo vệ dữ liệu và cá nhân. Công ước mang lại cho Việt Nam một số công cụ pháp lý rất quan trọng, đáng chú ý ở đây là chia sẻ thông tin và chứng cứ điện tử nhanh hơn giữa các quốc gia. Có thể nói đây là một trong những    yếu tố then chốt trong điều tra tội phạm mạng xuyên biên giới. Ngoài ra, Công ước Hà Nội còn hỗ trợ cho phía Việt Nam và các cơ quan tư pháp hình sự của Việt Nam hài hòa các định nghĩa, các cách tiếp cận về pháp lý liên quan đến tội phạm mạng giữa các quốc gia. Thứ hai là tăng cường cơ chế tương trợ tư pháp và dẫn độ khi triển khai Công ước Hà Nội. Thứ ba là Công ước này sẽ hỗ trợ trực tiếp các cuộc điều tra chung. Khi được thông qua, Công ước Hà Nội sẽ có thêm cơ sở pháp lý, hành lang pháp lý cụ thể và chính thống để tiến hành các cuộc điều tra chung, thành lập các đội điều tra chung ( investigation teams ) giữa các nước trong khu vực và thế giới, khi phát sinh các yếu tố liên quan đến phòng chống tội phạm mạng, đặc biệt là trong các vụ lừa đảo xuyên quốc gia và rửa tiền kỹ thuật số. Điều này giúp đáng kể khoảng trống pháp lý mà tội phạm mạng thường lợi dụng. Hiện nay không gian mạng rất khó kiểm soát và không có biên giới." Những công cụ mới mà Công ước Hà Nội mang lại sẽ tác động như thế nào đến việc phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải dự báo: "Ở đây ta có thể tiếp cận từ hai góc độ. Góc độ thứ nhất là tác động của Công ước Hà Nội đối với Việt Nam. Góc độ thứ hai là tác động của Công ước Hà Nội đối với các đối tác của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Đầu tiên là trong nước, Công ước Hà Nội sẽ giúp cho Việt Nam, cụ thể là các cơ quan chức năng như bộ Công An hoặc bộ Thông Tin Truyền Thông, chuẩn hóa quy trình điều tra và xử lý tội phạm mạng, vừa bám theo Công ước Hà Nội, vừa nội hóa các luật nội địa Việt Nam đã ban hành, ví dụ như Luật an ninh mạng và gần đây nhất là luật về trí tuệ nhân tạo AI. Nó sẽ giúp chuẩn hóa quy trình điều tra và xử lý tội phạm liên quan đến không gian mạng, đồng thời nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong thu thập chứng cứ điện tử, thúc đẩy cách tiếp cận dựa trên dữ liệu và bằng chứng trong thực thi pháp luật của các cơ quan ở Việt Nam.  Cấp độ thứ hai là với các đối tác của Việt Nam trong khu vực ASEAN, cũng như các nước ngoài ASEAN, trong đó có Úc, Châu Âu, hay Mỹ. Ở cấp độ xuyên quốc gia, tác động sẽ rõ nét hơn. Công ước tạo nền tảng cho việc phối hợp hành động nhanh hơn giữa các quốc gia, đặc biệt là trong việc truy xét dòng tiền, xác định máy chủ và triệt phá các mạng lưới tội phạm hoạt động ở nhiều quốc gia cùng một lúc trên không gian mạng. Tuy nhiên ở đây tôi cũng cần lưu ý rằng hiệu quả thực sự sẽ phụ thuộc rất nhiều vào mức độ thực thi và niềm tin giữa các quốc gia. Bởi vì xây dựng niềm tin pháp lý, chia sẻ thông tin ở không gian mạng hiện nay có lúc vẫn bị nhiều nước, trong đó có Việt Nam, đánh giá là những vấn đề nhạy cảm. Việc chia sẻ giữa các đối tác trong khu vực và ngoài khu vực đều có những hạn chế nhất định. Thậm chí nhiều lúc chưa có sự tin tưởng một cách tuyệt đối." Trong việc phòng chống tội phạm mạng, Việt Nam từ nhiều năm qua vẫn có sự hỗ trợ của Cảnh sát Liên bang Úc ( AFP ). Tháng 5/2026, Cảnh sát Liên bang Úc đã phối hợp với bộ Công An Việt Nam và cảnh sát các nước Đông Nam Á khác tổ chức một hội thảo ở Đà Nẵng về nâng cao hợp tác giữa các bên trong lĩnh vực. Là một trong những người tham gia hội thảo, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải cho biết: "Hiện nay Cảnh sát Liên bang Úc ( AFP ) có một hệ thống sĩ quan liên lạc cảnh sát quốc tế phủ rộng toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Văn phòng Việt Nam đã mở hơn 20 năm nay. Có thể nói, theo đánh giá của cá nhân tôi, văn phòng đại diện sĩ quan liên lạc cảnh sát Úc ở Việt Nam đã đóng một vai trò rất lớn là một cầu nối quan trọng để kết nối lực lượng thực thi pháp luật của hai nước trong việc cập nhật, trao đổi thông tin, phối hợp điều tra, xử lý, dẫn độ cũng như giải quyết các vụ án mang tính chất xuyên quốc gia. Sự kiện ở Đà Nẵng có ba nội dung trọng tâm mà hiện nay Cảnh sát Liên bang Úc nâng cao hiệu quả hợp tác với đối tác Việt Nam. Thứ nhất là chia sẻ thông tin tình báo và dữ liệu tội phạm mạng, một trong những điểm rất quan trọng. Hội thảo vừa rồi cũng đánh giá cao sự chia sẻ giữa các đối tác trong khu vực ASEAN và lực lượng cảnh sát Úc. Thứ hai là hỗ trợ đào tạo và nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi pháp luật ở Việt Nam, thông qua nhiều kênh khác nhau, ví dụ như kênh về chương trình đào tạo quản lý lực lượng thực thi pháp luật khu vực châu Á - Thái Bình Dương, được tổ chức thường niên mỗi năm khoảng hai đến ba khóa, tùy vào các chủ đề liên quan đến tội phạm xuyên quốc gia. Những năm gần đây ưu tiên đặc biệt là các vụ lừa đảo scam qua mạng ( scam ) rất là nhiều. Qua kênh đào tạo này thì hiện đã có hơn 1000 cán bộ thực thi pháp luật, trong đó có nhiều cán bộ của Việt Nam đã được đào tạo cùng với các nước ASEAN và khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Chính điểm thứ hai này đã tạo ra được một lực lượng rất là thiện chiến trong phòng chống tội phạm mạng và các vấn đề liên quan đến an ninh mạng cho phía Việt Nam mà phía Úc đã hỗ trợ. Hợp tác thứ ba nữa mà tại diễn đàn này tôi cũng đã tập trung trao đổi, đó là chia sẻ những kinh nghiệm, phương thức, chiến thuật, các hoạt động phối hợp điều tra các vụ án xuyên biên giới, đặc biệt liên quan đến các vụ lừa đảo trực tuyến, rửa tiền số và bóc lột lao động trong các đường dây lừa đảo. Có thể nói trong bối cảnh Đông Nam Á đang nổi lên như một điểm nóng của các trung tâm lừa đảo xuyên quốc gia, hợp tác Việt Nam và Cảnh sát Liên bang Úc đóng một cái vai trò quan trọng không chỉ ở khía cạnh thực thi pháp luật, mà còn trong việc chia sẻ các kinh nghiệm thực chiến và xây dựng các chiến lược phòng ngừa mang tính nhất dài hạn."

Tạp chí văn hóa
Thư viện Quốc gia Pháp và "Cánh cửa giao thoa văn hóa Pháp - Việt"

Tạp chí văn hóa

Play Episode Listen Later May 29, 2026 9:01


Trong khuôn khổ các hoạt động của Thư viện Quốc gia Pháp BnF (Thư viện François Mitterrand), chương trình hội thảo "Pháp-Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" đã được khởi xướng từ năm 2017 nhằm giới thiệu các nghiên cứu mới về giao lưu văn hóa giữa Pháp và Việt Nam, với nhiều chủ đề đa dạng, đặc biệt là liên quan đến lịch sử văn hóa và khoa học nhân văn, khoa học xã hội.   Các phiên hội thảo, nay là dưới hình thức trực tuyến qua nền tảng Zoom, được tổ chức vào một ngày thứ Năm mỗi tháng. Trong niên khóa 2025-2026, các buổi hội thảo đã đề cập đến những chủ đề rất đa dạng, như "Lịch sử của các nhân viên người Việt Nam và Đông Dương tại Thư viện Quốc gia Pháp qua các tài liệu lưu trữ (1942-1965)", "Sự phát triển của văn hóa phản kháng thực dân công khai ở Sài Gòn thông qua báo chí độc lập (1900-1930)" hay "Các vấn đề và thách thức của cộng đồng Pháp ngữ tại Việt Nam"...  Chương trình "Pháp - Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" niên khóa 2025-2026 đã khép lại vào ngày 21/05/2026, với cuộc hội thảo về chủ đề “Từ điển nhập môn để hiểu về Việt Nam: Một cách tiếp cận văn hóa xã hội” với diễn giả là ông Yves Duchère, một chuyên gia về Đông Nam Á và về Việt Nam, hiện làm việc tại Đại học Trung văn Hồng Kông (Chinese University of Hong Kong), Thâm Quyến, Trung Quốc. Chương trình hội thảo sẽ được mở lại vào tháng 11/2026 cho đến tháng 5/2027. Người khởi xướng và thực hiện chương trình này từ năm 2017 chính là tiến sĩ Nguyễn Giáng Hương, hiện đang phụ trách kho sách Đông Dương tại Thư viện Quốc gia Pháp. Đến niên khóa 2025-2026, cô mời nhà sử học François Guillemot, Viện Khảo cổ học Phương Đông (IAO), đồng tham gia tổ chức. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 26/05/2026 tại Thư viện Quốc gia Pháp, cô Nguyễn Giáng Hương cho biết: "Chương trình hội thảo "Pháp - Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" trong thời gian đầu là nằm trong chương trình hợp tác quốc tế giữa Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Quốc gia Pháp và trường Đại học Sư phạm Cao cấp - ENS Paris. Trong những năm đầu, chương trình này được tổ chức ngay tại trường ENS, với hình thức là mời một diễn giả tham gia thuyết trình mỗi tháng một lần và chương trình kéo dài từ tháng 10 đến tháng 5 hoặc tháng 6. Lý do đầu tiên mà chúng tôi có ý tưởng làm chương trình séminaire (hội thảo) này là khi mà chúng tôi bắt đầu triển khai dự án số hóa kho sách Đông Dương. Vì vậy tên gọi của chuỗi hội thảo này bắt đầu bằng France - Việt Nam. Cổng thông tin của Thư viện Quốc gia Việt Nam và Thư viện Quốc gia Pháp cũng bắt đầu bằng chữ France - Việt Nam. Trong những buổi đầu tiên, nhất là chương trình của năm đầu, chúng tôi tập trung vào các mảng khác nhau về kho sách Đông Dương, nhằm tạo được hiệu ứng về về truyền thông, cũng như gây sự chú ý cho cộng đồng khoa học. Sau đó chương trình được tiếp nối bằng các bài thuyết trình khác và ngày càng được mở rộng, đầu tiên là chương trình được sự quan tâm của cộng đồng nghiên cứu quốc tế, sau đó có những tác giả hay những nhà nghiên cứu cũng tự đề xuất những ý tưởng cũng như những bài thuyết trình mới. Chúng tôi cố gắng duy trì cho đến ngày hôm nay. Kết quả vượt qua cả sự mong đợi là chương trình đã được sự đón nhận rất rộng rãi của các học giả cũng như những người quan tâm về giao lưu văn hóa Việt - Pháp. Chương trình của chúng tôi luôn duy trì một lượng khán thính giả nhất định. Từ khủng hoảng Covid, chúng tôi đã mở rộng chương trình theo hình thức trực tuyến online, thì cũng có một điều hay là mình có thể đón nhận được các thính giả từ nước ngoài, ở Việt Nam, ở Mỹ, hay ở các nước khác của châu Âu. Thứ hai là chúng tôi cũng cố gắng mời các diễn giả ở những nước khác nhau và từ nhiều lĩnh vực khác nhau về khoa học xã hội và nhân văn, qua đó giúp chúng tôi có những góc nhìn khác nhau của các tác giả. Có thể là về cùng một lĩnh vực nhưng góc nhìn của một diễn giả ở châu Á sẽ khác với một diễn giả ở Pháp hay một diễn giả ở Mỹ. Chương trình này đã tạo nên một diễn đàn để các nhà nghiên cứu có thể đối thoại với nhau và chúng tôi cũng rất là cởi mở khi có những người không phải trong ngành nhưng quan tâm, hoặc thậm chí những nhân chứng có thể tham gia và có thể kể câu chuyện của riêng mình." Theo lời Nguyễn Giáng Hương, những bài thuyết trình trong khuôn khổ chương trình hội thảo "Pháp -Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" hiện đã được đưa lên một trang web để mọi người có tham khảo dễ dàng: "Thời gian trước thì tôi có xin một số diễn giả cho dùng lại hoặc là công bố bài thuyết trình của họ. Tôi cũng đã lập ra một website riêng của chương trình này, cũng có tên là "France Vietnam: Le portail entre les cultures", (Pháp - Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa). Dĩ nhiên hiện nay nó vẫn ở dạng như một blog còn hơi thô sơ. Dự định trong tương lai thì có thể sẽ tuyển lựa những bài hay nhất để chúng ta làm một công trình. Thực ra là trước đây, trong một số năm chúng tôi có điều kiện về mặt tài chính cũng như nhân lực để làm hội thảo tổng kết lại một năm thuyết trình. Từ những hội thảo đó thì chúng tôi cũng đã ra được hai ấn bản đúc kết lại những bài thuyết trình của các các diễn giả trong năm." Thư viện số Pháp-Việt : 2.000 tài liệu đặc sắc làm cầu nối giữa di sản Pháp-Việt Thư viện Quốc gia Pháp còn có một thư viện số song ngữ Pháp-Việt, quy tụ những tài liệu phản ánh những tương tác văn hóa, lịch sử, thuộc địa và khoa học giữa hai nước từ thế kỷ 17 đến năm 1954. Ra đời từ sự hợp tác giữa Thư viện Quốc gia Pháp và Thư viện Quốc gia Việt Nam (nay có sự tham gia của Trung tâm Hợp tác Quốc tế Nghiên cứu Nông nghiệp vì Phát triển - CIRAD), thư viện này là một phần của bộ sưu tập Di sản Chung, minh chứng cho mối quan hệ giữa Pháp và thế giới qua nhiều thế kỷ. Thư viện số Pháp-Việt đóng vai trò là cầu nối giữa di sản Pháp và Việt Nam, quy tụ hơn 2.000 tài liệu đặc sắc, tất cả đều có thể được truy cập toàn bộ. Thư viện bao gồm một bộ sưu tập đa dạng các tài liệu in ấn, bản thảo, bản đồ, tranh vẽ và ảnh chụp, được lấy từ các bộ sưu tập của Pháp và Việt Nam. Ngoài ra, khoảng hai mươi văn bản gốc do các chuyên gia, nhà nghiên cứu và người phụ trách bảo tàng người Pháp và Việt Nam giúp người đọc hiểu biết hiểu biết sâu sắc hơn nội dung và bối cảnh của các tài liệu đó. Đối với Nguyễn Giáng Hương, thư viện số Pháp-Việt có vai trò rất quan trọng giúp hiểu được toàn cảnh về xã hội, đời sống văn hóa, nghệ thuật và tri thức của Việt Nam thời kỳ Đông Dương: "Thư viện quốc gia tức là thư viện lưu trữ tất cả những di sản của một quốc gia, nhưng thực ra Thư viện Quốc gia Pháp còn lưu trữ những di sản của nhân loại, trong đó lịch sử của Việt Nam cũng nằm trong dòng chảy của nhân loại. Cụ thể, trong trường hợp Việt Nam với Pháp thì lịch sử chung đã có từ nhiều thế kỷ nay. Vì vậy mà cuốn sách đầu tiên có thể đánh dấu sự tồn tại của tiếng Việt ở thư viện này có lẽ là quyển từ điển Việt - Bồ - La. Cuốn từ điển này từ thế kỷ thứ 16 đã được coi như là cuốn sách đầu tiên. Sau đó Thư viện Quốc gia Pháp cũng thu nhận qua nhiều nguồn khác nhau những sách không chỉ là song ngữ mà có cả sách bằng tiếng Việt, thậm chí là bằng chữ Hán, chữ Nôm của một số nhà viễn du Pháp ngày xưa khi trở về họ mang lại một số văn bản mà họ có được và họ tặng lại cho thư viện. Nói chung có rất nhiều tổ chức nghiên cứu về Việt Nam cho sách và sau đấy thì số lượng sách về Việt Nam mà bằng tiếng Việt tới ngày càng nhiều, nhất là kể từ năm 1922, khi có luật về nộp lưu chiểu ở Đông Dương. Thế là hiện nay, kho sách Đông Dương bằng tiếng Việt là có trên 12.000 ấn bản. Đó là  tính riêng về sách thôi. Còn số lượng về báo chí thì cũng độ khoảng vài chục ngàn đầu báo. Chúng ta phải biết mỗi đầu báo là có thể là có nhiều số báo. Số lượng báo rất nhiều. Ấy là chưa kể các bưu ảnh và tất cả nhiều nhiều loại khác nữa. Thậm chí ngày nay, những tư liệu về âm thanh, về hình ảnh liên quan đến Việt Nam cũng có ở Thư viện Quốc gia Pháp. Tức là liên quan đến Việt Nam hoặc  Đông Dương thì mình có những tư liệu bằng tiếng Việt, bằng tiếng Pháp và bằng những ngôn ngữ khác nữa. Nó có vai trò rất quan trọng trong việc nghiên cứu và tìm hiểu Việt Nam nói chung và mối quan hệ Việt - Pháp nói riêng. Kho sách, đặc biệt là kho sách Đông Dương, mang lại cho chúng ta một cái nhìn toàn cảnh về xã hội Việt Nam ở thời kỳ Đông Dương, về đời sống văn hóa, nghệ thuật và tri thức của Việt Nam thời kỳ đó. Đấy là một mảng sách vô cùng quan trọng."

TẠP CHÍ VĂN HÓA
Thư viện Quốc gia Pháp và "Cánh cửa giao thoa văn hóa Pháp - Việt"

TẠP CHÍ VĂN HÓA

Play Episode Listen Later May 29, 2026 9:01


Trong khuôn khổ các hoạt động của Thư viện Quốc gia Pháp BnF (Thư viện François Mitterrand), chương trình hội thảo "Pháp-Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" đã được khởi xướng từ năm 2017 nhằm giới thiệu các nghiên cứu mới về giao lưu văn hóa giữa Pháp và Việt Nam, với nhiều chủ đề đa dạng, đặc biệt là liên quan đến lịch sử văn hóa và khoa học nhân văn, khoa học xã hội.   Các phiên hội thảo, nay là dưới hình thức trực tuyến qua nền tảng Zoom, được tổ chức vào một ngày thứ Năm mỗi tháng. Trong niên khóa 2025-2026, các buổi hội thảo đã đề cập đến những chủ đề rất đa dạng, như "Lịch sử của các nhân viên người Việt Nam và Đông Dương tại Thư viện Quốc gia Pháp qua các tài liệu lưu trữ (1942-1965)", "Sự phát triển của văn hóa phản kháng thực dân công khai ở Sài Gòn thông qua báo chí độc lập (1900-1930)" hay "Các vấn đề và thách thức của cộng đồng Pháp ngữ tại Việt Nam"...  Chương trình "Pháp - Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" niên khóa 2025-2026 đã khép lại vào ngày 21/05/2026, với cuộc hội thảo về chủ đề “Từ điển nhập môn để hiểu về Việt Nam: Một cách tiếp cận văn hóa xã hội” với diễn giả là ông Yves Duchère, một chuyên gia về Đông Nam Á và về Việt Nam, hiện làm việc tại Đại học Trung văn Hồng Kông (Chinese University of Hong Kong), Thâm Quyến, Trung Quốc. Chương trình hội thảo sẽ được mở lại vào tháng 11/2026 cho đến tháng 5/2027. Người khởi xướng và thực hiện chương trình này từ năm 2017 chính là tiến sĩ Nguyễn Giáng Hương, hiện đang phụ trách kho sách Đông Dương tại Thư viện Quốc gia Pháp. Đến niên khóa 2025-2026, cô mời nhà sử học François Guillemot, Viện Khảo cổ học Phương Đông (IAO), đồng tham gia tổ chức. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 26/05/2026 tại Thư viện Quốc gia Pháp, cô Nguyễn Giáng Hương cho biết: "Chương trình hội thảo "Pháp - Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" trong thời gian đầu là nằm trong chương trình hợp tác quốc tế giữa Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Quốc gia Pháp và trường Đại học Sư phạm Cao cấp - ENS Paris. Trong những năm đầu, chương trình này được tổ chức ngay tại trường ENS, với hình thức là mời một diễn giả tham gia thuyết trình mỗi tháng một lần và chương trình kéo dài từ tháng 10 đến tháng 5 hoặc tháng 6. Lý do đầu tiên mà chúng tôi có ý tưởng làm chương trình séminaire (hội thảo) này là khi mà chúng tôi bắt đầu triển khai dự án số hóa kho sách Đông Dương. Vì vậy tên gọi của chuỗi hội thảo này bắt đầu bằng France - Việt Nam. Cổng thông tin của Thư viện Quốc gia Việt Nam và Thư viện Quốc gia Pháp cũng bắt đầu bằng chữ France - Việt Nam. Trong những buổi đầu tiên, nhất là chương trình của năm đầu, chúng tôi tập trung vào các mảng khác nhau về kho sách Đông Dương, nhằm tạo được hiệu ứng về về truyền thông, cũng như gây sự chú ý cho cộng đồng khoa học. Sau đó chương trình được tiếp nối bằng các bài thuyết trình khác và ngày càng được mở rộng, đầu tiên là chương trình được sự quan tâm của cộng đồng nghiên cứu quốc tế, sau đó có những tác giả hay những nhà nghiên cứu cũng tự đề xuất những ý tưởng cũng như những bài thuyết trình mới. Chúng tôi cố gắng duy trì cho đến ngày hôm nay. Kết quả vượt qua cả sự mong đợi là chương trình đã được sự đón nhận rất rộng rãi của các học giả cũng như những người quan tâm về giao lưu văn hóa Việt - Pháp. Chương trình của chúng tôi luôn duy trì một lượng khán thính giả nhất định. Từ khủng hoảng Covid, chúng tôi đã mở rộng chương trình theo hình thức trực tuyến online, thì cũng có một điều hay là mình có thể đón nhận được các thính giả từ nước ngoài, ở Việt Nam, ở Mỹ, hay ở các nước khác của châu Âu. Thứ hai là chúng tôi cũng cố gắng mời các diễn giả ở những nước khác nhau và từ nhiều lĩnh vực khác nhau về khoa học xã hội và nhân văn, qua đó giúp chúng tôi có những góc nhìn khác nhau của các tác giả. Có thể là về cùng một lĩnh vực nhưng góc nhìn của một diễn giả ở châu Á sẽ khác với một diễn giả ở Pháp hay một diễn giả ở Mỹ. Chương trình này đã tạo nên một diễn đàn để các nhà nghiên cứu có thể đối thoại với nhau và chúng tôi cũng rất là cởi mở khi có những người không phải trong ngành nhưng quan tâm, hoặc thậm chí những nhân chứng có thể tham gia và có thể kể câu chuyện của riêng mình." Theo lời Nguyễn Giáng Hương, những bài thuyết trình trong khuôn khổ chương trình hội thảo "Pháp -Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" hiện đã được đưa lên một trang web để mọi người có tham khảo dễ dàng: "Thời gian trước thì tôi có xin một số diễn giả cho dùng lại hoặc là công bố bài thuyết trình của họ. Tôi cũng đã lập ra một website riêng của chương trình này, cũng có tên là "France Vietnam: Le portail entre les cultures", (Pháp - Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa). Dĩ nhiên hiện nay nó vẫn ở dạng như một blog còn hơi thô sơ. Dự định trong tương lai thì có thể sẽ tuyển lựa những bài hay nhất để chúng ta làm một công trình. Thực ra là trước đây, trong một số năm chúng tôi có điều kiện về mặt tài chính cũng như nhân lực để làm hội thảo tổng kết lại một năm thuyết trình. Từ những hội thảo đó thì chúng tôi cũng đã ra được hai ấn bản đúc kết lại những bài thuyết trình của các các diễn giả trong năm." Thư viện số Pháp-Việt : 2.000 tài liệu đặc sắc làm cầu nối giữa di sản Pháp-Việt Thư viện Quốc gia Pháp còn có một thư viện số song ngữ Pháp-Việt, quy tụ những tài liệu phản ánh những tương tác văn hóa, lịch sử, thuộc địa và khoa học giữa hai nước từ thế kỷ 17 đến năm 1954. Ra đời từ sự hợp tác giữa Thư viện Quốc gia Pháp và Thư viện Quốc gia Việt Nam (nay có sự tham gia của Trung tâm Hợp tác Quốc tế Nghiên cứu Nông nghiệp vì Phát triển - CIRAD), thư viện này là một phần của bộ sưu tập Di sản Chung, minh chứng cho mối quan hệ giữa Pháp và thế giới qua nhiều thế kỷ. Thư viện số Pháp-Việt đóng vai trò là cầu nối giữa di sản Pháp và Việt Nam, quy tụ hơn 2.000 tài liệu đặc sắc, tất cả đều có thể được truy cập toàn bộ. Thư viện bao gồm một bộ sưu tập đa dạng các tài liệu in ấn, bản thảo, bản đồ, tranh vẽ và ảnh chụp, được lấy từ các bộ sưu tập của Pháp và Việt Nam. Ngoài ra, khoảng hai mươi văn bản gốc do các chuyên gia, nhà nghiên cứu và người phụ trách bảo tàng người Pháp và Việt Nam giúp người đọc hiểu biết hiểu biết sâu sắc hơn nội dung và bối cảnh của các tài liệu đó. Đối với Nguyễn Giáng Hương, thư viện số Pháp-Việt có vai trò rất quan trọng giúp hiểu được toàn cảnh về xã hội, đời sống văn hóa, nghệ thuật và tri thức của Việt Nam thời kỳ Đông Dương: "Thư viện quốc gia tức là thư viện lưu trữ tất cả những di sản của một quốc gia, nhưng thực ra Thư viện Quốc gia Pháp còn lưu trữ những di sản của nhân loại, trong đó lịch sử của Việt Nam cũng nằm trong dòng chảy của nhân loại. Cụ thể, trong trường hợp Việt Nam với Pháp thì lịch sử chung đã có từ nhiều thế kỷ nay. Vì vậy mà cuốn sách đầu tiên có thể đánh dấu sự tồn tại của tiếng Việt ở thư viện này có lẽ là quyển từ điển Việt - Bồ - La. Cuốn từ điển này từ thế kỷ thứ 16 đã được coi như là cuốn sách đầu tiên. Sau đó Thư viện Quốc gia Pháp cũng thu nhận qua nhiều nguồn khác nhau những sách không chỉ là song ngữ mà có cả sách bằng tiếng Việt, thậm chí là bằng chữ Hán, chữ Nôm của một số nhà viễn du Pháp ngày xưa khi trở về họ mang lại một số văn bản mà họ có được và họ tặng lại cho thư viện. Nói chung có rất nhiều tổ chức nghiên cứu về Việt Nam cho sách và sau đấy thì số lượng sách về Việt Nam mà bằng tiếng Việt tới ngày càng nhiều, nhất là kể từ năm 1922, khi có luật về nộp lưu chiểu ở Đông Dương. Thế là hiện nay, kho sách Đông Dương bằng tiếng Việt là có trên 12.000 ấn bản. Đó là  tính riêng về sách thôi. Còn số lượng về báo chí thì cũng độ khoảng vài chục ngàn đầu báo. Chúng ta phải biết mỗi đầu báo là có thể là có nhiều số báo. Số lượng báo rất nhiều. Ấy là chưa kể các bưu ảnh và tất cả nhiều nhiều loại khác nữa. Thậm chí ngày nay, những tư liệu về âm thanh, về hình ảnh liên quan đến Việt Nam cũng có ở Thư viện Quốc gia Pháp. Tức là liên quan đến Việt Nam hoặc  Đông Dương thì mình có những tư liệu bằng tiếng Việt, bằng tiếng Pháp và bằng những ngôn ngữ khác nữa. Nó có vai trò rất quan trọng trong việc nghiên cứu và tìm hiểu Việt Nam nói chung và mối quan hệ Việt - Pháp nói riêng. Kho sách, đặc biệt là kho sách Đông Dương, mang lại cho chúng ta một cái nhìn toàn cảnh về xã hội Việt Nam ở thời kỳ Đông Dương, về đời sống văn hóa, nghệ thuật và tri thức của Việt Nam thời kỳ đó. Đấy là một mảng sách vô cùng quan trọng."

TẠP CHÍ XÃ HỘI
Rừng ngập mặn và những thách thức về bảo tồn « tuyến phòng thủ tự nhiên » ven biển Việt Nam

TẠP CHÍ XÃ HỘI

Play Episode Listen Later May 27, 2026 15:26


Ngày 26/07 hàng năm được UNESCO chọn làm Ngày Quốc tế Bảo tồn Hệ sinh thái Rừng ngập mặn, kể từ năm 2015, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của rừng ngập mặn và khuyến khích việc bảo vệ chúng. Tại Việt Nam, một trong những nước phải chịu nhiều tác động biến đổi khí hậu, nước biển không ngừng dâng cao, rừng ngập mặn là một tuyến phòng thủ tự nhiên không thể thiếu trước những tác động khắc nghiệt của tự nhiên. Không chỉ đóng vai trò bảo vệ bờ biển, hệ sinh thái đặc biệt này còn là nơi trú ngụ của nhiều loài sinh vật, góp phần vào sinh kế của người dân ven biển. Tuy nhiên, áp lực từ đô thị hóa, nuôi trồng thủy sản đã khiến diện tích rừng ngập mặn suy giảm đáng kể.  Để hiểu rõ hơn về thực trạng, thách thức về bảo tồn rừng ngập mặn ở Việt Nam, RFI tiếng Việt đã có cuộc trao đổi với tiến sĩ Lê Anh Tuấn, giảng viên khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên của Đại học Cần Thơ. RFI : Báo chí Việt Nam thường gọi rừng ngập mặn là bức tường xanh, lá chắn sinh thái … Tiến sĩ có thể giải thích cho thính giả - độc giả của đài RFI tiếng Việt được biết rừng ngập mặn là gì, có những nét đặc biệt về sinh thái như thế nào ? TS. Lê Anh Tuấn : Rừng ngập mặn là những cánh rừng phát triển ở những khu đất đang bị ngập do nước mặn, đặc biệt là nước từ biển. Rừng ngập mặn có một vai trò rất lớn, là một lá chắn để bảo vệ vùng bờ biển và tạo ra một hệ sinh thái rất độc đáo cho các khu vực xung quanh, đồng thời là một nguồn phát triển sinh kế cho người dân, cũng như ổn định bờ biển của Việt Nam. Ở Việt Nam thì rừng ngập mặn tập trung nhiều nhất là ở vùng bán đảo Cà Mau, ở đồng bằng sông Cửu Long. Vào khoảng năm 1953-1954, diện tích rừng rất lớn, khoảng hơn 71.300 ha. Nhưng tới năm 1992 thì diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp rất nhiều, chỉ còn khoảng 33.000 ha. Một lý do là chiến tranh Việt Nam trước năm 1975, cùng với việc sử dụng chất diệt cỏ nên diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp. Rồi người ta sử dụng rừng ngập mặn để khai thác gỗ hoặc là chế biến than củi làm chất đốt. Rừng ngập mặn cũng bị người ta chuyển sang sản xuất nuôi trồng thủy sản, như là nuôi tôm hay nuôi cua. Khi sản xuất được mở rộng thì rừng ngập mặn bị thu hẹp lại. Nhưng mà sau đó thì người ta nhận thấy rằng rừng ngập mặn có một vai trò rất lớn trong hệ sinh thái và đồng thời bảo vệ vùng bờ biển nên có nhiều chương trình để phục hồi rừng ngập mặn, đặc biệt là từ những năm 1995 trở đi, song song với chương trình gọi là phục hồi rừng trên toàn quốc và kèm theo đó là chương trình mà trồng rừng 5 triệu ha rừng nữa. Đây là một nỗ lực rất lớn để phục hồi lại rừng ngập mặn. Đồng thời cũng có rất nhiều chương trình tài trợ cho việc bảo vệ rừng ngập mặn và khôi phục lại những hệ sinh thái ở vùng ngập rừng ngập mặn, đặc biệt là các vùng ven biển đồng bằng Sông Cửu Long, một số vùng ở Cần Giờ của Sài Gòn, một số vùng miền Trung như là vùng đầm phá Tam Giang hoặc là một số vùng ven biển ở phía Bắc thì rừng gặp mặn bắt đầu khôi phục dần dần. Tuy nhiên cũng có rất nhiều thách thức, do biến đổi khí hậu chẳng hạn, hoặc là do sự phát triển của dân số và sản xuất, nên diện tích rừng ngập mặn vẫn không được nhiều như mong muốn. Và đặc biệt, do nước biển dâng và thiên tai, nên rừng ngập mặn ở vùng bán đảo Cà Mau đang có khuynh hướng bị thu hẹp, bị xói lở rất mạnh ở mũi Cà Mau bên phía biển đông. Nhưng một phần phù sa lại đắp cho vùng biển phía tây, nên rừng ngập mặn đang có khuynh hướng phát triển về phía tây, trong khi phía đông thì bị thu hẹp lại. RFI : Vai trò của rừng ngập mặn trong việc chống biến đổi khí hậu là gì ? TS. Lê Anh Tuấn : Thứ nhất, rừng ngập mặn có sinh khối rất lớn. Các cây rừng ngập mặn, ví dụ như là cây mắm, cây đước, cây bần, phát triển mạnh, tạo ra một sinh khối rất lớn và dày đặc. Các rừng này sẽ hấp thụ lượng carbon (CO2) và đồng thời nhả ra oxy cho khu vực. Đồng thời rừng ngập mặn có vai trò che chắn sự tàn phá của sóng biển hay sự tàn phá của những trận bão nhiệt đới, để bảo vệ sản xuất và đời sống của người dân ở bên trong. Rừng ngập mặn cũng là nơi trú ngụ của rất nhiều loài chim, cá, và những loài chim cá này tạo ra một cảnh quan, một sự đa dạng sinh học cho khu vực. RFI : Với vai trò của rừng gập mặn trong việc chống biến đổi khí hậu như vậy, có thể hiểu là Việt Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, rất cần rừng ngập mặn. Vậy ngoài tác dụng về chống biến đổi khí hậu thì rừng ngập mặn còn có vai trò gì đối với sinh kế của người dân Việt Nam ? TS.Lê Anh Tuấn : Rừng ngập mặn là nơi trú ngụ của rất nhiều loại thủy sản, như các loại tôm, cua, sò, ốc khác nhau. Người dân có thể dựa vào rừng ngập mặn để nuôi tôm, rồi nuôi cua hay là nuôi sò, nuôi ốc, hoặc là người ta có thể tạo ra những sản phẩm phụ như là cây gỗ hay là tạo ra hoạt động du lịch, du lịch sinh thái ở những vùng như vậy. Đó là một cơ sở để tạo ra sinh kế của cộng đồng và thêm nguồn thu cho cho chính quyền địa phương ở đó. RFI : Ở nhiều nước trên thế giới thì rừng ngập mặn bị tàn phá vì nhiều lý do. Tình hình tại Việt Nam, như tiến sĩ đã phân tích, diện tích rừng ngập mặn cũng đã giảm, về lịch sử thì có thể nói là do chiến tranh Việt Nam từ những năm trước 1975. Sau này thì có thể nói đến hai yếu tố, thứ nhất là biến đổi khí hậu, thứ hai là hoạt động của con người cũng đã góp phần là tàn phá, thu hẹp cái rừng ngập mặn. Vậy còn về chất lượng rừng ngập mặn hiện nay thì ra sao ? TS. Lê Anh Tuấn : Tôi cho rằng vùng rừng ngập mặn mà được khôi phục và bảo tồn thì chất lượng sẽ tốt hơn rất là nhiều. Ví dụ như ngày xưa là rừng ngập mặn ở Cần Giờ ở khu vực Sài Gòn bị tàn phá rất nhiều. Nhưng bây giờ rừng này đã phục hồi và có rất nhiều loài chim muông và thú, hay cá tụ về. Vùng bản đảo Cà Mau người ta cũng ghi nhận như vậy. Tuy nhiên, do sự giằng co giữa con người và thiên nhiên, biến đổi khí hậu, hoặc do sự quản lý lỏng lẻo, người ta có thể đi vào trong một khu rừng ngập mặn, chặt phá trộm hoặc là lén lút mở rộng diện tích nuôi tôm. Về mặt pháp luật, họ bị ngăn cấm rất nhiều, nhưng mà vấn đề là quản lý của chính quyền địa phương ở mỗi khu vực thì khác nhau, nơi làm tốt thì có thể rừng ngập mặn phát triển nhiều và đóng vai trò khôi phục lại hệ sinh thái và bảo vệ cái bờ biển khu vực đó. Còn những nơi quản lý lỏng lẻo, để cho người dân vô chặt phá, hoặc ở những vùng chịu những tác động của sóng biển bị xói lở hay là do những yếu tố thiên tai khác thì rừng ngập mặn đang thu hẹp. Nhìn trên bản đồ, chúng ta thấy rằng sự thu hẹp hay là mở rộng rừng ngập mặn không đồng đều ở các vùng khác nhau của Việt Nam. RFI : Thưa tiến sĩ Lê Anh Tuấn, ông là chuyên gia về môi trường và tài nguyên thiên nhiên, theo ông đâu là những khó khăn, những thách thức trong thời gian tới đây để bảo vệ, khôi phục rừng ngập mặn tại Việt Nam mà vẫn bảo đảm được sinh kế cho người dân ? TS.Lê Anh Tuấn : Một trong những thách thức để bảo vệ rừng ngập mặn là chúng ta phải nhận diện lại những mối đe dọa đến diện tích rừng ngập mặn. Thí dụ như là sạt lở bờ biển, sự suy giảm phù sa của sông Cửu Long khi ra biển, bởi vì rừng ngập mặn là một bãi bồi nhận phù sa đổ ra ngoài biển. Và những phù sa này hiện nay đang có khuynh hướng giảm đi, do sự hình thành của các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Kông. Đồng thời tình trạng khai thác cát bừa bãi ở vùng thượng nguồn làm cho lượng phù sa đi đến vùng bờ biển cũng ít đi. Và khi phù sa ít đi thì không còn bồi đắp lại mũi Cà Mau nữa. Điều này vừa có yếu tố con người, vừa có yếu tố tự nhiên. Thứ hai, vấn đề là quản lý và khôi phục lại những cánh rừng ngập mặn. Nếu chúng ta có rất nhiều biện pháp mà quản lý cách chặt chẽ thì chúng ta có thể giữ được những rừng ngập mặn đó để phát triển. Còn nếu chúng ta lơi lỏng trong quản lý, để cho một số người khai thác bất hợp pháp lấy củi hoặc mở rộng diện tích canh tác thì lúc đó rừng ngập mặn sẽ bị đe dọa. Tôi nghĩ rằng là đây là một biện pháp rất tổng hợp, tuy nhiên diện tích mà chúng ta cần phải bảo vệ và duy trì quá lớn so với sức của con người ở mỗi địa phương. Thế nên, cần phải có một sự phối hợp mạnh mẽ giữa chính quyền địa phương với các cơ quan quản lý rừng, với các nhà khoa học, đồng thời phải nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ và nhận diện sự bền vững của rừng ngập mặn. Nếu chúng ta biết cách bảo vệ thì rừng ngập mặn sẽ tiếp tục phục vụ lại chính con người chúng ta, mà chúng ta cũng có thể dừng rừng ngập mặn để hạn chế những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. RFI : Theo ông, mô hình phục hồi rừng ngập mặn nào của Việt Nam hiện nay đang được đánh giá là hiệu quả ? TS. Lê Anh Tuấn : Tôi nghĩ một mô hình tốt là phải có sự phối hợp giữa chính quyền và người dân trong cộng đồng. Cụ thể là ở một số nơi, chính quyền đã giao một số khu rừng ngập mặn cho người dân quản lý và bảo vệ. Người ta có thể sử dụng diện tích mặt nước để nuôi tôm, nuôi cua để khai thác và đồng thời người ta có thể phát triển được du lịch cộng đồng tại chỗ, để tăng thêm thu nhập khi mà người dân phải cùng với chính phủ bảo vệ rừng ngập mặn.  RFI : Việt Nam có được các tổ chức quốc tế, các hiệp hội bảo vệ môi trường - sinh thái hỗ trợ trong các chương trình phục hồi và bảo vệ rừng ngập mặn hay không ? TS. Lê Anh Tuấn : Theo tôi biết là có rất nhiều chương trình để phục hồi rừng ngập mặn, như là chương trình của chính phủ Đức, hay là chương trình để thành lập vườn quốc gia mũi Cà Mau, hoặc là một số tổ chức phi chính phủ khác tài trợ cho những chương trình trồng rừng ngập ngập mặn và khuyến khích giới trẻ Việt Nam tham gia bảo vệ rừng ngập mặn đó, cùng nhau có những chiến dịch trồng lại những rừng ngập mặn. Cũng có một số chương trình của chính phủ Pháp để phục hồi lại một số rừng ngập mặn, nhưng mà các chương trình đó thì không kéo dài và nguồn kinh phí thì không có nhiều như là một số tổ chức khác của Đức chẳng hạn. RFI : Giữa việc khôi phục diện tích, mở rộng diện tích rừng ngập mặn và việc cải thiện nâng cao chất lượng của rừng ngập mặn, thì theo ý kiến đánh giá của tiến sĩ, điều nào là quan trọng hơn đối với Việt Nam để có thể chống biến đổi khí hậu ? TS. Lê Anh Tuấn : Tôi nghĩ rằng hiện nay chúng ta phải có một cái giải pháp tương đối tổng hợp. Chúng ta cũng đừng dựa vào một giải pháp duy nhất nào đó. Thứ nhất là về chính sách, phải tiếp tục duy trì ngân sách để phát triển rừng ngập mặn. Thứ hai là phải có sự tham gia của các nhà khoa học, sử dụng những công công cụ hiện đại để chúng ta quản lý rừng ngập mặn tốt hơn. Ví dụ như dùng viễn thám hay là dùng máy bay không người lái để tuần tiễu, tìm cách phát hiện ra những nơi nào rừng ngập mặn đang bị tàn phá hay là xâm hại, hoặc sử dụng những biện pháp, kể cả những biện pháp đơn giản, như trồng rừng lại bằng sức người, theo từng nhóm nhỏ, trồng lại rừng ở những bãi bồi, những chỗ mà rừng ngập mặn bị mất đi hoặc là chúng ta có thể tìm ra những biện pháp hỗ trợ người dân không xâm phạm rừng ngập mặn, nhưng vẫn có thể có được những sinh kế ở trên cái đất rừng ngập mặn đó. Ví dụ như là người ta có thể giành lại một khoảng 20-25 hay là 30% diện tích mặt nước ở trong rừng ngập mặn để người ta nuôi tôm, cua hoặc là các sản vật khác chẳng hạn, mà không làm ảnh hưởng tới rừng ngập mặn. Và trong khi nuôi trồng như vậy thì người ta cũng có biện pháp bảo vệ rừng ngập mặn, phát hiện ra những người lạ xâm lấn vào trong khu rừng đó, đồng thời có thể cảnh báo cho chính quyền khi mà rừng ngập mặn gặp những mối đe dọa khác, ví dụ như sạt lở hay là ô nhiễm do hoạt động sản xuất khác. Ví dụ người sản xuất công nghiệp xả thải không qua xử lý thì có thể ảnh hưởng tới rừng ngập mặn. Như vậy, chính người được giao rừng sẽ là người cùng với chính quyền bảo vệ lại rừng ngập mặn. Và tôi nghĩ rằng cũng nên có những chương trình bền bỉ để giúp cho cộng đồng hay là các bạn trẻ hiểu rõ vai trò của rừng ngập mặn, để cùng nhau bảo vệ. Chúng ta không nên nghĩ rừng chỉ là rừng mà rừng còn có nhiều tác dụng về nguồn nước, về khí hậu, về đất đai và hệ sinh thái, có rất nhiều lợi ích trong đó. RFI Tiếng Việt chân thành cảm ơn tiến sĩ Lê Anh Tuấn, giảng viên khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên của Đại học Cần Thơ, đã tham gia chương trình hôm nay.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Việt Nam mua tên lửa BrahMos của Ấn Độ: Hai nước "đang tiến gần" đến thỏa thuận

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later May 25, 2026 9:47


Trong khuôn khổ chính sách "Hướng Đông" của Ấn Độ và nhằm đối phó với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở Đông Nam Á, thủ tướng Narendra Modi đã thảo luận với tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm Ấn Độ đầu tháng 5 vừa qua về việc tăng cường hợp tác quốc phòng Ấn Độ - Việt Nam, bao gồm cả việc bán tên lửa hành trình siêu âm BrahMos cho Hà Nội.  Thương vụ bán tên lửa BrahMos cho Việt Nam cũng đã là một trong những chủ đề chính trong chuyến thăm Việt Nam của bộ trưởng Quốc Phòng Rajnath Singh trong hai ngày 18 và 19/05. Theo báo chí Ấn Độ, hai nước "đang tiến gần" đến thỏa thuận trị giá 700 triệu đôla để cung cấp tên lửa BrahMos cho Việt Nam. Các cuộc đàm phán được mô tả là đang ở giai đoạn "nâng cao" và thỏa thuận có thể sẽ được ký kết trong những tháng tới. Từ nhiều năm qua, Việt Nam đã đàm phán mua tên lửa siêu thanh BrahMos của Ấn Độ, loại tên lửa mà ít nhất 15 quốc gia khác, nhất là các nước Đông Nam Á, cũng đang quan tâm. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, trong đó có vấn đề chuyển giao công nghệ, đàm phán giữa Hà Nội và New Delhi đã kéo dài. Tên lửa BrahMos ngày càng hấp dẫn với các nước Đông Nam Á là nhờ có hiệu năng vượt trội và khả năng chiến đấu đã được chứng minh. Lần ra mắt trên chiến trường của tên lửa siêu thanh này là trong “Chiến dịch Sindoor” vào tháng 5/2025, chiến dịch quân sự của Ấn Độ chống Pakistan sau một cuộc tấn công của phiến quân ở vùng Kashmir do Ấn Độ quản lý, khiến ít nhất 26 thường dân thiệt mạng. Các cuộc tấn công cho thấy khả năng của BrahMos xuyên thủng hệ thống phòng không chủ động .  Trên trang mạng của nhật báo Hồng Kông South China Morning Post ngày 10/05/2026, Gaurav Kumar, một nhà nghiên cứu tại một viện nghiên cứu quốc phòng của Ấn Độ, cho biết tên lửa BrahMos bay với tốc độ hơn Mach 3. Theo ông Kumar, vận tốc và độ cao tương đối thấp của BrahMos khiến “hệ thống phòng không của đối phương có rất ít thời gian phản ứng. Các hệ thống có thể theo dõi tên lửa này, nhưng việc đánh chặn vẫn cực kỳ khó khăn, đặc biệt là trong các cuộc tấn công hàng loạt.”  Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 14/05/2026, nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Canberra, Úc, cho biết thêm: “BrahMos là loại tên lửa đa dụng, tức là không chỉ gắn lên xe phóng ở trên bờ, ta có thể gắn tên lửa lên máy bay chiến đấu. Triển khai máy bay đó ra ngoài bờ biển cũng tạo ra một sức ép rất lớn với đối thủ tiềm tàng, hoặc là đặt trên bờ và di chuyển tên lửa đó đến những vị trí mà mình muốn, tạo ra cái mà Việt Nam gọi là "khả năng răn đe" đối với một đối thủ tiềm tàng nào đó trong trường hợp xung đột xảy ra.  Thứ hai là tính hiện đại. Tên lửa này có tốc độ rất cao, Mach 3, tức gấp ba lần vận tốc âm thanh. Công nghệ siêu thanh này Việt Nam chưa có.  Thứ ba, quan trọng nhất, là giá thành. Các loại vũ khí tương tự của Nhật hay của Châu Âu có giá tương đối cao, trong khi BrahMos có giá tương đối thấp. Đối với các nước Đông Nam Á có nguồn lực quốc phòng không đủ mạnh, không đủ nhiều, lựa chọn này là một trong những lựa chọn “affordable”, tức là có tính kinh tế nhất, cho việc phát triển và hiện đại hóa năng lực phòng thủ không chỉ của Việt Nam, mà còn của các nước như Philippines, Indonesia, Malaysia, những nước đang có tranh chấp trên biển.  Thứ tư, đây là một sản phẩm quốc phòng của Ấn Độ dựa trên công nghệ của Nga. Nếu nói về một trong những loại công nghệ phòng thủ bờ biển vừa hiệu quả mà vừa rẻ tiền, đầu tiên người ta nói tới Nga. Nhưng chiến tranh Ukraina từ 2022 tới nay khiến cho việc tiếp cận công nghệ vũ khí, khí tài của Nga trên thị trường thế giới rất khó. Sản phẩm đó của Ấn Độ ngẫu nhiên trở thành lựa chọn hấp dẫn, vì đó là công nghệ Nga nhưng được làm ở Ấn Độ và được đăng ký bản quyền ở Ấn Độ, cho nên sẽ không bị những rào cản về cấm vận, hay bị các nước phương Tây để ý, giúp cho các quốc gia Đông Nam Á tiếp cận một loại công nghệ phòng thủ tốt nhưng rẻ và không vướng vào những khúc mắc liên quan tới cuộc chiến Nga - Ukraina. Xét về mặt công nghệ tên lửa hiện nay hầu như toàn bộ các quốc gia Đông Nam Á, chứ không riêng Việt Nam, đều chưa có một loại vũ khí nào có thể đối phó hiệu quả trong một cuộc chiến với Trung Quốc, đặc biệt trong bối cảnh xung đột trên các đảo đang tranh chấp ở Biển Đông, một kịch bản giả định một cuộc xâm lược từ hướng biển. Kịch bản này là một trong những kịch bản mà Việt Nam liên tục cập nhật. Về các loại vũ khí tàu chiến, ngoài Mỹ, một số nước Châu Âu và Nhật Bản, BrahMos là một lựa chọn tương đối là phù hợp, tuy không phải là phù hợp nhất, đối với các nước Đông Nam Á trong việc cải thiện năng lực phòng thủ bờ biển.” Nếu thỏa thuận được ký kết, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia thứ ba sở hữu hệ thống tên lửa hành trình siêu thanh BrahMos, sau hợp đồng trị giá 375 triệu đô la của Philippines vào năm 2022 và thỏa thuận của Indonesia vào tháng 3/2026 để hoàn tất hợp đồng trị giá ít nhất 340 triệu đô la. Nhưng theo Nguyễn Thế Phương, có một số lý do khiến đàm phán giữa Việt Nam và Ấn Độ về mua tên lửa BrahMos kéo dài: “Thật ra hợp đồng BrahMos là hợp đồng mà Việt Nam và Ấn Độ đã đàm phán rất lâu, từ cách đây cũng khoảng 10 năm. Cho tới nay thực tế thì tỷ lệ phần trăm mà Việt Nam có thể mua BrahMos từ Ấn Độ vẫn là 50/50, chứ chưa phải là điều gì chắc chắn cả. Hai bên vẫn đang đàm phán với nhau. Có nhiều lý do khiến cho tên lửa này hấp dẫn, nhưng chưa đủ để cho đàm phán đó tiến nhanh.Thứ nhất là Việt Nam hiện đang trong quá trình xây dựng một nền công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng, tự chủ và cho tới nay đã đạt được một số thành tựu nhất định, đặc biệt là đã tự chế tạo được loại tên lửa tạm gọi là “phòng thủ bờ biển”. Cách đây hai năm, Việt Nam cũng đã cho ra mắt một số loại tên lửa nội địa. Đây cũng là một phần khiến cho sự mặn mà của Việt Nam đối với BrahMos chưa phải là cấp thiết lắm. Thứ hai là tỷ lệ nội địa hóa của Ấn Độ đối với BrahMos chưa phải là cao. BrahMos là một dự án liên doanh hợp tác chuyển giao công nghệ giữa Ấn Độ và Nga. Ở thời điểm hiện tại, theo một số nguồn tin, tỷ lệ mà Ấn Độ nội địa hóa trong tên lửa BrahMos là vào khoảng 60 tới 70% thôi, còn 30 tới 40% còn lại thì vẫn dựa vào công nghệ của Nga. Việt Nam vẫn lo ngại là trong bối cảnh chiến tranh Nga - Ukraina hiện nay, liệu thành phẩm hoàn chỉnh BrahMos có đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ, chiến thuật hay không? Hiện giờ Nga đang bị cấm vận và chính sách quốc phòng của Nga đang hướng nội, tập trung cho việc xây dựng nguồn lực cho cuộc chiến với Ukraina nhiều hơn là hợp tác với nước ngoài. Việt Nam lo ngại nếu nhập khẩu thì liệu hệ thống tên lửa đó có vận hành đúng như những gì mà Việt Nam mong muốn không? Ngoài ra còn có những điểm liên quan đến chuyển giao công nghệ nữa. Đây là một trong những điểm mà hai bên chắc đang phải tập trung đàm phán. Đối với Việt Nam hiện nay, một trong những trụ cột của chính sách phát triển quốc phòng và đặc biệt là chính sách phát triển các loại vũ khí là mong muốn được đối tác nước ngoài chuyển giao công nghệ. Việc nhập khẩu tên lửa BrahMos có một hàm ý quan trọng là liệu Ấn Độ có cho phép Việt Nam tiếp cận công nghệ động cơ đó hay không? Đây là một điểm khá là khúc mắc, bởi vì thường thì đứng về góc độ của người bán vũ khí, họ sẽ lưỡng lự và cũng rất khó khăn trong quyết định có nên chuyển giao công nghệ cho đối tác nước ngoài không.  Việt Nam hiện đang tổ chức lại lực lượng tên lửa và tăng cường hệ thống phòng không, cho nên cũng quan tâm đến các loại tên lửa khác của Ấn Độ, theo lời Nguyễn Thế Phương:  Ngoài BrahMos, có thông tin là Việt Nam cũng quan tâm đến các loại tên lửa phòng không của Ấn Độ và một số loại công nghệ tên lửa đạn đạo trong bối cảnh Việt Nam đang tái cấu trúc lại tên lửa, pháo binh thành Bộ tư lệnh Pháo binh - Tên lửa. Trong việc hiện đại hóa năng lực pháo binh cộng với các loại tên lửa đất đối đất tầm ngắn và tầm trung trong tương lai, Ấn Độ là nước có năng lực phát triển tên lửa đối đất thuộc hàng top ở châu Á. Thứ hai là về phòng không, Việt Nam cách đây khoảng một năm đã đưa ra một khái niệm “Vòm phòng không bền vững”, tương tự như "Vòm Sắt" của Israel . Nói đến vòm phòng không là nói đến các loại vũ khí liên quan tới phòng không, nhiều tầng nhiều lớp. Đây là mảng hợp tác cũng tương đối tiềm năng giữa Ấn Độ và Việt Nam. Ấn Độ đã phát triển một số loại tên lửa phòng không, mà theo quảng cáo, về mặt lý thuyết tương đối là có năng lực. Nhưng các loại tên lửa phòng không của Ấn Độ là có công nghệ của Israel.  Trong bối cảnh hiện nay, quan hệ hợp tác Việt Nam và Israel đang chậm lại, vì Israel vướng vào cuộc chiến Gaza, cuộc chiến với Iran, nguồn lực của Israel phải tập trung vào các cuộc chiến đó, khiến cho việc Việt Nam tiếp cận công nghệ của Israel cũng có vấn đề." Theo Nguyễn Thế Phương, ngoài việc mua sắm vũ khí, Việt Nam còn cần đến kinh nghiệm của Ấn Độ trong việc vận hành các loại vũ khí có công nghệ của Nga. Sau chuyến thăm của chủ tịch nước Tô Lâm, Ấn Độ cho biết sẽ tiếp tục giúp Việt Nam huấn luyện thủy thủ tàu ngầm và tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo phi công cũng như kỹ sư vận hành các loại máy bay chiến đấu đang trong biên chế của Việt Nam là Su 27 và Su 30.

Tạp chí Việt Nam
Việt Nam mua tên lửa BrahMos của Ấn Độ: Hai nước "đang tiến gần" đến thỏa thuận

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later May 25, 2026 9:47


Trong khuôn khổ chính sách "Hướng Đông" của Ấn Độ và nhằm đối phó với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở Đông Nam Á, thủ tướng Narendra Modi đã thảo luận với tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm Ấn Độ đầu tháng 5 vừa qua về việc tăng cường hợp tác quốc phòng Ấn Độ - Việt Nam, bao gồm cả việc bán tên lửa hành trình siêu âm BrahMos cho Hà Nội.  Thương vụ bán tên lửa BrahMos cho Việt Nam cũng đã là một trong những chủ đề chính trong chuyến thăm Việt Nam của bộ trưởng Quốc Phòng Rajnath Singh trong hai ngày 18 và 19/05. Theo báo chí Ấn Độ, hai nước "đang tiến gần" đến thỏa thuận trị giá 700 triệu đôla để cung cấp tên lửa BrahMos cho Việt Nam. Các cuộc đàm phán được mô tả là đang ở giai đoạn "nâng cao" và thỏa thuận có thể sẽ được ký kết trong những tháng tới. Từ nhiều năm qua, Việt Nam đã đàm phán mua tên lửa siêu thanh BrahMos của Ấn Độ, loại tên lửa mà ít nhất 15 quốc gia khác, nhất là các nước Đông Nam Á, cũng đang quan tâm. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, trong đó có vấn đề chuyển giao công nghệ, đàm phán giữa Hà Nội và New Delhi đã kéo dài. Tên lửa BrahMos ngày càng hấp dẫn với các nước Đông Nam Á là nhờ có hiệu năng vượt trội và khả năng chiến đấu đã được chứng minh. Lần ra mắt trên chiến trường của tên lửa siêu thanh này là trong “Chiến dịch Sindoor” vào tháng 5/2025, chiến dịch quân sự của Ấn Độ chống Pakistan sau một cuộc tấn công của phiến quân ở vùng Kashmir do Ấn Độ quản lý, khiến ít nhất 26 thường dân thiệt mạng. Các cuộc tấn công cho thấy khả năng của BrahMos xuyên thủng hệ thống phòng không chủ động .  Trên trang mạng của nhật báo Hồng Kông South China Morning Post ngày 10/05/2026, Gaurav Kumar, một nhà nghiên cứu tại một viện nghiên cứu quốc phòng của Ấn Độ, cho biết tên lửa BrahMos bay với tốc độ hơn Mach 3. Theo ông Kumar, vận tốc và độ cao tương đối thấp của BrahMos khiến “hệ thống phòng không của đối phương có rất ít thời gian phản ứng. Các hệ thống có thể theo dõi tên lửa này, nhưng việc đánh chặn vẫn cực kỳ khó khăn, đặc biệt là trong các cuộc tấn công hàng loạt.”  Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 14/05/2026, nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Canberra, Úc, cho biết thêm: “BrahMos là loại tên lửa đa dụng, tức là không chỉ gắn lên xe phóng ở trên bờ, ta có thể gắn tên lửa lên máy bay chiến đấu. Triển khai máy bay đó ra ngoài bờ biển cũng tạo ra một sức ép rất lớn với đối thủ tiềm tàng, hoặc là đặt trên bờ và di chuyển tên lửa đó đến những vị trí mà mình muốn, tạo ra cái mà Việt Nam gọi là "khả năng răn đe" đối với một đối thủ tiềm tàng nào đó trong trường hợp xung đột xảy ra.  Thứ hai là tính hiện đại. Tên lửa này có tốc độ rất cao, Mach 3, tức gấp ba lần vận tốc âm thanh. Công nghệ siêu thanh này Việt Nam chưa có.  Thứ ba, quan trọng nhất, là giá thành. Các loại vũ khí tương tự của Nhật hay của Châu Âu có giá tương đối cao, trong khi BrahMos có giá tương đối thấp. Đối với các nước Đông Nam Á có nguồn lực quốc phòng không đủ mạnh, không đủ nhiều, lựa chọn này là một trong những lựa chọn “affordable”, tức là có tính kinh tế nhất, cho việc phát triển và hiện đại hóa năng lực phòng thủ không chỉ của Việt Nam, mà còn của các nước như Philippines, Indonesia, Malaysia, những nước đang có tranh chấp trên biển.  Thứ tư, đây là một sản phẩm quốc phòng của Ấn Độ dựa trên công nghệ của Nga. Nếu nói về một trong những loại công nghệ phòng thủ bờ biển vừa hiệu quả mà vừa rẻ tiền, đầu tiên người ta nói tới Nga. Nhưng chiến tranh Ukraina từ 2022 tới nay khiến cho việc tiếp cận công nghệ vũ khí, khí tài của Nga trên thị trường thế giới rất khó. Sản phẩm đó của Ấn Độ ngẫu nhiên trở thành lựa chọn hấp dẫn, vì đó là công nghệ Nga nhưng được làm ở Ấn Độ và được đăng ký bản quyền ở Ấn Độ, cho nên sẽ không bị những rào cản về cấm vận, hay bị các nước phương Tây để ý, giúp cho các quốc gia Đông Nam Á tiếp cận một loại công nghệ phòng thủ tốt nhưng rẻ và không vướng vào những khúc mắc liên quan tới cuộc chiến Nga - Ukraina. Xét về mặt công nghệ tên lửa hiện nay hầu như toàn bộ các quốc gia Đông Nam Á, chứ không riêng Việt Nam, đều chưa có một loại vũ khí nào có thể đối phó hiệu quả trong một cuộc chiến với Trung Quốc, đặc biệt trong bối cảnh xung đột trên các đảo đang tranh chấp ở Biển Đông, một kịch bản giả định một cuộc xâm lược từ hướng biển. Kịch bản này là một trong những kịch bản mà Việt Nam liên tục cập nhật. Về các loại vũ khí tàu chiến, ngoài Mỹ, một số nước Châu Âu và Nhật Bản, BrahMos là một lựa chọn tương đối là phù hợp, tuy không phải là phù hợp nhất, đối với các nước Đông Nam Á trong việc cải thiện năng lực phòng thủ bờ biển.” Nếu thỏa thuận được ký kết, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia thứ ba sở hữu hệ thống tên lửa hành trình siêu thanh BrahMos, sau hợp đồng trị giá 375 triệu đô la của Philippines vào năm 2022 và thỏa thuận của Indonesia vào tháng 3/2026 để hoàn tất hợp đồng trị giá ít nhất 340 triệu đô la. Nhưng theo Nguyễn Thế Phương, có một số lý do khiến đàm phán giữa Việt Nam và Ấn Độ về mua tên lửa BrahMos kéo dài: “Thật ra hợp đồng BrahMos là hợp đồng mà Việt Nam và Ấn Độ đã đàm phán rất lâu, từ cách đây cũng khoảng 10 năm. Cho tới nay thực tế thì tỷ lệ phần trăm mà Việt Nam có thể mua BrahMos từ Ấn Độ vẫn là 50/50, chứ chưa phải là điều gì chắc chắn cả. Hai bên vẫn đang đàm phán với nhau. Có nhiều lý do khiến cho tên lửa này hấp dẫn, nhưng chưa đủ để cho đàm phán đó tiến nhanh.Thứ nhất là Việt Nam hiện đang trong quá trình xây dựng một nền công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng, tự chủ và cho tới nay đã đạt được một số thành tựu nhất định, đặc biệt là đã tự chế tạo được loại tên lửa tạm gọi là “phòng thủ bờ biển”. Cách đây hai năm, Việt Nam cũng đã cho ra mắt một số loại tên lửa nội địa. Đây cũng là một phần khiến cho sự mặn mà của Việt Nam đối với BrahMos chưa phải là cấp thiết lắm. Thứ hai là tỷ lệ nội địa hóa của Ấn Độ đối với BrahMos chưa phải là cao. BrahMos là một dự án liên doanh hợp tác chuyển giao công nghệ giữa Ấn Độ và Nga. Ở thời điểm hiện tại, theo một số nguồn tin, tỷ lệ mà Ấn Độ nội địa hóa trong tên lửa BrahMos là vào khoảng 60 tới 70% thôi, còn 30 tới 40% còn lại thì vẫn dựa vào công nghệ của Nga. Việt Nam vẫn lo ngại là trong bối cảnh chiến tranh Nga - Ukraina hiện nay, liệu thành phẩm hoàn chỉnh BrahMos có đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ, chiến thuật hay không? Hiện giờ Nga đang bị cấm vận và chính sách quốc phòng của Nga đang hướng nội, tập trung cho việc xây dựng nguồn lực cho cuộc chiến với Ukraina nhiều hơn là hợp tác với nước ngoài. Việt Nam lo ngại nếu nhập khẩu thì liệu hệ thống tên lửa đó có vận hành đúng như những gì mà Việt Nam mong muốn không? Ngoài ra còn có những điểm liên quan đến chuyển giao công nghệ nữa. Đây là một trong những điểm mà hai bên chắc đang phải tập trung đàm phán. Đối với Việt Nam hiện nay, một trong những trụ cột của chính sách phát triển quốc phòng và đặc biệt là chính sách phát triển các loại vũ khí là mong muốn được đối tác nước ngoài chuyển giao công nghệ. Việc nhập khẩu tên lửa BrahMos có một hàm ý quan trọng là liệu Ấn Độ có cho phép Việt Nam tiếp cận công nghệ động cơ đó hay không? Đây là một điểm khá là khúc mắc, bởi vì thường thì đứng về góc độ của người bán vũ khí, họ sẽ lưỡng lự và cũng rất khó khăn trong quyết định có nên chuyển giao công nghệ cho đối tác nước ngoài không.  Việt Nam hiện đang tổ chức lại lực lượng tên lửa và tăng cường hệ thống phòng không, cho nên cũng quan tâm đến các loại tên lửa khác của Ấn Độ, theo lời Nguyễn Thế Phương:  Ngoài BrahMos, có thông tin là Việt Nam cũng quan tâm đến các loại tên lửa phòng không của Ấn Độ và một số loại công nghệ tên lửa đạn đạo trong bối cảnh Việt Nam đang tái cấu trúc lại tên lửa, pháo binh thành Bộ tư lệnh Pháo binh - Tên lửa. Trong việc hiện đại hóa năng lực pháo binh cộng với các loại tên lửa đất đối đất tầm ngắn và tầm trung trong tương lai, Ấn Độ là nước có năng lực phát triển tên lửa đối đất thuộc hàng top ở châu Á. Thứ hai là về phòng không, Việt Nam cách đây khoảng một năm đã đưa ra một khái niệm “Vòm phòng không bền vững”, tương tự như "Vòm Sắt" của Israel . Nói đến vòm phòng không là nói đến các loại vũ khí liên quan tới phòng không, nhiều tầng nhiều lớp. Đây là mảng hợp tác cũng tương đối tiềm năng giữa Ấn Độ và Việt Nam. Ấn Độ đã phát triển một số loại tên lửa phòng không, mà theo quảng cáo, về mặt lý thuyết tương đối là có năng lực. Nhưng các loại tên lửa phòng không của Ấn Độ là có công nghệ của Israel.  Trong bối cảnh hiện nay, quan hệ hợp tác Việt Nam và Israel đang chậm lại, vì Israel vướng vào cuộc chiến Gaza, cuộc chiến với Iran, nguồn lực của Israel phải tập trung vào các cuộc chiến đó, khiến cho việc Việt Nam tiếp cận công nghệ của Israel cũng có vấn đề." Theo Nguyễn Thế Phương, ngoài việc mua sắm vũ khí, Việt Nam còn cần đến kinh nghiệm của Ấn Độ trong việc vận hành các loại vũ khí có công nghệ của Nga. Sau chuyến thăm của chủ tịch nước Tô Lâm, Ấn Độ cho biết sẽ tiếp tục giúp Việt Nam huấn luyện thủy thủ tàu ngầm và tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo phi công cũng như kỹ sư vận hành các loại máy bay chiến đấu đang trong biên chế của Việt Nam là Su 27 và Su 30.

TẠP CHÍ KINH TẾ
Vũ khí : Bí quyết để Hàn Quốc chinh phục thế giới

TẠP CHÍ KINH TẾ

Play Episode Listen Later May 12, 2026 11:08


Từ những năm 2010, Hàn Quốc từng bước trở thành « một nền công nghiệp quốc phòng trong khu vực Ấn Độ -Thái Bình Dương ». Các doanh nghiệp xứ Hàn đã giành được những hợp đồng lớn kể cả tại châu Âu và đang đề ra tham vọng đến năm 2030 sẽ trở thành một trong bốn nhà cung cấp vũ khí hàng đầu cho thế giới. Phân tích của chuyên gia Kévin Martin, Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược FRS Pháp. Trong giai đoạn 2010–2020, tổng kim ngạch xuất khẩu vũ khí của Hàn Quốc trung bình khoảng 2,4 tỷ đô la một năm, với đỉnh điểm là 3 tỷ rưỡi vào năm 2015. Đến năm 2021, con số này được nhân lên gấp đôi -khoảng 7 tỷ trước khi đạt thành tích thu về 10 tỷ đô la vào năm 2022. Bước sang giai đoạn 2020 - 2025, tổng giá trị xuất khẩu vũ khí của Hàn Quốc đã tăng gấp tám lần. Một thí dụ cụ thể chứng minh cho thành công và sự mở rộng thị trường vũ khí Hàn Quốc sang châu Âu : Hệ thống pháo tự hành K9, từ 2014 đến 2018 Hàn Quốc đã lần lượt chinh phục các thị trường Ba Lan, Phần Lan, Na Uy, Estonia và Roumanie. Lý do là hàng của Hàn Quốc có khả năng tương tác với các chuẩn mực của NATO. Hơn nữa 2014 là thời điểm Nga thôn tính bán đảo Crimée của Ukraina. Theo báo cáo mới nhất Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Quốc Tế Stockholm SIPRI công bố tháng 4/2026 trong số các nhà sản xuất và xuất khẩu, Hoa Kỳ vẫn dẫn đầu. Nhưng Hàn Quốc la một nguồn cung cấp lớn của thế giới, vào lúc mà « trong 11 năm liên tiếp, chi tiêu quốc phòng trên thế giới gia tăng, đạt kỷ lục gần 2.900 tỷ đô la trong năm 2025 ». Châu Á – Châu Đại Dương, năm 2025, đã mua 681 tỷ đô la vũ khí và thiết bị quân sự. Đây là mức cao nhất kể từ 2009. Một tháng trước đó, SIPRI ghi nhận xuất khẩu vũ khí toàn cầu đã tăng gần 10% trong giai đoạn 2020-2025. Các hoạt động buôn bán vũ khí trên thế giới « gần như đã quay trở lại mức trước khi kết thúc Chiến Tranh Lạnh vào năm 1989 ». Tháng 12/2025 một phái đoàn của Liên Minh Bắc Đại Tây Dương NATO sang Hàn Quốc. Trong vòng một tuần lễ, phái đoàn NATO đã tham quan hai tập đoàn công nghiệp vũ khí là Hanwha Aerospace và Hyundai Rotem. Các bên thảo luận về tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, công nghệ, cyber và trí tuệ nhân tạo. Đó là những điểm mạnh của xứ Hàn cùng với công nghệ phát triển drone. Seoul cũng đã đầu tư rất nhiều cho công nghệ không gian phục vụ các mục tiêu dân sự, quân sự và Hàn Quốc được biết đến như một « cường quốc » thế giới trong lĩnh vực công nghiệp đóng tàu. Tháng 02/2026 Hàn Quốc gửi đại diện đến Ottawa, Canada để thúc đẩy dự án hợp tác song phương cho phép tập đoàn Hanwha Ocean tham gia chương trình hiện đại hóa đội tàu ngầm của Hải quân Canada. Trong quan hệ giữa Hàn Quốc và Pháp, (Pháp là nhà cung cấp vũ khí thứ hai trên thế giới theo bảng xếp hạng của SIPRI), công du Seoul đầu tháng 4/2026, tổng thống Emmanuel Macron và đồng cấp Lee Jae Myung mong muốn « đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng ». Trong cuộc trả lời phỏng vấn dành cho RFI Việt ngữ, Kévin Martin chuyên gia công nghiệp quốc phòng, thuộc Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược - FRS lần lượt phân tích những động lực đưa nền công nghiệp quốc phòng của Hàn Quốc đang từ thế phụ thuộc vào Mỹ trở thành một trong những  nhà cung cấp vũ khí và thiết bị quân sự hàng đầu thế giới. Ông trình bày về những tham vọng của Seoul, về chiến lược của Hàn Quốc và nhất là những lá chủ bài của quốc gia Đông Bắc Á này thuần túy về mặt công nghiệp. Trên con đường chính phục thị trường thế giới, từ 2010 đến nay Hàn Quốc đã « gặp nhiều may mắn » với một bối cảnh địa chính trị càng lúc càng « nguy hiểm », nhu cầu tiêu thụ và trang bị của các đối tác từ Trung Đông đến châu Á và nhất là châu Âu tăng mạnh. *** RFI : Cảm ơn Kévin Martin tham gia chương trình hôm nay. Ông đã nghiên cứu nhiều năm về công nghiệp quốc phòng của Pháp, công bố nhiều bài tham luận về các nhà sản xuất mới trỗi dậy trong lĩnh vực rất đặc biệt này. Hàn Quốc đang đề ra tham vọng trở thành một trong bốn nhà sản xuất và xuất khẩu hàng đầu vào ngưỡng 2030. Đâu là điểm khởi đầu của Seoul trên thị trường xuất khẩu vũ khí ? Kévin Martin : « Cần nhắc lại rằng thực tế Hàn Quốc là một nền kinh tế công nghiệp khá mới trên thị trường quốc tế về vũ khí. Nếu nhìn lại một chút về nguồn gốc lịch sử, sau khi giành độc lập, Hàn Quốc hoàn toàn phụ thuộc vào Hoa Kỳ về mặt an ninh trong giai đoạn từ năm 1953 đến những năm 1960. Phải đến từ những năm 1970, Hàn Quốc mới bắt đầu phát triển một ngành công nghiệp quốc phòng mà họ chưa từng có. Do vậy, Seoul đã xây dựng tất cả gần như từ con số không, chủ yếu nhằm bảo đảm nguồn cung để tự phục vụ nhu cầu của chính mình. Chỉ đến những năm 1990, quốc gia Đông Bắc Á này mới bắt đầu có ý định “Hàn Quốc hóa” các trang bị quốc phòng. Cụ thể là triển khai các chính sách nghiên cứu và phát triển nhằm xây dựng một ngành công nghiệp trong nước có khả năng sản xuất, phát triển và thiết kế các hệ thống vũ khí. Những hệ thống này bắt đầu được phát triển với sự hỗ trợ của chính phủ từ thập niên 1990, chủ yếu là để cung cấp cho quân đội quốc gia. Đến khoảng năm 2005, Hàn Quốc mới thực sự nghĩ đến các hoạt động xuất khẩu, tức là tận dụng các lợi ích có thể thu được từ những khoản đầu tư trước đó để phát triển công nghiệp quốc gia trong lĩnh vực đặc biệt này. Trong giai đoạn 2005 -2020, chiến lược của Seoul trước hết nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh so với các đối thủ đã có vị thế vững chắc trên thị trường vũ khí quốc tế. Đồng thời phải có sự hỗ trợ của Nhà nước để giúp chinh phục các thị trường quốc tế. Chỉ từ những năm 2020, chúng ta mới thực sự thấy Hàn Quốc tham gia đầy đủ vào thị trường vũ khí quốc tế, thông qua các hợp đồng, đặc biệt là ở châu Âu, chẳng hạn như hợp đồng với Ba Lan vào năm 2022 ». RFI : Trong bối cảnh « thuận lợi » vừa nêu là châu Âu đang trang bị vũ khí vừa để độc lập hơn với Hoa Kỳ vừa để đề phòng mối đe dọa trước những tham vọng quân sự của Nga. Kévin Martin : « Hoàn toàn đúng. Thực tế, ngay từ những năm 2005, Hàn Quốc đã bắt đầu muốn xuất khẩu các trang thiết bị quốc phòng, cho dù số lượng khi đó còn khá hạn chế. Seoul đã triển khai một chiến lược nhằm thâm nhập thị trường châu Âu, nhưng ban đầu không mấy thành công. Chỉ đến khi xuất hiện một bối cảnh rất thuận lợi vào giai đoạn 2014–2015 khi Nga sáp nhập Crimée thì Hàn Quốc mới thực sự thành công trong việc xuất khẩu thiết bị quân sự. Chính vì thế từ thời điểm này, nhiều quốc gia Đông Âu phải đánh giá lại nhu cầu về năng lực quân sự, và họ đã chuyển sang lựa chọn trang bị của Hàn Quốc. Cụ thể, châu Âu mua vào pháo tự hành K-9, loại vũ khí đã giúp Hàn Quốc lần đầu tiên thâm nhập thị trường châu Âu vào năm 2014. Thực ra, cuộc chiến tại Ukraina do Nga phát động (và leo thang trở lại vào năm 2022) cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu quốc phòng của Hàn Quốc. Bởi vì Hàn Quốc đáp ứng được nhu cầu cung cấp nhanh và với một khối lượng lớn. Đó là chưa kể, thiết bị của Hàn Quốc lại có khả năng tương thích với các thiết bị mà châu Âu đang sử dụng, đồng thời phù hợp với các tiêu chuẩn vũ khí lưu hành trong khối NATO » RFI : Ba Lan là nhịp cầu đầu tiên đưa vũ khí và thiết bị quân sự Hàn Quốc sang châu Âu ? Kévin Martin : «  Vâng, hoàn toàn đúng. Năm 2022, Hàn Quốc và Ba Lan đã ký kết các thỏa thuận khung mang tính lịch sử. Chính xác hơn là hai thỏa thuận khung cho phép Vacxava mua một số lượng lớn trang thiết bị quân sự, với tổng trị giá lên tới hơn 15 tỷ đô la. Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở trị giá hợp đồng, mà chính là chiến lược của Seoul thể hiện qua hợp đồng này. Hàn Quốc không chỉ tập trung vào việc giao hàng nhanh chóng, mà còn đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Với Ba Lan chẳng hạn thì các doanh nghiệp Hàn Quốc đẩy mạnh khâu chuyển giao công nghệ ở quy mô lớn. Đây chính điểm mạnh của Hàn Quốc để giành được hợp đồng với Ba Lan. Nếu như vào năm 2022 còn có nhiều nghi vấn về khả năng của Hàn Quốc đáp ứng các điều khoản của những thỏa thuận ban đầu, chẳng hạn như giao hàng nhanh, ký kết các thỏa thuận với doanh nghiệp Ba Lan về cấp phép sản xuất, chuyển giao công nghệ, hay thành lập các liên doanh, thì trên thực tế, có thể thấy rằng Hàn Quốc đã có khả năng thực hiện được các cam kết ban đầu trong giai đoạn đầu tiên ». RFI : Lợi thế mạnh nhất của Hàn Quốc chính là các cơ sở công nghiệp vững chắc của nước này ? Kévin Martin : « Từ góc độ công nghiệp, đúng là Hàn Quốc dựa vào các chaebol – đại tập đoàn công nghiệp để sản xuất và phát triển các trang thiết bị quốc phòng. Các tập đoàn này đã mở rộng đáng kể năng lực công nghiệp nhằm đáp ứng trong một khoản thời gian ngắn nhất. Hiện nay, chaebol chủ chốt trong lĩnh vực quốc phòng tại Hàn Quốc là Hanwha, đơn vị đang dần trở thành nhà thầu chính quốc gia và là doanh nghiệp dẫn đầu trong nhiều lĩnh vực, từ phòng không đến vũ khí lục quân. Bên cạnh đó còn có LIG Nex1, cũng như các tập đoàn đóng tàu, trong đó có một xưởng đóng tàu đã được Hanwha mua lại. Như vậy, có một số ít các tập đoàn lớn đóng vai trò chủ đạo, đã phát triển các hệ thống vũ khí tương đối mới nhờ các chính sách nghiên cứu và phát triển (R&D) do Nhà nước thúc đẩy từ những năm 1990. Điều này cho phép Hàn Quốc đưa ra thị trường nhiều mặt hàng ngay từ giai đoạn đầu, khi mức độ cạnh tranh quốc tế còn tương đối thấp. Ví dụ như pháo tự hành, nhưng cũng đúng với các hệ thống phòng không tầm ngắn (…) . Nhìn chung, có thể thấy động lực phát triển hiện nay là rất thuận lợi đối với các doanh nghiệp Hàn Quốc trên thị trường vũ khí quốc tế. RFI : Xin chân thành cảm ơn chuyên gia công nghiệp quốc phòng, Kévin Martin, Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược – FRS.  

Tạp chí văn hóa
Pháp: Hà My Nguyễn và "câu chuyện của tôi" qua những tác phẩm nghệ thuật bằng gốm

Tạp chí văn hóa

Play Episode Listen Later May 8, 2026 15:12


Tại Galerie Bao, chuyên về nghệ thuật đương đại Việt Nam, ở Paris, nghệ sĩ Hà My Nguyễn vừa kết thúc triển lãm cá nhân đầu tiên của cô tại thủ đô Pháp ( 12/03 đến 02/05 ) với tiêu đề “Thịt Ươm Lá, Nhựa Tươm Mầm” ( "Chair et Feuille, Sève et Graine" ), giới thiệu những tác phẩm bằng chất liệu gốm. Trước đó, vào tháng 10/2025, tại Asia Now, triển lãm nghệ thuật đương đại châu Á ở Paris, cũng Galerie Bao đã tổ chức một triển lãm riêng cho nghệ sĩ Hà My Nguyễn với tiêu đề này. Nhờ những cuộc triển lãm đó mà tên tuổi của Hà My được biết đến nhiều hơn trong giới nghệ thuật Paris, nơi vẫn được xem là thủ đô của văn hóa thế giới, không dễ gì chen chân vào. Sinh năm 1991, Hà My Nguyễn ban đầu theo học nghề sơn mài truyền thống tại Đại học Nghệ thuật Huế, nơi cô phát triển thực hành nghệ thuật trước khi theo chồng sang định cư ở Paris vào năm 2018. Nay làm việc chủ yếu với chất liệu gốm sứ, bức vẽ và sắp đặt, thực hành nghệ thuật của Hà My hình dung ra những hình thức tồn tại trong không gian chuyển tiếp giữa con người, thực vật và trí tưởng tượng.  Trước các cuộc triển lãm do Galerie Bao tổ chức, Hà My Nguyễn cũng đã có mặt tại nhiều triển lãm khác ở Pháp, như ở Paris năm 2024, Roubaix năm 2023 và Paris năm 2022,  Nhân dịp Hà My Nguyễn tham gia một cuộc triển lãm nhóm với tiêu đề " O DES ORIGINES" tại Trung tâm Nghệ thuật đương đại Tignous, ở thị trấn Montreuil, ngoại ô Paris ( 07/05 đến 18/07/2026 ), RFI đã đến xưởng làm việc của Hà My và thực hiện cuộc phỏng vấn sau đây: RFI: Hôm nay, RFI Việt ngữ rất vui mừng được tiếp chuyện với Hà My Nguyễn tại xưởng làm việc của nghệ sĩ ở Paris. Đầu tiên, chúng ta trở ngược lại thời gian từ khi Hà My bắt đầu theo học Đại học Nghệ Thuật Huế và theo chuyên ngành về sơn mài. Động lực nào đã thúc đẩy Hà My theo môn sơn mài này? Hà My Nguyễn: Dạ, thực ra lúc đầu, trước khi em vào Đại học Nghệ thuật Huế, từ năm thứ 3, mình bắt đầu chọn các chuyên ngành mình muốn theo học. Khoa của em gọi là khoa chuyên về mỹ thuật ứng dụng. Hồi nhỏ, hay là sau này, hay ngay cả bây giờ, em luôn luôn muốn làm cái gì đó thiên về tay chân hơn, chạm tới chất liệu nhiều hơn. Hoàn toàn em đi theo một quá trình gần như gắn với lịch sử gia đình, như ông ngoại em thì làm thợ rèn, ba em thì làm thợ mộc. Rồi sau này em thích vẽ các kiểu, rồi em chọn học nghệ thuật, em vào trường và chọn sơn mài. Đơn giản như vậy. Sau khi bắt đầu năm thứ ba ở trường Đại học Nghệ thuật Huế, em có cơ hội tiếp xúc với một vài anh chị em nghệ sĩ ở Huế, từ đó em thấy đời sống của nghệ sĩ rất là thú vị, làm sáng tác rất là thú vị, thì em bắt đầu làm một vài tác phẩm nghệ thuật. Từ đó cho đến năm 2015 khi em tốt nghiệp, rồi sau đó đến 2017, em vẫn chưa làm được nhiều, nhưng đã có triển lãm một vài nơi ở Huế, Hà Nội, ở một số nước Đông Nam Á như Thái Lan hoặc Indonesia. Bắt đầu từ năm 2017 thì em tự định hình cho mình đây là một con đường mình phải đi, đó là sáng tác, theo đuổi con đường làm nghệ thuật và mình sẽ làm nghệ sĩ. RFI: Con đường đó là nghệ thuật đương đại. Nhưng vì sao từ khởi đầu là sơn mài, bây giờ chúng tôi thấy Hà My chuyển hẳn sang chất liệu gớm. Vì sao có sự thay đổi này? Hà My Nguyễn: Đối với em chất liệu thực ra chỉ là một phương tiện để diễn giải nghệ thuật của mình. Lần đầu tiên em tiếp xúc với gốm là vào năm 2017, trong một chương trình nhiệm trú sáng tác nghệ thuật tại Heritage Space ở Hà Nội, em làm một loạt tác phẩm bằng gốm. Từ sau chương trình đó, em thấy chất liệu gốm rất là thú vị, có nhiều thách thức đối với em và em muốn khám phá chất liệu này nhiều hơn. Em thích chất liệu này vì nó có thể diễn tả về mặt cảm xúc nhiều hơn, trong quá trình làm việc.  RFI: Sử dụng chất liệu gốm sứ, như Hà My nói, là một thách đố đối với một người nghệ sĩ. Thứ nhất, gốm thì cần phải nung cho vừa đúng độ chín, theo đúng ý mình muốn. Thứ hai là tìm đúng chất liệu sao cho phù hợp với ý đồ nghệ thuật của mình. Vậy thì ở bên Pháp này Hà My tìm như thế nào  và sử dụng các chất liệu như thế nào? Hà My Nguyễn: Thưa anh, thực ra làm gốm thì em toàn tự học hết. Em không đi học một trường nào cả. May mắn là ở đây mình ra cửa hàng mua chất liệu thì thông tin rất là đầy đủ. Ví dụ các thông tin về loại đất nào, loại men nào, nung ở nhiệt độ nào, có ghi hết trên tất cả các chất liệu. Việc của mình là mua về, mình sẽ thử nghiệm nung đúng ở nhiệt độ đó, mình sẽ thử nghiệm để cho ra cái màu nào. Mình phải thử nghiệm một vài lần, nhiều lần, có nhiều sai sót thì mới ra được một sản phẩm cuối cùng tốt đẹp. Bằng việc kết hợp xem thông tin ở các cửa hàng, học trên các nền tảng xã hội như YouTube, rồi em follow nhiều người làm gốm, rồi bằng sách vở, em tự mày mò làm thôi ạ. RFI: Chắc là công việc này rất là căng thẳng? Tại vì làm một tác phẩm xong chúng ta nung nó lên thì không biết khi nào là vừa đúng, có thể là mình lấy ra sớm quá, hoặc là lấy ra trễ quá. Tâm trạng của Hà My lúc đó như thế nào? Hà My Nguyễn: Dạ thật ra làm gốm do em tự học nên một lần mình làm là rất thách thức, vì mình sẽ không thấy kết quả ngay lập tức trong quá trình làm việc. Không giống như vẽ một bức tranh, mình cho màu nào lên một bức tranh là mình thấy ngay kết quả, hoặc là gần như mình mường tượng ra được. Nhưng gốm thì khác, gốm thì bắt buộc mình phải trải qua rất nhiều quá trình làm việc, để mình chắc chắn ở nhiệt độ đó, ở cái form ( hình dạng ) đó và ở độ dày đó là sẽ ra màu như vậy, cùng độ men như vậy. Em có rất nhiều cảm xúc khác nhau, lẫn lộn, mỗi khi em nung lò thì rất là hồi hộp, sợ, rồi rất là stress, vì nhiều khi mình bê một  tác phẩm gốm chưa nung thì rất là dễ vỡ. Khi nung xong rồi mà lỡ nó bị nứt một cái thì không biết phải dán nó như thế nào! Nhiều khi để có một cái tác phẩm hoàn thành thì đã có nhiều, nhiều, nhiều lần stress và nhiều lần đau khổ! RFI: Những tác phẩm gốm của Hà My đã được triển lãm tại Galerie Bao. Chúng tôi thấy là các tác phẩm của Hà My thì có rất nhiều sự kết hợp giữa cơ thể con người với những thực vật, cây, cỏ, hoa, lá. Vì sao có sự kết hợp giữa hai yếu tố đó? Hà My Nguyễn: Dạ thực ra cái series mà em làm hoặc chủ đề mà em làm xuyên suốt từ vài năm nay bắt nguồn từ việc em sinh sống và làm việc ở Pháp, có con. Vào thời điểm em bắt đầu có con thì em cảm giác trong cơ thể mình có nhiều sự thay đổi về mặt tâm lý, về mặt sinh lý và bối cảnh lúc đấy mình là người nước ngoài sinh sống ở Pháp. Lúc nào em cũng có cảm giác giống như một người lạ. Em chỉ kết hợp tất cả mọi thứ diễn ra xung quanh đời sống hiện tại của em thôi, đưa vào điêu khắc hoặc bức vẽ của em. Em muốn những bức tượng của em sẽ có những form hơi mang tính trừu tượng một tí. Có thể mọi người sẽ thấy đó như một phần cơ thể người và nó sẽ mọc ra một vài chi tiết gần gũi với những chi tiết ở trong thiên nhiên như cây, cỏ, lá. Giữa thực vật và con người có những chi tiết rất là gần giống nhau. Thì em thích ở điểm đó. Nhưng những tác phẩm em làm ra thì em định hướng nó giống như một cái vật thể lai. Em không định hình nó giống như một con người, em không copy lại thiên nhiên, em không copy một cái hoa, một cái lá rõ ràng, nó luôn là một mix giữa hai cái đó. Tất cả mọi thứ em làm từ cách đây tầm 5 năm, từ thời em mang thai, sinh con, tất cả các form luôn gần như đầy đặn và thường sẽ có một vết cắt rất là nữ tính, nhưng mà vết cắt đó xuất phát từ bên trong và từ cái vết cắt đó nó sẽ luôn hiện hữu và sẽ xuất hiện ra vài thứ khác như hạt, lá hoặc những gai nhọn. RFI: Từ Việt Nam sang định cư ở Pháp từ năm 2018. Như vậy thì thời gian đầu, ngoài việc phải thích ứng với đời sống bên Pháp, Hà My có những "va chạm" như thế nào đến với nền văn hóa của Pháp, với các ngành nghệ thuật của Pháp? Hà My Nguyễn: Đối với em thì tất nhiên có một cái sốc văn hóa. Trong giai đoạn từ thời điểm năm 2018 cho đến cuối 2019 khi có dịch Covid, em phải đối mặt với rất nhiều thứ. Thứ nhất là về ngôn ngữ, về văn hóa và về việc làm mẹ. Đó là em chưa nói tới việc mình sẽ phải quay lại làm nghệ thuật như thế nào. Vì em nghĩ thách thức là rất lớn đối với một người nghệ sĩ nữ muốn làm mẹ, họ cần phải có những sự cố gắng khác, gấp đôi hơn, mà nhiều khi không phải ai cũng nhìn thấy. Nhưng em nghĩ bây giờ thì giai đoạn đó trải qua rồi, em đã thích nghi được với đời sống ở Pháp hơn. Mà em đang ở Paris, nghệ thuật ở đây thì em có thể nói gần như ở trung tâm của thế giới. Mình có cơ hội được nhìn thấy tất cả mọi thứ nghệ thuật đẹp đẻ nhất, hay ho nhất. Đó là một cơ hội rất to lớn đối với mình. Mình nhìn xung quanh, mình tự nhìn lại mình và mình tự tìm cách để phát triển. Em nghĩ có cơ hội nhiều hơn là thách thức. RFI: Như Hà My nói, Paris đúng là thủ đô của nghệ thuật thế giới, quy tụ rất nhiều tài năng không chỉ của Pháp mà của thế giới, chen chân vào đây không phải đơn giản. Vừa rồi Galerie Bao, một gallery chuyên về giới thiệu nghệ thuật đương đại châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng, đã dành một không gian cho Hà My thực hiện một cuộc triển lãm cá nhân. Đó là cơ may thật sự đối với Hà My? Hà My Nguyễn: Đúng là em rất là may mắn được gặp ( Lê Thiên ) Bảo, người sáng lập Galerie Bao và làm việc với cô ấy. Làm nghệ sĩ ở Paris và kiếm cho mình được một gallery tốt để đại diện cho mình, làm triển lãm cho mình thực ra không dễ dàng và thực ra không phải nghệ sĩ nào cũng có gallery đại diện. Cũng may mắn là em biết Bảo trước đó ở Việt Nam. Bây giờ Bảo ở Paris và sinh sống, làm việc ở Pháp. Lúc đầu em kết nối lại với cô ấy, biết con đường định hướng của ấy là về nghệ thuật, thì em rất vui vì được làm việc và kết hợp với Bảo, bây giờ giống như một người bạn, có thể trò chuyện và tư vấn cho nhau về mặt nghệ thuật và hỗ trợ nhau trong về mọi mặt, có thể là đời sống hoặc nghệ thuật. Em rất là biết ơn Bảo và Galerie Bao là người đại diện cho em và giúp đỡ em, để em tiếp tục công việc làm nghệ sĩ và đưa tác phẩm của em ra công chúng, cho mọi người thấy nhiều hơn. Trước khi Galerie Bao xuất hiện thì em cũng có làm một vài triển lãm ở Pháp, nhưng chỉ  là triển lãm nhóm. Bước vào thị trường nghệ thuật ở Pháp thì rất nhiêu khê, không dễ dàng, tại vì không ai biết đến mình. Em nghĩ kết hợp với Galerie Bao, một gallery hỗ trợ rất nhiều cho nghệ sĩ Việt Nam, thì mình sẽ đi về một nơi gần giống như về nguồn, nơi mình thuộc về, kết hợp với nhau thì mình sẽ mạnh hơn. Kết quả thì em cũng thấy là sau khi làm việc với Bảo ở triển lãm Asian Now và sau một triển lãm cá nhân ở gallery của cô ấy, thì có những feedback ( phản hồi ) rất tốt và mọi người đã chú ý nhiều hơn và biết đến em nhiều hơn. Ngay cả những bạn bè ở Pháp trước đây không biết em làm nghệ thuật như thế nào  thì họ bắt đầu để ý đến tác phẩm của em và họ theo dõi nhiều hơn. RFI: Sống ở Paris, thủ đô nghệ thuật thế giới, có những tác động nào đối với con đường nghệ thuật của Hà Mỹ hay không? Bởi vì có thể có những sự giao thoa, những sự tìm hiểu về văn hóa ở Paris? Hà My Nguyễn: Dạ, tất nhiên là có, vì ở Paris, trung tâm nghệ thuật của thế giới, gần như cuối tuần nào em cũng phải đi xem một vài triển lãm. Rồi tuần nào cũng có một opening ( khai mạc một sự kiện văn hóa) và rất nhiều bảo tàng. Ngay cả về nghệ thuật thị giác nói riêng, nghệ thuật đương đại nói chung, ngay cả về âm nhạc hay về phim ảnh, tất cả giống như một nguồn sống rất dồi dào. Nhiều khi mình phải lựa chọn cân bằng giữa việc học hỏi, đi xem và làm việc, để không bị "bội thực". Mình xem người ta, rồi mình xem lại mình đang làm gì, để mình cố gắng hơn. Nhưng cái em thấy quan trọng nhất ở trong thực hành nghệ thuật của em, đó là khi tiếp xúc với rất nhiều nghệ thuật châu Âu hay phương Tây, thì mình thấy nên tập trung vào nghệ thuật gọi là "bản địa" của mình, về nguồn gốc của mình, mình đến từ đâu, mình là con người Việt Nam thì mình sẽ tập trung vào những cái làm nên con người mình. Cái mà em thấy "đắt giá" trong việc thực hành nghệ thuật, đó là độc bản, là unique, thì em sẽ không phải chạy theo xu hướng, thị hiếu nghệ thuật nói chung, nhưng mà em chỉ nhìn để em biết và để em tìm lại những cái thứ mình có, những câu chuyện riêng của mình, khai thác những câu chuyện riêng của mình và đưa ra giới thiệu cho công chúng biết đây là nghệ thuật của tôi và câu chuyện của tôi. Nhưng về mặt thị giác, hay các mặt khác, mình sẽ phải học hỏi về technique ( kỹ thuật ) hay trình bày, làm một chương trình, làm một triển lãm, thì tất nhiên mình sẽ phải học hỏi rất nhiều trong thế giới nghệ thuật hiện tại ở đây. Tại vì nghệ thuật của họ hay những gallery, những trung tâm nghệ thuật đã làm việc lâu đời và họ có nhiều thứ đáng để mình học hỏi.

TẠP CHÍ VĂN HÓA
Pháp: Hà My Nguyễn và "câu chuyện của tôi" qua những tác phẩm nghệ thuật bằng gốm

TẠP CHÍ VĂN HÓA

Play Episode Listen Later May 8, 2026 15:12


Tại Galerie Bao, chuyên về nghệ thuật đương đại Việt Nam, ở Paris, nghệ sĩ Hà My Nguyễn vừa kết thúc triển lãm cá nhân đầu tiên của cô tại thủ đô Pháp ( 12/03 đến 02/05 ) với tiêu đề “Thịt Ươm Lá, Nhựa Tươm Mầm” ( "Chair et Feuille, Sève et Graine" ), giới thiệu những tác phẩm bằng chất liệu gốm. Trước đó, vào tháng 10/2025, tại Asia Now, triển lãm nghệ thuật đương đại châu Á ở Paris, cũng Galerie Bao đã tổ chức một triển lãm riêng cho nghệ sĩ Hà My Nguyễn với tiêu đề này. Nhờ những cuộc triển lãm đó mà tên tuổi của Hà My được biết đến nhiều hơn trong giới nghệ thuật Paris, nơi vẫn được xem là thủ đô của văn hóa thế giới, không dễ gì chen chân vào. Sinh năm 1991, Hà My Nguyễn ban đầu theo học nghề sơn mài truyền thống tại Đại học Nghệ thuật Huế, nơi cô phát triển thực hành nghệ thuật trước khi theo chồng sang định cư ở Paris vào năm 2018. Nay làm việc chủ yếu với chất liệu gốm sứ, bức vẽ và sắp đặt, thực hành nghệ thuật của Hà My hình dung ra những hình thức tồn tại trong không gian chuyển tiếp giữa con người, thực vật và trí tưởng tượng.  Trước các cuộc triển lãm do Galerie Bao tổ chức, Hà My Nguyễn cũng đã có mặt tại nhiều triển lãm khác ở Pháp, như ở Paris năm 2024, Roubaix năm 2023 và Paris năm 2022,  Nhân dịp Hà My Nguyễn tham gia một cuộc triển lãm nhóm với tiêu đề " O DES ORIGINES" tại Trung tâm Nghệ thuật đương đại Tignous, ở thị trấn Montreuil, ngoại ô Paris ( 07/05 đến 18/07/2026 ), RFI đã đến xưởng làm việc của Hà My và thực hiện cuộc phỏng vấn sau đây: RFI: Hôm nay, RFI Việt ngữ rất vui mừng được tiếp chuyện với Hà My Nguyễn tại xưởng làm việc của nghệ sĩ ở Paris. Đầu tiên, chúng ta trở ngược lại thời gian từ khi Hà My bắt đầu theo học Đại học Nghệ Thuật Huế và theo chuyên ngành về sơn mài. Động lực nào đã thúc đẩy Hà My theo môn sơn mài này? Hà My Nguyễn: Dạ, thực ra lúc đầu, trước khi em vào Đại học Nghệ thuật Huế, từ năm thứ 3, mình bắt đầu chọn các chuyên ngành mình muốn theo học. Khoa của em gọi là khoa chuyên về mỹ thuật ứng dụng. Hồi nhỏ, hay là sau này, hay ngay cả bây giờ, em luôn luôn muốn làm cái gì đó thiên về tay chân hơn, chạm tới chất liệu nhiều hơn. Hoàn toàn em đi theo một quá trình gần như gắn với lịch sử gia đình, như ông ngoại em thì làm thợ rèn, ba em thì làm thợ mộc. Rồi sau này em thích vẽ các kiểu, rồi em chọn học nghệ thuật, em vào trường và chọn sơn mài. Đơn giản như vậy. Sau khi bắt đầu năm thứ ba ở trường Đại học Nghệ thuật Huế, em có cơ hội tiếp xúc với một vài anh chị em nghệ sĩ ở Huế, từ đó em thấy đời sống của nghệ sĩ rất là thú vị, làm sáng tác rất là thú vị, thì em bắt đầu làm một vài tác phẩm nghệ thuật. Từ đó cho đến năm 2015 khi em tốt nghiệp, rồi sau đó đến 2017, em vẫn chưa làm được nhiều, nhưng đã có triển lãm một vài nơi ở Huế, Hà Nội, ở một số nước Đông Nam Á như Thái Lan hoặc Indonesia. Bắt đầu từ năm 2017 thì em tự định hình cho mình đây là một con đường mình phải đi, đó là sáng tác, theo đuổi con đường làm nghệ thuật và mình sẽ làm nghệ sĩ. RFI: Con đường đó là nghệ thuật đương đại. Nhưng vì sao từ khởi đầu là sơn mài, bây giờ chúng tôi thấy Hà My chuyển hẳn sang chất liệu gớm. Vì sao có sự thay đổi này? Hà My Nguyễn: Đối với em chất liệu thực ra chỉ là một phương tiện để diễn giải nghệ thuật của mình. Lần đầu tiên em tiếp xúc với gốm là vào năm 2017, trong một chương trình nhiệm trú sáng tác nghệ thuật tại Heritage Space ở Hà Nội, em làm một loạt tác phẩm bằng gốm. Từ sau chương trình đó, em thấy chất liệu gốm rất là thú vị, có nhiều thách thức đối với em và em muốn khám phá chất liệu này nhiều hơn. Em thích chất liệu này vì nó có thể diễn tả về mặt cảm xúc nhiều hơn, trong quá trình làm việc.  RFI: Sử dụng chất liệu gốm sứ, như Hà My nói, là một thách đố đối với một người nghệ sĩ. Thứ nhất, gốm thì cần phải nung cho vừa đúng độ chín, theo đúng ý mình muốn. Thứ hai là tìm đúng chất liệu sao cho phù hợp với ý đồ nghệ thuật của mình. Vậy thì ở bên Pháp này Hà My tìm như thế nào  và sử dụng các chất liệu như thế nào? Hà My Nguyễn: Thưa anh, thực ra làm gốm thì em toàn tự học hết. Em không đi học một trường nào cả. May mắn là ở đây mình ra cửa hàng mua chất liệu thì thông tin rất là đầy đủ. Ví dụ các thông tin về loại đất nào, loại men nào, nung ở nhiệt độ nào, có ghi hết trên tất cả các chất liệu. Việc của mình là mua về, mình sẽ thử nghiệm nung đúng ở nhiệt độ đó, mình sẽ thử nghiệm để cho ra cái màu nào. Mình phải thử nghiệm một vài lần, nhiều lần, có nhiều sai sót thì mới ra được một sản phẩm cuối cùng tốt đẹp. Bằng việc kết hợp xem thông tin ở các cửa hàng, học trên các nền tảng xã hội như YouTube, rồi em follow nhiều người làm gốm, rồi bằng sách vở, em tự mày mò làm thôi ạ. RFI: Chắc là công việc này rất là căng thẳng? Tại vì làm một tác phẩm xong chúng ta nung nó lên thì không biết khi nào là vừa đúng, có thể là mình lấy ra sớm quá, hoặc là lấy ra trễ quá. Tâm trạng của Hà My lúc đó như thế nào? Hà My Nguyễn: Dạ thật ra làm gốm do em tự học nên một lần mình làm là rất thách thức, vì mình sẽ không thấy kết quả ngay lập tức trong quá trình làm việc. Không giống như vẽ một bức tranh, mình cho màu nào lên một bức tranh là mình thấy ngay kết quả, hoặc là gần như mình mường tượng ra được. Nhưng gốm thì khác, gốm thì bắt buộc mình phải trải qua rất nhiều quá trình làm việc, để mình chắc chắn ở nhiệt độ đó, ở cái form ( hình dạng ) đó và ở độ dày đó là sẽ ra màu như vậy, cùng độ men như vậy. Em có rất nhiều cảm xúc khác nhau, lẫn lộn, mỗi khi em nung lò thì rất là hồi hộp, sợ, rồi rất là stress, vì nhiều khi mình bê một  tác phẩm gốm chưa nung thì rất là dễ vỡ. Khi nung xong rồi mà lỡ nó bị nứt một cái thì không biết phải dán nó như thế nào! Nhiều khi để có một cái tác phẩm hoàn thành thì đã có nhiều, nhiều, nhiều lần stress và nhiều lần đau khổ! RFI: Những tác phẩm gốm của Hà My đã được triển lãm tại Galerie Bao. Chúng tôi thấy là các tác phẩm của Hà My thì có rất nhiều sự kết hợp giữa cơ thể con người với những thực vật, cây, cỏ, hoa, lá. Vì sao có sự kết hợp giữa hai yếu tố đó? Hà My Nguyễn: Dạ thực ra cái series mà em làm hoặc chủ đề mà em làm xuyên suốt từ vài năm nay bắt nguồn từ việc em sinh sống và làm việc ở Pháp, có con. Vào thời điểm em bắt đầu có con thì em cảm giác trong cơ thể mình có nhiều sự thay đổi về mặt tâm lý, về mặt sinh lý và bối cảnh lúc đấy mình là người nước ngoài sinh sống ở Pháp. Lúc nào em cũng có cảm giác giống như một người lạ. Em chỉ kết hợp tất cả mọi thứ diễn ra xung quanh đời sống hiện tại của em thôi, đưa vào điêu khắc hoặc bức vẽ của em. Em muốn những bức tượng của em sẽ có những form hơi mang tính trừu tượng một tí. Có thể mọi người sẽ thấy đó như một phần cơ thể người và nó sẽ mọc ra một vài chi tiết gần gũi với những chi tiết ở trong thiên nhiên như cây, cỏ, lá. Giữa thực vật và con người có những chi tiết rất là gần giống nhau. Thì em thích ở điểm đó. Nhưng những tác phẩm em làm ra thì em định hướng nó giống như một cái vật thể lai. Em không định hình nó giống như một con người, em không copy lại thiên nhiên, em không copy một cái hoa, một cái lá rõ ràng, nó luôn là một mix giữa hai cái đó. Tất cả mọi thứ em làm từ cách đây tầm 5 năm, từ thời em mang thai, sinh con, tất cả các form luôn gần như đầy đặn và thường sẽ có một vết cắt rất là nữ tính, nhưng mà vết cắt đó xuất phát từ bên trong và từ cái vết cắt đó nó sẽ luôn hiện hữu và sẽ xuất hiện ra vài thứ khác như hạt, lá hoặc những gai nhọn. RFI: Từ Việt Nam sang định cư ở Pháp từ năm 2018. Như vậy thì thời gian đầu, ngoài việc phải thích ứng với đời sống bên Pháp, Hà My có những "va chạm" như thế nào đến với nền văn hóa của Pháp, với các ngành nghệ thuật của Pháp? Hà My Nguyễn: Đối với em thì tất nhiên có một cái sốc văn hóa. Trong giai đoạn từ thời điểm năm 2018 cho đến cuối 2019 khi có dịch Covid, em phải đối mặt với rất nhiều thứ. Thứ nhất là về ngôn ngữ, về văn hóa và về việc làm mẹ. Đó là em chưa nói tới việc mình sẽ phải quay lại làm nghệ thuật như thế nào. Vì em nghĩ thách thức là rất lớn đối với một người nghệ sĩ nữ muốn làm mẹ, họ cần phải có những sự cố gắng khác, gấp đôi hơn, mà nhiều khi không phải ai cũng nhìn thấy. Nhưng em nghĩ bây giờ thì giai đoạn đó trải qua rồi, em đã thích nghi được với đời sống ở Pháp hơn. Mà em đang ở Paris, nghệ thuật ở đây thì em có thể nói gần như ở trung tâm của thế giới. Mình có cơ hội được nhìn thấy tất cả mọi thứ nghệ thuật đẹp đẻ nhất, hay ho nhất. Đó là một cơ hội rất to lớn đối với mình. Mình nhìn xung quanh, mình tự nhìn lại mình và mình tự tìm cách để phát triển. Em nghĩ có cơ hội nhiều hơn là thách thức. RFI: Như Hà My nói, Paris đúng là thủ đô của nghệ thuật thế giới, quy tụ rất nhiều tài năng không chỉ của Pháp mà của thế giới, chen chân vào đây không phải đơn giản. Vừa rồi Galerie Bao, một gallery chuyên về giới thiệu nghệ thuật đương đại châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng, đã dành một không gian cho Hà My thực hiện một cuộc triển lãm cá nhân. Đó là cơ may thật sự đối với Hà My? Hà My Nguyễn: Đúng là em rất là may mắn được gặp ( Lê Thiên ) Bảo, người sáng lập Galerie Bao và làm việc với cô ấy. Làm nghệ sĩ ở Paris và kiếm cho mình được một gallery tốt để đại diện cho mình, làm triển lãm cho mình thực ra không dễ dàng và thực ra không phải nghệ sĩ nào cũng có gallery đại diện. Cũng may mắn là em biết Bảo trước đó ở Việt Nam. Bây giờ Bảo ở Paris và sinh sống, làm việc ở Pháp. Lúc đầu em kết nối lại với cô ấy, biết con đường định hướng của ấy là về nghệ thuật, thì em rất vui vì được làm việc và kết hợp với Bảo, bây giờ giống như một người bạn, có thể trò chuyện và tư vấn cho nhau về mặt nghệ thuật và hỗ trợ nhau trong về mọi mặt, có thể là đời sống hoặc nghệ thuật. Em rất là biết ơn Bảo và Galerie Bao là người đại diện cho em và giúp đỡ em, để em tiếp tục công việc làm nghệ sĩ và đưa tác phẩm của em ra công chúng, cho mọi người thấy nhiều hơn. Trước khi Galerie Bao xuất hiện thì em cũng có làm một vài triển lãm ở Pháp, nhưng chỉ  là triển lãm nhóm. Bước vào thị trường nghệ thuật ở Pháp thì rất nhiêu khê, không dễ dàng, tại vì không ai biết đến mình. Em nghĩ kết hợp với Galerie Bao, một gallery hỗ trợ rất nhiều cho nghệ sĩ Việt Nam, thì mình sẽ đi về một nơi gần giống như về nguồn, nơi mình thuộc về, kết hợp với nhau thì mình sẽ mạnh hơn. Kết quả thì em cũng thấy là sau khi làm việc với Bảo ở triển lãm Asian Now và sau một triển lãm cá nhân ở gallery của cô ấy, thì có những feedback ( phản hồi ) rất tốt và mọi người đã chú ý nhiều hơn và biết đến em nhiều hơn. Ngay cả những bạn bè ở Pháp trước đây không biết em làm nghệ thuật như thế nào  thì họ bắt đầu để ý đến tác phẩm của em và họ theo dõi nhiều hơn. RFI: Sống ở Paris, thủ đô nghệ thuật thế giới, có những tác động nào đối với con đường nghệ thuật của Hà Mỹ hay không? Bởi vì có thể có những sự giao thoa, những sự tìm hiểu về văn hóa ở Paris? Hà My Nguyễn: Dạ, tất nhiên là có, vì ở Paris, trung tâm nghệ thuật của thế giới, gần như cuối tuần nào em cũng phải đi xem một vài triển lãm. Rồi tuần nào cũng có một opening ( khai mạc một sự kiện văn hóa) và rất nhiều bảo tàng. Ngay cả về nghệ thuật thị giác nói riêng, nghệ thuật đương đại nói chung, ngay cả về âm nhạc hay về phim ảnh, tất cả giống như một nguồn sống rất dồi dào. Nhiều khi mình phải lựa chọn cân bằng giữa việc học hỏi, đi xem và làm việc, để không bị "bội thực". Mình xem người ta, rồi mình xem lại mình đang làm gì, để mình cố gắng hơn. Nhưng cái em thấy quan trọng nhất ở trong thực hành nghệ thuật của em, đó là khi tiếp xúc với rất nhiều nghệ thuật châu Âu hay phương Tây, thì mình thấy nên tập trung vào nghệ thuật gọi là "bản địa" của mình, về nguồn gốc của mình, mình đến từ đâu, mình là con người Việt Nam thì mình sẽ tập trung vào những cái làm nên con người mình. Cái mà em thấy "đắt giá" trong việc thực hành nghệ thuật, đó là độc bản, là unique, thì em sẽ không phải chạy theo xu hướng, thị hiếu nghệ thuật nói chung, nhưng mà em chỉ nhìn để em biết và để em tìm lại những cái thứ mình có, những câu chuyện riêng của mình, khai thác những câu chuyện riêng của mình và đưa ra giới thiệu cho công chúng biết đây là nghệ thuật của tôi và câu chuyện của tôi. Nhưng về mặt thị giác, hay các mặt khác, mình sẽ phải học hỏi về technique ( kỹ thuật ) hay trình bày, làm một chương trình, làm một triển lãm, thì tất nhiên mình sẽ phải học hỏi rất nhiều trong thế giới nghệ thuật hiện tại ở đây. Tại vì nghệ thuật của họ hay những gallery, những trung tâm nghệ thuật đã làm việc lâu đời và họ có nhiều thứ đáng để mình học hỏi.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Mời giáo hoàng Lêô XIV thăm Việt Nam: Một tín hiệu đáng chú ý trong quan hệ Hà Nội - Vatican

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Apr 27, 2026 9:05


Ngày 11/04/2026, nhân chuyến thăm chính thức Tòa Thánh, chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn đã chuyển bức thư của tổng bí thư kiêm chủ tịch nước Tô Lâm gởi giáo hoàng Lêô XIV mời ngài đến thăm chính thức Việt Nam “trong thời gian tới”. Theo báo chí Việt Nam, giáo hoàng đã cám ơn lời mời của ông Tô Lâm và bày tỏ mong muốn đến thăm Việt Nam. Phát biểu với chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn, giáo hoàng Lêô XIV còn cho biết « hai năm trước ngay ở khu vườn này có đặt bức tượng Đức Mẹ La Vang mặc áo dài, mỗi khi nhìn thấy là luôn nhớ tới Việt Nam. » Giáo hoàng sẽ thăm Việt Nam năm 2027? Hiện thời điểm của chuyến tông du chưa được xác định, nhưng theo hãng tin Asianews, quốc vụ khanh Tòa Thánh, hồng y Pietro Parolin dự kiến ​​sẽ sớm đến thăm Việt Nam để thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa Hà Nội với Tòa Thánh. Chuyến thăm của giáo hoàng Lêô XIV như vậy có thể sẽ diễn ra vào năm 2027, khi ngài dự kiến sẽ công du châu Á vào tháng 8 để dự Ngày Giới trẻ Thế giới tại Seoul.  Thông tin về lời mời giáo hoàng Lêô XIV thăm Việt Nam đã nhanh chóng lan truyền trong cộng đồng Công Giáo, từ rất nhiều năm qua vẫn mong chờ một vị chủ chăn của Giáo hội Công Giáo Hoàn vũ đặt chân đến Việt Nam, nhất là sau khi mọi người đã rất thất vọng không được đón tiếp giáo hoàng Phanxicô trước khi ngài qua đời vào tháng 4 năm ngoái.  Trước đây, cố giáo hoàng Gioan Phaolô II đã từng bày tỏ mong muốn đến thăm Hà Nội, nhưng vào thời ấy, còn quá sớm để thực hiện chuyến thăm này. Sau đó, Hà Nội đã có lời mời thăm chính thức Việt Nam gởi tới giáo hoàng Phanxicô vào tháng 12/2023, vài tháng sau khi hai bên ký kết thỏa thuận mở đường cho sự hiện diện của một đại diện thường trực của Tòa Thánh tại Việt Nam. Bản thân giáo hoàng Phanxicô vào tháng 09/2023 cũng đã từng nói rõ về khả năng đến thăm Hà Nội, khi ngài trở về từ Mông Cổ. Mọi việc tưởng là sẽ diễn ra suôn sẻ: Vào tháng 4/2024, đã có chuyến thăm lịch sử của ngoại trưởng Tòa Thánh tổng giám mục Phaolô Gallagher tới Việt Nam. Cũng trong năm 2024, quốc vụ khanh Tòa Thánh, hồng y Pietro Parolin, dự kiến ​​sẽ đến thăm Việt Nam nhằm chính thức chuyển đổi sang quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa Hà Nội và Tòa Thánh, rào cản chính thức cuối cùng vẫn còn cản trở một chuyến thăm của giáo hoàng. Nhưng do bất ổn nội bộ lãnh đạo ở Hà Nội, chuyến thăm của giáo hoàng Phanxicô đã không thể diễn ra. Tuy nhiên, một phái đoàn của chính phủ Việt Nam sau đó đã tham dự cả lễ tang của giáo hoàng Phanxicô và lễ đăng quang của giáo hoàng Lêô XIV.  Với lời mời chính thức của ông Tô Lâm, trong bối cảnh mà nội bộ ban lãnh đạo Việt Nam nay đã ổn định, viễn cảnh một chuyến thăm của giáo hoàng đến Việt Nam đang đến gần hơn bao giờ hết, không còn là câu hỏi “liệu ​​có hay không”, mà ngày càng là câu hỏi “khi nào” và “như thế nào”.  Trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại từ Sài Gòn, linh mục Phêrô Vũ Minh Hưng, cha chánh xứ Giáo xứ Vườn Xoài, thuộc tổng giáo phận Sài Gòn, cho biết:  “Tin này đã được thông báo rộng rãi trên các cái trang web của giáo phận rồi. Đó là niềm mong đợi của giáo dân và tất cả thành phần của Giáo hội Công Giáo Việt Nam. Đây là điều rất đặc biệt, vì giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị đã ưu ái Việt Nam và bây giờ thì đức Lêô cũng quan tâm đến vấn đề đó. Ngài chứng tỏ rất yêu mến Giáo hội Việt Nam và giáo dân Việt Nam cũng rất yêu mến ngài, cho nên họ cũng rất mong ước sự hiện diện của đức thánh cha sẽ đem lại đức tin mạnh mẽ cho người Công Giáo và rất mong đợi ngày đó. Đức thánh cha đến thăm Việt Nam thì người Công Giáo Việt Nam chắc chắn sẽ kéo nhau đến gặp đức thánh cha. Nếu đức giáo hoàng về đây thì có thể trên 100 ngàn người Công Giáo khắp nơi sẽ đến chào đức thánh cha. Giáo hội có thể cũng đã chuẩn bị từ là nhiều năm rồi. Nếu đức thánh cha đồng ý với lời mời của chủ tịch nước thì có lẽ Giáo hội Việt Nam, Hội đồng Giám mục Việt Nam sẽ định hướng ra một cách đón tiếp đặc biệt. Sự hiện diện của đức thánh cha cần một nơi rộng rãi, chứa được số lớn. Còn về an ninh thì chắc Việt Nam cũng không đến nỗi nào đâu. Trước đây chính quyền cũng nghi ngại, nghi kỵ tôn giáo lắm, cho nên chưa hiểu được đường lối ngoại giao cần thiết của Việt Nam đối với Tòa Thánh thì sẽ nâng lên một tầm mới. Nhưng bây giờ có lẽ họ có một sự hiểu biết nhiều hơn về đức thánh cha và Vatican.” UCANEWS: "Một tín hiệu đáng chú ý" Theo nhận định của hãng tin Công giáo UCANEWS ngày 13/04/2026, “đối với nhiều người Công Giáo Việt Nam, lời mời này không chỉ là một cử chỉ ngoại giao, mà còn là một tín hiệu đáng chú ý sau nhiều năm phát triển quan hệ chậm rãi, từng bước. Lời mời này là một trong số những hành động ngoại giao đáng chú ý đầu tiên của Tô Lâm sau khi ông đảm nhiệm thêm chức vụ chủ tịch nước. Trong một hệ thống chính trị mà đường lối ngoại giao thường rất thận trọng, đi từng bước một, những cử chỉ ban đầu thường mang ý nghĩa quan trọng.” UCANEWS đánh giá những nỗ lực gần đây của Hà Nội nhằm tăng cường quan hệ với Tòa Thánh “cũng có thể được hiểu như một thông điệp rộng hơn gửi đến cộng đồng Công Giáo Việt Nam”. Với hơn 7,5 triệu người, theo số liệu thống kê tính đến ngày 31/12/ 2025, mặc dù chỉ là thiểu số trong một quốc gia nay đã hơn 102 triệu dân, tín hữu Công Giáo ở Việt Nam lại là một trong những cộng đồng tôn giáo gắn kết nhất, với các mạng lưới chặt chẽ được xây dựng xung quanh các giáo xứ, hội đoàn và đời sống tôn giáo chung.  Nhìn về viễn cảnh giáo hoàng Lêô XIV đến thăm Việt Nam, cha chánh xứ Giáo xứ Vườn Xoài Vũ Minh Hùng bày tỏ hy vọng về tương lai của Giáo hội:  “Khi mà chính phủ ngỏ lời mời thì chắc chắn có những điều tốt, đó là muốn cho tiếng nói của Việt Nam với thế giới, rồi tiếng nói Việt Nam với Giáo hội sẽ mở rộng ra nhiều hướng khác nhau. Hiện nay đã có đại diện thường trú ở Việt Nam, nhưng mai mốt sẽ có những trụ sở của ngài nữa. Mong muốn của giáo dân Việt Nam là có văn phòng chính thức của các đại diện Tòa Thánh, đại diện đức thánh cha. Chắc chính quyền cũng mong ước điều đó.  Bây giờ cũng không thấy cản trở gì, nhưng nếu có một quan hệ như vậy thì hai bên sẽ hiểu nhau hơn và có thể là có những điều tốt cho Giáo hội. Mình cũng hy vọng là những cơ sở tôn giáo sẽ được trả lại, tức là nếu mà bình thường hóa thì chắc chắn phải có những tiếng nói của các tổ chức tôn giáo tại Việt Nam, sẽ lấy lại được một số cơ sở của mình mà Nhà nước đang trưng dụng 50 năm nay.” Sắp tới đây, coi như Giáo hội Công Giáo Việt Nam sẽ có một cuộc "tổng diễn tập" cho việc đón tiếp giáo hoàng Lêô XIV, vì theo dự kiến, tại Trung tâm Hành hương Tắc Sậy ( Bạc Liêu ), vào ngày 02/07/2026 sẽ diễn ra Thánh lễ phong Chân phước ( Á Thánh ) cho cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, với sự tham dự của cả 100.000 giáo dân từ các nơi. Đây là lần đầu tiên nghi thức tuyên phong Chân phước tổ chức tại Việt Nam và dĩ nhiên việc tổ chức thánh lễ sẽ có sự phối hợp chặt chẽ giữa Giáo hội với chính quyền địa phương. Kinh nghiệm từ sự phối hợp này chắn chắn sẽ hữu ích cho việc đón tiếp giáo hoàng Lêô XIV. Việt Nam - Vatican: Quan hệ tiến triển đều đặn Sau nhiều thăng trầm, quan hệ giữa Việt Nam và Vatican đã đạt được một bước tiến lớn với việc thông qua “Thỏa thuận Quy chế hoạt động của Đại diện thường trú và Văn phòng Đại diện thường trú Tòa Thánh tại Việt Nam”. Thỏa thuận đã được thông qua vào tháng 7/2023 khi chủ tịch nước của Việt Nam vào lúc đó là Võ Văn Thưởng thăm Tòa Thánh và gặp giáo hoàng Phanxicô.  Đến ngày 23/12 năm đó, Tòa Thánh Vatican chính thức công bố việc tổng giám mục Marek Zalewski được giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm làm Đại diện thường trú đầu tiên của Tòa Thánh tại Việt Nam. Tổng giám mục Marek Zalewski nguyên là sứ thần Tòa Thánh tại Singapore và đã kiêm nhiệm Đặc phái viên không Thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam từ năm 2018. Việt Nam là quốc gia Cộng Sản duy nhất mà Vatican có đại diện thường trú. Trước chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn, giáo hoàng Lêô XIV đã tiếp phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân vào cuối tháng 6/2025 và tiếp Nhóm Công tác hỗn hợp Việt Nam – Tòa Thánh vào tháng 9/2025. Nhờ quan hệ Việt Nam - Tòa Thánh phát triển đều đặn như vậy, nói chung sinh hoạt của Giáo hội Công giáo Việt Nam nay cũng thuận lợi, cả trong việc bổ nhiệm các giám mục, mà trước đây là vấn đề vẫn gây rắc rối giữa Hà Nội với Vatican, theo lời linh mục Vũ Minh Hưng: "Chuyện đó rất là thuận lợi, tức là khi bên Tòa Thánh, bên (Giáo hội) Việt Nam mà có nhu cầu về các giám mục thì họ cũng không gây khó khăn gì. Tại vì bây giờ tư tưởng của các linh mục không làm cho họ sợ nữa, cho nên họ cũng không điều tra, rồi làm khó các linh mục như hồi xưa. Bây giờ thái độ của chính quyền hình như cũng dung hòa hơn. Mình có nhu cầu gì, xin thì cũng hơi khó, nhưng cũng giải quyết được."

Tạp chí Việt Nam
Mời giáo hoàng Lêô XIV thăm Việt Nam: Một tín hiệu đáng chú ý trong quan hệ Hà Nội - Vatican

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later Apr 27, 2026 9:05


Ngày 11/04/2026, nhân chuyến thăm chính thức Tòa Thánh, chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn đã chuyển bức thư của tổng bí thư kiêm chủ tịch nước Tô Lâm gởi giáo hoàng Lêô XIV mời ngài đến thăm chính thức Việt Nam “trong thời gian tới”. Theo báo chí Việt Nam, giáo hoàng đã cám ơn lời mời của ông Tô Lâm và bày tỏ mong muốn đến thăm Việt Nam. Phát biểu với chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn, giáo hoàng Lêô XIV còn cho biết « hai năm trước ngay ở khu vườn này có đặt bức tượng Đức Mẹ La Vang mặc áo dài, mỗi khi nhìn thấy là luôn nhớ tới Việt Nam. » Giáo hoàng sẽ thăm Việt Nam năm 2027? Hiện thời điểm của chuyến tông du chưa được xác định, nhưng theo hãng tin Asianews, quốc vụ khanh Tòa Thánh, hồng y Pietro Parolin dự kiến ​​sẽ sớm đến thăm Việt Nam để thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa Hà Nội với Tòa Thánh. Chuyến thăm của giáo hoàng Lêô XIV như vậy có thể sẽ diễn ra vào năm 2027, khi ngài dự kiến sẽ công du châu Á vào tháng 8 để dự Ngày Giới trẻ Thế giới tại Seoul.  Thông tin về lời mời giáo hoàng Lêô XIV thăm Việt Nam đã nhanh chóng lan truyền trong cộng đồng Công Giáo, từ rất nhiều năm qua vẫn mong chờ một vị chủ chăn của Giáo hội Công Giáo Hoàn vũ đặt chân đến Việt Nam, nhất là sau khi mọi người đã rất thất vọng không được đón tiếp giáo hoàng Phanxicô trước khi ngài qua đời vào tháng 4 năm ngoái.  Trước đây, cố giáo hoàng Gioan Phaolô II đã từng bày tỏ mong muốn đến thăm Hà Nội, nhưng vào thời ấy, còn quá sớm để thực hiện chuyến thăm này. Sau đó, Hà Nội đã có lời mời thăm chính thức Việt Nam gởi tới giáo hoàng Phanxicô vào tháng 12/2023, vài tháng sau khi hai bên ký kết thỏa thuận mở đường cho sự hiện diện của một đại diện thường trực của Tòa Thánh tại Việt Nam. Bản thân giáo hoàng Phanxicô vào tháng 09/2023 cũng đã từng nói rõ về khả năng đến thăm Hà Nội, khi ngài trở về từ Mông Cổ. Mọi việc tưởng là sẽ diễn ra suôn sẻ: Vào tháng 4/2024, đã có chuyến thăm lịch sử của ngoại trưởng Tòa Thánh tổng giám mục Phaolô Gallagher tới Việt Nam. Cũng trong năm 2024, quốc vụ khanh Tòa Thánh, hồng y Pietro Parolin, dự kiến ​​sẽ đến thăm Việt Nam nhằm chính thức chuyển đổi sang quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa Hà Nội và Tòa Thánh, rào cản chính thức cuối cùng vẫn còn cản trở một chuyến thăm của giáo hoàng. Nhưng do bất ổn nội bộ lãnh đạo ở Hà Nội, chuyến thăm của giáo hoàng Phanxicô đã không thể diễn ra. Tuy nhiên, một phái đoàn của chính phủ Việt Nam sau đó đã tham dự cả lễ tang của giáo hoàng Phanxicô và lễ đăng quang của giáo hoàng Lêô XIV.  Với lời mời chính thức của ông Tô Lâm, trong bối cảnh mà nội bộ ban lãnh đạo Việt Nam nay đã ổn định, viễn cảnh một chuyến thăm của giáo hoàng đến Việt Nam đang đến gần hơn bao giờ hết, không còn là câu hỏi “liệu ​​có hay không”, mà ngày càng là câu hỏi “khi nào” và “như thế nào”.  Trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại từ Sài Gòn, linh mục Phêrô Vũ Minh Hưng, cha chánh xứ Giáo xứ Vườn Xoài, thuộc tổng giáo phận Sài Gòn, cho biết:  “Tin này đã được thông báo rộng rãi trên các cái trang web của giáo phận rồi. Đó là niềm mong đợi của giáo dân và tất cả thành phần của Giáo hội Công Giáo Việt Nam. Đây là điều rất đặc biệt, vì giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị đã ưu ái Việt Nam và bây giờ thì đức Lêô cũng quan tâm đến vấn đề đó. Ngài chứng tỏ rất yêu mến Giáo hội Việt Nam và giáo dân Việt Nam cũng rất yêu mến ngài, cho nên họ cũng rất mong ước sự hiện diện của đức thánh cha sẽ đem lại đức tin mạnh mẽ cho người Công Giáo và rất mong đợi ngày đó. Đức thánh cha đến thăm Việt Nam thì người Công Giáo Việt Nam chắc chắn sẽ kéo nhau đến gặp đức thánh cha. Nếu đức giáo hoàng về đây thì có thể trên 100 ngàn người Công Giáo khắp nơi sẽ đến chào đức thánh cha. Giáo hội có thể cũng đã chuẩn bị từ là nhiều năm rồi. Nếu đức thánh cha đồng ý với lời mời của chủ tịch nước thì có lẽ Giáo hội Việt Nam, Hội đồng Giám mục Việt Nam sẽ định hướng ra một cách đón tiếp đặc biệt. Sự hiện diện của đức thánh cha cần một nơi rộng rãi, chứa được số lớn. Còn về an ninh thì chắc Việt Nam cũng không đến nỗi nào đâu. Trước đây chính quyền cũng nghi ngại, nghi kỵ tôn giáo lắm, cho nên chưa hiểu được đường lối ngoại giao cần thiết của Việt Nam đối với Tòa Thánh thì sẽ nâng lên một tầm mới. Nhưng bây giờ có lẽ họ có một sự hiểu biết nhiều hơn về đức thánh cha và Vatican.” UCANEWS: "Một tín hiệu đáng chú ý" Theo nhận định của hãng tin Công giáo UCANEWS ngày 13/04/2026, “đối với nhiều người Công Giáo Việt Nam, lời mời này không chỉ là một cử chỉ ngoại giao, mà còn là một tín hiệu đáng chú ý sau nhiều năm phát triển quan hệ chậm rãi, từng bước. Lời mời này là một trong số những hành động ngoại giao đáng chú ý đầu tiên của Tô Lâm sau khi ông đảm nhiệm thêm chức vụ chủ tịch nước. Trong một hệ thống chính trị mà đường lối ngoại giao thường rất thận trọng, đi từng bước một, những cử chỉ ban đầu thường mang ý nghĩa quan trọng.” UCANEWS đánh giá những nỗ lực gần đây của Hà Nội nhằm tăng cường quan hệ với Tòa Thánh “cũng có thể được hiểu như một thông điệp rộng hơn gửi đến cộng đồng Công Giáo Việt Nam”. Với hơn 7,5 triệu người, theo số liệu thống kê tính đến ngày 31/12/ 2025, mặc dù chỉ là thiểu số trong một quốc gia nay đã hơn 102 triệu dân, tín hữu Công Giáo ở Việt Nam lại là một trong những cộng đồng tôn giáo gắn kết nhất, với các mạng lưới chặt chẽ được xây dựng xung quanh các giáo xứ, hội đoàn và đời sống tôn giáo chung.  Nhìn về viễn cảnh giáo hoàng Lêô XIV đến thăm Việt Nam, cha chánh xứ Giáo xứ Vườn Xoài Vũ Minh Hùng bày tỏ hy vọng về tương lai của Giáo hội:  “Khi mà chính phủ ngỏ lời mời thì chắc chắn có những điều tốt, đó là muốn cho tiếng nói của Việt Nam với thế giới, rồi tiếng nói Việt Nam với Giáo hội sẽ mở rộng ra nhiều hướng khác nhau. Hiện nay đã có đại diện thường trú ở Việt Nam, nhưng mai mốt sẽ có những trụ sở của ngài nữa. Mong muốn của giáo dân Việt Nam là có văn phòng chính thức của các đại diện Tòa Thánh, đại diện đức thánh cha. Chắc chính quyền cũng mong ước điều đó.  Bây giờ cũng không thấy cản trở gì, nhưng nếu có một quan hệ như vậy thì hai bên sẽ hiểu nhau hơn và có thể là có những điều tốt cho Giáo hội. Mình cũng hy vọng là những cơ sở tôn giáo sẽ được trả lại, tức là nếu mà bình thường hóa thì chắc chắn phải có những tiếng nói của các tổ chức tôn giáo tại Việt Nam, sẽ lấy lại được một số cơ sở của mình mà Nhà nước đang trưng dụng 50 năm nay.” Sắp tới đây, coi như Giáo hội Công Giáo Việt Nam sẽ có một cuộc "tổng diễn tập" cho việc đón tiếp giáo hoàng Lêô XIV, vì theo dự kiến, tại Trung tâm Hành hương Tắc Sậy ( Bạc Liêu ), vào ngày 02/07/2026 sẽ diễn ra Thánh lễ phong Chân phước ( Á Thánh ) cho cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, với sự tham dự của cả 100.000 giáo dân từ các nơi. Đây là lần đầu tiên nghi thức tuyên phong Chân phước tổ chức tại Việt Nam và dĩ nhiên việc tổ chức thánh lễ sẽ có sự phối hợp chặt chẽ giữa Giáo hội với chính quyền địa phương. Kinh nghiệm từ sự phối hợp này chắn chắn sẽ hữu ích cho việc đón tiếp giáo hoàng Lêô XIV. Việt Nam - Vatican: Quan hệ tiến triển đều đặn Sau nhiều thăng trầm, quan hệ giữa Việt Nam và Vatican đã đạt được một bước tiến lớn với việc thông qua “Thỏa thuận Quy chế hoạt động của Đại diện thường trú và Văn phòng Đại diện thường trú Tòa Thánh tại Việt Nam”. Thỏa thuận đã được thông qua vào tháng 7/2023 khi chủ tịch nước của Việt Nam vào lúc đó là Võ Văn Thưởng thăm Tòa Thánh và gặp giáo hoàng Phanxicô.  Đến ngày 23/12 năm đó, Tòa Thánh Vatican chính thức công bố việc tổng giám mục Marek Zalewski được giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm làm Đại diện thường trú đầu tiên của Tòa Thánh tại Việt Nam. Tổng giám mục Marek Zalewski nguyên là sứ thần Tòa Thánh tại Singapore và đã kiêm nhiệm Đặc phái viên không Thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam từ năm 2018. Việt Nam là quốc gia Cộng Sản duy nhất mà Vatican có đại diện thường trú. Trước chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn, giáo hoàng Lêô XIV đã tiếp phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân vào cuối tháng 6/2025 và tiếp Nhóm Công tác hỗn hợp Việt Nam – Tòa Thánh vào tháng 9/2025. Nhờ quan hệ Việt Nam - Tòa Thánh phát triển đều đặn như vậy, nói chung sinh hoạt của Giáo hội Công giáo Việt Nam nay cũng thuận lợi, cả trong việc bổ nhiệm các giám mục, mà trước đây là vấn đề vẫn gây rắc rối giữa Hà Nội với Vatican, theo lời linh mục Vũ Minh Hưng: "Chuyện đó rất là thuận lợi, tức là khi bên Tòa Thánh, bên (Giáo hội) Việt Nam mà có nhu cầu về các giám mục thì họ cũng không gây khó khăn gì. Tại vì bây giờ tư tưởng của các linh mục không làm cho họ sợ nữa, cho nên họ cũng không điều tra, rồi làm khó các linh mục như hồi xưa. Bây giờ thái độ của chính quyền hình như cũng dung hòa hơn. Mình có nhu cầu gì, xin thì cũng hơi khó, nhưng cũng giải quyết được."

TẠP CHÍ VĂN HÓA
Đạo diễn Vương Binh: Đồng hành với những người bên lề xã hội Trung Quốc

TẠP CHÍ VĂN HÓA

Play Episode Listen Later Apr 22, 2026 9:29


Không phải vô cớ mà Liên hoan Quốc tế Điện ảnh Châu Á 2026 tại thành phố Vesoul của Pháp ( 27/01-03/02/2026 ) đã chọn đạo diễn Trung Quốc Vương Binh ( Wang Bing ) làm chủ tịch ban giám khảo quốc tế: Nhà làm phim độc lập này, hiện sống ở Paris, được giới phê bình quốc tế đánh giá là “đạo diễn phim tài liệu xuất sắc nhất hiện nay”. Chính là để vinh danh toàn bộ sự nghiệp của Vương Binh mà vào đêm khai mạc 27/01, Liên hoan Vesoul đã trao cho ông giải “Cyclo vàng danh dự”. Trước đó, các phim của Vương Binh đã từng được chọn đi tranh giải tại những liên hoan phim lớn như Cannes (2023), Locarno (2024) và Venise (2024). Là một người rất thích các tác phẩm sử thi, ông bắt đầu nổi tiếng vào năm 2003 với bộ phim dài 9 tiếng đồng hồ "Thiết Tây Khu", trước khi ra mắt bộ phim truyện đầu tay "Giáp Biên Câu" (2010) và phim tài liệu "Thanh Xuân”, được trình chiếu tại Liên hoan phim Cannes năm 2023. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ tại Liên hoan Vesoul ngày 28/01/2026, đạo diễn Vương Binh cho biết:  “Tôi bắt đầu làm phim vào năm 1999. Cũng như những sinh viên khác, sau khi học xong ở Học viện Điện ảnh Bắc Kinh, tôi bắt đầu làm phim riêng. Nhưng do ở Trung Quốc có rất nhiều vấn đề, tôi muốn làm những bộ phim độc lập, không muốn tiếp tục làm kiểu phim được sản xuất dưới hệ thống chính quyền Trung Quốc. Vì vậy, trong hoàn cảnh đó, tôi chỉ có thể chọn làm phim tài liệu, dễ làm hơn, trong khi làm phim truyện, nhất là phim dài, cần phải có rất nhiều nguồn lực và ở Trung Quốc thì làm phim truyện bị kiểm soát nghiêm ngặt hơn. Đối với chúng tôi, bắt đầu sự nghiệp bằng cách làm phim truyện không phải là lựa chọn phù hợp.” Các tác phẩm của Vương Binh luôn tập trung vào những người bị gạt sang bên lề trong quá trình phát triển kinh tế thần tốc của Trung Quốc: những công nhân nhà máy, những trẻ em phải sống tự lập, thậm chí ông đề cập đến cả những nạn nhân bị lãng quên của các trại lao cải thời Mao Trạch Đông. Đạo diễn Vương Binh giải thích cho sự lựa chọn đó:   “Tôi không nghĩ những chủ đề này đặc biệt nhạy cảm, bởi vì tôi cảm thấy đây là một số vấn đề nổi bật nhất nảy sinh từ những thay đổi mà đất nước này đã trải qua trong những thập kỷ gần đây. Có thể nói rằng, sau những câu chuyện này còn có những vấn đề khác. Về thời kỳ Mao Trạch Đông, đây là một mảng lịch sử của một xã hội ở Trung Quốc đã tồn tại hơn 30 năm. Cho dù được đánh giá như thế nào, mảng lịch sử này vẫn hiện hữu, và chúng ta cần có những tác phẩm để phản ánh nó. Do đó, bộ phim này, trong bối cảnh lịch sử điện ảnh, cho phép chúng ta thấy được giai đoạn này của xã hội.” Vương Binh thật ra đã tận dụng một trường sáng tác tương đối tự do vào thời gian Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào những năm 2000 để nắm bắt làn sóng làm phim độc lập, được hỗ trợ bởi sự ra đời của công nghệ số và phần mềm dựng phim miễn phí, không bị nhà nước kiểm soát. Trả lời phỏng vấn AFP ngày 03/02/2026, ngày bế mạc Liên hoan Vesoul, Vương Binh thổ lộ: "Tôi không biết thời gian nới lỏng về chính trị sẽ kéo dài bao lâu. Tôi cảm thấy mình phải nắm bắt khoảnh khắc lịch sử này. Vì vậy, tôi đã quay phim rất nhiều, về những chủ đề đặc biệt nhạy cảm đòi hỏi rất nhiều thời gian." Chính trong giai đoạn này, ông bắt đầu nghiên cứu về trại lao cải Gia Băng Ngân ở vùng tây bắc Trung Quốc, nơi hàng nghìn tù nhân đã chết vì đói vào đầu những năm 1960. Thành quả của nghiên cứu là "Tử linh hồn" (2018), một bộ phim tài liệu dài hơn tám tiếng, trong đó các nhân chứng kể lại sự sống sót của họ trong trại tập trung thông qua những cảnh quay dài, tĩnh lặng.  Vương Binh cho biết đây là một phần của dự án lớn hơn có thể kéo dài gần 50 giờ, và ông tự nhận mình "may mắn" khi đã thuyết phục được khoảng một trăm người sống sót, "nạn nhân của sự đàn áp cực độ," để làm chứng. Những người này sống rải rác khắp Trung Quốc.  Tuy nhiên, Vương Binh vẫn chưa dám đụng đến một chủ đề "đại cấm kỵ" ở Trung Quốc, đó là cuộc đàn áp đẩm máu phong trào biểu tình đòi dân chủ ở Thiên An Môn, Bắc Kinh tháng 06/1989: "Ngày 4/6/1989 chắc chắn là một sự kiện lịch sử rất quan trọng, một sự kiện lớn được biết đến trên toàn thế giới. Sự kiện này đã có tác động đáng kể đến Trung Quốc và giới lãnh đạo của nước này. Tuy nhiên, phim của tôi chủ yếu nói về những thay đổi ở Trung Quốc trong những năm 2000, thậm chí còn cấp bách hơn. Những sự kiện thực tế đã xảy ra cũng rất, rất quan trọng. Từ bộ phim đầu tiên cho đến tất cả các bộ phim tôi đã làm kể từ đó, không bộ phim nào có thể được phát hành. Điều này là do một số vấn đề xã hội ở Trung Quốc vào giai đoạn lịch sử này. Tuy nhiên, đối với cá nhân tôi, điều quan trọng hơn là tôi có thể hoàn thành những bộ phim mình muốn làm. Chúng có được phát hành hay không, điều đó không quan trọng lắm đối với tôi." Sau khi Tập Cận Bình lên nắm quyền vào cuối năm 2012, thời kỳ tự do và sáng tạo tương đối kết thúc và Vương Binh đã không đặt chân về nước kể từ năm 2021 và kể từ nay sống ở Paris. Chính trong thời gian Vương Binh định cư ở nước ngoài đã ra đời “Thanh Xuân”, một bộ phim tài liệu hợp tác Pháp-Luxembourg-Hà Lan-Trung Quốc do ông đạo diễn và phát hành năm 2023. Bộ phim gồm 3 tập, nói về cuộc sống của một nhóm công nhân dệt may trẻ tuổi ở Trực Lệ ( Zhili ), một thị trấn thuộc quận Vô Tích của Hồ Châu, nằm cách Thượng Hải 150 km. Hàng năm, những người trẻ tuổi rời bỏ làng quê của họ để di cư đến thị trấn công nghiệp này. Họ làm việc không ngừng nghỉ với hy vọng một ngày nào đó sẽ có con, mua nhà hoặc bắt đầu công việc kinh doanh riêng. Tình bạn và tình yêu hình thành và tan vỡ theo sự thay đổi của các mùa. Sự phân tán về địa lý, sự bất ổn về tài chính và áp lực kinh tế và gia đình làm xói mòn sự ngây thơ và tuổi trẻ của họ. Trả lời phỏng vấn của trang mạng chuyên về điểm phim Tsounami ngày 05/04/2025 nhân dịp tập 2 và tập 3 của bộ phim “Thanh Xuân” ra mắt công chúng Pháp, Vương Binh cho biết: “Trong "Thanh Xuân", tôi theo dõi cuộc sống thường nhật của các cá nhân. Các câu chuyện khá rời rạc và khán giả không dễ dàng nhận ra sự khác biệt lớn giữa các phần. Nhưng đối với tôi, góc nhìn giữa phần một và phần hai không giống nhau: trong phần một, tôi quay phim về các cá nhân, đời sống tình cảm, cuộc sống thường nhật của họ, tất cả được kết hợp với một khía cạnh cảm xúc sâu sắc; trong phần hai, tôi cố gắng dành nhiều không gian hơn cho các vấn đề và điều kiện xã hội, cách thức hoạt động và những khó khăn họ phải đối mặt… Đối với tôi, có sự khác biệt về góc nhìn, ngay cả khi hai bộ phim có điểm tương đồng về hình thức, đó là ghi lại cuộc sống thường nhật.”  Vương Binh giải thích thêm: “Tôi đã từng có một dự án quay phim trong một nhà máy rất lớn và đã bắt đầu tìm kiếm địa điểm. Nhưng mọi chuyện phức tạp hơn. Ở Trung Quốc có các công ty đủ mọi quy mô, từ các xưởng nhỏ đến các nhà máy lớn. Việc quay phim bên trong những nhà máy đó và theo dõi cuộc sống của công nhân sẽ bị hạn chế hơn, bởi vì họ không có được sự tự do như chúng ta thấy trong phim. Mọi thứ bị giám sát chặt chẽ hơn, quản lý nghiêm ngặt hơn. Khi tôi đến Trực Lệ vào năm 2014 và khám phá một thành phố rộng lớn được tạo nên từ những xưởng sản xuất rất mở, nơi ta có thể đi lại dễ dàng, tôi nghĩ đó là nơi phù hợp với mình hơn nhiều.” Tuy những đề tài ông đề cập có thể bị coi là có nội dung chống chế độ, Vương Binh vẫn khẳng định ông "không làm chính trị", mà "làm nghệ thuật", dù tác phẩm của ông không được phổ biến rộng rãi ở đất nước mình. Ông nhìn nhận với AFP: "Tôi biết có những người xem phim của tôi. Họ vượt qua bức tường lửa Internet để xem. Nhưng so với dân số Trung Quốc, con số đó còn rất ít". Vương Binh còn ghi nhận là, khác với ông, "trong toàn bộ lịch sử điện ảnh Trung Quốc, chưa từng có một đạo diễn nào mà tất cả các bộ phim đều được thực hiện theo ý muốn của riêng mình, chưa ai được quay đúng những bộ phim mà mình muốn". Và nếu Vương Binh sống ở Paris ngày nay không phải vì ông không sợ chính phủ Trung Quốc: mà là vì ông phớt lờ chế độ đó. Ông giải thích: "Nếu mình nghĩ về nó mỗi ngày, đó là lúc nó kiểm soát mình. Vài thế kỷ nữa, mọi người vẫn có thể xem phim của tôi để hiểu những gì đã xảy ra. Nhưng sẽ không ai còn nghe những gì chính phủ nói nữa."  Sống ở thủ đô Pháp, Vương Binh nhận được nhiều sự hỗ trợ của ngành điện ảnh cho những dự án sắp tới: "Thực ra Pháp hỗ trợ các đạo diễn trên toàn thế giới, không chỉ riêng tôi. Vì vậy, từ khi làm bộ phim đầu tiên, tôi đã nhận được rất nhiều lời đề nghị và sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng của Pháp và toàn ngành điện ảnh. Do đó, trong quá trình làm phim, một đội ngũ ổn định    đã được hình thành. Một mặt, do công việc gần đây của tôi, tôi có thời gian tham dự liên hoan phim này. Mặt khác, tôi cảm thấy rằng vì có rất nhiều người ủng hộ phim của tôi, tôi cũng cần phải hỗ trợ những người khác."

Tạp chí văn hóa
Đạo diễn Vương Binh: Đồng hành với những người bên lề xã hội Trung Quốc

Tạp chí văn hóa

Play Episode Listen Later Apr 22, 2026 9:29


Không phải vô cớ mà Liên hoan Quốc tế Điện ảnh Châu Á 2026 tại thành phố Vesoul của Pháp ( 27/01-03/02/2026 ) đã chọn đạo diễn Trung Quốc Vương Binh ( Wang Bing ) làm chủ tịch ban giám khảo quốc tế: Nhà làm phim độc lập này, hiện sống ở Paris, được giới phê bình quốc tế đánh giá là “đạo diễn phim tài liệu xuất sắc nhất hiện nay”. Chính là để vinh danh toàn bộ sự nghiệp của Vương Binh mà vào đêm khai mạc 27/01, Liên hoan Vesoul đã trao cho ông giải “Cyclo vàng danh dự”. Trước đó, các phim của Vương Binh đã từng được chọn đi tranh giải tại những liên hoan phim lớn như Cannes (2023), Locarno (2024) và Venise (2024). Là một người rất thích các tác phẩm sử thi, ông bắt đầu nổi tiếng vào năm 2003 với bộ phim dài 9 tiếng đồng hồ "Thiết Tây Khu", trước khi ra mắt bộ phim truyện đầu tay "Giáp Biên Câu" (2010) và phim tài liệu "Thanh Xuân”, được trình chiếu tại Liên hoan phim Cannes năm 2023. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ tại Liên hoan Vesoul ngày 28/01/2026, đạo diễn Vương Binh cho biết:  “Tôi bắt đầu làm phim vào năm 1999. Cũng như những sinh viên khác, sau khi học xong ở Học viện Điện ảnh Bắc Kinh, tôi bắt đầu làm phim riêng. Nhưng do ở Trung Quốc có rất nhiều vấn đề, tôi muốn làm những bộ phim độc lập, không muốn tiếp tục làm kiểu phim được sản xuất dưới hệ thống chính quyền Trung Quốc. Vì vậy, trong hoàn cảnh đó, tôi chỉ có thể chọn làm phim tài liệu, dễ làm hơn, trong khi làm phim truyện, nhất là phim dài, cần phải có rất nhiều nguồn lực và ở Trung Quốc thì làm phim truyện bị kiểm soát nghiêm ngặt hơn. Đối với chúng tôi, bắt đầu sự nghiệp bằng cách làm phim truyện không phải là lựa chọn phù hợp.” Các tác phẩm của Vương Binh luôn tập trung vào những người bị gạt sang bên lề trong quá trình phát triển kinh tế thần tốc của Trung Quốc: những công nhân nhà máy, những trẻ em phải sống tự lập, thậm chí ông đề cập đến cả những nạn nhân bị lãng quên của các trại lao cải thời Mao Trạch Đông. Đạo diễn Vương Binh giải thích cho sự lựa chọn đó:   “Tôi không nghĩ những chủ đề này đặc biệt nhạy cảm, bởi vì tôi cảm thấy đây là một số vấn đề nổi bật nhất nảy sinh từ những thay đổi mà đất nước này đã trải qua trong những thập kỷ gần đây. Có thể nói rằng, sau những câu chuyện này còn có những vấn đề khác. Về thời kỳ Mao Trạch Đông, đây là một mảng lịch sử của một xã hội ở Trung Quốc đã tồn tại hơn 30 năm. Cho dù được đánh giá như thế nào, mảng lịch sử này vẫn hiện hữu, và chúng ta cần có những tác phẩm để phản ánh nó. Do đó, bộ phim này, trong bối cảnh lịch sử điện ảnh, cho phép chúng ta thấy được giai đoạn này của xã hội.” Vương Binh thật ra đã tận dụng một trường sáng tác tương đối tự do vào thời gian Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào những năm 2000 để nắm bắt làn sóng làm phim độc lập, được hỗ trợ bởi sự ra đời của công nghệ số và phần mềm dựng phim miễn phí, không bị nhà nước kiểm soát. Trả lời phỏng vấn AFP ngày 03/02/2026, ngày bế mạc Liên hoan Vesoul, Vương Binh thổ lộ: "Tôi không biết thời gian nới lỏng về chính trị sẽ kéo dài bao lâu. Tôi cảm thấy mình phải nắm bắt khoảnh khắc lịch sử này. Vì vậy, tôi đã quay phim rất nhiều, về những chủ đề đặc biệt nhạy cảm đòi hỏi rất nhiều thời gian." Chính trong giai đoạn này, ông bắt đầu nghiên cứu về trại lao cải Gia Băng Ngân ở vùng tây bắc Trung Quốc, nơi hàng nghìn tù nhân đã chết vì đói vào đầu những năm 1960. Thành quả của nghiên cứu là "Tử linh hồn" (2018), một bộ phim tài liệu dài hơn tám tiếng, trong đó các nhân chứng kể lại sự sống sót của họ trong trại tập trung thông qua những cảnh quay dài, tĩnh lặng.  Vương Binh cho biết đây là một phần của dự án lớn hơn có thể kéo dài gần 50 giờ, và ông tự nhận mình "may mắn" khi đã thuyết phục được khoảng một trăm người sống sót, "nạn nhân của sự đàn áp cực độ," để làm chứng. Những người này sống rải rác khắp Trung Quốc.  Tuy nhiên, Vương Binh vẫn chưa dám đụng đến một chủ đề "đại cấm kỵ" ở Trung Quốc, đó là cuộc đàn áp đẩm máu phong trào biểu tình đòi dân chủ ở Thiên An Môn, Bắc Kinh tháng 06/1989: "Ngày 4/6/1989 chắc chắn là một sự kiện lịch sử rất quan trọng, một sự kiện lớn được biết đến trên toàn thế giới. Sự kiện này đã có tác động đáng kể đến Trung Quốc và giới lãnh đạo của nước này. Tuy nhiên, phim của tôi chủ yếu nói về những thay đổi ở Trung Quốc trong những năm 2000, thậm chí còn cấp bách hơn. Những sự kiện thực tế đã xảy ra cũng rất, rất quan trọng. Từ bộ phim đầu tiên cho đến tất cả các bộ phim tôi đã làm kể từ đó, không bộ phim nào có thể được phát hành. Điều này là do một số vấn đề xã hội ở Trung Quốc vào giai đoạn lịch sử này. Tuy nhiên, đối với cá nhân tôi, điều quan trọng hơn là tôi có thể hoàn thành những bộ phim mình muốn làm. Chúng có được phát hành hay không, điều đó không quan trọng lắm đối với tôi." Sau khi Tập Cận Bình lên nắm quyền vào cuối năm 2012, thời kỳ tự do và sáng tạo tương đối kết thúc và Vương Binh đã không đặt chân về nước kể từ năm 2021 và kể từ nay sống ở Paris. Chính trong thời gian Vương Binh định cư ở nước ngoài đã ra đời “Thanh Xuân”, một bộ phim tài liệu hợp tác Pháp-Luxembourg-Hà Lan-Trung Quốc do ông đạo diễn và phát hành năm 2023. Bộ phim gồm 3 tập, nói về cuộc sống của một nhóm công nhân dệt may trẻ tuổi ở Trực Lệ ( Zhili ), một thị trấn thuộc quận Vô Tích của Hồ Châu, nằm cách Thượng Hải 150 km. Hàng năm, những người trẻ tuổi rời bỏ làng quê của họ để di cư đến thị trấn công nghiệp này. Họ làm việc không ngừng nghỉ với hy vọng một ngày nào đó sẽ có con, mua nhà hoặc bắt đầu công việc kinh doanh riêng. Tình bạn và tình yêu hình thành và tan vỡ theo sự thay đổi của các mùa. Sự phân tán về địa lý, sự bất ổn về tài chính và áp lực kinh tế và gia đình làm xói mòn sự ngây thơ và tuổi trẻ của họ. Trả lời phỏng vấn của trang mạng chuyên về điểm phim Tsounami ngày 05/04/2025 nhân dịp tập 2 và tập 3 của bộ phim “Thanh Xuân” ra mắt công chúng Pháp, Vương Binh cho biết: “Trong "Thanh Xuân", tôi theo dõi cuộc sống thường nhật của các cá nhân. Các câu chuyện khá rời rạc và khán giả không dễ dàng nhận ra sự khác biệt lớn giữa các phần. Nhưng đối với tôi, góc nhìn giữa phần một và phần hai không giống nhau: trong phần một, tôi quay phim về các cá nhân, đời sống tình cảm, cuộc sống thường nhật của họ, tất cả được kết hợp với một khía cạnh cảm xúc sâu sắc; trong phần hai, tôi cố gắng dành nhiều không gian hơn cho các vấn đề và điều kiện xã hội, cách thức hoạt động và những khó khăn họ phải đối mặt… Đối với tôi, có sự khác biệt về góc nhìn, ngay cả khi hai bộ phim có điểm tương đồng về hình thức, đó là ghi lại cuộc sống thường nhật.”  Vương Binh giải thích thêm: “Tôi đã từng có một dự án quay phim trong một nhà máy rất lớn và đã bắt đầu tìm kiếm địa điểm. Nhưng mọi chuyện phức tạp hơn. Ở Trung Quốc có các công ty đủ mọi quy mô, từ các xưởng nhỏ đến các nhà máy lớn. Việc quay phim bên trong những nhà máy đó và theo dõi cuộc sống của công nhân sẽ bị hạn chế hơn, bởi vì họ không có được sự tự do như chúng ta thấy trong phim. Mọi thứ bị giám sát chặt chẽ hơn, quản lý nghiêm ngặt hơn. Khi tôi đến Trực Lệ vào năm 2014 và khám phá một thành phố rộng lớn được tạo nên từ những xưởng sản xuất rất mở, nơi ta có thể đi lại dễ dàng, tôi nghĩ đó là nơi phù hợp với mình hơn nhiều.” Tuy những đề tài ông đề cập có thể bị coi là có nội dung chống chế độ, Vương Binh vẫn khẳng định ông "không làm chính trị", mà "làm nghệ thuật", dù tác phẩm của ông không được phổ biến rộng rãi ở đất nước mình. Ông nhìn nhận với AFP: "Tôi biết có những người xem phim của tôi. Họ vượt qua bức tường lửa Internet để xem. Nhưng so với dân số Trung Quốc, con số đó còn rất ít". Vương Binh còn ghi nhận là, khác với ông, "trong toàn bộ lịch sử điện ảnh Trung Quốc, chưa từng có một đạo diễn nào mà tất cả các bộ phim đều được thực hiện theo ý muốn của riêng mình, chưa ai được quay đúng những bộ phim mà mình muốn". Và nếu Vương Binh sống ở Paris ngày nay không phải vì ông không sợ chính phủ Trung Quốc: mà là vì ông phớt lờ chế độ đó. Ông giải thích: "Nếu mình nghĩ về nó mỗi ngày, đó là lúc nó kiểm soát mình. Vài thế kỷ nữa, mọi người vẫn có thể xem phim của tôi để hiểu những gì đã xảy ra. Nhưng sẽ không ai còn nghe những gì chính phủ nói nữa."  Sống ở thủ đô Pháp, Vương Binh nhận được nhiều sự hỗ trợ của ngành điện ảnh cho những dự án sắp tới: "Thực ra Pháp hỗ trợ các đạo diễn trên toàn thế giới, không chỉ riêng tôi. Vì vậy, từ khi làm bộ phim đầu tiên, tôi đã nhận được rất nhiều lời đề nghị và sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng của Pháp và toàn ngành điện ảnh. Do đó, trong quá trình làm phim, một đội ngũ ổn định    đã được hình thành. Một mặt, do công việc gần đây của tôi, tôi có thời gian tham dự liên hoan phim này. Mặt khác, tôi cảm thấy rằng vì có rất nhiều người ủng hộ phim của tôi, tôi cũng cần phải hỗ trợ những người khác."

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Trung Quốc xây tiền đồn mới ở Hoàng Sa và phản ứng chậm trễ của Việt Nam

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Apr 13, 2026 9:20


Đầu tháng 1/2026, tuần báo Mỹ Newsweek tiết lộ Trung Quốc đang xây dựng một tiền đồn mới trên Đá Hải Sâm ( Antelope Reef ), một bãi cạn thuộc quần đảo Hoàng Sa, mà Việt Nam và Trung Quốc vẫn tranh chấp chủ quyền. Ảnh vệ tinh Sentinel-2 của Cơ quan Không gian châu Âu cho thấy hoạt động nạo vét và xây dựng đảo nhân tạo tại bãi đá này đã bắt đầu từ giữa tháng 10/2025.  Trong một báo cáo đề ngày 19/03/2026, tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á ( AMTI ) nhận định đây là dự án xây dựng đảo nhân tạo quy mô lớn đầu tiên mà Bắc Kinh thực hiện ở Biển Đông kể từ năm 2017. Theo AMTI, nếu việc xây dựng tiếp tục với tốc độ như được thể hiện trong ảnh vệ tinh, Đá Hải Sâm sẽ trở thành thực thể lớn nhất của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa và có thể sẽ là thực thể lớn nhất trên toàn bộ Biển Đông, ngang bằng, hoặc thậm chí vượt qua kích thước của Đá Vành Khăn ( Mischief Reef ) ở quần đảo Trường Sa.  Đá Hải Sâm thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm ở phía tây nam của quần đảo Hoàng Sa, nằm cách cảng Tam Á ở tỉnh Hải Nam, Trung Quốc khoảng 300 km và cách Đà Nẵng, Việt Nam khoảng 400 km, trước đây là một trong những tiền đồn nhỏ nhất của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa. Bắc Kinh đã bắt đầu hoạt động nạo vét quy mô lớn tại Hải Sâm vào tháng 10 năm 2025 và trong những tuần gần đây đã bắt đầu xây dựng sơ bộ trên một số khu vực của rạn san hô. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 01/04/2026, nhà nghiên cứu về Biển Đông Hoàng Việt ghi nhận:  "Đá Hải Sâm thì bắt đầu từ khoảng tháng 12/2025 mới rõ tầm vóc xây dựng, có lẽ đã gần bằng đảo Phú Lâm, đảo trung tâm mà Trung Quốc đã xây dựng. Và như vậy có khả năng sau này Hải Sâm sẽ là thực thể lớn nhất của Trung Quốc chăng? Chúng ta biết Hoàng Sa là quần đảo tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam, nhưng Trung Quốc đã chiếm toàn bộ rồi. Cho nên hiện nay Trung Quốc muốn xây gì thì cũng không ai làm gì được. Các quốc gia, trong đó có Việt Nam, chỉ đứng ngoài quan sát thôi. Việt Nam mới đây cũng đã có phản đối.  Cách đây khoảng 10 năm, năm 2015, Trung Quốc đã tuyên bố không xây dựng nữa. Nhưng cuối năm 2025 lại xây dựng. Vấn đề quan trọng là Trung Quốc muốn khẳng định vai trò của mình. Trung Quốc vẫn cho rằng Tây Sa ( Hoàng Sa ) là của Trung Quốc, không có tranh chấp gì cả. Nhưng điều này là không đúng, bởi vì Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử, pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình trên Hoàng Sa." Sử dụng ảnh vệ tinh thương mại gần đây từ công ty Vantor của Mỹ, AMTI đã ước tính diện tích đất lấn biển tại Đá Hải Sâm là vào khoảng 603 hectare. Con số này rất đáng chú ý khi so sánh với quy mô các thực thể của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa. Thực thể lớn nhất hiện nay trong khu vực là đảo Phú Lâm. Mặc dù có căn cứ không quân và hải quân cùng với "thành phố" Tam Sa quản lý toàn bộ Biển Đông, đảo này chỉ rộng khoảng 360 hecta. Đá Vành Khăn, tiền đồn lớn nhất của Trung Quốc ở Biển Đông, có tổng diện tích đất là khoảng 608 hectare, khác biệt không đáng kể so với diện tích hiện tại của Đá Hải Sâm. Đá Hải Sâm giờ đây có thể chứa được một đường băng dài khoảng 2.700 mét, thuộc loại mà Trung Quốc đã xây dựng tại đảo Phú Lâm, Đá Vành Khăn, Đá Subi và Đá Chữ Thập ( Fiery Cross ). Phía tây bắc của vùng đất mới tại Đá Hải Sâm, trải dài hơn khoảng 3.200 mét, được tạo hình với một cạnh ngoài thẳng tắp rõ rệt, rất phù hợp cho một đường băng.  Cũng theo AMTI, mặc dù một số đảo thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm có hải cảng, nhưng cảng tại Đá Hải Sâm sẽ lớn hơn nhiều và như vậy lực lượng Hải cảnh cùng với một lượng lớn dân quân biển của Trung Quốc có thể duy trì sự hiện diện tại đây, như ở Đá Vành Khăn trong những năm gần đây. Với kích thước như hiện nay, Đá Hải Sâm cũng có thể được xây dựng những cơ sở hạ tầng quy mô giống như ở Phú Lâm và ba tiền đồn lớn của Trung Quốc (Đá Vành Khăn, Đá Subi và Đá Chữ Thập) ở quần đảo Trường Sa, bao gồm các nhà máy điện diesel, các kho chứa ngầm, các vị trí phòng thủ bờ biển, các cơ sở tên lửa địa đối không và tên lửa chống hạm, cũng như nhiều cơ sở giám sát và tác chiến điện tử.  Công tác xây dựng sơ bộ đã bắt đầu ở một số khu vực của rạn san hô. Hơn 50 công trình nhỏ mái xám và một bãi đáp trực thăng đã được xây dựng. Có khả năng ít nhất một số công trình ban đầu này là các cơ sở tạm thời, sau này sẽ được thay thế bằng cơ sở hạ tầng kiên cố hơn, như đã thấy trong quá trình xây dựng các tiền đồn của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa.  Theo AMTI, nếu được phát triển thành một cơ sở quân sự ngang tầm với các tiền đồn lớn khác của Trung Quốc, Đá Hải Sâm sẽ giúp mở rộng phạm vi hoạt động của các cơ quan tình báo Trung Quốc đến gần bờ biển Việt Nam hơn và cung cấp thêm năng lực cho các lực lượng hải quân và không quân của Trung Quốc ở phía bắc Biển Đông. Vị trí gần Hải Nam của Đá Hải Sâm cũng có thể mang lại cho Bắc Kinh cơ hội mở rộng nỗ lực thiết lập sự hiện diện dân sự ở quần đảo Hoàng Sa.  Mặc dù điều này có thể không làm thay đổi đáng kể toàn cảnh chiến lược ở Biển Đông, nhưng Bắc Kinh chắc chắn đang phát tín hiệu về khả năng liên tục mở rộng các thực thể mà họ chiếm đóng, một thông điệp có lẽ nhắm trực tiếp nhất vào Hà Nội, vì các hoạt động bồi đắp đảo của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa vẫn đang tiếp diễn.  Về điểm này, nhà nghiên cứu Hoàng Việt nhận định:  "Năm ngoái báo chí nước ngoài cho rằng Việt Nam bồi lấp rất mạnh trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Báo Mỹ cho biết Việt Nam đã bồi lấp khoảng 70% so với Trung Quốc. Trung Quốc cũng có phản đối nhưng cũng không căng thẳng lắm. Trung Quốc lần này muốn gia tăng xây dựng trên Đá Hải Sơn để khẳng định chủ quyền của mình, cũng như khẳng định Trung Quốc vẫn là mạnh nhất và không ai có thể ngăn chặn được Trung Quốc. Đương nhiên các quốc gia khác cho rằng Trung Quốc vẫn vi phạm luật pháp quốc tế, nhưng rõ ràng trong trường hợp này Trung Quốc vẫn đang thể hiện sức mạnh của mình, đặc biệt là đối với quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã nắm quần đảo Hoàng Sa rồi và bây giờ họ xây mạnh lên thì rõ ràng là nó giống như một pháo đài, một chiến hạm không bị chìm trên biển. Và điều này đem lại cho họ rất nhiều lợi ích. Phía Việt Nam có bồi lấp nhưng mà không thể bằng Trung Quốc. Trong thời gian qua, Trung Quốc không những bồi lấp mà còn quân sự hóa các thực thể đó." Nhưng điều đáng chú ý là mặc dù thông tin về việc Trung Quốc gia tăng bồi lắp Đá Hải Sâm đã được tờ Newsweek tiết lộ từ tháng 1, nhưng trong suốt mấy tháng, Hà Nội vẫn im tiếng. Mãi cho đến ngày 21/03/2026, khi trả lời câu hỏi của phóng viên nhật báo Hồng Kông South China Morning Post, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam Phạm Thu Hằng mới ra tuyên bố, nhắc lại là Việt Nam “có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”, cho nên “mọi hoạt động của nước ngoài tại quần đảo Hoàng Sa, trong đó có đá Hải Sâm, mà không được sự cho phép của phía Việt Nam là hoàn toàn phi pháp và vô giá trị”. Đáp lại phát biểu nói trên của phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam, ngày 23/03, Bắc Kinh khẳng định các hoạt động xây dựng tại quần đảo Hoàng Sa chỉ nhằm mục đích “cải thiện điều kiện sống và thúc đẩy kinh tế địa phương”. Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc tuyên bố: “Quần đảo Tây Sa ( Hoàng Sa ) là một phần lãnh thổ không thể tách rời của Trung Quốc và không có tranh chấp nào về điều đó”.  Bối cảnh hiện nay, với cuộc chiến tranh Iran, có vẻ thuận lợi để Trung Quốc gia tăng bồi lấp đảo ở  Hoàng Sa, vì những cường quốc như Hoa Kỳ hay Nhật Bản, vốn vẫn mạnh mẽ chỉ trích những hoạt động bành trướng của Bắc Kinh ở Biển Đông, đều đang có những vấn đề lớn cần giải quyết, theo ghi nhận của nhà nghiên cứu Hoàng Việt: “Hiện nay trên thế giới, xung quanh của chúng ta là bao nhiêu cuộc chiến tranh: Cuộc chiến tranh giữa Thái Lan và Cam Bốt, cuộc chiến tranh giữa Pakistan và Afghanistan, rồi năm ngoái là cuộc chiến tranh giữa Pakistan và Ấn Độ này. Và hiện nay thì tại khu vực Trung Đông, Mỹ và Israel đang tấn công vào Iran. Dường như tổng thống Mỹ hiện nay lại phớt lờ vai trò của luật pháp quốc tế. Rất nhiều quốc gia tiếng phản đối Mỹ tấn công Iran, kể cả những nước phương Tây. Trong bối cảnh cảnh vô cùng lộn xộn hiện nay, có lẽ Trung Quốc cảm thấy ra tay lúc này là sẽ giành được rất nhiều lợi thế. Trung Quốc là cực kỳ khó chơi và tính toán rất ghê. Việt Nam cũng thấy rằng sức lực của Việt Nam so với Trung Quốc rất khác biệt. Trung Quốc lớn mạnh lắm, cạnh tranh với cả Mỹ. Cho nên đây cũng là những vấn đề mà Việt Nam phải xem xét và Việt Nam thấy rằng là trong bối cảnh hiện nay duy trì hòa bình vẫn là quan trọng. Mặc dù không phải là hòa bình bằng mọi giá, nhưng hòa bình vẫn là quan trọng nhất.” Thật ra, cả Hà Nội và Bắc Kinh có vẻ như đều có một cách tiếp cận thực dụng hơn để kềm chế căng thẳng do tranh chấp chủ quyền Biển Đông, thể hiện qua những phản ứng chừng mực của phát ngôn viên bộ Ngoại Giao hai nước. Tờ South China Morning Post ngày 02/04 trích dẫn ông Chu Phong (Zhu Feng), hiệu trưởng Trường Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Nam Kinh, Trung Quốc nhận định, duy trì ổn định là ưu tiên hàng đầu của Bắc Kinh trong chính sách Biển Đông, hoạt động “song song một cách rất tinh vi” với việc duy trì chủ quyền của họ trong vùng biển tranh chấp. Hai cách tiếp cận này “có mối liên hệ mật thiết với nhau”.  Về phần mình, ông Carlyle Thayer, chuyên gia về Đông Nam Á và giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales, ghi nhận: “Cũng có sự đồng thuận rằng tranh chấp chủ quyền biển đảo không nên cản trở sự phát triển của quan hệ song phương.” Cũng trên tờ nhật báo Hồng Kông, ông Nguyễn Khắc Giang, một nhà phân tích tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore, cho rằng việc Việt Nam trì hoãn việc lên tiếng phản đối Trung Quốc cải tạo Đá Hải Sâm cũng có thể phản ánh suy nghĩ của Hà Nội trong các tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh:  “Hà Nội từ trước đến nay luôn cân nhắc phản ứng giữa ngoại giao thầm lặng và phản đối công khai tùy theo bối cảnh: mức độ nghiêm trọng của hành động, tình trạng của mối quan hệ rộng hơn và những gì họ tin rằng có thể đạt được thông qua các kênh riêng tư”. Theo Nguyễn Khắc Giang, mối quan hệ song phương đang ấm lên cùng với việc cả hai nước gia tăng bồi lắp đảo cho thấy “một thực tế cơ bản” đối với Việt Nam: “Hà Nội có thể tăng cường hợp tác với Bắc Kinh tuy vẫn phản đối các yêu sách chủ quyền biển đảo của nước này. Tôi nghĩ đây là logic hoạt động của một quốc gia yếu hơn trong việc quản lý một mối quan hệ bất đối xứng.” 

Tạp chí Việt Nam
Trung Quốc xây tiền đồn mới ở Hoàng Sa và phản ứng chậm trễ của Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later Apr 13, 2026 9:20


Đầu tháng 1/2026, tuần báo Mỹ Newsweek tiết lộ Trung Quốc đang xây dựng một tiền đồn mới trên Đá Hải Sâm ( Antelope Reef ), một bãi cạn thuộc quần đảo Hoàng Sa, mà Việt Nam và Trung Quốc vẫn tranh chấp chủ quyền. Ảnh vệ tinh Sentinel-2 của Cơ quan Không gian châu Âu cho thấy hoạt động nạo vét và xây dựng đảo nhân tạo tại bãi đá này đã bắt đầu từ giữa tháng 10/2025.  Trong một báo cáo đề ngày 19/03/2026, tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á ( AMTI ) nhận định đây là dự án xây dựng đảo nhân tạo quy mô lớn đầu tiên mà Bắc Kinh thực hiện ở Biển Đông kể từ năm 2017. Theo AMTI, nếu việc xây dựng tiếp tục với tốc độ như được thể hiện trong ảnh vệ tinh, Đá Hải Sâm sẽ trở thành thực thể lớn nhất của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa và có thể sẽ là thực thể lớn nhất trên toàn bộ Biển Đông, ngang bằng, hoặc thậm chí vượt qua kích thước của Đá Vành Khăn ( Mischief Reef ) ở quần đảo Trường Sa.  Đá Hải Sâm thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm ở phía tây nam của quần đảo Hoàng Sa, nằm cách cảng Tam Á ở tỉnh Hải Nam, Trung Quốc khoảng 300 km và cách Đà Nẵng, Việt Nam khoảng 400 km, trước đây là một trong những tiền đồn nhỏ nhất của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa. Bắc Kinh đã bắt đầu hoạt động nạo vét quy mô lớn tại Hải Sâm vào tháng 10 năm 2025 và trong những tuần gần đây đã bắt đầu xây dựng sơ bộ trên một số khu vực của rạn san hô. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 01/04/2026, nhà nghiên cứu về Biển Đông Hoàng Việt ghi nhận:  "Đá Hải Sâm thì bắt đầu từ khoảng tháng 12/2025 mới rõ tầm vóc xây dựng, có lẽ đã gần bằng đảo Phú Lâm, đảo trung tâm mà Trung Quốc đã xây dựng. Và như vậy có khả năng sau này Hải Sâm sẽ là thực thể lớn nhất của Trung Quốc chăng? Chúng ta biết Hoàng Sa là quần đảo tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam, nhưng Trung Quốc đã chiếm toàn bộ rồi. Cho nên hiện nay Trung Quốc muốn xây gì thì cũng không ai làm gì được. Các quốc gia, trong đó có Việt Nam, chỉ đứng ngoài quan sát thôi. Việt Nam mới đây cũng đã có phản đối.  Cách đây khoảng 10 năm, năm 2015, Trung Quốc đã tuyên bố không xây dựng nữa. Nhưng cuối năm 2025 lại xây dựng. Vấn đề quan trọng là Trung Quốc muốn khẳng định vai trò của mình. Trung Quốc vẫn cho rằng Tây Sa ( Hoàng Sa ) là của Trung Quốc, không có tranh chấp gì cả. Nhưng điều này là không đúng, bởi vì Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử, pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình trên Hoàng Sa." Sử dụng ảnh vệ tinh thương mại gần đây từ công ty Vantor của Mỹ, AMTI đã ước tính diện tích đất lấn biển tại Đá Hải Sâm là vào khoảng 603 hectare. Con số này rất đáng chú ý khi so sánh với quy mô các thực thể của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa. Thực thể lớn nhất hiện nay trong khu vực là đảo Phú Lâm. Mặc dù có căn cứ không quân và hải quân cùng với "thành phố" Tam Sa quản lý toàn bộ Biển Đông, đảo này chỉ rộng khoảng 360 hecta. Đá Vành Khăn, tiền đồn lớn nhất của Trung Quốc ở Biển Đông, có tổng diện tích đất là khoảng 608 hectare, khác biệt không đáng kể so với diện tích hiện tại của Đá Hải Sâm. Đá Hải Sâm giờ đây có thể chứa được một đường băng dài khoảng 2.700 mét, thuộc loại mà Trung Quốc đã xây dựng tại đảo Phú Lâm, Đá Vành Khăn, Đá Subi và Đá Chữ Thập ( Fiery Cross ). Phía tây bắc của vùng đất mới tại Đá Hải Sâm, trải dài hơn khoảng 3.200 mét, được tạo hình với một cạnh ngoài thẳng tắp rõ rệt, rất phù hợp cho một đường băng.  Cũng theo AMTI, mặc dù một số đảo thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm có hải cảng, nhưng cảng tại Đá Hải Sâm sẽ lớn hơn nhiều và như vậy lực lượng Hải cảnh cùng với một lượng lớn dân quân biển của Trung Quốc có thể duy trì sự hiện diện tại đây, như ở Đá Vành Khăn trong những năm gần đây. Với kích thước như hiện nay, Đá Hải Sâm cũng có thể được xây dựng những cơ sở hạ tầng quy mô giống như ở Phú Lâm và ba tiền đồn lớn của Trung Quốc (Đá Vành Khăn, Đá Subi và Đá Chữ Thập) ở quần đảo Trường Sa, bao gồm các nhà máy điện diesel, các kho chứa ngầm, các vị trí phòng thủ bờ biển, các cơ sở tên lửa địa đối không và tên lửa chống hạm, cũng như nhiều cơ sở giám sát và tác chiến điện tử.  Công tác xây dựng sơ bộ đã bắt đầu ở một số khu vực của rạn san hô. Hơn 50 công trình nhỏ mái xám và một bãi đáp trực thăng đã được xây dựng. Có khả năng ít nhất một số công trình ban đầu này là các cơ sở tạm thời, sau này sẽ được thay thế bằng cơ sở hạ tầng kiên cố hơn, như đã thấy trong quá trình xây dựng các tiền đồn của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa.  Theo AMTI, nếu được phát triển thành một cơ sở quân sự ngang tầm với các tiền đồn lớn khác của Trung Quốc, Đá Hải Sâm sẽ giúp mở rộng phạm vi hoạt động của các cơ quan tình báo Trung Quốc đến gần bờ biển Việt Nam hơn và cung cấp thêm năng lực cho các lực lượng hải quân và không quân của Trung Quốc ở phía bắc Biển Đông. Vị trí gần Hải Nam của Đá Hải Sâm cũng có thể mang lại cho Bắc Kinh cơ hội mở rộng nỗ lực thiết lập sự hiện diện dân sự ở quần đảo Hoàng Sa.  Mặc dù điều này có thể không làm thay đổi đáng kể toàn cảnh chiến lược ở Biển Đông, nhưng Bắc Kinh chắc chắn đang phát tín hiệu về khả năng liên tục mở rộng các thực thể mà họ chiếm đóng, một thông điệp có lẽ nhắm trực tiếp nhất vào Hà Nội, vì các hoạt động bồi đắp đảo của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa vẫn đang tiếp diễn.  Về điểm này, nhà nghiên cứu Hoàng Việt nhận định:  "Năm ngoái báo chí nước ngoài cho rằng Việt Nam bồi lấp rất mạnh trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Báo Mỹ cho biết Việt Nam đã bồi lấp khoảng 70% so với Trung Quốc. Trung Quốc cũng có phản đối nhưng cũng không căng thẳng lắm. Trung Quốc lần này muốn gia tăng xây dựng trên Đá Hải Sơn để khẳng định chủ quyền của mình, cũng như khẳng định Trung Quốc vẫn là mạnh nhất và không ai có thể ngăn chặn được Trung Quốc. Đương nhiên các quốc gia khác cho rằng Trung Quốc vẫn vi phạm luật pháp quốc tế, nhưng rõ ràng trong trường hợp này Trung Quốc vẫn đang thể hiện sức mạnh của mình, đặc biệt là đối với quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã nắm quần đảo Hoàng Sa rồi và bây giờ họ xây mạnh lên thì rõ ràng là nó giống như một pháo đài, một chiến hạm không bị chìm trên biển. Và điều này đem lại cho họ rất nhiều lợi ích. Phía Việt Nam có bồi lấp nhưng mà không thể bằng Trung Quốc. Trong thời gian qua, Trung Quốc không những bồi lấp mà còn quân sự hóa các thực thể đó." Nhưng điều đáng chú ý là mặc dù thông tin về việc Trung Quốc gia tăng bồi lắp Đá Hải Sâm đã được tờ Newsweek tiết lộ từ tháng 1, nhưng trong suốt mấy tháng, Hà Nội vẫn im tiếng. Mãi cho đến ngày 21/03/2026, khi trả lời câu hỏi của phóng viên nhật báo Hồng Kông South China Morning Post, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam Phạm Thu Hằng mới ra tuyên bố, nhắc lại là Việt Nam “có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”, cho nên “mọi hoạt động của nước ngoài tại quần đảo Hoàng Sa, trong đó có đá Hải Sâm, mà không được sự cho phép của phía Việt Nam là hoàn toàn phi pháp và vô giá trị”. Đáp lại phát biểu nói trên của phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam, ngày 23/03, Bắc Kinh khẳng định các hoạt động xây dựng tại quần đảo Hoàng Sa chỉ nhằm mục đích “cải thiện điều kiện sống và thúc đẩy kinh tế địa phương”. Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc tuyên bố: “Quần đảo Tây Sa ( Hoàng Sa ) là một phần lãnh thổ không thể tách rời của Trung Quốc và không có tranh chấp nào về điều đó”.  Bối cảnh hiện nay, với cuộc chiến tranh Iran, có vẻ thuận lợi để Trung Quốc gia tăng bồi lấp đảo ở  Hoàng Sa, vì những cường quốc như Hoa Kỳ hay Nhật Bản, vốn vẫn mạnh mẽ chỉ trích những hoạt động bành trướng của Bắc Kinh ở Biển Đông, đều đang có những vấn đề lớn cần giải quyết, theo ghi nhận của nhà nghiên cứu Hoàng Việt: “Hiện nay trên thế giới, xung quanh của chúng ta là bao nhiêu cuộc chiến tranh: Cuộc chiến tranh giữa Thái Lan và Cam Bốt, cuộc chiến tranh giữa Pakistan và Afghanistan, rồi năm ngoái là cuộc chiến tranh giữa Pakistan và Ấn Độ này. Và hiện nay thì tại khu vực Trung Đông, Mỹ và Israel đang tấn công vào Iran. Dường như tổng thống Mỹ hiện nay lại phớt lờ vai trò của luật pháp quốc tế. Rất nhiều quốc gia tiếng phản đối Mỹ tấn công Iran, kể cả những nước phương Tây. Trong bối cảnh cảnh vô cùng lộn xộn hiện nay, có lẽ Trung Quốc cảm thấy ra tay lúc này là sẽ giành được rất nhiều lợi thế. Trung Quốc là cực kỳ khó chơi và tính toán rất ghê. Việt Nam cũng thấy rằng sức lực của Việt Nam so với Trung Quốc rất khác biệt. Trung Quốc lớn mạnh lắm, cạnh tranh với cả Mỹ. Cho nên đây cũng là những vấn đề mà Việt Nam phải xem xét và Việt Nam thấy rằng là trong bối cảnh hiện nay duy trì hòa bình vẫn là quan trọng. Mặc dù không phải là hòa bình bằng mọi giá, nhưng hòa bình vẫn là quan trọng nhất.” Thật ra, cả Hà Nội và Bắc Kinh có vẻ như đều có một cách tiếp cận thực dụng hơn để kềm chế căng thẳng do tranh chấp chủ quyền Biển Đông, thể hiện qua những phản ứng chừng mực của phát ngôn viên bộ Ngoại Giao hai nước. Tờ South China Morning Post ngày 02/04 trích dẫn ông Chu Phong (Zhu Feng), hiệu trưởng Trường Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Nam Kinh, Trung Quốc nhận định, duy trì ổn định là ưu tiên hàng đầu của Bắc Kinh trong chính sách Biển Đông, hoạt động “song song một cách rất tinh vi” với việc duy trì chủ quyền của họ trong vùng biển tranh chấp. Hai cách tiếp cận này “có mối liên hệ mật thiết với nhau”.  Về phần mình, ông Carlyle Thayer, chuyên gia về Đông Nam Á và giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales, ghi nhận: “Cũng có sự đồng thuận rằng tranh chấp chủ quyền biển đảo không nên cản trở sự phát triển của quan hệ song phương.” Cũng trên tờ nhật báo Hồng Kông, ông Nguyễn Khắc Giang, một nhà phân tích tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore, cho rằng việc Việt Nam trì hoãn việc lên tiếng phản đối Trung Quốc cải tạo Đá Hải Sâm cũng có thể phản ánh suy nghĩ của Hà Nội trong các tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh:  “Hà Nội từ trước đến nay luôn cân nhắc phản ứng giữa ngoại giao thầm lặng và phản đối công khai tùy theo bối cảnh: mức độ nghiêm trọng của hành động, tình trạng của mối quan hệ rộng hơn và những gì họ tin rằng có thể đạt được thông qua các kênh riêng tư”. Theo Nguyễn Khắc Giang, mối quan hệ song phương đang ấm lên cùng với việc cả hai nước gia tăng bồi lắp đảo cho thấy “một thực tế cơ bản” đối với Việt Nam: “Hà Nội có thể tăng cường hợp tác với Bắc Kinh tuy vẫn phản đối các yêu sách chủ quyền biển đảo của nước này. Tôi nghĩ đây là logic hoạt động của một quốc gia yếu hơn trong việc quản lý một mối quan hệ bất đối xứng.” 

TẠP CHÍ KINH TẾ
Chiến tranh Iran và hiệu ứng domino đối với các quốc gia Vùng Vịnh

TẠP CHÍ KINH TẾ

Play Episode Listen Later Apr 7, 2026 9:30


Không thể xuất khẩu dầu hỏa và khí đốt qua eo biển Hormuz, một số cơ sở hạ tầng năng lượng của các quốc gia tại Vịnh Ba Tư bị thiệt hại, đầu tư nước ngoài và ngành hàng không, du lịch bị điêu đứng : Trong hơn một tháng chiến tranh Iran, mô hình kinh tế tại các nước trong khu vực bị đe dọa. Kịch bản tai hại hơn nữa là Hoa Kỳ « chóng chán và phủi tay » kéo dài bất ổn tại Trung Đông.   Nhà nghiên cứu về Trung Đông Jean-Loup Samaan, Đại Học Quốc Gia Singapore trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ hôm 03/04/2026 nói đến một sự « đổ vỡ » niềm tin của các nước vùng Vịnh vào mô hình kinh tế của chính mình, vào ô dù an ninh của Mỹ.   Thất thu từ 120 đến 194 tỷ trong một tháng Sau đúng một tháng chiến tranh, báo kinh tế Pháp Les Echos hôm 01/04/2026 trích dẫn các nguồn tin quân cho biết,từ hôm 08/02/2026, khi phải đối mặt với sức mạnh quân sự của Mỹ và Israel, 83 % các vụ tấn công Iran tiến hành nhắm vào các quốc gia trong Vịnh Ba Tư (17 % còn lại, Teheran đã dành cho Israel cho dù Nhà nước Do Thái mới là bên trực tiếp tấn công Iran). Hai cảng dầu Yanbu (Ả Rập Xê Út) và Fujairah (Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất), lớn nhất thế giới, là mục tiêu bị nhắm tới. Hầu như mỗi ngày, từ Bahrain đến Ả Rập Xê Út, từ Qatar đến Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, hay Koweit, Qatar đều đã phải huy động hệ thống phòng không để chống đỡ với hỏa tiễn và drone của Iran. Theo báo tài chính Mỹ The Wall Street Journal, cuối tháng 3/2026, Dubai đã chi ra hơn 2 tỷ đô la để bắt chận hơn 2000 drone và tên lửa của Iran trong vài tuần lễ. Teheran đóng cửa eo biển Hormuz, chận xuất khẩu dầu khí của các nước vùng Vịnh. Khả năng xuất khẩu của 6 nước bao quanh Vịnh Ba Tư (Ả Rập Xê Út, Qatar, Koweit, Irak, Bahrain, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất) cộng thêm với Oman, đồng kiểm soát eo biển Hormuz bị giới hạn đáng kể. Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất là hai nguồn cung cấp duy nhất trong số này có đường ống dẫn dầu để có thể vẫn xuất khẩu năng lượng mà không phải đi qua cửa khẩu đang do Iran kiểm soát. Trái lại Qatar, Koweit và Irak bị « kẹt cứng » vì không có ngõ thoát hiểm. 90 % dầu Irak sản xuất không có ngõ thoát. Mỏ khí đốt lớn nhất thế giới ở ngoài khơi sát hải phận của Iran, Qatar gọi là North Dome, Teheran gọi là South Pars, cũng đã bị thiệt hại. Bất ngờ hơn nữa là Oman, vốn có thái độ « trung lập » và là nhịp cầu giữa Teheran với Washington, cũng đã bị tên lửa và drone của Iran nhắm đến. Theo thẩm định của Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc, được công bố hôm 30/03/2026, chỉ trong vòng một tháng, tăng trưởng của các quốc gia trong vùng có thể bị giảm từ 3,7 đến 6 % do tác động chiến tranh. Cũng trong thời gian này, thất thu từ các hoạt động khai thác và xuất khẩu năng lượng ước tính khoảng từ 120 đến 194 tỷ đô la. Chiến sự kéo dài sẽ đe dọa việc làm của khoảng 3,7 triệu dân cư trong khu vực, 4 triệu khác bị đẩy vào cảnh nghèo khó. Giám đốc trung tâm nghiên cứu về vùng Vịnh Gulf Research Center, Abdulahzis Sager, cho rằng đối với các nước láng giềng quanh vịnh Ba Tư và Oman, Iran đã « vượt quá giới hạn của tất cả mọi lằn ranh đỏ ». Những nước này trước đây không ủng hộ Mỹ tấn công Iran nay lại nóng lòng muốn Washington giải quyết dứt điểm mối đe dọa xuất phát từ Iran. Trên đài RFI Việt ngữ nhà nghiên cứu về Trung Đông Jean-Loup Samaan, Đại Học Quốc Gia Singapore, cộng tác viên của viện nghiên cứu Pháp Institut Montaigne, Paris nhấn mạnh chiến tranh Iran đang để lộ rõ những nhược điểm trong mạnh mô hình phát triển của các quốc gia vùng Vịnh. Sau nhiều thập niên bình yên vô sự, khu vực này không còn « ngoài vòng khói lửa chiến tranh ». RFI : Xin kính chào Jean-Loup Samaan, Đại Học Quốc Gia Singapore. Câu hỏi đầu tiên : Đâu là những hậu quả trước mắt đối với các quốc gia trong vùng Vịnh sau hơn một tháng chiến tranh ? Jean-Loup Samaan : « Có nhiều khía cạnh khác nhau. Đầu tiên là vấn đề quân sự và an ninh, bao gồm việc bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ công dân và cư dân của các nước trong vùng Vịnh. Ngay từ những giờ đầu của cuộc xung đột, các quốc gia đã hứng chịu tên lửa và drone của Iran. Trong những tuần qua, nhìn chung, hệ thống phòng thủ của các nước này đã hoạt động khá tốt. Nhưng các cơ sở hạ tầng, nhiều cảng xuất khẩu dầu khí đã bị thiệt hại đáng kể, đặc biệt là các nhà máy khí đốt Qatar. Khía cạnh thứ hai, quan trọng không kém là kinh tế. Trong ngắn hạn, có một cuộc khủng hoảng năng lượng. Khu vực này gần như hoàn toàn phụ thuộc vào các nguồn thu nhập từ dầu hỏa, khí đốt. Cho nên những nước như Qatar hay Koweit lâm vào thế kẹt vì xuất khẩu năng lượng bị xáo trộn. Đây là một thách thức về mặt kinh tế.    Nhìn xa hơn, quả thật là các nước trong vùng đang tự hỏi liệu mô hình phát triển kinh tế từ trước đến nay có bền vững hay không. Nhất là trong trường hợp của Dubai, trung tâm thu hút các nhà đầu tư, trung tâm tài chính, ngân hàng trong khu vực và cũng là một nền kinh tế đang trông đợi nhiều vào ngành du lịch, vào ngành hàng không … Đây là một dấu chấm hỏi sẽ tồn tại ngay cả khi mà chiến tranh chấm dứt ». RFI : Như vừa nói, về mặt kinh tế, đối với các quốc gia xuất khẩu năng lượng, chiến tranh không chỉ ảnh hưởng đến xuất khẩu mà còn trực tiếp nhắm vào những nhà máy, những cơ sở hạ tầng năng lượng … Có lẽ đó mới là mối quan tâm chính của các quốc gia sản xuất trong vùng ? Jean-Loup Samaan : « Câu trả lời tùy thuộc rất nhiều vào yếu tố thời gian. Cuộc chiến nay sẽ kéo dài trong bao lâu, Iran phản công đến khi nào ? Chỉ khi đó mới có thể thẩm định chính xác về mức độ thiệt hại. Trước mắt, sau hơn một tháng giao tranh, thiệt hại tương đối hạn chế. Điều đáng chú ý là ngay cả khi có lệnh ngừng bắn, Trung Đông vẫn bất ổn, vẫn bị drone và hỏa tiễn của Iran đe dọa, khi đó kinh tế của các nước trong vùng sẽ bị suy yếu. Thí dụ như các quốc gia cần nhập khẩu dầu khí của Trung Đông bắt đầu tìm kiếm các giải pháp thay thế. Thế rồi các hãng hàng không của các nước trong vùng Vịnh bị mất khách vì mọi người muốn tránh phải bay qua vùng nóng này. Như đã biết, tới nay đây từng là một trong những mắt xích quan trọng nhất thế giới trong lĩnh vực hàng không dân sự ». Đầu tư lâu dài ở Dubai hay Doha có còn hợp lý nữa hay không ? RFI : Ông vừa nêu lên vấn đề bất ổn. Đối với các quốc gia vùng Vịnh thì vế an ninh và kinh tế gắn liền với nhau hơn bất cứ nơi nào. Jean-Loup Samaan : « Đây là một vấn đề cốt lõi đối với các quốc gia vùng Vịnh, bởi vì họ được xây dựng dựa trên ý tưởng đây là những ốc đảo đứng ngoài các cuộc xung đột dai dẳng ở Trung Đông, điều đã được chứng minh trong 20 năm qua. Những quốc gia này hầu như không bị tác động bởi chiến tranh Irak năm 2003 do Mỹ phát động. Căng thẳng với Iran cũng chưa bao giờ thực sự ảnh hưởng đến đời sống hằng ngày tại các nước dầu hỏa. Trong ba năm gần đây, dù có xung đột giữa Israel, Hamas hay Hezbollah, các nước vùng Vịnh vẫn đứng ngoài những biến động đó. Do vậy lần này thực sự là một cú sốc về mặt tâm lý, và sẽ rất khó để xóa nhòa rạn nứt này. Nguy hiểm ở đây là các nước vùng Vịnh cần lao động nước ngoài, cần vốn đầu tư quốc tế để phát triển. Chiến sự lần này làm dấy lên câu hỏi liệu rằng đầu tư lâu dài ở Dubai hay Doha có còn hợp lý nữa hay không ? Đây chắc chắn sẽ là một trong những trọng tâm chính phủ các nước vùng Vịnh sẽ phải thảo luận ». Cũng trong cuộc phỏng vấn dành cho RFI Tiếng Việt, chuyên gia về Trung Cận Đông, Đại Học Quốc Gia Singapore, ông Samaan cho rằng bất luận kết cục chiến tranh Iran ra sao, chiến lược của Hoa Kỳ về Iran vẫn là một bài toán nan giải : RFI : Một yếu tố quan trọng khác là Hoa Kỳ. Hiện tại và sau khi cuộc xung đột kết thúc, Washington vẫn là điểm tựa đáng tin cậy của các nước vùng Vịnh về mặt ngoại giao và an ninh ? Jean-Loup Samaan : « Hiện tại, điều quan trọng cần ghi nhận là sau một tháng xung đột, không có quốc gia nào trong số các nước vùng Vịnh công khai đặt vấn đề hay muốn xem xét lại các thỏa thuận quốc phòng hay sự hiện diện quân sự của Mỹ. Trong ngắn hạn, khả năng phòng thủ của các nước này trước các cuộc tấn công bằng tên lửa và drone Iran vẫn phụ thuộc rất lớn vào Hoa Kỳ. Họ không thể trông cậy vào châu Âu, Trung Quốc và lại càng không thể dựa vào Nga để thay thế vai trò của Mỹ. Vì vậy, về mặt an ninh, Washington vẫn là lựa chọn chính.  Tuy nhiên, điều chắc chắn là cuộc chiến này sẽ để lại vết hằn. Thực ra thì chiến sự lần này chỉ là một phần trong chuỗi các sự kiện trước đó đã khiến các nước trong vùng Vịnh thất vọng và bức xúc với Hoa Kỳ. Xu hướng đã xuất hiện từ thời chính quyền Obama. Các nước chung quanh Vịnh Ba Tư ngày càng xem Mỹ là đối tác không đáng tin cậy, thiếu ổn định và ít quan tâm đến khu vực. Hiện tại, bên cạnh những yếu tố đó, còn xuất hiện thêm một nhận thức mới : Các căn cứ quân sự Mỹ ở Trung Đông ( 2 tại Irak, 1 tại Ả Rập Xê Út, 1 tại Qatar, 1 tại Bahrain, 2 tại Koweit và 1 tại Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất) không hẳn là một lá bùa hộ mạng, giúp các nước này tránh được các vụ tấn công. Trái lại chính những căn cứ đó lại trở thành những mục tiêu Iran nhắm tới.  Trong tương lai, đây sẽ là một thách thức với các nước vùng Vịnh. Một số quốc gia có thể muốn duy trì quan hệ với Mỹ nhưng một cách kín đáo hơn, tức là hợp tác quân sự nhưng không đi kèm với sự hiện diện thường trực của các căn cứ quân sự trên lãnh thổ của họ. Trong mọi trường hợp, kết cục của xung đột lần này sẽ đặt nền tảng cho mối quan hệ trong tương lai giữa các nước trong vùng Vịnh với Hoa Kỳ ». Mắc kẹt giữa chiến tranh và hòa bình Tại Hoa Kỳ, tổng thống Trump vừa dọa « chỉ cần vài giờ cũng có thể hủy diệt Iran », vừa thông báo đàm phán mở lại eo biển Hormuz « có tiến triển tốt » như thể lãnh đạo Nhà Trắng đã mất kiên nhẫn và muốn chóng khép lại cuộc chiến này. Phía Iran thì lại tỏ ra không nóng vội, dù vẫn phải chịu hỏa lực của Israel và Mỹ hàng ngày.  Bằng mọi giá các quốc gia này muốn tránh một giải pháp vội vàng, một lệnh ngừng bắn Mỹ áp đặt để Washington có thể nhanh chóng rút lui. RFI : Kịch bản mà các nước trong  vùng Vịnh muốn tránh bằng mọi giá là « xung đột kết thúc mà không thực sự đem lại một lối thoát ». Đây sẽ là « mối nguy lớn » đối với các quốc gia lân cận với Iran. Nhưng trước mắt, liên quan đến chiến tranh Iran, các quốc gia vùng Vịnh bị lôi cuốn vào cuộc chiến này đang mong đợi gì ? Jean-Loup Samaan : « Tôi nghĩ rằng lập trường của các quốc gia vùng Vịnh khá phức tạp, bởi vì những nước này không hề ảo tưởng rằng có thể quay trở lại tình trạng như trước khi xảy ra xung đột. Tức là không thể quay lại với mối quan hệ tương đối ổn định với Iran. Thực tế là dù không mong muốn chiến tranh, họ vẫn phải hứng chịu những đợt tấn công chưa từng có từ phía Iran. Vì vậy, trong ngắn hạn, bằng mọi giá các quốc gia này muốn tránh một giải pháp vội vàng, một lệnh ngừng bắn mà Mỹ áp đặt để Washington có thể nhanh chóng rút lui. Ông Trump tuyên bố chiến thắng rồi phó mặc cho các nước trong vùng Vịnh một mình đối đầu với Iran.Tiềm năng quân sự của Cộng Hòa Hồi giáo có thể bị suy yếu nhưng vẫn tồn tại. Iran vẫn đủ khả năng tiếp tục phóng tên lửa và drone vào các quốc gia thù nghịch. Thậm chí, Iran còn đòi kiểm soát eo biển Hormuz, đòi thu lộ phí… Đây là kịch bản mà các quốc gia vùng Vịnh không thể chấp nhận. Điều các quốc gia Vịnh Ba Tư mong muốn là một kết quả quân sự rõ ràng, tức là Iran phải bị suy yếu đáng kể, để sau khi chiến tranh kết thúc, nguy cơ các cuộc tấn công tương tự không tái diễn. Chính vì vậy, hiện tại các nước trong vùng tránh gây áp lực buộc Hoa Kỳ phải nhanh chóng chấm dứt chiến tranh. Trước đây, một số quốc gia như Oman từng đóng vai trò tích cực trong việc làm trung gian hòa giải giữa Washington với Teheran vì không muốn xảy ra chiến tranh. Nhưng bây giờ họ phải chấp nhận hứng chịu các cuộc tấn công mỗi ngày và không có lựa chọn nào khác ». Hấp tấp khép lại một cuộc chiến mà không có những biện pháp bảo đảm an ninh và không có gì bảo đảm là tiềm năng quân sự của Iran đã bị khống chế chỉ mở ra một giai đoạn đầy bất trắc cho vùng Vịnh.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Khủng hoảng dầu lửa Trung Đông tạo thuận lợi cho Việt - Nga thúc đẩy hợp tác năng lượng

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Apr 6, 2026 9:33


Xung đột ở Trung Đông dẫn đến cuộc khủng hoảng dầu lửa toàn cầu cho thấy hạn chế tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Các kho dự trữ, nằm trong tay những đối tác tư nhân, chỉ có thể cung cấp dầu lửa đến hết tháng 04/2026. Nhiều chuyến bay nội địa bị cắt giảm vì thiếu xăng. Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn nhập khẩu dầu mỏ, do sản lượng trong nước sụt giảm vì các mỏ dầu ngoài khơi đang cạn dần sau thời gian dài khai thác. Trong khi đó, việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả. Cuộc khủng hoảng này cũng cho thấy Việt Nam cần thiết lập hệ thống dự trữ nhiên liệu chiến lược quốc gia, theo trang Nhân Dân. Ngày 29/03, thủ tướng Phạm Minh Chính đã tới khảo sát địa điểm dự kiến xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược tại Khu kinh tế Nghi Sơn. Song song với nhiệm vụ cấp bách đó, Hà Nội vẫn đang “làm việc với Iran để đề nghị tạo điều kiện, có biện pháp hỗ trợ bảo đảm cho tàu, lao động Việt Nam di chuyển an toàn qua eo biển Hormuz”, theo phát biểu của người phát ngôn bộ Ngoại Giao Phạm Thu Hằng trong buổi họp báo thường kỳ ngày 02/04. Ngoài ra, chính phủ cũng khẩn trương triển khai “ngoại giao xăng dầu” với nhiều nước. Ví dụ đề xuất với Tokyo để được tiếp cận kho dự trữ chiến lược của Nhật Bản, đề nghị Trung Quốc xuất khẩu một phần xăng máy bay. Gần đây, trong chuyến công du Matxcơva, thủ tướng Phạm Minh Chính cũng đề nghị được mua dầu của Nga, cũng như tăng cường hợp tác trong lĩnh vực điện hạt nhân, năng lượng tái tạo. Việc hợp tác với Nga, đang bị phương Tây trừng phạt vì gây chiến ở Ukraina, có thể sẽ được tiến hành như thế nào ? Nga sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc đa dạng hóa nguồn năng lượng của Việt Nam ? Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, tại khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston, Mỹ, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Trước tiên, anh có thể tóm lược mối quan hệ hợp tác năng lượng giữa hai nước Việt Nam và Nga, gần đây là cam kết hợp tác phát triển điện hạt nhân, được ký vào ngày 23/03/2026 nhân chuyến công du Matxcơva của thủ tướng Phạm Minh Chính ? Vì sao có thể hợp tác được trong lĩnh vực điện hạt nhân mà không lo các biện pháp trừng phạt của phương Tây ? Vũ Khang : Khi kể đến quan hệ hợp tác năng lượng Việt Nam và Nga, chúng ta không thể không nhắc đến Vietsovpetro. Xí nghiệp này được thành lập từ năm 1981 với mục đích là giúp Việt Nam tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía Nam. Cần phải nhắc lại 1981 là giai đoạn mà Việt Nam và Liên Xô là đồng minh quân sự của nhau theo Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ký vào năm 1978. Việt Nam đã tranh thủ mối quan hệ đó để phát triển và đảm bảo an ninh năng lượng của mình. Và kể cả sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, Việt Nam vẫn duy trì xí nghiệp liên doanh này với Nga và các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập SNG. Và chính nhờ có xí nghiệp liên doanh này mà từ con số 0, hiện giờ Việt Nam đang sở hữu hệ thống căn cứ dịch vụ dầu khí tổng hợp phục vụ cho các khâu, chuỗi hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ngoài khơi khá là toàn diện. Đây cũng là một cách mà Việt Nam bảo vệ và khẳng định chủ quyền của mình trên Biển Đông. Ngoài ra, hàng năm, liên doanh Vietsovpetro đóng vào ngân sách nhà nước và lợi nhuận cho Việt Nam khoảng 53 tỷ đô la. Đây là một khoản khá là lớn cho ngân sách của nhà nước Việt Nam nếu chúng ta tính GDP Việt Nam rơi vào khoảng 500 tỷ đô một năm. Đây là một nền tảng khá là vững chắc từ ngoại giao cho đến kỹ thuật để Việt Nam và Nga có thể tiến tới hợp tác ở các mảng khác trong hợp tác năng lượng. Đọc thêmViệt Nam và Nga “rửa tiền” mua vũ khí qua thỏa thuận dầu khí với VietSovPetro ? Nếu mà nói rộng hơn về thỏa thuận hợp tác về hạt nhân gần đây thì Nga, với tư cách là một trong năm nước được phép sở hữu vũ khí hạt nhân theo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân NPT, có thể giúp đỡ Việt Nam nghiên cứu và sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích dân sự theo như các điều khoản của Hiệp ước này. Kết quả chuyến thăm Nga của thủ tướng Phạm Minh Chính cho thấy hợp tác Việt - Nga sẽ không chỉ dừng lại ở phát triển năng lượng hạt nhân mà còn bao gồm cả năng lượng mới, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo với tầm nhìn hơn 100 năm.  RFI : Việt Nam đề nghị mua thêm dầu của Nga trong bối cảnh căng thẳng ở Trung Đông vì eo biển Hormuz bị Iran kiểm soát và phong tỏa. Liệu đây có phải là thời cơ tốt để mua dầu Nga mà không bị ảnh hưởng nhiều bởi các biện pháp trừng phạt của phương Tây đối với Nga ?  Vũ Khang : Để giảm thiểu tác động của việc đóng cửa vịnh Hormuz do chiến tranh Mỹ và Iran, Hoa Kỳ đã dỡ bỏ các lệnh trừng phạt mua dầu của Nga trong 30 ngày. Điều này sẽ tạo điều điều kiện thuận lợi để Việt Nam mua được dầu của Nga mà không bị trừng phạt. Tuy vậy, hạn chế của lệnh dỡ bỏ này là chỉ có dầu của Nga đã được chất lên các tàu chở dầu thì mới không bị trừng phạt. Cho nên Việt Nam sẽ phải tiếp tục theo dõi tình hình từ phía Mỹ, cũng như là chiến tranh Mỹ và Iran sẽ kết thúc như thế nào. Đọc thêmTăng cường hợp tác năng lượng : Mục tiêu chính chuyến công du Nga của thủ tướng Việt Nam Một điểm hạn chế nữa khi mua dầu từ Nga, đó là đường vận chuyển khá là dài so với mua từ Trung Đông. Việt Nam mới chỉ đảm bảo được cho cung ứng dầu từ giờ cho đến hết tháng 04, có thể nói sẽ vẫn còn rất khó để chắc chắn là Việt Nam sẽ giải quyết ra sao nguồn cung dầu kể từ tháng 05 trở đi. RFI : Tương tự như nhiều nước trên thế giới, dầu lửa là nhiên liệu thiết yếu cho sản xuất. Việt Nam cần dầu nhập khẩu như nào để phát triển sản xuất ?  Vũ Khang : Hiện nay, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 30% lượng xăng dầu, tương đương với 20 tỷ đô la mỗi năm, để đáp ứng các nhu cầu tiêu thụ trong nước. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần này chính là một phép thử cho khả năng chịu áp lực cho an ninh năng lượng của Việt Nam. Việt Nam, với khả năng của mình, đã tận dụng chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa để thứ nhất, giữ trung lập trong cuộc chiến Mỹ và Iran ; thứ hai, tìm nguồn cung ứng dầu thô từ Kuwait và Nhật Bản, cũng như với các chuỗi chính sách khác trong nước, ví dụ dỡ bỏ thuế đối với xăng dầu tiêu thụ cho đến hết tháng 06 để tránh cho kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng. Đọc thêmViệt Nam thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo để bảo đảm sản xuất và trung hòa khí thải Việt Nam cũng sẽ phát triển kho dự trữ xăng dầu quốc gia riêng biệt tại tỉnh Thanh Hóa khi mà dự trữ hiện nay từ các doanh nghiệp dầu hỏa đầu mối của Việt Nam mới chỉ đủ cho 7 đến 10 ngày tiêu thụ. Nếu nhìn rộng hơn, giá xăng dầu cao cũng sẽ có tác động lớn đến các mặt hàng, hoặc những chính sách kinh tế khác của Việt Nam, vì xăng dầu tăng cao thì sẽ đẩy mạnh lạm phát, cũng như là đẩy mạnh giá trị của đô la. Trong khi đó Việt Nam hiện vẫn phải mua dầu quốc tế bằng đồng đô la, tỷ giá đô la tăng vọt cũng sẽ khiến cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó khăn nhiều hơn nữa trong tương lai gần. RFI : Nhìn rộng hơn, Việt Nam cần phải phát triển, đa dạng hóa nguồn năng lượng như thế nào để bảo đảm cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và cho sản xuất ? Vũ Khang : Phát triển an ninh năng lượng là vấn đề sống còn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam phải cân bằng giữa hai mục tiêu : vừa tăng trưởng GDP và vừa phải giảm khí thải carbon. Theo dữ liệu hiện nay, điện than đang chiếm tỷ trọng trên 33%, thủy điện 28%, năng lượng tái tạo - bao gồm năng lượng Mặt trời và năng lượng gió - khoảng 27%. Do Việt Nam phải dần dần từ bỏ điện than từ nay cho đến năm 2050 theo cam kết tại COP 26, nên Việt Nam bắt buộc phải tìm được nguồn cung thay thế đến từ thủy điện, năng lượng tái tạo và điện hạt nhân. Nếu chúng ta nhìn kỹ hơn, thủy điện Việt Nam lại đang chịu tác động rất là lớn từ môi trường khi mà hạn hán có thể làm chậm nguồn cung cho lưới điện. Năng lượng tái tạo, như là năng lượng Mặt trời hay là năng lượng gió, vẫn chưa đủ bảo đảm ổn định cho lưới điện quốc gia, do hai nguồn năng lượng này cũng phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Đọc thêmViệt Nam sẽ có nhà máy điện hạt nhân đầu tiên vào năm 2030: Liệu có khả thi? Trong bối cảnh đó, điện hạt nhân lại là một nguồn năng lượng đáp ứng được yêu cầu ổn định và đây là một nguồn năng lượng sạch. Nhưng một điểm trừ rất lớn của điện hạt nhân, đó là chi phí đầu tư ban đầu và thời gian để bắt đầu vận hành có thể lên đến một thập kỷ hoặc hơn thế nữa. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng và sản xuất điện hiện nay là 12 đến 15% mỗi năm để đáp ứng được cho mục tiêu phát triển GDP. Theo dự tính đến năm 2030, Việt Nam sẽ cần gấp đôi công suất điện so với hiện nay và đến năm 2050, Việt Nam sẽ cần gấp năm lần công suất điện so với hiện nay. Với quan điểm về an ninh quốc gia, Việt Nam có thể mua điện từ Lào hay là Trung Quốc nhưng do các nghi kỵ về chính trị với láng giềng phương Bắc, về tương lai dài hạn, đây không phải là một điều quá khả thi. Do nhìn chung Việt Nam không muốn phụ thuộc về năng lượng hay an ninh điện vào nước ngoài. Điều này đòi hỏi Việt Nam sẽ phải nhanh chóng đầu tư vào nhân lực, cũng như là cơ sở vật chất để phát triển điện hạt nhân, cũng như năng lượng tái tạo ngay từ bây giờ. Nhìn chung hơn, tự chủ năng lượng sẽ giúp cho Việt Nam duy trì tự chủ về mặt ngoại giao và tránh việc bị cuốn vào xung đột giữa các nước lớn, cũng như bảo đảm được an ninh năng lượng trong trường hợp chiến tranh xảy ra. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, Khoa Chính trị học tại Trường Đại học Boston (Boston College), Hoa Kỳ.

TẠP CHÍ XÃ HỘI
9000 tỷ euro thừa kế : Khi một thế hệ người Pháp không cần làm mà vẫn có ăn

TẠP CHÍ XÃ HỘI

Play Episode Listen Later Apr 1, 2026 9:24


Chín nghìn tỷ euro, một con số khổng lồ theo báo cáo của Viện nghiên cứu Jean Jaurès, sẽ sớm được “rót” vào túi của một bộ phận người Pháp từ nay cho tới năm 2040, nhờ vào sự lao động cần cù và chăm chỉ tích lũy … của ông bà, cha mẹ họ, những người sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân số sau Đệ Nhị Thế Chiến.  Chẳng có gì sai trái khi thế hệ đi trước muốn để lại tiền bạc hay bất động sản cho con cái của họ khi qua đời. Tuy nhiên phải chăng khi làm vậy, họ cũng đang để lại sau lưng sự bất công cho xã hội và cả nỗi bất an cho nền kinh tế?   Lịch sử quyền thừa kế  Thực tế thì việc để con cái thừa kế tài sản của cha mẹ đã được hệ thống hóa và đưa vào luật pháp ở châu Âu ngay từ thời La Mã cổ đại. Trải qua thời gian và những biến động của lịch sử, luật thừa kế ở Lục địa già đã không ngừng thay đổi. Để tìm hiểu kỹ hơn về lịch sử của quyền thừa kế ở châu Âu, mời quý vị cùng lắng nghe giải thích của đài FranceInter :  “Người La Mã là những người đã hệ thống hóa khái niệm thừa kế, với một bên là thừa kế theo pháp luật và bên kia là thừa kế theo di chúc. Người cha trong gia đình, pater familias, có quyền quyết định ai sẽ được thừa hưởng cái gì. Nhưng không được phép tước quyền thừa kế của các hậu duệ trực tiếp của mình. Vào thời Trung Cổ, luật thừa kế được hệ thống hóa ở phía người Đức. Không có gì ngạc nhiên khi điều này có lợi cho nam giới. Nguyên tắc rất đơn giản là tài sản phải được chia một cách hoàn toàn bình đẳng giữa những người con trai. Và rồi, dĩ nhiên, Giáo hội đã can thiệp vào vấn đề này. Họ khuyến khích các tín đồ của mình để lại tài sản cho những người nghèo khổ và tất nhiên là cho cả Giáo hội! Trong hệ thống phong kiến, việc thừa kế cũng là câu chuyện của con trai và cụ thể là con trai trưởng.  Nhờ Cách mạng Pháp, các đặc quyền phong kiến đã bị xóa bỏ và cuối cùng người ta đã đưa vào các nguyên tắc bình đẳng. Quyền trưởng nam đã bị bãi bỏ vào năm 1792. Chính trong thời kỳ Cách mạng cũng xuất hiện loại thuế đầu tiên đối với việc chuyển giao tài sản theo hàng thừa kế trực tiếp — chỉ 1%. Con số tuy không lớn, nhưng đã đánh dấu một bước khởi đầu. Và rồi vào năm 1804, Bộ luật Dân sự đã hệ thống hóa và thiết lập các quy tắc thừa kế vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, ví dụ như phần di sản tối thiểu dành cho các hậu duệ trực tiếp.” Bất công cho xã hội  Từ nay tới năm 2040, thế hệ sinh ra trong thời kỳ baby-boom hậu Chiến tranh thế giới thứ hai sẽ sớm qua đời và để lại tài sản cho con cháu. Tuy nhiên, cuộc chuyển giao của cải có thể coi là tất yếu này lại có thể để lại không ít hệ quả cho xã hội. Và hệ quả đầu tiên, trực tiếp nhất và dễ thấy nhất là nới rộng sự bất bình đẳng trong xã hội. Tại Pháp hiện nay, tài sản thừa kế chiếm tới 60% tổng tài sản quốc gia, trong khi mà vào đầu những năm 1970, tỷ lệ này chỉ là 35%. Điều này gây ra một sự bất bình đẳng kép. Trước hết là giữa các thế hệ, vì ngày nay trung bình người ta nhận thừa kế ở tuổi 51, trong khi vào những năm 1980 là 42 tuổi. Do vậy, những người cần các khoản vốn ban đầu nhất để mua nhà hay chuẩn bị cho một dự án khởi nghiệp, thì lại chưa thể tiếp cận với tài sản của cha mẹ. Trong khi đó, những người trung niên, vốn thường đã có sẵn các khoản tích lũy nhất định, lại nhận được khoản thừa kế.   Tới đây nhiều người sẽ tự hỏi vậy tại sao không trao tài sản cho con cái sớm hơn. Cần phân biệt rõ giữa thừa kế và cho tặng tài sản. Dù đều là hai hình thức cha mẹ để lại tài sản cho con cái, nhưng thừa kế là khi thế hệ trước đã qua đời, trong khi cho tặng là khi cha mẹ vẫn còn sống. Tại Pháp, luật pháp quy định cụ thể về quy trình cũng như các khoản thuế dành cho hai hình thức này. Khác với các nền văn hóa phương Đông, nơi cha mẹ có xu hướng đầu tư nhiều cho con cái để giúp đỡ chúng lập nghiệp, các bậc phụ huynh phương Tây lại có xu hướng chuyển giao tài sản khi họ qua đời, một phần vì muốn con cái độc lập, phần khác vì sợ thiếu an toàn tài chính.  Vẫn theo số liệu năm 2025 của Insee, 65% các bậc cha mẹ thực hiện việc trao tặng tài sản khi họ đã trên 70 tuổi, và 85% trong số họ đã bước vào tuổi nghỉ hưu. Về phía người nhận, 80% trong số họ đã ngoài 40 tuổi khi được cha mẹ cho tặng tài sản. Chỉ có 5% có người được nhận tiền từ cha mẹ khi họ dưới 30 tuổi. Thứ hai là sự bất bình đẳng giữa các tầng lớp xã hội. Một nửa dân số Pháp được thừa kế rất ít hoặc không được thừa kế gì, trong khi 10% người thừa kế giàu nhất nhận được hơn 50% tổng số tài sản thừa kế. Trả lời tờ Le Monde, bà Mélanie Plouviez, giảng viên cao cấp về triết học xã hội và chính trị tại Đại học Côte d'Azur, cho biết điều này tạo nên một trật tự xã hội trong đó những khối tài sản lớn nhất được dành riêng cho những cá nhân sinh ra trong các gia đình giàu có. Những người khác, nhờ nỗ lực, năng lực hoặc bằng cấp của mình, có thể đạt được mức thu nhập cao, nhưng không thể đạt tới những vị trí tài sản cao nhất. Tệ hơn nữa, những người đặc quyền thuộc nhóm 0,1% giàu nhất nhận trung bình 13 triệu euro tiền thừa kế. Lẽ ra họ phải bị đánh thuế theo mức thuế suất 45% (mức thuế áp dụng cho phần tài sản trên 1,8 triệu euro) thì lại có thể tận dụng nhiều kẽ hở thuế và các khoản miễn giảm. Và thế là trên thực tế họ chỉ phải nộp trung bình khoảng 10% thuế thừa kế, theo như báo cáo của tổ chức phi chính phủ Oxfam công bố tháng 09/2024. Vì vậy tổng giám đốc tổ chức này, Cécile Duflot, đã đưa ra một nhận xét đầy châm biếm rằng ở Pháp, cách chắc chắn nhất để trở thành tỷ phú là “trúng xổ số tinh trùng” (lotterie de la sperme)! Thực tế, 7 trên tổng số 9 người Pháp trở thành tỷ phú vào năm 2024 là những người thừa kế, và một phần tư số tỷ phú Pháp xuất thân từ các gia đình Dassault, Besnier (tập đoàn Lactalis) hoặc Saadé (tập đoàn CMA CGM). Bất an cho nền kinh tế  Không chỉ làm gia tăng sự bất bình đẳng trong xã hội, xu hướng này còn gây ra nhiều hệ luỵ cho nền kinh tế. Giới chuyên gia lo ngại rằng việc được hưởng thừa kế sẽ làm mai một tinh thần lao động và khởi nghiệp, nền tảng của chủ nghĩa tư bản.  Trả lời tuần báo Le Point, ông Thierry Aimar, giảng viên kinh tế tại Đại học Khoa học Chính trị Paris, nhận định rằng “một xã hội càng có nhiều người thừa kế thì lao động càng ít được coi trọng. Khi đó, việc duy trì các mối quan hệ hoặc sống nhờ lợi tức gia đình trở nên có lợi hơn so với việc làm giàu bằng chính nỗ lực của bản thân. Hậu quả rất tai hại, năng suất giảm, các thế hệ trẻ tin rằng lao động không mang lại thành quả.” Hơn nữa, với việc tuổi thọ ngày càng tăng, tài sản thừa kế ngày càng tập trung vào tay người cao tuổi. Theo số liệu của Viện Thống kê và Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Pháp (Insee), cứ mười người được nhận thừa kế thì có sáu người trên 60 tuổi. Ở độ tuổi này, người ta có xu hướng tích trữ hơn là khởi nghiệp hoặc đầu tư vốn vào các quỹ đầu tư để giúp doanh nghiệp phát triển. Trong độ tuổi từ 60 đến 69, tỷ lệ tiết kiệm trung bình là 18%, so với dưới 10% trước 40 tuổi. Và theo một nghiên cứu gần đây của ngân hàng đầu tư công Bpifrance, những người trên 50 tuổi chiếm 28% lực lượng lao động nhưng chỉ chiếm 20% số người sáng lập doanh nghiệp. Bất đồng trong dư luận  Đứng trước những vấn đề này, giới chức Pháp đã nghĩ đến nhiều giải pháp, đặc biệt là việc tăng thuế đánh vào tài sản thừa kế. Hiện nay con cái ở Pháp được miễn thuế nếu cha mẹ để lại tiền thừa kế dưới 100.000 euro. Phần tiền vượt quá 100.000 euro thì mới bị đánh thuế, và số tiền càng lớn thì thuế càng cao, dao động từ 5% đến 45%. So với mặt bằng chung châu Âu, Pháp đánh thuế thừa kế khá nặng, cao hơn Đức, Ý, trong khi Thụy Điển thậm chí đã bỏ loại thuế này. Hiện nay, các nghị sĩ Pháp đang tính đến việc tăng thuế thừa kế. Tuy nhiên, kế hoạch này gây ra nhiều chia rẽ trong xã hội Pháp. RFI Việt ngữ đã phỏng vấn một số người Pháp để hiểu hơn về quan điểm của họ. Ông Nicolas, 58 tuổi, đã có hai người con và ông cũng có ý định sẽ để lại tài sản cho các con mình. Khi được hỏi ông nghĩ gì về việc tăng thuế thừa kế, ông trả lời :  “Thật sự tôi tự hỏi là làm việc để làm gì khi mà Nhà nước lại cứ tăng thuế thừa kế của bạn, trong khi con cái bạn chẳng được hưởng gì cả? Điều đó khiến người ta chẳng còn hứng thú làm việc nữa. Hơn nữa tôi cũng thấy những người ủng hộ ý tưởng này có phần hơi giả tạo. Bởi nếu chính họ ở vào vị trí của các bậc cha mẹ bị đánh thuế thừa kế, chắc chắn họ sẽ không bao giờ chấp nhận. Thực tế thì, đánh thuế thừa kế để phân phối tài sản cho người nghèo đồng nghĩa với việc các bậc cha mẹ phải làm việc để làm giàu cho những gia đình khác. Nhưng những gia đình này, khi không còn động lực tự vươn lên bằng chính khả năng của mình, rất có thể sẽ chỉ đứng nhìn, chờ Nhà nước giúp họ thông qua các khoản thuế đánh vào người giàu. Và rồi sao? Những người giàu sẽ tự hỏi: “Ở lại đây làm gì nữa?” Bạn làm việc, bạn thành công, bạn kiếm tiền… và rồi, mọi thứ đều bị đánh thuế. Thật sự, chính sách này chẳng khuyến khích ai nỗ lực cả. Thậm chí nó còn đẩy người giàu ra khỏi đất nước.”  Vẫn cùng câu hỏi về việc tăng thuế thừa kế, anh Stéphane, 32 tuổi, lại đưa ra quan điểm có phần dung hòa hơn. Anh trả lời : “Theo tôi thì tôi vừa đồng ý lại vừa phản đối. Tôi đồng ý vì việc tăng thuế thừa kế cho phép phân phối của cải một cách công bằng hơn. Người được hưởng thừa kế không tham gia vào việc tạo ra giá trị; tiền bạc đến với họ một cách dễ dàng, vì vậy việc phân phối lại một phần cho những người không may mắn là công bằng hơn.  Nhưng mặt khác, tài sản trong gia đình thuộc về gia đình đó. Và nhà nước biết rõ rằng thế hệ bùng nổ dân số, những người đã trải qua nhiều năm tăng trưởng mạnh mẽ sau chiến tranh, sẽ qua đời. Vì vậy, việc tăng thuế vào thời điểm này nghe có vẻ hấp dẫn, nhưng hơi mang tính cơ hội. Tôi nghĩ rằng việc tăng thuế nên tùy thuộc vào loại tài sản. Thuế trên bất động sản nên giữ ở mức hiện tại, nhưng các giao dịch chuyển nhượng doanh nghiệp trên một quy mô nhất định nên bị đánh thuế nặng hơn, chẳng hạn thế. Tuy nhiên như thế thì nó sẽ tạo ra những phép tính phức tạp hơn nữa.”  Theo nghiên cứu của Viện Insee, 85% người Pháp nhận được dưới 100.000 euro khi cha mẹ họ qua đời, tức là họ sẽ không phải lo lắng gì về thuế thừa kế. Tuy nhiên, phần lớn trong số họ vẫn phản đối việc Nhà nước trưng thu loại thuế này. Theo khảo sát của công ty đầu tư Yomoni, 82% số người được hỏi cho rằng việc đánh thuế vào tài sản thừa kế là bất hợp pháp và 83% cho rằng cần phải giảm loại thuế này. Ý tưởng tăng thuế thừa kế của chính phủ có lẽ sẽ còn vấp phải nhiều phản đối hơn nữa từ phía người dân.

TẠP CHÍ KINH TẾ
Vận tải đường biển : Đóng cửa eo biển Hormuz, một tiền lệ nguy hiểm

TẠP CHÍ KINH TẾ

Play Episode Listen Later Mar 31, 2026 10:05


Iran đóng cửa eo biển Hormuz đang tạo ra một tiền lệ nguy hiểm đối với giao thương toàn cầu, đối với ngành vận tải đường biển. Vì chiến sự ở Trung Đông, giá nhiên liệu cho một chuyến tàu chở hàng từ châu Á sang châu Âu tăng gấp đôi, cước phí vận chuyển tăng 11 %. Các hãng bảo hiểm từ chối chịu trách nhiệm đối với những tàu thuyền lui tới « vùng chiến sự này ». Đối với ngành vận tải đường biển, bảo đảm an toàn cho thủy thủ đoàn là những khó khăn khác mà vế địa chính trị đang đặt ra cho các chủ tàu. Nhìn xa hơn, mối nguy hiểm chính là việc Teheran đe dọa đòi « thu lệ phí » ở Hormuz có thể trở thành một « tiền lệ » đối với những vùng biển quốc tế khác trên thế giới. Định vị GPS hàng hải hôm 10/03/2026 cho thấy, 460 tàu chở dầu, 67 tàu chở khí hóa lỏng và 367 tàu chở hàng bị kẹt ở eo biển Hormuz. Trong ngày đầu tiên khi Iran bị tấn công (hôm 28/02), số tàu hiện diện trong vùng giảm 80 % so với cùng thời kỳ một tháng trước đó. Trên bản đồ vận tải hàng hóa toàn cầu, eo biển Hormuz nơi chỉ có khoảng 2% lưu lượng vận chuyển container đi qua, nhưng hành lang hẹp này như thể đang trở thành « cái rốn » của thế giới. Hormuz ám ảnh tổng thống Mỹ đến nỗi một ngày ông đổi ý hai lần với Iran, chỉ vì tuyến đường biển này từ khi bị đóng cửa đã làm tăng giá xăng dầu ở Hoa Kỳ, dẫn tới nguy cơ lạm phát. Bên ngoài nước Mỹ, eo biển Hormuz bị phong tỏa làm xáo trộn chuỗi hậu cần toàn cầu, ngành vận tải biển thất thu 340 triệu đô la mỗi ngày từ hôm 28/02/2026, thời hạn hàng được giao đến tay người mua bị kéo dài và các tập đoàn vận tải tìm kiếm những giải pháp thay thế … Tình hình thêm phức tạp khi Hormuz vẫn chưa được khai thông thì đến lượt eo biển thứ nhì trong khu vực Bab el-Mandeb ở vịnh Aden, nối châu Á với Hồng Hải, có nguy cơ bị lực lượng nổi dậy Houthi ở Yemen, cánh tay nối dài của Iran, phong tỏa. Yếu tố địa chính trị ngày càng thách thức các tập đoàn vận tải đường biển vốn là cột sống của cả hệ thống mâu dịch toàn cầu. Mời quý vị theo dõi phần phân tích của giám đốc Học Viện Kinh Tế Hàng Hải ISEMAR Paul Tourret trong cuộc phỏng vấn dành cho RFI Tiếng Việt. Học Viện ISEMAR trụ sở tại Saint Nazaire, miền tây bắc nước Pháp, được thành lập từ năm 1997, nghiên cứu các lĩnh vực vận tải biển, thương mại đường  biển, các hoạt động khai thác hải cảng và ngành công nghiệp đóng tàu. An toàn cho các tàu chở hàng  RFI : Xin kính chào ông Paul Tourret, cảm ơn ông nhận lời mời tham gia chương trình hôm nay. Thưa ông, về an toàn hàng hải, vì sao xung đột ở Trung Đông lần này là bước ngoặt lớn đối với giao thương hàng hải và cũng là một thách thức đối với các tập đoàn vận tải đường biển ? Paul Tourret : « Trong lịch sử, chúng ta đã từng thấy vận tải đường biển bị các cuộc xung đột khuấy nhiễu, do các bên liên quan nhắm vào các đội tàu thương mại của đối phương, bởi vì đấy là một phần các hoạt độnt kinh tế, thương mại mà phía bên kia khai thác để nuôi dưỡng chiến tranh. Cuối 2024, đã có một sự thay đối lớn khi lực lượng phiến quân Houthi ở Hồng Hải tấn công tàu bè của phương Tây, nhiều công ty vận tải đường biển đã phải đổi lộ trình. Các tàu chở hàng nối liền châu Âu với châu Á đã phải đi vòng qua châu Phi. Nhưng xung đột hiện nay tại Trung Đông là lần đầu tiên một tuyến hàng hải huyết mạch bị phong tỏa và Iran không chỉ nhắm vào các lợi ích của đối phương - ở đây là lợi ích của Mỹ và Israel, mà còn bắt tất cả các quốc gia không liên quan, phải trả giá. Đóng cửa eo biển Hormuz ảnh hưởng đến các nước xuất khẩu dầu khí, đến các đối tác châu Á cần nhập khẩu năng lượng từ Vùng Vịnh, tác hại luôn cả đến mọi hoạt động xuất nhập khẩu trên thế giới, ảnh hưởng đến ngành vận tải đường biển, làm đảo lộn đời sống của các thủy thủ trên tàu … » Chính trị và vận tải đường biển RFI : Yếu tố địa chính trị chi phối các hoạt động giao thương, nhất là giao thương hàng hải khi biết rằng đây là phương tiện bảo đảm hơn 80 % các dịch vụ xuất nhập khẩu toàn cầu. Vậy đâu là thách thức đối với các hãng vận tại đường biển, các chủ tàu và giới trong ngành phải thích nghi với tình hình mới này như thế nào ? Paul Tourret : « Trong hai mươi năm qua, thế giới càng lúc càng xóa nhòa các đường biên giới, chúng ta sống trong một môi trường toàn cầu hóa, nghĩa là các luồng trao đổi hàng hóa được phát triển mạnh ở khắp mọi nơi. Hàng hóa, năng lượng, khoáng sản, nguyên liệu, nông phẩm … càng lúc càng được chuyển từ châu lục này sang châu lục khác bằng đường biển … Cùng lúc toàn cảnh địa chính trị càng lúc càng phức tạp. Chiến tranh Iran là cuộc xung đột lớn thứ ba đang diễn ra trên thế giới bên cạnh chiến sự tại Ukraina, xung đột tại Gaza. Các cuộc chiến này đều cho thấy rõ yếu tố địa chính trị có thể làm gián đoạn các luồng trao đổi mậu dịch. Điều này thực sự đang đặt ra rất nhiều vấn đề cho giao thương quốc tế, cho ngành vận tải đường biển. Đặc biệt là khi mà eo biển Hormuz bị đóng cửa, bởi đây là cửa ngõ 2 chiều đưa hàng từ Vịnh Ba Tư đến với thế giới bên ngoài và hàng của thế giới xuất khẩu sang các nước vùng Vịnh. Đông Á chịu áp lực hơn cả bởi vì vừa là khách hàng nhập nhiều dầu khí của Trung Đông, vừa xuất khẩu hàng công nghiệp cho khu vực này. Ngoài ra cũng vì eo biển Hormuz bị đóng cửa mà trong tương lai, hàng xuất khẩu từ Trung Quốc hay Việt Nam, Thái Lan … cũng đều bị ảnh hưởng. Chúng ta không có nhiều phương án thay thế, vì vậy mà ngành vận tải đường biển phần nào bị đóng băng, chờ đợi một giải pháp chính trị. Đây là một tình huống khá đặc biệt ». RFI : Vì chiến tranh Trung Đông, các phí tổn tài chính của các tập đoàn vận tải đường biển đương nhiên tăng lên nhiều, nhưng ngoài ra, họ có thể làm những gì để tăng cường an ninh và mức độ an toàn cho mỗi chuyến tàu, cho các thuyền viên ? Paul Tourret : « Đối với các chủ tàu trên toàn thế giới – ngoại trừ tàu thuyền đang bị kẹt ở Vùng Vịnh Ba Tư, hiện nay giá nhiên liệu đã bị đẩy lên cao. Loại dầu (VLSFO) mà các hãng tàu phải sử dụng, giá đã tăng rất mạnh và tác động đã được thấy rất rõ : Chi phí vận tải đường biển tăng lên trong ngắn hạn. Nếu xung đột kéo dài, chi phí nhiên liệu cho một container vận chuyển giữa châu Á và châu Âu có thể đang từ 100 tăng lên thành 200 đô la cho mỗi chuyến. Đây là một khoản chi tiêu phụ trội rất nặng gánh nhưng họ không thể đùn đẩy toàn bộ lên khách hàng. Không thể nói rằng, chi phí chở một container hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang châu Âu sẽ tăng giá gấp đôi hay hơn thế nữa chỉ vì giá nhiên liệu tăng. Nhưng rõ ràng đây là một yếu tố có thể gây ra lạm phát. Cũng cần lưu ý rằng đây là một cuộc xung đột mang tính tạm thời. Vịnh Ba Tư sẽ không bị đóng cửa trong nhiều năm. Hiện tại thì giá dầu tăng 30 % trên thị trường quốc tế và chưa tăng lên gấp 4 lần như trong các cuộc khủng hoảng trước đây. Một khi chấm dứt chiến tranh, có thể là trong vài ngày, vài tháng hoặc nửa năm, tình hình sẽ trở lại bình thường. Nhưng trong ngắn hạn, rõ ràng đã có chi phí phát sinh do dầu mỏ và các vấn đề về nguồn cung. Điều này gây khó khăn không chỉ cho kinh tế hàng hải mà còn cho toàn bộ nền kinh tế toàn cầu ». RFI : Vâng với điều kiện là các giếng dầu, các cơ sở năng lượng trong khu vực không bị thiệt hại quá lớn. Ngoài ra, Iran tuyên bố muốn thu lệ phí mỗi khi tàu thuyền quốc tế đi qua eo biển Hormuz. Thưa ông giám đốc Học Viện Kinh tế Hàng Hải Paul Tourret, ông đánh giá thế nào về tính khả thi của tham vọng này ? Paul Tourret : « Iran thực ra đang chơi một ván cờ lớn, dùng chiêu bài này để gây sức ép với Hoa Kỳ và thậm chí là với phần còn lại của thế giới. Teheran cho phép tàu thuyền đi qua, miễn phí hoặc có thu phí (người ta nói khoảng 2 triệu đô), đối với các tàu hàng của những quốc gia không thù địch, thậm chí có quan hệ gần gũi với Iran, như là tàu của Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc. Rồi gần đây là tàu của Malaysia, Thái Lan... Do vậy, vì nhu cầu kinh tế cấp thiết, một số quốc gia chấp nhận nộp cho Iran, một dạng ‘tiền mãi lộ', để có thể đi qua eo biển Hormuz.   Tuy nhiên, sẽ rất khó để hoàn toàn kiểm soát eo biển Hormuz, bởi vì theo luật biển của Liên Hiệp Quốc - công ước Montego năm 1982 về quyền tự do đi lại, không ai có thể đóng cửa một eo biển quốc tế. Ngay cả Thổ Nhĩ Kỳ, dù kiểm soát một eo biển còn lớn hơn cả Hormuz, cũng không thể đóng hoàn toàn. Vì vậy, về mặt pháp lý, lập trường của Iran là không hợp pháp, cho dù, ở một mức độ nào đó, bản thân cuộc chiến hiện nay mà Mỹ và Israel tiến hành mang tính không hợp pháp. Eo biển Hormuz cũng không phải là một công trình xây dựng như các kênh đào, nên Iran cũng không thể quản lý. Ngoài ra thì các tập đoàn bảo hiểm hàng hải cũng gây sức ép rất lớn đòi các tàu thuyền tránh xa những vùng khói lửa. Cho nên hiện chỉ có rất ít tàu chở hàng chịu hay được phép trả lệ phí cho Iran. Thực ra trả lệ phí cũng không là một giải pháp quá tệ bởi vì một số quốc gia như Indonesia và ngay cả Việt Nam muốn duy trì nguồn cung nhiên liệu nhất định, phần nào giúp giảm căng thẳng trước mắt, nhưng không giải quyết được vấn đề cốt lõi. Sau cùng giảm nhẹ các biện pháp phong tỏa eo biển Hormuz cũng là một quyết định cho phép Iran giảm bớt tác động của khủng hoảng hiện tại…». Từ eo biển Hormuz đến Malacca RFI :  Paul Tourret, xin một câu hỏi chót : Việc thu lệ phí ở eo biển Hormuz - dù mới chỉ là một đe dọa còn mơ hồ và như vừa nói, không thể kiểm soát hoàn toàn eo biển này, nhưng liệu tuyên bố của Teheran có tạo ra một tiền lệ nguy hiểm, tại những eo biển còn mang tính « chiến lược hơn » nữa ? Chẳng hạn như biển Malacca.   Paul Tourret : « Nguyên tắc cơ bản quyền tự do giao thương trên biển và các vùng biển quốc tế không thuộc chủ quyền của quốc gia nào, tàu thuyền phải được tự do di chuyển. Ngay cả ở bên trong hải phận của một quốc gia thì cũng vẫn tồn tại quyền ‘đi qua vô hại'. Nhờ đó, các eo biển như Malacca (giữa Indonesia, Malaysia và Singapore) luôn mở cho tàu thương mại đi lại tự do. Các quốc gia ven biển không có quyền kiểm soát hay cản trở dòng thương mại. Nếu Iran áp đặt kiểm soát như vậy, đó sẽ là một dạng kiểm soát trên thực tế, thậm chí có thể xem như một hình thức  « thu thuế bảo kê » đối với vận tải biển. Điều này chưa từng xảy ra và sẽ tạo ra một tiền lệ nguy hiểm. Tuy nhiên, nhiều khả năng Iran đang sử dụng điều này như một công cụ để gây sức ép đối với Mỹ, chứ không phải là một giải pháp lâu dài. Dù vậy, vấn đề này đặt ra một câu hỏi rất lớn về luật biển quốc tế : Trước mắt là eo biển Hormuz, nhưng liệu tình trạng tê liệt này một ngày nào đó có thể xảy ra tại các địa điểm chiến lược khác hay không ? Trong một số khu vực, điều này có thể xảy ra. Chẳng hạn ở Hồng Hải, eo biển Bab el-Mandeb, tình hình vốn đã rất phức tạp. Còn ở Đông Nam Á, eo biển Malacca hiện tại nguy cơ chưa lớn vì khu vực giữa Indonesia, Malaysia và Singapore vẫn rất ổn định. Nhưng trong trường hợp xảy ra căng thẳng giữa Trung Quốc và các nước láng giềng như Việt Nam, Malaysia hay Philippines, thì hoàn toàn có thể xuất hiện tình huống một quốc gia tìm cách kiểm soát tuyến hàng hải thương mại. Đây sẽ là một điều hoàn toàn mới kể từ sau Đệ nhị Thế chiến. Và nếu chẳng may kịch bản này xảy ra, đó sẽ là một xu hướng địa chính trị mới : Các quốc gia ven biển tìm cách kiểm soát không gian hàng hải của mình. Đối với khu vực Đông Nam Á, điều này sẽ là một vấn đề rất nghiêm trọng khi mà các bên cho rằng họ có quyền hành xử tùy ý trong vùng biển của mình ». RFI Việt ngữ xin chân thành cảm ơn Paul Tourret, giám đốc Học Viện Kinh Tế Hàng Hải ISEMAR. 

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Chiến tranh Trung Đông làm xáo trộn du lịch Việt Nam

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Mar 23, 2026 9:32


Như mọi năm, Hội chợ Du lịch Thế giới vừa diễn ra tại Paris từ 12/03 đến ngày 15/03/2026, đúng vào lúc chiến tranh giữa Mỹ, Israel với Iran vẫn còn rất ác liệt, không biết bao giờ mới kết thúc. Chiến sự Trung Đông đang gây xáo trộn cho du lịch thế giới nói chung và du lịch Việt Nam nói riêng.  Bình thường Hội chợ thu hút rất đông đảo khách, đa số là người dân vùng Paris, đến đây để tìm hiểu thông tin cho các chuyến du lịch sắp tới, nhất là cho mùa hè. Tại Hội chợ Du lịch 2026, châu Á chiếm một khu rất lớn, quy tụ những quốc gia vốn là các điểm đến ưa thích của khách Pháp: Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan và nhất là Việt Nam. Năm nay tại Hội chợ có hai công ty Việt Nam đến quảng bá cho du lịch Việt Nam đó là Qasia Travel và Vietnam Original Travel, cả hai đều chuyên tổ chức các tour du lịch cho khách từ những nước sử dụng Pháp ngữ, nhất là Pháp. Du lịch Việt Nam có thể nói là đang trên đà khởi sắc trở lại và năm ngoái đã thu hút một lượng du khách quốc tế kỷ lục, lên tới hơn 21 triệu người. Năm nay, trên nguyên tắc du lịch Việt Nam có thể vượt qua kỷ lục đó, vì chỉ trong hai tháng đầu năm 2026 đã có gần 4,7 triệu du khách đến Việt Nam, tăng khoảng 18% so với cùng kỳ năm ngoái.  Trả lời RFI Việt ngữ tại Hội chợ, anh Thân Mạnh Đức, chủ tịch và cũng là người sáng lập công ty Vietnam Original Travel, cho biết khách quốc tế, nhất là khách Pháp, đến Việt Nam ngày càng nhiều, một phần cũng chính là nhờ sự quảng bá tích cực của các công ty tư nhân: “Việt Nam làm truyền thông tương đối tốt, nhưng không phải là Tổng cục Du lịch làm truyền thông, thực tế là trong các hội chợ du lịch thì không thấy nhà nước tham gia. Tham gia hội chợ như ở Anh và ở Đức, hầu như các công ty tư nhân làm truyền thông tương đối là mạnh. Thế nên là du lịch Việt Nam rất phát triển, lượng khách quan tâm nhiều và thực tế là số khách đi du lịch Việt Nam tăng rất nhiều những năm vừa qua.  Ngoài việc làm truyền thông tốt, Việt Nam cũng là một điểm đến rất an toàn, đẹp và cũng không đắt. Đấy là những lý do mà khách đến Việt Nam ngày càng nhiều.  Riêng đối với khách Pháp thì những điều gì thu hút họ đến Việt Nam nhất? Khách Pháp thì quan tâm nhiều đến lịch sử văn hóa và con người, bởi vì Việt Nam là một nước mà họ đã từng đô hộ và có rất nhiều những vết tích mà họ để lại. Hơn nữa khi đến Việt Nam họ rất thích phong cảnh, con người và văn hóa Việt Nam.”  Theo một nghiên cứu của Protourisme, trước chiến tranh Trung Đông, 62% người dân Pháp dự định đi nghỉ trong năm nay, với ngân sách trung bình là 2.500 euro mỗi hộ gia đình. Đối với mùa hè, 46% người Pháp (31,6 triệu người) cho biết họ muốn đi du lịch, giảm nhẹ so với năm 2025. Tuy nhiên, tỷ lệ các chuyến đi nước ngoài đang tăng lên thành 35%, so với 32% năm ngoái.  Nhưng rất không may là chiến tranh Trung Đông đã bùng phát bất ngờ, ảnh hưởng khá nặng nề đến du lịch thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, nhất là vì rất nhiều khách châu Âu đến Việt Nam bằng các chuyến bay quá cảnh qua Doha hay Dubai. Kể từ khi chiến tranh Iran bùng phát ngày 28/02, rất nhiều khách đã đặt vé đi Việt Nam với các hãng như Qatar Airways hay Emirates, tức là quá cảnh qua Doha và Dubai, đã bị hủy vé, tuy được trả lại toàn bộ tiền vé nhưng bỏ lỡ kế hoạch du lịch hoặc thăm gia đình ở Việt Nam. Nhưng đáng nói hơn cả là tình trạng của những du khách đang ở Việt Nam lúc chiến tranh nổ ra và bị kẹt ở Việt Nam trong nhiều ngày, do không tìm được vé để trở về, hay nói đúng hơn là không đủ tiền để mua những vé máy bay giá cao ngất ngưỡng, có khi lên tới 9.000, 1.0000 euro. Anh Thân Đức Mạch, chủ tịch công ty Vietnam Original Travel ghi nhận: “Thực tế là ảnh hưởng rất nhiều, bởi vì phần lớn khách đi qua Doha và Dubai tương đối nhiều do thứ nhất là giá vé rẻ. Bây giờ, khi hai sân bay đó bị đóng lại, các chuyến bay bị hủy tương đối nhiều và khách của em cũng hủy nhiều. Sau khi sau khi chiến tranh xảy ra thì chỉ còn lại một số chuyến bay sang Pháp,như là của China Airlines, China Southern Airlines, Vietnam Airlines. Emirates có một số chuyến, nhưng giá vé rất đắt và số lượng chỗ cũng hạn thế, nên lượng khách cũng giảm tương đối nhiều. Đối với những khách đã đi du lịch tới Việt Nam và hiện nay kẹt ở Việt Nam, cách giải quyết là như thế nào? Hãng hàng không đưa ra giải pháp, một là sẽ extension ( kéo dài ) kỳ nghỉ của khách để chờ xem liệu chiến tranh có dừng lại hoặc là các chuyến bay có thể mở lại được hay không. Giải pháp thứ hai là doanh nghiệp có thể tự tìm chuyến bay cho khách và họ sẽ hỗ trợ một phần. Thế nhưng bây giờ tìm cũng không có chuyến bay và mà có thì phải mua vé hạng thương gia giá rất là cao. Cho nên khách vẫn phải chờ và ở lại Việt Nam thêm một thời gian. Một khó khăn nữa là, khi khách phải kéo dài kỳ nghỉ của họ ở Việt Nam, hãng hàng không chỉ hỗ trợ ba đêm đầu tiên thôi, còn sau đó khách phải tự trả, cho nên khách cũng không hài lòng. Bên em có liên lạc với hãng hàng không mà họ đã đặt vé, thì hãng hàng không cũng đưa giải pháp giống như vậy thôi, tức là gợi ý khách sẽ ở lại để chờ xem tình trạng các chuyến bay có thực hiện được hay không. Thứ hai là người ta sẽ chờ những chuyến bay gọi là “giải cứu” về nước họ ( rapatriement ). Nhưng thực ra cũng vẫn đang chờ thôi, chứ chưa thực hiện được chuyện đó.  Tiếp theo là bên em sẽ phải hỗ trợ cho khách tìm chuyến bay của các hãng khác, nếu có. Trong trường hợp đấy thì hãng hàng không sẽ hỗ trợ một phần và khách sẽ phải trả một phần. Nhưng với giá vé hiện nay đôi khi lên tới 8 ngàn, 9 ngàn euro làm sao mà có thể mua được những vé đó?  Vâng, chính vì thế mà khách cũng không chịu, nên bọn em vẫn đang chờ chuyến bay giải cứu và hy vọng chiến tranh sẽ dừng lại, các chuyến bay có thể thực hiện được như bình thường.  Khách luôn tìm giải pháp để đi làm sao cho tiết kiệm nhất có thể, mà những chuyến bay có transit ( quá cảnh ) thì rẻ hơn những chuyến bay trực tiếp. Bây giờ nhu cầu của khách đi du lịch cũng nhiều, cho nên nếu chỉ có một vài hãng như Vietnam Airlines, hoặc là Southern China Airlines thì cũng không đáp ứng đủ, thế nên giá vé rất cao. Chiến tranh mà kết thúc và các sân bay mở lại thì em nghĩ là các chuyến bay sẽ trở lại bình thường thôi. Chiến tranh sẽ tác động tiêu cực đến du lịch cũng như một số lĩnh vực khác. Giá vé máy bay là một phần. Giá xăng dầu tăng thì dẫn đến giá vận chuyển tăng, các nhà hàng, khách sạn cũng tăng, mọi thứ sẽ tăng. Em nghĩ là du lịch sẽ rất khó khăn. Năm ngoái, số khách tăng đột biến và những dòng khách như từ Ấn Độ và nhất từ Ý đến Việt Nam tương đối đông. Thế nhưng khách Ý  bay qua Qatar tương đối nhiều, bởi vì Vietnam Airlines không có chuyến bay hàng ngày, mà một tuần chỉ có ba chuyến. Vì chỉ có ba chuyến cho nên nhiều khi không đúng với ngày mà họ muốn đi. Thế nên chuyến bay thì vẫn trống, nhưng lúc khách cần thì cũng không có. Chính vì vậy bây giờ lượng khách cũng giảm rất nhiều sau khi chiến tranh nổ ra. Kể cả khách từ Ấn Độ. Còn dòng khách Pháp của bên em thì cũng bị ảnh hưởng khoảng 50% hoặc 30%, bởi vì họ cũng bay qua các nước thứ ba rất nhiều để tiết kiệm chi phí.” Ảnh hưởng của chiến tranh Trung Đông đã được thể hiện rõ qua thái độ của khách đến Hội chợ Du lịch Paris năm nay. Ai cũng đến chủ yếu để hỏi thông tin, chứ không đặt chỗ cho những chuyến đi trong năm nay, theo lời anh Thân Đức Mạnh, vốn đã tham gia Hội chợ này từ năm 2008 đến nay:  “Năm nay so với năm trước thì cũng tương đối là đông, thế nhưng họ đến gần như là chỉ tham khảo và lấy thông tin thôi. Hoặc là người ta hỏi cho những chuyến đi rất xa, chứ không như những năm trước. Những năm trước, thậm chí bọn em có thể bán tour ngay tại chỗ và có rất nhiều khách quan tâm thật sự cho những chuyến đi rất gần và người ta quan tâm nhiều thông tin lắm. Còn bây giờ người ta đến chỉ hỏi thông tin qua loa vậy thôi. Em nghĩ là họ còn phải chờ xem các chuyến bay như thế nào, bởi vì sau khi chiến tranh xảy ra thì giá vé rất đắt và chiến tranh thì không biết đến bao giờ có thể kết thúc. Tức là họ không hoàn toàn chắc chắn từ đây đến cuối năm. Còn chất lượng của mỗi cuộc trao đổi cũng không thật sự như những năm trước em đã từng tham gia.” Nói chung, theo lời chủ tịch Vietnam Original Travel, tại Hội chợ Du lịch Paris năm nay, nếu khách có đặt tour thì thường là họ dự kiến cho tháng 4, tháng 5 hoặc tháng 6 của năm 2027! Theo báo chí Việt Nam, trong bối cảnh một số hãng hàng không Trung Đông tạm dừng khai thác, Vietnam Airlines đã điều chỉnh một số đường bay đến châu Âu, bổ sung khoảng 30 chuyến bay nhằm giải tỏa lượng hành khách đang bị tồn đọng tại Việt Nam và chiều ngược lại. Nhưng các hãng hàng không đang lo ngại sẽ rơi vào tình cảnh “càng bay càng lỗ”, nếu giá xăng dầu tiếp tục tăng do xung đột leo thang tại Trung Đông. Các hãng cung cấp xăng dầu cũng gặp khó khăn về việc đảm bảo duy trì cung ứng nhiên liệu cho hoạt động vận tải hàng không tại Việt Nam. Việc tăng giá dầu diesel cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của các cảng hàng không. Trong một văn bản đề ngày 09/03/2026 gởi bộ Giao Thông Vận Tải, Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam (CAAV) đã chính thức cảnh báo về nguy cơ thiếu nhiên liệu kể từ đầu tháng 4 và kéo dài sang các tháng tiếp theo. Trước tình hình này, cơ quan quản lý đã yêu cầu các hãng hàng không trong nước như Vietnam Airlines, Vietjet và Bamboo Airways cắt giảm số chuyến bay của các tuyến nội địa và ưu tiên cho các tuyến quốc tế “chiến lược”. Cuộc khủng hoảng này cho thấy tính chất dễ bị tổn thương của ngành vận tải hàng không Việt Nam trước sự bất ổn địa chính trị toàn cầu và có thể dẫn đến việc tăng giá vé đáng kể hoặc hủy chuyến hàng loạt trong những tuần tới.

Tạp chí Việt Nam
Chiến tranh Trung Đông làm xáo trộn du lịch Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later Mar 23, 2026 9:32


Như mọi năm, Hội chợ Du lịch Thế giới vừa diễn ra tại Paris từ 12/03 đến ngày 15/03/2026, đúng vào lúc chiến tranh giữa Mỹ, Israel với Iran vẫn còn rất ác liệt, không biết bao giờ mới kết thúc. Chiến sự Trung Đông đang gây xáo trộn cho du lịch thế giới nói chung và du lịch Việt Nam nói riêng.  Bình thường Hội chợ thu hút rất đông đảo khách, đa số là người dân vùng Paris, đến đây để tìm hiểu thông tin cho các chuyến du lịch sắp tới, nhất là cho mùa hè. Tại Hội chợ Du lịch 2026, châu Á chiếm một khu rất lớn, quy tụ những quốc gia vốn là các điểm đến ưa thích của khách Pháp: Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan và nhất là Việt Nam. Năm nay tại Hội chợ có hai công ty Việt Nam đến quảng bá cho du lịch Việt Nam đó là Qasia Travel và Vietnam Original Travel, cả hai đều chuyên tổ chức các tour du lịch cho khách từ những nước sử dụng Pháp ngữ, nhất là Pháp. Du lịch Việt Nam có thể nói là đang trên đà khởi sắc trở lại và năm ngoái đã thu hút một lượng du khách quốc tế kỷ lục, lên tới hơn 21 triệu người. Năm nay, trên nguyên tắc du lịch Việt Nam có thể vượt qua kỷ lục đó, vì chỉ trong hai tháng đầu năm 2026 đã có gần 4,7 triệu du khách đến Việt Nam, tăng khoảng 18% so với cùng kỳ năm ngoái.  Trả lời RFI Việt ngữ tại Hội chợ, anh Thân Mạnh Đức, chủ tịch và cũng là người sáng lập công ty Vietnam Original Travel, cho biết khách quốc tế, nhất là khách Pháp, đến Việt Nam ngày càng nhiều, một phần cũng chính là nhờ sự quảng bá tích cực của các công ty tư nhân: “Việt Nam làm truyền thông tương đối tốt, nhưng không phải là Tổng cục Du lịch làm truyền thông, thực tế là trong các hội chợ du lịch thì không thấy nhà nước tham gia. Tham gia hội chợ như ở Anh và ở Đức, hầu như các công ty tư nhân làm truyền thông tương đối là mạnh. Thế nên là du lịch Việt Nam rất phát triển, lượng khách quan tâm nhiều và thực tế là số khách đi du lịch Việt Nam tăng rất nhiều những năm vừa qua.  Ngoài việc làm truyền thông tốt, Việt Nam cũng là một điểm đến rất an toàn, đẹp và cũng không đắt. Đấy là những lý do mà khách đến Việt Nam ngày càng nhiều.  Riêng đối với khách Pháp thì những điều gì thu hút họ đến Việt Nam nhất? Khách Pháp thì quan tâm nhiều đến lịch sử văn hóa và con người, bởi vì Việt Nam là một nước mà họ đã từng đô hộ và có rất nhiều những vết tích mà họ để lại. Hơn nữa khi đến Việt Nam họ rất thích phong cảnh, con người và văn hóa Việt Nam.”  Theo một nghiên cứu của Protourisme, trước chiến tranh Trung Đông, 62% người dân Pháp dự định đi nghỉ trong năm nay, với ngân sách trung bình là 2.500 euro mỗi hộ gia đình. Đối với mùa hè, 46% người Pháp (31,6 triệu người) cho biết họ muốn đi du lịch, giảm nhẹ so với năm 2025. Tuy nhiên, tỷ lệ các chuyến đi nước ngoài đang tăng lên thành 35%, so với 32% năm ngoái.  Nhưng rất không may là chiến tranh Trung Đông đã bùng phát bất ngờ, ảnh hưởng khá nặng nề đến du lịch thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, nhất là vì rất nhiều khách châu Âu đến Việt Nam bằng các chuyến bay quá cảnh qua Doha hay Dubai. Kể từ khi chiến tranh Iran bùng phát ngày 28/02, rất nhiều khách đã đặt vé đi Việt Nam với các hãng như Qatar Airways hay Emirates, tức là quá cảnh qua Doha và Dubai, đã bị hủy vé, tuy được trả lại toàn bộ tiền vé nhưng bỏ lỡ kế hoạch du lịch hoặc thăm gia đình ở Việt Nam. Nhưng đáng nói hơn cả là tình trạng của những du khách đang ở Việt Nam lúc chiến tranh nổ ra và bị kẹt ở Việt Nam trong nhiều ngày, do không tìm được vé để trở về, hay nói đúng hơn là không đủ tiền để mua những vé máy bay giá cao ngất ngưỡng, có khi lên tới 9.000, 1.0000 euro. Anh Thân Đức Mạch, chủ tịch công ty Vietnam Original Travel ghi nhận: “Thực tế là ảnh hưởng rất nhiều, bởi vì phần lớn khách đi qua Doha và Dubai tương đối nhiều do thứ nhất là giá vé rẻ. Bây giờ, khi hai sân bay đó bị đóng lại, các chuyến bay bị hủy tương đối nhiều và khách của em cũng hủy nhiều. Sau khi sau khi chiến tranh xảy ra thì chỉ còn lại một số chuyến bay sang Pháp,như là của China Airlines, China Southern Airlines, Vietnam Airlines. Emirates có một số chuyến, nhưng giá vé rất đắt và số lượng chỗ cũng hạn thế, nên lượng khách cũng giảm tương đối nhiều. Đối với những khách đã đi du lịch tới Việt Nam và hiện nay kẹt ở Việt Nam, cách giải quyết là như thế nào? Hãng hàng không đưa ra giải pháp, một là sẽ extension ( kéo dài ) kỳ nghỉ của khách để chờ xem liệu chiến tranh có dừng lại hoặc là các chuyến bay có thể mở lại được hay không. Giải pháp thứ hai là doanh nghiệp có thể tự tìm chuyến bay cho khách và họ sẽ hỗ trợ một phần. Thế nhưng bây giờ tìm cũng không có chuyến bay và mà có thì phải mua vé hạng thương gia giá rất là cao. Cho nên khách vẫn phải chờ và ở lại Việt Nam thêm một thời gian. Một khó khăn nữa là, khi khách phải kéo dài kỳ nghỉ của họ ở Việt Nam, hãng hàng không chỉ hỗ trợ ba đêm đầu tiên thôi, còn sau đó khách phải tự trả, cho nên khách cũng không hài lòng. Bên em có liên lạc với hãng hàng không mà họ đã đặt vé, thì hãng hàng không cũng đưa giải pháp giống như vậy thôi, tức là gợi ý khách sẽ ở lại để chờ xem tình trạng các chuyến bay có thực hiện được hay không. Thứ hai là người ta sẽ chờ những chuyến bay gọi là “giải cứu” về nước họ ( rapatriement ). Nhưng thực ra cũng vẫn đang chờ thôi, chứ chưa thực hiện được chuyện đó.  Tiếp theo là bên em sẽ phải hỗ trợ cho khách tìm chuyến bay của các hãng khác, nếu có. Trong trường hợp đấy thì hãng hàng không sẽ hỗ trợ một phần và khách sẽ phải trả một phần. Nhưng với giá vé hiện nay đôi khi lên tới 8 ngàn, 9 ngàn euro làm sao mà có thể mua được những vé đó?  Vâng, chính vì thế mà khách cũng không chịu, nên bọn em vẫn đang chờ chuyến bay giải cứu và hy vọng chiến tranh sẽ dừng lại, các chuyến bay có thể thực hiện được như bình thường.  Khách luôn tìm giải pháp để đi làm sao cho tiết kiệm nhất có thể, mà những chuyến bay có transit ( quá cảnh ) thì rẻ hơn những chuyến bay trực tiếp. Bây giờ nhu cầu của khách đi du lịch cũng nhiều, cho nên nếu chỉ có một vài hãng như Vietnam Airlines, hoặc là Southern China Airlines thì cũng không đáp ứng đủ, thế nên giá vé rất cao. Chiến tranh mà kết thúc và các sân bay mở lại thì em nghĩ là các chuyến bay sẽ trở lại bình thường thôi. Chiến tranh sẽ tác động tiêu cực đến du lịch cũng như một số lĩnh vực khác. Giá vé máy bay là một phần. Giá xăng dầu tăng thì dẫn đến giá vận chuyển tăng, các nhà hàng, khách sạn cũng tăng, mọi thứ sẽ tăng. Em nghĩ là du lịch sẽ rất khó khăn. Năm ngoái, số khách tăng đột biến và những dòng khách như từ Ấn Độ và nhất từ Ý đến Việt Nam tương đối đông. Thế nhưng khách Ý  bay qua Qatar tương đối nhiều, bởi vì Vietnam Airlines không có chuyến bay hàng ngày, mà một tuần chỉ có ba chuyến. Vì chỉ có ba chuyến cho nên nhiều khi không đúng với ngày mà họ muốn đi. Thế nên chuyến bay thì vẫn trống, nhưng lúc khách cần thì cũng không có. Chính vì vậy bây giờ lượng khách cũng giảm rất nhiều sau khi chiến tranh nổ ra. Kể cả khách từ Ấn Độ. Còn dòng khách Pháp của bên em thì cũng bị ảnh hưởng khoảng 50% hoặc 30%, bởi vì họ cũng bay qua các nước thứ ba rất nhiều để tiết kiệm chi phí.” Ảnh hưởng của chiến tranh Trung Đông đã được thể hiện rõ qua thái độ của khách đến Hội chợ Du lịch Paris năm nay. Ai cũng đến chủ yếu để hỏi thông tin, chứ không đặt chỗ cho những chuyến đi trong năm nay, theo lời anh Thân Đức Mạnh, vốn đã tham gia Hội chợ này từ năm 2008 đến nay:  “Năm nay so với năm trước thì cũng tương đối là đông, thế nhưng họ đến gần như là chỉ tham khảo và lấy thông tin thôi. Hoặc là người ta hỏi cho những chuyến đi rất xa, chứ không như những năm trước. Những năm trước, thậm chí bọn em có thể bán tour ngay tại chỗ và có rất nhiều khách quan tâm thật sự cho những chuyến đi rất gần và người ta quan tâm nhiều thông tin lắm. Còn bây giờ người ta đến chỉ hỏi thông tin qua loa vậy thôi. Em nghĩ là họ còn phải chờ xem các chuyến bay như thế nào, bởi vì sau khi chiến tranh xảy ra thì giá vé rất đắt và chiến tranh thì không biết đến bao giờ có thể kết thúc. Tức là họ không hoàn toàn chắc chắn từ đây đến cuối năm. Còn chất lượng của mỗi cuộc trao đổi cũng không thật sự như những năm trước em đã từng tham gia.” Nói chung, theo lời chủ tịch Vietnam Original Travel, tại Hội chợ Du lịch Paris năm nay, nếu khách có đặt tour thì thường là họ dự kiến cho tháng 4, tháng 5 hoặc tháng 6 của năm 2027! Theo báo chí Việt Nam, trong bối cảnh một số hãng hàng không Trung Đông tạm dừng khai thác, Vietnam Airlines đã điều chỉnh một số đường bay đến châu Âu, bổ sung khoảng 30 chuyến bay nhằm giải tỏa lượng hành khách đang bị tồn đọng tại Việt Nam và chiều ngược lại. Nhưng các hãng hàng không đang lo ngại sẽ rơi vào tình cảnh “càng bay càng lỗ”, nếu giá xăng dầu tiếp tục tăng do xung đột leo thang tại Trung Đông. Các hãng cung cấp xăng dầu cũng gặp khó khăn về việc đảm bảo duy trì cung ứng nhiên liệu cho hoạt động vận tải hàng không tại Việt Nam. Việc tăng giá dầu diesel cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của các cảng hàng không. Trong một văn bản đề ngày 09/03/2026 gởi bộ Giao Thông Vận Tải, Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam (CAAV) đã chính thức cảnh báo về nguy cơ thiếu nhiên liệu kể từ đầu tháng 4 và kéo dài sang các tháng tiếp theo. Trước tình hình này, cơ quan quản lý đã yêu cầu các hãng hàng không trong nước như Vietnam Airlines, Vietjet và Bamboo Airways cắt giảm số chuyến bay của các tuyến nội địa và ưu tiên cho các tuyến quốc tế “chiến lược”. Cuộc khủng hoảng này cho thấy tính chất dễ bị tổn thương của ngành vận tải hàng không Việt Nam trước sự bất ổn địa chính trị toàn cầu và có thể dẫn đến việc tăng giá vé đáng kể hoặc hủy chuyến hàng loạt trong những tuần tới.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Chiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Mar 16, 2026 9:22


Xăng dầu tăng giá là hệ quả rõ nhất có thể thấy ở Việt Nam do chiến tranh Trung Đông. Tình hình xung đột kéo dài và nguy cơ gián đoạn tại eo biển Hormuz đặt Việt Nam trước nhiều thách thức kinh tế và thương mại. Chi phí sản xuất và vận tải đội giá, ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành công nghiệp quan trọng. Chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, nguyên liệu nhập khẩu trở nên khan hiếm. Những biến động này làm giảm tính cạnh tranh của hàng Việt tại các thị trường trọng điểm như Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ. Nền kinh tế toàn cầu xấu đi cũng không phải là dấu hiệu tốt cho Việt Nam vì một phần lớn tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Chi phí gia tăng còn có nguy cơ đẩy lạm phát lên cao. Tất cả những thách này đòi hỏi Việt Nam cần có những giải pháp ứng phó nhanh và hiệu quả. Trên đây là một số nhận định của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên tại Đại học Công giáo Lyon (UCLy) chuyên ngành khoa học chính trị, thành viên của Viện Đông Á tại Trường Sư phạm Lyon (ENS de Lyon), khi trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 12/03/2026. RFI : Cuộc chiến bùng nổ ở Trung Đông đang gây ra những ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực và hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trung Đông có vai trò như thế nào trong quan hệ kinh tế và thương mại của Việt Nam hiện nay ? Laurent Gédéon : Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Trung Đông còn khá hạn chế, với xuất khẩu sang khu vực này chiếm chưa đến 3% tổng kim ngạch. So với Mỹ, Trung Quốc hay Liên Hiệp Châu Âu thì Trung Đông vẫn là thị trường nhỏ hơn, nhưng vẫn được xem là một thị trường chiến lược tiềm năng đối với Việt Nam vì một số lý do. Thứ nhất, về xuất khẩu, Trung Đông là thị trường tiêu thụ nhiều hàng hóa của Việt Nam như điện thoại, linh kiện điện tử, dệt may và đồ nội thất. Khu vực này cũng nhập khẩu nhiều nông sản và thủy sản của Việt Nam do phụ thuộc vào nguồn thực phẩm bên ngoài. Do đó, gạo, cà phê, tiêu, hạt điều, cũng như tôm và các loại hải sản khác của Việt Nam cũng tìm được thị trường đầy triển vọng. Ngoài ra, thị trường thực phẩm “halal”, ít được biết đến nhưng đang phát triển mạnh và có thể đạt 5.000 tỷ đô la vào năm 2030, trở thành lĩnh vực chiến lược mà Việt Nam hướng tới để đáp ứng nhu cầu của các nước Hồi Giáo. Về nhập khẩu, Việt Nam chủ yếu nhập năng lượng từ Trung Đông, đặc biệt là dầu mỏ, sản phẩm từ dầu, khí tự nhiên hóa lỏng và nguyên liệu hóa học. Ngoài ra còn có kim loại và nguyên liệu thô phục vụ công nghiệp. Những nguồn này rất quan trọng đối với ngành công nghiệp và hệ thống năng lượng của Việt Nam. Về mặt này, Trung Đông đóng vai trò then chốt đối với Việt Nam với tư cách là nhà cung cấp năng lượng và công nghiệp. Đọc thêmMối quan hệ truyền thống khiến Việt Nam khó xử trong xung đột Israel-Hamas Đối với các nước vùng Vịnh, Việt Nam đã triển khai chiến lược đầu tư từ nhiều năm qua thông qua các hiệp định thương mại song phương. Tiêu biểu là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (CEPA) ký ngày 28/10/2024 tại Dubai với Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống, nhằm xóa bỏ hầu hết thuế quan, thúc đẩy đầu tư và tăng cường thương mại song phương. Nhìn chung, có thể nói rằng Trung Đông là đòn bẩy quan trọng giúp Việt Nam đa dạng hóa thương mại và nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc vào một số đối tác lớn như Trung Quốc và Hoa Kỳ. RFI : Căng thẳng hoặc xung đột ở Trung Đông có thể ảnh hưởng đến mức độ nào đối với một số thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, như Liên Hiệp Châu Âu hoặc Hoa Kỳ, cũng như các nước vùng Vịnh và Israel ? Laurent Gédéon : Xung đột ở Trung Đông có khả năng tác động đến thị trường xuất khẩu của Việt Nam theo nhiều cách. Thứ nhất, xung đột ở Trung Đông có thể làm giá năng lượng tăng cao vì đây là một trong những khu vực sản xuất dầu khí hàng đầu thế giới. Nếu xung đột kéo dài, sản xuất và vận chuyển hydrocarbon sẽ bị ảnh hưởng. Giá dầu khí tăng khiến chi phí vận tải biển và hàng không tăng, kéo theo chi phí sản xuất tại Việt Nam cao hơn, đặc biệt trong các ngành công nghiệp, dệt may, điện tử và vận tải. Khi giá sản phẩm tăng, hàng Việt Nam sẽ kém cạnh tranh hơn tại các thị trường trọng điểm, cụ thể là Liên Hiệp Châu Âu và Mỹ - hai thị trường xuất khẩu chính (chiếm gần 40%) đối với hàng chế tạo của Việt Nam. Đọc thêmViệt Nam hợp tác dầu khí với Ả Rập Xê Út Yếu tố thứ hai là nhiều tuyến thương mại chiến lược sẽ bị gián đoạn nếu xung đột dẫn đến bất ổn kéo dài ở hai khu vực hàng hải nhạy cảm là Vịnh Ba Tư và phía bắc Ấn Độ Dương, cùng với việc eo biển Hormuz bị đóng một phần hoặc toàn bộ. Tình hình thậm chí có thể nghiêm trọng hơn nếu lực lượng Houthi ở Yemen cũng tham gia vào cuộc xung đột và siết chặt phong tỏa ở eo biển Bab-el-Mandeb để giảm bớt áp lực cho Iran. Cho dù hiện nay lực lượng Houthi giữ thái độ thận trọng nhưng vẫn không thể loại trừ một kịch bản như vậy, bởi vì thủ lĩnh Abdul-Malik al-Houthi đã tuyên bố trên truyền hình ngày 05/03 rằng lực lượng Houthi sẵn sàng tấn công bất cứ lúc nào. Trong bối cảnh bất ổn như vậy, tàu thuyền sẽ phải tránh các vùng biển nguy hiểm, điều này sẽ làm tăng thời gian vận chuyển và chi phí logistic. Trong trường hợp đó, Việt Nam sẽ gặp khó khăn, vì chuỗi giá trị xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các tuyến hàng hải nối các trung tâm sản xuất châu Á với các thị trường lớn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bất kỳ sự gián đoạn nào đối với các tuyến đường này đều có thể dẫn đến việc tăng chi phí và chậm trễ giao hàng. Cuối cùng, yếu tố thứ ba liên quan đến kinh tế toàn cầu. Căng thẳng ở Trung Đông có thể gây bất ổn kinh tế chung, đặc biệt là việc nhà đầu tư rút vốn và các nước phân bổ lại ngân sách tập trung cho quốc phòng. Điều này có thể làm suy yếu kinh tế của các đối tác thương mại của Việt Nam, đặc biệt ở Trung Đông, từ đó giảm nhu cầu nhập khẩu. Nếu xung đột kéo dài hoặc leo thang, tác động tương tự cũng có thể lan sang châu Âu và Mỹ, hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Đọc thêmPetroVietnam sẽ đầu tư 1,2 tỷ đô la vào một mỏ dầu tại Iran Do đó, xung đột giữa Iran với Hoa Kỳ và Israel có thể gián tiếp ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam. Mặc dù Trung Đông không phải đối tác thương mại chính nhưng căng thẳng khu vực vẫn có thể gây ra hậu quả đáng kể cho các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam. Nếu gián đoạn kéo dài, hàng hóa Việt Nam có nguy cơ kém cạnh tranh về giá so với các nước gần châu Âu và Bắc Mỹ hơn và sử dụng các tuyến vận tải ngắn hơn hoặc ít rủi ro hơn. RFI : Ngành công nghệ của Việt Nam đang phát triển. Tại sao lĩnh vực này cũng có thể bị tác động với những diễn biến địa-chính trị ở Trung Đông ? Laurent Gédéon : Nhìn chung ngành công nghiệp công nghệ của Việt Nam, bao gồm điện tử, bán dẫn và lắp ráp, phụ thuộc lớn vào năng lượng và nguyên liệu thô. Căng thẳng tại các quốc gia sản xuất hydrocarbon như Ả Rập Xê Út, Qatar hay Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất có thể làm giá dầu và khí đốt tăng lên, kéo theo chi phí sản xuất và vận tải quốc tế tăng, như đã nói ở trên. Trong khi đó hoạt động công nghiệp của Việt Nam cần nguồn năng lượng lớn, giá năng lượng tăng sẽ tác động đến sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu công nghệ Việt Nam. Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất công nghệ toàn cầu nhờ sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Samsung, Intel, Foxconn và Apple. Với vai trò nhà xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh, bất kỳ gián đoạn nào trong chuỗi logistic hoặc tăng chi phí vận chuyển đến các thị trường xuất khẩu đều sẽ gây thiệt hại đáng kể cho Việt Nam. Trường hợp Israel đặc biệt quan trọng, cần được nhắc lại, bởi vì Việt Nam hợp tác sâu rộng với Nhà nước Do Thái trong trí tuệ nhân tạo AI và công nghệ nông nghiệp (agritech). Agritech là lĩnh vực ứng dụng kỹ thuật số và robot nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả nông nghiệp. Căng thẳng kéo dài có thể làm chậm các dự án hợp tác và giảm đầu tư. Trong bối cảnh Israel là một trung tâm công nghệ quan trọng, việc căng thẳng khu vực kéo dài hoặc leo thang có thể làm chậm các dự án hợp tác công nghệ song phương và dẫn đến sự sụt giảm đầu tư trong lĩnh vực này. Tương tự, Việt Nam cũng có thể phải đối mặt thách thức này với các nước vùng Vịnh, vốn đang thúc đẩy đa dạng hóa kinh tế tập trung vào mở rộng công nghệ cao và đổi mới sáng tạo từ nhiều năm gần đây. Đọc thêmIsrael bán hai vệ tinh do thám cho cơ quan tình báo quân sự Việt Nam Ngoài khu vực Trung Đông, khủng hoảng có thể sẽ gây lạm phát toàn cầu và suy giảm kinh tế ở châu Âu và Mỹ. Và như vậy có thể sẽ làm dao động hoặc giảm nhu cầu sản phẩm điện tử. Đây sẽ là một thách thức lớn cho ngành công nghệ Việt Nam. RFI : Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% vào năm 2026. Áp lực thuế quan của Mỹ đã thúc đẩy Việt Nam tìm cách đa dạng hóa đối tác thương mại. Xung đột ở Trung Đông có thể tác động như thế nào đến mục tiêu này ? Laurent Gédéon : Cuộc xung đột sẽ tác động mạnh đến nguồn năng lượng. Ngày 10/03, Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA) điều chỉnh dự báo giá dầu Brent 2026 lên 79 đô la/thùng (so với 58 đô la vào tháng 02/2026) và tăng 36% kể từ đầu năm. Giá năng lượng tăng sẽ ảnh hưởng đến xăng, dầu hỏa, phân bón, hóa dầu, nhựa và  như vậy sẽ tác động trực tiếp đến vận tải, công nghiệp, luyện kim, bán lẻ và thực phẩm. Nếu xu hướng này tiếp diễn, lạm phát ở Việt Nam, hiện là 2,5%, có thể tăng gấp đôi trong những tháng tới. Giá dầu tăng cũng sẽ đè nặng lên tăng trưởng GDP, ngay cả khi Việt Nam là nước sản xuất dầu khí bởi vì Việt Nam cũng phải nhập dầu khí. Hiện giờ rất khó đưa ra các dự đoán chính xác. Nếu eo biển Hormuz bị đóng cửa hoàn toàn và kéo dài, có nghĩa là Iran rải thủy lôi và bắn vào tàu thuyền tìm cách đi qua, thì giá dầu có thể ở mức hơn 100 đô la/thùng. Một trong những tác động đối với Việt Nam, như đã đề cập, là lạm phát có thể vượt 5%, và xuất khẩu giảm, cho nên có khả năng GDP bị giảm thêm 1%. Tình hình này đòi hỏi chính quyền Việt Nam theo dõi sát sao để dự báo tác động và triển khai các biện pháp ứng phó hiệu quả. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon.

Tạp chí Việt Nam
Chiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later Mar 16, 2026 9:22


Xăng dầu tăng giá là hệ quả rõ nhất có thể thấy ở Việt Nam do chiến tranh Trung Đông. Tình hình xung đột kéo dài và nguy cơ gián đoạn tại eo biển Hormuz đặt Việt Nam trước nhiều thách thức kinh tế và thương mại. Chi phí sản xuất và vận tải đội giá, ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành công nghiệp quan trọng. Chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, nguyên liệu nhập khẩu trở nên khan hiếm. Những biến động này làm giảm tính cạnh tranh của hàng Việt tại các thị trường trọng điểm như Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ. Nền kinh tế toàn cầu xấu đi cũng không phải là dấu hiệu tốt cho Việt Nam vì một phần lớn tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Chi phí gia tăng còn có nguy cơ đẩy lạm phát lên cao. Tất cả những thách này đòi hỏi Việt Nam cần có những giải pháp ứng phó nhanh và hiệu quả. Trên đây là một số nhận định của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên tại Đại học Công giáo Lyon (UCLy) chuyên ngành khoa học chính trị, thành viên của Viện Đông Á tại Trường Sư phạm Lyon (ENS de Lyon), khi trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 12/03/2026. RFI : Cuộc chiến bùng nổ ở Trung Đông đang gây ra những ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực và hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trung Đông có vai trò như thế nào trong quan hệ kinh tế và thương mại của Việt Nam hiện nay ? Laurent Gédéon : Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Trung Đông còn khá hạn chế, với xuất khẩu sang khu vực này chiếm chưa đến 3% tổng kim ngạch. So với Mỹ, Trung Quốc hay Liên Hiệp Châu Âu thì Trung Đông vẫn là thị trường nhỏ hơn, nhưng vẫn được xem là một thị trường chiến lược tiềm năng đối với Việt Nam vì một số lý do. Thứ nhất, về xuất khẩu, Trung Đông là thị trường tiêu thụ nhiều hàng hóa của Việt Nam như điện thoại, linh kiện điện tử, dệt may và đồ nội thất. Khu vực này cũng nhập khẩu nhiều nông sản và thủy sản của Việt Nam do phụ thuộc vào nguồn thực phẩm bên ngoài. Do đó, gạo, cà phê, tiêu, hạt điều, cũng như tôm và các loại hải sản khác của Việt Nam cũng tìm được thị trường đầy triển vọng. Ngoài ra, thị trường thực phẩm “halal”, ít được biết đến nhưng đang phát triển mạnh và có thể đạt 5.000 tỷ đô la vào năm 2030, trở thành lĩnh vực chiến lược mà Việt Nam hướng tới để đáp ứng nhu cầu của các nước Hồi Giáo. Về nhập khẩu, Việt Nam chủ yếu nhập năng lượng từ Trung Đông, đặc biệt là dầu mỏ, sản phẩm từ dầu, khí tự nhiên hóa lỏng và nguyên liệu hóa học. Ngoài ra còn có kim loại và nguyên liệu thô phục vụ công nghiệp. Những nguồn này rất quan trọng đối với ngành công nghiệp và hệ thống năng lượng của Việt Nam. Về mặt này, Trung Đông đóng vai trò then chốt đối với Việt Nam với tư cách là nhà cung cấp năng lượng và công nghiệp. Đọc thêmMối quan hệ truyền thống khiến Việt Nam khó xử trong xung đột Israel-Hamas Đối với các nước vùng Vịnh, Việt Nam đã triển khai chiến lược đầu tư từ nhiều năm qua thông qua các hiệp định thương mại song phương. Tiêu biểu là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (CEPA) ký ngày 28/10/2024 tại Dubai với Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống, nhằm xóa bỏ hầu hết thuế quan, thúc đẩy đầu tư và tăng cường thương mại song phương. Nhìn chung, có thể nói rằng Trung Đông là đòn bẩy quan trọng giúp Việt Nam đa dạng hóa thương mại và nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc vào một số đối tác lớn như Trung Quốc và Hoa Kỳ. RFI : Căng thẳng hoặc xung đột ở Trung Đông có thể ảnh hưởng đến mức độ nào đối với một số thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, như Liên Hiệp Châu Âu hoặc Hoa Kỳ, cũng như các nước vùng Vịnh và Israel ? Laurent Gédéon : Xung đột ở Trung Đông có khả năng tác động đến thị trường xuất khẩu của Việt Nam theo nhiều cách. Thứ nhất, xung đột ở Trung Đông có thể làm giá năng lượng tăng cao vì đây là một trong những khu vực sản xuất dầu khí hàng đầu thế giới. Nếu xung đột kéo dài, sản xuất và vận chuyển hydrocarbon sẽ bị ảnh hưởng. Giá dầu khí tăng khiến chi phí vận tải biển và hàng không tăng, kéo theo chi phí sản xuất tại Việt Nam cao hơn, đặc biệt trong các ngành công nghiệp, dệt may, điện tử và vận tải. Khi giá sản phẩm tăng, hàng Việt Nam sẽ kém cạnh tranh hơn tại các thị trường trọng điểm, cụ thể là Liên Hiệp Châu Âu và Mỹ - hai thị trường xuất khẩu chính (chiếm gần 40%) đối với hàng chế tạo của Việt Nam. Đọc thêmViệt Nam hợp tác dầu khí với Ả Rập Xê Út Yếu tố thứ hai là nhiều tuyến thương mại chiến lược sẽ bị gián đoạn nếu xung đột dẫn đến bất ổn kéo dài ở hai khu vực hàng hải nhạy cảm là Vịnh Ba Tư và phía bắc Ấn Độ Dương, cùng với việc eo biển Hormuz bị đóng một phần hoặc toàn bộ. Tình hình thậm chí có thể nghiêm trọng hơn nếu lực lượng Houthi ở Yemen cũng tham gia vào cuộc xung đột và siết chặt phong tỏa ở eo biển Bab-el-Mandeb để giảm bớt áp lực cho Iran. Cho dù hiện nay lực lượng Houthi giữ thái độ thận trọng nhưng vẫn không thể loại trừ một kịch bản như vậy, bởi vì thủ lĩnh Abdul-Malik al-Houthi đã tuyên bố trên truyền hình ngày 05/03 rằng lực lượng Houthi sẵn sàng tấn công bất cứ lúc nào. Trong bối cảnh bất ổn như vậy, tàu thuyền sẽ phải tránh các vùng biển nguy hiểm, điều này sẽ làm tăng thời gian vận chuyển và chi phí logistic. Trong trường hợp đó, Việt Nam sẽ gặp khó khăn, vì chuỗi giá trị xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các tuyến hàng hải nối các trung tâm sản xuất châu Á với các thị trường lớn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bất kỳ sự gián đoạn nào đối với các tuyến đường này đều có thể dẫn đến việc tăng chi phí và chậm trễ giao hàng. Cuối cùng, yếu tố thứ ba liên quan đến kinh tế toàn cầu. Căng thẳng ở Trung Đông có thể gây bất ổn kinh tế chung, đặc biệt là việc nhà đầu tư rút vốn và các nước phân bổ lại ngân sách tập trung cho quốc phòng. Điều này có thể làm suy yếu kinh tế của các đối tác thương mại của Việt Nam, đặc biệt ở Trung Đông, từ đó giảm nhu cầu nhập khẩu. Nếu xung đột kéo dài hoặc leo thang, tác động tương tự cũng có thể lan sang châu Âu và Mỹ, hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Đọc thêmPetroVietnam sẽ đầu tư 1,2 tỷ đô la vào một mỏ dầu tại Iran Do đó, xung đột giữa Iran với Hoa Kỳ và Israel có thể gián tiếp ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam. Mặc dù Trung Đông không phải đối tác thương mại chính nhưng căng thẳng khu vực vẫn có thể gây ra hậu quả đáng kể cho các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam. Nếu gián đoạn kéo dài, hàng hóa Việt Nam có nguy cơ kém cạnh tranh về giá so với các nước gần châu Âu và Bắc Mỹ hơn và sử dụng các tuyến vận tải ngắn hơn hoặc ít rủi ro hơn. RFI : Ngành công nghệ của Việt Nam đang phát triển. Tại sao lĩnh vực này cũng có thể bị tác động với những diễn biến địa-chính trị ở Trung Đông ? Laurent Gédéon : Nhìn chung ngành công nghiệp công nghệ của Việt Nam, bao gồm điện tử, bán dẫn và lắp ráp, phụ thuộc lớn vào năng lượng và nguyên liệu thô. Căng thẳng tại các quốc gia sản xuất hydrocarbon như Ả Rập Xê Út, Qatar hay Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất có thể làm giá dầu và khí đốt tăng lên, kéo theo chi phí sản xuất và vận tải quốc tế tăng, như đã nói ở trên. Trong khi đó hoạt động công nghiệp của Việt Nam cần nguồn năng lượng lớn, giá năng lượng tăng sẽ tác động đến sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu công nghệ Việt Nam. Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất công nghệ toàn cầu nhờ sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Samsung, Intel, Foxconn và Apple. Với vai trò nhà xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh, bất kỳ gián đoạn nào trong chuỗi logistic hoặc tăng chi phí vận chuyển đến các thị trường xuất khẩu đều sẽ gây thiệt hại đáng kể cho Việt Nam. Trường hợp Israel đặc biệt quan trọng, cần được nhắc lại, bởi vì Việt Nam hợp tác sâu rộng với Nhà nước Do Thái trong trí tuệ nhân tạo AI và công nghệ nông nghiệp (agritech). Agritech là lĩnh vực ứng dụng kỹ thuật số và robot nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả nông nghiệp. Căng thẳng kéo dài có thể làm chậm các dự án hợp tác và giảm đầu tư. Trong bối cảnh Israel là một trung tâm công nghệ quan trọng, việc căng thẳng khu vực kéo dài hoặc leo thang có thể làm chậm các dự án hợp tác công nghệ song phương và dẫn đến sự sụt giảm đầu tư trong lĩnh vực này. Tương tự, Việt Nam cũng có thể phải đối mặt thách thức này với các nước vùng Vịnh, vốn đang thúc đẩy đa dạng hóa kinh tế tập trung vào mở rộng công nghệ cao và đổi mới sáng tạo từ nhiều năm gần đây. Đọc thêmIsrael bán hai vệ tinh do thám cho cơ quan tình báo quân sự Việt Nam Ngoài khu vực Trung Đông, khủng hoảng có thể sẽ gây lạm phát toàn cầu và suy giảm kinh tế ở châu Âu và Mỹ. Và như vậy có thể sẽ làm dao động hoặc giảm nhu cầu sản phẩm điện tử. Đây sẽ là một thách thức lớn cho ngành công nghệ Việt Nam. RFI : Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% vào năm 2026. Áp lực thuế quan của Mỹ đã thúc đẩy Việt Nam tìm cách đa dạng hóa đối tác thương mại. Xung đột ở Trung Đông có thể tác động như thế nào đến mục tiêu này ? Laurent Gédéon : Cuộc xung đột sẽ tác động mạnh đến nguồn năng lượng. Ngày 10/03, Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA) điều chỉnh dự báo giá dầu Brent 2026 lên 79 đô la/thùng (so với 58 đô la vào tháng 02/2026) và tăng 36% kể từ đầu năm. Giá năng lượng tăng sẽ ảnh hưởng đến xăng, dầu hỏa, phân bón, hóa dầu, nhựa và  như vậy sẽ tác động trực tiếp đến vận tải, công nghiệp, luyện kim, bán lẻ và thực phẩm. Nếu xu hướng này tiếp diễn, lạm phát ở Việt Nam, hiện là 2,5%, có thể tăng gấp đôi trong những tháng tới. Giá dầu tăng cũng sẽ đè nặng lên tăng trưởng GDP, ngay cả khi Việt Nam là nước sản xuất dầu khí bởi vì Việt Nam cũng phải nhập dầu khí. Hiện giờ rất khó đưa ra các dự đoán chính xác. Nếu eo biển Hormuz bị đóng cửa hoàn toàn và kéo dài, có nghĩa là Iran rải thủy lôi và bắn vào tàu thuyền tìm cách đi qua, thì giá dầu có thể ở mức hơn 100 đô la/thùng. Một trong những tác động đối với Việt Nam, như đã đề cập, là lạm phát có thể vượt 5%, và xuất khẩu giảm, cho nên có khả năng GDP bị giảm thêm 1%. Tình hình này đòi hỏi chính quyền Việt Nam theo dõi sát sao để dự báo tác động và triển khai các biện pháp ứng phó hiệu quả. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon.

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM
Vì sao hệ thống quyền lực của chế độ Hồi giáo Iran có khả năng kháng cự cao ?

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

Play Episode Listen Later Mar 12, 2026 9:47


Cuộc chiến của Mỹ và Israel chống Iran bùng nổ ngày 28/02/2026. Ngay trong loạt tấn công đầu tiên, giáo chủ Iran và hàng chục chỉ huy cấp cao đã tử vong, trong đó có tổng tham mưu trưởng Quân đội, chỉ huy Lực lượng Vệ binh Cách mạng, bộ trưởng Quốc Phòng. Tổng thống Mỹ tuyên bố đã xóa sổ một phần lớn các phương tiện quân sự của Iran, dọa xóa sổ chế độ. Tuy nhiên, chiến tranh không có dấu hiệu ngừng nghỉ. Chế độ Iran « mất đầu », nhưng không có biểu hiện tan rã. Vì sao hệ thống quyền lực của chế độ Hồi giáo Iran có khả năng kháng cự cao ? Hệ thống quyền lực đa trung tâm Truyền thông Pháp chú ý đến nhận định của chuyên gia Ali Hashem, Trung tâm nghiên cứu Hồi giáo và Tây Á, Đại học Royal Holloway (Luân Đôn), về « cấu trúc quyền lực của chế độ Hồi giáo Iran được thiết kế để trở nên cấu kết chặt chẽ trước các áp lực, hơn là để bị sụp đổ » (bài « Iran Is Built to Withstand the Ayatollah's Assassination /Chế độ Iran được thiết kế để trụ được ngay cả khi giáo chủ tối cao bị hạ sát »). Bernard Hourcade, chuyên gia về Iran, Trung tâm Khoa học Quốc gia Pháp – CNRS ví cái chết của lãnh tụ tối cao với hình ảnh « phá vỡ một rào cản lớn, nhưng vẫn còn đến 500 rào cản khác ». Về mặt chính thức, lãnh đạo tối cao Iran đứng đầu một mạng lưới của một loạt định chế, trong đó có Hội đồng bảo vệ Hiến pháp, Hội đồng Chuyên gia (bầu lãnh đạo tối cao), Lực lượng Vệ binh Cách mạng, nhưng hệ thống quyền lực trên thực tế không hẳn như vậy. Trả lời RFI tiếng Việt, Théo Nencini, chuyên gia về Iran, giảng viên Đại học Sciences Po ở Grenoble, đưa ra một giải thích chung về tính chất « đa trung tâm » của hệ thống quyền lực Iran: « Hệ thống chính trị Iran hoàn toàn không phải là một hệ thống tập trung hóa cao độ, theo nghĩa cổ điển, kiểu hình kim tự tháp. Đó là cái mà tôi gọi là một hệ thống quản trị dựa trên "mạng lưới quyền lực đa trung tâm và liên kết chặt chẽ" (réseau oligarchique multicentré et interconnecté). Về cơ bản, ta có thể hình dung một cấu trúc trong không gian ba chiều, giống như một kim tự tháp, nhưng hơi bị dẹt ở đỉnh. Trong cấu trúc này, có một số trung tâm quyền lực, ví dụ như Lãnh tụ tối cao và "Văn phòng của Lãnh tụ tối cao", như người ta thường gọi. Sau đó là Lực lượng Vệ binh Cách mạng. Tiếp theo là cấu trúc của một chế độ cộng hòa cổ điển, với các đại điện được bầu lên bằng phổ thông đầu phiếu, về cơ bản là chính phủ, Quốc Hội, v.v. Bên cạnh đó, ta có một tầng lớp tư sản kinh tế, mà về bề ngoài không trực tiếp liên kết với các trung tâm quyền lực nói trên. Xung quanh mỗi cực này,  có các mạng lưới quyền lực, mạng lưới các nhóm lợi ích xoay quanh các cực này, có liên kết với nhau. Điều đó có nghĩa là có thể có mối liên hệ giữa những người từ "Văn phòng Lãnh tụ tối cao" và Vệ binh Cách mạng, cũng như giữa chính phủ và tầng lớp tư sản kinh tế. Một hệ thống cấu trúc như vậy không thể bị chặt đầu. » Nhà nghiên cứu Theo Nencini giải thích rõ hơn về mối quan hệ giữa Lãnh tụ tối cao và Lực lượng Vệ binh Cách mạng : « Có thể nói, Vệ binh Cách mạng là thực thể cho phép Lãnh tụ tối cao có phương tiện để vượt qua vô số rào cản của Hiến pháp và pháp lý trong chế độ Iran. Bằng cách vượt qua những rào cản này, Lãnh tụ tối cao, ta có thể nói một cách đơn giản, có thể trực tiếp phổ biến quan điểm của mình tới hệ thống hành chính. Nhưng điều quan trọng cần nhớ là Vệ binh Cách mạng, về một mặt nhất định là một thực thể tự chủ so với Văn phòng Lãnh tụ tối cao. Nghĩa là, tuy họ có tuyên thệ trung thành với nhà lãnh đạo này, nhưng họ có thể có đường lối chính trị riêng, tầm nhìn chiến lược riêng, không nhất thiết phải giống với tầm nhìn của Lãnh tụ tối cao. Và đây chính là điểm mà chúng ta có thể liên hệ với tình hình hiện tại. » Chuyển mạnh sang cơ chế tản quyền trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt Sau cuộc chiến 12 ngày hồi năm ngoái của Mỹ và Israel, lực lượng vũ trang Iran nói chung và Vệ binh Cách mạng nói riêng đã thay đổi cấu trúc của hệ thống chỉ huy, để có thể nhanh chóng thay thế lãnh đạo. Theo chuyên gia Thierry Covilly, Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp IRIS, nhìn chung chế độ sẵn sàng cho việc bất cứ chỉ huy nào bị hạ sát sẽ đều có người thay thế. Bộ máy an ninh, phòng thủ của Iran được tái cấu trúc thành khoảng 30 bộ chỉ huy cấp tỉnh, có thể đưa ra quyết định độc lập, trong trường hợp đầu não trung ương bị hủy diệt. Riêng về Lực lượng Vệ binh Cách mạng, chuyên gia Théo Nencini cho biết cụ thể: « Lực lượng Vệ binh Cách mạng đã bị chặt đầu một phần hồi tháng Sáu. Lực lượng này, dĩ nhiên, sau những gì đã xảy ra trong cuộc chiến 12 ngày tháng 6/2025, đã chuẩn bị để đối phó với việc Israel và Mỹ hành động theo cách này. Vì vậy, họ đã hạ thấp chuỗi chỉ huy xuống thấp hơn nhiều, đến cấp N-6 hoặc thậm chí N-7. Cụ thể là, trong quân đội, thông thường ta có một tổng tham mưu trưởng, và ở cấp N-1 là sĩ quan cấp dưới, N-2 ở cấp thấp hơn nữa, và cứ thế tiếp tục. Vì vậy, xuống đến cấp N-6 hoặc N-7 có nghĩa là có một cấu trúc chỉ huy có quyền tự quyết định hành động ở các bậc thấp, trải rộng ra trên toàn quốc. » Vệ binh Cách mạng với bộ máy trấn áp khổng lồ, bám rễ vào xã hội Nói đến sức mạnh của hệ thống quyền lực Iran trước hết phải nói về vai trò của Lực lượng Vệ binh Cách mạng (IRGC), Pasdaran trong tiếng Farsi, được thành lập từ năm 1979, ngay từ đầu cuộc Cách mạng Hồi giáo. Vệ binh Cách mạng có nhiệm vụ bảo vệ hệ tư tưởng Hồi giáo Shia và chế độ Cộng hòa Hồi giáo, cả trong nước và quốc tế. Khác với quân đội chính quy, Vệ binh Cách mạng trực thuộc Lãnh tụ tối cao, cho nên có quyền lực độc nhất vô nhị ở Iran. Vệ binh Cách mạng có các binh chủng riêng (lục quân, không quân, hải quân) và Lực lượng Qods, chuyên về các hoạt động ở nước ngoài, đặc biệt tại khu vực Trung Đông. Về kinh tế, họ kiểm soát toàn bộ các lĩnh vực trụ cột của nền kinh tế Iran, như dầu khí, xây dựng, viễn thông, với hàng trăm tỉ đô la. Vệ binh Cách mạng Iran thường được nói đến như một « Nhà nước trong một Nhà nước » là vì vậy. Trả lời RFI Việt ngữ, nhà chính trị học Azadeh Kian, giáo sư danh dự Đại học Paris – Cité, nhấn mạnh đến việc Vệ binh Cách mạng điều hành cả một lực lượng dân sự quy mô lớn, được giao phó nhiệm vụ kiểm soát xã hội : « Basij là một lực lượng dân quân với khoảng một triệu thành viên, một lực lượng mang đậm tính ý thức hệ, tồn tại và hoạt động dưới quyền của Vệ binh Cách mạng. Basij hiện nay là một lực lượng vũ trang, lực lượng được Vệ binh Cách mạng huấn luyện và giáo dục để đàn áp mọi phe đối lập trong nước. Với mọi cuộc biểu tình, trước hết chế độ sử dụng các lực lượng này để trấn áp. » Nhà báo Iran Mohsen Sazegara, một trong những người sáng lập Vệ binh Cách mạng, sau này trở thành người chống lại chế độ Hồi giáo, trả lời tuần báo Pháp L'Express, cho biết thêm là ngoài dân quân Basij, chế độ của cố giáo chủ Ali Khamenei còn sử dụng các lực lượng lính đánh thuê nước ngoài (từ Afghanistan, Pakistan…), với số lượng lên đến 30.000 người, và hàng chục tổ chức Irak, trong đó có nhiều tổ chức có quan hệ với Lực lượng Qods của Vệ binh Cách mạng, để đàn áp mọi dấu hiệu phản kháng trong nước. Đức tin tử vì đạo và nước Cộng hòa Hồi giáo bị cô lập Theo nhiều nhà quan sát, chế độ Hồi giáo Iran đã sẵn sàng chuẩn bị cho một cuộc xung đột kéo dài với Mỹ và các đồng minh, với « cường độ thấp », « bất chấp cái giá rất lớn mà người dân thường Iran phải gánh chịu » (Bernard Hourcade). Cuộc chiến chống Mỹ và Israel hiện nay của chế độ thần quyền Hồi giáo Iran được nhiều người trong hệ thống nhìn nhận như sự tiếp nối của truyền thống độc lập, sẵn sàng đương đầu tất cả các đại cường ngay từ ngày đầu chế độ. Ông Hossein Kanani Mogahddam, thành viên Hội đồng lãnh đạo Vệ binh Cách mạng (1980-1988) (trong bộ phim tài liệu « Vệ binh Cách mạng, chủ nhân của Iran », của Arte), kể lại : « Tất cả các cường quốc đều hậu thuẫn chế độ Saddam Hussein, Mỹ, Liên Xô, Pháp…, và còn nhiều nước khác. Trong giai đoạn này, chúng tôi hoàn toàn không có vũ khí, trang bị gì cả. Không có pháo, không có xe tăng, máy bay... Chúng tôi không có phương tiện để tiến hành một cuộc chiến tranh. Chính đức tin đã cứu giúp chúng tôi. Chúng tôi không có thực phẩm, không có cả đồ hộp cho binh sĩ ! » Chuyên gia Théo Nencini, Sciences Po Grenoble, nhấn mạnh đến đức tin vào huyền thoại Karbala, huyền thoại sáng lập hệ phái Hồi giáo Shia, hiện vẫn còn là nguồn động lực tinh thần của hàng triệu người trung thành với chế độ : « Hệ thống của chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran dựa trên một huyền thoại làm nền tảng cho chế độ. Đó là cái mà ta gọi là huyền thoại Karbala, huyền thoại sáng lập của Hồi giáo Shia, một trong những nhánh chính của Hồi giáo, bên cạnh hệ phái Sunni. Huyền thoại sáng lập của Hồi giáo Shia là ‘‘Karbala'', là sự tử đạo của Imam Hussein. Huyền thoại này tôn vinh cái chết tử vì đạo, sự hy sinh vì một chính nghĩa. Ở đây chúng ta cũng có thể thấy sự tương đồng với tình hình chiến lược và khủng khoảng hiện tại. Iran, hay đúng hơn là chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran hiện nay, có thể nghĩ rằng họ đã chiến thắng, ngay cả khi chỉ có thể sống sót được, kháng cự được. Nói cách khác, đối với họ, chiến thắng không phải là tiêu diệt được đối thủ, đánh bại được đối thủ. Đối với họ, chiến thắng là khi trụ vững trước một cuộc xâm lược phi nghĩa. Điều này đã được thử thách trong cuộc chiến chống Irak trong những năm 1980. Nhưng quả thực, người Iran có xu hướng liên tục tái hiện huyền thoại tôn vinh cái chết tử vì đạo, hy sinh vì một chính nghĩa. Và điều này giúp họ trở nên kiên cường, giúp hàng chục triệu người Iran chống chọi với tình trạng kinh tế khó khăn hàng chục năm qua. Giờ đây, một lần nữa họ lại bị tấn công từ bên ngoài. Từ góc nhìn của họ, họ đã bị phản bội, khi đang có một quá trình đàm phán thứ hai với đối thủ, và họ bị đâm sau lưng. Cuộc tấn công nổ ra đúng vào lúc đàm phán đang diễn ra. Đây là sự thực ! Thực tế này đã giúp hợp thức hóa một lập trường tư tưởng như vậy. Tôi nghĩ chúng ta không thể giải thích mọi thứ bằng tôn giáo hay ý thức hệ của giáo chủ Khomenei, nhưng tôi tin chắc rằng vai trò này là có thật. Vai trò của lập trường tư tưởng này, theo một cách nào đó, tôn vinh sự đau khổ và hy sinh vì một lý tưởng cao cả hơn, vẫn tiếp tục khiến nhiều người trong xã hội Iran, trong nhóm trung thành với chế độ ước tính từ 6 triệu cho đến 15 triệu trong tổng số 90 triệu dân, tin tưởng rằng đối với Iran, chế độ này là công bằng nhất mà người ta có thể hy vọng. » Trừng phạt kinh tế giúp Vệ binh Cách mạng phát triển Một nghịch lý còn rất ít được chú ý, đó là trừng phạt kinh tế của phương Tây thay vì làm suy yếu chế độ lại củng cố sức mạnh của chính hệ thống quyền lực Iran, của thế lực bảo thủ, trong một xã hội, mà một bộ phận đông đảo dân chúng có trình độ giáo dục cao, vốn kết nối mạnh với thế giới bên ngoài. Ông Ali Vaez, thuộc nhóm International Crisis Group (trích phim Vệ binh Cách mạng, chủ nhân của Iran), nhận định : « Các trừng phạt kinh tế rất có lợi cho Vệ binh Cách mạng. Các doanh nghiệp của lực lượng này giống như loài nấm, chúng phát triển mạnh trong bóng tối, trong sự cô lập. Tổ chức International Crisis Group, mà tôi là thành viên, có sứ mạng ngăn ngừa xung đột. International Crisis Group có trách nhiệm đối thoại với tất cả các bên. Trước đây, chúng tôi đã từng đối thoại với Vệ binh Cách mạng. Nếu Iran kết nối với thế giới, với hệ thống tài chính thế giới, thì điều này đòi hỏi phải có sự minh bạch nhất định. Ngược lại, khi Iran bị cô lập, Vệ binh Cách mạng có thể độc quyền nhiều lĩnh vực, loại bỏ cạnh tranh, tham nhũng thả cửa. Khi không có cạnh tranh phương Tây, lực lượng này kiểm soát toàn bộ lĩnh vực lớn của nền kinh tế Iran ». Xu thế « quân sự hóa » của chế độ Hệ thống quyền lực của chế độ Hồi giáo Iran sẽ biến chuyển ra sao nếu chiến tranh và xung đột kéo dài? Nhà chính trị học Azadeh Kian ghi nhận xu thế « quân sự hóa » chế độ chính trị đang diễn ra, với vai trò ngày càng mờ nhạt của đạo Hồi. Chiến tranh khiến các thế lực cứng rắn, chống phương Tây đến cùng tại Iran trở nên mạnh hơn: « Không cần phải tiến hành đảo chính, tôi nghĩ là chúng ta đang hướng tới một chế độ ngày càng quân sự hóa, thậm chí có thể giống như Pakistan trong tương lai, nơi quân đội có tiếng nói cuối cùng, nhưng vẫn có sự hỗ trợ  ví dụ như của một lãnh đạo tôn giáo, hoặc một tổng thống bên cạnh. Một trong những tác động đáng kể nhất của cuộc chiến hiện tại là nếu chế độ này vẫn nắm quyền, nó sẽ trở thành một chế độ ngày càng quân sự hóa, trong đó thể chế giáo sĩ sẽ có ít ảnh hưởng hơn. Ngay cả khi chiến tranh kết thúc, tôi không tin rằng các chế độ quân chủ Ả Rập vùng Vịnh Ba Tư sẽ nối lại quan hệ hữu nghị với Iran. Vì vậy, để tự bảo vệ mình, Iran sẽ ngày càng quân sự hóa. Do đó, tình trạng chiến tranh không có lợi cho các phần tử ôn hòa trong khu vực, mà lại có lợi cho các phần tử cực đoan. Và đối với Iran, điều đó có nghĩa là xu thế quân sự hóa sẽ ngày càng mạnh. Chiến tranh cũng có thể là một yếu tố củng cố chế độ từ bên trong đối diện với chính người dân của mình, như chúng ta thấy hiện nay. » Chế độ Hồi giáo suy yếu nặng nề, nhưng chiến tranh giúp hồi sức Tuy nhiên, giáo sư Azadeh Kian mặt khác cũng lưu ý đến việc chế độ thần quyền Hồi giáo Iran trên thực tế đã « rất suy yếu » trong nước và trong khu vực. Hàng loạt phong trào phản kháng gần đây cho thấy điều đó, trong đó có phong trào bùng lên sau cái chết của một phụ nữ mang khăn trùm không đúng cách, bị cảnh sát đạo đức của chế độ bắt giữ, hay phong trào bất mãn vì kinh tế khó khăn, bị đàn áp trong máu, đã gây ra bất bình lớn trong nội bộ chế độ. Còn tại khu vực Trung Cận Đông, các lực lượng ủy nhiệm do Vệ binh Cách mạng chỉ đạo đã bị triệt hạ một phần đáng kể. Theo nhiều nhà quan sát, nhìn chung chỉ còn khoảng từ 10% đến 15% người Iran thực sự ủng hộ chế độ, vì lý do ý thức hệ hay vì quyền lợi. Số người sẵn sàng phản kháng có thể đông hơn, nhưng đại đa số dân chúng trong tư thế chờ đợi. Vấn đề được nhiều chuyên gia, nhà hoạt động xã hội Iran, trong đó có nhà chính trị học Azadeh Kian cảnh báo là : nếu chiến tranh kéo dài, thay vì khiến cho chế độ độc đoán tại Iran suy yếu, thì ngược lại, chỉ giúp củng cố thêm một chế độ đang bị áp lực thay đổi triệt để mới có thể tiếp tục tồn tại (« Cộng hòa Hồi giáo Iran như chúng ta đã biết trong gần nửa thế kỷ qua sẽ không thể tồn tại », phỏng vấn chuyên gia Bernard Hourcade, Le Nouvel Obs, 11/03/2026). 

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Việt Nam phối hợp với các nước Đông Nam Á triệt hạ những đường dây lừa đảo xuyên quốc gia

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Mar 9, 2026 10:23


Báo động trước tình trạng ngược đãi những người lao động bị cưỡng bức, trong đó có không ít nạn nhân là người Việt Nam, tại các trung tâm lừa đảo trực tuyến ở các nước Đông Nam Á, Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc ngày 20/02/2026 đã kêu gọi cộng đồng quốc tế hành động chống lại tệ nạn này. Riêng Việt Nam đang phối hợp với Cam Bốt và những đối tác khác ở Đông Nam Á để triệt hạ các đường dây lừa đảo xuyên quốc gia. Trong một báo cáo được công bố vào năm 2023, Liên Hiệp Quốc ước tính hàng trăm ngàn người đã bị cưỡng bức tuyển dụng để thực hiện các vụ lừa đảo trực tuyến. Báo cáo mới, dựa trên lời khai của các nạn nhân và các cuộc phỏng vấn với các cảnh sát và đại diện của xã hội dân sự, mô tả các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng mà những người bị buộc phải làm việc trong các trung tâm này phải gánh chịu.  Báo cáo ghi nhận các trường hợp tra tấn, ngược đãi, bóc lột, lạm dụng tình dục, cưỡng bức phá thai, bỏ đói và biệt giam. Một nạn nhân từ Sri Lanka khai rằng những người không đạt chỉ tiêu hàng tháng về lừa đảo đã bị dìm xuống nước hàng giờ trong các bể nước (gọi là 'nhà tù nước'). Các nạn nhân cũng kể lại việc bị ép buộc chứng kiến, thậm chí tham gia vào những hành vi vi phạm nhân quyền nghiêm trọng này. Một nạn nhân người Bangladesh cho biết anh ta được lệnh đánh đập những người lao động cưỡng bức khác, và một nạn nhân người Ghana mô tả việc bị ép buộc phải chứng kiến ​​bạn mình bị đánh đập. Một nạn nhân người Việt Nam kể lại việc em gái mình bị đánh đập, bị chích điện, bị nhốt trong phòng và bị bỏ đói trong bảy ngày vì đã toan đào thoát. Liên Hiệp Quốc lên án tình trạng những nạn nhân này bị xác định sai là tội phạm và bị truy tố hình sự, hoặc bị trừng phạt thay vì được bảo vệ. Từ nhiều năm qua, Cam Bốt đã trở thành “thiên đường” cho các tổ chức tội phạm điều hành ngành công nghiệp lừa đảo trị giá hàng tỷ đô la. Một báo cáo năm 2024 của Viện Hòa bình Hoa Kỳ ước tính doanh thu từ các vụ lừa đảo mạng ở Cam Bốt vượt quá 12,5 tỷ đô la mỗi năm, tương đương một nửa tổng sản phẩm nội địa (GDP) của nước này. Viện tư vấn Stimson Center, trụ sở chính tại thủ đô Washington của Mỹ, có một dự án về chống lừa đảo trên mạng, tập hợp các nhà khoa học cũng như các nhà hoạch định chính sách và cả đại diện các tập đoàn công nghệ như Google hoặc Meta. Sau ba năm thực hiện, vừa rồi họ đã tổ chức hội thảo tại Bangkok để tổng kết và đánh giá về những chiến dịch triệt hạ các trung tâm lừa đảo ở Cam Bốt. Tham gia dự án này có tiến sĩ Lương Thanh Hải, một nhà tội phạm học, hiện là giảng viên Trường Tư pháp hình sự và tội phạm học Griffith, Úc. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 05/03/2026, ông Lương Thanh Hải cho biết:  "Hơn nửa năm trở lại đây, từ giữa năm 2025 cho đến đầu năm 2026, dưới áp lực mạnh mẽ từ cộng đồng quốc tế, từ Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á, chính quyền Cam Bốt đã mở một chiến dịch quy mô rất lớn nhằm triệt phá các khu phức hợp lừa đảo trực tuyến ( scams compound ). Tất nhiên để đánh giá một kết quả tổng thể đòi hỏi những số liệu cụ thể và hiện nay thì chúng tôi vẫn đang cập nhật để có số liệu cụ thể chính xác. Nhưng sơ bộ thì trong vòng nửa năm trở lại đây, chính quyền Cam Bốt đã đánh sập được gần 200 trung tâm lừa đảo. Có thể nói là đây là một con số khá ấn tượng. Trong cuộc tọa đàm vừa rồi, chúng tôi cũng đã tổng kết sơ bộ ít nhất có hơn 173 nhân vật cầm đầu đã bị bắt và khoảng trên dưới 11.000 người tham gia đã bị trục xuất khỏi Cam Bốt. Hàng ngàn người là nạn nhân bị ép lừa đảo đã thoát khỏi các trung tâm đó. Đầu tháng 2 vừa rồi, chúng tôi cũng ghi nhận, đặc biệt là sau khi quân đội Thái Lan tiến hành công kích và triệt phá các khu phức hợp, các sòng bài lớn ở Cam Bốt, người ta đã phát hiện các đối tượng sử dụng trang phục cảnh sát của ít nhất là 7 nước như Úc, Brazil, Việt Nam, Indonesia, Singapore v.v... Đây có thể nói là những bằng chứng rõ nhất cho thấy các ổ lừa đảo này hoạt động hết sức  tinh vi, sử dụng các trang phục của lực lượng thực thi pháp luật nhằm tạo ra những kịch bản y như một cuộc thẩm vấn của cảnh sát liên bang Úc, hay của cảnh sát Việt Nam, cảnh sát Singapore..., để lừa đảo, thậm chí là đưa ra các kịch bản bắt bớ, khởi tố..., khiến các nạn nhân dễ bị đánh gục. Chính quyền Cam Bốt đầu năm vừa rồi đã đưa ra được một con số khá ấn tượng là đã giảm được khoảng 50% hoạt động lừa đảo trực tuyến sau các chiến dịch mạnh như vậy. Tất nhiên con số đó cũng cần phải được thẩm định.  Ngoài ra một số trùm mạng lưới, đặc biệt là Trần Chí ( Chen Zhi ), một đối tượng cầm đầu đã bị chính quyền Hoa Kỳ phong tỏa các tài sản và dưới áp lực của Mỹ, Cam Bốt cuối cùng cũng đã triển khai các chiến dịch và bắt được trùm lừa đảo này. Đầu năm vừa rồi, Trần Chí bị dẫn độ theo yêu cầu của chính quyền Trung Quốc đưa về Trung Quốc xét xử. Giới nghiên cứu chúng tôi tiếp tục cập nhật và hy vọng chính phủ Trung Quốc sẽ công bố những thông tin minh bạch, cũng như các bản án cụ thể, để chúng tôi từ góc độ tội phạm học có thể phân tích sâu hơn tại sao và như thế nào mà một trùm lừa đảo như Trần Chí lại có thể đi sâu và điều hành cả một tập đoàn lớn như vậy ở Cam Bốt trong rất nhiều năm. Sau khi phá được nhiều chuyên án lớn như vậy, nhiều tổ chức quốc tế cho rằng các đường dây này chỉ tạm thời giải tán thôi và rồi sẽ lại di chuyển sang địa phận khác. Các hoạt động tuyển dụng lao động của những trung tâm lừa đảo vẫn tiếp tục trên mạng xã hội. Bởi vì xét đến cùng, công nghiệp lừa đảo này ở Cam Bốt vẫn có quy mô cực lớn, có thể kiếm siêu lợi nhuận hàng chục tỷ đồng mỗi năm. Nói cách khác, chiến dịch này đã gây xáo trộn lớn, nhưng chưa thực sự triệt tiêu được hệ sinh thái đối với loại tội phạm lừa đảo qua mạng này." Hơn nữa, không chỉ có người Trung Quốc hay người Cam Bốt, mà có cả người Việt Nam điều hành đường dây lừa đảo ở xứ Chùa Tháp. Theo báo chí Việt Nam, ngày 13/02, Công an Đồng Nai phối hợp Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an) đã tạm giữ Nguyễn Thị Vân, 30 tuổi, cùng 13 người khác để điều tra hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nguyễn Thị Vân được xác đinh là cầm đầu đường dây lừa đảo 2.500 tỷ đồng của hàng ngàn nạn nhân, hoạt động tại Cam Bốt. Các nhà điều tra cho biết đây là một trong những vụ án đầu tiên bắt giữ được chủ mưu là người Việt Nam, tự đầu tư cơ sở hạ tầng quy mô lớn và vận hành hệ thống lừa đảo tại nhiều địa điểm ở Cam Bốt. Ngày 25/02, đến lượt Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Tây Ninh ra thông báo tìm những ai là nạn nhân của Huỳnh Nguyễn Ngọc Huy trong vụ án lừa đảo qua mạng xã hội để mua bán người. Cụ thể, Huy dùng tài khoản Facebook "Huy Trần" đăng tin tuyển dụng giả giới thiệu các “việc nhẹ lương cao” để lừa gạt nạn nhân đưa sang Cam Bốt. Tại đây, các nạn nhân bị ép buộc làm việc, nếu muốn về nước phải trả tiền chuộc rất cao, hoặc bị bán tiếp sang các công ty lừa đảo khác. Nhà tội phạm học Lương Thanh Hải giải thích:  "Qua nghiên cứu từ thực tiễn, cũng như về lý thuyết, chúng tôi gọi đó là sự trùng lặp, sự lặp lại giữa nạn nhân và thủ phạm. Chúng tôi hay dùng thuật ngữ offender - victim overlap. Họ là những nạn nhân đã bị dụ dỗ để sang làm, bị ép buộc, được đào tạo từng bước một, từng kịch bản một và thậm chí đóng các kịch bản lực lượng thực thi pháp luật của nước A, nước B, nước C để lừa ngược lại. Thậm chí khi bị nhốt vào các trung tâm lừa đảo này, họ bị ép buộc phải đạt được chỉ số KPI ( chỉ số đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động ), hàng ngày hàng giờ phải thực hiện bao nhiêu cuộc lừa đảo. Thành thử họ không còn lựa chọn nào khác, buộc phải làm ngày làm đêm, thậm chí phải lừa cả người thân trong gia đình, bạn bè của họ ở Việt Nam, lôi kéo sang để lại trở thành nạn nhân của các vụ lừa đảo qua mạng tiếp theo. Trong khoảng hai năm trở lại đây, công an Việt Nam cũng đã phối hợp khá chặt chẽ với các lực lượng thực thi pháp luật của khu vực Đông Nam Á, thông qua các kênh chính thống, ví dụ như ASEANAPOL, tức là Hiệp hội cảnh sát trưởng của các nước ASEAN, hoặc là thông qua các đối tác song phương giữa cảnh sát và bộ Nội Vụ của Vương Quốc Cam Bốt hoặc Thái Lan. Đã có nhiều cuộc giải cứu thành công, ví dụ mới đây công an tỉnh Tuyên Quang đã giải cứu và đưa được khoảng 74 nghi phạm từ Cam Bốt và Việt Nam trong một vụ lừa đảo lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Hiện nay, Việt Nam được đánh giá là một những nước đầu tiên của khu vực Đông Nam Á đang hướng tới áp dụng nguyên tắc "không hình phạt" đối với nạn nhân, nếu như chứng minh được họ là nạn nhân của các vụ ép buộc lừa đảo trực tuyến. Điều này cũng đã được cụ thể hóa trong luật về phòng chống buôn bán người của Việt Nam được sửa đổi năm 2024 và có hiệu lực từ tháng 7/2025. Về góc độ chính sách và pháp luật, chúng tôi cho đấy là một trong những bước tiến rất đáng ghi nhận từ chính quyền Việt Nam." Một cơ sơ pháp lý khác để Việt Nam có thể tăng cường hợp tác với các nước để diệt trừ các trung tâm lừa đảo, theo ông Lương Thanh Hải, chính là Công ước Hà Nội:  "Công ước Hà Nội, tức là Công ước của Liên Hiệp Quốc về phòng chống tội phạm mạng, đã được ký từ tháng 10/2025. Bản thân Việt Nam và Cam Bốt, cùng một số nước khác trong Đông Nam Á, có tham gia. Theo thống kê của chúng tôi, tổng số nước ký kết đã lên đến 73 hoặc là 75 nước. Đây là một bước tiến lớn về cơ sở pháp lý để tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng chống các tội phạm mạng, bao gồm cả lừa đảo trực tuyến như các trung tâm ở Cam Bốt. Tuy nhiên, phần lớn những người Việt được phát hiện tham gia, thậm chí trực tiếp đi sang và cầm đầu các nhóm đối tượng ở Cam Bốt trong các trung tâm lừa đảo trực tuyến không phải là những "big boss", không phải là trùm của những ông trùm. Phần lớn những ông trùm đó vẫn là "behind the scene", vẫn đang tiếp tục lẫn trốn. Như trường hợp của Trần Chí chẳng hạn, phải mất rất nhiều thời gian mới bị phá vỡ và bị bắt. Thành thử  những người Việt này thì chúng tôi đánh giá chủ yếu là đứng đằng sau điều hành các trung tâm lừa đảo Cam Bốt. Công an Việt Nam cũng đang tiếp tục khởi tố theo các nhóm tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, hoặc tổ chức đưa người ra nước ngoài trái phép, tham gia trực tiếp vào các trung tâm lừa đảo đó. Các số liệu cũng như các bằng chứng cho thấy các đường dây này thường là dụ người Việt Nam bằng cái chiêu là "việc nhẹ lương cao", sau đó bán sang trung tâm lừa đảo. Các cơ quan công an Việt Nam trực tiếp cũng như phối hợp với lượng thực thi pháp luật các nước, trong đó Cam Bốt và Thái Lan, đã triệt phá các nhóm môi giới này trên các nền tảng xã hội, như Zalo hoặc Facebook và có nhiều trường hợp đã xử lý về tội mua bán người, hoặc tổ chức xuất cảnh trái phép. Chúng tôi cũng kỳ vọng Công ước Hà Nội, cũng như các cơ sở pháp lý khác trong khu vực ASEAN, đặc biệt là giữa các nước Việt Nam, Lào, Cam Bốt và thậm chí cả Thái Lan nữa, sẽ tăng cường hợp tác về thực thi pháp luật, trao đổi dữ liệu về tội phạm mạng, tiếp tục phối hợp giải cứu các nạn nhân và cũng có thể tiến hành dẫn độ, hoặc trao đổi các loại tài liệu liên quan đến điều tra, truy tố và xét xử trong quá trình triệt phá các băng nhóm từ nay cho đến cuối năm và trong thời gian tới."

Tạp chí Việt Nam
Việt Nam phối hợp với các nước Đông Nam Á triệt hạ những đường dây lừa đảo xuyên quốc gia

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later Mar 9, 2026 10:23


Báo động trước tình trạng ngược đãi những người lao động bị cưỡng bức, trong đó có không ít nạn nhân là người Việt Nam, tại các trung tâm lừa đảo trực tuyến ở các nước Đông Nam Á, Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc ngày 20/02/2026 đã kêu gọi cộng đồng quốc tế hành động chống lại tệ nạn này. Riêng Việt Nam đang phối hợp với Cam Bốt và những đối tác khác ở Đông Nam Á để triệt hạ các đường dây lừa đảo xuyên quốc gia. Trong một báo cáo được công bố vào năm 2023, Liên Hiệp Quốc ước tính hàng trăm ngàn người đã bị cưỡng bức tuyển dụng để thực hiện các vụ lừa đảo trực tuyến. Báo cáo mới, dựa trên lời khai của các nạn nhân và các cuộc phỏng vấn với các cảnh sát và đại diện của xã hội dân sự, mô tả các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng mà những người bị buộc phải làm việc trong các trung tâm này phải gánh chịu.  Báo cáo ghi nhận các trường hợp tra tấn, ngược đãi, bóc lột, lạm dụng tình dục, cưỡng bức phá thai, bỏ đói và biệt giam. Một nạn nhân từ Sri Lanka khai rằng những người không đạt chỉ tiêu hàng tháng về lừa đảo đã bị dìm xuống nước hàng giờ trong các bể nước (gọi là 'nhà tù nước'). Các nạn nhân cũng kể lại việc bị ép buộc chứng kiến, thậm chí tham gia vào những hành vi vi phạm nhân quyền nghiêm trọng này. Một nạn nhân người Bangladesh cho biết anh ta được lệnh đánh đập những người lao động cưỡng bức khác, và một nạn nhân người Ghana mô tả việc bị ép buộc phải chứng kiến ​​bạn mình bị đánh đập. Một nạn nhân người Việt Nam kể lại việc em gái mình bị đánh đập, bị chích điện, bị nhốt trong phòng và bị bỏ đói trong bảy ngày vì đã toan đào thoát. Liên Hiệp Quốc lên án tình trạng những nạn nhân này bị xác định sai là tội phạm và bị truy tố hình sự, hoặc bị trừng phạt thay vì được bảo vệ. Từ nhiều năm qua, Cam Bốt đã trở thành “thiên đường” cho các tổ chức tội phạm điều hành ngành công nghiệp lừa đảo trị giá hàng tỷ đô la. Một báo cáo năm 2024 của Viện Hòa bình Hoa Kỳ ước tính doanh thu từ các vụ lừa đảo mạng ở Cam Bốt vượt quá 12,5 tỷ đô la mỗi năm, tương đương một nửa tổng sản phẩm nội địa (GDP) của nước này. Viện tư vấn Stimson Center, trụ sở chính tại thủ đô Washington của Mỹ, có một dự án về chống lừa đảo trên mạng, tập hợp các nhà khoa học cũng như các nhà hoạch định chính sách và cả đại diện các tập đoàn công nghệ như Google hoặc Meta. Sau ba năm thực hiện, vừa rồi họ đã tổ chức hội thảo tại Bangkok để tổng kết và đánh giá về những chiến dịch triệt hạ các trung tâm lừa đảo ở Cam Bốt. Tham gia dự án này có tiến sĩ Lương Thanh Hải, một nhà tội phạm học, hiện là giảng viên Trường Tư pháp hình sự và tội phạm học Griffith, Úc. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 05/03/2026, ông Lương Thanh Hải cho biết:  "Hơn nửa năm trở lại đây, từ giữa năm 2025 cho đến đầu năm 2026, dưới áp lực mạnh mẽ từ cộng đồng quốc tế, từ Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á, chính quyền Cam Bốt đã mở một chiến dịch quy mô rất lớn nhằm triệt phá các khu phức hợp lừa đảo trực tuyến ( scams compound ). Tất nhiên để đánh giá một kết quả tổng thể đòi hỏi những số liệu cụ thể và hiện nay thì chúng tôi vẫn đang cập nhật để có số liệu cụ thể chính xác. Nhưng sơ bộ thì trong vòng nửa năm trở lại đây, chính quyền Cam Bốt đã đánh sập được gần 200 trung tâm lừa đảo. Có thể nói là đây là một con số khá ấn tượng. Trong cuộc tọa đàm vừa rồi, chúng tôi cũng đã tổng kết sơ bộ ít nhất có hơn 173 nhân vật cầm đầu đã bị bắt và khoảng trên dưới 11.000 người tham gia đã bị trục xuất khỏi Cam Bốt. Hàng ngàn người là nạn nhân bị ép lừa đảo đã thoát khỏi các trung tâm đó. Đầu tháng 2 vừa rồi, chúng tôi cũng ghi nhận, đặc biệt là sau khi quân đội Thái Lan tiến hành công kích và triệt phá các khu phức hợp, các sòng bài lớn ở Cam Bốt, người ta đã phát hiện các đối tượng sử dụng trang phục cảnh sát của ít nhất là 7 nước như Úc, Brazil, Việt Nam, Indonesia, Singapore v.v... Đây có thể nói là những bằng chứng rõ nhất cho thấy các ổ lừa đảo này hoạt động hết sức  tinh vi, sử dụng các trang phục của lực lượng thực thi pháp luật nhằm tạo ra những kịch bản y như một cuộc thẩm vấn của cảnh sát liên bang Úc, hay của cảnh sát Việt Nam, cảnh sát Singapore..., để lừa đảo, thậm chí là đưa ra các kịch bản bắt bớ, khởi tố..., khiến các nạn nhân dễ bị đánh gục. Chính quyền Cam Bốt đầu năm vừa rồi đã đưa ra được một con số khá ấn tượng là đã giảm được khoảng 50% hoạt động lừa đảo trực tuyến sau các chiến dịch mạnh như vậy. Tất nhiên con số đó cũng cần phải được thẩm định.  Ngoài ra một số trùm mạng lưới, đặc biệt là Trần Chí ( Chen Zhi ), một đối tượng cầm đầu đã bị chính quyền Hoa Kỳ phong tỏa các tài sản và dưới áp lực của Mỹ, Cam Bốt cuối cùng cũng đã triển khai các chiến dịch và bắt được trùm lừa đảo này. Đầu năm vừa rồi, Trần Chí bị dẫn độ theo yêu cầu của chính quyền Trung Quốc đưa về Trung Quốc xét xử. Giới nghiên cứu chúng tôi tiếp tục cập nhật và hy vọng chính phủ Trung Quốc sẽ công bố những thông tin minh bạch, cũng như các bản án cụ thể, để chúng tôi từ góc độ tội phạm học có thể phân tích sâu hơn tại sao và như thế nào mà một trùm lừa đảo như Trần Chí lại có thể đi sâu và điều hành cả một tập đoàn lớn như vậy ở Cam Bốt trong rất nhiều năm. Sau khi phá được nhiều chuyên án lớn như vậy, nhiều tổ chức quốc tế cho rằng các đường dây này chỉ tạm thời giải tán thôi và rồi sẽ lại di chuyển sang địa phận khác. Các hoạt động tuyển dụng lao động của những trung tâm lừa đảo vẫn tiếp tục trên mạng xã hội. Bởi vì xét đến cùng, công nghiệp lừa đảo này ở Cam Bốt vẫn có quy mô cực lớn, có thể kiếm siêu lợi nhuận hàng chục tỷ đồng mỗi năm. Nói cách khác, chiến dịch này đã gây xáo trộn lớn, nhưng chưa thực sự triệt tiêu được hệ sinh thái đối với loại tội phạm lừa đảo qua mạng này." Hơn nữa, không chỉ có người Trung Quốc hay người Cam Bốt, mà có cả người Việt Nam điều hành đường dây lừa đảo ở xứ Chùa Tháp. Theo báo chí Việt Nam, ngày 13/02, Công an Đồng Nai phối hợp Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an) đã tạm giữ Nguyễn Thị Vân, 30 tuổi, cùng 13 người khác để điều tra hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nguyễn Thị Vân được xác đinh là cầm đầu đường dây lừa đảo 2.500 tỷ đồng của hàng ngàn nạn nhân, hoạt động tại Cam Bốt. Các nhà điều tra cho biết đây là một trong những vụ án đầu tiên bắt giữ được chủ mưu là người Việt Nam, tự đầu tư cơ sở hạ tầng quy mô lớn và vận hành hệ thống lừa đảo tại nhiều địa điểm ở Cam Bốt. Ngày 25/02, đến lượt Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Tây Ninh ra thông báo tìm những ai là nạn nhân của Huỳnh Nguyễn Ngọc Huy trong vụ án lừa đảo qua mạng xã hội để mua bán người. Cụ thể, Huy dùng tài khoản Facebook "Huy Trần" đăng tin tuyển dụng giả giới thiệu các “việc nhẹ lương cao” để lừa gạt nạn nhân đưa sang Cam Bốt. Tại đây, các nạn nhân bị ép buộc làm việc, nếu muốn về nước phải trả tiền chuộc rất cao, hoặc bị bán tiếp sang các công ty lừa đảo khác. Nhà tội phạm học Lương Thanh Hải giải thích:  "Qua nghiên cứu từ thực tiễn, cũng như về lý thuyết, chúng tôi gọi đó là sự trùng lặp, sự lặp lại giữa nạn nhân và thủ phạm. Chúng tôi hay dùng thuật ngữ offender - victim overlap. Họ là những nạn nhân đã bị dụ dỗ để sang làm, bị ép buộc, được đào tạo từng bước một, từng kịch bản một và thậm chí đóng các kịch bản lực lượng thực thi pháp luật của nước A, nước B, nước C để lừa ngược lại. Thậm chí khi bị nhốt vào các trung tâm lừa đảo này, họ bị ép buộc phải đạt được chỉ số KPI ( chỉ số đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động ), hàng ngày hàng giờ phải thực hiện bao nhiêu cuộc lừa đảo. Thành thử họ không còn lựa chọn nào khác, buộc phải làm ngày làm đêm, thậm chí phải lừa cả người thân trong gia đình, bạn bè của họ ở Việt Nam, lôi kéo sang để lại trở thành nạn nhân của các vụ lừa đảo qua mạng tiếp theo. Trong khoảng hai năm trở lại đây, công an Việt Nam cũng đã phối hợp khá chặt chẽ với các lực lượng thực thi pháp luật của khu vực Đông Nam Á, thông qua các kênh chính thống, ví dụ như ASEANAPOL, tức là Hiệp hội cảnh sát trưởng của các nước ASEAN, hoặc là thông qua các đối tác song phương giữa cảnh sát và bộ Nội Vụ của Vương Quốc Cam Bốt hoặc Thái Lan. Đã có nhiều cuộc giải cứu thành công, ví dụ mới đây công an tỉnh Tuyên Quang đã giải cứu và đưa được khoảng 74 nghi phạm từ Cam Bốt và Việt Nam trong một vụ lừa đảo lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Hiện nay, Việt Nam được đánh giá là một những nước đầu tiên của khu vực Đông Nam Á đang hướng tới áp dụng nguyên tắc "không hình phạt" đối với nạn nhân, nếu như chứng minh được họ là nạn nhân của các vụ ép buộc lừa đảo trực tuyến. Điều này cũng đã được cụ thể hóa trong luật về phòng chống buôn bán người của Việt Nam được sửa đổi năm 2024 và có hiệu lực từ tháng 7/2025. Về góc độ chính sách và pháp luật, chúng tôi cho đấy là một trong những bước tiến rất đáng ghi nhận từ chính quyền Việt Nam." Một cơ sơ pháp lý khác để Việt Nam có thể tăng cường hợp tác với các nước để diệt trừ các trung tâm lừa đảo, theo ông Lương Thanh Hải, chính là Công ước Hà Nội:  "Công ước Hà Nội, tức là Công ước của Liên Hiệp Quốc về phòng chống tội phạm mạng, đã được ký từ tháng 10/2025. Bản thân Việt Nam và Cam Bốt, cùng một số nước khác trong Đông Nam Á, có tham gia. Theo thống kê của chúng tôi, tổng số nước ký kết đã lên đến 73 hoặc là 75 nước. Đây là một bước tiến lớn về cơ sở pháp lý để tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng chống các tội phạm mạng, bao gồm cả lừa đảo trực tuyến như các trung tâm ở Cam Bốt. Tuy nhiên, phần lớn những người Việt được phát hiện tham gia, thậm chí trực tiếp đi sang và cầm đầu các nhóm đối tượng ở Cam Bốt trong các trung tâm lừa đảo trực tuyến không phải là những "big boss", không phải là trùm của những ông trùm. Phần lớn những ông trùm đó vẫn là "behind the scene", vẫn đang tiếp tục lẫn trốn. Như trường hợp của Trần Chí chẳng hạn, phải mất rất nhiều thời gian mới bị phá vỡ và bị bắt. Thành thử  những người Việt này thì chúng tôi đánh giá chủ yếu là đứng đằng sau điều hành các trung tâm lừa đảo Cam Bốt. Công an Việt Nam cũng đang tiếp tục khởi tố theo các nhóm tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, hoặc tổ chức đưa người ra nước ngoài trái phép, tham gia trực tiếp vào các trung tâm lừa đảo đó. Các số liệu cũng như các bằng chứng cho thấy các đường dây này thường là dụ người Việt Nam bằng cái chiêu là "việc nhẹ lương cao", sau đó bán sang trung tâm lừa đảo. Các cơ quan công an Việt Nam trực tiếp cũng như phối hợp với lượng thực thi pháp luật các nước, trong đó Cam Bốt và Thái Lan, đã triệt phá các nhóm môi giới này trên các nền tảng xã hội, như Zalo hoặc Facebook và có nhiều trường hợp đã xử lý về tội mua bán người, hoặc tổ chức xuất cảnh trái phép. Chúng tôi cũng kỳ vọng Công ước Hà Nội, cũng như các cơ sở pháp lý khác trong khu vực ASEAN, đặc biệt là giữa các nước Việt Nam, Lào, Cam Bốt và thậm chí cả Thái Lan nữa, sẽ tăng cường hợp tác về thực thi pháp luật, trao đổi dữ liệu về tội phạm mạng, tiếp tục phối hợp giải cứu các nạn nhân và cũng có thể tiến hành dẫn độ, hoặc trao đổi các loại tài liệu liên quan đến điều tra, truy tố và xét xử trong quá trình triệt phá các băng nhóm từ nay cho đến cuối năm và trong thời gian tới."

Tạp chí văn hóa
Nhà sản xuất phim Katayoon Shahabi: "Iran là một nhà tù lớn"

Tạp chí văn hóa

Play Episode Listen Later Feb 13, 2026 9:47


Là thành viên ban giám khảo quốc tế của Liên hoan Điện ảnh Châu Á Vesoul 2026 ( 27/01-03/02/2026 ), trong lễ khai mạc khai mạc sự kiện này tối 27/01, bà Katayoon Shahabi, nhà sản xuất phim người Iran nay sống lưu vong tại Pháp, đã mạnh mẽ lên tiếng tố cáo những tội ác của chế độ Teheran, thảm sát hàng chục ngàn người biểu tình chống chính quyền. Đối với bà Shahabi, Iran ngày nay càng giống như là một "nhà tù lớn". Sinh tại Teheran năm 1963, Katayoun Shahabi theo học văn học Pháp trước khi gia nhập Quỹ Điện ảnh Farabi (FCF) năm 1984. Mười năm sau, bà thành lập Cima Media International, chuyên quảng bá các chương trình nghe nhìn và đồng sản xuất nhiều phim tài liệu và phim truyện. Năm 2001, bà thành lập công ty riêng, Sheherazad Media International (SMI), trở thành nhà phân phối tư nhân lớn nhất các bộ phim Iran trên toàn thế giới. Katayoun Shahabi cũng đã đồng sản xuất nhiều phim tài liệu, như với kênh truyền hình Pháp-Đức Arte và sau đó sản xuất phim truyện, vẫn theo hình thức đồng sản xuất. Katayoon Shahabi từng là thành viên ban giám khảo tại các liên hoan phim quốc tế như San Sebastian (với tư cách chủ tịch), Liên hoan phim tài liệu quốc tế Amsterdam (IDFA) và Mannheim-Heidelberg. Bà còn là thành iên ban giám khảo cho hạng mục tranh giải chính tại Liên hoan phim Cannes 2016, là người Iran thứ ba được chọn vào ban giám khảo này sau các đạo diễn  Abbas Kiarostami và Leila Hatami.  Trả lời RFI Việt ngữ tại Liên hoan Vesoul ngày 28/01/2026, Katayoun Shahabi cho biết: “Tôi bắt đầu sự nghiệp ở tuổi 20 tại Quỹ Điện ảnh Farabi, chuyên quảng bá phim Iran trên toàn thế giới. Chính tại đó mà tôi thực sự khám phá ra điện ảnh Iran, khám phá những đạo diễn lớn. Tôi chưa từng học về điện ảnh và ban đầu không có mục tiêu làm phim, nhưng lúc đó tôi quyết định sẽ làm việc trong lĩnh vực điện ảnh.  Tôi lớn lên trong một gia đình mà không ai bảo tôi rằng một phụ nữ sẽ bị những hạn chế. Vì vậy, khi bắt đầu làm việc, tôi không hiểu tại sao tất cả các đồng nghiệp mới được tuyển dụng đều được đi dự liên hoan phim, trong khi tôi thì không được cử đi. Tôi cũng không hiểu tại sao tôi không thể viết tên mình mà luôn phải viết tên của những người đàn ông làm việc với tôi. Như thể tôi là người vô hình vậy! Đó là lý do tại sao tôi đã từ chức khỏi Quỹ Điện ảnh Farabi và sau chín năm, tôi rời khỏi Cima Media International, rồi quyết định thành lập công ty riêng của mình. Khi còn làm công tác truyền thông, tôi đã yêu cầu được cử đi nước ngoài vì tôi là giám đốc phụ trách các vấn đề quốc tế, nhưng họ không muốn cử tôi đi, chẳng hạn như tham gia Liên hoan phim Cannes. Tôi bèn  nói với họ: "Hoặc là các ông cử tôi đi, hoặc là tôi sẽ từ chức."  Thế là họ phải cử tôi đi, vì tôi là người có kinh nghiệm nhất, họ không có ai khác. Vì vậy, tôi hiểu rằng mình luôn phải đòi những gì mình phải được hưởng, vì không ai tự nhiên cho mình cả.”  Ngày 17/09/2011, Katayoon và sáu nhà làm phim khác bị bắt giữ với cáo buộc "làm gián điệp cho Đài BBC tiếng Ba Tư". Chính quyền cho rằng các phim tài liệu do BBC phát sóng là bất hợp pháp và vẽ nên "một bức tranh đen tối về Iran và người dân Iran". Các vụ bắt giữ này đã dẫn đến nhiều cuộc biểu tình phản đối trên thế giới.  Katayoon Shahabi kể lại: “Tôi đã bị bắt sau khi ban tiếng Ba Tư của đài BBC được thành lập ở Iran. Vào năm 2008 đã có các cuộc bạo loạn đầu tiên và BBC Ba Tư đã đưa tin về những vụ đó. Họ đã tiếp cận tôi với tư cách là nhà sản xuất và phân phối phim để đề nghị tôi làm phim, nhưng tôi từ chối. Sau đó, họ sản xuất một bộ phim về Khamenei và muốn phát sóng nó. Chính quyền đã nói với họ: "Nếu các ông phát sóng bộ phim đó, chúng tôi sẽ coi đó là lằn ranh đỏ. Chúng tôi sẽ khiến không ai có thể làm việc với các ông nữa." Tôi là nhà sản xuất kiêm nhà phân phối quốc tế duy nhất trong số họ và là phụ nữ duy nhất. Vì tôi khá nổi tiếng trong giới điện ảnh lúc đó, họ muốn lấy tôi làm gương và nói rằng: “Hãy cẩn thận, cô có thể bị bắt bất cứ lúc nào”.  Khi bị bắt giữ, lúc đầu tôi rất ngạc nhiên và sợ hãi. Nhưng sau đó tôi tự nhủ mình không làm gì sai, chỉ làm nhiệm vụ của mình thôi. Vì vậy, tôi không sợ nữa. Họ muốn ghi hình tôi để làm một lời thú tội giả trên truyền hình, nhưng tôi không đồng ý, nên đã bị thẩm vấn bốn hoặc năm lần và bị biệt giam cho đến khi họ hiểu rằng tôi sẽ không làm theo ý của họ. Rất nhiều bạn bè của tôi ở bên ngoài đã làm đơn kiến ​​nghị, có rất nhiều tiếng nói đòi thả tôi, cuối cùng họ buộc phải thả tôi.” Sau 54 ngày ngồi tù, Katayoon Shahabi được tự do, nhưng bị thu hồi giấy phép kinh doanh, đồng thời bị cấm xuất cảnh. Khi lệnh cấm được dỡ bỏ, bà đã sang Pháp đăng ký thành lập công ty mới, Noori Pictures, vào năm 2012 trước khi trở về Iran. Với công ty mới này, bà đã mở rộng hoạt động sản xuất phim và phân phối quốc tế các tác phẩm của Iran và đạt được nhiều thành công. Một số phim do công ty của bà phân phối đã đoạt giải tại các liên hoan phim quốc tế như Cannes và Venise.  Với việc chính quyền Cộng hòa Hồi giáo Iran tăng cường các hạn chế đối với các nhà sản xuất phim trong những năm gần đây, Katayoon Shahabi buộc phải sản xuất phim ở nước ngoài, cụ thể là sản xuất một phim ở Afghanistan năm 2019 và một phim ở Azerbaijan ba năm sau đó. Cả hai phim đều được trình chiếu tại Liên hoan phim Venise. Bà Katayoon Shahabi thổ lộ: "Trong một chế độ độc tài thần quyền, mọi điều người dân làm, ngay cả trong nhà, nghe nhạc gì, có uống rượu hay không, có sử dụng truyền hình vệ tinh hay không, đều bị kiểm soát. Giờ đây khi đã được sống tự do ba năm ở bên ngoài, tôi càng nhận ra Iran là một nhà tù lớn.” Nhưng ngay chính bà cũng không ngờ rằng chính quyền Cộng hòa Hồi giáo nay lại tỏ ra tàn bạo như thế, thảm sát đến hàng chục ngàn người biểu tình chống chính quyền:  “Đối với một người đã tham gia tất cả các cuộc biểu tình trước khi có phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do”( phong trào nỗ ra sau cái chết của nữ sinh viên Mahsa Amini, bị cảnh sát bắt vì đeo khăng choàng Hồi Giáo không đúng cách ), ngay lập tức tôi đã hiểu rằng đây là một cuộc cách mạng. Đối với tôi, những gì đang xảy ra ở Iran là sự tiếp nối của phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do”. Trên thực tế, tất cả các cuộc biểu tình trong những năm 2009, 2017, 2019 thực sự bổ sung cho nhau. Nhưng trên hết, phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do” là một cuộc cách mạng, đặc biệt là vì chính thế hệ Z đã khởi xướng cuộc cách mạng này. Chúng tôi nghĩ rằng không chỉ là do khó khăn kinh tế, mà là do người dân Iran đã quá chán ghét chế độ. Trên xe taxi, trên các phương tiện giao thông công cộng, mọi người đều phàn nàn, mọi người đã bắt đầu lăng mạ giáo chủ Khamenei  Vì vậy, đối với tôi, đó là điều có thể dự đoán được. Tôi không ngạc nhiên, tôi hiểu sự phẫn nộ và tôi chắc chắn sẽ có một cuộc đàn áp đẫm máu, nhưng chưa bao giờ trong đời tôi nghĩ con số người bị giết lại lên đến 50.000. Thật sự là chưa từng có! Họ đã giết quá nhiều người, mỗi người bị giết, cả gia đình đều nổi dậy. Nay mọi người đều hiểu rằng, ở một đất nước không có tự do, không có dân chủ, ngay cả khi nền kinh tế phát triển tốt, đất nước cũng sẽ không thể tiến xa hơn nữa. Nhưng quá nhiều người chết, những người con ưu tú nhất của đất nước chúng tôi đã ra đi vì tự do, và điều đó làm tôi đau lòng.”  Trước mức độ tàn bạo của cuộc đàn áp biểu tình, bà Katayoon Shahabi cho rằng đã đến lúc Pháp nói riêng và châu Âu nói chung phải thật sự có hành động để đứng hẳn về phía người dân Iran: “Tôi nghĩ vấn đề ở châu Âu là có rất nhiều lời nói suông mà không có hành động cụ thể. Đặc biệt là với Pháp, ví dụ lập trường của họ đối với Palestine và Ukraina nhìn chung được coi là những lập trường tốt. Nhưng trên thực tế, hành động của họ không phù hợp với lập trường đó.  Chắc chắn đó là lý do tại sao, thật không may, chỉ có Mỹ và Israel. Họ vẫn chưa can thiệp, nhưng tôi chắc chắn rằng Trump là người tính toán về kinh tế và biết rằng Iran là một quốc gia rộng lớn với rất nhiều tài nguyên. Ông ấy sẽ can thiệp vì ông ấy đã hứa. Nhưng thật đáng tiếc, vì tôi thích các nước dân chủ can thiệp hơn, giống như họ đã làm ở Serbia với Kosovo hay với Bosnia - Herzegovina vào những năm 1980. Vì đây thực sự là tội ác chống nhân loại. Chế độ Iran là một chế độ mafia. ADN của chế độ này giống như của Putin. Ta không thể nói chuyện với Putin, không thể nói chuyện với Hitler, không thể nói chuyện với Mussolini. Họ đối thoại chỉ để câu giờ. Chỉ có vũ lực mới giải quyết được. Hoặc là châu Âu có lập trường cứng rắn và không chỉ dựa vào các giải pháp ngoại giao, hoặc họ sẽ nói: "Hãy nhìn xem, đây là tội ác chống nhân loại. Nếu các người tiếp tục, chúng tôi phải can thiệp." Tôi tin Iran cũng cần hiểu rằng vào năm 1979, với cuộc cách mạng của mình, họ đã cho thế giới thấy tôn giáo có thể được sử dụng để cai trị. Giờ đây, với phong trào Phụ nữ Cuộc sống Tự do, họ đang trình bày một mô hình hoàn toàn trái ngược với mô hình năm 1979. Đây thực sự là một cuộc cách mạng rất hiện đại mà thế giới cần đến để đạt được bình đẳng nam nữ. Vì vậy, đây không phải chỉ riêng ở Iran, mà là một vấn đề mang tính phổ quát.” Trong khi đó, giới điện ảnh trong ước tiếp tục bị chính quyền Cộng hòa Hồi Giáo đàn áp. Đạo diễn Iran Mehdi Mahmoudian nằm trong số ba người bị bắt ngày 01/02 vì nghi ngờ giúp lan truyền thông điệp của cựu thủ tướng Mir Hossein Mousavi ( một nhân vật hàng đầu trong phe đối lập Iran, bị quản thúc tại gia từ năm 2011 ) chỉ trích chế độ Teheran, theo tin từ hãng thông tấn Fars của Iran. Mehdi Mahmoudian là đồng biên kịch của bộ phim "A Simple Accident", đoạt giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes năm 2025.  Phẫn nộ vì chiến dịch đàn áp biểu tình, ngày 02/02, nữ tài tử nổi tiếng người Iran Elnaz Shakerdoost, từng đóng vai chính trong hàng chục bộ phim, tuyên bố cô sẽ không tiếp tục làm việc tại đất nước mình, "một nơi nồng nặc mùi máu". Trên trang Instagram của cô, Elnaz Shakerdoost thông báo tẩy chay Liên hoan phim quốc tế Fajr ở Teheran ( 31/01 - 11/02/2026 ).

TẠP CHÍ VĂN HÓA
Nhà sản xuất phim Katayoon Shahabi: "Iran là một nhà tù lớn"

TẠP CHÍ VĂN HÓA

Play Episode Listen Later Feb 13, 2026 9:47


Là thành viên ban giám khảo quốc tế của Liên hoan Điện ảnh Châu Á Vesoul 2026 ( 27/01-03/02/2026 ), trong lễ khai mạc khai mạc sự kiện này tối 27/01, bà Katayoon Shahabi, nhà sản xuất phim người Iran nay sống lưu vong tại Pháp, đã mạnh mẽ lên tiếng tố cáo những tội ác của chế độ Teheran, thảm sát hàng chục ngàn người biểu tình chống chính quyền. Đối với bà Shahabi, Iran ngày nay càng giống như là một "nhà tù lớn". Sinh tại Teheran năm 1963, Katayoun Shahabi theo học văn học Pháp trước khi gia nhập Quỹ Điện ảnh Farabi (FCF) năm 1984. Mười năm sau, bà thành lập Cima Media International, chuyên quảng bá các chương trình nghe nhìn và đồng sản xuất nhiều phim tài liệu và phim truyện. Năm 2001, bà thành lập công ty riêng, Sheherazad Media International (SMI), trở thành nhà phân phối tư nhân lớn nhất các bộ phim Iran trên toàn thế giới. Katayoun Shahabi cũng đã đồng sản xuất nhiều phim tài liệu, như với kênh truyền hình Pháp-Đức Arte và sau đó sản xuất phim truyện, vẫn theo hình thức đồng sản xuất. Katayoon Shahabi từng là thành viên ban giám khảo tại các liên hoan phim quốc tế như San Sebastian (với tư cách chủ tịch), Liên hoan phim tài liệu quốc tế Amsterdam (IDFA) và Mannheim-Heidelberg. Bà còn là thành iên ban giám khảo cho hạng mục tranh giải chính tại Liên hoan phim Cannes 2016, là người Iran thứ ba được chọn vào ban giám khảo này sau các đạo diễn  Abbas Kiarostami và Leila Hatami.  Trả lời RFI Việt ngữ tại Liên hoan Vesoul ngày 28/01/2026, Katayoun Shahabi cho biết: “Tôi bắt đầu sự nghiệp ở tuổi 20 tại Quỹ Điện ảnh Farabi, chuyên quảng bá phim Iran trên toàn thế giới. Chính tại đó mà tôi thực sự khám phá ra điện ảnh Iran, khám phá những đạo diễn lớn. Tôi chưa từng học về điện ảnh và ban đầu không có mục tiêu làm phim, nhưng lúc đó tôi quyết định sẽ làm việc trong lĩnh vực điện ảnh.  Tôi lớn lên trong một gia đình mà không ai bảo tôi rằng một phụ nữ sẽ bị những hạn chế. Vì vậy, khi bắt đầu làm việc, tôi không hiểu tại sao tất cả các đồng nghiệp mới được tuyển dụng đều được đi dự liên hoan phim, trong khi tôi thì không được cử đi. Tôi cũng không hiểu tại sao tôi không thể viết tên mình mà luôn phải viết tên của những người đàn ông làm việc với tôi. Như thể tôi là người vô hình vậy! Đó là lý do tại sao tôi đã từ chức khỏi Quỹ Điện ảnh Farabi và sau chín năm, tôi rời khỏi Cima Media International, rồi quyết định thành lập công ty riêng của mình. Khi còn làm công tác truyền thông, tôi đã yêu cầu được cử đi nước ngoài vì tôi là giám đốc phụ trách các vấn đề quốc tế, nhưng họ không muốn cử tôi đi, chẳng hạn như tham gia Liên hoan phim Cannes. Tôi bèn  nói với họ: "Hoặc là các ông cử tôi đi, hoặc là tôi sẽ từ chức."  Thế là họ phải cử tôi đi, vì tôi là người có kinh nghiệm nhất, họ không có ai khác. Vì vậy, tôi hiểu rằng mình luôn phải đòi những gì mình phải được hưởng, vì không ai tự nhiên cho mình cả.”  Ngày 17/09/2011, Katayoon và sáu nhà làm phim khác bị bắt giữ với cáo buộc "làm gián điệp cho Đài BBC tiếng Ba Tư". Chính quyền cho rằng các phim tài liệu do BBC phát sóng là bất hợp pháp và vẽ nên "một bức tranh đen tối về Iran và người dân Iran". Các vụ bắt giữ này đã dẫn đến nhiều cuộc biểu tình phản đối trên thế giới.  Katayoon Shahabi kể lại: “Tôi đã bị bắt sau khi ban tiếng Ba Tư của đài BBC được thành lập ở Iran. Vào năm 2008 đã có các cuộc bạo loạn đầu tiên và BBC Ba Tư đã đưa tin về những vụ đó. Họ đã tiếp cận tôi với tư cách là nhà sản xuất và phân phối phim để đề nghị tôi làm phim, nhưng tôi từ chối. Sau đó, họ sản xuất một bộ phim về Khamenei và muốn phát sóng nó. Chính quyền đã nói với họ: "Nếu các ông phát sóng bộ phim đó, chúng tôi sẽ coi đó là lằn ranh đỏ. Chúng tôi sẽ khiến không ai có thể làm việc với các ông nữa." Tôi là nhà sản xuất kiêm nhà phân phối quốc tế duy nhất trong số họ và là phụ nữ duy nhất. Vì tôi khá nổi tiếng trong giới điện ảnh lúc đó, họ muốn lấy tôi làm gương và nói rằng: “Hãy cẩn thận, cô có thể bị bắt bất cứ lúc nào”.  Khi bị bắt giữ, lúc đầu tôi rất ngạc nhiên và sợ hãi. Nhưng sau đó tôi tự nhủ mình không làm gì sai, chỉ làm nhiệm vụ của mình thôi. Vì vậy, tôi không sợ nữa. Họ muốn ghi hình tôi để làm một lời thú tội giả trên truyền hình, nhưng tôi không đồng ý, nên đã bị thẩm vấn bốn hoặc năm lần và bị biệt giam cho đến khi họ hiểu rằng tôi sẽ không làm theo ý của họ. Rất nhiều bạn bè của tôi ở bên ngoài đã làm đơn kiến ​​nghị, có rất nhiều tiếng nói đòi thả tôi, cuối cùng họ buộc phải thả tôi.” Sau 54 ngày ngồi tù, Katayoon Shahabi được tự do, nhưng bị thu hồi giấy phép kinh doanh, đồng thời bị cấm xuất cảnh. Khi lệnh cấm được dỡ bỏ, bà đã sang Pháp đăng ký thành lập công ty mới, Noori Pictures, vào năm 2012 trước khi trở về Iran. Với công ty mới này, bà đã mở rộng hoạt động sản xuất phim và phân phối quốc tế các tác phẩm của Iran và đạt được nhiều thành công. Một số phim do công ty của bà phân phối đã đoạt giải tại các liên hoan phim quốc tế như Cannes và Venise.  Với việc chính quyền Cộng hòa Hồi giáo Iran tăng cường các hạn chế đối với các nhà sản xuất phim trong những năm gần đây, Katayoon Shahabi buộc phải sản xuất phim ở nước ngoài, cụ thể là sản xuất một phim ở Afghanistan năm 2019 và một phim ở Azerbaijan ba năm sau đó. Cả hai phim đều được trình chiếu tại Liên hoan phim Venise. Bà Katayoon Shahabi thổ lộ: "Trong một chế độ độc tài thần quyền, mọi điều người dân làm, ngay cả trong nhà, nghe nhạc gì, có uống rượu hay không, có sử dụng truyền hình vệ tinh hay không, đều bị kiểm soát. Giờ đây khi đã được sống tự do ba năm ở bên ngoài, tôi càng nhận ra Iran là một nhà tù lớn.” Nhưng ngay chính bà cũng không ngờ rằng chính quyền Cộng hòa Hồi giáo nay lại tỏ ra tàn bạo như thế, thảm sát đến hàng chục ngàn người biểu tình chống chính quyền:  “Đối với một người đã tham gia tất cả các cuộc biểu tình trước khi có phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do”( phong trào nỗ ra sau cái chết của nữ sinh viên Mahsa Amini, bị cảnh sát bắt vì đeo khăng choàng Hồi Giáo không đúng cách ), ngay lập tức tôi đã hiểu rằng đây là một cuộc cách mạng. Đối với tôi, những gì đang xảy ra ở Iran là sự tiếp nối của phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do”. Trên thực tế, tất cả các cuộc biểu tình trong những năm 2009, 2017, 2019 thực sự bổ sung cho nhau. Nhưng trên hết, phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do” là một cuộc cách mạng, đặc biệt là vì chính thế hệ Z đã khởi xướng cuộc cách mạng này. Chúng tôi nghĩ rằng không chỉ là do khó khăn kinh tế, mà là do người dân Iran đã quá chán ghét chế độ. Trên xe taxi, trên các phương tiện giao thông công cộng, mọi người đều phàn nàn, mọi người đã bắt đầu lăng mạ giáo chủ Khamenei  Vì vậy, đối với tôi, đó là điều có thể dự đoán được. Tôi không ngạc nhiên, tôi hiểu sự phẫn nộ và tôi chắc chắn sẽ có một cuộc đàn áp đẫm máu, nhưng chưa bao giờ trong đời tôi nghĩ con số người bị giết lại lên đến 50.000. Thật sự là chưa từng có! Họ đã giết quá nhiều người, mỗi người bị giết, cả gia đình đều nổi dậy. Nay mọi người đều hiểu rằng, ở một đất nước không có tự do, không có dân chủ, ngay cả khi nền kinh tế phát triển tốt, đất nước cũng sẽ không thể tiến xa hơn nữa. Nhưng quá nhiều người chết, những người con ưu tú nhất của đất nước chúng tôi đã ra đi vì tự do, và điều đó làm tôi đau lòng.”  Trước mức độ tàn bạo của cuộc đàn áp biểu tình, bà Katayoon Shahabi cho rằng đã đến lúc Pháp nói riêng và châu Âu nói chung phải thật sự có hành động để đứng hẳn về phía người dân Iran: “Tôi nghĩ vấn đề ở châu Âu là có rất nhiều lời nói suông mà không có hành động cụ thể. Đặc biệt là với Pháp, ví dụ lập trường của họ đối với Palestine và Ukraina nhìn chung được coi là những lập trường tốt. Nhưng trên thực tế, hành động của họ không phù hợp với lập trường đó.  Chắc chắn đó là lý do tại sao, thật không may, chỉ có Mỹ và Israel. Họ vẫn chưa can thiệp, nhưng tôi chắc chắn rằng Trump là người tính toán về kinh tế và biết rằng Iran là một quốc gia rộng lớn với rất nhiều tài nguyên. Ông ấy sẽ can thiệp vì ông ấy đã hứa. Nhưng thật đáng tiếc, vì tôi thích các nước dân chủ can thiệp hơn, giống như họ đã làm ở Serbia với Kosovo hay với Bosnia - Herzegovina vào những năm 1980. Vì đây thực sự là tội ác chống nhân loại. Chế độ Iran là một chế độ mafia. ADN của chế độ này giống như của Putin. Ta không thể nói chuyện với Putin, không thể nói chuyện với Hitler, không thể nói chuyện với Mussolini. Họ đối thoại chỉ để câu giờ. Chỉ có vũ lực mới giải quyết được. Hoặc là châu Âu có lập trường cứng rắn và không chỉ dựa vào các giải pháp ngoại giao, hoặc họ sẽ nói: "Hãy nhìn xem, đây là tội ác chống nhân loại. Nếu các người tiếp tục, chúng tôi phải can thiệp." Tôi tin Iran cũng cần hiểu rằng vào năm 1979, với cuộc cách mạng của mình, họ đã cho thế giới thấy tôn giáo có thể được sử dụng để cai trị. Giờ đây, với phong trào Phụ nữ Cuộc sống Tự do, họ đang trình bày một mô hình hoàn toàn trái ngược với mô hình năm 1979. Đây thực sự là một cuộc cách mạng rất hiện đại mà thế giới cần đến để đạt được bình đẳng nam nữ. Vì vậy, đây không phải chỉ riêng ở Iran, mà là một vấn đề mang tính phổ quát.” Trong khi đó, giới điện ảnh trong ước tiếp tục bị chính quyền Cộng hòa Hồi Giáo đàn áp. Đạo diễn Iran Mehdi Mahmoudian nằm trong số ba người bị bắt ngày 01/02 vì nghi ngờ giúp lan truyền thông điệp của cựu thủ tướng Mir Hossein Mousavi ( một nhân vật hàng đầu trong phe đối lập Iran, bị quản thúc tại gia từ năm 2011 ) chỉ trích chế độ Teheran, theo tin từ hãng thông tấn Fars của Iran. Mehdi Mahmoudian là đồng biên kịch của bộ phim "A Simple Accident", đoạt giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes năm 2025.  Phẫn nộ vì chiến dịch đàn áp biểu tình, ngày 02/02, nữ tài tử nổi tiếng người Iran Elnaz Shakerdoost, từng đóng vai chính trong hàng chục bộ phim, tuyên bố cô sẽ không tiếp tục làm việc tại đất nước mình, "một nơi nồng nặc mùi máu". Trên trang Instagram của cô, Elnaz Shakerdoost thông báo tẩy chay Liên hoan phim quốc tế Fajr ở Teheran ( 31/01 - 11/02/2026 ).

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Pháp, Việt Nam tăng cường quan hệ đối tác pháp luật trong thời đại công nghệ số

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Feb 9, 2026 9:35


Pháp luật là một trong những lĩnh vực hợp tác lâu năm nhất giữa Pháp và Việt Nam. Hợp tác trong lĩnh vực này bắt đầu từ những năm 1990 và dựa trên sự tương đồng giữa hệ thống pháp luật của hai nước, cũng như sự quan tâm của Việt Nam đến kinh nghiệm của Pháp. Mục tiêu chủ yếu của quan hệ đối tác này là hỗ trợ các cải cách hướng tới xây dựng một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Sự hợp tác này được tổ chức thông qua các hội thảo chia sẻ chuyên môn và các hội nghị với các bộ, ngành của Việt Nam, các chuyên gia pháp luật và các học giả. Để đánh dấu 30 năm hợp tác trong lĩnh vực pháp luật, trong tháng 11 vừa qua, Pháp và Việt Nam đã tổ chức Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp. Nhân dịp này, một phái đoàn của bộ Tư Pháp của Pháp đã đến thăm Việt Nam, dẫn đầu là bà Valérie Delnaud, tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín. Theo thông báo của đại sứ quán Pháp, phái đoàn Pháp đã trao đổi với lãnh đạo Vụ Hợp tác quốc tế Tòa án Nhân dân Tối cao “về những vấn đề pháp lý cùng quan tâm”, trao đổi về tương trợ dân sự quốc tế với Vụ Pháp luật quốc tế thuộc bộ Tư pháp Việt Nam, đồng thời ký kết Chương trình hợp tác giai đoạn 2026–2027 giữa bộ Tư Pháp của hai nước. Tham gia phái đoàn Pháp đến thăm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh còn có nhiều chuyên gia pháp lý (công chứng viên, luật sư, thẩm phán và chấp hành viên), trong đó có luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot, chủ tịch Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam ( ACJEV ) và cũng là chủ tịch Ủy ban Việt Nam của Luật sư đoàn Paris, một ủy ban được thành lập vào năm 2013.  Trả lời RFI Việt ngữ tại Paris ngày 12/12/2025, luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot cho biết: “Tôi tham gia phái đoàn Pháp từ ngày 24 đến 21/11 tham dự Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp Pháp-Việt. Đây là lần đầu tiên sự kiện được tổ chức và chúng tôi đã tham dự nhiều hội thảo, gặp gỡ Tòa án Nhân dân Tối cao và bộ trưởng Tư Pháp, cũng như dự lễ ký kết chương trình hành động hai năm 2026-2027 với sự hiện diện của thứ trưởng bộ Tư Pháp.  Phái đoàn Pháp do bộ Tư Pháp dẫn đầu, bao gồm bà Valérie Delnaud, tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín và một số quan chức khác của bộ Tư Pháp, cùng với hai luật sư từ Hội đồng Luật sư Quốc gia (mà tôi là một trong những thành viên), hai công chứng viên từ Hội đồng Công chứng cấp cao, các chấp hành viên và đại diện từ Quỹ Luật Châu lục.  Hợp tác pháp lý Pháp-Việt là lâu đời nhất, bắt đầu từ những năm 1990, khi tổng thống François Mitterrand thăm Việt Nam và Đại sứ Blanche Maison đang tại nhiệm. Vào thời điểm đó, Nhà Pháp luật Việt-Pháp được thành lập. Trung tâm này đã đóng cửa vào năm 2012 và năm 2013, Luật sư đoàn Paris đã lập cơ sở quốc tế đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh, thu hút một lượng lớn các chuyên gia pháp lý từ các trường đại học cũng như các luật sư Pháp, Việt Nam và châu Âu. Kể từ đó, theo yêu cầu của các đối  tác Việt Nam, chúng tôi đã tham gia vào sự hợp tác này. Đầu tiên, chúng tôi thành lập một hiệp hội gọi là Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam, hầu như năm nào cũng đến Việt Nam để đóng góp vào sự hợp tác này theo cách riêng và ở cấp độ của mình, thông qua các hội thảo về nhiều chủ đề khác nhau, theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam.  Nhóm của chúng tôi luôn sẵn sàng và trong nhóm, chúng tôi bổ sung cho nhau rất tốt, và có một sự liên tục nhất định trong sự hợp tác này, một sự hợp tác cũng gắn liền với cộng đồng Pháp ngữ. Chúng tôi hoàn toàn muốn các hội thảo của mình được tổ chức bằng tiếng Pháp và điều này là theo yêu cầu của các học giả và hiệp hội luật sư Việt Nam.”  Trong Tuần lễ Pháp - Việt Nam về Pháp luật và Tư pháp, một cuộc gặp gỡ đã diễn ra tại trụ sở Liên đoàn Luật sư Việt Nam giữa các luật sư của phái đoàn Pháp với Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các phó chủ tịch và các thành viên Ban Quan hệ Quốc tế của Liên đoàn. Cuộc gặp này là trong khuôn khổ các trao đổi giữa Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Hội đồng Quốc gia các Luật sư đoàn Pháp. Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp được tổ chức trong tháng 11 vừa qua đã là dịp thúc đẩy và định hình các trao đổi mới trong lĩnh vực đại học, đặc biệt xoay quanh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, những chủ đề then chốt trong tiến trình hiện đại hóa hệ thống pháp luật của hai nước. Theo bộ Tư Pháp Việt Nam, trong những năm gần đây, phía Pháp đã tiếp tục hỗ trợ bộ này trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế, trong đó có các đạo luật quan trọng như Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình, Nghị định Hòa giải thương mại…, đồng thời tăng cường hợp tác giữa các nghề luật của hai nước như công chứng viên, thừa phát lại, đấu giá viên… Ngoài các phiên họp chính thức, đây đã là dịp để các chuyên gia Việt Nam và Pháp tham gia ba buổi hội thảo về những thách thức pháp lý phát sinh từ quá trình đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, theo lời luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot: “Pháp luôn được tham vấn mỗi khi Việt Nam thực hiện một dự án cải cách. Pháp được xem là mô hình cho Việt Nam. Năm nay, bộ Tư Pháp của Pháp, trong khuôn khổ Tuần lễ Pháp luật, đã nêu bật những thách thức ở cấp độ châu Âu do việc quản lý trí tuệ nhân tạo và bảo vệ dữ liệu cá nhân đặt ra. Mục tiêu là dung hòa những đổi mới công nghệ với việc bảo vệ các quyền cơ bản và bảo vệ tính độc lập của tư pháp, vốn là nguyên tắc thiết yếu của nhà nước pháp quyền. Do bộ Tư Pháp của Pháp và bộ Tư Pháp của Việt Nam phối hợp tổ chức, với sự hỗ trợ của Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội, chương trình của Tuần lễ Pháp luật rất dày đặc, bao gồm chuyến thăm và cuộc gặp với một trong các phó chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Tiếp theo, ngày hôm sau, chúng tôi có một hội thảo kéo dài cả ngày với Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Hội thảo này tập trung vào đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, với các bài thuyết trình của nhiều học giả đến từ Đại học Luật Hà Nội và Đại học Huế, cũng như các giáo sư đến từ Pháp. Dĩ nhiên đã có bài thuyết trình của tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín của Pháp, cũng như của các công chứng viên và chấp hành viên.  Chủ đề chính là trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, và làm thế nào để kết hợp những đổi mới công nghệ này với việc bảo vệ các quyền cơ bản, duy trì tính độc lập của tư pháp, và làm thế nào để dung hòa tất cả những điều này. Việc xây dựng một môi trường tin cậy là rất cần thiết để đảm bảo AI hoạt động hiệu quả. Chúng tôi đang làm việc cho tương lai. AI không phải là mới, nhưng đúng là chúng ta vẫn chưa hoàn toàn kiểm soát được công nghệ. Chúng ta cần tập hợp các nguồn lực. Bộ Tư Pháp của  Pháp giới thiệu các mô hình châu Âu và trao đổi ý tưởng với các đối tác Việt Nam, những người cũng đã tiến rất xa trong lĩnh vực này. Vì vậy, tôi nghĩ tương lai hoàn toàn khả thi đối với việc sử dụng  trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp.” Hội thảo chuyên đề đầu tiên, được tổ chức vào ngày 25/11/2025 tại Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, là về chủ đề “Thể chế pháp lý và đổi mới sáng tạo”, tập trung vào việc điều chỉnh pháp luật tại Pháp, Việt Nam và trên thế giới trong bối cảnh phát triển xã hội, khoa học và công nghệ. Hội thảo thứ hai, với chủ đề « Thể chế pháp lý và Trí tuệ Nhân tạo », được tổ chức vào ngày 27/11 tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đặt ra những tranh luận thiết yếu về các vấn đề pháp lý xoay quanh trí tuệ nhân tạo và các quy định liên quan. Trong khuôn khổ quan hệ đối tác giữa Trường Thẩm phán Quốc gia (Pháp) và Học viện Tư pháp (Việt Nam), một hội thảo kết hợp trực tuyến và trực tiếp về « Sử dụng trí tuệ nhân tạo của thẩm phán » đã được tổ chức để phân tích sự đóng góp của AI vào việc quản lý tư pháp tại Pháp và Việt Nam. Theo luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot, trong khi đó Hội Hợp tác Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam vẫn tiếp tục đáp ứng các nhu cầu đào tạo của phía Việt Nam: “Nhu cầu đào tạo ngày càng tăng, đặc biệt là kể từ khi Việt Nam khởi xướng việc thành lập hai trung tâm tài chính quốc tế trong năm nay tại Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, và chúng tôi có yêu cầu cấp thiết là quay lại hàng năm để cung cấp các khóa đào tạo bằng tiếng Pháp cho các học giả và luật sư nhằm tiếp tục tăng cường hợp tác và cùng nhau tiến lên. Hiệp hội của tôi và cá nhân tôi đã tham gia vào hợp tác pháp lý Pháp-Việt này trong suốt 25 năm qua. Tôi đã mang theo cả một đội ngũ, hầu như năm nào cũng sẵn sàng đến Việt Nam theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam. Đó là một đội ngũ bổ sung, mang đến cách tiếp cận đa ngành, và mỗi thành viên đều đóng góp đáng kể vào hợp tác pháp lý Pháp-Việt.  Hầu hết các tổ chức và trường đại học đều do những người nói tiếng Pháp, từng học ở Pháp điều hành. Vì vậy, việc đào tạo tiếng Pháp không phải là vấn đề. Họ hoàn toàn có khả năng, và ngay cả khi đôi khi một số người trẻ không được đào tạo tiếng Pháp cũng nói tiếng Anh và giao tiếp rất tốt với chúng tôi. Chúng tôi đã bắt đầu soạn thảo dự án với các trường đại học và hiệp hội luật sư. Tại hội nghị ngày 25/11/2025, tôi đã gặp lại các sinh viên đến từ các trường đại học Toulouse-Capitole, Lyon 3 và Bordeaux. Theo yêu cầu của các giáo sư, tôi đã hướng dẫn các em trong một ngày học vào tháng Tư năm ngoái trước khi các em sang Việt Nam. Hiện các sinh viên này đang theo học năm thứ hai chương trình Thạc sĩ Hợp tác Kinh tế và Luật Thương mại Quốc tế tại Hà Nội. Ngoài ra, năm 2026 sẽ diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ lần thứ 20 tại Siem Reap, Cam Bốt , ngay sát bên. Chúng tôi sẽ cố gắng có mặt ở đó, vì một trong những mục tiêu của hiệp hội chúng tôi là Cộng đồng Pháp ngữ. Chúng tôi sẽ cố gắng kết nối hai bên và phát triển hơn nữa tiếng Pháp tại Việt Nam.” Theo báo chí Việt Nam, bộ Tư Pháp Pháp, Quỹ Luật lục địa cũng như Trường Đại học Paris-Assas đang phối hợp với bộ Tư Pháp Việt Nam và Trường Đại học Luật Hà Nội để thúc đẩy việc thành lập Trung tâm Pháp luật Pháp tại đại học này. Phía Việt Nam cho biết Trường Đại học Luật Hà Nội đã chuẩn bị sẵn sàng cơ sở vật chất cho Trung tâm và mong muốn phía Pháp hỗ trợ chuyên gia và giảng viên tới giảng dạy tại Trung tâm Pháp luật Pháp. Tuy nhiên phía Pháp hiện chưa đáp ứng các yêu cầu này.

Tạp chí Việt Nam
Pháp, Việt Nam tăng cường quan hệ đối tác pháp luật trong thời đại công nghệ số

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later Feb 9, 2026 9:35


Pháp luật là một trong những lĩnh vực hợp tác lâu năm nhất giữa Pháp và Việt Nam. Hợp tác trong lĩnh vực này bắt đầu từ những năm 1990 và dựa trên sự tương đồng giữa hệ thống pháp luật của hai nước, cũng như sự quan tâm của Việt Nam đến kinh nghiệm của Pháp. Mục tiêu chủ yếu của quan hệ đối tác này là hỗ trợ các cải cách hướng tới xây dựng một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Sự hợp tác này được tổ chức thông qua các hội thảo chia sẻ chuyên môn và các hội nghị với các bộ, ngành của Việt Nam, các chuyên gia pháp luật và các học giả. Để đánh dấu 30 năm hợp tác trong lĩnh vực pháp luật, trong tháng 11 vừa qua, Pháp và Việt Nam đã tổ chức Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp. Nhân dịp này, một phái đoàn của bộ Tư Pháp của Pháp đã đến thăm Việt Nam, dẫn đầu là bà Valérie Delnaud, tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín. Theo thông báo của đại sứ quán Pháp, phái đoàn Pháp đã trao đổi với lãnh đạo Vụ Hợp tác quốc tế Tòa án Nhân dân Tối cao “về những vấn đề pháp lý cùng quan tâm”, trao đổi về tương trợ dân sự quốc tế với Vụ Pháp luật quốc tế thuộc bộ Tư pháp Việt Nam, đồng thời ký kết Chương trình hợp tác giai đoạn 2026–2027 giữa bộ Tư Pháp của hai nước. Tham gia phái đoàn Pháp đến thăm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh còn có nhiều chuyên gia pháp lý (công chứng viên, luật sư, thẩm phán và chấp hành viên), trong đó có luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot, chủ tịch Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam ( ACJEV ) và cũng là chủ tịch Ủy ban Việt Nam của Luật sư đoàn Paris, một ủy ban được thành lập vào năm 2013.  Trả lời RFI Việt ngữ tại Paris ngày 12/12/2025, luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot cho biết: “Tôi tham gia phái đoàn Pháp từ ngày 24 đến 21/11 tham dự Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp Pháp-Việt. Đây là lần đầu tiên sự kiện được tổ chức và chúng tôi đã tham dự nhiều hội thảo, gặp gỡ Tòa án Nhân dân Tối cao và bộ trưởng Tư Pháp, cũng như dự lễ ký kết chương trình hành động hai năm 2026-2027 với sự hiện diện của thứ trưởng bộ Tư Pháp.  Phái đoàn Pháp do bộ Tư Pháp dẫn đầu, bao gồm bà Valérie Delnaud, tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín và một số quan chức khác của bộ Tư Pháp, cùng với hai luật sư từ Hội đồng Luật sư Quốc gia (mà tôi là một trong những thành viên), hai công chứng viên từ Hội đồng Công chứng cấp cao, các chấp hành viên và đại diện từ Quỹ Luật Châu lục.  Hợp tác pháp lý Pháp-Việt là lâu đời nhất, bắt đầu từ những năm 1990, khi tổng thống François Mitterrand thăm Việt Nam và Đại sứ Blanche Maison đang tại nhiệm. Vào thời điểm đó, Nhà Pháp luật Việt-Pháp được thành lập. Trung tâm này đã đóng cửa vào năm 2012 và năm 2013, Luật sư đoàn Paris đã lập cơ sở quốc tế đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh, thu hút một lượng lớn các chuyên gia pháp lý từ các trường đại học cũng như các luật sư Pháp, Việt Nam và châu Âu. Kể từ đó, theo yêu cầu của các đối  tác Việt Nam, chúng tôi đã tham gia vào sự hợp tác này. Đầu tiên, chúng tôi thành lập một hiệp hội gọi là Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam, hầu như năm nào cũng đến Việt Nam để đóng góp vào sự hợp tác này theo cách riêng và ở cấp độ của mình, thông qua các hội thảo về nhiều chủ đề khác nhau, theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam.  Nhóm của chúng tôi luôn sẵn sàng và trong nhóm, chúng tôi bổ sung cho nhau rất tốt, và có một sự liên tục nhất định trong sự hợp tác này, một sự hợp tác cũng gắn liền với cộng đồng Pháp ngữ. Chúng tôi hoàn toàn muốn các hội thảo của mình được tổ chức bằng tiếng Pháp và điều này là theo yêu cầu của các học giả và hiệp hội luật sư Việt Nam.”  Trong Tuần lễ Pháp - Việt Nam về Pháp luật và Tư pháp, một cuộc gặp gỡ đã diễn ra tại trụ sở Liên đoàn Luật sư Việt Nam giữa các luật sư của phái đoàn Pháp với Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các phó chủ tịch và các thành viên Ban Quan hệ Quốc tế của Liên đoàn. Cuộc gặp này là trong khuôn khổ các trao đổi giữa Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Hội đồng Quốc gia các Luật sư đoàn Pháp. Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp được tổ chức trong tháng 11 vừa qua đã là dịp thúc đẩy và định hình các trao đổi mới trong lĩnh vực đại học, đặc biệt xoay quanh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, những chủ đề then chốt trong tiến trình hiện đại hóa hệ thống pháp luật của hai nước. Theo bộ Tư Pháp Việt Nam, trong những năm gần đây, phía Pháp đã tiếp tục hỗ trợ bộ này trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế, trong đó có các đạo luật quan trọng như Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình, Nghị định Hòa giải thương mại…, đồng thời tăng cường hợp tác giữa các nghề luật của hai nước như công chứng viên, thừa phát lại, đấu giá viên… Ngoài các phiên họp chính thức, đây đã là dịp để các chuyên gia Việt Nam và Pháp tham gia ba buổi hội thảo về những thách thức pháp lý phát sinh từ quá trình đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, theo lời luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot: “Pháp luôn được tham vấn mỗi khi Việt Nam thực hiện một dự án cải cách. Pháp được xem là mô hình cho Việt Nam. Năm nay, bộ Tư Pháp của Pháp, trong khuôn khổ Tuần lễ Pháp luật, đã nêu bật những thách thức ở cấp độ châu Âu do việc quản lý trí tuệ nhân tạo và bảo vệ dữ liệu cá nhân đặt ra. Mục tiêu là dung hòa những đổi mới công nghệ với việc bảo vệ các quyền cơ bản và bảo vệ tính độc lập của tư pháp, vốn là nguyên tắc thiết yếu của nhà nước pháp quyền. Do bộ Tư Pháp của Pháp và bộ Tư Pháp của Việt Nam phối hợp tổ chức, với sự hỗ trợ của Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội, chương trình của Tuần lễ Pháp luật rất dày đặc, bao gồm chuyến thăm và cuộc gặp với một trong các phó chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Tiếp theo, ngày hôm sau, chúng tôi có một hội thảo kéo dài cả ngày với Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Hội thảo này tập trung vào đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, với các bài thuyết trình của nhiều học giả đến từ Đại học Luật Hà Nội và Đại học Huế, cũng như các giáo sư đến từ Pháp. Dĩ nhiên đã có bài thuyết trình của tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín của Pháp, cũng như của các công chứng viên và chấp hành viên.  Chủ đề chính là trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, và làm thế nào để kết hợp những đổi mới công nghệ này với việc bảo vệ các quyền cơ bản, duy trì tính độc lập của tư pháp, và làm thế nào để dung hòa tất cả những điều này. Việc xây dựng một môi trường tin cậy là rất cần thiết để đảm bảo AI hoạt động hiệu quả. Chúng tôi đang làm việc cho tương lai. AI không phải là mới, nhưng đúng là chúng ta vẫn chưa hoàn toàn kiểm soát được công nghệ. Chúng ta cần tập hợp các nguồn lực. Bộ Tư Pháp của  Pháp giới thiệu các mô hình châu Âu và trao đổi ý tưởng với các đối tác Việt Nam, những người cũng đã tiến rất xa trong lĩnh vực này. Vì vậy, tôi nghĩ tương lai hoàn toàn khả thi đối với việc sử dụng  trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp.” Hội thảo chuyên đề đầu tiên, được tổ chức vào ngày 25/11/2025 tại Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, là về chủ đề “Thể chế pháp lý và đổi mới sáng tạo”, tập trung vào việc điều chỉnh pháp luật tại Pháp, Việt Nam và trên thế giới trong bối cảnh phát triển xã hội, khoa học và công nghệ. Hội thảo thứ hai, với chủ đề « Thể chế pháp lý và Trí tuệ Nhân tạo », được tổ chức vào ngày 27/11 tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đặt ra những tranh luận thiết yếu về các vấn đề pháp lý xoay quanh trí tuệ nhân tạo và các quy định liên quan. Trong khuôn khổ quan hệ đối tác giữa Trường Thẩm phán Quốc gia (Pháp) và Học viện Tư pháp (Việt Nam), một hội thảo kết hợp trực tuyến và trực tiếp về « Sử dụng trí tuệ nhân tạo của thẩm phán » đã được tổ chức để phân tích sự đóng góp của AI vào việc quản lý tư pháp tại Pháp và Việt Nam. Theo luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot, trong khi đó Hội Hợp tác Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam vẫn tiếp tục đáp ứng các nhu cầu đào tạo của phía Việt Nam: “Nhu cầu đào tạo ngày càng tăng, đặc biệt là kể từ khi Việt Nam khởi xướng việc thành lập hai trung tâm tài chính quốc tế trong năm nay tại Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, và chúng tôi có yêu cầu cấp thiết là quay lại hàng năm để cung cấp các khóa đào tạo bằng tiếng Pháp cho các học giả và luật sư nhằm tiếp tục tăng cường hợp tác và cùng nhau tiến lên. Hiệp hội của tôi và cá nhân tôi đã tham gia vào hợp tác pháp lý Pháp-Việt này trong suốt 25 năm qua. Tôi đã mang theo cả một đội ngũ, hầu như năm nào cũng sẵn sàng đến Việt Nam theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam. Đó là một đội ngũ bổ sung, mang đến cách tiếp cận đa ngành, và mỗi thành viên đều đóng góp đáng kể vào hợp tác pháp lý Pháp-Việt.  Hầu hết các tổ chức và trường đại học đều do những người nói tiếng Pháp, từng học ở Pháp điều hành. Vì vậy, việc đào tạo tiếng Pháp không phải là vấn đề. Họ hoàn toàn có khả năng, và ngay cả khi đôi khi một số người trẻ không được đào tạo tiếng Pháp cũng nói tiếng Anh và giao tiếp rất tốt với chúng tôi. Chúng tôi đã bắt đầu soạn thảo dự án với các trường đại học và hiệp hội luật sư. Tại hội nghị ngày 25/11/2025, tôi đã gặp lại các sinh viên đến từ các trường đại học Toulouse-Capitole, Lyon 3 và Bordeaux. Theo yêu cầu của các giáo sư, tôi đã hướng dẫn các em trong một ngày học vào tháng Tư năm ngoái trước khi các em sang Việt Nam. Hiện các sinh viên này đang theo học năm thứ hai chương trình Thạc sĩ Hợp tác Kinh tế và Luật Thương mại Quốc tế tại Hà Nội. Ngoài ra, năm 2026 sẽ diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ lần thứ 20 tại Siem Reap, Cam Bốt , ngay sát bên. Chúng tôi sẽ cố gắng có mặt ở đó, vì một trong những mục tiêu của hiệp hội chúng tôi là Cộng đồng Pháp ngữ. Chúng tôi sẽ cố gắng kết nối hai bên và phát triển hơn nữa tiếng Pháp tại Việt Nam.” Theo báo chí Việt Nam, bộ Tư Pháp Pháp, Quỹ Luật lục địa cũng như Trường Đại học Paris-Assas đang phối hợp với bộ Tư Pháp Việt Nam và Trường Đại học Luật Hà Nội để thúc đẩy việc thành lập Trung tâm Pháp luật Pháp tại đại học này. Phía Việt Nam cho biết Trường Đại học Luật Hà Nội đã chuẩn bị sẵn sàng cơ sở vật chất cho Trung tâm và mong muốn phía Pháp hỗ trợ chuyên gia và giảng viên tới giảng dạy tại Trung tâm Pháp luật Pháp. Tuy nhiên phía Pháp hiện chưa đáp ứng các yêu cầu này.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Việt Nam: Những thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng của đảng Cộng Sản

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Jan 26, 2026 12:37


Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 14 đã kết thúc ngày 23/01/2026 sau khi Ban Chấp hành Trung ương "thống nhất tuyệt đối" bầu ông Tô Lâm tiếp tục giữ chức tổng bí thư. Ông Tô Lâm đã từng tuyên bố Đại hội Đảng lần này đánh dấu sự khởi đầu của một “kỷ nguyên mới”, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành “một quốc gia hiện đại có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và một quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.”  Trong bài phát biểu khai mạc Đại hội hôm 20/01, tổng  bí thư Đảng cũng đã đề ra một mục tiêu đầy tham vọng : đạt mức tăng trưởng GDP hàng năm ít nhất 10% trong giai đoạn 2026-2030. Nhưng đó là những mục tiêu đầy thách thức đối với ban lãnh đạo mới của đảng Cộng Sản Việt Nam. Cải cách hành chính: Tác động tích cực và tiêu cực Nguyên là bộ trưởng Công An, ông Tô Lâm đã lên làm tổng bí thư sau khi ông Nguyễn Phú Trọng qua đời vào tháng 8/2024. Trong thời gian ngắn nắm quyền, ông đã đẩy nhanh các cải cách hành chính, cắt giảm số lượng bộ, ngành của chính phủ từ 30 xuống còn 22, giảm số lượng các đơn vị hành chính cấp tỉnh và thành phố từ 63 xuống chỉ còn 34. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 21/01/206, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore, nhận định:  "Các cải cách này đã gây ra những tác động sâu rộng chưa từng có từ trước tới nay. Thứ nhất là về mặt tích cực, các biện pháp này giúp giảm bớt sự cồng kềnh của bộ máy hành chính, bộ máy Đảng và các cơ quan đoàn thể, qua đó giúp tăng hiệu quả quản lý nhà nước, cũng như tăng hiệu quả của công tác quản trị và xây dựng Đảng. Thứ hai, bộ máy được tinh gọn như vậy thì giúp nhà nước tiết kiệm được ngân sách để đầu tư vào các lĩnh vực phát triển, cũng như đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng, hay là đầu tư vào hệ thống phúc lợi cho người dân. Mặt tích cực thứ ba là việc tinh gọn guồng máy sẽ giúp tăng tính thích ứng trước những thay đổi nhanh chóng, tăng hiệu quả quản trị nhà nước và nâng cao năng lực của bộ máy chính trị và hành chính về lâu dài, qua đó giúp Việt Nam ngày càng ổn định, vững chắc hơn, cũng như có thể phát triển nhanh hơn trong thời gian tới. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những mặt trái hay những rủi ro. Ví dụ như trong thời gian qua cũng có những phản ánh, những lời phàn nàn về sự đứt gãy, hay gián đoạn trong công tác quản trị, hay trong việc cung cấp một số dịch vụ công, do tình trạng thiếu nhân lực khi bộ máy bị tinh gọn. Nhiều cán bộ ở lại thì chưa được trang bị những kiến thức mới để đảm nhiệm các nhiệm vụ mới, do tình trạng thiếu trang thiết bị máy móc, hay do hệ thống công nghệ thông tin chưa được điều chỉnh hay cập nhật kịp thời để tương thích với cơ cấu bộ máy chính quyền mới. Tình trạng này cũng có thể ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, vì như tôi được biết, việc cấp phép hoặc xét duyệt các dự án, hay là thông qua các giấy phép cho một số doanh nghiệp cũng bị đinh trệ. Một mặt tiêu cực khác, đó là xuất hiện sự bất mãn trong một bộ phận cán bộ. Những cán bộ này được ở lại, nhưng do những vấn đề như tôi đã nói trên, họ bị quá tải công việc. Bộ máy tinh gọn nhưng công việc thì không những không giảm mà có thể tăng lên. Đặc biệt là những cán bộ ở các tỉnh thành bị sát nhập mà trung tâm hành chính lại đặt ở tỉnh khác,  họ phải di chuyển rất xa đến nơi làm việc, họ phải sống xa vợ con gia đình nhiều ngày trong tuần. Trong số những người mà tôi đã phỏng vấn trong những chuyến tôi về Việt Nam, rất nhiều ý kiến cho rằng chủ trương sát nhập tỉnh thành hay tinh gọn bộ máy là cần thiết, nhưng những cải cách này đã được tiến hành một cách quá vội vàng, chưa cân nhắc thấu đáo các hậu quả. Đáng lẽ nó có thể được tiến hành theo từng giai đoạn, theo một trình tự, để bộ máy điều chỉnh kịp thời, thích nghi dần, rồi sau đấy mới đi tới các bước tiếp theo." Trong bài viết đăng trên trang mạng East Asia Forum ngày 10/01/2026, nhà nghiên cứu Alexander L. Vuving nhắc lại, dưới sự lãnh đạo của ông Tô Lâm, Bộ Chính Trị đã thông qua 4 nghị quyết từ cuối năm 2024 đến giữa năm 2025, vạch ra chiến lược để đạt được các mục tiêu đề ra. Các nghị quyết bao gồm đổi mới khoa học và công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.  Tuy nhiên, theo ông Alexander L. Vuving, “cách thức thực hiện các chính sách cụ thể lại gây ra nhiều tranh cãi. Việc tái cấu trúc lãnh thổ quy mô lớn đã được thực hiện mà không tôn trọng cấu trúc theo chiều ngang và bản sắc địa phương. Các quyết định quan trọng về phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng cũng được đưa ra mà không có sự tham vấn công chúng một cách thực chất, như quyết định xây dựng đường sắt cao tốc dọc bờ biển, xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân và đặt mục tiêu tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm 10% trở lên trong những thập kỷ tới.”  Phát triển kinh tế tư nhân: Chỉ có lợi cho các tập đoàn lớn Ông Tô Lâm xem khu vực tư nhân là một “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế Việt Nam, cho dù khu vực nhà nước vẫn giữ “vai trò chủ đạo”. Nhưng theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân cho tới nay chủ yếu có lợi cho các tập đoàn lớn: "Từ khi ông Tô Lâm lên nắm quyền, chúng ta thấy là một số doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã phát triển rất nhanh, đã mở rộng rất nhanh, đặc biệt là một số các doanh nghiệp mà tôi cho rằng có quan hệ tốt với chính quyền, cụ thể là với bộ Công An, hay với những cơ quan liên quan tới an ninh, những tập đoàn như là Vingroup, Sun Group, Masterise Group hay TNT v.v.... Trong khoảng hơn một năm qua, họ phát triển rất nhanh về số lượng dự án, rồi đầu tư vào các lĩnh vực mới. Điều này cho thấy rằng những doanh nghiệp đó đã ít nhiều được hưởng lợi từ chính sách tạo điều kiện cho lĩnh vực kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, các chính sách này hầu như chỉ mang lại lợi ích cho một số tập đoàn lớn, mà chưa tạo ra được những lợi ích đồng đều, lan tỏa ra các doanh nghiệp khác. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chưa có được những  sự hỗ trợ cần thiết. Một số thành phần như kinh tế cá thể, kinh tế gia đình thì đang gặp rất nhiều khó khăn và thách thức. Họ là những bộ phận rất quan trọng tạo ra việc làm cho người dân, nhưng họ cũng đang tuân thủ các quy định về thuế, về hóa đơn, chứng từ..., khiến rất nhiều doanh nghiệp đóng cửa. Chính phủ Việt Nam phải cải cách pháp lý và chính sách để làm sao tạo ra được môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng, không chỉ giúp các doanh nghiệp tư nhân lớn phát triển, mà có thể thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển theo. Thứ hai là cũng phải cải thiện cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân. Thứ ba là tạo thuận lợi cho việc tiếp cận tài chính và tín dụng, đặc biệt là cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.  Thứ tư là thời gian qua Việt Nam đã thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Trong thời gian tới, khía cạnh này cũng cần được tiếp tục thúc đẩy trong khu vực kinh tế tư nhân, không chỉ ở các doanh nghiệp lớn, mà còn ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, để họ có thể nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo đà để họ có thể phát triển ngày càng lớn mạnh, trở thành các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp quốc tế. Trong bài viết đăng trên mạng ngày 19/01/2026, nhật báo Mỹ The New York Times ghi nhận ông Tô Lâm được xem là một nhân vật “có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho nhiều loại hình doanh nghiệp tư nhân”. Nhưng các nhà phân tích nhấn mạnh “đảng vẫn ưu tiên sự kiểm soát tập trung. Mặc dù có năng suất thấp, các công ty nhà nước vẫn được hưởng ưu đãi đặc biệt.” Đảng có kế hoạch xây dựng một mô hình mới cho tăng trưởng kinh tế, giảm bớt sự phụ thuộc vào lao động tay nghề thấp và dựa nhiều hơn vào khoa học và công nghệ. Theo The New York Times, “thách thức chính của Việt Nam là ở việc thực hiện các chính sách nhằm xây dựng một môi trường cởi mở hơn, hiệu quả hơn và cạnh tranh hơn. Về nội bộ, một mối nguy hiểm là sự tồn tại của một nhóm nhỏ các doanh nghiệp được nhà nước ưu ái với năng suất thấp.” Theo mô hình chaebol: Cần thiết, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro Bên cạnh việc nhìn nhận kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất, ông Tô Lâm còn có tham vọng phát triển những đại tập đoàn tư nhân theo kiểu các chaebol của Hàn Quốc. Nghị quyết 68 nêu rõ tham vọng của Việt Nam thúc đẩy sự phát triển 20 doanh nghiệp hàng đầu quốc gia vào năm 2030. Nhưng nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp đưa ra lời cảnh báo: "Điều quan trọng là chúng ta cần học hỏi các điểm tốt, nhưng phải tránh các mặt bất lợi, các mặt xấu. Điểm tốt từ mô hình chaeebol Việt Nam có thể học hỏi đó là tạo ra những cơ chế giúp các doanh nghiệp tư nhân có thể tập trung các nguồn lực và qua đó trở thành các tập đoàn lớn, có  sức cạnh tranh cao, không chỉ ở phạm vi trong nước, mà phạm vi quốc tế. Qua đó có thể giúp Việt Nam mở rộng tiềm lực kinh tế và ảnh hưởng của mình lên toàn cầu. Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp này phát triển như vậy thì nó cũng có những mặt trái. Ví dụ như ở Hàn Quốc, các chaebol nổi tiếng là có sự tham gia vào những mạng lưới chính trị và qua các mạng lưới này thì họ giành được các nguồn lực để phát triển. Tuy nhiên, đi kèm theo là tình trạng hối lộ, tham nhũng, hay các mối quan hệ thân hữu, qua đấy nó làm xói mòn niềm tin của công chúng vào chính quyền. Khi các doanh nghiệp này tận dụng những mối quan hệ với chính phủ để phát triển như vậy thì nó cũng bóp nghẹt sự cạnh tranh và khả năng sáng tạo, đặc biệt là  các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi mà các chaebol của Hàn Quốc phát triển thì họ cũng phát triển một cách liều lĩnh, ví dụ như vay nợ quá mức để tham gia vào nhiều lĩnh vực phát triển đa ngành. Các chaebol Hàn Quốc đã là một phần nguyên nhân quan trọng của khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Một số mặt trái như vậy tôi thấy cũng đang xuất hiện ở một số tập đoàn tư nhân trong nước, cụ thể là vay nợ quá mức để theo đuổi các dự án rủi ro, không có hiệu quả cao về mặt kinh tế, không có tính bền vững về mặt tài chính. Tình trạng bóp nghẹt cạnh tranh ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang trở nên càng ngày càng phổ biến." Mục tiêu 10%: Tăng tốc quá nhanh? Mặt khác, đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên theo mục tiêu mà ông Tô Lâm đề ra, trong khi phải giảm sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài và đối phó với các rào cản thương mại sẽ là thử thách đối với Việt Nam trong những năm tới.  Tuần báo của Anh The Economist trong bài viết đăng ngày 08/01/2026, ghi nhận “nền kinh tế Việt Nam, nhờ xuất khẩu tăng mạnh, đã đạt mức tăng trưởng 8% trong năm 2025 – nhanh nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu 8,3-8,5% của năm. Mặc dù mục tiêu 10% của năm nay có vẻ khó đạt được hơn, nhưng vẫn có lý do để lạc quan: Những cải cách lớn nhất của ông Lâm vẫn chưa phát huy hết tác dụng, trong đó có Nghị quyết 68, một nỗ lực nhằm thúc đẩy khu vực tư nhân bằng các biện pháp ưu đãi thuế và giảm bớt thủ tục hành chính. Các cơ quan quản lý đã được yêu cầu chấp nhận rủi ro cao hơn khi phê duyệt các dự án.” Vấn đề là theo The Economist, “hiện vẫn chưa rõ các tập đoàn lớn của Việt Nam sẽ chịu trách nhiệm như thế nào nếu họ không hoàn thành các dự án quan trọng. Một số tập đoàn ngại rủi ro nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước. Ví dụ, vào ngày 25/12 vừa qua, Vingroup đã rút khỏi dự án trị giá 67 tỷ đôla xây dựng tuyến đường sắt xuyên Việt Nam. Tập đoàn này đã yêu cầu 80% dự án được tài trợ bằng khoản vay không lãi suất từ ​​nhà nước, nhưng nhà nước đã từ chối. Các tập đoàn khác có thể sẽ thay Vingroup tham gia dự án, nhưng tình trạng tương tự vẫn sẽ tiếp diễn. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, dù gây ấn tượng mạnh, vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi thái độ tùy hứng của một vài doanh nghiệp.” Về phần mình, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp e ngại là tăng tốc quá nhanh sẽ gây phản ứng ngược cho nền kinh tế Việt Nam:  "Chúng ta thấy là năm 2025 vừa qua Việt Nam cũng đã nỗ lực rất nhiều, nhưng chỉ đạt được mức tăng trưởng 8%. Thậm chí có nhiều người đặt câu hỏi liệu có phải là thực sự 8%, hay chỉ là một con số được "chế biến" để có thể đáp ứng được các mục tiêu chính trị của ban lãnh đạo. Tăng trưởng ít nhất 10% trong thời gian tới là một mục tiêu rất là thách thức. Việt Nam một hai năm trước chỉ đạt tăng trưởng 6 hay 7%. Bây giờ trong vòng một hai năm Việt Nam muốn tăng trưởng lên 10% thì tôi nghĩ rằng người ta đã đốt cháy giai đoạn ở một mức độ nào đấy. Muốn tăng tốc thì ta phải tăng tốc từ từ. Tôi sợ rằng trong thời gian tới, nếu Việt Nam quá nôn nóng để tăng trưởng và sử dụng các biện pháp không bền vững, không hiệu quả về lâu dài, thì có thể gặp sự cố, có thể là không phải ngay trong trước mắt 1, 2 năm tới, mà có thể là 3, 4 năm tới. Khi nền kinh tế phát triển quá nóng và dựa trên việc bơm tiền vào nền kinh tế, mà không dựa vào các biện pháp mang tính bền vững như phát triển khoa học công nghệ  hay đổi mới sáng tạo, nền kinh tế Việt Nam sẽ có thể gặp các vấn đề nghiêm trọng trong vòng 4 đến 5 năm tới. Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc rất nhiều vào đầu tư nước ngoài, nhưng trong bối cảnh môi trường địa chính trị toàn cầu gặp rất nhiều biến động như vậy, vốn đầu tư nước ngoài Việt Nam có thể bị chựng lại, thậm chí có thể giảm trong thời gian tới. Việt Nam cũng phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, đặc biệt là thương mại với Mỹ. Năm ngoái chúng ta thấy là thuế đối ứng chỉ bắt đầu được áp dụng vào nửa cuối năm, còn nửa đầu năm thì thuế đối ứng này chưa có tác động nhiều. Năm nay chúng ta sẽ thấy bức tranh toàn cảnh hơn về tác động của thuế đối với kinh tế Việt Nam. Trong trường hợp thuế đối ứng này làm giảm xuất khẩu Việt Nam, thì rõ ràng mục tiêu tăng trưởng 10% của Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng. Thứ ba là tiêu dùng cá nhân ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Tiêu dùng chủ yếu vẫn tập trung ở một số bộ phận cư dân thu nhập cao ở thành thị. Còn rất nhiều gia đình đang thắt lưng buột bụng. Trong bối cảnh đấy, tiêu dùng khó có thể tăng trưởng mạnh để trở thành một động lực của nền kinh tế. Bên cạnh đấy, các động lực mới sẽ được ưu tiên phát triển trong cái thời gian tới, như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, hay phát triển doanh nghiệp tư nhân thì vẫn cần thời gian không chỉ một hai năm mà có lẽ lâu hơn mới có thể phát huy tác dụng, để trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai. Trong bối cảnh đấy thì có lẽ các đòn bẩy quan trọng nhất mà chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục sử dụng đấy là chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng, đặc biệt là thông qua đầu tư công, đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng để kích thích kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, biện pháp này đi kèm với mặt trái, đó là có thể dẫn tới giá tài sản tăng nhanh, dẫn tới bong bóng thị trường bất động sản, có thể đe dọa ổn định tài chính của Việt Nam và tạo ra những mầm móng bất ổn cho kinh tế Việt Nam trong lâu dài."

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Dự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Jan 12, 2026 8:57


Nhu cầu tiêu thụ điện của ngành công nghiệp Việt Nam, nơi đặt cơ sở sản xuất của nhiều tập đoàn đa quốc gia như Samsung và Apple, thường xuyên vượt quá nguồn cung, vốn bị ảnh hưởng bởi thời tiết cực đoan ngày càng thường xuyên, như hạn hán và mưa bão. Trước tình hình này, Việt Nam muốn tăng sản lượng điện từ nhiều nguồn, chủ yếu là năng lượng tái tạo và khí đốt, nhưng các dự án đã bị chậm trễ và gặp trắc trở do các vấn đề quy định và giá cả, cho nên nay rất trông chờ vào điện hạt nhân. Sau khi quyết định khởi động lại chương trình năng lượng hạt nhân vào năm ngoái, Việt Nam đã giao cho Nga thực hiện dự án Ninh Thuận 1 và Nhật Bản thực hiện dự án Ninh Thuận 2. Vào đầu tháng 12 vừa qua, chính phủ Việt Nam vừa phê duyệt danh mục các công trình và dự án được xếp vào nhóm quan trọng quốc gia, trọng điểm của ngành năng lượng, trong đó có dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, 2 tại Khánh Hòa. Theo lộ trình của chính phủ, 2 nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2 tại Khánh Hòa, công suất 2.000-3.200MW, dự kiến sẽ được đưa vào hoạt động trong giai đoạn 2030-2035. Thế nhưng, chỉ vài ngày sau, Nhật Bản, một trong hai đối tác mà Việt Nam đã chọn, lại thông báo rút khỏi dự án hạt nhân. Hôm 08/12/2025, đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Naoki Ito nói với hãng tin Anh Reuters rằng Nhật Bản đã rút khỏi kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân quy mô lớn tại Việt Nam “vì thời gian quá gấp rút”. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 16/12/2025, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt, giải thích: "Thông tin mà đại sứ Nhật ở Việt Nam nêu ra tóm tắt là như thế này: Đấy là những  công trình rất là lớn và tiêu chuẩn an toàn của nó thì càng ngày càng cao, mà Việt Nam đặt thời hạn quá gấp, tức là muốn năm 2035 phải xong. Ông ấy cho là không khả thi. Tôi thấy cũng đúng thôi: Đấy là loại lò thế hệ III+, tức là có trang bị các thiết bị chống lại mất an toàn bằng phương pháp thụ động. Trong thời gian gần đây, các lò có công suất tương đương như thế được xây ở Mỹ , ở Phần Lan, ở Trung Quốc, đặc biệt ở Bangladesh, do Nga giúp xây dựng. Công trình rất lớn và rất phức tạp, đòi hỏi tiêu chuẩn an toàn cao, nhưng Việt Nam lại yêu cầu là năm 2035 phải xong, thậm chí Việt Nam còn có một yêu cầu khác, tức là trong quá trình xây dựng lò như thế thì phải có chuyển giao công nghệ. Những điều đó là Nhật không thể thực hiện được. Nhật còn nói thêm là bây giờ, sau vụ Fukushima, hiện nay là ở Nhật cũng có những đòi hỏi về xây các lò phản ứng mới. Do đó họ không đủ khả năng để làm theo yêu cầu của Việt Nam. Căn cứ trên kết quả xây các lò loại thế hệ III + ở các nước thì đều hoặc là trễ tiến độ, hoặc là đội giá thành lên gấp một vài lần. Ở Bangladesh chẳng hạn, công trình do Nga trực tiếp làm đáng lý ra phải được đưa vào vận hành năm 2023, nhưng đã trễ sang năm 2024, rồi lùi sang năm 2025 và bây giờ phải đến tháng 12/26 may ra mới có thể vận hành được. Như thế rõ ràng việc xây dựng các lò lớn như thế hiện nay là một vấn đề rất khó khăn." Quyết định của Tokyo có thể làm phức tạp thêm chiến lược dài hạn của Việt Nam phát triển điện hạt nhân nhằm tránh tình trạng thiếu điện. Nói cách khác, Việt Nam khó mà đạt mục tiêu về thời hạn đặt ra cho 2 dự án nhà máy hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2:  "Bây giờ Nhật Bản từ chối, như thế là Việt Nam cũng sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện các mục tiêu lớn của Việt Nam: phải có điện là một, điện sạch là hai và ngoài ra đến năm 2050 phải đạt trung hòa carbon. Những mục tiêu đó là rất là khó đạt. Nhưng đại sứ Nhật cũng có nói Nhật mở ra một khả năng, tức là sẽ tham gia phát triển các công nghệ lò gọi là lò module, có thể lắp ghép được, gọi là SMR, công suất  khoảng vài trăm megawatt. Nhật Bản sẽ hợp tác với Việt Nam trong các dự án đó." Sau khi Nhật Bản rút khỏi dự án Ninh Thuận 2, phía Nga đã trấn an là họ sẽ không bỏ rơi Việt Nam. Theo báo chí trong nước, trong cuộc điện đàm ngày 11/12 với thủ tướng Phạm Minh Chính, tổng giám đốc Tập đoàn Rosatom của Nga đã cam kết hợp tác với Việt Nam "xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 theo công nghệ hiện đại nhất." Tuy nhiên, theo giáo sư Phạm Duy Hiển, cũng không chắc là Nga có thể làm theo đúng tiến độ như mục tiêu mà Việt Nam đề ra "Nga thì quyết tâm làm, khác với Nhật Bản. Họ còn có một chương trình hợp tác với Việt Nam rộng rãi hơn, bao gồm việc xây dựng trung tâm phát triển hạt nhân với lò phản ứng 10 MW và một số chuyện nữa liên quan đến nhiên liệu của trung tâm Đà Lạt. Đó là một dự án có thể nói là tổng hợp nhiều thứ và do đó việc họ phải làm dự án Ninh Thuận 1 là điều chắc chắn. Thế còn họ làm được đến mức nào thì như tôi nói khi nãy, căn cứ theo cái mà họ làm với Bangladesh thì thấy là trễ tiến độ khoảng hơn 7 năm. Cho nên nếu mà Việt Nam có làm, thì phải có những cọc mốc. Những cái cọc mốc đó rất là quan trọng, ví dụ như phải ký kết giữa hai bên, cam kết là nước Nga sẽ xây nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và cung cấp đủ tài chính để làm dự án. Cho đến bây giờ vẫn chưa thấy cọc mốc đó. Sau khi hai bên chính thức ký kết, có tiền bạc  đủ rồi, tôi nghĩ ít nhất phải hơn 10 năm thì mới có thể hoàn thành được. Cho nên khả năng hoàn tất dự án vào năm 2035 đối với Nga cũng là không dễ. Tuy Nga chưa nói cụ thể hạn định nào,ví dụ như là bao giờ đổ mẻ bê tông đầu tiên để mà xây nhà lò , sau đó ít nhất là 7 năm, 8 năm thì mới hoàn thành. Bây giờ cho đến lúc đổ bê tông đầu tiên chưa thấy con đường đi như thế nào cả. Các nhà lãnh đạo Việt Nam có những kế hoạch, có những mục tiêu muốn đặt ra. Đối với một số công trình cổ điển thì có thể đặt kế hoạch năm này năm khác được, còn loại công trình này Việt Nam chưa hề có những trải nghiệm nào cả. Với kinh nghiệm trong những năm gần đây về xây các lò công suất lớn ở nhiều nước, kể cả những nước tư bản hiện đại, tôi cho rằng con đường đó sẽ không tồn tại lâu được. Những lò công suất trung bình, công suất bé có thể là giải pháp tổng thể cho bài toán điện hạt nhân của nhiều nước. Và nó cũng thích hợp với Việt Nam trong nhiều mặt, tức là về vấn đề chọn địa điểm, vấn đề vốn, vân vân... Có điều hiện nay chưa có nước nào đưa ra một lò thương mại hóa cho toàn thế giới cả. Mọi người đều có ý kiến là có thể loại lò đó sẽ chỉ được thương mại hóa sau năm 2030. Tôi nghĩ cũng có lý." Với sự chậm trễ trong các dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu điện trầm trọng và phải gấp rút tìm những nguồn năng lượng bổ sung, theo giáo sư Phạm Duy Hiển: "Tôi nghĩ là điều đó cần phải đem ra bàn bạc và đó là một nguy cơ có thể có. Hai nhà máy điện Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 đóng góp công suất rất lớn, mà bây giờ một nhà máy dứt khoát là không có rồi, cho nên là Việt Nam trong tương lai cho đến những năm 2040 là sẽ thiếu điện. Bây giờ trở lại dùng than thì khó .May ra hiện nay có một triển vọng là phát triển một số mỏ khí. Có những thông tin như vậy và cũng khá chắc chắn, thậm chí người ta cũng đã nói đến đường dẫn ống khí về đất liền. Tôi hy vọng đó là một nguồn có thể thay thế, nhưng cũng phải chờ những thông báo chính thức. Nếu không có những nguồn khí như vậy thì rõ ràng là Việt Nam phải đặt vấn đề lấy đâu ra nguồn để thay thế ít nhất là một nhà máy của Nhật sẽ không đưa vào hoạt động." Theo nguồn tin mà giáo sư Phạm Duy Hiển có được, Hàn Quốc đã chính thức nhận xây nhà máy điện hạt nhân thứ hai, thay chỗ của Nhật Bản và hiện "đang vào cuộc nhanh chóng". Tuy nhiên, hiện thông tin này chưa được chính thức xác nhận.  Trong cuộc họp ngày 07/01 vừa qua, thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính đã bày tỏ quan ngại về sự chậm trễ trong dự án nhà máy hạt nhân, "tiến độ công việc chưa được như mong muốn, có nhiều vướng mắc phải tháo gỡ ngay như công tác đàm phán hiệp định hợp tác còn chậm, phụ thuộc nhiều vào các đối tác nước ngoài; bố trí vốn cho giải phóng mặt bằng…" Ông Phạm Minh Chính giao cho bộ Công Thương và bộ Ngoại Giao trong tháng 1/2026 phải kết thúc đàm phán với phía Nga về hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Đồng thời thủ tướng Việt Nam thúc giục tập đoàn Petrovietnam, bộ Công Thương, Bộ Ngoại Giao đề xuất lựa chọn thay thế Nhật Bản một đối tác mới "có công nghệ nguồn tiên tiến phù hợp với tình hình mới" để hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2. Nhưng có vẻ như Việt Nam không có lựa chọn nào khác ngoài việc phát triển các lò phản ứng hạt nhân kiểu module. Theo Nghị quyết phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, được Quốc Hội Việt Nam thông qua, có hiệu lực từ ngày 1.3.2026, chính phủ được giao ban hành cơ chế đầu tư phát triển điện hạt nhân (ĐHN) module nhỏ (SMR) "theo từng thời kỳ, căn cứ nhu cầu và tình hình thương mại hóa công nghệ và đảm bảo an ninh, an toàn hạt nhân".

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Mỹ trở lại Đông Nam Á: ASEAN và Việt Nam có giữ được cân bằng an ninh với Trung Quốc?

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Jan 5, 2026 9:50


Tháng 10/2025, tổng thống Mỹ Donald Trump đến Kuala Lumpur, Malaysia, họp thượng đỉnh với các nước ASEAN nhằm trấn an đồng minh, đối tác. Hoa Kỳ đã ký nhiều thỏa thuận, cam kết liên quan đến an ninh với Việt Nam, Malaysia, Philippines, Cam Bốt. Liệu Đông Nam Á lại trở thành tâm điểm trong chính sách đối ngoại của Mỹ năm 2026 ? Tại sao Washington lại tái khẳng định hiện diện mạnh mẽ hơn ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Biển Đông, trong thời điểm này ? Liệu những cam kết như vậy có lợi cho Việt Nam không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon, tại Viện Đông Á (Institut d'Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. RFI : Việc Hoa Kỳ trở lại hội nghị thượng đỉnh châu Á gửi đi một tín hiệu chính trị mạnh mẽ. Washington thực sự đang tìm kiếm điều gì thông qua việc tái khẳng định sự hiện diện của họ ở Đông Nam Á này ? Laurent Gédéon : Đúng là Pete Hegseth đã đến Kuala Lumpur ngày 30/10/2025 để tham dự cuộc họp của các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng. Có thể thấy rõ Mỹ muốn tận dụng cơ hội này để tái khởi động mối quan hệ với ba kiểu quốc gia : Trung Quốc ; các nước trong khu vực có quan hệ tốt nhưng không mang tính chiến lược ; các nước có mối liên hệ chặt chẽ với Mỹ về quốc phòng. Ông Hegseth đã gặp bộ trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Đổng Quân để thảo luận về việc nối lại các cuộc trao đổi quân sự trực tiếp giữa Washington và Bắc Kinh, nhưng cũng chia sẻ những lo ngại của Mỹ về hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và xung quanh Đài Loan. Thông qua cuộc gặp với người đồng cấp Trung Quốc, bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ muốn tái khẳng định cam kết của Washington về hai vấn đề này. Rất có thể là việc tỏ thái độ kiên quyết đó chủ yếu nhằm mục đích trấn an các bên khác tham dự hội cấp cao về quyết tâm của Washington. Ngoài ra, ông Hegseth cũng đã tận dụng cơ hội đó để ký nhiều thỏa thuận quân sự với ba quốc gia trong khu vực. Trước tiên là với Philippines, ông Hegseth gặp bộ trưởng Quốc Phòng Philippines và tuyên bố thành lập Lực lượng Đặc nhiệm Philippines (Task Force-Philippines). Đây là một sáng kiến ​​chung nhằm cải thiện sự hợp tác và khả năng tương tác giữa Mỹ và Philippines trong trường hợp khẩn cấp ở Biển Đông và các khu vực khác. Đọc thêmMỹ và Malaysia củng cố hợp tác quốc phòng ở Biển Đông để đối phó với "chiến thuật vùng xám" Với Malaysia, ông Hegseth đã họp với bộ trưởng Quốc Phòng Mohamed Khaled Nordin. Hai bên đã ký một bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng, công bố gia hạn thỏa thuận chung về mua sắm thiết bị quân sự và hỗ trợ nhau. Và cuối cùng, với Cam Bốt, ông và người đồng cấp Cam Bốt đã tuyên bố nối lại cuộc tập trận chung thường niên, vốn bị đình chỉ từ năm 2017. Hai bên cũng đề cập đến khả năng một tàu chiến của Mỹ đến thăm Căn cứ Hải quân Ream ở Cam Bốt. Căn cứ này được Trung Quốc hỗ trợ hiện đại hóa và lực lượng Trung Quốc được hưởng quyền tiếp cận đặc biệt. Tất cả những yếu tố này, bao gồm cả cuộc gặp với bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam, đều thể hiện rõ mong muốn tái đầu tư của Mỹ vào khu vực và, thông qua các thỏa thuận này, mong muốn tích hợp một số nước trong khu vực vào một cấu trúc an ninh trong tương lai mà phần nào có thể nhắm đến Trung Quốc. RFI : “Nước Mỹ trên hết không có nghĩa là Nước Mỹ đơn độc”. Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ đối với khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Điều này đã được thể hiện qua quan hệ đối tác an ninh giữa Mỹ với Malaysia và với Philippines, như ông đã giải thích. Liệu sự trở lại ấn tượng như vậy có thuyết phục được các nước ASEAN và có lợi cho họ không, khi mà những nước này không hề nhắc đích danh Bắc Kinh trong những lời chỉ trích về hành động gây bất ổn của Trung Quốc ? Laurent Gédéon : Đúng vậy, không gian hàng hải đã được nhấn mạnh thành trọng tâm bởi vì trong tuyên bố ngày 01/11/2025, ông Hegseth nói :  Chúng tôi đang thực hiện nguyên tắc “Nước Mỹ trên hết”. Nhưng “Nước Mỹ trên hết” không có nghĩa là chỉ riêng nước Mỹ. Nó có nghĩa là cùng với các đồng minh và đối tác của chúng tôi, những bên có khả năng duy trì an ninh, ổn định, tự do hàng hải và cuối cùng là hòa bình. Mặc dù các nước ASEAN không nêu đích danh Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh đã được bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ nhắc đến rất nhiều. Ví dụ, trong cuộc họp không chính thức, ông Hegseth đã cảnh báo các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN về mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra cho chủ quyền của nước họ. Ông nói :  Hành động của Trung Quốc là một lời cảnh tỉnh... Các hành động khiêu khích của Trung Quốc cũng thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với đất nước của quý vị, thách thức và đe dọa chủ quyền lãnh thổ của đất nước quý vị. Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ trong việc duy trì một khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương an toàn và ổn định. Ông cũng cổ vũ sự hợp tác giữa Mỹ và ASEAN để phát triển nhận thức tình hình hàng hải chung, đặc biệt là ở Biển Đông. Đây là điểm quan trọng. Thêm vào đó, ngày 09/09, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đã nói với người đồng cấp Trung Quốc Đổng Quân rằng Mỹ có những lợi ích sống còn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mà Washington coi là một khu vực hoạt động ưu tiên, và Mỹ sẽ kiên quyết bảo vệ những lợi ích đó. Tuy nhiên, có thể nhận thấy cho dù Mỹ thể hiện quyết đoán, có lập trường vững chắc như vậy, các quốc gia trong khu vực vẫn còn khá lưỡng lự về mức độ cam kết của Washington đối với các vấn đề như Biển Đông và Đài Loan. Thái độ lưỡng lự này được thôi thúc bởi điều được gọi là “sự mơ hồ chiến lược” của Mỹ, khi Washington không nêu rõ là sẽ tham gia hay không, hoặc là họ sẽ tham gia như thế nào vào một cuộc xung đột công khai với Trung Quốc. RFI : Sự trở lại của Mỹ, hay nói đúng hơn là sự tăng cường cam kết của Mỹ đối với khu vực có thể sẽ mang lại lợi ích như thế nào cho Việt Nam ? Laurent Gédéon : Tôi nghĩ rằng bất kỳ sự tái đầu tư nào của Mỹ vào khu vực, nếu không dẫn đến xung đột trực tiếp với Trung Quốc, đều chỉ có lợi cho Việt Nam, vì nó củng cố cán cân chiến lược khu vực và giảm bớt quan hệ bất đối xứng với Trung Quốc, ngay cả khi không có thỏa thuận quân sự chính thức giữa Hà Nội và Washington. Đọc thêmBiển Đông, Trung Quốc : Việt Nam cần đề phòng khả năng Trump "rũ áo" như với Ukraina? Do đó, chắc chắn rằng lập trường kiên quyết của ông Hegseth, đặc biệt là về Biển Đông, chỉ có thể được Hà Nội hoan nghênh vì nó phù hợp với các tuyên bố và yêu cầu của Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn tồn đọng một sự bất trắc chiến lược, đặc biệt là về ý muốn thực sự của Mỹ trong việc ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc bằng vũ lực nếu tình hình đòi hỏi. Điểm bất trắc thứ hai liên quan đến kết quả của một cuộc đối đầu tiềm tàng giữa Trung Quốc và Mỹ. Các kịch bản được thảo ra cho kết quả khác nhau, và không phải tất cả đều cho rằng lực lượng Mỹ thắng quân đội Trung Quốc. Do đó, tôi tin rằng những điểm không chắc chắn này sẽ khiến Việt Nam tiếp tục thận trọng trong lập trường ngoại giao, ưu tiên giữ trung lập giữa Washington và Bắc Kinh để bảo vệ tương lai của mình. RFI : Thỏa thuận được gọi là “Thỏa thuận hòa bình” giữa Thái Lan và Cam Bốt được ký kết dưới sự bảo trợ của tổng thống Mỹ Donald Trump. Sự kiện này cho thấy mức độ ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nhưng liệu kiểu ảnh hưởng đó, dưới sự đe dọa về hậu quả kinh tế, có bền vững hay không ? Laurent Gédéon : Chính sách của chính quyền Trump nhìn chung được coi là tương đối khó đoán, điều này làm suy yếu niềm tin vào tính ổn định chiến lược của Hoa Kỳ. Về thỏa thuận do Donald Trump, thủ tướng Thái Lan và thủ tướng Cam Bốt cùng ký, mặc dù được mô tả là một “thỏa thuận hòa bình”, nhưng nó giống với một thỏa thuận ngừng bắn hơn, bởi vì không giải quyết được vấn đề cốt lõi, liên quan đến tranh chấp biên giới giữa hai nước. Đọc thêmChính sách thuế của Trump cản trở chiến lược « xoay trục sang châu Á » của Mỹ Đúng là Donald Trump tự nhận là đóng vai trò quan trọng trong quá trình này, nhất là bằng cách đe dọa đình chỉ các cuộc đàm phán thương mại với cả hai nước và tăng thuế quan. Điều này diễn ra trong bối cảnh Cam Bốt lúc đó chịu mức thuế 49% và Thái Lan 36%. Rõ ràng là áp lực của Mỹ đã thúc đẩy cả hai bên tạm ngừng giao tranh nhưng không chấm dứt được xung đột. Hơn nữa, hai quốc gia khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tạm thời tranh chấp : Malaysia, quốc gia giữ chức chủ tịch ASEAN năm 2025, và Trung Quốc. Cả Kuala Lumpur và Bắc Kinh đều gây áp lực để ngăn chặn xung đột leo thang, bởi vì sẽ đi ngược lại lợi ích của họ. Do đó, sáng kiến ​​của Mỹ quan trọng nhưng cần được xem xét dưới góc độ hai hạn chế sau đây : Thứ nhất, đây không phải là một giải pháp dứt điểm cho xung đột, mà chỉ là một thỏa thuận ngừng bắn ; Thứ hai, điều đó chỉ có thể thực hiện được nhờ hành động phối hợp, dù kín đáo, của hai quốc gia khác. Và đó chính là cách mà các nước trong khu vực nhìn nhận và phân tích. RFI : Philippines giữ chức chủ tịch luân phiên ASEAN năm 2026. Manila có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc, cùng với cam kết của Mỹ, về vấn đề Biển Đông. Chúng ta có thể kỳ vọng những diễn biến nào trong năm 2026 ? Laurent Gédéon : Đúng là rất khó để dự đoán tương lai. Nhưng những yếu tố hiện có cho thấy Philippines, quốc gia đã xích lại gần hơn đáng kể với Mỹ kể từ khi ông Ferdinand Marcos Jr. lên nắm quyền vào năm 2022, có thể sẽ tìm cách thúc đẩy một động thái cứng rắn hơn, hoặc thậm chí là cưỡng chế, đối với Trung Quốc. Ví dụ, Philippines có thể sẽ cố gắng khôi phục việc xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) ở Biển Đông. Dự án này có từ năm 2002 nhưng chưa bao giờ thành hiện thực, chủ yếu là do Trung Quốc thiếu hành động. Chính quyền Manila cũng có thể cố gắng đạt được sự lên án rõ ràng đối với các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông, điều mà ASEAN chưa từng làm cho đến nay. Tuy nhiên, Philippines sẽ phải tính đến việc các nước thành viên ASEAN có mức độ quan hệ khác nhau với Trung Quốc, điển hình như các nước Cam Bốt, Thái Lan và Miến Điện sẽ cố gắng làm giảm nhẹ bất kỳ sáng kiến ​​nào của nước chủ tịch ASEAN mà họ coi là không thân thiện, hoặc quá không thân thiện với Trung Quốc. Đọc thêmPhilippines-Mỹ-Nhật diễn tập tại Biển Đông, Trung Quốc kêu gọi Manila ngừng khiêu khích Một điểm đáng chú ý khác, có thể sẽ được quan tâm trong năm 2026, liên quan đến Đài Loan và khả năng Trung Quốc tiến hành hành động quân sự nhắm đến hòn đảo. Nếu kịch bản này xảy ra và Mỹ can thiệp, Philippines sẽ ở tuyến đầu, thậm chí có thể là một bên tham chiến. Trong giả thuyết này, câu hỏi đặt ra là về khả năng hành động và mức độ chủ động của Philippines trong ASEAN, bởi vì Philippines vừa là một bên tham gia xung đột vừa giữ chức chủ tịch ASEAN. Do đó, năm 2026 chắc chắn sẽ có rất nhiều biến động và cần được theo dõi sát sao. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Việt Nam: Đồng bằng sông Cửu Long tìm giải pháp cho tình trạng ngập úng

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Dec 15, 2025 12:58


Theo các chuyên gia, vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với nhiều nguy cơ với các hiện tượng triều cường, sụt lún và sạt lở đồng loạt gia tăng. Không chỉ gây ngập úng diện rộng, các hiện tượng này còn làm suy yếu hệ thống đê bao, có thể dẫn đến những sự cố nghiêm trọng nếu không có giải pháp ứng phó kịp thời. Theo báo chí trong nước, trong những ngày đầu tháng 10 âm lịch vừa qua, nhiều khu vực ở Đồng Tháp liên tục ngập sâu do triều cường lên mức cao nhất từ đầu năm. Triều cường mạnh cũng có nguy cơ làm vỡ đê. Cùng thời điểm, Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam (VAWR) cảnh báo nhiều khu vực trong vùng có khả năng tiếp tục bị ngập úng do kết hợp giữa triều cường, mưa trái mùa và dòng chảy yếu từ thượng nguồn. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 12/12/2025, tiến sĩ Dương Văn Ni, Khoa Môi trường và Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Đại học Cần Thơ và là chủ tịch Quỹ bảo tồn Mekong MCF, giải thích: "Nói về ngập, chúng ta phân biệt ba thông số. Thứ nhất là diện tích ngập, thứ hai là độ sâu ngập và thứ ba là thời gian ngập. Ví dụ các tỉnh ven phía Biển Đông như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều, thành thử khi bị ngập thì sẽ ngập rất nhanh, nhưng mà rút rất là lẹ, tại vì một ngày một đêm có tới hai lần nước ròng, hai lần nước kém. Các tỉnh khác như Kiên Giang, Cà Mau thì lại bị ảnh hưởng chế độ nhật triều, ngập thì cũng ngập nhanh, nhưng lại rút rất chậm, bởi vì một ngày một đêm chỉ có một lần nước ròng thôi. Những tỉnh đầu nguồn như Đồng Tháp, An Giang thì lại ít bị ảnh hưởng bởi chế độ thủy triều từ Biển Đông, mà bị ảnh hưởng hoàn toàn bởi lượng nước đổ về của sông Mekong và lượng mưa tại chỗ. Ở những nơi đây có mùa nước mà người ta hay gọi là mùa nước nổi, khoảng giữa rằm tháng 7 thì nước dâng lên từ từ nhưng lại kéo dài cho tới khoảng cuối tháng 9 âm lịch thì nước mới bắt đầu rút được. Còn những tỉnh nằm giữa như Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang thì lại bị ảnh hưởng bởi hai phần. Một phần là các tỉnh phía thượng nguồn như Đồng Tháp, An Giang và một phần khác là các tỉnh ven biển như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu... Nếu xảy ra ngập lụt ở Cần Thơ và nếu các tỉnh phía bên trên như Đồng Tháp, An Giang không có nước đổ về tiếp tục và trong khi đó phía Sóc Trăng và Trà Vinh không bị ngập, thì Cần Thơ bị ngập không đáng kể, có nghĩa là ngập, nhưng sau đó nước sẽ rút rất nhanh. Nhưng ngược lại, nếu các tỉnh ven biển như Trà Vinh, Sóc Trăng cũng bị ngập và cộng thêm các tỉnh đầu nguồn như Đồng Tháp, An Giang lại ngập nữa, thì lúc bây giờ các tỉnh phía giữa như Vĩnh Long và Cần Thơ sẽ ngập rất sâu. Khi muốn đánh giá ngập ở một chỗ nào thì có rất nhiều nguyên nhân, chứ không đơn thuần một hai nguyên nhân. Và bản chất của chuyện ngập là hoàn toàn khác nhau giữa tỉnh này với tỉnh khác. Nó không chịu một ảnh hưởng nguyên nhân chung, mà mỗi tỉnh có một nguyên nhân riêng. Thậm chí những địa phương trong cùng một tỉnh cũng có những nguyên nhân ngập khác nhau. Và điều đó tác động lên ba thông số mà tôi vừa trình bày: Diện tích ngập, độ sâu ngập và thời gian ngập." Tình trạng sụt lún Không chỉ đối mặt với ngập úng, vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn đang chịu tác động của sụt lún đất và sạt lở bờ sông, bờ biển. Mưa lớn, dòng chảy thay đổi và tác động của triều cường khiến các điểm sạt lở xuất hiện với tần suất dày hơn. Tại một số khu vực, sạt lở đã ăn sâu vào sát chân đê, làm tăng nguy cơ mất an toàn cho cả tuyến đê lẫn người dân sinh sống ven sông. Phân tích của các chuyên gia VAWR cho thấy việc khai thác nước ngầm kéo dài đã khiến nền đất hạ thấp. Khi nền đất lún xuống, mực nước vốn chỉ ngang bờ kênh nay có thể gây ngập ngay cả khi triều không quá cao. Theo phân tích của tiến sĩ Dương Văn Ni, có rất nhiều nguyên nhân giải thích tình trạng sụt lún của đồng bằng sông Cửu Long: "Đồng bằng chúng ta là một vùng đất non trẻ, trước khi hình thành chỉ là những bãi bùn rất là nhão. Sau đó đất bắt đầu dần dần săn chắc và như vậy có một quá trình gọi là 'sụt lún tự nhiên'. Hiện tượng này khác nhau ở từng vùng. Do điều kiện địa chất, có những nơi thì sụt lún tự nhiên khoảng chừng 5 cm, có những nơi thì chỉ sụt một vài cm thôi. Nó hoàn toàn lệ thuộc vào cấu tạo địa chất của lớp trầm tích nằm bên dưới. Nhưng một nguyên nhân thứ hai đó là do chúng ta khai thác nước ngầm. Mà lý do căn bản của chuyện khai thác nước ngầm không phải là người ta thiếu nước ngọt mà là thiếu nước có đủ chất lượng để mà sản xuất và sinh hoạt. Bấy lâu nay chúng ta thâm canh, chúng ta đã sử dụng quá nhiều phân bón, thuốc trừ sâu và như vậy tạo ra một lượng dư thừa đổ xuống sông rạch và làm ô nhiễm nước mặt. Đặc biệt là trong quá trình xây đê điều, cống đập để ngăn mặn, ngăn lũ, điều tiết nước thì chúng ta cản trở dòng chảy rất là lớn. Do đó bây giờ gần như người dân nông thôn không còn uống nước dưới sông nữa, hoặc là không còn sinh hoạt, tắm giặt dưới sông nữa, bởi vì người ta sợ ô nhiễm. Và chính vì sợ ô nhiễm như vậy, người ta phải khoan rất nhiều giếng để lấy nước ngầm lên xài. Nghiêm trọng hơn là ở những vùng ven biển, khi người ta nuôi tôm thì người ta cần những độ mặn thích hợp cho quá trình con tôm tăng trưởng. Thành thử người ta phải cần rất nhiều nước ngọt  pha loãng với nước mặn để có độ mặn lý tưởng. Và người ta sử dụng một lượng nước ngầm vô cùng lớn không phải chỉ để sinh hoạt, mà cho cả sản xuất, góp phần rất đáng kể vào chuyện làm sụt lún mặt đất. Và nguyên nhân cuối cùng là các công trình xây dựng của chúng ta càng ngày càng dày đặc. Những thành phố ngày xưa chỉ là những nhà thấp thì bây giờ xuất hiện rất nhiều nhà cao tầng, thậm chí những nhà cao tầng đó tập trung rất dày đặc. Với trọng lượng rất là lớn trên mặt đất như vậy nó ép xuống và như vậy cũng sẽ làm tăng mức độ sụt lún chung cho cả vùng. Bao nhiêu năm nay khi nói là nước biển dâng, biến đổi khí hậu, nhưng mà nước biển chỉ dâng chừng vài mm trong vòng 1, 2 năm, trong khi tốc độ sụt lún của chúng ta tới mấy chục mm trong vòng 1 năm.Và như vậy chúng ta thấy là thiên tai đến chậm, nhưng nhân tai đến nhanh hơn!" Sống chung với lũ Theo tiến sĩ Dương Văn Ni, trước viễn cảnh đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục ngập úng diện rộng trong thời gian dài, thay vì chế ngự nguồn nước bằng đê điều như vẫn làm từ trước đến nay, chính quyền địa phương nên giúp cho người dân ở vùng này học cách sống chung với lũ: "Những năm gần đây, chúng ta thấy rõ ràng ngay cả trong các văn bản của nhà nước cũng không còn mạnh dạn nói chuyện chống hạn, chống mặn, chống lũ nữa, mà đang dần dần khuyến khích người dân sống chung với lũ, sống chung với mặn. Thách thức hiện nay đó là nhiều khi giải pháp sống chung đó chưa được phát triển một cách đầy đủ. Và như vậy người dân và các cấp chính quyền ở địa phương khá lúng túng khi áp dụng những mô hình cụ thể vào cuộc sống hàng ngày. Ở những tỉnh đầu nguồn như An Giang, Đồng Tháp vài chục năm trước người ta bao những đê triệt để, không cho nước lũ tràn vào trong mùa mưa, để người ta thâm canh lúa vụ ba nhằm tăng sản lượng lúa. Nhưng sau hàng chục năm sử dụng mô hình đó, bây giờ người ta đã thấy một điều rất rõ là ở những vùng đó gần như đất bị kiệt quệ về dinh dưỡng và người sản xuất phải bón phân ngày càng nhiều. Năng suất lúa thì không tăng bao nhiêu nhưng lượng phân bón phải tăng lên rất cao, do đó lợi nhuận của sản xuất lúa vụ ba này gần như không còn. Người dân ý thức được chuyện đó, chính quyền địa phương và mọi người ý thức được chuyện đó, nhưng bây giờ muốn xả nước trở lại để lấy phù sa, để lấy dinh dưỡng trở lại tự nhiên cho đất, thì đó là một vấn đề không dễ. Trong hàng chục năm qua, vì chúng ta đã giữ mực nước thấp như vậy, thành thử nhà cửa, chuồng trại, vườn tược, thậm chí mồ mả cũng xây thấp lè tè bằng với mực nước. Bây giờ nếu xả nước trở lại thì tất cả những công trình này sẽ bị chìm ngập hết. Và như vậy người dân không đồng thuận mặc dù người ta ý thức rất rõ là bây giờ phải xả nước trở lại để cho đất đai nó màu mỡ trở lại. Chúng ta cũng phải đi từng bước chứ không thể một ngày một buổi mà có giải pháp tổng thể được. Thứ nhất, phải chuyển đổi cách sử dụng đất làm thế nào để bảo đảm được thu nhập cho người dân ổn định hàng tháng, hàng năm chuyển đổi từ sinh kế không lệ thuộc vào nguồn nước sang thích nghi tốt với những nguồn nước. Khi chuyển đổi được những sinh kế cho bà con ở một vùng nào đó rồi đó thì bước tiếp theo  là phải lần lần rút người dân ra khỏi những vùng không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nữa, ví dụ như những vùng bưng biền mà ngày xưa nó ngập rất lâu, khi mùa nước tới là nước nó ngập ba bốn mét. Những vùng này trong bao nhiêu năm qua chúng ta bao đê khô triệt để cho người dân sống trong đó, nhưng mà người ta sống với một tâm thế rất là phập phồng rủi ro, không biết đê bao bị vỡ gây ngập lụt bất cứ lúc nào, tài sản người ta xây dựng hàng chục năm có thể đổ sông đổ biển trong vòng một vài tiếng đồng hồ. Thứ ba là chúng ta cũng phải định hình lại chiến lược phát triển tổng thể của Đồng bằng sông Cửu Long và chiến lược đó phải phân khu vực. Những nơi nào mà bắt buộc chúng ta phải không cho nước nó ngập bất cứ lúc nào, thì những  khu đó, với khoa học công nghệ hiện đại, chúng ta hoàn toàn có đủ khả năng kiểm soát hoàn toàn mực nước, để không có chuyện ngập tràn lan. Dĩ nhiên là những khu này phải tương xứng với cái trình độ phát triển và phải đóng góp rất  lớn cho nền kinh tế của cả khu vực. Bởi vì đầu tư cho những khu vực này là vô cùng tốn kém và quản lý những khu này lại càng tốn kém hơn nữa. Đó là những khu vực đặc biệt phải ưu tiên, ví dụ như những khu công nghiệp, những nơi có những công trình phúc lợi công cộng như trường học, bệnh viện... Còn lại những khu vực không đóng góp thực sự lớn cho nền kinh tế thì chúng ta phải xem xét từng bước trả nó trở về với thiên nhiên. Khi chúng ta làm được điều đó đó thì tự bản thân cộng đồng đã thích nghi được rồi. Kinh nghiệm của Hà Lan Tiến sĩ Dương Văn Ni nêu ví dụ của Hà Lan, một quốc gia có giàu kinh nghiệm sống với nước, đồng thời có trình độ khoa học kỹ thuật rất cao trong việc xây dựng các đê điều và quản lý đê điều. Tuy nhiên, những năm sau này, họ thấy là cần thấy phải trả lại không gian cho dòng sông, cho nên họ đưa ra một chương trình rất lớn gọi là 'room for the river': Trong những năm mà mưa thuận gió hòa thì người ta vẫn canh tác được trên những vùng đất đó. Nhưng những năm nào mà dự đoán là thời tiết cực đoan, hay có thể xảy ra nước ngập nghiêm trọng, thì những vùng đó được cảnh báo và người ta không canh tác trong vùng đó. Vùng đó trở thành không gian để người ta chứa nước dư thừa của dòng sông. Theo tiến sĩ Dương Văn Ni, có thể áp dụng kinh nghiệm của Hà Lan cho đồng bằng sông Cửu Long : "Ở đồng bằng sông Cửu Long thật ra có hai vùng rất lớn. Một vùng là ở Tứ Giác Long Xuyên của các tỉnh như Kiên Giang và An Giang. Vùng thứ hai là vùng Đồng Tháp Mười của các tỉnh Đồng Tháp, Long An và Tiền Giang. Hai vùng này, trong tự nhiên có thể trữ được khoảng 8 đến 9 tỷ mét khối nước trong mùa mưa. Với khả năng trữ một lượng nước khổng lồ như vậy, chúng ta hoàn toàn không phải lo chuyện ngập úng của những vùng bên dưới. Mấy năm gần đây chúng ta đã biến những vùng này thành những vùng thâm canh nông nghiệp và như vậy là toàn bộ lượng nước thay vì có một không gian để tràn thì bây giờ phải tràn xuống những vùng bên dưới, gây ra ngập lụt thường xuyên, đặc biệt là ngập lụt ở những thành phố mà trong lịch sử chưa từng bị ngập, như Cần Thơ chẳng hạn. Khái niệm 'room for the river' đối với Hà Lan thì dễ làm hơn là vì cộng đồng của họ thưa thớt, họ dễ quy hoạch, dễ tính toán. Còn hiện nay những vùng như Đồng Tháp Mười hoặc Tứ Giác Long Xuyên của chúng ta thì đã có hàng triệu người dân sinh sống và đã ổn định nhà cửa cũng như vườn tược, chuồng trại. Và như vậy việc sử dụng hai vùng này mà tôi gọi là 'room for the delta' là một thách thức rất lớn, cần một nỗ lực rất lớn của toàn xã hội."   "

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Mỹ muốn kéo Việt Nam vào quỹ đạo “bán đồng minh”, Hà Nội vẫn chưa sẵn sàng rời Matxcơva

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Dec 8, 2025 9:34


“Washington muốn hợp tác chặt chẽ hơn với Việt Nam về mặt quân sự”. Mối quan hệ này được thể hiện qua việc Mỹ chuyển giao ba tàu tuần tra cho Cảnh sát biển Việt Nam (1), năm máy bay huấn luyện T-6C trên tổng số 12 chiếc (2). Một cột mốc quan trọng khác là chuyến công du Hà Nội của bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ Pete Hegseth đầu tháng 11/2025. Ông khẳng định “Hoa Kỳ quyết tâm theo đuổi những dự án này và nhiều dự án khác”. Việt Nam giữ vai trò như thế nào trong chiến lược quốc phòng vừa được tổng thống Trump điều chỉnh ngày 05/12, theo đó Trung Quốc vẫn là đối thủ “hàng đầu” của Mỹ ? Liệu Hà Nội có thể tăng cường mối quan hệ quân sự với Washington mà vẫn không tách rời Matxcơva ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon tại Viện Đông Á (Institut d'Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. RFI : Việt Nam nằm trong số các điểm dừng chân trong chuyến công du châu Á của bộ trưởng Chiến tranh Hoa Kỳ Pete Hegseth tháng 11/2025. Chuyến thăm này diễn ra trong bối cảnh nào ? Laurent Gédéon : Trước hết, cần lưu ý rằng ông Pete Hegseth được coi là một đồng minh thân cận của tổng thống Donald Trump và được biết là người có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc. Ngày 03/11, ông Hegseth kết thúc chuyến thăm Việt Nam kéo dài hai ngày, gặp bộ trưởng Quốc Phòng Phan Văn Giang và cam kết tăng cường quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Chuyến thăm này trùng với kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao song phương và hai năm nâng cấp lên thành Đối tác Chiến lược Toàn diện - cấp ngoại giao cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này diễn ra trong bối cảnh ngoại giao tế nhị, được đánh dấu bằng chuyến công du Bắc Triều Tiên của tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm ngày 09/10, dự lễ duyệt binh tại Bình Nhưỡng để kỷ niệm 80 năm thành lập đảng Lao Động Triều Tiên. Dĩ nhiên là chuyến công du đầu tiên của một quan chức cấp cao Việt Nam từ năm 2007 cũng được theo dõi sát sao ở Washington. Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư Tô Lâm thăm Bắc Triều Tiên, dự lễ 80 năm thành lập đảng Lao Động Việc tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam thăm Bình Nhưỡng có thể được phân tích trên hai cấp độ. Thứ nhất là thể hiện mong muốn của Hà Nội trong việc khôi phục quan hệ với Bình Nhưỡng bị đình trệ vì đại dịch Covid-19, Bắc Triều Tiên gần như đóng cửa hoàn toàn biên giới với du khách nước ngoài. Mặt khác, điều này có thể liên quan đến môi trường địa-chiến lược nhạy cảm ở Đông Nam Á, đặc biệt là liên quan đến Trung Quốc, cũng như sự bất cân xứng quân sự đặc trưng trong mối quan hệ Việt-Trung. Trong bối cảnh này, Hà Nội quan tâm đến các phương pháp hiện đại hóa hệ thống vũ khí Liên Xô do Bắc Triều Tiên phát triển, đặc biệt là không quân, bởi vì Việt Nam cũng được trang bị vũ khí hạng nặng từ Nga hoặc Liên Xô cũ. Mối quan tâm này có thể giải thích sự hiện diện của bộ trưởng Phan Văn Giang. Giả thuyết này càng được củng cố qua việc hai bên đã ký một thỏa thuận hợp tác quốc phòng song phương. Bên cạnh hai yếu tố này, Việt Nam cũng đang định hình là một trung gian tiềm năng nếu đối thoại giữa Mỹ và Bắc Triều Tiên được nối lại, như trường hợp hồi tháng 02/2019. Lập trường này sẽ giúp Hà Nội có được lợi thế ngoại giao quý giá đối với Washington, đặc biệt là trong giai đoạn quan hệ kinh tế song phương nhạy cảm. Chuyến thăm của bộ trưởng Pete Hegseth, diễn ra trong bối cảnh phức tạp như đã nói ở trên, còn được đánh dấu bởi mong muốn của Hà Nội trong việc tìm kiếm sự cân bằng giữa hợp tác với các bên liên quan trong khu vực, tìm kiếm ảnh hưởng của Mỹ làm đối trọng với Trung Quốc, và duy trì khoảng cách tương đối với Washington mà không cắt đứt quan hệ với Mỹ. RFI : Hoa Kỳ đã tạm dừng viện trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế USAID trên thế giới, yêu cầu các đối tác và đồng minh chi tiêu nhiều hơn cho an ninh của họ. Ngược lại, Washington lại công bố khoản tài trợ mới 130 triệu đô la cho dự án xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa, nâng tổng số viện trợ không hoàn lại lên 430 triệu đô la. Đâu là lý do có thể giải thích cho quyết định này ? Laurent Gédéon : Thông qua quyết định này có thể thấy kết quả của sự hợp tác về các vấn đề hậu chiến, vốn là nền tảng chính trị và biểu tượng thiết yếu trong quan hệ Việt-Mỹ. Năm 1995 khi bình thường hóa quan hệ, hai nước hợp tác trong việc rà phá bom mìn, tìm kiếm hài cốt quân nhân mất tích và tẩy sạch chất dioxin tại các căn cứ không quân cũ bị nhiễm của Mỹ. Vết tích chiến tranh vẫn in hằn đối với cả người Mỹ và người Việt Nam. Việc nêu bật hậu quả về con người và môi trường của các vụ ném bom của quân đội Mỹ ở Việt Nam đã nâng cao nhận thức tại Hoa Kỳ và thúc đẩy mong muốn giải quyết cuộc xung đột này. Bối cảnh này là một trong những yếu tố giải thích cho quyết định tài trợ của Washington. Đọc thêmMỹ - Việt Nam tăng cường hợp tác quân sự Ngoài ra, còn có một lý do khác liên quan đến mong muốn của Washington trong việc thúc đẩy bất cứ việc gì có thể giúp hai nước xích lại gần nhau về mặt chiến lược, cho dù chi phí không phải là nhỏ. Theo quan điểm của các chiến lược gia Mỹ, một Việt Nam trung lập nhưng hòa giải đối với Mỹ, hoặc thậm chí là một Việt Nam đồng minh, là một mục tiêu đặc biệt quan trọng, bởi vì sẽ giúp kiềm chế Trung Quốc. Đây chắc chắn là một trong những lý do cho sáng kiến ​​của Mỹ. RFI : Liệu sự hợp tác về di sản chiến tranh có tạo nền tảng cho mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước sâu sắc hơn không ? Việt Nam có thể vận dụng sự hợp tác này như thế nào để phát triển quan hệ với một cựu thù ? Laurent Gédéon : Hợp tác về di sản chiến tranh chắc chắn rất quan trọng để củng cố quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Việc này cũng mang ý nghĩa chính trị nội bộ ở Việt Nam. Tại một đất nước mà cuộc chiến vẫn giữ ý nghĩa biểu tượng rất quan trọng đối với người dân, kể cả các thế hệ về sau, sự hợp tác về di sản chiến tranh này mang lại cho chính quyền tính chính danh chính trị cần thiết trong nỗ lực phát triển quan hệ với cựu thù. Tuy nhiên, sự hợp tác này không phải là động lực duy nhất thúc đẩy mối quan hệ Việt-Mỹ. Ngoài di sản chung của chiến tranh, mối quan hệ đó còn được thúc đẩy bởi thực tế cụ thể của bối cảnh địa-chiến lược hiện tại trong khu vực, được đánh dấu bằng sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chỉ riêng thực tế này cũng rất thuận lợi cho việc thúc đẩy các cuộc đàm phán giữa hai nước. Đọc thêmHoa Kỳ muốn hợp tác giúp Việt Nam có đủ vũ khí để tự vệ Các cuộc đàm về việc mua 24 chiến đấu cơ F-16, được tiết lộ ngày 22/04, cũng phải được đặt trong bối cảnh này. Mặc dù khởi đầu đầy hứa hẹn nhưng thỏa thuận lại không tiến triển trong chuyến thăm Hà Nội của bộ trưởng Pete Hegseth. Tuy nhiên, thất bại này không liên quan - hoặc chỉ liên quan tối thiểu - đến vấn đề ký ức lịch sử và di sản chiến tranh như vừa đề cập ở trên. Đó là lý do tại sao tôi nói rằng còn có những yếu tố tác động khác. Thật vậy, cần phải nói là song song với đàm phán Việt-Mỹ, nhiều cuộc đàm phán khác cũng diễn ra giữa Hà Nội và Matxcơva để Việt Nam mua chiến đấu cơ của Nga. Báo New York Times đưa tin vào ngày 27/10 rằng Hà Nội đã đặt mua vũ khí Nga trị giá 8 tỷ đô la, trong đó có 40 chiến đấu cơ Su-35 và Su-30. Nếu được xác nhận, hợp đồng này chứng minh hai điều : Thứ nhất, sự xích lại gần nhau ngày càng sâu sắc giữa Hà Nội và Matxcơva, và thứ hai, những thắc mắc của Việt Nam liên quan đến mức độ tin cậy lâu dài của Mỹ. Tuy nhiên, vì Washington hiểu rằng Việt Nam đã tăng cường quân sự đáng kể trong những năm gần đây, với ngân sách quốc phòng hiện chiếm gần 2% GDP, cho nên rất có thể Mỹ sẽ tiếp tục nỗ lực xích lại gần hơn bằng cách dựa vào những nền tảng được đặt ra trong hợp tác song phương về di sản chiến tranh, cũng như những chương trình hợp tác khác. RFI : Trong cuộc đối thoại ngày 02/11, bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam cũng bày tỏ mong muốn Mỹ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực quốc phòng và chia sẻ kinh nghiệm về an ninh mạng. Đâu là mục đích của Việt Nam trong việc này ? Laurent Gédéon : Đây là điểm đáng chú ý, bởi vì từ một năm nay, Việt Nam giữ vị thế nổi bật trong lĩnh vực an ninh mạng. Ngày 24/12/2024, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chính thức thông qua Công ước Liên Hiệp Quốc về Chống Tội phạm Mạng và chỉ định Hà Nội là địa điểm tổ chức ký kết. Lễ mở ký Công ước Hà Nội được tổ chức ngày 25 và 26/10/2025. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hợp tác quốc tế về an ninh mạng, đồng thời phản ánh tầm quan trọng đặc biệt cho ngành ngoại giao Việt Nam. Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, thiệt hại kinh tế hàng năm trên quy mô toàn cầu do tội phạm mạng dự kiến ​​vượt quá 10.000 tỷ đô la Mỹ vào năm 2025, với hàng triệu cuộc tấn công mạng xảy ra mỗi ngày. Đọc thêmHơn 60 nước ký kết Công ước chống Tội phạm Mạng tại Hà Nội, nhiều tập đoàn kỹ thuật số tẩy chay Tại Việt Nam, cũng như nhiều nơi khác trên thế giới, tội phạm mạng ngày càng gia tăng về quy mô và tính chất phức tạp về bản chất, cũng như tác động. Theo thiếu tướng Lê Xuân Minh, cục trưởng Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm mạng, bộ Công An, năm 2024 đã xảy ra hơn 100.000 sự cố an ninh mạng. Tội phạm mạng chuyển hướng từ các cuộc tấn công đơn lẻ, quy mô nhỏ sang hoạt động xuyên quốc gia được tổ chức bài bản, nhắm vào các hệ thống quốc gia trọng yếu và các doanh nghiệp kinh tế lớn. Đầu tháng 12/2025, bộ Công An cũng đã cảnh báo về sự gia tăng nhanh chóng của các video và hình ảnh được AI tạo ra sau trận lũ lụt ở miền Trung Việt Nam một tuần trước đó. Rõ ràng đây là vấn đề dân sự. Nhưng vì có tính chất hỗn hợp, những vấn đề này thường đan xen giữa lĩnh vực dân sự và quân sự, hoặc thậm chí là an ninh dân sự và quốc phòng. Trong bối cảnh đó, Hoa Kỳ - quốc gia sở hữu một trong những chuyên môn hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này - rõ ràng có thể hỗ trợ Việt Nam, nếu Hà Nội yêu cầu, dưới hình thức đào tạo chuyên gia, cung cấp chuyên gia, chia sẻ dữ liệu số, xây dựng năng lực, thậm chí là hội nhập vào các mạng lưới quốc tế. Tuy nhiên, để đi xa hơn trong quá trình hợp tác này, ví dụ, liên quan đến việc chia sẻ kinh nghiệm từ xung đột Ukraina, có lẽ Việt Nam sẽ phải thay đổi triệt để các ưu tiên chiến lược và ngoại giao, trong đó có việc Hà Nội có thể sẽ phải tách khỏi Matxcơva và xích lại gần Washington, điều này sẽ đưa Việt Nam vào quỹ đạo đồng minh hoặc bán đồng minh của Mỹ. Nhưng đó sẽ là sự thay đổi mô hình mà Hà Nội có lẽ chưa sẵn sàng vào thời điểm này, cho dù được Washington khuyến khích. Do đó, hợp tác Mỹ-Việt trong lĩnh vực an ninh mạng nhiều khả năng sẽ vẫn ở mức độ hạn chế. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. (1) Hoa Kỳ mở rộng hợp tác quốc phòng Hoa Kỳ - Việt Nam với việc bàn giao máy bay huấn luyện T-6C (2) Hoa Kỳ chuyển giao tàu tuần tra thứ ba cho Cảnh sát Biển Việt Nam nhân kỉ niệm 30 năm quan hệ ngoại giao

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Ma túy tổng hợp: Việt Nam đối phó với các đường dây buôn lậu từ Tam Giác Vàng

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Nov 24, 2025 9:46


Theo báo cáo do Văn phòng Liên Hiệp Quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC) công bố vào tháng 5 vừa qua, hoạt động sản xuất và buôn bán trái phép ma túy tổng hợp từ khu vực Tam giác Vàng ( khu vực nằm giữa biên giới ba nước Lào, Thái Lan, Miến Điện ) đã tăng gấp bội. Là quốc gia có đường biên giới chung với Lào, một trong 3 quốc gia của khu Tam Giác Vàng, Việt Nam đang phải đối phó với ngày càng nhiều đường dây buôn lậu ma túy tổng hợp từ nước láng giềng.  Trả lời RFI Việt ngữ ngày 15/09/2025, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải, giảng viên Trường Tư pháp hình sự và tội phạm học Griffith, Úc, và là chủ tịch Hội đồng nghiên cứu về tội phạm ma túy tại châu Á của Viện nghiên cứu AICS (Hoa Kỳ), trước hết nêu lên những tuyến đường mà ma túy tổng hợp xâm nhập vào Việt Nam : Lương Thanh Hải: Đến nay, việc thẩm lậu ma túy từ khu vực Tam Giác Vàng vào Việt Nam trải đều trên cả ba tuyến chính, đó là đường bộ, đường hàng không và đường biển. Việt Nam may mắn là không nằm trực tiếp trong vòng xoáy của Tam Giác Vàng. Thế nhưng Việt Nam lại là hàng xóm, chia sẻ đường biên trực tiếp với nước Lào, một trong ba nước của khu vực Tam Giác Vàng. Thành thử điều không tránh khỏi được là việc thẩm lậu ma túy, đặc biệt là ma túy tổng hợp, vào Việt Nam trải đều cả ba tuyến, đặc biệt là tuyến đường bộ. Báo cáo mới đây nhất của Liên Hiệp Quốc vào tháng 5 vẫn sử dụng các tài liệu của 63 tỉnh thành. Cho nên tôi cũng theo cái thói quen đó tạm thời đề cập đến các tỉnh trước ngày 01/07 năm nay, khi Việt Nam giảm xuống còn 34 tỉnh thành. Tôi lấy ví dụ đường biên giới Việt Nam và Lào, đặc biệt là các cái cửa khẩu Cầu Treo của Hà Tĩnh, Cha Lo của Quảng Bình và Lao Bảo của Quảng Trị, những vùng rất nóng bỏng, hoặc là tuyến Tây Bắc thì có những khu vực đặc biệt nóng bỏng ở Lóng Luông, Mộc Châu, Sơn La, hay là ở Lạng Sơn, vân vân... Các trục đường biên giới giữa Việt Nam và Lào là một trong những điểm nóng mà Cục cảnh sát phòng chống ma túy của Bộ Công an Việt Nam đã đưa vào tầm ngắm không chỉ bây giờ, mà từ rất lâu. Ngoài ra, tuyến biên giới Việt Nam - Cam Bốt cũng vậy. Ở các đường biên giữa hai nước như Tây Ninh, An Giang, Long An, giới buôn ma túy cũng lợi dụng các hoạt động thương mại, du lịch và vận tải đường bộ. Có thể nói rằng trên đường bộ, ngoài các khu vực cửa khẩu mà tôi có nhấn mạnh, với một đường biên giới trải dài tổng cộng hơn 3000 km tiếp giáp giữa Việt Nam, Lào, Cam Bốt, giữa Việt Nam và Trung Quốc, thì có thể nói rằng có rất nhiều đường mòn, lối mở. Lực lượng bộ đội biên phòng cũng như cảnh sát phòng chống ma túy của Việt Nam mặc dù đã chủ động và đã bố trí nhiều điểm chốt nhưng cũng không xuể được. Có thể nói nguồn nhân lực không thể kham hết được. RFI: Như vậy thì giữa Việt Nam với các nước láng giềng Lào, Cam Bốt, Trung Quốc, các lực lượng thực thi pháp luật có phối hợp với nhau để ngăn chận những đường dây đó? Lương Thanh Hải: Đó cũng là một trong những khía cạnh rất đáng ghi nhận. Nói gì thì nói, việc tăng cường hợp tác song phương và đa phương giữa Việt Nam và các nước láng giềng cũng có những tiến triển nhất định. Điều này đã được Ủy ban phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hiệp Quốc UNODC ghi nhận. Một điểm tôi muốn nhấn mạnh ở đây, đó chính là mô hình hợp tác song phương đường biên, mà chúng tôi hay gọi là Border Liaison Office, tức là việc bố trí song song lực lượng thực thi pháp luật của cả hai nước, bao gồm cảnh sát, biên phòng, hải quan, vân vân. Hai bên sẽ chia sẻ thông tin, kể cả thông tin tình báo, phối hợp các chuyên án để cùng nhau đánh sập các đường dây ma túy thẩm lậu giữa các nước với nhau.  Tuy nhiên, thành công trong các chuyên án phối hợp song phương hoặc đa phương cũng chỉ dừng lại góc độ chừng mực nhất định. Việc thực thi pháp luật vẫn đang còn những hạn chế, bởi vì thứ nhất, có sự khác biệt về mặt luật pháp. Đôi khi việc bắt và đánh sập một đường dây ma túy sau đó còn liên quan đến việc truy tố, xét xử và thi hành án, thậm chí là có dẫn độ hay không? Tất cả những câu hỏi đó, những rào cản đó cũng góp phần làm cản trở hiệu quả mang tính chất bền vững trong hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia.  Ngoài cái đầu tiên đó là đường mòn, như tôi nói, rất phức tạp, có thể là điểm nóng nhất, thì đường biển cũng vậy. Đặc biệt trong giai đoạn Covid thì hầu hết đường biên giới của các nước đều đóng cả. Chính vì vậy, giai đoạn từ 2021 cho đến 2023 có thể nói là giai đoạn bùng nổ, không chỉ đối với Việt Nam hay ba nước khu vực Tam Giác Vàng, mà kể cả là Úc, Nhật hay Trung Quốc, kể cả Nam Mỹ, tất cả các hoạt động buôn bán vận chuyển trái phép ma túy tổng hợp đều tận dụng đường biển rất nhiều. Cho nên khu vực eo biển nằm ở Vịnh Thái Lan và đi qua eo biển Malacca có thể nói cũng là một trong những đường biển mà Việt Nam cần phải tập trung để hạn chế tối đa. Ngoài đường bộ và  đường biển, đường hàng không và bưu kiện có thể nói cũng là một trong những hướng thẩm lậu ma túy nổi lên trong nhiều năm trở lại đây đối với Việt Nam, mà lực lượng thực thi pháp luật cũng đã ít nhiều có những thành công nhất định và đã phá được nhiều chuyên án liên quan vận chuyển trái phép ma túy tổng hợp bằng đường hàng không và bưu kiện vào Việt Nam.  RFI: Với lượng bưu kiện nhập vào Việt Nam rất là lớn thì làm sao các cơ quan chức năng có thể kiểm tra để mà phát hiện được ma túy tổng hợp giấu trong những bưu kiện đó? Lương Thanh Hải: Đây là một trong những vấn đề rất là đau đầu và cũng là một trong những cái khó, bởi vì thứ nhất nó liên quan đến chính sách, pháp luật về kiểm soát và giám sát hàng hóa của từng nước. Việt Nam cũng vậy, không tránh khỏi những vướng mắc và khó khăn. Chẳng hạn về phương tiện trang thiết bị cho các lực lượng thực thi pháp luật, không phải cơ quan nào cũng đều được trang bị một cách tối tân nhất như ở các nước phương Tây. Đó cũng là một hạn chế làm giảm thiểu khả năng phát hiện đối với lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam đối với các đối tượng vận chuyển ma túy qua đường hàng không, hoặc là đường bưu kiện. Ngoài ra, những phương thức, thủ đoạn của các đối tượng vận chuyển ngày càng tinh vi hơn, không chỉ là giấu trong vali hay các vật dụng, vân vân. Có nhiều đối tượng còn nuốt vào trong bụng và thậm chí còn phẫu thuật để nhét vào các bộ phận của cơ thể, vân vân... Tất cả những điều đó đặt ra những thách thức và đòi hỏi các lực lượng thực thi pháp luật phải nâng cao hơn nữa trình độ nghiệp vụ, cùng với việc sử dụng phối hợp các trang thiết bị. Hiện nay, đối với Việt Nam thì Cảnh sát Liên bang Úc AFP cũng hỗ trợ rất nhiều cả về vật chất lẫn chương trình đào tạo, hỗ trợ về trang thiết bị. Ở góc độ nhà nghiên cứu và cũng là người thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa lực lượng thực thi pháp luật Úc và Việt Nam, tôi hy vọng trong thời gian tới sẽ có nhiều hỗ trợ về trang thiết bị tối tân hơn. Ví dụ như các máy tia hồng ngoại có thể rà soát các loại chất ma túy qua đường bưu kiện và đường hàng không, hoặc là có thể có các khóa huấn luyện chuyên sâu đặc biệt đối với các detective dog, chó nghiệp vụ, để hỗ trợ Việt Nam trong quá trình điều tra, phát hiện và suy xét các chuyên án ma túy liên quan đến đường hàng không. RFI: Cũng nói về hợp tác giữa Việt Nam với Úc, bây giờ có những đường dây vận chuyển ma túy tổng hợp từ Việt Nam sang Úc, chắc là qua đường hàng không nhiều hơn, hay không? Như vậy hai nước phối hợp như thế nào để ngăn chặn những đường dây đó?  Đúng vậy. Tuy nhiên, so với mặt bằng chung, so với các nước khác, việc vận chuyển từ Việt Nam trực tiếp sang Úc thì số lượng không đáng kể. Theo báo cáo hàng năm của Ủy ban nghiên cứu về tội phạm và ma túy của Úc, hầu hết các đối tượng vận chuyển ma túy tổng hợp từ Việt Nam qua Úc với số lượng vừa phải, nhỏ lẻ. Tức là nếu căn cứ theo định lượng tội danh của khung hình sự thì nó cũng ít nghiêm trọng, chứ không phải là hàng tạ hay hàng tấn, như khối lượng từ Tam Giác Vàng thẩm lậu vào Việt Nam. Các đối tượng vận chuyển như vậy thì rơi vào các nhóm thứ yếu, có thể là những du học sinh, những người lớn tuổi, những người nhẹ dạ cả tin cầm hành lý hộ, vân vân. Tuy nhiên, ở góc độ về thực thi pháp luật, hợp tác giữa Cảnh sát Liên bang Úc AFP và cảnh sát Việt Nam khá chặt chẽ, bởi vì AFP là một trong những lực lượng thực thi pháp luật triển khai khá sớm con người cụ thể ở đại sứ quán ở Hà Nội cũng như lãnh sự quán ở thành phố Hồ Chí Minh . Mô hình thành lập trung tâm phòng chống tội phạm xuyên quốc gia Việt - Úc có thể nói là một trong những mô hình đầu tiên mà một lực lượng cảnh sát ngoài Việt Nam, cụ thể là Úc, phối hợp cùng Tổng cục Cảnh sát trước đây, bây giờ là văn phòng cơ quan điều tra phụ trách. Cả hai bên đã phối hợp và xây dựng và đặt tại trụ sở thành phố Hồ Chí Minh. Trung tâm phòng chống tội phạm xâm quốc gia này hoạt động khá hiệu quả, là nơi trung chuyển, cung cấp, trao đổi thông tin, cả thông tin tình báo lẫn thông tin về các loại tội phạm, đặc biệt là về ma túy, để giúp  lực lượng thực thi pháp luật cả hai nước có cơ sở để triển khai các hoạt động phòng chống hiệu quả.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Giải quyết tình trạng ngập lụt đô thị Việt Nam: Quy hoạch đồng bộ và thêm không gian xanh

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Nov 10, 2025 11:00


Một phần do tác động của biến đổi khí hậu, tình trạng ngập lụt đang trở nên thường xuyên hơn và trầm trọng hơn ở các đô thị lớn của Việt Nam như Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh. Hầu như bất cứ cơn mưa lớn nào cũng có thể biến đường phố thành sông hồ, không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến đời sống người dân.  Đặc biệt là hai đợt mưa lớn cuối tháng 9 và đầu tháng 10 vừa qua đã khiến Hà Nội bị ngập nước ở rất nhiều điểm, có nơi bị ngập đến vài ngày, khiến giao thông tê liệt. Đâu là những nguyên nhân của tình trạng này? Những giải pháp nào thật sự hiệu quả để giải quyết tận gốc vấn đề? Trong chương trình hôm nay mời quý vị nghe ý kiến của kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn, trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ từ Việt Nam. RFI Việt ngữ hôm nay rất vui mừng được tiếp chuyện với kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn để nói về tình trạng ngập lụt tại các đô thị lớn ở Việt Nam hiện nay. Trước hết theo quan sát của ông, tình trạng ngập lụt ở các đô thị hiện nay đang trở nên trầm trọng như thế nào? Tình trạng ngập lụt ở Việt Nam trong hai năm gần đây ngày càng trầm trọng hơn, một phần là do biến đổi khí hậu, bởi vì có những cơn mưa rất lớn, bình thường là cả chục năm mới có một lần, còn bây giờ thì tần suất thường xuyên hơn. Lượng mưa và độ tăng thủy triều trở nên ngày càng thất thường hơn. Đó là ảnh hưởng chung trên cả thế giới.  Thứ hai là những khu, đặc biệt là những khu đô thị mới, những khu đang xây nhà cao tầng, khi có mưa lớn thì thường là dễ bị ngập. Vừa rồi Hà Nội cũng có một trận ngập cả thành phố rất  lớn, ngay cả sân bay cũng bị ngập. Nói chung là những đô thị lớn tại Việt Nam như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Cần Thơ, Đà Nẵng đều bị ngập và đặc biệt là những khu mới. Mặt khác, do Việt Nam đang có độ tăng trưởng cao hàng đầu thế giới, các đô thị là những nơi đang phát triển rất năng động. Ở những đô thị lớn thì có thể nói gần như con đường nào cũng có một vài công trình gì đó đang mọc lên. Rõ ràng là hệ thống thoát nước không theo kịp với cái đà phát triển đô thị. Tức là ở đây, ngoài yếu tố biến đổi khí hậu, theo ông, vấn đề chính phải chăng là do chúng ta quy hoạch không đúng quy cách?  Ở đây cũng không hoàn toàn là do quy hoạch đô thị, mà là do nhiều yếu tố cộng lại. Thứ nhất, việc quy hoạch đô thị thường là có những tiêu chuẩn quy phạm thì mình chưa đổi mới kịp. Những tiêu chuẩn đó chỉ đáp ứng với điều kiện bình thường và khi có những tình huống như vậy, thì rõ ràng là những tiêu chuẩn, tiêu chí để phê duyệt quy hoạch phải được nâng tầm lên, để dự phòng những trường hợp có nguy cơ ngập cực đoan, mình có thể ứng phó với nó.  Đó là một phần thôi, nhưng phần khác cũng khá quan trọng: Việt Nam sau này phát triển theo nền kinh tế thị trường rồi, thành ra những dự án phát triển đô thị không phải luôn luôn dùng vốn của nhà nước, mà đa số những dự án đó là dùng nguồn vốn của tư nhân. Có những trường hợp mà nhà đầu tư thiếu trách nhiệm xã hội. Khi phát triển dự án, họ nhắm đến lợi ích cá nhân nhiều, không coi trọng lợi ích của cộng đồng. Ví dụ như trong một bản quy hoạch khu đô thị mới được phê duyệt, người ta vẽ đầy đủ hết: Công viên, có đường xá, có cống rãnh, có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội. Nhưng khi đi vào thực hiện thì rất nhiều dự án người ta có lẽ muốn thu lợi nhanh, nên nhà cửa xây xong rồi, bán rồi, người dân dọn vô rồi, mà đường xá kết nối chưa xong, cống rãnh chưa xong, hệ thống hạ tầng xã hội, trường học còn thiếu thốn, dịch vụ thương mại còn thiếu rất nhiều thứ. Thứ hai, với những khu đô thị hiện hữu mà đã ổn định rồi, nếu chúng ta giữ nguyên như vậy thì không sao, ví dụ như khu trung tâm quận 1, quận 3 của Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng do trong quá trình phát triển, người ta lại xây dựng rất nhiều nhà cao tầng vào đó. Mật độ xây dựng, mật độ bê tông hóa rõ ràng tăng lên có thể gấp 5, gấp 10 lần. Tuy nhiên, việc nâng cấp cho hệ thống hạ tầng để đảm đương cho mật độ đó lại không được thực hiện đồng bộ. Như vậy là bản thân những khu chỉnh trang cũng gây ngập. Thành phố Hồ Chí Minh sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, trở thành một siêu đô thị rất là lớn, với quy mô diện tích tăng gấp ba, dân số cũng như quy mô kinh tế tăng gấp rưỡi. Việc quản lý một siêu đô thị 14 triệu dân cũng không phải dễ dàng. Chúng ta đang bị động với một quy mô đô thị ngày càng lớn, đô thị hóa ngày càng tăng. Phải có sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành, phối hợp giữa công và tư, phối hợp nhà đầu tư và ngay cả với cư dân đô thị. Mọi người đều cần tham gia trong việc chống ngập. Đối với người dân, cũng có những chuyện nhỏ nhưng mà không nhỏ. Ví dụ như một số người dân có thói quen đổ rác vào những chỗ thoát nước, làm nghẹt cống thoát nước, gây ngập và chính bản thân họ cũng là người bị thiệt hại.  Thưa ông, ngoài vấn đề ông nêu lên, tức là phải có ý thức của cộng đồng nói chung, của các nhà đầu tư, của người dân, hiện nay cứ mỗi lần mưa lớn một chút là đường phố ngập lụt kéo dài nhiều giờ. Như vậy trước mắt chúng ta có những giải pháp gì về mặt xây dựng, ví dụ như có những cống thoát nước nhiều hơn, lớn hơn hoặc những hồ điều tiết để khi nào mưa lớn thì nước rút nhanh hơn? Đầu tiên, tỷ lệ bê tông hóa của các đô thị rất là cao, đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay cao đến mức là tỷ lệ không gian xanh chỉ đạt khoảng nửa mét vuông trên đầu người, trong khi tỷ lệ mà UNESCO đề xuất tối thiểu phải là 10 mét vuông trên đầu người. Những đô thị lớn như Berlin chẳng hạn thì lên tới 40 mét vuông cây xanh trên đầu người và những đô thị khác thì trung bình ít nhất cũng phải 20, 25, 30 mét vuông. Việc đầu tiên đối với các thành phố bị ngập là phải giảm bê tông hóa và tăng không gian xanh. Nói nôm na là mình phải quy hoạch lại để tăng không gian cho nước. Không gian cho nước bao gồm sông, hồ, kênh, rạch phải liên thông với nhau, để thoát nước nhanh. Thứ hai là phải tăng không gian xanh lên, như chúng tôi nói là Thành phố Hồ Chí Minh phải tăng lên ít nhất 20 lần để mà đạt tối thiểu là 10 mét vuông cây xanh trên đầu người. Bí thư mới Trần Lưu Quang cách đây vài ngày cũng vừa có một quyết định rõ ràng là một định hướng mới cho thành phố, đó là về khu đất ven cảng Sài Gòn ngày xưa. Trước đây nhà đầu tư muốn xây một cái bức tường cao ốc ở đây, bởi vì nó có vị trí đẹp, nhìn thẳng ra trung tâm, nhìn ra sông Sài Gòn. Vừa rồi thì bí thư Trần Hữu Quang đã quyết định không cấp phép cho dự án xây cao tầng ở đây nữa, mà biến nó thành một công viên kết hợp với công trình văn hóa cộng cộng. Đây là một quyết định rất là khó khăn, bởi vì người ta hay gọi những khu đất như vậy là đất "vàng" và nhà đầu tư khi đầu tư những dự án lớn như vậy thì họ sẽ đóng góp cho ngân sách cũng không nhỏ. Tuy nhiên, Thành phố Hồ Chí Minh quá thiếu không gian xanh, nếu như những khu đất này mà không làm thành không gian xanh thì còn ở đâu để làm nữa? Đây rõ ràng là một định hướng rất là bền vững, đáp ứng nhu cầu tăng không gian xanh cho thành phố và tăng không gian văn hóa công cộng cho thành phố.  Làm nhiều công viên cũng rất quan trọng ở chỗ là khi mưa xuống mà mình có nhiều diện tích không gian xanh, thì nước từ khu vực cao xuống khu vực thấp sẽ chảy chậm lại, bởi vì không gian xanh làm chậm tốc độ chảy của nước và làm giảm áp lực nước dồn xuống thấp quá nhanh. Mặt khác nó sẽ thu hút được lượng nước bổ sung cho lượng nước ngầm ở dưới, vừa giúp để cho nước hấp thụ xuống dưới và dần dần chảy ra sông. Nó cũng sẽ tránh được tình trạng sụt lún đất, bởi vì khi nước ngầm ở dưới mà bị cạn, thì nó sẽ tạo những túi không khí ở dưới và gây tình trạng sụt lún đất. Thứ hai, việc tăng không gian cho nước là nạo vét sông, hồ, kênh, rạch. Thành phố cũng đang có ý thức là trả lại những con kênh trước đây. Trước đây, vì muốn thúc đẩy phát triển đô thị, người ta lấp kênh và làm cống hộp ở dưới, nhưng sau này, với nguy cơ ngập thì một số nơi đã đào lại con kênh. Không gian hở của kênh hiệu quả hơn rất nhiều so với không gian cống hộp ở dưới. Đây cũng là điều nên làm: xây dựng những hồ điều tiết, có thể là hồ nổi, kết hợp với cảnh quan và cũng có thể là ngầm, để khi mưa lớn thì mình hút nước vào đó và sau đó mưa tạnh thì dần dần nó thoát ra. Điều đó cũng giảm cho nguy cơ ngập. Bên cạnh đó, về mặt quy hoạch, tôi nghĩ là nên có một chính sách quản lý đô thị nhất quán. Trước đây đôi khi mình buông lỏng, để cho có tình trạng  người ta xây nhà, xây những cao ốc để bán, nhưng thiếu đường xá, thiếu cống rãnh, thiếu hạ tầng. Bây giờ nên chuyển thành một chiến lược mới là hạ tầng phải đi trước, tức là những nhà đầu tư làm những khu đô thị, dù là chỉnh trang hay xây mới, phải bàn giao hạ tầng đảm bảo thì mới được bắt đầu bán những dự án đó. Mình không để cho trách nhiệm xã hội nhà đầu tư một cách tự giác nữa, mà mình phải đưa nó vào luật, bắt buộc là hạ tầng phải đi trước.  Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh đã sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu thành một đô thị khổng lồ. Phải chăng đây là cơ hội để chính quyền địa phương đề ra những giải pháp rộng lớn hơn để giảm bớt tình trạng ngập lụt? Nhìn trên bản đồ, chúng ta cũng thấy là khu nội thành Thành phố Hồ Chí Minh rất là chen chúc, nhìn trên Google Maps nó trắng xóa hết, bê tông hết, không thấy bao nhiêu không gian xanh. Khi đô thị lớn gấp ba thành siêu đô thị thì đây là cơ hội để khuyến khích giãn dân ra, khuyến khích phát triển về phía Bình Dương, là nơi có thể tạo công ăn việc làm về công nghiệp, công nghệ cao, hay là giãn dân về phía biển là chuỗi đô thị Cần Giờ, Vũng Tàu, Long Hải, Hồ Tràm, những nơi cũng có công ăn việc làm phục vụ du lịch và hiện giờ tỷ lệ bê tông hóa không cao, quỹ đất còn rất nhiều. Khi chúng ta giãn dân ra như vậy, đây cũng là cơ hội để chúng ta nâng tầm chất lượng cho khu nội Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi kỳ vọng là trong 5,10 năm tới, chúng ta sẽ đạt được tiêu chí mà chúng ta đang mong muốn hàng mấy chục năm nay là 10 mét vuông cây xanh trên đầu người. Nó không chỉ giảm ngập mà nó còn giúp nâng cao giá trị của môi trường, tạo cho người dân nhiều không gian để thư giãn, sinh hoạt cộng đồng và cải thiện chất lượng không khí, không bị tiếng ồn. Không gian xanh rất là quan trọng trong việc tổ chức đô thị. Tôi kỳ vọng là Thành phố Hồ Chí Minh sắp tới sẽ phát triển theo hướng hướng đô thị xanh và bền vững.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Lịch sử phát triển thành phố Sài Gòn: Dựa trên thế mạnh sông nước

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Oct 27, 2025 15:02


Nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến vừa cho ra mắt cuốn sách mới về lịch sử Sài Gòn, thành phố mà sự hình thành và phát triển vẫn gắn liền với con sông Sài Gòn và cả một hệ thống kênh rạch. Cuốn sách tựa đề Sài Gòn Kinh Đô Sông Nước đưa độc giả trở về cội nguồn của Sài Gòn, từ lâu đã là nơi buôn bán phồn thịnh nhờ thế mạnh sông nước, từng là thủ đô Liên Bang Đông Dương, rồi Quốc Gia Việt Nam, từng được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Ngoài cuốn sách Sài Gòn Kinh Đô Sông Nước, Trần Hữu Phúc Tiến còn là tác giả của những cuốn sách khác về Sài Gòn và Đông Dương xưa, như Sài Gòn không phải ngày hôm qua ( 2016 ), Sài Gòn hai đầu thế kỷ ( 2017 ), Kiến trúc Pháp-Đông Dương, những viên ngọc quý tại Hà Nội ( 2021 ), Du lịch Đông Dương xưa ( 2224 ), Kiến trúc Pháp Đông Dương, dấu tích Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông ( 2025 ). Sách Sài Gòn Kinh Đô Sông Nước, do Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, ấn hành, bao gồm 3 chương và phần phụ lục, với hơn 312 trang. Phần mở đầu trích dẫn các nhận xét của người xưa trong và ngoài nước từ về vẻ đẹp cảng thị và phố thị của Sài Gòn. Sách giới thiệu nhiều hình ảnh, bản đồ tư liệu sưu tầm công phu từ nhiều nguồn, trong đó có  hình ảnh do tác giả chụp ở nhiều năm tháng khác nhau. Tác giả là người sinh trưởng tại Sài Gòn, thuở nhỏ đã thấy thành phố nguy nga lớn mạnh bên sông biển, kinh rạch. Lớn lên được học Sử và làm báo, tác giả có thêm cơ hội học hỏi các thời kỳ phát triển của thành phố, đồng thời khám phá các chốn phố phường, chợ búa, bến tàu, học đường và nhiều công trình di sản. Theo nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến, "dòng sông Sài Gòn không phải là dòng sông khuất nẻo mà là dòng sông vươn ra biển lớn, dòng sông sinh thành cảng thị và phố thị đông vui, thu hút tinh hoa xa gần". Công sức lớn lao của người Việt từ thế kỷ 17 đến nay đã làm nên Sài Gòn, một kinh đô lịch lãm và kiều diễm. Thông qua nhiều chi tiết cụ thể, cuốn sách Sài Gòn Kinh Đô Sông Nước điểm lại quá trình hình thành các thế mạnh của Sài Gòn từ sông biển, địa linh, nhân kiệt, đến kinh tế, dịch vụ, công nghiệp, đào tạo. Đặc biệt với sự mở rộng của thành phố, tác giả chú trọng giới thiệu các tiềm năng về kinh tế biển và kinh tế di sản. Thế nhưng, giống như nhiều đô thị lớn đang trong cơn sốt bùng nổ dân cư và kinh tế, thành phố này cũng đang đối mặt với biến đổi khí hậu, ô nhiễm, lũ lụt, đòi hỏi nhà nước phải có những giải pháp cấp bách cũng như dài hạn. Trả lời RFI Việt ngữ nhân dịp sang Paris để giới thiệu sách của ông, nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến trước hết cho biết, từ trước khi được người Pháp xây dựng thành một thành phố hiện đại, Sài Gòn đã là một chốn phồn hoa đô hội: “Sài Gòn Kinh Đô có nghĩa là Sài Gòn trong lịch sử đã từng là thủ đô, là thủ phủ, là trung tâm không chỉ của Nam Bộ, mà là của cả nước. Kinh Đô Sông Nước có nghĩa là một đại cảng thị, một đại phố thị lớn mạnh bên dòng sông Sài Gòn và đặc biệt vị trí của Sài Gòn là rất gần biển và nối kết với khu vực miền Đông Nam Bộ, cũng như miền Tây Nam Bộ, nối kết với miền Nam Đông Dương, rồi ra biển để đi đến với thế giới. Thật sự là từ thế kỷ 17, với công sức của người Việt Nam khai phá các miền đất mới, vai trò của Sài Gòn như là một trung tâm kinh tế, giao thương, phồn hoa đô thị rất là lớn. Trước khi người Pháp đến, Sài Gòn đã được hình thành như một trung tâm lớn và đặc biệt là từ 1788 - 1790, Sài Gòn đã được Chúa Nguyễn Ánh, sau này là Vua Gia Long, đặt tên là Gia Định Kinh, có nghĩa là Kinh Đô Gia Định. Ngay vào thời điểm đó thì một số chuyên gia Pháp đã giúp Nguyễn Ánh - Gia Long thiết kế Sài Gòn như là một thành phố kết hợp yếu tố phương Đông với yếu tố phương Tây, đặc biệt là coi trọng vị trí cảng thị của Sài Gòn. Khi vào xâm chiếm Việt Nam, người Pháp đã hiện đại hóa Sài Gòn kế thừa những sự phát triển sẵn có của Gia Định Kinh và người Pháp tổ chức những quy hoạch xây dựng rất là bài bản, rất là chuyên nghiệp, để thành phố này không những là một trung tâm về giao thương,  mà đặc biệt còn là một trung tâm về giao thông và dịch vụ.”  Vậy thì từ bao giờ thành phố Sài Gòn bắt đầu được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, nhà nghiên cứu Phúc Tiến giải thích: “Theo chúng tôi tìm hiểu, lúc đó người Pháp coi như là chỉ mới quản trị chủ yếu là phần Nam Bộ, Nam Kỳ, sau này họ mới phát triển ra toàn miền Bắc, rồi cả Đông Dương. Nhưng  lúc đó họ đã đặt kế hoạch phát triển kinh tế, trong đó vấn đề giao thông có một mũi nhọn trên thế giới lúc đó cũng bắt đầu phát triển lớn mạnh đó là đường sắt. Vào năm 1881, thị trưởng Pháp của Sài Gòn Jules Blancsubé khi trả lời báo chí đã nói rằng người Pháp muốn phát triển hệ thống đường sắt xuyên Đông Dương từ Sài Gòn ra đến miền Bắc và đi đến đến Nam Trung Hoa, rồi có thể mở ra phía Lào, phía Cam Bốt, rồi các nước Đông Nam Á lục địa. Nếu hệ thống đường sắt này mà được hình thành thành công, thì Sài Gòn, với cảng Sài Gòn, sẽ có thêm vị trí quan trọng, có nghĩa là hàng hóa của nguyên khu vực Nam Trung Quốc và khu khu vực Đông Nam Á sẽ đổ về cảng Sài Gòn để mà xuất khẩu đi các nước. Ngược lại thì những hàng hóa từ các nước cũng từ Sài Gòn theo đường sắt, đường bộ, đường sông để mà ra với các nước trong khu vực. Và do vậy, ông nói, lúc đó Sài Gòn sẽ trở thành một Hòn Ngọc Viễn Đông. Tôi cho rằng là lời tiên đoán đó vào năm 1881 thực sự đã thể hiện một chiến lược quy hoạch kinh tế lớn lao và người Pháp lúc đó đã nhìn thấy được thế mạnh sông nước của Sài Gòn. Sau này, sang đầu thế kỷ 20, chúng ta thấy không chỉ có đường sắt, mà đường hàng không cũng phát triển và bây giờ nhìn toàn cục thì chúng ta có thể thấy là chữ Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông đã được mở rộng từ vấn đề kinh tế sang vấn đề kiến trúc, văn hóa, giáo dục, con người. Bây giờ thì từ Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông sang thế kỷ 20, sang thời kỳ trước 75, đã trở thành một tên gọi thân yêu để cho thấy một thành phố không những đẹp về mặt mỹ quan, đẹp về sự duyên dáng, yếu tố Đông Tây kết hợp, mà còn đẹp vì thế mạnh của nó, về kinh tế, đẹp về tinh thần cởi mở hội nhập quốc tế.  Từ thời còn là Kinh Đô Gia Định ( 1789-1802 ), Thủ đô Liên bang Đông Dương ( 1887-1902 ), cho đến Thủ đô Quốc gia Việt Nam ( 1949-1955 ) và thủ đô Việt Nam Cộng Hòa ( 1955-1975 ), Sài Gòn luôn luôn là “đầu máy hùng mạnh” về nhiều mặt của cả nước, không chỉ về kinh tế, mà còn tiên phong cả về văn hóa - xã hội trong nhiều thời kỳ, theo ghi nhận của tác giả Trần Hữu Phúc Tiến. Đó chính là nhờ thế mạnh về sông nước của thành phố này:  “Ngược dòng lịch sử thì chúng ta biết sông Đồng Nai là một hệ thống sông rất lớn, song song với hệ thống sông Tiền và sông Hậu, tức là hệ thống sông Mekong. Hai hệ thống sông này lại có một cầu nối là Sài Gòn. Hay nói cách khác là giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ thì Sài Gòn lúc nào cũng nằm ở trung điểm và Sài Gòn lại được xây dựng bên dòng sông Sài Gòn, một chi lưu của hệ thống sông Đồng Nai. Có thể có gần 200 km bắt đầu từ Tây Ninh rồi đi qua Bình Dương, đi qua Đồng Nai rồi xuống Sài Gòn để thoát ra được cửa biển. Trước ngày 1 tháng 7 năm 2025,  đoạn sông đó đi qua diện tích lãnh thổ của Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh hơn 80 cây số. Và điều rất quan trọng là nó đi ra cửa biển Cần Giờ. Cửa biển Cần Giờ là khoảng hơn 20 cây số bờ biển. Nhưng sau ngày 1 tháng 7 năm 2025, với sự hợp nhất Sài Gòn với Bình Dương và Vũng Tàu - Bà Rịa, thế mạnh sông biển của Sài Gòn gia tăng rất lớn. Chỉ tính riêng về bờ biển thì bây giờ Sài Gòn có gần 400 km bờ biển và đặc biệt là có Côn Đảo bây giờ thuộc về siêu đô thị này. Và thêm nữa là hơn 100.000 km2 thềm lục địa, mà chúng ta biết là về thềm lục địa Biển Đông, trong ngành dầu khí họ nói là có hai vùng trũng là vùng Nam Côn Sơn và vùng Mekong, thì Sài Gòn nằm rất gần khu vực gọi là Nam Côn Sơn. Thế thì riêng về mặt kinh tế biển, thành phố đã phát triển. Đương nhiên người Pháp khi đến Việt Nam năm 1858, với tầm nhìn của một đế chế công nghiệp, họ nhận ra tài nguyên của Sài Gòn không phải là hàng hóa, mà là vị trí thuận lợi để giao thương kết nối được nhiều miền. Đặc biệt họ đưa ra tầm nhìn là Sài Gòn thuộc về khu vực Nam Đông Dương, nói cách khác chính là Đông Nam Á. Tôi còn nhớ là trong nhật ký của một sĩ quan Pháp tham gia trận đánh vào Sài Gòn năm 1859, ông này có ghi rằng vị trí Sài Gòn không khác gì Batavia, nay là Jakarta của Indonesia, như là Singapore hay là Hồng Kông và nó có những điểm độc đáo riêng. Chính vì vậy, theo nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến, một trong những mũi nhọn kinh tế mà người Pháp xây dựng ở Sài Gòn không phải là công nghiệp nặng, công nghiệp sản xuất hàng hóa, mà điều rất quan trọng là dịch vụ. Trong quyển sách, tác giả kể ra đến 6 ngành, gọi là 6 “cổ máy không khói” của Sài Gòn từ thời Pháp:  Thứ nhất là hàng hải, bao gồm sửa chữa tàu biển và hải cảng.  Thế mạnh thứ hai là giao thương, tổ chức thương mại, chế biến nông sản để xuất ra nước ngoài.  Thứ ba là một trung tâm tài chính, vì đương nhiên là xuất khẩu thì phải cần có sự trợ giúp của ngân hàng, bảo lãnh tín dụng, vân vân…Ngay từ cuối thế kỷ 19, Sài Gòn đã là một trung tâm tài chính, với khá nhiều ngân hàng quốc tế cũng như các hãng bảo hiểm đóng tại Sài Gòn và hình thành một khu phố tài chính.  Thế mạnh thứ tư là về viễn thông. Ngay trung tâm thành phố, ngay bên cạnh nhà thờ Đức Bà, có nhà bưu điện rất lớn, rất đẹp và đã được coi là kiến trúc nhà bưu điện đẹp thứ hai trên thế giới. Thế mạnh viễn thông của Sài Gòn thì phải nói rất là sớm. Năm 1865, 1870, người Pháp đã bắt đầu thiết lập đường điện tín cáp quang để liên thông giữa Sài Gòn với Paris, nối cáp dưới dưới biển đi qua Singapore và sau đó làm đường ngược lên Hồng Kông để liên thông với cả khu vực châu Mỹ. Kế đến là hệ thống giao thông vận tải, Sài Gòn có đủ phương tiện, từ đường bộ, đường sắt, rồi đường biển, đường thủy. Cái độc đáo của Sài Gòn lúc đó là người Pháp đã tổ chức những đội tàu, không những đi dọc theo bờ biển để đi ra Hải Phòng, đi ra phía Bắc, mà còn  làm hệ thống tàu thuyền để chở khách đi khắp đồng bằng sông Cửu Long, rồi đi lên được cả Phnom Penh, thậm chí là đến được cả Bangkok. Ngay cả bây giờ, đường thủy lên Phnom Penh và đường thủy lên Bangkok, chúng ta vẫn chưa thực hiện lại được đầy đủ. Đặc biệt là khi ngành hàng không thế giới ra đời và được đẩy mạnh sau chiến tranh thế giới thứ nhất, sân bay Tân Sơn Nhất đã được xây dựng từ năm 1914. Lúc đó người Pháp đã gom ba làng là Tân Sơn Nhất, Tân Sơn Nhì và Tân Sơn Tam để làm sân bay rất lớn, phục vụ cho đến thế kỷ 21.  Một thế mạnh nữa của Sài Gòn: Đây là trung tâm về khoa học, đào tạo, với những trường dạy nghề đầu tiên cũng như Viện Pasteur. Nơi mà chúng ta hay gọi là Sở thú còn có tên là Sở bông, vì còn là nơi ươm trồng những giống cây mới. Kể cả cây cao su ở Việt Nam cũng chính là đã được trồng thử nghiệm ở Sài Gòn.  Sài Gòn dù không phải là một cảng biển, chỉ là cảng sông, nhưng dòng sông thì sâu. Tại vị trí ở quận 1 đối diện với Thủ Thiêm, độ sâu nhất là khoảng 40 m và khoảng cách giữa hai bờ Thủ Thiêm và bến Bạch Đằng, ở khu vực Nhà Rồng là khoảng 300 m, nên tàu bè đi vào rất là thuận tiện, có tới hai ngã đường sông từ Cần Giờ vào. Tàu thuyền các nước trên đường đi từ Singapore qua hoặc là đi từ Hồng Kông xuống thì ghé lại Sài Gòn để lấy hàng, đồng thời lấy nước ngọt, lấy thêm nhân lực. Chính những điều đó đã giúp cho Sài Gòn phát triển và những thế mạnh này lại tiếp tục xuyên suốt thế kỷ 20 và bây giờ bắt đầu phải được đẩy mạnh hơn trong thế kỷ 21.” Thế nhưng, cũng chính do có vị trí gắn liền với sông và biển, cùng với quá đô thị hóa quá nhanh mà lại thiếu quy hoạch chặt chẽ, bây giờ thêm tác động của biến đổi khí hậu, Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh nay lại phải đối đầu với tình trạng ngập lụt thường xuyên. Chính quyền của thành phố đang đối phó ra sao, nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến cho biết: “Tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện giờ nhà nước cũng đã có một số cố gắng giải quyết các vấn nạn môi trường và liên quan đến sông nước. Tôi có thể kể ra một thành công trong vòng 50 năm nay là đã thiết kế, cải tạo lại hai hệ thống kênh lớn, thứ nhất là hệ thống Kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè, có sự trợ giúp của Ngân hàng Thế giới. Thứ hai là hệ thống Kênh Tàu Hủ Bến Nghé. Đồng thời  hiện giờ một số con kênh ở khu vực trước đây gọi là Tân Bình, Tân Phú, hoặc những nơi xa hơn, hoặc là ở quận 6, ngay khu vực chợ Bình Tây có những con kênh trước đây bị lấp nay đã được khơi lại. Trong vài năm trở lại đây đã bắt đầu có những công trình thiết lập các cống để xả nước kịp thời khi có triều cường. Tuy nhiên phải nói rằng các nhà khoa học của thế giới cũng đã báo động cho Việt Nam không chỉ về Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, mà toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long. Việt Nam là một nước sẽ phải hứng chịu những tác động rất lớn của biến đổi khí hậu. Khu vực đã được báo động sẽ bị ảnh hưởng rất là nặng nề là Cần Giờ, Nhà Bè, Phú Mỹ Hưng, là nơi mà tiếp giáp với biển. Tôi thấy có điểm tích cực là các nhà khoa học từ các viện nghiên cứu, với các trường đại học ,cũng đã bắt đầu đẩy mạnh nghiên cứu, lên tiếng yêu cầu chính quyền có những giải pháp tốt hơn. Ngoài ra còn có một dự án là Kênh Xuyên Tâm, băng ngang từ phía Tây Nam lên phía Đông Bắc xuyên qua thành phố. Nếu nhìn trong toàn cảnh thì chúng ta chưa làm được nhiều và cần có sự hỗ trợ. Cũng đã có nhiều cuộc hội thảo mà nước ngoài tham gia, với mong muốn là thúc đẩy ( các dự án ). Đương nhiên là những chương trình đó cần một kinh phí lớn, nhưng điều quan trọng là dư luận xã hội cũng đã rất quan tâm. Báo chí cũng đã lên tiếng và trong chương trình hành động của chính quyền thành phố mà bây giờ được mở rộng ra, bao gồm cả Bình Dương và Bà Rịa Vũng Tàu, có những dấu hiệu cho thấy phải xúc tiến càng nhanh càng tốt.” Về sự hỗ trợ của nước ngoài, nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến cho rằng có những kinh nghiệm của nước Pháp về môi trường, về trị thủy có thể áp dụng được cho Sài Gòn. Ông hy vọng nước Pháp có thể hỗ trợ nhiều hơn cho Việt Nam và kêu gọi sự tham gia của các nhà khoa học Pháp cũng như nhà khoa học người Việt sống tại Pháp.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Việt Nam giảm số tội danh lãnh án tử hình, theo xu thế chung của thế giới

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Oct 13, 2025 9:36


Kể từ ngày 01/07/2025, Việt Nam không còn áp dụng án tử hình đối với 8 tội danh, theo xu thế chung hiện nay của thế giới là dần dần xóa bỏ án tử hình. Việt Nam là một trong số ít quốc gia còn duy trì án tử hình. Như mọi năm, ngày 10/10/2025 đã là Ngày Thế giới Chống Án Tử hình. Ngày này do tổ chức Liên minh thế giới chống án tử hình tổ chức lần đầu tiên vào năm 2003 nhằm thống nhất phong trào bãi bỏ án tử hình toàn cầu và huy động xã hội dân sự, các nhà lãnh đạo chính trị, luật sư, dư luận xã hội… ủng hộ lời kêu gọi bãi bỏ án tử hình trên toàn thế giới.  Theo thống kê từ tổ chức Ân xá Quốc tế, 113 quốc gia đã bãi bỏ án tử hình đối với tất cả các loại tội phạm, 23 quốc gia đang bãi bỏ án tử hình trong thực tế, 54 quốc gia đang duy trì án tử hình, trong đó có Việt Nam.   Tuy nằm trong số các nước vẫn còn duy trì án tử hình, Việt Nam nay cũng đã giảm bớt số tội danh lãnh án tử hình. Cụ thể, ngày 25/06/2025, Quốc Hội Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự, trong đó bỏ án tử hình với 8 tội kể từ 01/07, đồng thời chuyển sang tù chung thân với người bị tuyên tử hình về các tội này trước ngày 01/07. Tám tội danh không còn bị kết án tử hình bao gồm: Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109); Phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114); Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, phòng bệnh (Điều 194); Vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250); Phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược (Điều 421); Gián điệp (Điều 110); Tham ô tài sản (Điều 353); Nhận hối lộ (Điều 354). Theo báo chí trong nước, giải thích về việc bỏ án tử hình với 8 tội danh, bộ Công An Việt Nam đã nêu lên 4 lý do. Thứ nhất, thực tiễn cho thấy, “các tội danh này đã được đa số các nước trên thế giới không quy định hình phạt tử hình hoặc đang có xu hướng bỏ hình phạt tử hình.” Thứ hai, “nhiều nước trên thế giới đã yêu cầu Việt Nam phải cam kết không áp dụng hình phạt tử hình hoặc tuyên nhưng không thi hành án tử hình đối với những vụ án về tham nhũng, chức vụ, nhưng Việt Nam chưa cam kết, cho nên khi Việt Nam yêu cầu tương trợ tư pháp có liên quan đến án tử hình thì gần như không có phản hồi.” Thứ ba, đây cũng là “xu thế chung của thế giới”, hiện nay đa số các quốc gia đều không áp dụng hình phạt tử hình đối với các tội không phải là “tội ác”. Thứ tư, bỏ án tử hình cũng là nhằm “đảm bảo hiệu quả thu hồi tài sản, đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa; đồng thời khuyến khích người phạm tội hợp tác với cơ quan chức năng” Trả lời RFI Việt ngữ, luật sư Hoàng Cao Sang, Văn phòng Luật sư Hoàng Việt Luật ở Sài Gòn, nhận định: “Chúng tôi cho rằng việc Việt Nam bỏ án tử hình là một xu thế mà tất cả các quốc gia đều hướng tới. Thứ nhất là mang tính nhân văn, thứ hai là tránh oan sai, vì thông thường một quốc gia nào cho dù có tối tân về máy móc và chuyên môn đến đâu thì cũng dễ dẫn tới những oan sai về tội tử hình. Nếu mà đã tử hình rồi thì hậu quả là không lường được và không thể khắc phục được.  Chúng ta thấy là càng về trước thì những hình phạt càng nghiêm khắc, gần giống như là “trả thù” người phạm tội, chẳng hạn như cho vào vạc dầu, tứ mã phanh thây, rồi tùng xẻo, hoặc là tử hình bằng cách làm cho người phạm tội đau đớn nhất. Nhưng càng văn minh thì người ta càng bỏ những hình phạt mang tính độc ác như vậy. Cho nên hướng tới là Việt Nam cũng hòa nhập với xu thế của thế giới. Việc Việt Nam bỏ bản tử hình là một điều hết sức mang tính văn minh và hội nhập quốc tế cao. Có một điều mà tôi thấy các quốc gia cũng hay áp dụng, đó là tuy bỏ hình phạt tử hình nhưng thay vào đó là một án chung thân không giảm án, có nghĩa là tránh oan sai cho người phạm tội đó. Tôi cho rằng quy định đó cũng hợp lý: Không tước đi mạng sống của người phạm tội, nhưng họ vẫn phải chịu một hình phạt, đó là phạt tù mà không bao giờ giảm án. Việt Nam cũng có một sự tiến bộ là bỏ án tử hình nhưng có một hình phạt là không giảm án. Tôi cho đấy là cũng phù hợp với xu thế chung của các quốc gia.” Theo báo chí trong nước, giải thích về việc bỏ án tử hình với 8 tội danh, bộ trưởng Tư Pháp Nguyễn Hải Ninh đã cho biết một phần là trong thời gian qua Việt Nam trên thực tế không áp dụng án tử hình với các tội đó. Việc bỏ hình phạt tử hình với các tội này cũng là nhằm “phục vụ hoạt động hợp tác quốc tế, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy các quan hệ ngày càng bền chặt và tin tưởng lẫn nhau.” Trong số các tội danh được bỏ án tử hình, có tội Vận chuyển ma túy. Nhiều người cho tới nay chỉ vì nhẹ dạ cả tin, hoặc vì túng quẫn làm liều, hoặc hám lời, đã nhận vận chuyển dùm cho các đường dây buôn ma túy nên phải chịu hình phạt cao nhất là tử hình. Luật sư Hoàng Cao Sang giải thích:  “Trong nhóm tội phạm ma túy, trước đây có ba hành vi đưa đến mức cao nhất của khung hình phạt đó là tử hình: Tội sản xuất ma túy, tội mua bán ma túy và tội vận chuyển ma túy. Tuy nhiên, đến lần sửa đổi luật vừa rồi thì Việt Nam bỏ tội vận chuyển ma túy, còn tội sản xuất và tội mua bán thì vẫn giữ ở khung hình phạt tử hình. Tôi cho rằng đối với 3 hành vi nghiêm trọng có mức khung hình phạt tử hình thì vận chuyển là hành vi nhẹ nhất, ít gây nguy hiểm nhất so với hai hành vi kia. Cho nên nhà nước bỏ tội tử hình đối với hành vi vận chuyển cũng là hợp lý.” Một điểm đáng chú ý khác đó là trong danh sách các tội không còn áp dụng án tử hình, có tội danh Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109). Theo các tổ chức nhân quyền quốc tế, điều 109 là một trong những điều luật có nội dung mơ hồ và có thể diễn giải tùy tiện trong Bộ Luật Hình sự  mà chính quyền Việt Nam thường sử dụng kết án tù các nhà hoạt động chính trị và tôn giáo, với hình phạt cao nhất là chung thân và tử hình. Các tổ chức nhân quyền đã từng kêu gọi Hà Nội hủy bỏ hoặc sửa đổi điều luật này cho phù hợp với các nghĩa vụ Việt Nam theo Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị. Có lẽ chính là dưới áp lực của quốc tế mà Việt Nam đã bỏ án tử hình đối với tội danh Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Về điểm này, luật sư Hoàng Cao Sang ghi nhận:  “Xu thế của các quốc gia trên thế giới đều là không áp dụng hình phạt tử hình. Cho nên trong tội hoạt động lật đổ chính quyền, họ cũng yêu cầu không thực hiện việc tử hình đối với hành vi mà trước đây Bộ Luật hình sự Việt Nam cho là một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, cần phải tách ly người này ra khỏi cuộc sống xã hội. Tôi cho rằng bây giờ xã hội đã ổn định hơn và theo xu thế hội nhập thì cũng phải bỏ tội danh đấy và tôi nghĩ  thế giới cũng tránh việc một bộ luật lạm dụng điều đó để khống chế hoạt động của người dân nhằm phát triển quyền của con người. Trong thời gian qua, khi bộ luật có sửa đổi với việc bỏ 8 tội danh này thì tôi thấy là dư luận hay nhắc đến tội tham ô, nhận hối lộ, rồi tội vận chuyển trái phép chất ma túy, còn đối với các tội danh khác thì người dân ít quan tâm, hoặc là vì một lý do nhạy cảm nào đó người dân ít nhắc tới. Nhiều khi hành vi cũng không quá nghiêm trọng, nhưng rớt vào điều 109 này, tôi nghĩ nếu áp dụng khung hình phạt tử hình thì cũng hơi nghiêm khắc, cho nên tôi cho rằng bỏ cái hình phạt tử hình đối với tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền dân dân cũng là hợp lý.” Riêng với tội Tham ô tài sản và tội Nhận hối lộ, sau khi bỏ hình phạt tử hình, "nhằm bảo đảm thu hồi tài sản và khuyến khích người phạm tội tích cực khai báo", luật sửa đổi có quy định người bị kết án tù chung thân có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt “khi chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng.”  Nhưng như vậy thì phải chăng các quan chức cứ việc tham ô, nhận hối lộ, nhất là nay không còn án tử hình nữa và nếu có bị phát giác, bị đưa ra xử thì chỉ cần hoàn trả lại tiền tham nhũng là được giảm án? Luật sư Hoàng Cao Sang nêu ý kiến:  “Tôi thì thì lại không hiểu như vậy, vì tất cả mọi điều luật đều có quy định rằng khắc phục hậu quả thì sẽ được xem là tình tiết giảm nhẹ khi truy tố xét xử. Cho nên đối với người phạm tội tham ô mà có đóng lại khoản tiền, xem đó là tình tiết giảm nhẹ để giảm án thì tôi cho rằng cũng phù hợp với các tội danh khác. Tuy nhiên, trong thời thời gian vừa rồi, có những trường hợp mà đóng tiền lại thì được giảm án quá "sâu" so với quy định thì dư luận cũng không đồng tình. Trước mắt, vì là người phạm tội bị kết án tử hình trước ngày 01/07, bà TRươngMỹ Lan, chủ tịch tập đoàn Đại Thịnh Phát, trên nguyên tắc có thể được xem xét chuyển hình phạt từ tử hình xuống chung thân, nhưng việc bà "khắc phục hậu quả" như thế nào chắc chắn sẽ được dư luật tiếp tục quan tâm. Quốc tế dĩ nhiên đã hoan nghênh việc Việt Nam xóa bỏ án tử hình đối với 8 tội danh, chẳng hạn vào ngày 08/08/2025, đồng chủ tịch Viện Nhân quyền thuộc Hiệp hội Luật sư Quốc tế (IBAHRI) Mark Stephens đã ra thông cáo nhấn mạnh: "Bước đi lịch sử này của Việt Nam đánh dấu một bước phát triển đáng kể, hòa nhập hơn với xu hướng xóa bỏ án tử hình trên toàn cầu. Với nghĩa vụ không trì hoãn hoặc ngăn cản việc xóa bỏ án tử hình theo Điều 6(6) của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), IBAHRI kêu gọi Việt Nam tiến tới xóa bỏ hoàn toàn án tử hình đối với mọi tội phạm." Việt Nam hiện vẫn duy trì hình phạt tử hình đối với các tội phản quốc (Điều 108); tội nổi loạn (Điều 112); tội khủng bố nhằm chống Chính phủ (Điều 113); tội giết người (Điều 123); tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142); tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248); tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251); tội khủng bố (Điều 299); tội ác chống nhân loại (Điều 422); và tội ác chiến tranh (Điều 423). Theo IHBARI, dữ liệu về việc áp dụng án tử hình tại Việt Nam được cho là bí mật nhà nước, gây khó khăn cho việc xác định số liệu chính xác về việc áp dụng hình phạt này. Cũng trong thông cáo nói trên, đồng chủ tịch IBAHRI, bà Hina Jilani, kêu gọi Việt Nam “ tăng cường minh bạch trong việc áp dụng án tử hình, bao gồm việc cung cấp dữ liệu đầy đủ và chính xác về các bản án tử hình, các vụ hành quyết và các điều kiện giam giữ tại khu tử tù.” 

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Du lịch Việt Nam: Đà phục hồi bị ảnh hưởng bởi yếu tố kinh tế, địa chính trị

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Oct 6, 2025 9:33


Kể từ sau đại dịch Covid-19, ngành du lịch Việt Nam đã dần dần phục hồi, số du khách quốc tế đã tăng mạnh trở lại. Tuy nhiên, nhiều yếu tố địa chính trị, đặc biệt là chiến tranh Ukraina, vẫn ảnh hưởng đến đà phục hồi này.  Diễn ra từ ngày 23/09 đến 25/09/2025, tại Paris, IFTM Top Resa là triển lãm du lịch quốc tế hàng đầu thế giới, quy tụ hơn 3.000 doanh nghiệp từ hơn 100 quốc gia. Đây là dịp rất quan trọng để các doanh nghiệp lữ hành kết nối với nhau, cho nên nhiều nước đã có hẳn một không gian riêng để quảng bá cho du lịch quốc gia. Riêng Việt Nam không có gian hàng quốc gia, nhưng có một khu triển lãm của thành phố Hà Nội, với sự tham gia của hãng hàng không Vietnam Airlines và 11 doanh nghiệp lữ hành chuyên tổ chức các chuyến du lịch Việt Nam cho khách từ châu Âu. Một vài doanh nghiệp khác thì có gian hàng riêng.  Top Resa 2025 diễn ra trong bối cảnh ngành du lịch Việt Nam tiếp tục con đường phục hồi sau đại dịch Covid-19 tuy nhiên cũng phần nào bị tác động của tình hình kinh tế khó khăn trên toàn cầu cũng như tác động của những đảo lộn địa chính trị, nhất là chiến tranh Ukraina.  Trả lời RFI Việt ngữ tại triển lãm, ông Trần Sơn, giám đốc công ty Vietspace Travel, được thành lập từ năm 2002, cho biết:  “Sau dịch, hoạt động của ngành du lịch nói chung đến với Việt Nam đã từng bước được phục hồi. Chính phủ Việt Nam cũng đã tạo điều kiện hết sức cho tất cả khách nước ngoài nói chung, cũng như cho các doanh nghiệp đưa khách du lịch vào Việt Nam. Chúng tôi cũng nằm ở trong số đó, nhưng sau đại dịch thì hoạt động nói chung phục hồi hơi chậm, vì nhiều lý do. Một lý do là kinh tế toàn cầu không được thuận lợi. Thói quen trong thời gian đại dịch làm cho người ta cũng thay đổi. Chi phí cho tất cả những sinh hoạt đã có những thay đổi nhiều, người ta thận trọng hơn trong chi tiêu. Một lý do nữa là trên thế giới có nhiều thay đổi về chính trị và một số nước đang có chiến tranh. Do vậy đường bay cũng ảnh hưởng, khiến giá vé trở nên đắt đỏ. Mặc dù Việt Nam cũng đã có những cải thiện rất tốt về dịch vụ cũng như về giá cả, nhưng đấy là một trong những nguyên nhân làm cho khách du lịch chưa được nhiều. Tôi hi vọng sắp tới sẽ được nhiều hơn.  Cụ thể thì chiến tranh Ukraina đã ảnh hưởng như thế nào đến các đường bay của những hãng hàng không tới Việt Nam trong thời gian qua?  Ví dụ đường bay ở phía Bắc Âu. Trước đây người ta có thể đi thẳng hoặc là chỉ transit ( quá cảnh ) một chặng đến Việt Nam. Hoặc là đối với Nga thì trước đây người ta có những chuyến bay charter đến Việt Nam, trực tiếp đến Khánh Hòa, Nha Trang, hoặc Phú Quốc. Nhưng sau đó, do ảnh hưởng của chiến tranh, các hoạt động trên đường bay đó có những thay đổi và chính vì đường bay thay đổi nên lượng máy bay cũng ít đi, làm cho giá cả tăng lên. Đấy là một tác động rất lớn đến tài chính. Khách vốn đã giảm bớt chi tiêu sau dịch bây giờ phải gánh thêm một chi tiêu khác. Tất nhiên người ta vẫn thích bay thẳng, đỡ mệt mỏi, nhưng bây giờ thì phải bay khá nhiều chặng. Vé máy bay lại tăng lên, đấy là một điều khiến người ta phải suy nghĩ lại."  Ông Đỗ Quang Tiến, giám đốc công ty Typic Travel ở Hà Nội, cũng nhìn nhận tác động của yếu tố địa chính trị đối với du lịch Việt Nam, nhưng ông nhận thấy là số khách từ châu Âu đang tăng trở lại, vì Việt Nam nay được xem là một điểm đến an toàn so với một số nước láng giềng Đông Nam Á: “Lẽ ra sau Covid, nếu không có chiến tranh ( Ukraina ) thì Việt Nam sẽ là một điểm đến được rất nhiều du khách lựa chọn. Tuy nhiên chính phủ Việt Nam cũng nhận thấy tình hình đó và đã có những chính sách rất phù hợp và kịp thời,thứ nhất là mở cửa sớm và thứ hai là miễn thị thực cho rất nhiều nước thuộc Liên Hiệp Châu Âu và Châu Âu nói chung. Biện pháp đó đã kích thích, làm tăng một lượng khách đến Việt Nam rất là lớn. Trong năm 2023, 2024, lượng khách quốc tế từ Châu Âu tới Việt Nam tăng vọt và nhiều hơn so với trước Covid 2019 khoảng từ 20 cho đến 40%. Đấy là một dấu hiệu rất tích cực. Mặc dù cũng có bị ảnh hưởng bởi tình hình địa chính trị thế giới và chiến tranh ở châu Âu, tuy nhiên, hiện tại, sau Covid, mọi người có nhu cầu khám phá và chọn điểm đến an toàn, trong đó Việt Nam cũng luôn là một điểm đến được lựa chọn bởi khách du lịch châu Âu, trong đó Pháp và Đức là hai quốc gia có lượng khách du lịch đến Việt Nam nhiều nhất kể từ 2022, 2023 và 2024 cho đến nay.  Khách cũng có sự lựa chọn nhất định. Phần lớn là khách thường có tiền một chút thì mới đi. Mức chi tiêu trước Covid rất là tốt, nhưng sau Covid, về mức chi tiêu cho những dịch vụ gia tăng tại chỗ thì họ dè chừng hơn. Tuy nhiên họ lại sử dụng những dịch vụ cao cấp hơn, chọn những khách sạn bốn, năm sao, hoặc những khu nghỉ dưỡng chuẩn quốc tế nhiều hơn so với trước Covid. Trước Covid phần lớn người ta đi theo cách, một là “bụi”, hai là sử dụng dịch vụ có mức hạn chế về chỗ ăn chỗ ở, còn lại họ dùng tiền để chi tiêu cho mua sắm. Bây giờ ngược lại họ dành chi tiêu cho việc lưu trú tốt và phần lớn không mua sắm nữa. Người Pháp hay người Đức hay người châu Âu nói chung vẫn thích điểm đến Việt Nam so với một số các nước khác. Văn hóa Việt Nam hay, phong cảnh đẹp, người dân thân thiện và đặc biệt là ăn uống rất ngon với một mức giá vô cùng rẻ so với mức sinh hoạt tại châu Âu. Trong khi đó thì các nước bên cạnh như Cam Bốt, Thái Lan hoặc xa hơn một chút là Indonesia, Malaysia, Philippines thì đều có những xáo trộn về chính trị. Chính vì vậy mà khách du lịch châu Âu lẽ ra chọn Thái Lan, Philippines, Malaysia hoặc Indonesia để đi, thì do tình hình bất ổn đó, họ đã thay đổi kế hoạch. Khoảng 30 đến 40% những khách đã có ý định đi Thái Lan hoặc các nước bên cạnh Việt Nam thay đổi ý định và chọn Việt Nam, vì Việt Nam vẫn là một điểm đến thứ nhất là thân thiện, thứ hai là an toàn, thứ ba là phong cảnh và văn hóa rất đẹp cùng với chi phí có thể nói là rẻ nhất trong khu vực Đông Nam Á, với một dịch vụ gần như là tốt nhất với chi phí đó.”  Theo số liệu thống kê, trong 8 tháng đầu năm nay, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 13,9 triệu lượt người, tăng gần 22% so với cùng kỳ năm trước. Châu Á là khu vực có nhiều khách quốc tế lớn nhất tại Việt Nam với gần 11 triệu lượt khách, tiếp đến là châu Âu với gần 1,8 triệu lượt khách.  Nhằm thu hút thêm du khách châu Âu đến Việt Nam, chính phủ Hà Nội đã quyết định miễn thị thực 45 ngày cho thêm 12 nước ở châu lục này ( Bỉ, Bulgari, Croatia, Cộng hòa Séc, Hungary, Luxembourg, Hà Lan, Ba Lan, Rumani, Slovakia, Slovenia và Thụy Sĩ )   Đối với ông Trần Sơn, giám đốc công ty Vietspace, ngoài chính  sách miễn thị thực, chính phủ cần có một kế hoạch dài hạn hơn để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lữ hành:  “Đấy là một chính sách rất cởi mở, chủ động, để chào đón khách trở lại Việt Nam và chứng minh Việt Nam đã có sự chuẩn bị và có những cơ sở rất tốt về dịch vụ. Trước mắt thì đương nhiên giải quyết vấn đề về visa, nhưng dài hơn nữa là phải có chính sách 5 năm, 10 năm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ở Việt Nam. Công ty chúng tôi thì đang cố gắng. Các đối tác cũ hầu hết tất cả đã quay lại, đã nối lại để làm việc. Nhưng đối với những người mới, chúng tôi cũng đang cố gắng để giới thiệu cho các khách hàng này. Giới thiệu ở đây là giới thiệu về văn hóa ẩm thực và các sản phẩm mới. Vì sau dịch đã có rất nhiều sự thay đổi tốt hơn. Dịch vụ ở Việt Nam rất sẵn sàng để phục vụ. Nhưng còn còn về phía Pháp nói riêng và tất cả các nước nói chung, điều này tùy thuộc vào khách hàng và tùy thuộc hoàn cảnh chung của thế giới, về tài chính, về tình hình chiến sự vân vân…” Việt Nam đã đặt ra mục tiêu đạt 25 triệu lượt du khách quốc tế trong năm 2025. Tuy nhiên, trên báo chí trong nước, các chuyên gia về du lịch của Việt Nam cho rằng ngành du lịch không nên dựa hoàn toàn vào chính sách miễn visa. Khách có đến đông, tiêu nhiều tiền và ở lâu hay không phần lớn vẫn phụ thuộc vào các sản phẩm du lịch có đủ sức thu hút khách đến mức nào. Bên cạnh đó là cách thức quảng bá cho du lịch Việt Nam. Ngoài việc tham gia các triển lãm du lịch lớn như Top Resa ở Paris, các chuyên gia đề nghị Việt Nam mở những văn phòng xúc tiến du lịch tại các thị trường quan trọng, như cách mà các nước láng giềng như Malaysia hay Thái Lan đang làm. Về phần giám đốc công ty Typic Travel, trước tình hình số du khách vào Việt Nam đang tăng trở lại, một thách thức đối với các doanh nghiệp lữ hành đó là đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch, hiện đang thiếu rất nhiều kể từ sau Covid: “Dự kiến từ năm nay đến năm 2026, lượng khách du lịch quốc tế sẽ đến Việt Nam nhiều hơn nữa. Việt Nam cũng đang cố gắng củng cố và xây dựng các cơ sở hạ tầng tốt nhất, những khu nghỉ dưỡng hoặc những điểm đến thực sự hay, đồng thời  có kế hoạch đào tạo nhân lực chuyên nghiệp. Sau Covid thì nhân lực về du lịch cũng mất rất là nhiều. Nhiều người đã chuyển sang những nghề khác nhau. Việt Nam đã bắt đầu từ 2022 kế hoạch đào tạo nhân sự mới, để làm sao đáp ứng được tất cả các nhu cầu phục vụ khách du lịch quốc tế. Việt Nam bây giờ có rất nhiều khách du lịch quốc tế với nhiều ngôn ngữ khác nhau. Số người nói tiếng Anh, Pháp, Đức hay Tây Ban Nha, hay nói tiếng Hàn, tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc đều có, nhưng ở một mức vẫn còn hạn chế, có nghĩa là không đủ nhân lực để cung cấp cho một lượng khách du lịch đang đến rất là đông.  Không thể đào tạo ngay được nhân lực chuyên nghiệp, sẽ phải mất tối thiểu từ một năm đến ba năm để làm việc đó.”

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Biển Đông: Việt Nam cạnh tranh với Trung Quốc về hoạt động xây dựng đảo

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Sep 22, 2025 9:35


Theo một báo cáo của tổ chức Sáng kiến ​​Minh bạch Hàng hải Châu Á AMTI, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế CSIS ( Mỹ), được công bố ngày 22/08/2025, Việt Nam đã mở rộng đáng kể hoạt động xây dựng đảo tại các khu vực mà Hà Nội tuyên bố chủ quyền thuộc quần đảo Trường Sa ở Biển Đông. Theo báo cáo, những hoạt động này của Việt Nam “sẽ nhanh chóng ngang bằng, thậm chí có thể vượt qua” quy mô hoạt động tương tự của Trung Quốc tại khu vực đó. Các ảnh vệ tinh gần đây cho thấy, kể từ đầu năm nay, Việt Nam đã mở rộng hoạt động xây dựng đảo trên 8 thực thể, cụ thể là đã tiến hành nạo vét và san lấp tại Bãi Tốc Tan ( Alison Reef ), Đá Cô Lin ( Collins Reef ), Đá Đông ( East Reef ), Đá Len Đao ( Lansdowne Reef ) và Đá Núi Thị ( Petley Reef ). Như vậy là toàn bộ 21 bãi đá và bãi cạn lúc triều thấp mà Việt Nam chiếm hữu trong quần đảo Trường Sa hiện đã được mở rộng để bao gồm cả đất nhân tạo, trong khi bốn năm trước phần lớn chỉ là các công trình bê tông cốt thép biệt lập.  Báo cáo cho biết hoạt động mở rộng mới cũng đã bắt đầu tại những đảo nhân tạo cỡ trung đã được xây dựng trong các đợt nạo vét trước đó: Đảo An Bang ( Amboyna Cay), Đảo Sinh Tồn Đông ( Grierson Reef ) và Đá Tây ( West Reef ). Theo báo cáo, "tính đến tháng 3 năm 2025, Việt Nam đã tạo ra khoảng 70% diện tích đất nhân tạo ở quần đảo Trường Sa so với Trung Quốc". Việc cải tạo tại tám thực thể mới này gần như đảm bảo rằng Việt Nam "sẽ ngang bằng - và có thể vượt qua - quy mô xây dựng đảo của Bắc Kinh."  Theo báo cáo của AMTI, các hình ảnh cho thấy cơ sở hạ tầng, bao gồm các container chứa đạn dược, đang bắt đầu xuất hiện trên các rạn san hô mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, những nơi mà công việc nạo vét sắp hoàn tất, chẳng hạn như Bãi Thuyền Chài ( Barque Canada ), Đá Lớn ( Discovery Great Reef ), Đá Lát ( Ladd Reef ), Đảo Nam Yết ( Namyit Reef ), Đảo Phan Vinh ( Pearson Reef ), Đảo Sơn Ca ( Sand Cay ) và Đá Tiên Nữ ( Tennent Reef ).  Việt Nam chưa đưa ra bình luận công khai nào về hoạt động cải tạo mới nhất của mình, một sự im lặng phù hợp với cách tiếp cận kín đáo của Hà Nội ở Biển Đông. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 27/08/2025, nhà nghiên cứu về Biển Đông Hoàng Việt nhận định: “Về chuyện này có vẻ chắc chắn là Việt Nam không bao giờ lên tiếng. Năm trước, Việt Nam đã bồi lấp và mở rộng, năm nay họ cũng đang làm như vậy thì tôi nghĩ cũng là hợp lý, bình thường thôi. Hiện nay, tất cả các công trình đó, theo AMTI, đã bằng 70% so với Trung Quốc. Có lẽ Việt Nam sẽ là một đối thủ quan trọng đối với Trung Quốc. Điều này đối với Việt Nam có thể là vừa có lợi và có hại. Cái lợi là Việt Nam có thể chống đỡ được khá nhiều với Trung Quốc, có thể mở rộng và cạnh tranh với Trung Quốc. Nhưng mặt khác, có thể Trung Quốc sẽ có phản ứng, thì Việt Nam cũng phải hứng chịu. Trên khu vực Biển Đông thì chúng ta biết quan điểm Trung Quốc từ xưa đến nay: Bao giờ họ cũng khẳng định toàn bộ Biển Đông đều thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Trung Quốc cũng không dựa trên cái gì cả, mà chỉ dựa trên cái gọi là đường chín đoạn, chiếm khoảng chừng 80% Biển Đông. Và gần đây thì họ còn mở rộng hơn rất nhiều. Theo thông tin của Mỹ, họ đã mở rộng đến khoảng 90% Biển Đông.  Việt Nam cùng với nhiều quốc gia khác ở Đông Nam Á cũng đã đòi những vùng biển thuộc về họ, nhưng có lẽ chỉ có Việt Nam là tập trung sức lực và đủ sức cạnh tranh với Trung Quốc trên Biển Đông.  Trung Quốc nói là không ai có quyền mở rộng Biển Đông ngoài họ, nhưng Trung Quốc không có cơ sở pháp lý nào hết, bởi vì từ những năm 1935, Trung Quốc còn chưa nghĩ tới chuyện đi buôn xa hơn và một số bản đồ của nhà Thanh cũng cho thấy Trung Quốc chỉ ở trong vùng phụ cận thôi chứ không có đi ra xa. Có lẽ sau này Trung Quốc cảm thấy những đảo này cần thiết, cho nên họ tìm mọi cách để đưa vào trong bản đồ, trong sách lịch sử cho trẻ con học, khiến cho người dân Trung Quốc cảm thấy Biển Đông là của họ, mặc dù họ không có bằng chứng nào cả và thậm chí bằng chứng của họ đã bị tòa án quốc tế năm 2016 ra phán quyết bác bỏ trong vụ Philippines kiện Trung Quốc năm 2013.  Tuy nhiên chúng ta thấy rằng là Trung Quốc chưa bao giờ từ bỏ đường lưỡi bò. Gần đây, bản đồ của họ còn vẽ thêm thành 10 đoạn chứ không phải 9 đoạn, với một đoạn ở khu vực Đài Loan nữa. Họ vẫn cho thấy luật pháp quốc tế không là cái gì cả.” Báo cáo mới của AMTI được đưa ra trong bối cảnh căng thẳng gia tăng giữa Trung Quốc và Philippines trên Biển Đông. Gần đây nhất, vào tháng 7, ở phía bắc quần đảo Trường Sa gần Bãi cạn Scarborough, một tàu khu trục của hải quân Trung Quốc đã va chạm với một tàu Hải cảnh Trung Quốc khi các tàu này đang quấy rối một tàu của lực lượng tuần duyên Philippines trong vùng biển tranh chấp.  Các nhà phân tích được kênh truyền hình Mỹ CNN trích dẫn ngày 29/08 cho rằng các xung đột giữa Trung Quốc và Philippines có thể đã tạo cho Việt Nam "một vỏ bọc tuyệt vời" cho hoạt động xây dựng trên các đảo mà họ kiểm soát. Collin Koh, nghiên cứu viên tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (RSIS) ở Singapore, ghi nhận:  “Hiện tại, phần lớn sự chú ý của Trung Quốc đang hướng về Philippines, và họ muốn duy trì một mặt trận ổn định với các đối thủ Đông Nam Á khác ở Biển Đông”. Ray Powell, giám đốc của SeaLight, một dự án minh bạch hàng hải tại Trung tâm Đổi mới An ninh Quốc gia Gordian Knot, thuộc Đại học Stanford, đồng tình với nhận xét của Collin Koh:  “Dường như Bắc Kinh đã tính toán rằng nên giữ Philippines cô lập khỏi các bên có tuyên bố chủ quyền khác ở Biển Đông hơn là ngăn cản Việt Nam đạt được những bước tiến đáng kể về lãnh thổ”.  Thật ra thì Trung Quốc đã có lên tiếng phản đối Việt Nam về những hoạt động xây dựng đảo theo như báo cáo của AMTI. Ngày 25/08, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc Ông Quách Gia Khôn tuyên bố: "Quần đảo Nam Sa (Trường Sa) là lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc và Trung Quốc kiên quyết phản đối các hoạt động xây dựng của các quốc gia liên quan trên các đảo và rạn san hô bị chiếm đóng trái phép, đồng thời sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và quyền hàng hải của mình."  Như vậy là sau báo cáo của AMTI, Biển Đông có thể sẽ khiến quan hệ Việt - Trung căng thẳng trở lại, trong lúc bang giao giữa hai nước đang trong giai đoạn nồng ấm. Tuy vậy, các nhà phân tích như Collin Koh, nghiên cứu viên cao cấp tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam ở Singapore, cho rằng chỉ riêng quy mô của những đảo nhân tạo này sẽ không làm thay đổi cán cân chiến lược của khu vực. Theo các nhà quan sát, Hà Nội có thể sẽ coi các hoạt động nói trên là mang tính phòng thủ, củng cố các thực thể mà họ đã chiếm hữu để đáp trả nhiều năm mà Trung Quốc quân sự hóa các đảo mà Bắc Kinh đang kiểm soát. Nhà nghiên cứu Hoàng Việt cũng có nhận định tương tự:   “Chúng ta biết Việt Nam là một quốc gia kiên trì đấu tranh ở Biển Đông từ rất lâu. Nhiều năm trước, những năm 1980, Việt Nam cũng đã chịu nhiều áp bức từ phía Trung Quốc. Thế nhưng Việt Nam vẫn cố gắng và vẫn nghĩ có đầy đủ bằng chứng lịch sử, pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình trên các đảo này. Cho nên Việt Nam hết sức bảo vệ. Hiện nay, quần đảo Hoàng Sa thì Việt Nam không thể giữ được nữa, nhưng ở quần đảo Trường Sa thì Việt Nam đã giữ khá nhiều cơ sở ở đó. Theo những con số mà của AMTI đưa ra,  phía Việt Nam cũng đã mở rộng rất nhiều và thứ nhất là sẽ khiến cho ngư dân Việt Nam an tâm hơn. Khi đánh bắt xa bờ, nếu có chuyện gì thì họ có thể quay về trở về để tránh bão. Thứ hai, Việt Nam cũng nghĩ rằng những công trình xây dựng trên biển hay bị hư hại, không giống như trên đất liền, cho nên Việt Nam cũng phải sửa chữa. Và thứ ba là Việt Nam cũng muốn thể hiện cho Trung Quốc thấy rằng Việt Nam mạnh mẽ nhắc đến chủ quyền. Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta có đủ bằng chứng, đủ căn cứ pháp lý để xây dựng, thì tại sao không xây dựng?”   Tuy nhiên, theo nhật báo Hồng Kông South China Morning Post ngày 27/08, các nhà phân tích cảnh báo rằng việc Việt Nam mở rộng hoạt động xây dựng đảo ở Trường Sa “có thể làm gia tăng căng thẳng trong nội bộ ASEAN, khi các quốc gia thành viên và các bên có yêu sách đối nghịch nhau tìm cách cân bằng giữa tranh chấp chủ quyền với sự đoàn kết, thống nhất trong khối." Ngoài Việt Nam, các thành viên ASEAN khác là Philippines, Malaysia và Brunei đều có các tuyên bố chủ quyền đối lập, trong khi Bắc Kinh khẳng định chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông.  South China Morning Post trích dẫn ông Tô Minh Sơn, nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Quốc gia Úc, chuyên nghiên cứu về quan hệ quốc tế Đông Nam Á: cho biết: "Hà Nội sẽ kết hợp điều đó với việc ủng hộ các cuộc đàm phán về Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) và về Bộ quy tắc ứng xử  trên Biển Đông (COC), cùng với việc quản lý song phương một cách kín đáo với các bên có yêu sách khác, đồng thời duy trì các kênh liên lạc với Trung Quốc".  Ông Tô Minh Sơn nói thêm, mặc dù hoạt động nạo vét của Việt Nam "sẽ khiến việc truyền tải thông điệp của ASEAN trở nên khó khăn hơn [...] nhưng nó sẽ không chia rẽ khối này". Đồng thời ông lưu ý rằng các bên yêu sách khác như Philippines cũng tập trung vào hành vi của Trung Quốc. Việc thắt chặt quan hệ giữa Hà Nội và Manila - bao gồm đường dây nóng của lực lượng bảo vệ bờ biển và các giao thức phòng ngừa sự cố - có thể giúp cả hai quốc gia quản lý tốt các yêu sách chồng chéo, đồng thời thể hiện một mặt trận thống nhất hơn đối với Trung Quốc.  Còn theo nhận định của ông Vũ Lâm, một nhà phân tích chính sách và quan sát viên ASEAN, cũng được South China Morning Post trích dẫn, nhìn chung, Việt Nam “không muốn làm xáo trộn mối quan hệ với ASEAN, vốn vẫn là một trong những thành tựu về chính sách đối ngoại quan trọng nhất mà họ đã đạt được trong lịch sử gần đây".  Đối với chuyên gia Biển Đông Hoàng Việt, phản ứng của các bên tranh chấp khác trong khối Đông Nam Á sẽ chỉ có mức độ nào đó thôi: Chúng ta biết là giữa các nước Đông Nam Á vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh. Có những điều mà chúng ta có thể hợp tác được, nhưng cũng có những điều mà chúng ta phải đấu tranh với nhau, như Philippines cũng có những cái đấu tranh với Việt Nam. Đương nhiên là giữa các quốc gia nhỏ thì nói chuyện dễ dàng hơn. Thực ra việc bồi lấp một số đảo này có lẽ không phải là vấn đề quá quan trọng. Việt Nam cũng đã bằng lòng với nhiều quốc gia rồi. Hiện nay cũng thấy ít quốc gia lên tiếng. Tôi nghĩ rằng cũng sẽ có một số quốc gia phản đối, nhưng phản đối có mức độ thôi, chứ còn đáng lo ngại nhất vẫn là từ phía  Bắc Kinh. Trung Quốc vẫn quen làm trùm khu vực rồi. Họ lớn, họ mạnh, cho nên họ là luật quốc tế. Thế nhưng quan trọng nhất là Trung Quốc lại không có cơ sở hợp lý để bảo vệ chủ quyền của họ trên Biển Đông. Trung Quốc đưa ra những lập luận hết sức là mơ hồ và trái với luật pháp quốc tế, như là đường 9 đoạn. Thế nhưng, việc này đã được đưa ra tòa  án quốc tế một lần rồi và nếu các quốc gia tiếp tục đưa ra tòa thì Trung Quốc cũng sẽ bị những phán quyết tương tự như vậy.  Trung Quốc nghĩ rằng làm mạnh như vậy thì họ có thể làm thay đổi cả thế giới. Tôi nghĩ sẽ khó đấy. Sức mạnh là sức mạnh, nhưng không phải lúc nào muốn là làm được, mà luật pháp quốc tế có giá trị của nó.”

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Vũ khí: Hàn Quốc giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào Nga

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Sep 15, 2025 11:15


Từ đối tác kinh tế tin cậy, Việt Nam và Hàn Quốc tiến một bước lớn trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng. Hợp đồng cung cấp 20 pháo K9 Thunder của tập đoàn Hanwha Aerospace, trị giá 250 triệu đô la Mỹ mở ra hướng đi mới cho xuất khẩu vũ khí cho Hà Nội. Việt Nam là khách hàng thứ 11 trên thế giới của loại pháo K9 nhưng đây là lần đầu tiên Hàn Quốc xuất khẩu vũ khí sang một nước Cộng Sản. Đây cũng là lần đầu tiên, Hà Nội mua vũ khí của Seoul trong bối cảnh muốn đa dạng nguồn cung để giảm bớt phụ thuộc vào Nga. Thỏa thuận này được đúc kết sau chuyến thăm cấp Nhà nước từ ngày 10-13/08/2025 của tổng bí thư Tô Lâm tới Seoul. Theo trang Korea Herald, việc giao hàng sẽ được quản lý thông qua Cơ quan Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Hàn Quốc và dự kiến ​​hoàn thành vào cuối năm 2025. Để hiểu thêm về ý nghĩa của hợp đồng vũ khí đầu tiên này và mối quan hệ hợp tác quốc phòng Việt Nam - Hàn Quốc, RFI Tiếng Việt phỏng vấn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, tại Canberra, Úc. RFI : Việt Nam mua 20 pháo tự hành K9 Thunder do tập đoàn Hàn Quốc Hanwha Aerospace sản xuất, trị giá 250 triệu đô la. Hợp đồng sẽ được bàn giao vào cuối năm nay. Đây là lần đầu tiên Việt Nam mua vũ khí của Hàn Quốc, trong khi Nga vẫn là nhà cung cấp chính. Về phía Seoul, đây cũng là lần đầu tiên xuất khẩu vũ khí cho một quốc gia Cộng Sản, theo như nhận định của một chuyên gia Hàn Quốc. Xin anh cho biết đối với cả hai nước, hợp đồng “lần đầu tiên” có ý nghĩa như thế nào ? Nguyễn Thế Phương : Hợp đồng này có nhiều hàm ý. Thứ nhất, lần đầu tiên nó mở ra một thị trường nhập khẩu vũ khí mới cho Việt Nam. Trước đây, tầm 70 tới 80% số lượng vũ khí của Việt Nam là nhập từ Nga và một phần nhỏ khác là nhập từ một số nước Đông Âu, Israel. Bây giờ Hàn Quốc trở thành một thị trường nhập khẩu vũ khí cực kỳ tiềm năng cho Việt Nam. Hàm ý thứ hai, sau cuộc chiến Nga Ukraina, Việt Nam đã cố gắng đa dạng hóa nguồn cung vũ khí. Và thành công bước đầu là có thêm được một đối tác nhập khẩu vũ khí mà có thể nói là tương đối bền vững. Vì Hàn Quốc suy cho cùng cũng là một trong những nước đối tác chiến lược toàn diện. Việt Nam - Hàn Quốc mặc dù mới thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1993 nhưng quan hệ toàn diện từ chính trị, kinh tế, xã hội đặc biệt là quan hệ giữa người dân với nhau, từ đó tới nay phát triển rất tốt và dự báo là cũng sẽ phát triển tiếp. Đọc thêmCông nghiệp quốc phòng Hàn Quốc giúp Việt Nam tự chủ an ninh, đa dạng hợp tác Và có thể trong tương lai, Việt Nam cũng sẽ tìm kiếm thêm một số đối tác khác, không phải là các đối tác truyền thống trước đây như Ấn Độ hay Iran nữa mà là những đối tác mới, bây giờ là Hàn Quốc, sau này có thể là Thổ Nhĩ Kỳ. Đây chỉ là một bước đầu trong nỗ lực đa dạng hóa của nguồn cung vũ khí. Và thứ ba, nó thể hiện sự đa phương hóa và đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế - chiến lược ngoại giao của Việt Nam vốn đã bắt đầu từ năm 2003 cho tới bây giờ - và nó mang lại một số kết quả khích lệ trong bối cảnh tình hình thế giới đang diễn biến hết sức phức tạp, hết sức khó lường và ưu tiên chính sách ở thời điểm hiện tại vẫn phải là chuẩn bị cho năng lực quốc phòng đạt được hiệu quả răn đe nhất định. RFI : Trong cẩm nang thị trường quốc phòng về Việt Nam công bố tháng 12/2024, Cơ quan Quản lý Chương trình mua sắm Quốc phòng Hàn Quốc (DAPA) đã liệt kê các mặt hàng xuất khẩu đầy hứa hẹn sang Việt Nam vào năm 2033 (pháo tự hành K9, hệ thống tên lửa địa đối không tầm trung Cheongung-II, hệ thống ngắm pháo cho xe bọc thép và xe tăng, hệ thống nhận dạng laser…). Căn cứ vào những con số này, có thể thấy là hợp tác quốc phòng song phương đầy tiềm năng. Những yếu tố nào có thể giải thích cho việc hai nước tăng cường phát triển hợp tác quốc phòng ? Nguyễn Thế Phương : Yếu tố để giải thích thì một phần tôi đã trình bày ở trên : Đó là nhu cầu mua sắm quốc phòng của Việt Nam hiện tại là rất lớn trong bối cảnh những thách thức an ninh khu vực nổi lên, không chỉ là vấn đề Biển Đông với Trung Quốc mà còn là vấn đề an ninh phi truyền thống ở phía Tây nữa, đặc biệt là vấn đề sông Mêkông, phòng chống tội phạm buôn người xuyên quốc gia. Những yếu tố an ninh như vậy yêu cầu là quá trình hiện đại hóa quân đội Việt Nam phải được đẩy mạnh và mang tính hiệu quả. Nhu cầu quốc phòng lớn nhưng mà bạn hàng truyền thống - đó là Nga - hiện tại đang gặp cực kỳ nhiều rắc rối. Trong bối cảnh đó và dưới áp lực phải hiện đại hóa một cách hiệu quả, việc đa dạng hóa nguồn cung vũ khí, tìm tới những đối tác vừa truyền thống, vừa an toàn, vừa bền vững, là một hướng đi tất yếu thì Hàn Quốc nằm trong sự lựa chọn đó. Đọc thêmHàn Quốc : Phát triển công nghiệp quốc phòng để tự vệ ? Điểm thứ hai, tại sao là Hàn Quốc mà không phải là một số quốc gia khác ? Thứ nhất, Hàn Quốc có nền công nghiệp quốc phòng mạnh, hiện nay là quốc gia xuất khẩu vũ khí đứng hàng thứ tư thế giới. Các loại công nghệ quốc phòng của họ được đánh giá tiên tiến hàng đầu thế giới, đặc biệt tại những mảng công nghệ và những mảng vũ khí mà Việt Nam đang cần, ví dụ pháo binh, các loại công nghệ vũ khí phòng không. Đặc biệt là ngành công nghiệp đóng tàu chiến Hàn Quốc. Ngành công nghiệp đóng tàu Hàn Quốc nói chung là gần như số 2, số 3 thế giới, chỉ sau Trung Quốc với Nhật Bản và nhiều khi Hàn Quốc còn cân bằng với Nhật Bản. Đối với Việt Nam, nhu cầu đóng tàu cũng như là nhu cầu về những mặt hàng vũ khí phòng không, không quân ở thời điểm hiện tại là rất cần thiết tại vì Nga đang bị cấm vận. Cho nên việc có một bạn hàng mới giỏi về vấn đề đóng tàu và các loại vũ khí không quân là cần thiết. Và Việt Nam có thể tận dụng điều đó trong mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt-Hàn. Tiếp theo, quan hệ chính trị ngoại giao và quốc phòng giữa Việt Nam với Hàn Quốc khá là sâu rộng và cả hai nước có một niềm tin chiến lược chiến lược nhất định. Nó khác với Mỹ. Ở thời điểm hiện tại, có vẻ Việt Nam không có nhiều lòng tin chiến lược với Mỹ. Cho nên là một số dự án hợp tác quốc phòng tiềm năng giữa Việt Nam và Mỹ đang hơi bị trì hoãn, ví dụ đàm phán mua máy bay vận tải C130 đang bị trì hoãn rất là nhiều bởi vì rất nhiều vấn đề khác nhau. Đọc thêmTriển lãm quốc phòng quốc tế: Việt Nam tìm giải pháp thay thế vũ khí Nga Chưa kể rằng yếu tố ý thức hệ cũng là một trong những điểm khiến cho hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và phương Tây nói chung, cũng như là giữa Việt Nam và Mỹ nói riêng, có một số rào cản lớn. Những điểm đó đối với quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc hầu như rất là nhỏ. Mặc dù là một trong những quốc gia đồng minh của Mỹ nhưng Hàn Quốc nằm trong vùng văn hóa Đông Á. Họ hiểu được cách thức mà chính trị ở các quốc gia Đông Á cũng như Đông Nam Á vận hành. Họ chấp nhận mối quan hệ đó, do vậy niềm tin chiến lược giữa hai bên là có. Bởi vì có niềm tin chiến lược, cho nên những rào cản như Việt Nam đối mặt với Mỹ hay phương Tây nằm ở mức tối thiểu. Do đó nó cho phép Hàn Quốc có thể chuyển giao công nghệ tới Việt Nam, đặc biệt là một số loại công nghệ quân sự nhạy cảm mà không gặp phải nhiều rào cản quá lớn. Trong khi vấn đề dân chủ, nhân quyền hay là những vấn đề liên quan tới rào cản kỹ thuật hoặc là sự cho phép sử dụng vũ khí giữa Việt Nam và Mỹ, lại lớn. Yếu tố niềm tin chiến lược trong chính trị và quân sự chính là một điểm nổi bật khiến cho Hàn Quốc trở thành một trong những đối tác quốc phòng mới của Việt Nam ở thời điểm mà nhu cầu mua sắm vũ khí của Việt Nam là cấp thiết. RFI : Như anh đã đề cập ở trên về năng lực đóng tàu của Hàn Quốc thì Việt Nam cũng có nhu cầu về tàu tuần tra tốc độ cao và tàu ngầm nhỏ để bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông. Liệu đây có phải là một vấn đề tế nhị mà cả Việt Nam và Hàn Quốc cần hết sức chú ý vì đều không muốn khiêu khích Trung Quốc ? Nguyễn Thế Phương : Tác động tới quyết định Việt Nam mua vũ khí của nước nào, thực ra sức ép của Trung Quốc là có. Nhưng yếu tố Trung Quốc không có tác động quyết định tới việc là Việt Nam mua vũ khí, tàu chiến hay là máy bay của bất kỳ nước nào. Những mặt hàng như là tàu tuần tra cỡ nhỏ hoặc là tàu ngầm mini, thực ra Việt Nam đã có thể tự chế tạo được những gam tàu đó. Điều mà Việt Nam cần ở hiện tại và điều mà Hàn Quốc có thể cung cấp là khả năng đóng những gam tàu lớn. Hiện nay tàu chiến lớn nhất của Việt Nam, không tính của cảnh sát biển, dao động tầm 1.200 tới 1.500 tấn. Điều mà Việt Nam cần hiện nay là những tàu chiến cỡ lớn, có khả năng hoạt động biển xa, trang bị các loại vũ khí phòng thủ cũng như tấn công phù hợp, tầm từ 3.000 tới 6.000 tấn. Hiện tại phải nói là Việt Nam chưa có đủ tiềm lực để đóng những cái gam tàu cỡ lớn như vậy. Với ví dụ Philippines cho thấy rằng Hàn Quốc có thể có tiềm năng trong tương lai cung cấp công nghệ, cũng như giúp Việt Nam đóng những gam tàu chiến có độ giãn nước lớn từ 3.000 đến 6.000 tấn. Còn dưới 2.000 tấn thì theo sự tìm hiểu của tôi, ở thời điểm hiện tại Việt Nam có khả năng tự đóng được. Ngay cả một số dự án tàu ngầm mini cỡ từ 1.000 tấn chở xuống thì Việt Nam cũng đã có thể tự đóng. Mặc dù chưa xác định rõ được tính hiệu quả trong tác chiến của các loại vũ khí hải quân đó nhưng về mặt công nghệ thì Việt Nam đã đóng được rồi. Trung Quốc sẽ không ảnh hưởng gì tới quyết định đó bởi vì đó là nhu cầu Việt Nam. Và Trung Quốc cũng hiểu rằng khoảng cách về mặt quyền lực, về mặt quân sự giữa hai bên quá là lớn. Việt Nam mua thêm khoảng một vài tàu cũng không làm thay đổi mấy cán cân quyền lực, chỉ là Việt Nam cải thiện hơn một chút khả năng răn đe về hướng biển. Đọc thêmTriển lãm Quốc phòng : Việt Nam thể hiện “khả năng răn đe”, hướng đến xuất khẩu thiết bị quân sự RFI : Sau 17 năm không hoạt động, Ủy ban hợp tác Quốc phòng và Quân sự Hàn Quốc - Việt Nam đã được khôi phục. Quyết định này mang ý nghĩa như thế nào ? Và Ủy ban sẽ hoạt động như thế nào ? Nguyễn Thế Phương : Ủy ban Hợp tác Quốc phòng Việt Nam Hàn Quốc là một cơ quan làm cầu nối để có thể trao đổi về những nhu cầu, cũng như là những mong muốn của hai bên về hợp tác quốc phòng. Nó sẽ đẩy nhanh quá trình trao đổi thông tin, quá trình ra quyết định chính sách, quá trình tham vấn chính sách giữa hai bên để có được những quyết định phù hợp, không những trong mua sắm vũ khí, khí tài, mà còn trong hợp tác những vấn đề an ninh khác, ví dụ như là những vấn đề phi truyền thống hay là những hợp tác ngoại giao quốc phòng, chia sẻ thông tin… Nói tóm lại, ủy ban này là một cơ chế song phương mang tính kết nối - coordination để hai bên đẩy mạnh hơn nữa hợp tác quốc phòng, vốn dĩ là sắp tới cộng với việc hai bên đã là đối tác chiến lược toàn diện rồi, thì ngoài kinh tế, tài chính, đầu tư - FDI, thì quốc phòng sẽ là một trong những trụ cột mới trong quan hệ hợp tác song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc. RFI Tiếng Việt xin trân thành cảm ơn anh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc. 

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Từ "Napalm Girl" đến "The Stringer": Tranh cãi về bức ảnh biểu tượng cho chiến tranh Việt Nam

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Sep 8, 2025 9:54


Những tranh cãi xung quanh bức ảnh nổi tiếng “Napalm Girl” ( Em bé Napalm ) đã bùng lên kể từ khi một bộ phim được chiếu tại Mỹ khẳng định tác giả của bức ảnh này không phải là Nick Ut mà là một người khác. Trong suốt 53 năm qua, bức ảnh “Napalm Girl”, còn được biết dưới cái tên "Terror of war" ,vẫn được xem là biểu tượng cho sự tàn khốc của chiến tranh Việt Nam. Bức ảnh được chụp ngày 08/06/1972 tại Trảng Bàng khi máy bay của không quân Việt Nam Cộng Hòa ném bom napalm nhầm mục tiêu vào một thánh thất Cao Đài nơi mà một nhóm phụ nữ và trẻ em lúc đó đang trú ẩn. Trong ảnh, người ta thấy Kim Phúc, một cô bé 9 tuổi, bị bỏng nặng, thân thể lõa lồ vì quần áo bị cháy hết, cùng với một số trẻ em, từ làng Trảng Bàng vừa chạy vừa la khóc đau đớn, hoảng loạn trên quốc lộ, trước khi bất tỉnh và được đưa vào bệnh viện.   Chính nhờ bức ảnh này mà ông Nick Ut, một phóng viên nhiếp ảnh trẻ làm việc cho hãng tin Mỹ AP ở Sài Gòn lúc ấy, trở nên nổi tiếng thế giới: Ngay ngày hôm sau “Napalm Girl” được đăng trên trang bìa của New York Times, gây chấn động dư luận quốc tế. Tác giả của bức ảnh ngay năm đó được trao Giải Pulitzer về báo chí. Sang năm 1973, tổ chức World Press Photo ( Giải Báo ảnh Thế giới ) đã trao giải “Bức ảnh của năm” cho “Napalm Girl”. Thế nhưng, ngày 16/05/2025,  World Press Photo lại thông báo tạm ngưng ghi tên tác giả của bức ảnh “Napalm Girl” là Nick Ut sau khi một bộ phim tài liệu của đạo diễn Mỹ gốc Việt Bảo Nguyễn tựa đề “The Stringer: The Man Who Took The Photo”, được trình chiếu lần đầu tiên tại Liên hoan phim Sundance ngày 25/01/2025. Các tác giả của  bộ phim khẳng định, sau nhiều năm điều tra, thật ra tác giả của bức ảnh ”Napalm Girl” không phải là Nick Ut, mà là ông Nguyễn Thành Nghệ, được giới thiệu là một “nhà báo tự do” (a stringer).  Bộ phim dựa trên cuộc điều tra của nhà báo Mỹ Gary Knight về tuyên bố vào năm 2022 của Carl Robinson, một nhân viên của hãng tin AP ở Sài Gòn năm 1972. Theo Robinson, ông đã được Horst Faas, trưởng bộ phận ảnh của AP tại Sài Gòn vào thời điểm đó, ra lệnh phải ghi Nick Ut là tác giả bức ảnh, vì Nick Ut là phóng viên chính thức của hãng tin. Bộ phim phỏng vấn rất nhiều người, trong đó có một số phóng viên có mặt tại Trảng Bàng ngày 08/06/1972, nhưng lại không hỏi hai nhân vật chính trong câu chuyện này là Nick Ut (hiện sống tại Mỹ) và bà Kim Phúc (hiện sống ở Canada).  Sau một cuộc điều ra riêng của World Press Photo, giám đốc điều hành World Press Photo, Joumana El Zein Khoury, đưa ra một tuyên bố vào tháng 5: "Mức độ nghi ngờ quá lớn để duy trì việc ghi nhận tên tác giả như hiện tại". Tuy nhiên, World Press Photo cũng không ghi lại tên tác giả bức ảnh. Theo trang mạng PetaPixel, ông Bảo Nguyễn, đạo diễn phim "The Stringer" đã hoan nghênh quyết định của Worlfd Press Photo. Đạo diễn phim đã viết vào tháng 5: "Những phát hiện của họ kết luận rằng, dựa trên các bằng chứng hình ảnh và kỹ thuật hiện có, Nguyễn Thành Nghệ, một nhiếp ảnh gia người Việt Nam lâu nay bị lãng quên, dường như có nhiều khả năng là người chụp bức ảnh này hơn Nick Ut. Việc xem xét lại này một phần được thúc đẩy bởi bằng chứng được trình bày trong "The Stringer", một bộ phim tài liệu điều tra do tôi đạo diễn với sự hợp tác chặt chẽ của một nhóm các nhà báo và đoàn làm phim, nhiều người trong số họ là người Việt Nam.Sự công nhận này có ý nghĩa sâu sắc đối với tất cả chúng tôi, những người tham gia. Nhưng trên hết, nó đại diện cho bước đầu tiên quan trọng trong việc ghi nhận người mà chúng tôi tin là đã thật sự chụp bức ảnh đó: Nguyễn Thành Nghệ. Chúng tôi hy vọng thế giới sẽ biết đến và gọi tên ông ấy". Ông Bảo Nguyễn còn khẳng định rằng "The Stringer" không phải là một bộ phim về Nick Ut, mà là một cuộc khám phá sự thật, ký ức và "gánh nặng thầm lặng của một người đàn ông đã mang trong mình một bí mật hơn năm mươi năm". Ngay sau khi được trình chiếu, bộ phim đã gây tranh cãi rất nhiều trong giới phóng viên nhiếp ảnh quốc tế, nhiều người tin vào những khẳng định trong phim “The Stringer”, nhưng cũng có nhiều người nghi ngờ tính xác thực của bộ phim. Về phần mình, ngay trước khi "The Stringer" được trình chiếu lần đầu tiên, hãng tin AP đã bác bỏ những khẳng định trong bộ phim và đã tiến hành các cuộc điều tra riêng để đi đến kết luận là không có lý do gì để thay đổi tên tác giả của bức ảnh “Napalm Girl”. Ngay sau khi World Press Photo đình chỉ quyền tác giả của Nick Ut cho bức ảnh "Em bé Napalm", ba nhân vậy nguyên là chủ tịch và giám khảo của World Press Photo đã viết một bức thư ngỏ bày tỏ sự thất vọng trước quyết định của tổ chức này và yêu cầu World Press Photo khôi phục quyền tác giả của Nick Ut. Tính đến đầu tháng 6, 400 nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp đã ký vào bức thư đó. Mặc dù không nêu rõ ai là người chụp bức ảnh nổi tiếng “Napalm Girl”, bức thư ngỏ cho là "vẫn chưa có đủ bằng chứng không thể chối cãi" để có thể kết luận đó không phải là ảnh do Nick Ut chụp.  Cũng nhằm biểu thị sự ủng hộ đối với Nick Ut trong vụ này, năm nay ban tổ chức Liên hoan Ảnh Báo chí Thế giới "Visa pour l'image" tại thành phố Perpignan của Pháp, mà giám đốc là ông Jean - François Leroy, ngay từ tháng 5 đã mời ông đến dự.  Trả lời RFI Việt ngữ ngày 02/09/2025 tại Perpignan nhân Liên hoan Visa pour l'image, ông Nick Ut cho biết:  “Họ đã mời tôi cách đây mấy tháng rồi. Nhân dịp này tôi vừa tới thì gặp ông Jean - François Leroy hôm qua. Ông rất mừng khi gặp lại tôi và ông nói: “Chúng tôi ủng hộ Nick Ut trong vụ bức hình Em bé Napalm”. Họ rất là phản đối, bởi vì bức ảnh “Em bé Napalm” đã từng được nói rất nhiều tại Pháp, nhất là tờ báo Paris Match đã từng sử dụng bức hình này rất nhiều. Cách đây ba mươi mấy năm, Visa pour l'image cũng đã từng mời tôi tới đây và tôi đã gặp những phóng viên nổi tiếng, họ luôn luôn ủng hộ tôi. Khi bức hình đó được làm thành phim “The Stringer”, họ rất bực tức và phản đối luôn cả World Press rất nhiều. Cách đây hơn một năm tôi đã nghe câu chuyện đó. Sau đó phim thành hình là phim “The Stringer”. Tôi cũng đã coi phim đó rồi. Phim hoàn toàn là không đúng sự thật, bởi vì họ nói ảnh đó là tôi lấy của một người làm cho NBC. Thật ra ông ấy không phải là nhà báo, mà là một tài xế được mướn mấy tiếng đồng hồ một ngày thôi. Báo chí Việt ngữ nói ông ấy là một nhà báo làm cho đài truyền hình là không đúng sự thật, tại vì tất cả những người Việt Nam làm cho báo Mỹ trong thời chiến tranh tôi đều biết hết.  Tôi được người bạn từ bên Úc gọi tôi một cái message ( tin nhắn ) nói rằng ông Nghệ không có làm báo gì hết. Ông ấy đi du học ở tại Mỹ năm 63 vào thời ông Diệm, học một khóa học về truyền hình tại New Jersey, nhưng thật sự là học làm tình báo. Khi trở về Việt Nam, ông là sĩ quan Việt Nam dưới chính quyền Sài Gòn, chuyên đi khai thác tù binh. Vào ngày 08/06/1972 ở  Trảng Bàng, ông ấy đứng nhìn vào máy hình để bắt những tù binh của Cộng sản về điều tra. Người bạn tôi cho biết là trước khi mất nước năm 75, ông Nghệ đã được tòa đại sứ Mỹ đưa đi trước một tháng. Chỉ có những người nhân viên mật vụ của Mỹ mới được đi sớm. Ông này chưa làm nhà báo bao giờ! Ông chỉ là một tài xế lái xe chở những người của đài truyền hình cameraman, soundman đi Trảng Bàng hôm đó. Tôi cũng không ngờ 53 năm bây giờ mới đem câu chuyện này ra. Những người làm trong AP với tôi tại sao năm mươi mấy năm trước không tố cáo, đợi bây giờ mới tố cáo chuyện này? Trong lúc những người làm việc của AP tới nay vẫn còn tố cáo ông Robinson. Họ nói: "Anh em làm việc chung với mà tại sao ông lại nói Nick Ut như vậy?"  Vào dịp kỷ niệm 50 năm ( chấm dứt chiến tranh Việt Nam ), cũng có một cô giám đốc của AP tới dự lễ ở Sài Gòn. Cô đã nói thẳng với ông Carl Robinson: "Nick Ut có làm gì ông đâu mà ông tố cáo ông ấy ăn cắp hình này kia?" Ông không trả lời gì hết. Trong bộ phim, họ khẳng định là khi xảy ra vụ ném bom ở Trảng Bàng, từ cái góc đang đứng thì ông không thể chụp được bức hình "Em bé Napalm" nổi tiếng đó.  Một người phóng viên thì không phải đứng một chỗ, tôi phải chạy cùng hết. Khi thấy bom nổ, tôi chụp bằng ( ống kính ) tele ( chụp từ xa ). Sau khi cô Kim Phúc bắt đầu chạy ra với mấy đứa em cùng với quân đội Việt Nam Cộng Hòa thì tôi chạy tới chụp hình đó, rồi tôi chạy thụt lùi lại. Tôi chạy cùng hết, bởi vì tôi biết là Kim Phúc sẽ tới chỗ nào để mà ngừng lại Những hình ảnh đó sẽ được chiếu thứ sáu tuần này ( 05/09/2025 ) tại Visa pour l'image, hàng chục tấm hình tôi đều có. Ông tài xế ông nói ông có một bức hình mà hình của ông ấy bây giờ ở đâu, phim của ông ấy đâu? Không bằng chứng gì hết! Lúc tôi về hãng AP để tráng phim, tôi không phải là người tráng phim, mà do một người Nhật tráng phim thành ảnh. Lúc đó tôi rất là bận với phỏng vấn của hãng AP và sau đó tôi đi về để đợi quay trở lại Trảng Bàng sáng sớm hôm sau cùng với ông giám đốc của tôi và một người reporter. Ngày hôm sau, tôi tới đó khoảng 8 giờ sáng thì gặp bố mẹ Kim Phúc đang chạy trên quốc lộ đi tìm con. Tôi chụp hình cha mẹ đang chạy đi tìm thì tôi mới hỏi: “ Bà kiếm ai?” Bà nói là đang tìm một đứa con gái mà hôm qua đến nay không có tin tức". "Con tên gì?" "Tên là Kim Phúc". "Con bà tôi đã đưa bệnh viện rồi, không biết còn sống hay chết, bởi vì cô đã bị cháy phỏng hết rồi". Hai vợ chồng nhảy lên xe đò chạy về Củ Chi để vô thăm con. Bức hình quá nổi tiếng, cho nên Kim Phúc chỉ nằm trong bệnh viện có mấy tiếng đồng hồ thì được đưa về bệnh viện Sài Gòn ngay. Sau khi bức hình được đăng lên báo trên toàn thế giới, chính phủ Mỹ yêu cầu tất cả bác sĩ cố cứu sống Kim Phúc. Lúc đưa vô bệnh viện thì họ nghĩ là Kim Phúc sẽ chết, nên để cô nằm chung với mấy người đã chết rồi. Khi thấy cô còn tỉnh họ mới đưa về bệnh viện Sài Gòn cứu cấp  . Những nhân chứng của tôi trong trận Trảng Bàng mà còn sống thì bây giờ có ông Dave Burnett và những người phóng viên đã làm cho báo New York Times. Họ đã lên tiếng rất nhiều.   Thế còn cô Kim Phúc, "Em bé Napalm" trong bức ảnh, có đã lên tiếng về vụ này chưa? Cô đã lên tiếng rất nhiều. Cô khóc và nói: “Tại sao chú tôi chụp hình tôi và  đưa tôi vô bệnh viện mấy chục năm nay không ai nói về bức hình đó, tại sao bây giờ tố cáo chú Nick Ut của tôi?” Cô đã đưa lên Facebook hết rồi chứng nhận "chú tôi đã chụp hình và đưa tôi đi bệnh viện. Đã mấy chục năm chú tôi lúc nào cũng gọi điện thoại thăm mỗi tuần”. Tôi sẽ gặp lại cô Kim Phúc tại Washington ngày 09/09. Về quyết định của World Press Photo liên quan đến tác giả  bức ảnh "Napalm Girl" này thì ông có nhận định như thế nào?  Thật ra tôi không có bao giờ để ý chuyện đó, bởi vì hình đó là của AP. Là một hãng lớn nhất thế giới,  AP lúc nào cũng ủng hộ, họ đã tuyên bố đã đi điều tra lâu lắm rồi. Sau khi nghe tin về vụ làm phim họ đã phỏng vấn tôi trong một ngày. Sau đó họ đưa tin đến tất cả các hãng thông tấn nước ngoài để nói hình đó là của Nick Ut và AP vẫn ủng hộ tôi.  Khi làm phim The Stringer, họ không hề phỏng vấn tôi về chuyện này. Diễn viên Đỗ Yến ở thành phố Hồ Chí Minh, là bạn thân tôi của tôi, đã có mời Bảo Nguyễn tới một bữa cơm cùng nhiều đạo diễn Việt Nam. Thật sự tôi lúc tôi không quen biết (những người đó ), tôi chỉ ngồi nói chuyện, chào hỏi sơ qua. Tôi không ngờ những người đó đã âm thầm làm phim về tôi.  Như vậy sắp tới đây ông sẽ có những hành động gì để chống lại những khẳng định đó? Bây giờ tôi có hai luật sư. Luật sư của tôi bên Mỹ và luật sư tại Paris. Họ sẽ đưa bộ phim ra tòa, hy vọng là phim này sẽ bị hủy bỏ. Đạo diễn phải rút lại bộ phim đó. Bởi vì người bỏ tiền ra làm phim đó là ông Gary Knight. Chúng tôi đã làm việc với nhau tại Hà Nội cách đây ba năm. Tôi không ngờ người bạn mà tôi mới biết đây tự nhiên đi làm phim để tố cáo tôi. Trả lời qua email trong cuộc trả lời phỏng vấn độc quyền với BBC ngày 17/5, ông Nguyễn Thành Nghệ đã khẳng định ông không phải là lái xe làm việc cho đài NBC mà là một phóng viên tự do, đi cùng anh rể là Trần Văn Thân, người làm việc cho NBC. Vào ngày 8/6/1972, NBC khi ấy đang không có tài xế trong khi ông có bằng lái nên đã tình nguyện chở nhóm phóng viên đến hiện trường và hôm đó ông mang theo duy nhất một chiếc máy ảnh Pentax. Thật ra, chính hãng tin AP cũng đã nhìn nhận "cuộc điều tra của chúng tôi đặt ra những câu hỏi quan trọng mà có thể chúng tôi sẽ không bao giờ có thể trả lời được",  "hơn năm mươi năm đã trôi qua, nhiều người liên quan đã qua đời, và công nghệ có giới hạn của nó". Theo hãng thông tấn Mỹ, "có nhiều khả năng" là bức ảnh được chụp bằng máy ảnh Pentax, trong khi Nick Ut đã tuyên bố trong một số cuộc phỏng vấn rằng ông sử dụng hai máy ảnh Leica và hai máy ảnh Nikon vào hôm đó. AP cho biết thêm: "Câu chuyện là Ut đã chụp bức ảnh bằng máy ảnh Leica. Cuộc điều tra của AP cho thấy điều đó rất khó xảy ra. Nhưng Nick Ut cũng sử dụng các máy ảnh khác, bao gồm cả máy ảnh Pentax thừa hưởng từ người anh trai quá cố của ông". Tranh cãi có thể sẽ còn kéo dài, nhất là vì, theo thông báo của các nhà sản xuất và đạo diễn, hãng Netflix vừa mua lại bộ phim "The Stringer" và sẽ chiếu trên nền tảng của họ trong năm nay. Tuy nhiên, Netflix hiện chưa đưa ra thông báo chính thức về vụ này.  

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Việt Nam: Thuế "trung chuyển" của Mỹ gây khó khăn cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Aug 18, 2025 9:07


Thuế đối ứng 20% của Hoa Kỳ đối với hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ đã bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 07/08/2025. Thật ra, theo bộ Công Thương, trong thời gian tới, Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục đàm phán về thỏa thuận “thương mại đối ứng” và Hà Nội vẫn hy vọng sẽ được hưởng một mức thuế thấp hơn.  Trước mắt, một số các chuyên gia nhận định mức thuế 20% cho hàng hóa Việt Nam là cao hơn so với một số nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Cam Bốt, Indonesia, Malaysia, Philippines (19%), nhưng đây vẫn là mức thuế "tương đối phù hợp" trong bối cảnh Việt Nam là nước đứng đầu Đông Nam Á về xuất khẩu vào Hoa Kỳ và có mức thặng dư thương mại lớn thứ tư với Hoa Kỳ. Tuy vậy, theo chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại từ Hà Nội, mức thuế 20% vẫn bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam:  “Mức thuế 20% này là vẫn rất bất lợi so với một số nước khác được mức thuế 19% hay là 15%, cho nên nó ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các hàng hóa Việt Nam và kết quả là xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã chậm lại và giảm sút khoảng hơn 20%.Theo tôi, những mặt hàng bị tác động bao gồm may mặc, da giày và kể cả một số mặt hàng đồ gỗ. Nếu như tình hình tiếp tục như thế này, các nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ phải tìm cách đa dạng hóa các thị trường và tìm các biện pháp để có thể tiếp tục duy trì sản xuất và xuất khẩu của mình và tìm cách né tránh thuế 20% này. Hiện nay Việt Nam đang cố gắng tìm cách mở rộng thị trường ở Trung Đông và tìm kiếm những thị trường ở Châu Phi, đồng thời muốn phát triển những thị trường khác tuy nhỏ nhưng hy vọng là sẽ vẫn có thể đón nhận được hàng hóa của Việt Nam một cách thuận lợi. Tình hình đó đối với sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam, nhất là đối với những doanh nghiệp trung bình và nhỏ, đang gây khá nhiều khó khăn. Những doanh nghiệp đó chắc là sẽ phải tìm cách kết nối với các doanh nghiệp lớn hơn, để có thể tiếp tục tồn tại. Có nghĩa là họ có lẽ sẽ phải, nhiều hay ít,  thay đổi sản phẩm của họ và tìm kiếm những đối tác mới.” Riêng về thủy sản, một trong những mặt hàng chủ yếu xuất khẩu sang Hoa Kỳ, theo dự báo của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), do mức thuế đối ứng 20% của Hoa Kỳ, tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam năm 2025 sẽ chỉ là khoảng 9 tỷ đôla, giảm gần 10% so với năm 2024. Nhưng vấn đề lớn hơn, có thể ảnh hưởng đến cả đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đó là mức thuế 40% mà chính quyền Trum áp dụng đối với những hàng hóa “trung chuyển”, chủ yếu là hàng có nguyên liệu, linh kiện từ Trung Quốc nhưng được sản xuất ở Việt Nam để được dán nhãn, nhằm né thuế quan của Mỹ. Chỉ có điều cho tới nay phía Mỹ vẫn chưa đưa ra một định nghĩa rõ ràng thế nào là hàng “trung chuyển”. Chuyên gia Lê Đăng Doanh giải thích: “Hiện nay, thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kỳ và thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc. Mỹ xem xét những mặt hàng gọi là “trung chuyển” dựa trên tỷ lệ giá trị gia tăng của sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam. Nếu như Việt Nam cố gắng gia tăng được tỷ lệ đó, để các hàng hóa đó không còn bị xem là hàng hóa trung chuyển, mà là hàng hóa sản xuất tại Việt Nam, thì có thể giảm được mức thuế 40% này. Còn mức thuế 40% này rất bất lợi đối với hàng hóa của Việt Nam bị gọi là trung chuyển. Rất nhiều sản phẩm của các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào Việt Nam nhưng lại nhập khẩu các linh kiện từ các nhà sản xuất cũng của hãng ấy tại Trung Quốc, mà những đầu tư của họ vào Trung Quốc thì có quy mô rất lớn. Vì vậy, ví dụ như trong một điện thoại của hãng Samsung sản xuất tại Việt Nam, tỷ lệ phụ thuộc vào các linh kiện nhập khẩu từ cơ sở của Samsung ở Trung Quốc là không nhỏ. Cho nên vấn đề ở đây là phải hợp tác với các nhà đầu tư, với các nhà xuất khẩu, để nâng cao tỷ lệ sản xuất tại Việt Nam, nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng trong các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam, kể cả các sản phẩm gọi là “made in Việt Nam” nhưng tỷ lệ giá trị gia tăng thì còn tương đối thấp và rất có thể sẽ bị Mỹ xếp vào loại hàng trung chuyển và chịu mức thuế cao. Mức thuế này dĩ nhiên là một tín hiệu rất là quan trọng. Các nhà đầu tư nước ngoài, cũng như các nhà xuất khẩu của Việt Nam đang phải xem xét các phương án đa dạng hóa những nguồn linh kiện và sản phẩm, để có thể giảm bớt việc chịu thuế trung chuyển 40% này. Biện pháp quan trọng nhất là nâng cao chất lượng của các doanh nghiệp hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài, các nhà xuất khẩu nước ngoài. Chúng ta phải tiến tới một  trình độ công nghệ cao hơn, một trình độ chất lượng sản phẩm cao hơn và có những nguồn nhân lực chất lượng cao hơn, am hiểu về chuyển đổi số, về thị trường nước ngoài. Với nỗ lực đa dạng như vậy, tôi hy vọng là Việt Nam trong một thời gian nhất định sẽ cố gắng vươn lên để giảm bớt tỷ lệ những mặt hàng bị xếp là trung chuyển.” Trang mạng Luật Khoa tạp chí ngày 12/08 ghi nhận: “Sự mơ hồ của chính sách thuế quan mới từ Mỹ, khi chưa có định nghĩa rõ ràng về dạng hàng hóa “trung chuyển” cũng khiến các doanh nghiệp FDI ( đầu tư nước ngoài ) lo ngại và phải tìm những giải pháp phòng ngừa từ xa. Một số doanh nghiệp đã bắt đầu lựa chọn phương thức thu hẹp quy mô sản xuất. Một số khác lại dần di chuyển chuỗi cung ứng ra khỏi Việt Nam. Những điều này đã phơi bày những điểm yếu trong cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam, cho thấy nền kinh tế Việt Nam đặc biệt dễ bị tổn thương trước những biến động của chính sách thương mại toàn cầu.” Tác giả bài viết giải thích: “Việt Nam là nền kinh tế phụ thuộc hơn 70% giá trị xuất khẩu vào các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI). Chưa kể là ngành sản xuất trong nước phải lệ thuộc phần lớn nguồn nguyên liệu nhập khẩu, mà trong đó khoảng 80% đến từ Trung Quốc. Trong khi đó, tỷ lệ hàng thực sự đạt tiêu chí nội địa hóa, tức là do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ hoàn toàn công nghệ và dây chuyền sản xuất, chỉ dừng lại ở mức 5 – 10% trong giá trị hàng hóa xuất khẩu. Do vậy, nếu hàng hóa trung chuyển được hiểu là những hàng hóa do doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn làm chủ quá trình sản xuất, thì hầu như hàng Việt Nam xuất đi các nước, không riêng gì Mỹ, chỉ là hàng trung chuyển. Tính không rõ ràng trong cách định nghĩa hàng hóa “transshipment” của Mỹ đang làm tê liệt quá trình ra quyết định của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Hay nói khác đi, trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực nâng cấp chuỗi giá trị và thu hút các dự án FDI chất lượng cao, sự mơ hồ trong chính sách thương mại của Mỹ có thể trở thành một rào cản không hề nhỏ.” Thế nhưng, thuế “trung chuyển” của chính quyền Trump hiện giờ có vẻ không ảnh gì đến đầu tư của Trung Quốc ở Việt Nam, theo ghi nhận của hãng tin Bloomberg. Trong khi Trung Quốc phải đối mặt với mức thuế khoảng 55%, Việt Nam, chịu mức thuế 20%, vẫn được xem là tương đối an toàn. Nhà phân tích Steven Tseng của Bloomberg Intelligence cho biết: "Việt Nam vẫn đang ở vị thế tương đối thuận lợi. Mặc dù mức thuế 20% không phải là mức thấp nhất, nhưng nó không nhất thiết làm giảm khả năng cạnh tranh do Việt Nam có lợi thế về chi phí, cơ sở công nghiệp đã được thiết lập và có vị trí địa lý gần Trung Quốc. Việc các nhà sản xuất Trung Quốc chuyển sang Việt Nam vẫn là điều hợp lý."  Hãng tin Bloomberg nhắc lại: Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Theo số liệu của chính phủ Việt Nam, đầu tư từ Trung Quốc và Hồng Kông trong nửa đầu năm nay đã tăng 23% so với cùng kỳ năm ngoái, lên 3,6 tỷ đô la. Trong quý II, sau khi tổng thống Trump công bố mức thuế quan đối với thế giới, con số này đã tăng 24% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, các quan chức tại Hà Nội cũng thừa nhận rằng thuế quan có thể ảnh hưởng nặng nề đến xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ, và ngành công nghệ đặc biệt dễ bị tổn thương. Theo một đánh giá nội bộ của chính phủ ngày 11/0 7, lượng hàng xuất khẩu sang Mỹ có thể giảm tới một phần ba và xuất khẩu công nghệ có thể giảm khoảng 15 tỷ đôla. 

TẠP CHÍ VIỆT NAM
EU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ?

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Aug 11, 2025 9:48


Ngày 01/08/2025, cùng ngày Mỹ công bố mức thuế đối ứng đối với 69 quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt Nam và Liên Hiệp Châu Âu kỷ niệm tròn 5 năm Hiệp định Tự do Thương mại - EVFTA - có hiệu lực. Hoa Kỳ luôn là thị trường lớn nhất cho cả hai bên, nhưng những mức thuế quan do tổng thống Donald Trump áp đặt buộc các đối tác, trong đó có Việt Nam và Liên Hiệp Châu Âu, phải đa dạng hóa thị trường, giảm bớt phụ thuộc xuất khẩu sang Mỹ. Mức thuế đối ứng áp dụng cho Việt Nam, từ 46% xuống còn 20%, đã có hiệu lực từ ngày 07/08. Theo tính toán của nhóm nghiên cứu Ban Tài Khoản Quốc Gia, được ông Lê Trung Hiếu, phó cục trưởng Cục Thống Kê (Bộ Tài Chính) trích dẫn (1), mức thuế 20% này sẽ tác động làm giảm 11-12 tỷ đô la trị giá hàng xuất khẩu vào Mỹ (tương đương khoảng 9-10% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa). Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Điều này được tái khẳng định qua số liệu thống kê hải quan Mỹ trong 5 tháng đầu năm 2025 : Trao đổi thương mại song phương đạt 77,4 tỷ đô la, tăng 36,5% so với cùng kỳ năm 2024. Đối với Liên Hiệp Châu Âu, Việt Nam là đối tác thương mại hàng đầu ở ASEAN và là đối tác đứng thứ 16 trên toàn cầu, với tổng kim ngạch thương mại song phương tích lũy gần 300 tỷ đô la trong 5 năm hiệp định EVFTA có hiệu lực (2). Cùng chịu sức ép về thuế quan của Mỹ, Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam có thể tận dụng Hiệp định Thương mại Tự do - EVFTA như thế nào ? Ông Jean-Jacques Bouflet, phó chủ tịch Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam - EuroCham, trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 08/08/2025. RFI : Bộ Công Thương Việt Nam đã công bố mức thuế 20% mà Hoa Kỳ áp dụng đối với hàng hóa Việt Nam. Xin ông cho biết phản ứng của EuroCham và các thành viên ? Liệu đây có phải là một bất lợi cho Việt Nam, trong bối cảnh cạnh tranh với các nước láng giềng ASEAN (chịu mức thuế 19%) đang rất căng thẳng ? Jean-Jacques Bouflet : Đúng là có phần nhẹ nhõm vì mức thuế đó xa với mức 46% được công bố ban đầu. Nhưng rõ ràng đây là một bất lợi. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất, đó là mức độ cạnh tranh tương đối với các nước láng giềng trong khu vực. Chênh lệch 20%, 19%, không thực sự đáng kể, và tôi nghĩ Việt Nam có nhiều biên độ cạnh tranh và năng suất cho phép vượt qua bất lợi này. Dù sao thì đó vẫn là một bất lợi, nhưng tôi không nghĩ là sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho xuất khẩu, trong khi mức thuế 46% có lẽ sẽ gây bất lợi lớn cho hoạt động sản xuất. Tôi nghĩ là Việt Nam sẽ có thể đối phó được. Đọc thêmViệt Nam sẵn sàng nhập thêm nông sản Mỹ để đối phó với chính sách thuế quan mới của TT Trump RFI : Tháng 04, khi tổng thống Mỹ thông báo mức thuế đối ứng 46% đối với Việt Nam, EuroCham tiến hành một cuộc thăm dò, theo đó 25% các công ty châu Âu hoạt động tại Việt Nam cảm thấy hoạt động kinh doanh của họ bị đe dọa và 20% dự đoán doanh thu sẽ giảm. Mức thuế hiện tại là 20% sẽ tác động đến các doanh nghiệp này như thế nào ? Jean-Jacques Bouflet : Đúng vậy. Mức thuế 46% sẽ rất khó khăn. 20% thì khả thi. Tuy nhiên, tôi muốn lưu ý là có hai mức thuế khác nhau. Mức thuế 20% được áp dụng cho các sản phẩm có nguồn gốc Việt Nam. Ngoài ra còn có mức thuế 40% nổi tiếng, mà Mỹ gọi là “trung chuyển” (transshipment). Theo thuật ngữ hải quan Hoa Kỳ, “trung chuyển” không chỉ đơn giản là dỡ hàng từ một phương tiện vận chuyển hay từ một hình thức vận chuyển này sang một phương tiện hoặc hình thức vận chuyển khác, mà chủ yếu là sự thay đổi nguồn gốc ở nước cuối cùng. Nói cách khác, nếu quyết định đánh thuế hàng “trung chuyển” được sử dụng để áp đặt một hàm lượng nội địa tối thiểu đáng kể, thì có nghĩa là để ngăn chặn nhập khẩu nguyên liệu từ các nước thứ ba, ý tôi muốn nói ở đây là Trung Quốc chẳng hạn. Đọc thêmBị Mỹ đánh thuế 46% : Việt Nam trả giá vì làm “sân sau” cho Trung Quốc ? Việc này có lẽ sẽ là một vấn đề lớn đối với phần lớn lĩnh vực sản xuất của Việt Nam. Tôi lấy ví dụ về ngành dệt may ở Việt Nam, một phần rất lớn vải vóc là được nhập khẩu từ Trung Quốc. Vì vậy, mức thuế 40% đánh vào hàng “trung chuyển” này sẽ mang tính quyết định cho khả năng tiếp tục phát triển của ngành công nghiệp ở Việt Nam, bởi vì hiện tại, Việt Nam không thể bảo đảm sản xuất được 100% hoặc 80% sản lượng nội địa, có thể là trừ sản xuất nông nghiệp. RFI : Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam có Quy định Xuất xứ. Các doanh nghiệp châu Âu cũng gặp vấn đề tương tự. Tuy nhiên quy định về xuất xứ của Mỹ sẽ tác động như thế nào đến hoạt động của các doanh nghiệp châu Âu ở Việt Nam ? Jean-Jacques Bouflet : Trong khuôn khổ EVFTA, chúng tôi có các tiêu chuẩn quy tắc xuất xứ quy ước, xuất phát từ Tổ Chức Thương Mại Thế Giới - OMC/WTO và đã được đàm phán trong khuôn khổ này. Đúng là việc ngành công nghiệp Việt Nam không hoàn toàn tự chủ, và kết hợp một số lượng nguyên vật liệu đầu vào nhất định từ các nước thứ ba, đặc biệt là từ Trung Quốc, tạo ra một khó khăn, nhưng không phải là không thể vượt qua được. Vấn đề ở chỗ là với định nghĩa mới về “trung chuyển” - chúng ta hãy thử thử hình dung là sắp tới Mỹ yêu cầu 40% giá trị gia tăng (nguyên vật liệu đầu vào của hàng hóa) phải thuộc về nội địa, thì Việt Nam sẽ rất khó xuất khẩu hàng dệt may hoặc giày dép. Điều này hơi khác một chút trong khuôn khổ trao đổi với Liên Hiệp Châu Âu, bởi vì chúng tôi có các quy tắc của OMC. Đó là những quy tắc được đàm phán trong khuôn khổ của hiệp định song phương và đã được ghi nhận, đàm phán, do đó có thể dự đoán được, trong khi ở đây (với Mỹ), không ai biết điều gì sẽ xảy ra. Hơn nữa, chúng ta thấy là chưa bên nào thông tin về chủ đề này. Có tin đồn rằng đàn anh Trung Quốc không mấy hài lòng và đó là một trong những lý do tại sao thỏa thuận vẫn chưa được công bố đầy đủ chi tiết, đặc biệt là về khía cạnh hàng “trung chuyển” - điều sẽ rất quan trọng đối với quá trình chuyển đổi sản xuất tại Việt Nam. Đọc thêmQuan hệ Việt-Trung trong cơn bão thuế quan Mỹ RFI : Trong khi các hành động của Hoa Kỳ đang hướng tới chiến lược thương mại đơn phương hơn, các hiệp định thương mại tự do chiếm ưu thế như thế nào, ví dụ hiệp định EVFTA giữa Liên Hiệp Châu Âu-Việt Nam ? Jean-Jacques Bouflet : Câu trả lời đã nằm trong câu hỏi. Như tôi đã đề cập, các hiệp định thương mại tự do thiết lập một khuôn khổ tin cậy, hợp lý và trên hết là có thể dự đoán được, cho phép đầu tư. Đừng quên rằng để phát triển sản xuất, cần đầu tư trong 2 hoặc 3 năm. Điều này không thể xảy ra trong một sớm một chiều, và ông Trump sẽ phải chấp nhận điều này. Chiến lược được gọi là “đơn phương” của Mỹ, trước tiên là không thể đoán trước được, đó là điều rất tệ cho đầu tư, cho việc xây dựng hoặc di dời chuỗi giá trị. Tôi nghĩ rằng các khuôn khổ ổn định và có thể dự đoán được, chẳng hạn như các hiệp định thương mại tự do, sẽ mang lại sự bền vững và đảm bảo tính lâu dài. RFI : Làm thế nào các công ty và nhà đầu tư châu Âu, hợp tác với các đối tác Việt Nam, có thể khai thác EVFTA sau 5 năm có hiệu lực để bù đắp những khó khăn do thuế quan của Mỹ gây ra ? Jean-Jacques Bouflet : Đầu tiên là phải có các điều kiện cạnh tranh công bằng. Tôi xin nhắc lại rằng Liên Hiệp Châu Âu đã chấp nhận sự bất đối xứng trong việc thực hiện EVFTA, vì Việt Nam là một quốc gia đang phát triển. Việt Nam có 10 năm để đạt được thương mại tự do hoàn toàn. Họ vẫn còn 5 năm nữa. Và có một số hàng hóa vẫn còn thuế quan đáng kể, mặc dù chúng đã bắt đầu giảm đáng kể. Nhưng vẫn còn những loại thuế, ví dụ như đối với ô tô. Tất nhiên, ô tô do Liên Hiệp Châu Âu xuất khẩu sẽ có thuế quan bằng 0 sau 9 hoặc 10 năm. Thử tưởng tượng rằng ô tô của Mỹ sẽ có thuế quan bằng 0 vào tháng 10 hoặc ngày 01/01/2026. Nếu như vậy, các điều kiện cạnh tranh sẽ không hoàn toàn công bằng, cho nên sẽ phải xem Liên Âu phản ứng như thế nào. Tôi xin nhắc lại rằng trong số các quy tắc của OMC, có một quy tắc được gọi là điều khoản tối huệ quốc và Hoa Kỳ đã nhận được những lợi thế về thuế quan ưu đãi và phân biệt đối xử. Nếu chúng không được ghi trong khổ một hiệp định thương mại tự do, thì về lý thuyết, những nước dành ưu đãi thuế quan đơn phương này cho Mỹ cũng phải mở rộng những ưu đãi đó cho tất cả các thành viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Cho nên, chúng ta cùng chờ xem. Ủy viên châu Âu Sefcovic sẽ đến Việt Nam và chúng tôi sẽ hỏi ông ấy về cách ông ấy dự định khôi phục các điều kiện cạnh tranh công bằng, đặc biệt liên quan đến các đối thủ cạnh tranh có lợi thế về thuế quan ưu đãi nằm ngoài khuôn khổ pháp lý của các hiệp định thương mại tự do của OMC. RFI : Việt Nam thấy không còn lựa chọn nào khác ngoài việc mở rộng các thị trường và tận dụng tốt hơn các hiệp định thương mại tự do. Liên Âu có thể giúp Việt Nam cải thiện năng lực cạnh tranh như thế nào ? Jean-Jacques Bouflet : Dĩ nhiên là bằng việc áp dụng hiệp định thương mại tự do. Như tôi đã nói, hiệp định thương mại tự do là một khuôn khổ ổn định và có thể dự đoán được, có thể tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư. Dĩ nhiên thuế quan đóng một vai trò then chốt, nhưng vấn đề cốt lõi vẫn là năng lực cạnh tranh quốc tế. Và để làm được điều đó, Việt Nam cần cải thiện chất lượng sản xuất, thu hút đầu tư và tiếp thu bí quyết để có thể hy vọng tìm kiếm thị trường mới. Đọc thêmEuroCham : Tinh giản hành chính nhưng cần nhanh, hiệu quả để Việt Nam tăng hấp lực Dĩ nhiên là với tình hình Mỹ hiện nay, có một sự bất ổn và khó lường nhất định, cho nên Việt Nam vừa phải có chiến lược đa dạng hóa, vừa phải tăng cường trao đổi thương mại với các quốc gia có một khuôn khổ trao đổi thương mại ổn định và có thể dự đoán được, tức là những nước có hiệp định thương mại tự do. Về năng lực cạnh tranh, như tôi đã nói, đó là đầu tư. Ở điểm này, Việt Nam vẫn còn một số việc phải làm để điều chỉnh chính sách của mình. Họ đã bắt đầu thực hiện cải cách, hiện giờ chủ yếu là ở cấp độ hành chính. Nhưng họ phải tiếp tục mở cửa cho thương mại quốc tế, cho nước ngoài. Cách tốt nhất để cải thiện năng lực cạnh tranh của mình là tự mình đối mặt với cạnh tranh quốc tế. Và đó là điều Việt Nam cần hiểu. Việt Nam cũng phải tự do hóa chính sách nhập khẩu, chính sách đầu tư để trở thành một nhân tố chủ chốt trong chuỗi giá trị toàn cầu của thương mại thế giới. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn ông Jean-Jacques Bouflet, phó chủ tịch EuroCham tại Việt Nam, phụ trách vận động chính sách. (1) Tri Thức - Znews, ngày 06/08/2025. (2) EuroCham, Thông cáo báo chí "EVFTA tròn 5 tuổi".