Podcasts about rfi ti

  • 8PODCASTS
  • 601EPISODES
  • 10mAVG DURATION
  • 5WEEKLY NEW EPISODES
  • Jun 18, 2026LATEST

POPULARITY

20192020202120222023202420252026


Best podcasts about rfi ti

Latest podcast episodes about rfi ti

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM
Chiến tranh Iran làm xoay chuyển những thế cờ chiến lược ở Trung Đông và Nam Á

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

Play Episode Listen Later Jun 18, 2026 10:07


Ngày 14/06/2026, Hoa Kỳ và Iran thông qua trung gian hòa giải Pakistan sau thông báo đạt đồng thuận chấm dứt chiến tranh Trung Đông. Hôm qua, 17/06, nguyên thủ Mỹ và Iran đã ký văn bản này. Bộ Ngoại Giao Thụy Sĩ hôm nay 18/06, cho biết hai bên sẽ bắt đầu đàm phán việc thực thi thỏa thuận vào ngày mai, 19/06, tại Lucerne, Thụy sĩ. Trả lời phỏng vấn của RFI Tiếng Việt, ngày 17/06, nhà nghiên cứu Didier Chaudet, chuyên gia địa chính trị về thế giới Ba Tư, Trung – Nam Á cho rằng vòng đàm phán sắp tới sẽ mang tính quyết định liên quan đến nhiều vấn đề. Cuộc chiến hơn 100 ngày chiến tranh giữa liên quân Mỹ - Israel và Iran đang làm chuyển dịch các thế cờ chiến lược ở Trung Đông và Nam Á.   ----- ***** ----- RFI Tiếng Việt : Xin chào ông Didier Chaudet. Ông đánh giá như thế nào về thông báo thỏa thuận giữa Mỹ và Iran ? Đó là một thắng lợi của Iran, một sự sỉ nhục cho Mỹ hay một thất bại chiến lược của Israel ? Didier Chaudet : Người ta nói rằng đó sẽ là một sự sỉ nhục đối với Hoa Kỳ hoặc một chiến thắng lớn cho Iran. Họ thường bỏ qua thực tế rằng, thực ra, Iran đã trải qua một cú sốc—một cú sốc đối với người dân, một cú sốc đối với nền kinh tế. Rồi còn có sự đoàn kết của người dân. Tất nhiên, có một mặt trận thống nhất, nhưng sự đau khổ là có thật, sự suy yếu là có thật. Quả thật, Hoa Kỳ, bị sỉ nhục trong logic về quyền lực tuyệt đối của mình, có lẽ, hoặc đúng hơn, đã phải đối mặt với một thực tế nhất định. Trên thực tế, Trump đã rơi vào cái bẫy tương tự như W. Bush, tin rằng ông có thể tấn công mà không bị trừng phạt ở bên kia thế giới. Ông nghĩ Iran là Venezuela. Thực tế đã giáng cho ông ta một cú đánh mạnh. Ông ấy nghĩ rằng mình sẽ thắng cuộc rất nhanh chóng, rằng ông sẽ thực hiện một cuộc đảo chính như những gì đã làm với Maduro ở Venezuela. Nhưng Iran không phải là châu Mỹ Latinh, và họ đã thích nghi cho phù hợp. Bởi vì khi chúng ta nói về sự sỉ nhục, chúng ta muốn nói rằng đó sẽ là một đòn giáng mạnh vào Hoa Kỳ. Điều này tương tự sau chiến tranh Irak, và sau khi Taliban trở lại Afghanistan. Xét cho cùng, chúng ta đang đối phó với một cường quốc có khả năng gây áp lực ở những nơi khác. Nước Mỹ dưới thời Trump dường như ngày càng quan tâm đến Cuba. Người ta sẽ lại nói về thuế quan, bao gồm cả rượu vang Pháp. Chúng ta có nguy cơ sẽ nghe thêm về lợi ích lãnh thổ của Mỹ ở các khu vực khác, đặc biệt là ở châu Âu. Chúng ta phải cẩn thận không được đánh giá thấp khả năng phục hồi của người Mỹ, ngay cả sau những thất bại. Hơn nữa, chúng ta thực sự không thể nói ai thắng ai thua trong cuộc chiến này. Sau lệnh ngừng bắn 60 ngày, hiện tại, chúng ta hoàn toàn không biết mọi việc sẽ diễn biến như thế nào. Cuộc chiến hơn 100 ngày giữa Mỹ và Iran đã có tác động ra sao đến vùng Trung Đông ? Didier Chaudet : Tại khu vực Vịnh Ba Tư nói riêng, chúng ta đang thấy nhiều quốc gia nhận ra rằng năng lực bảo vệ và hỗ trợ từ phía Mỹ về quân sự – kể cả từ các đồng minh như Pháp hay Anh – trên thực tế là rất hạn chế. Nói cách khác, khi đối diện với một mối đe dọa thực sự, không phải Mỹ, Pháp hay Anh sẽ đứng ra bảo vệ Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Qatar, và càng không phải Ả Rập Xê Út. Vì vậy, việc cho phép các căn cứ quân sự của Mỹ được thiết lập trong khu vực, với kỳ vọng rằng điều đó sẽ mang lại an ninh – đặc biệt là đối với Qatar và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất – ngày nay đã không còn giá trị như trước. Các quốc gia này đang xem xét lại cách thức bảo đảm an ninh của mình. Ả Rập Xê Út đã làm điều đó thông qua một thỏa thuận quốc phòng với Pakistan, một thỏa thuận thực chất, trong đó nếu một bên bị tấn công thì bên kia sẽ hỗ trợ phòng vệ. Dĩ nhiên, vẫn có một mức độ diễn giải nhất định. Hiện nay, không thấy Ả Rập Xê Út tham chiến với Taliban, dù Pakistan đang xung đột với Taliban Afghanistan. Tuy vậy, các mối liên kết rất chặt chẽ đã được thiết lập, giúp Ả Rập Xê Út tăng cường khả năng tự vệ, đồng thời gửi một thông điệp tới Iran : nếu Iran quá hiếu chiến với Riyad, Pakistan sẽ đóng vai trò hậu thuẫn mạnh mẽ hơn trước. Về phía Qatar và Kuwait, người ta cũng nhận thấy một chính sách đi theo hướng này. Trong khi đó, UAE đã lựa chọn một hướng đi khác, dựa nhiều hơn vào Israel và phần nào vào Ấn Độ. Nói cách khác, các nước này đang quay sang các tác nhân trong khu vực, đồng thời đa dạng hóa các mối quan hệ hỗ trợ để bảo vệ mình tốt hơn. Có lẽ, về lâu dài, logic chung sẽ là một chính sách đối ngoại đa hướng, thay vì phụ thuộc vào một « người bảo trợ » duy nhất; họ sẽ dựa vào nhiều lực lượng khác nhau trong quan hệ quốc tế. Tôi cho rằng điểm chung giữa Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Qatar, Kuwait và Ả Rập Xê Út là họ sẽ ngày càng trông đợi vào ảnh hưởng của Trung Quốc trong việc mang lại hòa bình cho khu vực, dù điều này có thể diễn ra một cách kín đáo. Ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ được họ mong muốn, mà không nhất thiết gạt bỏ ảnh hưởng của Mỹ. Một lần nữa, không nên đánh giá thấp siêu cường Mỹ chỉ vì nước này đã xử lý chưa tốt một số vấn đề trong cuộc chiến vừa qua. Nhưng chúng ta sẽ chứng kiến một dạng cân bằng : một bên là các cường quốc khu vực tham gia nhiều hơn như Pakistan, Israel, Ấn Độ và bên kia là sự hiện diện của các cường quốc lớn, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc, có thể thêm một phần từ Nga. Ngược lại, đối với ảnh hưởng của châu Âu như Anh hay Pháp, thì vẫn còn là một dấu hỏi lớn. Tôi không tin rằng các nước châu Âu sẽ trở nên mạnh hơn trong khu vực này sau cuộc chiến. Với việc giúp Hoa Kỳ và Iran đạt được thỏa thuận khung để bước vào vòng đàm phán mới, phải chăng Pakistan đã ghi một điểm quan trọng trên mặt trận ngoại giao ? Didier Chaudet : Tại Nam Á, bên thắng lớn là Pakistan. Bởi vì, nước này đã tham gia vào tiến trình hòa bình, bởi vì họ có khả năng đối thoại với tất cả các bên, và trên thực tế, họ là tác nhân duy nhất có thể nói chuyện với mọi phía. Iran tin tưởng Pakistan và vẫn tiếp tục tin bởi vì Pakistan không có căn cứ quân sự Mỹ trên lãnh thổ, bởi vì họ tương đối độc lập, bởi vì họ từng có những căng thẳng với Mỹ trong quá khứ, và bởi vì họ là một cường quốc khu vực thực sự, chứ không phải một lực lượng yếu thế so với sức mạnh Mỹ hay các cường quốc phương Tây. Về phía Mỹ, Washington cũng đặt niềm tin vào Pakistan, bởi vì Islamabad đã biết cách chứng minh, đặc biệt trong nhiệm kỳ thứ hai của chính quyền Trump, rằng Pakistan có thể hữu ích cho chính sách đối ngoại của Mỹ, trong lĩnh vực chống khủng bố, hay trong việc ổn định Trung Đông. Đồng thời, từ phía Islamabad cũng tồn tại một mong muốn thể hiện thiện chí với Nhà Trắng và chứng tỏ vai trò hữu ích của mình đối với sự ổn định của khu vực Trung Đông. Do đó, Pakistan nổi lên với vị thế được nâng cao về mặt ngoại giao, đồng thời cũng có cơ hội cứu vãn tình hình kinh tế của mình, bởi nước này đã chịu tổn thất nặng nề do việc eo biển Hormuz bị đóng cửa. Thắng lợi ngoại giao này của Pakistan cũng đã làm bộc lộ những sai lầm chiến lược của Ấn Độ, đối thủ của Islamabad, trong suốt cuộc chiến hơn 100 ngày ở Trung Đông ? Didier Chaudet : Về phía Ấn Độ, chúng ta đang đối diện với một câu hỏi lớn thực sự, bởi vì Ấn Độ hiện đang ở một bước ngoặt. Trong những năm gần đây, nước này đã chấp nhận xích lại gần Mỹ rất nhiều và đã phải trả giá đáng kể. Đặc biệt, Ấn Độ đã đánh mất phần nào quan hệ thân thiện với Teheran, nhất là khi tiếp tục đứng về phía Mỹ và xích lại gần Israel. Cần nhớ rằng ngay trước cuộc chiến giữa một bên là Israel và Mỹ, và bên kia là Iran, đã diễn ra chuyến thăm của thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tới Jerusalem, nhằm thể hiện mình như một đồng minh lớn của Israel. Điều này chắc chắn gây khó chịu cho Iran, trong khi nước này là đối tác then chốt của Ấn Độ nếu New Delhi muốn tránh Pakistan mà vẫn duy trì ảnh hưởng tại Nam Á, đến tận Trung Á và không gian hậu Xô Viết. Do đó, đây là một tình thế khá đặc biệt, khi Ấn Độ bắt đầu nhận ra rằng họ đã liên kết quá chặt với Mỹ, và điều đó đã làm tổn hại đến quan hệ với Iran mà không nhận được lợi ích tương xứng. Ngay trước cuộc chiến, đã xuất hiện một số căng thẳng giữa Ấn Độ và Mỹ, trong đó Washington gây áp lực buộc New Delhi ngừng mua dầu của Nga. Ấn Độ chỉ có thể tiếp tục mua dầu Nga nhờ cuộc chiến tại Iran, nhưng khi cuộc chiến này dần kết thúc, áp lực từ phía Mỹ đối với vấn đề dầu mỏ Nga có nhiều khả năng quay trở lại với Ấn Độ. Lúc này, Ấn Độ đứng trước một lựa chọn quan trọng : Liệu họ có tiếp tục chính sách liên kết chặt chẽ với Mỹ, hiện đang cho thấy những giới hạn, hay sẽ tìm kiếm một hướng đi khác ? Trong khoảng thời gian 60 ngày này, và có thể ngay sau đó, chúng ta sẽ thấy rõ hơn hướng đi mà Ấn Độ lựa chọn, tùy thuộc vào chính sách mà nước này quyết định theo đuổi. RFI Tiếng Việt xin cảm ơn nhà địa chính trị học Didier Chaudet, chuyên gia về thế giới Ba Tư, Trung và Nam Á.

TẠP CHÍ XÃ HỘI
Nghệ thuật - Liều thuốc “chữa lành” cảnh lưu đày của cựu hoàng Hàm Nghi

TẠP CHÍ XÃ HỘI

Play Episode Listen Later Jun 17, 2026 8:59


Triển lãm mang tên Hàm Nghi và “Liều thuốc” “chữa” cảnh lưu đày, là một trong những điểm nhấn tại bảo tàng Cernuschi ở Paris, Pháp, mùa hè này, diễn ra từ ngày 19/05 đến ngày 06/09/2026. Từ bức chân dung tự họa đến những cảnh xế chiều hoàng hôn, vị vua của nước An Nam bị lưu đày đến Algérie và không bao giờ trở lại quê hương đã biến nghệ thuật thành nơi trú ẩn, nơi duy nhất mà ông cảm thấy “tự do”. RFI Tiếng Việt đã phỏng vấn bà Anne Fort, giám tuyển của bảo tàng nghệ thuật châu Á ở Paris, Cernuschi, để hiểu thêm về những tác phẩm của vị vua với tư tưởng chống Pháp dưới thời thuộc địa. Những tác phẩm của ông chỉ mới được phát hiện và công bố cách nay chưa đến chục năm, hơn 80 năm sau khi ông qua đời vì bệnh dạ dày tại Algérie. Qua các tác phẩm của Hàm Nghi, liệu người ta có thể thấy được, hiểu được tình cảnh lưu đày của ông hay không ?Tại sao lại nói nghệ thuật là liều thuốc của Hàm Nghi ? Anne Fort : Trong triển lãm này, chúng tôi cho rằng việc khai thác ý niệm về tự do của Hàm Nghi là một lối tiếp cận khá thú vị, và cả cách mà ông thực hành nghệ thuật dù ông không bị bắt buộc. Ông không phải vẽ tranh để bán, để kiếm tiền.Ông được hưởng một chế độ đãi ngộ, được chính quyền Pháp chu cấp tiền bạc đều đặn, có biệt thự, có sân vườn, có thể nói là một cuộc sống khá nhàn nhã và tiện nghi. Thế nhưng, về bản chất, ông vẫn là một tù nhân chính trị bị quản thúc tại nơi cư trú, với toàn bộ thư từ đều bị bóc mở kiểm tra cho đến tận cuối đời. Cũng chính vì vậy mà cảnh lưu đầy, nỗi cô đơn có thể cảm nhận được qua phần lớn các tác phẩm của ông. Trong tất cả những bức họa tại triển lãm này, không hề xuất hiện một bóng hình nhân ảnh nào. Các bức họa phong cảnh hoàn toàn trống trải. Nhưng dấu vết của con người không biến mất hoàn toàn và vẫn thấy thấp thoáng đâu đó bóng dáng của những ngôi nhà, những hàng cây được trồng ngay ngắn, hay bờ biển với ngọn hải đăng... Tuy nhiên, tuyệt nhiên không có một bóng người nào đang sinh hoạt hay lao động thường nhật ở đó. Đây thực sự là một đặc trưng mang trong hội họa của Hàm Nghi. Phải chăng, qua những bức họa này, ông đang tự phơi trải nỗi cô đơn sâu thẳm trong tâm hồn mình? Hàm Nghi hoàn toàn không mang tư duy của một nghệ sĩ phải cống hiến hay mang lại điều gì đó cho xã hội hay cho thế giới nghệ thuật. Với ông, việc vẽ tranh là toàn tự do, là chút tự do mà ông có. Tranh của Hàm Nghi có gì đặc sắc ? Anne Fort : Hàm Nghi học vẽ từ họa sĩ Marius Renoir, nhưng các tác phẩm của ông không có nhiều dấu ấn từ họa sĩ người Pháp, với phong cách lý tưởng hóa những cảnh non nước nơi thuộc địa, như một thông điệp chính trị. Trong khi đó các tác phẩm của Hàm Nghi lại đậm dấu ấn cá nhân, chỉ riêng ông biết.   Điều thực sự cuốn hút Hàm Nghi là việc nắm bắt một cảm xúc, một rung động tại một thời khắc nhất định. Chính vì lẽ đó, ông đã tiến rất gần đến tinh thần của trường phái Ấn tượng. Tuy nhiên, ông cũng không hoàn toàn thuộc về trường phái này, bởi các họa sĩ Ấn tượng thường vẽ về cuộc sống hiện đại, vẽ những thú vui ngày Chủ nhật, những quán rượu bên sông,…, nhưng Hàm Nghi không đi theo khuynh hướng đó. Ông chỉ quan tâm đến những lát cắt của thiên nhiên, những khoảng không gian như chìm vào tĩnh lặng, nơi người ta ngỡ như chỉ còn nghe thấy tiếng chim hót líu lo lúc cuối ngày khi ánh dương dần khuất. Đó thực sự là một thế giới nghệ thuật đầy khiêm nhường và mang tính riêng tư tuyệt đối. Đọc thêm: Vua Hàm Nghi và mối duyên với thành phố Vichy, Pháp Ông cũng dành sự quan tâm đặc biệt cho những cảnh hoàng hôn, thời khắc khi trời nhập nhoạng tối. Một ngày sắp kết thúc, nhưng cũng có nghĩa là ngày mai sắp đến. Đó là khoảnh khắc đầy nỗi hoài niệm u sầu. Và điều này khiến người xem thấy chạnh lòng khi nghĩ về thân phận của Hàm Nghi, một vị cựu hoàng, bị đưa khỏi xứ sở và ở đó cho đến cuối đời, dù được bao bọc trong nhung lụa, cuộc sống thượng lưu ở Algerie. Trong triển lãm này, có tác phẩm nào đáng chú ý ? Anne Fort :Theo tôi, đó là bức vẽ cảnh hoàng hôn tại căn biệt thự Mustapha ở Alger nhìn từ xa. Đó là nơi ông sống suốt cuộc đời lưu vong. Cảnh hoàng hôn thật ấn tượng. Ông chọn kỹ thuật vẽ phấn khô (pastel sec), sử dụng giấy có màu xám xanh nhạt, và kỹ thuật này cho phép ông vẽ rất nhanh vì khoảnh khắc trong ngày vô cùng thoáng qua. Do đó, ông có thể đạt được hiệu ứng tương tự như tranh sơn dầu, nhưng cực kỳ nhanh chóng, vì ông có thể chồng các lớp màu lên nhau mà không cần chờ lớp màu bên dưới khô. Chúng ta có thể cảm nhận được rằng ông đã lấy cảm hứng từ các họa sĩ Nabi, những người chịu ảnh hưởng từ Paul Gauguin (hậu ấn tượng). Điều làm nên sự khác biệt trong tác phẩm này là ông vẫn giữ phong cách cực kỳ đơn giản trong cách thể hiện, nhưng các mảng bóng râm được làm nổi bật bằng những nét vẽ màu xanh lam đậm, ngả sang sắc tím, vô cùng mãnh liệt. Ông tạo điểm nhấn vào cỏ để tạo ra một loại chuyển động, như một làn gió nhẹ làm lay động ngọn cỏ. Ông ấy cũng nhấn thêm những đường nét gián đoạn, tạo ra một loại rung động trong bóng tối và trên cỏ, khiến mắt người xem gần như lấp lánh, giống như khi mặt trời lặn và ta không còn phân biệt rõ ràng các đường nét của vạn vật nữa. Hàm Nghi có thể được xếp vào đâu trong bản đồ lịch sử nghệ thuật Việt Nam? Anne Fort : Để định vị Hàm Nghi trong bản đồ lịch sử nghệ thuật Việt Nam quả thực là bài toán khó. Các tác phẩm của ông chỉ được công chúng biết đến cách nay vài năm nhờ các nghiên cứu của hậu duệ đời thứ Năm của ông tiến sĩ lịch sử Amandine Dabat. Ông rời Việt Nam khi 18 tuổi và ở Việt Nam, người ta biết đến ông với tư cách là một vị hoàng đế yêu nước đã phất cờ khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Nhưng công chúng không mấy ai tường tận về chương cuối cuộc đời ông, và càng ít người biết rằng ông từng vẽ tranh, từng tạc tượng. Chính vì thế, chỉ trong vài năm trở lại đây, các tác phẩm của ông được biết đến nhiều hơn, và hiện đang nhận được sự quan tâm và mến mộ rất lớn tại Việt Nam. Để trả lời cho câu hỏi nhằm định vị lại Hàm Nghi trong dòng chảy lịch sử mỹ thuật Việt Nam, thì đó là việc mà chúng tôi đang làm ngay vào lúc này. Liệu các tác phẩm nghệ thuật của ông có còn vang vọng cho đến ngày nay ? Anne Fort :Tôi tin rằng nghệ thuật của Hàm Nghi vẫn mang tính thời đại, bởi lẽ từng nét cọ đều thấm đẫm một tính cá nhân, phơi bày trọn vẹn những xúc cảm nội tại của người nghệ sĩ, khai thác đề tài vô cùng giản dị, nhưng đều có thể thể chạm đến trái tim của bất kỳ ai. Vì vậy, tôi nghĩ di sản mà ông để lại mang tính phổ quát rất cao. Bối cảnh ra đời của những bức họa này cũng lay động người xem, cho thấy sợi dây kết nối giữa hai đất nước Pháp và Việt Nam. Nó buộc chúng ta phải ngoảnh lại nhìn một giai đoạn lịch sử vô cùng đau thương, thời kỳ mà nước Pháp đã đóng một “vai phản diện” khi phế truất ông và dấn sâu vào cuộc xâm lược Việt Nam. Bởi vậy, tôi nghĩ đó là ký ức mà chúng ta có trách nhiệm phải khắc ghi. Và biết đâu, ngay cả khi đã khuất bóng, cựu hoàng Hàm Nghi vẫn đang tiếp tục cống hiến cho lý tưởng ấy, để nỗ lực vun đắp và thúc đẩy hòa bình giữa hai quốc gia.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Việt Nam : Mắt xích quan trọng trong chiến lược thay đổi quốc phòng của Nhật Bản

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Jun 15, 2026 10:02


Tháng 04/2026, Nhật Bản “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng” để xây dựng chiến lược quốc phòng mới, trong đó có mục đích mở rộng hoạt động xuất khẩu sang cả các loại vũ khí sát thương. Một cơ chế mới cũng đã được thành lập - Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA) - nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và trang thiết bị quốc phòng. Và Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên trong chương trình OSA. Những thay đổi mới trong chính sách quốc phòng của Nhật Bản có tạo thêm những cơ hội mới cho hợp tác với Hà Nội trong lĩnh vực này không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về lĩnh vực an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Úc. RFI : Trả lời báo tài chính Nikkei Asia ngày 23/04/2026, ông Minoru Kihara, chánh văn phòng thủ tướng Nhật Bản, cho biết Tokyo đã cho phép “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng”. Nội dung chính sách mới của Nhật Bản là gì? Tại sao Tokyo lại thay đổi chính sách vào thời điểm này ? Nguyễn Thế Phương : Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, toàn bộ tư duy chiến lược của Nhật là tập trung vô phát triển kinh tế nội địa và tư duy chiến lược của Nhật là chủ hòa. Việc Nhật Bản thay đổi “ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị quốc phòng” nằm trong sự thay đổi căn bản trong tư duy quốc phòng, văn hóa chiến lược của họ kể từ khoảng đầu thế kỷ thứ XXI với sự trỗi dậy của Trung Quốc, môi trường an ninh khu vực diễn biến ngày càng phức tạp : Sự gia tăng sức mạnh của các hoạt động đơn phương mà nhiều học giả nói là “cố tình thay đổi trạng thái trật tự” của Trung Quốc, đặc biệt là những vấn đề tranh chấp trên biển. Đối với Nhật Bản, một trong những mối nguy nữa, đó là mối đe dọa từ Bắc Triều Bắc. Cũng nói thêm một chút, nước Mỹ dưới thời Donald Trump mong muốn đồng minh, đặc biệt là những đồng minh hiệp ước của họ, có những chính sách và có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc tự lực xây dựng năng lực quốc phòng, chứ không còn hoàn toàn dựa vào Mỹ với tư cách là một quốc gia bảo trợ an ninh nữa. Điểm thứ ba là điểm mà nhiều người bỏ qua, đó là Nhật Bản cần một cách tiếp cận mới hơn để làm mới ngành công nghệ quốc phòng trong nước. Bởi vì từ trước tới nay, Nhật Bản cấm xuất khẩu trang thiết bị quốc phòng và vũ khí ra nước ngoài. Toàn bộ hạn chế về mặt xuất khẩu này khiến cho ngành công nghiệp Nhật, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, bị hạn chế tính cạnh tranh, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, với những cuộc xung đột khắp nơi trên thế giới thì thị trường vũ khí bắt đầu mang lại lợi nhuận rất lớn. Và Nhật Bản dường như cũng muốn bắt đầu thay đổi cách tiếp cận và tham gia vào thị trường công nghiệp quốc phòng chủ động hơn. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản "mạnh mẽ" chống lại việc làm thay đổi nguyên trạng các vùng biển trong khu vực Và cuối cùng là yếu tố nội bộ, đó là sự thay đổi về mặt tư duy của liên minh cầm quyền Nhật Bản, bắt đầu từ thời Shinzo Abe. Cách đây khoảng 10-15 năm, đảng Dân Chủ Tự Do đề xuất Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương. Việc này cho thấy rằng đảng Dân Chủ Tự Do mong muốn đưa nước Nhật ra khỏi tư duy chủ hòa và tham gia nhiều hơn về việc tái định hình cấu trúc an ninh khu vực. Đây là bốn điểm tạm gọi là “bốn nền tảng” để giải thích tại sao Nhật Bản bắt đầu phải thay đổi nguyên tắc về chuyển giao thiết bị công nghệ quốc phòng. Với việc thay đổi nguyên tắc mới, họ sẽ bắt đầu không giới hạn thiết bị chuyển giao, mà sẽ mở rộng tới những loại trang thiết bị có thể là sát thương, ví dụ vũ khí tấn công, xe tăng, máy bay và những trang bị khác. Điểm thứ hai, Nhật Bản cho phép hợp tác phát triển các loại vũ khí song phương, một ví dụ ở đây là phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm giữa Nhật, Anh và Ý. Điểm này sẽ cho phép Nhật chủ động hơn, thích ứng linh hoạt hơn trong chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng. RFI : Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nhật Bản. Việt Nam là quốc gia thứ 11 ký một thỏa thuận chuyển giao thiết bị, công nghệ quốc phòng với Nhật Bản. Cho đến nay, Tokyo hỗ trợ Hà Nội như thế nào trong khuôn khổ này ? Nguyễn Thế Phương : Trước đây, việc hỗ trợ về mặt chuyển giao thiết bị hoặc công nghệ quốc phòng song phương, chủ yếu Việt Nam sẽ là bên nhận. Những hỗ trợ này chủ yếu xoay quanh việc nâng cao năng lực nhận thức hàng hải, an ninh biển và chủ yếu liên quan đến những loại trang thiết bị vũ khí phi sát thương. Điểm nổi bật thứ nhất là việc chuyển giao tàu tuần tra và phương tiện giúp Việt Nam có thể cải thiện năng lực tuần tra hàng hải, tiêu biểu là việc Việt Nam nhận một số loại tàu cảnh sát biển loại biên của Nhật Bản. Những tàu này thực ra vẫn rất tốt và vẫn phục vụ rất hiệu quả trong quá trình Việt Nam bảo vệ lợi ích trên biển ở thời điểm hiện tại. Đây là khoản hỗ trợ lớn nhất. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản đạt thỏa thuận về chuyển giao công nghệ quốc phòng Thứ hai là thiết bị giám sát công nghệ hàng hải, ví dụ radar, các thiết bị lặn, công nghệ viễn thám, thông tin liên lạc phục vụ cho quá trình tìm kiếm, cứu nạn, giám sát thực địa trên biển. Và thứ ba là đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn cho các lực lượng của Việt Nam, đặc biệt là lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư. Đây là điểm mà hai bên thường xuyên tiến hành : Trao đổi đoàn, trao đổi tàu, lực lượng Việt Nam qua Nhật Bản để tập huấn. Ở đây tập trung vào một số vấn đề phi tác chiến, ví dụ quân y, phá bom mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh, an ninh mạng. Đối với quân đội còn có gìn giữ hòa bình. Đó là ba mảng mà Việt Nam nhận được hỗ trợ có thể nói là rõ ràng nhất từ Nhật Bản thông qua chương trình chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng. RFI : Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên cho Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA). Anh có thể giải thích OSA là gì ? Theo một quan chức chính phủ Nhật Bản, “quá trình này đôi khi có thể mất thời gian”. Những nước được chọn để hợp tác an ninh thông qua OSA có vai trò như thế nào trong chiến lược của Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : OSA (Official Security Assistance) là hỗ trợ an ninh chính thức. Đây là một trong những chương trình rất mới, là một công cụ đối ngoại rất mới của Nhật, được thông qua trong chiến lược an ninh quốc gia cuối năm 2022. ODA, là một khái niệm mà chúng ta rất quen thuộc, chỉ giới hạn nghiêm ngặt (ở đây từ “nghiêm ngặt” là từ quan trọng) cho phát triển kinh tế-xã hội. Cho nên nếu như Nhật Bản muốn hỗ trợ về mặt an ninh quốc phòng cho các quốc gia khác thì họ phải tạo ra một cơ chế hoàn toàn mới, chứ không phải là ODA. Thì OSA chính là kết quả. Nói một cách đơn giản OSA chính là ODA nhưng chỉ được dùng cho lĩnh vực an ninh và quân sự. Quá trình này rất mất thời gian bởi vì Nhật Bản sẽ phải thiết lập quy trình khảo sát nhu cầu của bên nhận, đối chiếu nhu cầu đó với pháp luật nội bộ của Nhật, mà chúng ta biết là pháp luật của Nhật về mặt này rất khắt khe. Và nó yêu cầu cả bên cho - ở đây là Nhật - và cả bên nhận - là các quốc gia khác - phải thảo luận rất lâu và rất kỹ để có thể đưa ra được một danh sách tiếp nhận các loại hỗ trợ cho phù hợp. Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam tăng cường hợp tác an ninh, ủng hộ thương mại tự do Danh sách các quốc gia được hỗ trợ và có tiềm năng nhận được hỗ trợ OSA từ Nhật Bản vào thời điểm hiện tại chỉ tầm 12 nước, chủ yếu là các nước ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, trong đó có 5 nước Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Thái Lan). Nam Á có hai nước là Bangladesh với Sri Lanka. Ngoài ra còn một số quốc đảo Thái Bình Dương, ví dụ Papua New Guinea, Tonga. Có thể thấy rõ là có Đông Nam Á, khu vực cốt lõi trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Nhật Bản, và đặc biệt là khu vực các quốc đảo Nam Thái Bình Dương hiện đang là khu vực cạnh tranh địa lý khá gay gắt giữa các quốc gia đồng minh của Mỹ và Trung Quốc. Gần đây, Tokyo tăng ngân sách dành cho OSA trong năm tài khóa 2026 lên tầm 112 triệu đô la. Số lượng sẽ không lớn đứng dưới góc độ về mặt ngân sách. Nhưng trong tương lai, ngân sách mà Nhật dành cho OSA sẽ ngày càng tăng và sẽ dựa vào khả năng nước Nhật thích ứng với sự thay đổi không ngừng của môi trường an ninh bên ngoài, cũng như trong chính sách đối nội của Nhật Bản, đặc biệt là việc Nhật điều chỉnh ba nguyên tắc hỗ trợ vũ khí và công nghệ quốc phòng. Trong tương lai, số lượng nước được nhận sẽ tăng lên, cũng như nội dung của OSA cũng sẽ được mở rộng hơn. RFI : Với chiến lược quốc phòng mới của Tokyo mở ra việc bán vũ khí sát thương, liệu trong tương lai, có thể có một chương trình hợp tác sâu rộng hơn về lĩnh vực này giữa Việt Nam và Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : Nhiều người kỳ vọng rằng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong tương về chuyển giao trang thiết bị cũng như là hỗ trợ OSA của Nhật Bản đối với Việt Nam sẽ được mở rộng. Tuy nhiên như đã trình bày, quá trình này sẽ không nhanh. Thứ nhất một phần cũng bởi vì phía Nhật Bản, như đã nói, họ sẽ rất kỹ trong vấn đề lựa chọn chuyển giao, tính minh bạch ra sao. Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành đối tác chiến lược toàn diện Thứ hai, nhu cầu của Việt Nam ở đây là gì ? Nhu cầu Việt Nam vẫn sẽ có. Nhưng theo tôi, trong tương lai gần, khoảng 5 năm, hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng sẽ chủ yếu xoay quanh nội dung về an ninh hàng hải, hỗ trợ các loại tàu cảnh sát biển, hỗ trợ Việt Nam đóng một số loại tàu cho cảnh sát biển hoặc là cho kiểm ngư ở trong nước, nhận một số loại trang thiết bị liên quan tới bảo đảm an ninh hàng hải, cũng như là nhận thức hàng hải ở khu vực, hỗ trợ liên quan tới vệ tinh chẳng hạn và tiếp tục huấn luyện. Còn những vũ khí tác chiến, theo tôi, sẽ phải là tương lai xa, cho tới khi nào Nhật Bản hoàn toàn dỡ bỏ những hạn chế về mặt xuất khẩu vũ khí tiến công và cho tới khi nào ngành công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản trở nên cạnh tranh hơn, thì khi đó Việt Nam mới bắt đầu xem xét có hay không lựa chọn các loại vũ khí tác chiến của Nhật Bản như là một lựa chọn trong quá trình hiện đại hóa quân đội. Còn ở thời điểm hiện tại, khả năng đó rất là thấp. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.

Tạp chí Việt Nam
Việt Nam : Mắt xích quan trọng trong chiến lược thay đổi quốc phòng của Nhật Bản

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later Jun 15, 2026 10:02


Tháng 04/2026, Nhật Bản “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng” để xây dựng chiến lược quốc phòng mới, trong đó có mục đích mở rộng hoạt động xuất khẩu sang cả các loại vũ khí sát thương. Một cơ chế mới cũng đã được thành lập - Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA) - nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và trang thiết bị quốc phòng. Và Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên trong chương trình OSA. Những thay đổi mới trong chính sách quốc phòng của Nhật Bản có tạo thêm những cơ hội mới cho hợp tác với Hà Nội trong lĩnh vực này không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về lĩnh vực an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Úc. RFI : Trả lời báo tài chính Nikkei Asia ngày 23/04/2026, ông Minoru Kihara, chánh văn phòng thủ tướng Nhật Bản, cho biết Tokyo đã cho phép “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng”. Nội dung chính sách mới của Nhật Bản là gì? Tại sao Tokyo lại thay đổi chính sách vào thời điểm này ? Nguyễn Thế Phương : Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, toàn bộ tư duy chiến lược của Nhật là tập trung vô phát triển kinh tế nội địa và tư duy chiến lược của Nhật là chủ hòa. Việc Nhật Bản thay đổi “ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị quốc phòng” nằm trong sự thay đổi căn bản trong tư duy quốc phòng, văn hóa chiến lược của họ kể từ khoảng đầu thế kỷ thứ XXI với sự trỗi dậy của Trung Quốc, môi trường an ninh khu vực diễn biến ngày càng phức tạp : Sự gia tăng sức mạnh của các hoạt động đơn phương mà nhiều học giả nói là “cố tình thay đổi trạng thái trật tự” của Trung Quốc, đặc biệt là những vấn đề tranh chấp trên biển. Đối với Nhật Bản, một trong những mối nguy nữa, đó là mối đe dọa từ Bắc Triều Bắc. Cũng nói thêm một chút, nước Mỹ dưới thời Donald Trump mong muốn đồng minh, đặc biệt là những đồng minh hiệp ước của họ, có những chính sách và có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc tự lực xây dựng năng lực quốc phòng, chứ không còn hoàn toàn dựa vào Mỹ với tư cách là một quốc gia bảo trợ an ninh nữa. Điểm thứ ba là điểm mà nhiều người bỏ qua, đó là Nhật Bản cần một cách tiếp cận mới hơn để làm mới ngành công nghệ quốc phòng trong nước. Bởi vì từ trước tới nay, Nhật Bản cấm xuất khẩu trang thiết bị quốc phòng và vũ khí ra nước ngoài. Toàn bộ hạn chế về mặt xuất khẩu này khiến cho ngành công nghiệp Nhật, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, bị hạn chế tính cạnh tranh, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, với những cuộc xung đột khắp nơi trên thế giới thì thị trường vũ khí bắt đầu mang lại lợi nhuận rất lớn. Và Nhật Bản dường như cũng muốn bắt đầu thay đổi cách tiếp cận và tham gia vào thị trường công nghiệp quốc phòng chủ động hơn. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản "mạnh mẽ" chống lại việc làm thay đổi nguyên trạng các vùng biển trong khu vực Và cuối cùng là yếu tố nội bộ, đó là sự thay đổi về mặt tư duy của liên minh cầm quyền Nhật Bản, bắt đầu từ thời Shinzo Abe. Cách đây khoảng 10-15 năm, đảng Dân Chủ Tự Do đề xuất Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương. Việc này cho thấy rằng đảng Dân Chủ Tự Do mong muốn đưa nước Nhật ra khỏi tư duy chủ hòa và tham gia nhiều hơn về việc tái định hình cấu trúc an ninh khu vực. Đây là bốn điểm tạm gọi là “bốn nền tảng” để giải thích tại sao Nhật Bản bắt đầu phải thay đổi nguyên tắc về chuyển giao thiết bị công nghệ quốc phòng. Với việc thay đổi nguyên tắc mới, họ sẽ bắt đầu không giới hạn thiết bị chuyển giao, mà sẽ mở rộng tới những loại trang thiết bị có thể là sát thương, ví dụ vũ khí tấn công, xe tăng, máy bay và những trang bị khác. Điểm thứ hai, Nhật Bản cho phép hợp tác phát triển các loại vũ khí song phương, một ví dụ ở đây là phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm giữa Nhật, Anh và Ý. Điểm này sẽ cho phép Nhật chủ động hơn, thích ứng linh hoạt hơn trong chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng. RFI : Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nhật Bản. Việt Nam là quốc gia thứ 11 ký một thỏa thuận chuyển giao thiết bị, công nghệ quốc phòng với Nhật Bản. Cho đến nay, Tokyo hỗ trợ Hà Nội như thế nào trong khuôn khổ này ? Nguyễn Thế Phương : Trước đây, việc hỗ trợ về mặt chuyển giao thiết bị hoặc công nghệ quốc phòng song phương, chủ yếu Việt Nam sẽ là bên nhận. Những hỗ trợ này chủ yếu xoay quanh việc nâng cao năng lực nhận thức hàng hải, an ninh biển và chủ yếu liên quan đến những loại trang thiết bị vũ khí phi sát thương. Điểm nổi bật thứ nhất là việc chuyển giao tàu tuần tra và phương tiện giúp Việt Nam có thể cải thiện năng lực tuần tra hàng hải, tiêu biểu là việc Việt Nam nhận một số loại tàu cảnh sát biển loại biên của Nhật Bản. Những tàu này thực ra vẫn rất tốt và vẫn phục vụ rất hiệu quả trong quá trình Việt Nam bảo vệ lợi ích trên biển ở thời điểm hiện tại. Đây là khoản hỗ trợ lớn nhất. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản đạt thỏa thuận về chuyển giao công nghệ quốc phòng Thứ hai là thiết bị giám sát công nghệ hàng hải, ví dụ radar, các thiết bị lặn, công nghệ viễn thám, thông tin liên lạc phục vụ cho quá trình tìm kiếm, cứu nạn, giám sát thực địa trên biển. Và thứ ba là đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn cho các lực lượng của Việt Nam, đặc biệt là lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư. Đây là điểm mà hai bên thường xuyên tiến hành : Trao đổi đoàn, trao đổi tàu, lực lượng Việt Nam qua Nhật Bản để tập huấn. Ở đây tập trung vào một số vấn đề phi tác chiến, ví dụ quân y, phá bom mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh, an ninh mạng. Đối với quân đội còn có gìn giữ hòa bình. Đó là ba mảng mà Việt Nam nhận được hỗ trợ có thể nói là rõ ràng nhất từ Nhật Bản thông qua chương trình chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng. RFI : Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên cho Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA). Anh có thể giải thích OSA là gì ? Theo một quan chức chính phủ Nhật Bản, “quá trình này đôi khi có thể mất thời gian”. Những nước được chọn để hợp tác an ninh thông qua OSA có vai trò như thế nào trong chiến lược của Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : OSA (Official Security Assistance) là hỗ trợ an ninh chính thức. Đây là một trong những chương trình rất mới, là một công cụ đối ngoại rất mới của Nhật, được thông qua trong chiến lược an ninh quốc gia cuối năm 2022. ODA, là một khái niệm mà chúng ta rất quen thuộc, chỉ giới hạn nghiêm ngặt (ở đây từ “nghiêm ngặt” là từ quan trọng) cho phát triển kinh tế-xã hội. Cho nên nếu như Nhật Bản muốn hỗ trợ về mặt an ninh quốc phòng cho các quốc gia khác thì họ phải tạo ra một cơ chế hoàn toàn mới, chứ không phải là ODA. Thì OSA chính là kết quả. Nói một cách đơn giản OSA chính là ODA nhưng chỉ được dùng cho lĩnh vực an ninh và quân sự. Quá trình này rất mất thời gian bởi vì Nhật Bản sẽ phải thiết lập quy trình khảo sát nhu cầu của bên nhận, đối chiếu nhu cầu đó với pháp luật nội bộ của Nhật, mà chúng ta biết là pháp luật của Nhật về mặt này rất khắt khe. Và nó yêu cầu cả bên cho - ở đây là Nhật - và cả bên nhận - là các quốc gia khác - phải thảo luận rất lâu và rất kỹ để có thể đưa ra được một danh sách tiếp nhận các loại hỗ trợ cho phù hợp. Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam tăng cường hợp tác an ninh, ủng hộ thương mại tự do Danh sách các quốc gia được hỗ trợ và có tiềm năng nhận được hỗ trợ OSA từ Nhật Bản vào thời điểm hiện tại chỉ tầm 12 nước, chủ yếu là các nước ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, trong đó có 5 nước Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Thái Lan). Nam Á có hai nước là Bangladesh với Sri Lanka. Ngoài ra còn một số quốc đảo Thái Bình Dương, ví dụ Papua New Guinea, Tonga. Có thể thấy rõ là có Đông Nam Á, khu vực cốt lõi trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Nhật Bản, và đặc biệt là khu vực các quốc đảo Nam Thái Bình Dương hiện đang là khu vực cạnh tranh địa lý khá gay gắt giữa các quốc gia đồng minh của Mỹ và Trung Quốc. Gần đây, Tokyo tăng ngân sách dành cho OSA trong năm tài khóa 2026 lên tầm 112 triệu đô la. Số lượng sẽ không lớn đứng dưới góc độ về mặt ngân sách. Nhưng trong tương lai, ngân sách mà Nhật dành cho OSA sẽ ngày càng tăng và sẽ dựa vào khả năng nước Nhật thích ứng với sự thay đổi không ngừng của môi trường an ninh bên ngoài, cũng như trong chính sách đối nội của Nhật Bản, đặc biệt là việc Nhật điều chỉnh ba nguyên tắc hỗ trợ vũ khí và công nghệ quốc phòng. Trong tương lai, số lượng nước được nhận sẽ tăng lên, cũng như nội dung của OSA cũng sẽ được mở rộng hơn. RFI : Với chiến lược quốc phòng mới của Tokyo mở ra việc bán vũ khí sát thương, liệu trong tương lai, có thể có một chương trình hợp tác sâu rộng hơn về lĩnh vực này giữa Việt Nam và Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : Nhiều người kỳ vọng rằng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong tương về chuyển giao trang thiết bị cũng như là hỗ trợ OSA của Nhật Bản đối với Việt Nam sẽ được mở rộng. Tuy nhiên như đã trình bày, quá trình này sẽ không nhanh. Thứ nhất một phần cũng bởi vì phía Nhật Bản, như đã nói, họ sẽ rất kỹ trong vấn đề lựa chọn chuyển giao, tính minh bạch ra sao. Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành đối tác chiến lược toàn diện Thứ hai, nhu cầu của Việt Nam ở đây là gì ? Nhu cầu Việt Nam vẫn sẽ có. Nhưng theo tôi, trong tương lai gần, khoảng 5 năm, hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng sẽ chủ yếu xoay quanh nội dung về an ninh hàng hải, hỗ trợ các loại tàu cảnh sát biển, hỗ trợ Việt Nam đóng một số loại tàu cho cảnh sát biển hoặc là cho kiểm ngư ở trong nước, nhận một số loại trang thiết bị liên quan tới bảo đảm an ninh hàng hải, cũng như là nhận thức hàng hải ở khu vực, hỗ trợ liên quan tới vệ tinh chẳng hạn và tiếp tục huấn luyện. Còn những vũ khí tác chiến, theo tôi, sẽ phải là tương lai xa, cho tới khi nào Nhật Bản hoàn toàn dỡ bỏ những hạn chế về mặt xuất khẩu vũ khí tiến công và cho tới khi nào ngành công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản trở nên cạnh tranh hơn, thì khi đó Việt Nam mới bắt đầu xem xét có hay không lựa chọn các loại vũ khí tác chiến của Nhật Bản như là một lựa chọn trong quá trình hiện đại hóa quân đội. Còn ở thời điểm hiện tại, khả năng đó rất là thấp. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.

TẠP CHÍ VĂN HÓA
Pháp : Công nghệ số đưa bảo tàng, di tích đến gần hơn với công chúng

TẠP CHÍ VĂN HÓA

Play Episode Listen Later Jun 5, 2026 9:32


Làm thế nào để thu hút khách tham quan đến một di tích lịch sử, “giữ chân” họ trước một kiệt tác nghệ thuật từ những thế kỷ trước ? Làm thế nào để những sự kiện lịch sử đọng lại trong tâm trí khán giả ? Từ nhiều năm gần đây, kỹ thuật số trở thành công cụ không thể thiếu giúp các bảo tàng, di tích tại Pháp thay đổi cách tham quan và từng bước “dân chủ hóa” văn hóa, đặc biệt là từ đại dịch Covid-19. Mối quan hệ giữa giới trẻ và bảo tàng đã thay đổi từ gần 20 năm qua nhờ cách mạng kỹ thuật số. Nhưng hiện nay, quá trình chuyển đổi số các bảo tàng không còn là một lựa chọn mà là điều thiết yếu. Song song với những chuyến tham quan có hướng dẫn viên, bị khống chế thời gian, công chúng hoàn toàn có thể tự do khám phá bảo tàng, các tác phẩm, theo nhịp độ riêng nhờ “hướng dẫn viên ảo”. Sống trong lịch sử nhờ công nghệ Thiết bị nhỏ như băng cát-sét hoặc máy tính bảng được cung cấp kèm với tai nghe đưa người xem trở lại thời xưa với những âm thanh, tiếng ngựa, lời thoại. Đây là loại hình tham quan trải nghiệm (visite immersive), hướng dẫn dưới dạng ứng dụng. Người xem sẽ nhấn theo số được ghi cạnh một bức tranh hoặc một gian trừng bày. Hiện đại hơn sẽ là những bộ cảm biến trong phòng sẽ tự động đưa khách tham quan đến lời giới thiệu cần thiết. Lời giới thiệu thường khoảng một phút để khách tham quan không bị mất tập trung. Đọc thêmĐắm chìm trong "Đêm đầy sao" của Van Gogh nhờ công nghệ số Loại hình thứ hai là trải nghiệm ảo và tương tác (expériences virtuelles et interactives), “thật hơn” và hấp dẫn hơn. Các địa điểm du lịch đã thấy được hiệu quả của loại hình trải nghiệm này, rất thành công trong trò chơi thoát hiểm (Escape Game) và muốn áp dụng để đổi mới bản thân. Đây là nhận định của Antoine Hubart, phụ trách thương mại của công ty John Doe. Immersive Game, trụ sở tại Lille, khi trả lời RFI Tiếng Việt tại Hội chợ Du lịch Quốc tế Paris ngày 12/03/2026. “Họ muốn cung cấp những trải nghiệm mới cho những đối tượng hoàn toàn khác, những mục tiêu mà ban đầu họ không thể tiếp cận. Ví dụ, giới trẻ quan tâm nhiều hơn đến việc xem truyền hình hoặc sử dụng điện thoại, họ không hẳn thấy cần phải đến bảo tàng, thăm lâu đài, hoặc là đi bộ đường dài. Công ty chúng tôi cung cấp trò chơi, những trò chơi ít nhiều mang tính văn hóa, tùy thuộc vào địa điểm. Ví dụ, trong một lâu đài tập trung vào lịch sử Pháp, vào một vị vua cụ thể, chúng tôi sẽ tạo ra một trò chơi dựa trên vị vua đó, sử dụng các sự kiện lịch sử có thật, để khuyến khích giới trẻ đến chơi trò chơi đồng thời khám phá lịch sử của địa điểm, lịch sử của lâu đài. Chúng tôi cũng làm điều này trong hang động, trong hầm mỏ, trong bảo tàng. Kinh nghiệm này đã được chúng tôi làm với Bảo tàng xe bọc thép, liên quan đến vũ khí chiến tranh”. Hình thức tham quan trải nghiệm và thực tế ảo mang đến cho công chúng một môi trường hoành tráng, tạo cho trải nghiệm sâu sắc hơn, phong phú hơn và đã định hình lại kiểu tham quan bảo tàng, theo nhận định trong một bài viết của Solveig Tiby trên trang les-enovateurs ngày 20/09/2024. Công nghệ kết nối bảo tàng với thanh niên Năm 2025 đánh dấu năm kỷ lục về số lượng khách tham quan các bảo tàng và 100 di tích và khu vườn thuộc Trung tâm Di tích Quốc gia (CMN). Bảo tàng Louvre tại Paris tiếp tục phá vỡ kỷ lục số lượt khách tham quan (hơn 9 triệu lượt), theo tạp chí Le Quotidien de l'Art ngày 05/01/2026. Trong số này, tỷ lệ người trẻ dưới 26 tuổi tăng từ 41% lên 44%. Đây là xu hướng được tiếp nối từ những năm trước, giới trẻ quan tâm đến bảo tàng nhiều hơn nhờ mạng xã hội, muốn trải nghiệm từ trực tuyến đến xem thật. “Đó là một kiểu tham quan có hướng dẫn, ở bảo tàng chẳng hạn. Chúng tôi sẽ biến chuyến tham quan đó vui nhộn hơn nhờ điện thoại di động, biến khám phá thành một trải nghiệm theo cách khác, độc đáo hơn một chút, với những thông tin mà ban đầu chưa có. Khi tiến dần trong bảo tàng, điện thoại sẽ hướng dẫn chúng ta dừng lại ở một điểm cụ thể. Ứng dụng tải trước sẽ kể cho chúng ta một chút về lịch sử hoặc một vài giai thoại thú vị và đưa ra cả câu đố. Phải giải được câu đố đó để chuyển sang điểm tiếp theo. Lúc đó, điện thoại sẽ nói “Giờ thì bạn có thể đi tiếp” và tiếp tục từng điểm một. Sau khi tham quan xong, tất cả thông tin vẫn còn trên điện thoại. Khách tham quan có thể lưu lại hoặc nếu muốn tìm hiểu thêm, họ sẽ liên lạc với bảo tàng vì bảo tàng có tài liệu riêng”. Điện thoại, vật bất ly thân của giới trẻ, trở thành “hướng dẫn viên” và khi “vừa học vừa chơi”, họ sẽ cảm nhận, tiếp thu dễ dàng hơn, theo giải thích của Antoine Hubart : “Khách tham quan không cần thiết bị gì hết. Thiết bị sẽ được điều chỉnh tùy thuộc vào địa điểm. Dĩ nhiên nếu đi vào hang động, chúng tôi sẽ cung cấp mũ bảo hiểm để bảo đảm an toàn. Tùy thuộc vào địa điểm và mức độ an toàn, sẽ luôn có một số thiết bị tối thiểu. Nhưng nhìn chung, các trò chơi của chúng tôi được thiết kế dựa trên chính khung cảnh đó. Đa số trường hợp, khách tham quan chỉ cần điện thoại di động vì trò chơi được tải trước trên điện thoại, và họ có thể tiến được nhờ điện thoại. Hoặc một số trò chơi thì cần một cuốn sổ tay để giúp giải câu đố, khám phá mọi thứ để đi tiếp và đơn giản là vui chơi”. Đắm chìm trong dòng chảy nghệ thuật nhờ công nghệ kỹ thuật số Một ví dụ khác giải thích cho thành công của công nghệ kỹ thuật số trong hành trình đưa nghệ thuật, lịch sử đến với đông đảo công chúng là Trung tâm Nghệ thuật số Ateliers des Lumières tại Paris (thành lập năm 2018). Chủ trương của công ty chủ quản Culturespace (có 12 địa điểm trên thế giới) là giới thiệu các trào lưu nghệ thuật hoặc những nghệ sĩ nổi tiếng trong lịch sử nghệ thuật nhờ công nghệ AMIEX (Art, Musique Immersive Experience). Cùng một tác phẩm, khách tham quan sẽ có những góc nhìn khác nhau từ những vị trí khác nhau trong phòng triển lãm nhờ 140 máy chiếu chiếu lên tường và nền nhà. Ông Michael Couzigou, giám đốc Atelier des Lumières, giải thích với RFI tiếng Việt trong buổi khai mạc triển lãm Van Gogh, Đêm đầy sao (Van Gogh, La Nuit étoilée) ngày 22/02/2019 : “Ý tưởng của chúng tôi là kết hợp sự sáng tạo bằng hình ảnh, được thực hiện từ ảnh chụp các tác phẩm nghệ thuật, sau đó được số hóa, đi kèm với âm nhạc - được chọn lọc cho phù hợp hoặc được soạn riêng cho triển lãm - để tạo cảm xúc cho người xem và khiến họ đắm chìm trong dòng chảy nghệ thuật của triển lãm đó. Đây là một phương pháp khác lạ mà chúng ta không thể thấy được trong những bảo tàng truyền thống. Thêm vào đó, nhiệm vụ của Culturespace là cố gắng tiếp cận được với đông đảo công chúng nhất. Có nghĩa là chúng tôi muốn họ đến xem với cả gia đình, với con cháu để giúp các em khám phá nghệ thuật theo cách mới, có thể hiện đại hơn, năng động hơn”. Một ví dụ khác là chương trình AURA Invalides dưới mái vòm điện Invalides (Dôme des Invalides), nơi đặt quan tài của Napoléon, kéo dài 50 phút vào buổi tối, sau khi đóng cửa với công chúng. Trải nghiệm đa phương tiện sống động kết hợp  ánh sáng, nhạc giao hưởng và video mapping (kết hợp giữa công nghệ 3D và công nghệ làm phim) để tạo nên những hiệu ứng về hình ảnh, ánh sáng, âm thanh, kích thích tất cả các giác quan của người xem. Kỹ thuật số đã thay đổi sâu sắc sự tiếp cận, sản xuất và việc phổ biến văn hoá. Nó có thể giúp một tác phẩm được phổ biến ngoài biên giới địa lý. Một số nền tảng trực tuyến, như Google Art & Culture, Europeana, Gallica..., tham gia phổ biến văn hóa, cho phép công chúng được truy cập miễn phí vào nhiều tác phẩm. Hình thức này được thúc đẩy mạnh trong giai đoạn đại dịch Covid-19 khi cả thế giới bị phong tỏa, mọi hoạt động lưu thông gần như đình trệ. Nhiều bảo tàng đã tổ chức các triển lãm “ảo”, mở rộng thư viện “trực tuyến” để đưa lịch sử, nghệ thuật đến công chúng. Đọc thêmCovid-19 : Tham quan trực tuyến các bảo tàng Kỹ thuật số đã khiến bảo tàng, văn hóa có thể tiếp cận được ở mọi lúc, mọi nơi. Khách tham quan có thể trải nghiệm theo cách riêng, nhịp độ riêng, không cần phải chờ hoặc chen chúc trong các phòng triển lãm mà vẫn có thể chiêm ngưỡng được tác phẩm. Điểm trừ duy nhất là không thể được tận mắt thấy tác phẩm. Trong hành trình đa dạng hóa kỹ thuật số các dịch vụ, rất nhiều doanh nghiệp chuyên ngành đồng hành cùng các bảo tàng, ví dụ John Doe, công ty có 5 chi nhánh tại Pháp (Lille, Strasbourg, Lyon, Bordeaux, Nantes), theo giải thích của Antoine Hubart : “Chúng tôi đang thảo luận với rất nhiều bên liên quan. Hiện tại, chúng tôi đang thiết kế một trò chơi, tôi không được phép tiết lộ tên. Ngoài ra, còn có bốn lâu đài ở Pháp, (thiết kế trò chơi trong hai tàu hỏa, một nhà máy, hai hầm mỏ và ba hang động cũng quan tâm. Chúng tôi có khoảng 10 đến 15 dự án. Và tất cả chỉ mới là cách đây vài tháng kể từ khi chúng tôi thực sự bắt đầu chủ động tìm kiếm các địa điểm du lịch, thay vì chờ họ liên hệ với chúng tôi. Thời gian để thực hiện mỗi dự án có thể từ ba tháng (ngắn nhất) nếu cần gấp và không quá phức tạp, đến một năm, chi tiết hơn, được làm cẩn thận hơn”. Đọc thêmLouvre ra mắt 480.000 tác phẩm trên trang web mới Tuy nhiên, theo Christian Sermet, không phải bất kỳ bảo tàng hay di tích nào cũng có thể triển khai trải nghiệm ảo và tương tác vì chi phí tương đối tốn kém. Ngoài ra, màn hình cũng có thể khiến khách tham quan bị sao nhãng, nhất là thanh niên. Họ có xu hướng nhìn vào màn hình nhiều hơn là tác phẩm và như vậy khó có thể cảm nhận trọn vẹn triển lãm hoặc tác phẩm.

Tạp chí văn hóa
Pháp : Công nghệ số đưa bảo tàng, di tích đến gần hơn với công chúng

Tạp chí văn hóa

Play Episode Listen Later Jun 5, 2026 9:32


Làm thế nào để thu hút khách tham quan đến một di tích lịch sử, “giữ chân” họ trước một kiệt tác nghệ thuật từ những thế kỷ trước ? Làm thế nào để những sự kiện lịch sử đọng lại trong tâm trí khán giả ? Từ nhiều năm gần đây, kỹ thuật số trở thành công cụ không thể thiếu giúp các bảo tàng, di tích tại Pháp thay đổi cách tham quan và từng bước “dân chủ hóa” văn hóa, đặc biệt là từ đại dịch Covid-19. Mối quan hệ giữa giới trẻ và bảo tàng đã thay đổi từ gần 20 năm qua nhờ cách mạng kỹ thuật số. Nhưng hiện nay, quá trình chuyển đổi số các bảo tàng không còn là một lựa chọn mà là điều thiết yếu. Song song với những chuyến tham quan có hướng dẫn viên, bị khống chế thời gian, công chúng hoàn toàn có thể tự do khám phá bảo tàng, các tác phẩm, theo nhịp độ riêng nhờ “hướng dẫn viên ảo”. Sống trong lịch sử nhờ công nghệ Thiết bị nhỏ như băng cát-sét hoặc máy tính bảng được cung cấp kèm với tai nghe đưa người xem trở lại thời xưa với những âm thanh, tiếng ngựa, lời thoại. Đây là loại hình tham quan trải nghiệm (visite immersive), hướng dẫn dưới dạng ứng dụng. Người xem sẽ nhấn theo số được ghi cạnh một bức tranh hoặc một gian trừng bày. Hiện đại hơn sẽ là những bộ cảm biến trong phòng sẽ tự động đưa khách tham quan đến lời giới thiệu cần thiết. Lời giới thiệu thường khoảng một phút để khách tham quan không bị mất tập trung. Đọc thêmĐắm chìm trong "Đêm đầy sao" của Van Gogh nhờ công nghệ số Loại hình thứ hai là trải nghiệm ảo và tương tác (expériences virtuelles et interactives), “thật hơn” và hấp dẫn hơn. Các địa điểm du lịch đã thấy được hiệu quả của loại hình trải nghiệm này, rất thành công trong trò chơi thoát hiểm (Escape Game) và muốn áp dụng để đổi mới bản thân. Đây là nhận định của Antoine Hubart, phụ trách thương mại của công ty John Doe. Immersive Game, trụ sở tại Lille, khi trả lời RFI Tiếng Việt tại Hội chợ Du lịch Quốc tế Paris ngày 12/03/2026. “Họ muốn cung cấp những trải nghiệm mới cho những đối tượng hoàn toàn khác, những mục tiêu mà ban đầu họ không thể tiếp cận. Ví dụ, giới trẻ quan tâm nhiều hơn đến việc xem truyền hình hoặc sử dụng điện thoại, họ không hẳn thấy cần phải đến bảo tàng, thăm lâu đài, hoặc là đi bộ đường dài. Công ty chúng tôi cung cấp trò chơi, những trò chơi ít nhiều mang tính văn hóa, tùy thuộc vào địa điểm. Ví dụ, trong một lâu đài tập trung vào lịch sử Pháp, vào một vị vua cụ thể, chúng tôi sẽ tạo ra một trò chơi dựa trên vị vua đó, sử dụng các sự kiện lịch sử có thật, để khuyến khích giới trẻ đến chơi trò chơi đồng thời khám phá lịch sử của địa điểm, lịch sử của lâu đài. Chúng tôi cũng làm điều này trong hang động, trong hầm mỏ, trong bảo tàng. Kinh nghiệm này đã được chúng tôi làm với Bảo tàng xe bọc thép, liên quan đến vũ khí chiến tranh”. Hình thức tham quan trải nghiệm và thực tế ảo mang đến cho công chúng một môi trường hoành tráng, tạo cho trải nghiệm sâu sắc hơn, phong phú hơn và đã định hình lại kiểu tham quan bảo tàng, theo nhận định trong một bài viết của Solveig Tiby trên trang les-enovateurs ngày 20/09/2024. Công nghệ kết nối bảo tàng với thanh niên Năm 2025 đánh dấu năm kỷ lục về số lượng khách tham quan các bảo tàng và 100 di tích và khu vườn thuộc Trung tâm Di tích Quốc gia (CMN). Bảo tàng Louvre tại Paris tiếp tục phá vỡ kỷ lục số lượt khách tham quan (hơn 9 triệu lượt), theo tạp chí Le Quotidien de l'Art ngày 05/01/2026. Trong số này, tỷ lệ người trẻ dưới 26 tuổi tăng từ 41% lên 44%. Đây là xu hướng được tiếp nối từ những năm trước, giới trẻ quan tâm đến bảo tàng nhiều hơn nhờ mạng xã hội, muốn trải nghiệm từ trực tuyến đến xem thật. “Đó là một kiểu tham quan có hướng dẫn, ở bảo tàng chẳng hạn. Chúng tôi sẽ biến chuyến tham quan đó vui nhộn hơn nhờ điện thoại di động, biến khám phá thành một trải nghiệm theo cách khác, độc đáo hơn một chút, với những thông tin mà ban đầu chưa có. Khi tiến dần trong bảo tàng, điện thoại sẽ hướng dẫn chúng ta dừng lại ở một điểm cụ thể. Ứng dụng tải trước sẽ kể cho chúng ta một chút về lịch sử hoặc một vài giai thoại thú vị và đưa ra cả câu đố. Phải giải được câu đố đó để chuyển sang điểm tiếp theo. Lúc đó, điện thoại sẽ nói “Giờ thì bạn có thể đi tiếp” và tiếp tục từng điểm một. Sau khi tham quan xong, tất cả thông tin vẫn còn trên điện thoại. Khách tham quan có thể lưu lại hoặc nếu muốn tìm hiểu thêm, họ sẽ liên lạc với bảo tàng vì bảo tàng có tài liệu riêng”. Điện thoại, vật bất ly thân của giới trẻ, trở thành “hướng dẫn viên” và khi “vừa học vừa chơi”, họ sẽ cảm nhận, tiếp thu dễ dàng hơn, theo giải thích của Antoine Hubart : “Khách tham quan không cần thiết bị gì hết. Thiết bị sẽ được điều chỉnh tùy thuộc vào địa điểm. Dĩ nhiên nếu đi vào hang động, chúng tôi sẽ cung cấp mũ bảo hiểm để bảo đảm an toàn. Tùy thuộc vào địa điểm và mức độ an toàn, sẽ luôn có một số thiết bị tối thiểu. Nhưng nhìn chung, các trò chơi của chúng tôi được thiết kế dựa trên chính khung cảnh đó. Đa số trường hợp, khách tham quan chỉ cần điện thoại di động vì trò chơi được tải trước trên điện thoại, và họ có thể tiến được nhờ điện thoại. Hoặc một số trò chơi thì cần một cuốn sổ tay để giúp giải câu đố, khám phá mọi thứ để đi tiếp và đơn giản là vui chơi”. Đắm chìm trong dòng chảy nghệ thuật nhờ công nghệ kỹ thuật số Một ví dụ khác giải thích cho thành công của công nghệ kỹ thuật số trong hành trình đưa nghệ thuật, lịch sử đến với đông đảo công chúng là Trung tâm Nghệ thuật số Ateliers des Lumières tại Paris (thành lập năm 2018). Chủ trương của công ty chủ quản Culturespace (có 12 địa điểm trên thế giới) là giới thiệu các trào lưu nghệ thuật hoặc những nghệ sĩ nổi tiếng trong lịch sử nghệ thuật nhờ công nghệ AMIEX (Art, Musique Immersive Experience). Cùng một tác phẩm, khách tham quan sẽ có những góc nhìn khác nhau từ những vị trí khác nhau trong phòng triển lãm nhờ 140 máy chiếu chiếu lên tường và nền nhà. Ông Michael Couzigou, giám đốc Atelier des Lumières, giải thích với RFI tiếng Việt trong buổi khai mạc triển lãm Van Gogh, Đêm đầy sao (Van Gogh, La Nuit étoilée) ngày 22/02/2019 : “Ý tưởng của chúng tôi là kết hợp sự sáng tạo bằng hình ảnh, được thực hiện từ ảnh chụp các tác phẩm nghệ thuật, sau đó được số hóa, đi kèm với âm nhạc - được chọn lọc cho phù hợp hoặc được soạn riêng cho triển lãm - để tạo cảm xúc cho người xem và khiến họ đắm chìm trong dòng chảy nghệ thuật của triển lãm đó. Đây là một phương pháp khác lạ mà chúng ta không thể thấy được trong những bảo tàng truyền thống. Thêm vào đó, nhiệm vụ của Culturespace là cố gắng tiếp cận được với đông đảo công chúng nhất. Có nghĩa là chúng tôi muốn họ đến xem với cả gia đình, với con cháu để giúp các em khám phá nghệ thuật theo cách mới, có thể hiện đại hơn, năng động hơn”. Một ví dụ khác là chương trình AURA Invalides dưới mái vòm điện Invalides (Dôme des Invalides), nơi đặt quan tài của Napoléon, kéo dài 50 phút vào buổi tối, sau khi đóng cửa với công chúng. Trải nghiệm đa phương tiện sống động kết hợp  ánh sáng, nhạc giao hưởng và video mapping (kết hợp giữa công nghệ 3D và công nghệ làm phim) để tạo nên những hiệu ứng về hình ảnh, ánh sáng, âm thanh, kích thích tất cả các giác quan của người xem. Kỹ thuật số đã thay đổi sâu sắc sự tiếp cận, sản xuất và việc phổ biến văn hoá. Nó có thể giúp một tác phẩm được phổ biến ngoài biên giới địa lý. Một số nền tảng trực tuyến, như Google Art & Culture, Europeana, Gallica..., tham gia phổ biến văn hóa, cho phép công chúng được truy cập miễn phí vào nhiều tác phẩm. Hình thức này được thúc đẩy mạnh trong giai đoạn đại dịch Covid-19 khi cả thế giới bị phong tỏa, mọi hoạt động lưu thông gần như đình trệ. Nhiều bảo tàng đã tổ chức các triển lãm “ảo”, mở rộng thư viện “trực tuyến” để đưa lịch sử, nghệ thuật đến công chúng. Đọc thêmCovid-19 : Tham quan trực tuyến các bảo tàng Kỹ thuật số đã khiến bảo tàng, văn hóa có thể tiếp cận được ở mọi lúc, mọi nơi. Khách tham quan có thể trải nghiệm theo cách riêng, nhịp độ riêng, không cần phải chờ hoặc chen chúc trong các phòng triển lãm mà vẫn có thể chiêm ngưỡng được tác phẩm. Điểm trừ duy nhất là không thể được tận mắt thấy tác phẩm. Trong hành trình đa dạng hóa kỹ thuật số các dịch vụ, rất nhiều doanh nghiệp chuyên ngành đồng hành cùng các bảo tàng, ví dụ John Doe, công ty có 5 chi nhánh tại Pháp (Lille, Strasbourg, Lyon, Bordeaux, Nantes), theo giải thích của Antoine Hubart : “Chúng tôi đang thảo luận với rất nhiều bên liên quan. Hiện tại, chúng tôi đang thiết kế một trò chơi, tôi không được phép tiết lộ tên. Ngoài ra, còn có bốn lâu đài ở Pháp, (thiết kế trò chơi trong hai tàu hỏa, một nhà máy, hai hầm mỏ và ba hang động cũng quan tâm. Chúng tôi có khoảng 10 đến 15 dự án. Và tất cả chỉ mới là cách đây vài tháng kể từ khi chúng tôi thực sự bắt đầu chủ động tìm kiếm các địa điểm du lịch, thay vì chờ họ liên hệ với chúng tôi. Thời gian để thực hiện mỗi dự án có thể từ ba tháng (ngắn nhất) nếu cần gấp và không quá phức tạp, đến một năm, chi tiết hơn, được làm cẩn thận hơn”. Đọc thêmLouvre ra mắt 480.000 tác phẩm trên trang web mới Tuy nhiên, theo Christian Sermet, không phải bất kỳ bảo tàng hay di tích nào cũng có thể triển khai trải nghiệm ảo và tương tác vì chi phí tương đối tốn kém. Ngoài ra, màn hình cũng có thể khiến khách tham quan bị sao nhãng, nhất là thanh niên. Họ có xu hướng nhìn vào màn hình nhiều hơn là tác phẩm và như vậy khó có thể cảm nhận trọn vẹn triển lãm hoặc tác phẩm.

TẠP CHÍ XÃ HỘI
Những cận vệ của Che Guevara lần đầu lên tiếng tại LHP Cannes

TẠP CHÍ XÃ HỘI

Play Episode Listen Later Jun 3, 2026 10:04


Danh sách phim chiếu tại LHP Cannes lần thứ 79 đã đi một vòng trái đất, không chỉ đưa những câu chuyện viễn tưởng lên màn ảnh lớn mà cả những thước phim tài liệu chân thực, hé mở những câu chuyện chưa từng được tiết lộ, tranh giải l'Oeil d'Or (Con mắt vàng). Đáng chú ý là phim tài liệu những người hộ vệ Che Guevera cuối cùng còn sống sót trong chiến dịch ở Bolivia, do đạo diễn người Pháp thực hiện trong hơn 20 năm. Bằng cách kết hợp những hình ảnh tư liệu, lời chứng của các nhân vật và cả hoạt hình minh hoạ, phim tài liệu Les Survivants du Che của Chritophe Dimitri Reveille, đã tái hiện lại ký ức của những cựu chiến binh, những hộ vệ thân cận bên Che Guevara khi làm cách mạng ở Bolivia, trước khi vị anh hùng, biểu tượng của cách mạng Cuba bị hành quyết vào năm 1967. Cụ thể, Che Guevara đã bí mật thâm nhập Bolivia với khoảng 50 binh sĩ, là người Cuba, một số người Achentina, Bolivia và vài người Peru, đặt mục tiêu biến Bolivia thành bàn đạp cách mạng cho toàn Nam Mỹ, “tạo ra nhiều Việt Nam hơn nữa để thách thức đế quốc Mỹ”. Hành trình băng rừng, vượt suối được tái hiện lại đầy kịch tính nhưng cũng xúc động, mang chút tiếc nuối, xen lẫn ân hận khi không bảo vệ được Che. Hầu hết những chia sẻ này chưa từng được tiết lộ trên màn ảnh lớn. Giám đốc liên hoan phim Cannes Thierry Frémaux, hiện diện tại rạp chiếu phim cùng nhóm cộng sự của đạo diễn Christophe Dimitri Reveillé, khẳng định rằng “những bộ phim này mang lịch sử trở lại hiện tại”, “khiến chúng ta phải suy nghĩ về hiện tại”. Bộ phim được ra mắt giữa lúc Cuba đang kiệt quệ, hàng triệu người dân khốn khổ đang vật lộn từng ngày trước lệnh cấm vận của Hoa Kỳ. Ông Frémaux nhận định : “Đây là tác phẩm cả đời của một đạo diễn, không phải là một sử gia mà là một nhà làm phim”. Nếu như chuyện về Che Guevara hầu hết đều được biết đến rộng rãi thì câu chuyện về đội ngũ thân cận làm cách mạng cùng ông ở Bolivia lại không được kể nhiều, từ 50 ban đầu, chỉ còn vài người sống sót. Đạo diễn cũng nhắc nhở khán giả tại Pháp về những can thiệp của nước Pháp thời điểm đó, và vai trò của De Gaulle, đưa họ trở về Cuba an toàn vào năm 1968. RFI Tiếng Việt đã có dịp phỏng vấn đạo diễn người Pháp Christophe Dimitri Reveillé bên lề LHP Cannes. *** Đạo diễn đã mất hơn 22 năm để hoàn thành bộ phim tài liệu này. Đáng nói là ông đã từng viết sách, viết truyện tranh về câu chuyện của những người sống sót trong chiến dịch này. Điều gì đã khiến ông quyết định rằng câu chuyện này cần phải được đưa lên màn ảnh lớn? Thật ra nếu biết trước phải mất 22 năm, tôi đã không bắt đầu. Đúng là tôi đã làm tiểu sử về họ, ra một cuốn truyện tranh rồi mới làm phim, nhưng thực tế, việc thu thập tư liệu cho phim diễn ra song song với việc viết sách tiểu sử. Bởi vì người chiến binh, phải nói là người hùng mà tôi viết tiểu sử, đã bị Fidel Castro kết án tử hình, nên tôi tự nhủ: phải ghi lại lời ông ấy, để nếu có chuyện gì xảy ra, người ta không thể nói rằng ông ta đã bịa đặt ra tất cả. Tôi cần bằng chứng. Và còn một lý do thực tế nữa: tôi không nói được tiếng Tây Ban Nha. Vì vậy tôi phải giao băng cassette cho người phiên dịch để có thể viết tiểu sử. Hai việc đó cứ thế tiến hành song song. Ban đầu tôi chỉ định làm phim tài liệu về một binh sĩ duy nhất, nhưng theo thời gian, qua đọc sách, qua sự tin tưởng dần được gây dựng, tôi nhận ra mình có thể tiếp cận được người thứ hai, rồi người thứ ba, người thứ tư. Trong phim có khoảng tám nhân chứng, nhưng thực ra tôi đã phỏng vấn ít nhất mười lăm người, số còn lại không thể đưa vào trong khuôn khổ phim. Vì vậy tôi đang viết thêm một cuốn sách sẽ ra mắt năm tới, về những điều không thuộc phạm vi phim tài liệu nhưng chứa đựng nhiều tiết lộ chưa từng được công bố về chiến dịch của Che, về cái chết của ông, về những diễn biến sau đó (…) Ưu điểm của việc đối chiếu nhiều góc nhìn của các nhân chứng khiến chúng ta không rơi vào cái bẫy một chiều. Chúng tôi đối chiếu tất cả lời chứng của những người vốn không ưa nhau lại, và thấy chúng khớp với nhau, thì sự thật tự hiện ra. Ông đã thu thập được những lời chứng từ nhiều người chưa bao giờ tiết lộ trước đây. Làm thế nào ông gây dựng được lòng tin với họ ? Thành thật mà nói, không phải để quảng bá phim, nhưng đây thực sự là điều tuyệt vời để kể trên màn ảnh. Ngay chỉ việc gặp được một người trong số họ đã là điều kỳ lạ rồi. Tôi thuyết phục họ bằng cách nào? Có người đứng dậy bỏ đi giữa chừng và nói: “Thôi, tôi không muốn”. Ngay cả điệp viên CIA, tôi run khi phỏng vấn ông ta, vì tôi chuẩn bị đặt những câu hỏi thẳng thắn về cái chết của Che. Với tất cả những người đó, tôi áp dụng điều tôi gọi là tư duy hiện thực, tức là một kỹ thuật tôi học trong khóa học diễn xuất : chấp nhận cảm xúc của bản thân ngay tại khoảnh khắc đó, không che giấu. Cách đó dừng thời gian lại và tạo ra một dạng chân thực nào đó. Tôi nói thẳng với họ : “Tôi thực ra không quan tâm đến ông.” Nghe có vẻ tàn nhẫn. Nhưng tôi giải thích: “Không phải ông mà tôi quan tâm. Câu chuyện của ông mới là điều quan trọng. Và câu chuyện đó, ông đang nợ thế giới trước khi qua đời….Ông nợ chúng tôi câu chuyện này. Và cách đó đã hiệu quả… Hôm nay, trong bối cảnh chủ nghĩa cực đoan đang trỗi dậy khắp nơi, khi những kẻ cực hữu điều khiển thế giới và gây chiến tranh liên miên, thì việc kể câu chuyện này lại càng có ý nghĩa. Không phải kể về những gương mặt nổi tiếng, mà kể về những con người vô danh, những kẻ làm nên cách mạng nhưng tên họ chưa bao giờ xuất hiện ở đâu cả. [05:42]  Trong phim, ông kết hợp những hình ảnh: tư liệu lưu trữ, cảnh quay mới, và hoạt họa. Ông tự đánh giá về lựa chọn này như thế nào trong một phim tài liệu lịch sử? Có lúc tôi cũng tự nghi ngờ, liệu những hình ảnh khác nhau đó có hòa quyện được với nhau không? Phim có năm lớp: lời chứng của các nhân vật, tư liệu lưu trữ, hành trình địa lý dài, theo dấu chân họ, hoạt họa, và lời bình. Về tư liệu lưu trữ: nếu phải chọn một thứ tôi làm tốt trong đời, thì đó là đi tìm tài liệu ở tận cùng thế giới. Còn về hành trình làm sao để sống sót của họ khi bằng rừng ở Nam Mỹ: ngôn từ không đủ để tái hiện cảm xúc. Khi đặt khán giả vào đúng khung cảnh, rừng rậm, thành phố, sa mạc,  tôi không cần phải giải thích nữa, để họ tự cảm nhận. Hoạt họa là lớp thứ tư, là những hình ảnh mà chúng tôi thiếu. Tôi cần nó để đưa khán giả vào “đôi giày” của các chiến binh, sống cùng họ trong từng khoảnh khắc. Trong các cuộc phỏng vấn, tôi nhận ra họ thường kể lướt qua rất nhanh những cảnh hành động và cảm xúc dữ dội nhất… Chính vì vậy tôi dùng hoạt họa để lấp đầy những khoảng trống đó, để đặt khán giả vào đúng thời điểm, đúng không gian, mà không làm đứt mạch Với hoạt họa, vốn đòi hỏi tưởng tượng và sáng tạo, làm sao ông bảo đảm tính trung lập của một đạo diễn tài liệu như thế nào? Tôi đã cố gắng hết sức để trung lập, nhưng nếu thành thật mà nói: không ai trung lập hoàn toàn. Nếu có điểm nào tôi không trung lập, thì điều đó xảy ra ngoài ý thức của tôi. Các phần hoạt họa được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu nghiêm túc. Ở mỗi giai đoạn của câu chuyện, tôi gặp những người có cùng sự ám ảnh như tôi,  những người dành 15 năm nghiên cứu quân đội Bolivia, 15 năm nghiên cứu chủ đề này hay chủ đề kia. Ở giai đoạn dựng phim, chúng tôi quyết định không đưa các sử gia và chuyên gia vào trực tiếp vì làm rối mạch phim. Thay vào đó, tôi tổng hợp kiến thức của họ vào lời bình. Mỗi câu trong lời bình, tôi có thể tranh luận với một chuyên gia về từng từ đã chọn. Điều đó dành cho 2% khán giả chuyên sâu. Nhưng điều tôi thực sự muốn là làm hài lòng cả đại chúng lẫn giới chuyên gia. Câu chuyện về những cựu binh trong chiến dịch ở Bolivia của Che Guevara được đặt trong bối cảnh Chiến Tranh Lạnh và chiến lược của tạo ra “hai, ba,  và nhiều Việt Nam hơn nữa”, tạo ra nhiều mặt trận vũ trang ở khắp nơi trên thế giới để thúc đẩy giải phóng và làm kiệt sức đế quốc Mỹ. Ông có thể giải thích rõ hơn về lựa chọn đặt bối cảnh này, làm nền cho câu chuyện nói trên ? Thực ra tôi đã “làm phiền” nhiều người vì điều này. Nhưng câu chuyện nhỏ này bắt buộc phải đặt bối cảnh lịch sử rộng hơn, bởi nếu không, các chiến binh đó chẳng khác gì những kẻ “trộm dê”, tức là những người xuất hiện mà không ai hiểu họ gánh trên vai điều gì. Tôi muốn câu chuyện nhỏ có ý nghĩa khi được đặt vào câu chuyện lớn. Bằng không, người ta chỉ nói: “À, họ từng ở cùng Che, họ thoát chết, nhưng sau đó thì sao ? Cái khó là ở chỗ: phần lớn trong số họ không ý thức được mình đang ở đâu trong dòng chảy lớn của lịch sử. Régis Debray là ngoại lệ, ông ấy là nhà lý luận, ông dấn thân vì niềm tin tư tưởng. Nhưng một người như Benigno - bí danh của Dariel Alarcón Ramírez, đã mất vợ đang mang thai, nói thẳng trong phim: “Tôi thậm chí không biết ai đã phát minh ra từ “cách mạng”. Tôi không biết nó là gì. Tôi chỉ biết rằng người ta đã giết vợ tôi đang có thai trước mắt tôi. Họ đốt trang trại của tôi. Tôi muốn trả thù.” Khi hiểu điều đó, cái kết của Benigno, khi ông quyết định rời Cuba (sang Pháp lưu vong) vì không còn đồng ý với chế độ, đã mang một chiều sâu khác. Người ta thường nghĩ: đấu tranh, sống sót, trở về, được tôn là anh hùng. Nhưng ông ấy đã chọn từ bỏ địa vị anh hùng của mình để nói: “Tôi không còn đồng ý nữa.” Và rốt cuộc ông chết trong nghèo khổ ở Paris. Dù không đồng ý với ông hay không, cái hành động từ bỏ hào quang để giữ lấy lương tâm, tôi cho đó là một hình thức giữ phẩm giá. Tương tự với người lính Bolivia trong phim, tôi đặc biệt muốn giữ lời chứng của ông ta: “Người ta bảo chúng tôi bị ép buộc. Không. Chúng tôi chiến đấu chống Che vì đó là nghĩa vụ quân nhân, bảo vệ đất nước trước kẻ thù từ bên ngoài xâm nhập.” Những người ủng hộ Guevara sẽ không muốn nghe điều đó. Nhưng tôi để mọi phía lên tiếng, vì tôi không muốn khán giả rời rạp với câu trả lời định sẵn. Tôi muốn họ rời đi với đầy câu hỏi, rồi tự mở sách lịch sử, rồi tự soi chiếu vào những gì đang xảy ra trên thế giới hôm nay. Phim cũng tiết lộ mối liên hệ với nước Pháp, liên quan đến vai trò của tướng De Gaulle. Là một người Pháp, điều đó có ý nghĩa gì với ông khi nhắc lại mối liên hệ này 60 năm sau? De Gaulle là nhân vật không thể bị tấn công, theo nghĩa ngày nay mọi phía chính trị đều muốn nhận về phe của ông. Tôi không phải chuyên gia về De Gaulle, nhưng tôi đọc nhiều tiểu sử. Có một điều buồn cười mà không ai hỏi tôi: De Gaulle đã giúp những người sống sót sau chiến dịch Che trở về Cuba an toàn vào tháng 3 năm 1968. Hai tháng sau, tháng 5 năm 1968, sinh viên Pháp xuống đường giương ảnh Che và hô: “Đả đảo De Gaulle! Chúng ta là Guevara!” Thật mỉa mai, người duy nhất giúp những người sống sót của Che lại chính là De Gaulle. Và điều De Gaulle đại diện đó là thứ chúng tôi đã mất, mà nước Pháp đã đánh mất từ lâu rồi. De Gaulle rút Pháp khỏi NATO, còn tổng thống hiện nay thì đưa Pháp quay trở lại. Tôi không muốn áp đặt quan điểm chính trị, nhưng tôi muốn nói là De Gaulle có cái tầm để nói những gì có thể làm Mỹ phật lòng, và cũng có thể làm Nga phật lòng, mà không sợ. Và nghiêm túc mà nói, có một sự tôn trọng lẫn nhau, ngưỡng mộ nhau, ít nhất là trong giai đoạn đầu, giữa De Gaulle và Fidel Castro, giữa những người đã kháng chiến, giải phóng. Khi ông lần đầu tiếp xúc với câu chuyện về những người thân cận của Che còn sống sót, liệu ông có xuất phát từ một lập trường cánh tả không? Tôi hay tự đặt câu hỏi về bản thân, thậm chí ngay trước ngày bầu cử, tôi có thể trong 24 giờ bị người này gọi là cực hữu, người kia gọi là cực tả hay “bobo gaucho”, ( những người giàu có, sống thoải mái nhưng tự nhận là cánh tả). Về phim tài liệu này, tôi nghĩ xem xong không ai có thể kết luận “đây là phim của một người cực tả.” Còn câu hỏi mà mọi người thường né khi đứng trước ống kính: tôi có bầu cho cánh tả không? Có. Nhưng tôi là kẻ có đặc quyền trong cuộc đời, nên có vẻ dễ dàng giảng đạo cho người khác. Trên thực tế, tôi thậm chí cảm thấy có lỗi khi ở Cannes này, trước hết vì các chiến binh đó đã không còn ở đây để cùng tôi dự. Họ đã mất. Và còn vì chúng tôi khó có thể thấy thoải mái, khi được ngồi ở Cannes trong khi người dân Cuba đang chịu đựng, khốn khổ. Tôi là người nước ngoài làm phim về lịch sử của họ, và có một cái gì đó không ổn ở đó. Nhưng khi tôi làm được một bộ phim về Che và nó có mặt tại Cannes, nghĩa là nó sẽ được xem. Vậy là tôi đã thắng cái chết một chút nào đó, tức là câu chuyện này sẽ còn mãi mãi, vì nó đã được khắc trên phim nhựa.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Việt Nam : Các đại dự án giúp bảo tồn mục tiêu tăng trưởng 10%?

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Jun 1, 2026 11:44


“Những nhà lãnh đạo ảnh hưởng nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam đều được nhớ đến vì đã dẫn dắt những chuyển đổi mang tính cấu trúc” (1). Chỉ riêng năm 2025, Việt Nam triển khai hơn 550 dự án cơ sở hạ tầng trị giá khoảng 200 tỉ đô la. Hàng trăm dự án khác (điện hạt nhân, đường sắt cao tốc…) chuẩn bị được thực hiện. Mục tiêu cuối cùng là đạt tăng trưởng GDP ít nhất 10% trong nhiệm kỳ 2026-2030 và đưa Việt Nam thành nước có thu nhập trung bình cao. Theo báo Vietnamnet ngày 15/04/2026, “thay vì dàn trải, nhiệm kỳ mới đang hướng tới ít dự án hơn nhưng mỗi dự án phải đủ lớn để kéo tăng trưởng, tạo việc làm và mở rộng không gian phát triển”. Liệu các đại dự án có đủ để kéo tăng trưởng lên không ? Làm thế nào để tăng trưởng đó được bền vững ? Những biến động địa-chính trị thế giới, đặc biệt là khủng hoảng dầu lửa ở Trung Đông, tác động như thế nào đến mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn ông Éric Mottet, chuyên gia địa-chính trị Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, giám đốc nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada. RFI : Trước tiên, xin ông giải thích những yếu tố nào góp phần vào sự tăng trưởng của một quốc gia ? Éric Mottet : Theo ước tính có khoảng bảy yếu tố then chốt tác động đến tăng trưởng kinh tế, có thể hoạt động đồng thời hoặc riêng lẻ. Trước hết là lao động, bao gồm quy mô dân số trong độ tuổi lao động, tỷ lệ việc làm, trình độ học vấn, kỹ năng và chất lượng đào tạo của người lao động. Một lực lượng lao động năng động, được đào tạo tốt sẽ tạo ra của cải hiệu quả hơn. Tiếp theo là vốn vật chất và vốn con người, tức là chất lượng máy móc được sử dụng, cơ sở hạ tầng, công nghệ, kỹ năng và bí quyết. Một quốc gia càng đầu tư nhiều vào nhà máy, đường xá và máy móc, thì càng giúp tăng năng suất và sản lượng quốc gia. Yếu tố thứ ba là tiến bộ công nghệ. Quốc gia đó có đầu tư vào đổi mới, công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển không ? Bởi vì đây là một động lực rất cần thiết cho tăng trưởng, ít nhất là trong dài hạn. Ví dụ trí tuệ nhân tạo (AI), hiện tại đã rất quan trọng và sẽ còn quan trọng hơn nữa trong tương lai. Đọc thêmDự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử Tiếp theo, cần phải nói đến thể chế và khuôn khổ chính trị, tức là sự ổn định chính trị, tôn trọng pháp luật và quyền sở hữu nói riêng, cũng như hiệu quả quản lý nhà nước. Nói cách khác, một môi trường ổn định khuyến khích đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, và tạo dựng niềm tin là điều vô cùng cần thiết để tạo ra của cải và phát triển kinh tế. Sự mở cửa kinh tế nằm trong số những tiêu chí khác cũng rất quan trọng. Thương mại quốc tế giúp tiếp cận thị trường mới, công nghệ mới và tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, khoáng sản, đất nông nghiệp, từ đó tăng trưởng kinh tế. Tất cả những yếu tố này có thể thúc đẩy tăng trưởng, nhưng không phải là thiết yếu. Ví dụ, ở châu Á, Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển mạnh dù nguồn tài nguyên hạn chế. Cuối cùng là nhu cầu nội địa. Mức tiêu dùng hộ gia đình, đầu tư kinh doanh, chi tiêu công của chính phủ Việt Nam như thế nào ? Nhu cầu mạnh mẽ sẽ kích thích sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. RFI : Các dự án lớn đóng vai trò như thế nào trong tăng trưởng của một quốc gia ? Chúng có góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng không ? Éric Mottet : Có, các dự án lớn - tức là các dự án cơ sở hạ tầng, công nghiệp, năng lượng và công nghệ - đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Việc này diễn ra ở nhiều cấp độ. Thứ nhất, các công trình hạ tầng kích thích nền kinh tế ngắn hạn bằng cách tạo ra việc làm, tăng nhu cầu đối với vật liệu, dịch vụ và thiết bị xây dựng. Chẳng hạn, việc xây dựng đập hoặc đường cao tốc sẽ tạo ra doanh thu và hoạt động kinh tế ngay lập tức. Sau đó, năng suất được cải thiện trong dài hạn, ví dụ các cơ sở hạ tầng giao thông giúp giảm chi phí vận chuyển và thời gian di chuyển, tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển. Điều này đặc biệt quan trọng ở một quốc gia như Việt Nam, vì giúp di chuyển hàng hóa và con người thuận lợi hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh cả trong nước cũng như với các công ty nước ngoài. Cơ sở hạ tầng tốt cũng thu hút đầu tư nước ngoài, ví dụ việc xây dựng cảng mới, khu công nghiệp hay đặc khu kinh tế sẽ thu hút các công ty nước ngoài còn do dự. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng chất lượng cao còn thúc đẩy tiến bộ công nghệ ; các dự án năng lượng tái tạo và thành phố thông minh kích thích đổi mới sáng tạo trên toàn quốc. Đọc thêmViệt Nam muốn thành “cứ điểm” sản xuất thế giới nhưng thiếu cơ sở hạ tầng Một yếu tố quan trọng khác là giảm bất bình đẳng lãnh thổ. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng chất lượng trên toàn quốc có thể giúp kết nối các vùng xa xôi, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế và việc làm. Một tuyến đường bộ hay đường sắt có thể thay đổi đáng kể một khu vực nông thôn hoặc vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn cũng có những hạn chế. Nhìn chung chúng có chi phí rất cao, có thể dẫn đến rủi ro nợ nần đáng kể cho một nước và cũng có thể gây ra nhiều vấn đề nếu bị quản lý kém hoặc có tham nhũng. Các dự án này cũng có thể gây tác động xấu đến môi trường. Theo tôi, tất cả các dự án cơ sở hạ tầng lớn đều không bảo đảm tăng trưởng nếu bị quy hoạch kém. Do đó, chúng phải được quy hoạch tốt, có hệ thống quản lý hiệu quả và thiết kế bền vững ngay từ đầu. RFI : Trong nhiệm kỳ 5 năm (2026-2030), Việt Nam sẽ triển khai nhiều dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn (đường sắt cao tốc, nhà máy điện hạt nhân, sân bay Long Thành, mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh). Những dự án này có ý nghĩa và vai trò như thế nào  trong việc đạt được mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% do đảng và Quốc Hội Việt Nam đề ra cho nhiệm kỳ này ? Éric Mottet : Đúng là các dự án hạ tầng lớn trong kế hoạch 5 năm đến năm 2030 là trụ cột chiến lược và trọng tâm phát triển. Chúng là đòn bẩy quan trọng giúp nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng bình quân 10%, tương tự những gì Trung Quốc đã trải qua trong những năm 1990-2000, thậm chí là cả thập niên 2010. Các dự án này là động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng ngắn hạn, như đã nói ở trên, vì sẽ huy động đầu tư công và tư nhân, tạo việc làm, thúc đẩy các ngành liên quan như xi măng, thép và logistics. Nhờ đó, chúng trở thành chất xúc tác mạnh, thúc đẩy kinh tế tức thời, và theo tôi, sẽ làm góp phần tăng GDP ngay khi được triển khai. Hơn nữa, các dự án hạ tầng lớn còn cho phép cải thiện cấu trúc năng suất của một quốc gia như Việt Nam. Khi hệ thống hạ tầng được nâng cấp, chi phí logistics giảm, thời gian vận chuyển được rút ngắn và độ tin cậy tăng lên, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và kết nối thương mại giữa các vùng. Chẳng hạn, tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - TP. HCM sẽ rút ngắn khoảng cách địa lý, tăng cường liên kết kinh tế Bắc - Nam, đồng thời góp phần củng cố sự gắn kết quốc gia. Và như vậy sẽ nâng cao sức thu hút của Việt Nam. Đọc thêmChuyển toàn bộ chuyến bay quốc tế về Long Thành: Giới chuyên gia Việt Nam quan ngại Bên cạnh đó, các dự án như sân bay Long Thành hay việc phát triển các đô thị hiện đại sẽ nâng cao vị thế của Việt Nam trong mạng lưới giao thông và thương mại quốc tế, cả về du lịch lẫn kinh tế. Những công trình này còn cho phép một thành phố lớn như TP. HCM cạnh tranh với những trung tâm logistics hàng đầu khu vực như Bangkok, Singapore hay Hồng Kông. Nhờ vậy, mô hình tăng trưởng cũng có cơ hội chuyển dịch. Ngoài ra, các dự án năng lượng như nhà máy điện hạt nhân, nếu được triển khai hiệu quả, sẽ bảo đảm nguồn cung điện ổn định và sẽ giúp nền kinh tế phát triển theo hướng cao cấp hơn. Tôi cho rằng tất cả những lý do này sẽ giúp củng cố tăng trưởng kinh tế. Và cần nhắc lại, nếu được triển khai một cách thông minh, bền vững và quản lý hiệu quả, những công trình cơ sở hạ tầng này sẽ giúp Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hàng năm và đưa Việt Nam trở thành một nền kinh tế quan trọng tại châu Á. RFI : Liệu sự tăng trưởng này (một phần nhờ các dự án lớn) có bền vững không ? Éric Mottet : Các dự án cơ sở hạ tầng có thể bền vững, nhưng không phải tự nhiên mà có mà phụ thuộc vào cách chúng được thiết kế, tài trợ và tích hợp vào nền kinh tế. Để đạt hiệu quả, cần xem xét nhiều yếu tố quan trọng. Trước hết, hạ tầng phải thực sự thiết thực. Thực tế cho thấy ở nhiều nước như Trung Quốc, kể cả Việt Nam, vẫn tồn tại các công trình được đầu tư lớn nhưng hiệu quả sử dụng thấp. Vì vậy, tính hữu ích và đáp ứng nhu cầu kinh tế thực sự là tiêu chí hàng đầu. Khi được quản lý tốt, cơ sở hạ tầng sẽ hỗ trợ tăng trưởng dài hạn. Thứ hai, các dự án hạ tầng cần đóng vai trò thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế có năng suất cao hơn, thay vì chỉ tạo ra tác động ngắn hạn. Điều này đòi hỏi hạ tầng phải được quy hoạch với tầm nhìn dài hạn, từ 10 đến 30 năm, thậm chí là 40 năm. Một công trình chỉ mang lại hiệu ứng tạm thời trong giai đoạn xây dựng sẽ không có nhiều ý nghĩa. Vì vậy, tính bền vững cần được đặt trong tầm nhìn nhiều thập niên. Đọc thêmViệt Nam : Giấc mơ đường sắt cao tốc và bài toán 70 tỉ USD Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng cũng cần được quản lý tài chính hiệu quả. Nợ công phải được kiểm soát ở mức an toàn và các dự án cần tạo ra hiệu quả kinh tế rõ rệt trong vòng 10-20 năm. Do đó, sự tăng trưởng được tài trợ này không nên phụ thuộc quá nhiều vào vay nợ mà cần hướng đến khả năng tự tạo nguồn thu và sinh lời trong thời gian hợp lý. Ngoài ra, để các công trình hạ tầng bền vững, chúng cần được triển khai theo hướng thân thiện với môi trường, tránh gây tác động tiêu cực lâu dài. Đồng thời, cần có cơ chế quản lý minh bạch, quy hoạch hiệu quả, có tính đến những tác động xã hội và môi trường mà mọi dự án hạ tầng lớn có thể gây ra khi được triển khai tại một khu vực nhất định. RFI : Chúng ta thấy một yếu tố mới xuất hiện : cuộc khủng hoảng năng lượng và dầu mỏ do chiến tranh ở Trung Đông. Yếu tố này sẽ tác động như thế nào đến các dự án lớn của Việt Nam và, quan trọng hơn, đến sự tăng trưởng của đất nước ? Éric Mottet : Căng thẳng và khủng hoảng tại Trung Đông tạo ra một “cú sốc bên ngoài” đối với Việt Nam và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án hạ tầng lớn và triển vọng tăng trưởng. Tôi cho rằng tác động tiêu cực trong ngắn hạn được thể hiện rõ qua việc giá nguyên vật liệu tăng mạnh, đặc biệt là dầu khí. Điều này làm leo thang chi phí xây dựng, bởi vì thép, xi măng và nhựa đường đều tăng giá đáng kể ; riêng nhựa đường tại nhiều nước đã tăng từ 30-50%. Chi phí năng lượng tăng cao làm đội chi phí tổng thể của các dự án, đồng thời gia tăng nguy cơ chậm tiến độ hoặc vượt ngân sách. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính và khả năng sinh lời của các công trình hạ tầng quy mô lớn. Đặc biệt, các dự án có vốn đầu tư lớn như đường sắt cao tốc, sân bay hay nhà máy điện hạt nhân có thể trở nên đắt đỏ hơn nhiều so với dự kiến ban đầu do khủng hoảng Trung Đông, nhất là nếu còn kéo dài trong nhiều tháng. Đọc thêmChiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam Khủng hoảng tại Trung Đông là trở ngại đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Giá năng lượng tăng gây ra lạm phát nhập khẩu, làm suy giảm sức mua của hộ gia đình và thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi chi phí năng lượng tăng, doanh nghiệp phải gánh chi phí cao hơn, từ đó hạn chế khả năng đầu tư và mở rộng sản xuất. Vì vậy, mục tiêu đạt mức tăng trưởng 10% mỗi năm của Việt Nam có nguy cơ trở nên khó khăn hơn trong giai đoạn 2026-2027, thậm chí là 2028 nếu khủng hoảng Trung Đông còn kéo dài. Tuy nhiên, không phải mọi tác động đều tiêu cực. Trong trường hợp của Việt Nam, khủng hoảng còn có thể trở thành động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng. Chúng ta có thể thấy rõ rằng Việt Nam hiện rất nhạy cảm với những cú sốc năng lượng từ bên ngoài. Điều này có thể thúc đẩy chính phủ đẩy nhanh chiến lược đa dạng hóa nguồn cung, bao gồm phát triển điện hạt nhân và mở rộng năng lượng tái tạo. Về dài hạn, những bước đi này sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào dầu khí, đặc biệt là nhập khẩu dầu mỏ. Khủng hoảng Trung Đông không hoàn toàn tiêu cực, tôi cho rằng Việt Nam hiểu rõ điều này. Tuy vậy, biến động năng lượng vẫn có thể cản trở mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% được đề ra trong giai đoạn 2026-2030. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Éric Mottet, Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada. (1) Dan Martin, Văn phòng tư vấn Dezan Shira & Associates, được AFP trích dẫn ngày 08/04/2026

Tạp chí Việt Nam
Việt Nam : Các đại dự án giúp bảo tồn mục tiêu tăng trưởng 10%?

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later Jun 1, 2026 11:44


“Những nhà lãnh đạo ảnh hưởng nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam đều được nhớ đến vì đã dẫn dắt những chuyển đổi mang tính cấu trúc” (1). Chỉ riêng năm 2025, Việt Nam triển khai hơn 550 dự án cơ sở hạ tầng trị giá khoảng 200 tỉ đô la. Hàng trăm dự án khác (điện hạt nhân, đường sắt cao tốc…) chuẩn bị được thực hiện. Mục tiêu cuối cùng là đạt tăng trưởng GDP ít nhất 10% trong nhiệm kỳ 2026-2030 và đưa Việt Nam thành nước có thu nhập trung bình cao. Theo báo Vietnamnet ngày 15/04/2026, “thay vì dàn trải, nhiệm kỳ mới đang hướng tới ít dự án hơn nhưng mỗi dự án phải đủ lớn để kéo tăng trưởng, tạo việc làm và mở rộng không gian phát triển”. Liệu các đại dự án có đủ để kéo tăng trưởng lên không ? Làm thế nào để tăng trưởng đó được bền vững ? Những biến động địa-chính trị thế giới, đặc biệt là khủng hoảng dầu lửa ở Trung Đông, tác động như thế nào đến mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn ông Éric Mottet, chuyên gia địa-chính trị Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, giám đốc nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada. RFI : Trước tiên, xin ông giải thích những yếu tố nào góp phần vào sự tăng trưởng của một quốc gia ? Éric Mottet : Theo ước tính có khoảng bảy yếu tố then chốt tác động đến tăng trưởng kinh tế, có thể hoạt động đồng thời hoặc riêng lẻ. Trước hết là lao động, bao gồm quy mô dân số trong độ tuổi lao động, tỷ lệ việc làm, trình độ học vấn, kỹ năng và chất lượng đào tạo của người lao động. Một lực lượng lao động năng động, được đào tạo tốt sẽ tạo ra của cải hiệu quả hơn. Tiếp theo là vốn vật chất và vốn con người, tức là chất lượng máy móc được sử dụng, cơ sở hạ tầng, công nghệ, kỹ năng và bí quyết. Một quốc gia càng đầu tư nhiều vào nhà máy, đường xá và máy móc, thì càng giúp tăng năng suất và sản lượng quốc gia. Yếu tố thứ ba là tiến bộ công nghệ. Quốc gia đó có đầu tư vào đổi mới, công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển không ? Bởi vì đây là một động lực rất cần thiết cho tăng trưởng, ít nhất là trong dài hạn. Ví dụ trí tuệ nhân tạo (AI), hiện tại đã rất quan trọng và sẽ còn quan trọng hơn nữa trong tương lai. Đọc thêmDự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử Tiếp theo, cần phải nói đến thể chế và khuôn khổ chính trị, tức là sự ổn định chính trị, tôn trọng pháp luật và quyền sở hữu nói riêng, cũng như hiệu quả quản lý nhà nước. Nói cách khác, một môi trường ổn định khuyến khích đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, và tạo dựng niềm tin là điều vô cùng cần thiết để tạo ra của cải và phát triển kinh tế. Sự mở cửa kinh tế nằm trong số những tiêu chí khác cũng rất quan trọng. Thương mại quốc tế giúp tiếp cận thị trường mới, công nghệ mới và tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, khoáng sản, đất nông nghiệp, từ đó tăng trưởng kinh tế. Tất cả những yếu tố này có thể thúc đẩy tăng trưởng, nhưng không phải là thiết yếu. Ví dụ, ở châu Á, Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển mạnh dù nguồn tài nguyên hạn chế. Cuối cùng là nhu cầu nội địa. Mức tiêu dùng hộ gia đình, đầu tư kinh doanh, chi tiêu công của chính phủ Việt Nam như thế nào ? Nhu cầu mạnh mẽ sẽ kích thích sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. RFI : Các dự án lớn đóng vai trò như thế nào trong tăng trưởng của một quốc gia ? Chúng có góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng không ? Éric Mottet : Có, các dự án lớn - tức là các dự án cơ sở hạ tầng, công nghiệp, năng lượng và công nghệ - đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Việc này diễn ra ở nhiều cấp độ. Thứ nhất, các công trình hạ tầng kích thích nền kinh tế ngắn hạn bằng cách tạo ra việc làm, tăng nhu cầu đối với vật liệu, dịch vụ và thiết bị xây dựng. Chẳng hạn, việc xây dựng đập hoặc đường cao tốc sẽ tạo ra doanh thu và hoạt động kinh tế ngay lập tức. Sau đó, năng suất được cải thiện trong dài hạn, ví dụ các cơ sở hạ tầng giao thông giúp giảm chi phí vận chuyển và thời gian di chuyển, tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển. Điều này đặc biệt quan trọng ở một quốc gia như Việt Nam, vì giúp di chuyển hàng hóa và con người thuận lợi hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh cả trong nước cũng như với các công ty nước ngoài. Cơ sở hạ tầng tốt cũng thu hút đầu tư nước ngoài, ví dụ việc xây dựng cảng mới, khu công nghiệp hay đặc khu kinh tế sẽ thu hút các công ty nước ngoài còn do dự. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng chất lượng cao còn thúc đẩy tiến bộ công nghệ ; các dự án năng lượng tái tạo và thành phố thông minh kích thích đổi mới sáng tạo trên toàn quốc. Đọc thêmViệt Nam muốn thành “cứ điểm” sản xuất thế giới nhưng thiếu cơ sở hạ tầng Một yếu tố quan trọng khác là giảm bất bình đẳng lãnh thổ. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng chất lượng trên toàn quốc có thể giúp kết nối các vùng xa xôi, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế và việc làm. Một tuyến đường bộ hay đường sắt có thể thay đổi đáng kể một khu vực nông thôn hoặc vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn cũng có những hạn chế. Nhìn chung chúng có chi phí rất cao, có thể dẫn đến rủi ro nợ nần đáng kể cho một nước và cũng có thể gây ra nhiều vấn đề nếu bị quản lý kém hoặc có tham nhũng. Các dự án này cũng có thể gây tác động xấu đến môi trường. Theo tôi, tất cả các dự án cơ sở hạ tầng lớn đều không bảo đảm tăng trưởng nếu bị quy hoạch kém. Do đó, chúng phải được quy hoạch tốt, có hệ thống quản lý hiệu quả và thiết kế bền vững ngay từ đầu. RFI : Trong nhiệm kỳ 5 năm (2026-2030), Việt Nam sẽ triển khai nhiều dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn (đường sắt cao tốc, nhà máy điện hạt nhân, sân bay Long Thành, mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh). Những dự án này có ý nghĩa và vai trò như thế nào  trong việc đạt được mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% do đảng và Quốc Hội Việt Nam đề ra cho nhiệm kỳ này ? Éric Mottet : Đúng là các dự án hạ tầng lớn trong kế hoạch 5 năm đến năm 2030 là trụ cột chiến lược và trọng tâm phát triển. Chúng là đòn bẩy quan trọng giúp nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng bình quân 10%, tương tự những gì Trung Quốc đã trải qua trong những năm 1990-2000, thậm chí là cả thập niên 2010. Các dự án này là động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng ngắn hạn, như đã nói ở trên, vì sẽ huy động đầu tư công và tư nhân, tạo việc làm, thúc đẩy các ngành liên quan như xi măng, thép và logistics. Nhờ đó, chúng trở thành chất xúc tác mạnh, thúc đẩy kinh tế tức thời, và theo tôi, sẽ làm góp phần tăng GDP ngay khi được triển khai. Hơn nữa, các dự án hạ tầng lớn còn cho phép cải thiện cấu trúc năng suất của một quốc gia như Việt Nam. Khi hệ thống hạ tầng được nâng cấp, chi phí logistics giảm, thời gian vận chuyển được rút ngắn và độ tin cậy tăng lên, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và kết nối thương mại giữa các vùng. Chẳng hạn, tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - TP. HCM sẽ rút ngắn khoảng cách địa lý, tăng cường liên kết kinh tế Bắc - Nam, đồng thời góp phần củng cố sự gắn kết quốc gia. Và như vậy sẽ nâng cao sức thu hút của Việt Nam. Đọc thêmChuyển toàn bộ chuyến bay quốc tế về Long Thành: Giới chuyên gia Việt Nam quan ngại Bên cạnh đó, các dự án như sân bay Long Thành hay việc phát triển các đô thị hiện đại sẽ nâng cao vị thế của Việt Nam trong mạng lưới giao thông và thương mại quốc tế, cả về du lịch lẫn kinh tế. Những công trình này còn cho phép một thành phố lớn như TP. HCM cạnh tranh với những trung tâm logistics hàng đầu khu vực như Bangkok, Singapore hay Hồng Kông. Nhờ vậy, mô hình tăng trưởng cũng có cơ hội chuyển dịch. Ngoài ra, các dự án năng lượng như nhà máy điện hạt nhân, nếu được triển khai hiệu quả, sẽ bảo đảm nguồn cung điện ổn định và sẽ giúp nền kinh tế phát triển theo hướng cao cấp hơn. Tôi cho rằng tất cả những lý do này sẽ giúp củng cố tăng trưởng kinh tế. Và cần nhắc lại, nếu được triển khai một cách thông minh, bền vững và quản lý hiệu quả, những công trình cơ sở hạ tầng này sẽ giúp Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hàng năm và đưa Việt Nam trở thành một nền kinh tế quan trọng tại châu Á. RFI : Liệu sự tăng trưởng này (một phần nhờ các dự án lớn) có bền vững không ? Éric Mottet : Các dự án cơ sở hạ tầng có thể bền vững, nhưng không phải tự nhiên mà có mà phụ thuộc vào cách chúng được thiết kế, tài trợ và tích hợp vào nền kinh tế. Để đạt hiệu quả, cần xem xét nhiều yếu tố quan trọng. Trước hết, hạ tầng phải thực sự thiết thực. Thực tế cho thấy ở nhiều nước như Trung Quốc, kể cả Việt Nam, vẫn tồn tại các công trình được đầu tư lớn nhưng hiệu quả sử dụng thấp. Vì vậy, tính hữu ích và đáp ứng nhu cầu kinh tế thực sự là tiêu chí hàng đầu. Khi được quản lý tốt, cơ sở hạ tầng sẽ hỗ trợ tăng trưởng dài hạn. Thứ hai, các dự án hạ tầng cần đóng vai trò thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế có năng suất cao hơn, thay vì chỉ tạo ra tác động ngắn hạn. Điều này đòi hỏi hạ tầng phải được quy hoạch với tầm nhìn dài hạn, từ 10 đến 30 năm, thậm chí là 40 năm. Một công trình chỉ mang lại hiệu ứng tạm thời trong giai đoạn xây dựng sẽ không có nhiều ý nghĩa. Vì vậy, tính bền vững cần được đặt trong tầm nhìn nhiều thập niên. Đọc thêmViệt Nam : Giấc mơ đường sắt cao tốc và bài toán 70 tỉ USD Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng cũng cần được quản lý tài chính hiệu quả. Nợ công phải được kiểm soát ở mức an toàn và các dự án cần tạo ra hiệu quả kinh tế rõ rệt trong vòng 10-20 năm. Do đó, sự tăng trưởng được tài trợ này không nên phụ thuộc quá nhiều vào vay nợ mà cần hướng đến khả năng tự tạo nguồn thu và sinh lời trong thời gian hợp lý. Ngoài ra, để các công trình hạ tầng bền vững, chúng cần được triển khai theo hướng thân thiện với môi trường, tránh gây tác động tiêu cực lâu dài. Đồng thời, cần có cơ chế quản lý minh bạch, quy hoạch hiệu quả, có tính đến những tác động xã hội và môi trường mà mọi dự án hạ tầng lớn có thể gây ra khi được triển khai tại một khu vực nhất định. RFI : Chúng ta thấy một yếu tố mới xuất hiện : cuộc khủng hoảng năng lượng và dầu mỏ do chiến tranh ở Trung Đông. Yếu tố này sẽ tác động như thế nào đến các dự án lớn của Việt Nam và, quan trọng hơn, đến sự tăng trưởng của đất nước ? Éric Mottet : Căng thẳng và khủng hoảng tại Trung Đông tạo ra một “cú sốc bên ngoài” đối với Việt Nam và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án hạ tầng lớn và triển vọng tăng trưởng. Tôi cho rằng tác động tiêu cực trong ngắn hạn được thể hiện rõ qua việc giá nguyên vật liệu tăng mạnh, đặc biệt là dầu khí. Điều này làm leo thang chi phí xây dựng, bởi vì thép, xi măng và nhựa đường đều tăng giá đáng kể ; riêng nhựa đường tại nhiều nước đã tăng từ 30-50%. Chi phí năng lượng tăng cao làm đội chi phí tổng thể của các dự án, đồng thời gia tăng nguy cơ chậm tiến độ hoặc vượt ngân sách. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính và khả năng sinh lời của các công trình hạ tầng quy mô lớn. Đặc biệt, các dự án có vốn đầu tư lớn như đường sắt cao tốc, sân bay hay nhà máy điện hạt nhân có thể trở nên đắt đỏ hơn nhiều so với dự kiến ban đầu do khủng hoảng Trung Đông, nhất là nếu còn kéo dài trong nhiều tháng. Đọc thêmChiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam Khủng hoảng tại Trung Đông là trở ngại đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Giá năng lượng tăng gây ra lạm phát nhập khẩu, làm suy giảm sức mua của hộ gia đình và thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi chi phí năng lượng tăng, doanh nghiệp phải gánh chi phí cao hơn, từ đó hạn chế khả năng đầu tư và mở rộng sản xuất. Vì vậy, mục tiêu đạt mức tăng trưởng 10% mỗi năm của Việt Nam có nguy cơ trở nên khó khăn hơn trong giai đoạn 2026-2027, thậm chí là 2028 nếu khủng hoảng Trung Đông còn kéo dài. Tuy nhiên, không phải mọi tác động đều tiêu cực. Trong trường hợp của Việt Nam, khủng hoảng còn có thể trở thành động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng. Chúng ta có thể thấy rõ rằng Việt Nam hiện rất nhạy cảm với những cú sốc năng lượng từ bên ngoài. Điều này có thể thúc đẩy chính phủ đẩy nhanh chiến lược đa dạng hóa nguồn cung, bao gồm phát triển điện hạt nhân và mở rộng năng lượng tái tạo. Về dài hạn, những bước đi này sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào dầu khí, đặc biệt là nhập khẩu dầu mỏ. Khủng hoảng Trung Đông không hoàn toàn tiêu cực, tôi cho rằng Việt Nam hiểu rõ điều này. Tuy vậy, biến động năng lượng vẫn có thể cản trở mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% được đề ra trong giai đoạn 2026-2030. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Éric Mottet, Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada. (1) Dan Martin, Văn phòng tư vấn Dezan Shira & Associates, được AFP trích dẫn ngày 08/04/2026

TẠP CHÍ XÃ HỘI
Rừng ngập mặn và những thách thức về bảo tồn « tuyến phòng thủ tự nhiên » ven biển Việt Nam

TẠP CHÍ XÃ HỘI

Play Episode Listen Later May 27, 2026 15:26


Ngày 26/07 hàng năm được UNESCO chọn làm Ngày Quốc tế Bảo tồn Hệ sinh thái Rừng ngập mặn, kể từ năm 2015, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của rừng ngập mặn và khuyến khích việc bảo vệ chúng. Tại Việt Nam, một trong những nước phải chịu nhiều tác động biến đổi khí hậu, nước biển không ngừng dâng cao, rừng ngập mặn là một tuyến phòng thủ tự nhiên không thể thiếu trước những tác động khắc nghiệt của tự nhiên. Không chỉ đóng vai trò bảo vệ bờ biển, hệ sinh thái đặc biệt này còn là nơi trú ngụ của nhiều loài sinh vật, góp phần vào sinh kế của người dân ven biển. Tuy nhiên, áp lực từ đô thị hóa, nuôi trồng thủy sản đã khiến diện tích rừng ngập mặn suy giảm đáng kể.  Để hiểu rõ hơn về thực trạng, thách thức về bảo tồn rừng ngập mặn ở Việt Nam, RFI tiếng Việt đã có cuộc trao đổi với tiến sĩ Lê Anh Tuấn, giảng viên khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên của Đại học Cần Thơ. RFI : Báo chí Việt Nam thường gọi rừng ngập mặn là bức tường xanh, lá chắn sinh thái … Tiến sĩ có thể giải thích cho thính giả - độc giả của đài RFI tiếng Việt được biết rừng ngập mặn là gì, có những nét đặc biệt về sinh thái như thế nào ? TS. Lê Anh Tuấn : Rừng ngập mặn là những cánh rừng phát triển ở những khu đất đang bị ngập do nước mặn, đặc biệt là nước từ biển. Rừng ngập mặn có một vai trò rất lớn, là một lá chắn để bảo vệ vùng bờ biển và tạo ra một hệ sinh thái rất độc đáo cho các khu vực xung quanh, đồng thời là một nguồn phát triển sinh kế cho người dân, cũng như ổn định bờ biển của Việt Nam. Ở Việt Nam thì rừng ngập mặn tập trung nhiều nhất là ở vùng bán đảo Cà Mau, ở đồng bằng sông Cửu Long. Vào khoảng năm 1953-1954, diện tích rừng rất lớn, khoảng hơn 71.300 ha. Nhưng tới năm 1992 thì diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp rất nhiều, chỉ còn khoảng 33.000 ha. Một lý do là chiến tranh Việt Nam trước năm 1975, cùng với việc sử dụng chất diệt cỏ nên diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp. Rồi người ta sử dụng rừng ngập mặn để khai thác gỗ hoặc là chế biến than củi làm chất đốt. Rừng ngập mặn cũng bị người ta chuyển sang sản xuất nuôi trồng thủy sản, như là nuôi tôm hay nuôi cua. Khi sản xuất được mở rộng thì rừng ngập mặn bị thu hẹp lại. Nhưng mà sau đó thì người ta nhận thấy rằng rừng ngập mặn có một vai trò rất lớn trong hệ sinh thái và đồng thời bảo vệ vùng bờ biển nên có nhiều chương trình để phục hồi rừng ngập mặn, đặc biệt là từ những năm 1995 trở đi, song song với chương trình gọi là phục hồi rừng trên toàn quốc và kèm theo đó là chương trình mà trồng rừng 5 triệu ha rừng nữa. Đây là một nỗ lực rất lớn để phục hồi lại rừng ngập mặn. Đồng thời cũng có rất nhiều chương trình tài trợ cho việc bảo vệ rừng ngập mặn và khôi phục lại những hệ sinh thái ở vùng ngập rừng ngập mặn, đặc biệt là các vùng ven biển đồng bằng Sông Cửu Long, một số vùng ở Cần Giờ của Sài Gòn, một số vùng miền Trung như là vùng đầm phá Tam Giang hoặc là một số vùng ven biển ở phía Bắc thì rừng gặp mặn bắt đầu khôi phục dần dần. Tuy nhiên cũng có rất nhiều thách thức, do biến đổi khí hậu chẳng hạn, hoặc là do sự phát triển của dân số và sản xuất, nên diện tích rừng ngập mặn vẫn không được nhiều như mong muốn. Và đặc biệt, do nước biển dâng và thiên tai, nên rừng ngập mặn ở vùng bán đảo Cà Mau đang có khuynh hướng bị thu hẹp, bị xói lở rất mạnh ở mũi Cà Mau bên phía biển đông. Nhưng một phần phù sa lại đắp cho vùng biển phía tây, nên rừng ngập mặn đang có khuynh hướng phát triển về phía tây, trong khi phía đông thì bị thu hẹp lại. RFI : Vai trò của rừng ngập mặn trong việc chống biến đổi khí hậu là gì ? TS. Lê Anh Tuấn : Thứ nhất, rừng ngập mặn có sinh khối rất lớn. Các cây rừng ngập mặn, ví dụ như là cây mắm, cây đước, cây bần, phát triển mạnh, tạo ra một sinh khối rất lớn và dày đặc. Các rừng này sẽ hấp thụ lượng carbon (CO2) và đồng thời nhả ra oxy cho khu vực. Đồng thời rừng ngập mặn có vai trò che chắn sự tàn phá của sóng biển hay sự tàn phá của những trận bão nhiệt đới, để bảo vệ sản xuất và đời sống của người dân ở bên trong. Rừng ngập mặn cũng là nơi trú ngụ của rất nhiều loài chim, cá, và những loài chim cá này tạo ra một cảnh quan, một sự đa dạng sinh học cho khu vực. RFI : Với vai trò của rừng gập mặn trong việc chống biến đổi khí hậu như vậy, có thể hiểu là Việt Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, rất cần rừng ngập mặn. Vậy ngoài tác dụng về chống biến đổi khí hậu thì rừng ngập mặn còn có vai trò gì đối với sinh kế của người dân Việt Nam ? TS.Lê Anh Tuấn : Rừng ngập mặn là nơi trú ngụ của rất nhiều loại thủy sản, như các loại tôm, cua, sò, ốc khác nhau. Người dân có thể dựa vào rừng ngập mặn để nuôi tôm, rồi nuôi cua hay là nuôi sò, nuôi ốc, hoặc là người ta có thể tạo ra những sản phẩm phụ như là cây gỗ hay là tạo ra hoạt động du lịch, du lịch sinh thái ở những vùng như vậy. Đó là một cơ sở để tạo ra sinh kế của cộng đồng và thêm nguồn thu cho cho chính quyền địa phương ở đó. RFI : Ở nhiều nước trên thế giới thì rừng ngập mặn bị tàn phá vì nhiều lý do. Tình hình tại Việt Nam, như tiến sĩ đã phân tích, diện tích rừng ngập mặn cũng đã giảm, về lịch sử thì có thể nói là do chiến tranh Việt Nam từ những năm trước 1975. Sau này thì có thể nói đến hai yếu tố, thứ nhất là biến đổi khí hậu, thứ hai là hoạt động của con người cũng đã góp phần là tàn phá, thu hẹp cái rừng ngập mặn. Vậy còn về chất lượng rừng ngập mặn hiện nay thì ra sao ? TS. Lê Anh Tuấn : Tôi cho rằng vùng rừng ngập mặn mà được khôi phục và bảo tồn thì chất lượng sẽ tốt hơn rất là nhiều. Ví dụ như ngày xưa là rừng ngập mặn ở Cần Giờ ở khu vực Sài Gòn bị tàn phá rất nhiều. Nhưng bây giờ rừng này đã phục hồi và có rất nhiều loài chim muông và thú, hay cá tụ về. Vùng bản đảo Cà Mau người ta cũng ghi nhận như vậy. Tuy nhiên, do sự giằng co giữa con người và thiên nhiên, biến đổi khí hậu, hoặc do sự quản lý lỏng lẻo, người ta có thể đi vào trong một khu rừng ngập mặn, chặt phá trộm hoặc là lén lút mở rộng diện tích nuôi tôm. Về mặt pháp luật, họ bị ngăn cấm rất nhiều, nhưng mà vấn đề là quản lý của chính quyền địa phương ở mỗi khu vực thì khác nhau, nơi làm tốt thì có thể rừng ngập mặn phát triển nhiều và đóng vai trò khôi phục lại hệ sinh thái và bảo vệ cái bờ biển khu vực đó. Còn những nơi quản lý lỏng lẻo, để cho người dân vô chặt phá, hoặc ở những vùng chịu những tác động của sóng biển bị xói lở hay là do những yếu tố thiên tai khác thì rừng ngập mặn đang thu hẹp. Nhìn trên bản đồ, chúng ta thấy rằng sự thu hẹp hay là mở rộng rừng ngập mặn không đồng đều ở các vùng khác nhau của Việt Nam. RFI : Thưa tiến sĩ Lê Anh Tuấn, ông là chuyên gia về môi trường và tài nguyên thiên nhiên, theo ông đâu là những khó khăn, những thách thức trong thời gian tới đây để bảo vệ, khôi phục rừng ngập mặn tại Việt Nam mà vẫn bảo đảm được sinh kế cho người dân ? TS.Lê Anh Tuấn : Một trong những thách thức để bảo vệ rừng ngập mặn là chúng ta phải nhận diện lại những mối đe dọa đến diện tích rừng ngập mặn. Thí dụ như là sạt lở bờ biển, sự suy giảm phù sa của sông Cửu Long khi ra biển, bởi vì rừng ngập mặn là một bãi bồi nhận phù sa đổ ra ngoài biển. Và những phù sa này hiện nay đang có khuynh hướng giảm đi, do sự hình thành của các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Kông. Đồng thời tình trạng khai thác cát bừa bãi ở vùng thượng nguồn làm cho lượng phù sa đi đến vùng bờ biển cũng ít đi. Và khi phù sa ít đi thì không còn bồi đắp lại mũi Cà Mau nữa. Điều này vừa có yếu tố con người, vừa có yếu tố tự nhiên. Thứ hai, vấn đề là quản lý và khôi phục lại những cánh rừng ngập mặn. Nếu chúng ta có rất nhiều biện pháp mà quản lý cách chặt chẽ thì chúng ta có thể giữ được những rừng ngập mặn đó để phát triển. Còn nếu chúng ta lơi lỏng trong quản lý, để cho một số người khai thác bất hợp pháp lấy củi hoặc mở rộng diện tích canh tác thì lúc đó rừng ngập mặn sẽ bị đe dọa. Tôi nghĩ rằng là đây là một biện pháp rất tổng hợp, tuy nhiên diện tích mà chúng ta cần phải bảo vệ và duy trì quá lớn so với sức của con người ở mỗi địa phương. Thế nên, cần phải có một sự phối hợp mạnh mẽ giữa chính quyền địa phương với các cơ quan quản lý rừng, với các nhà khoa học, đồng thời phải nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ và nhận diện sự bền vững của rừng ngập mặn. Nếu chúng ta biết cách bảo vệ thì rừng ngập mặn sẽ tiếp tục phục vụ lại chính con người chúng ta, mà chúng ta cũng có thể dừng rừng ngập mặn để hạn chế những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. RFI : Theo ông, mô hình phục hồi rừng ngập mặn nào của Việt Nam hiện nay đang được đánh giá là hiệu quả ? TS. Lê Anh Tuấn : Tôi nghĩ một mô hình tốt là phải có sự phối hợp giữa chính quyền và người dân trong cộng đồng. Cụ thể là ở một số nơi, chính quyền đã giao một số khu rừng ngập mặn cho người dân quản lý và bảo vệ. Người ta có thể sử dụng diện tích mặt nước để nuôi tôm, nuôi cua để khai thác và đồng thời người ta có thể phát triển được du lịch cộng đồng tại chỗ, để tăng thêm thu nhập khi mà người dân phải cùng với chính phủ bảo vệ rừng ngập mặn.  RFI : Việt Nam có được các tổ chức quốc tế, các hiệp hội bảo vệ môi trường - sinh thái hỗ trợ trong các chương trình phục hồi và bảo vệ rừng ngập mặn hay không ? TS. Lê Anh Tuấn : Theo tôi biết là có rất nhiều chương trình để phục hồi rừng ngập mặn, như là chương trình của chính phủ Đức, hay là chương trình để thành lập vườn quốc gia mũi Cà Mau, hoặc là một số tổ chức phi chính phủ khác tài trợ cho những chương trình trồng rừng ngập ngập mặn và khuyến khích giới trẻ Việt Nam tham gia bảo vệ rừng ngập mặn đó, cùng nhau có những chiến dịch trồng lại những rừng ngập mặn. Cũng có một số chương trình của chính phủ Pháp để phục hồi lại một số rừng ngập mặn, nhưng mà các chương trình đó thì không kéo dài và nguồn kinh phí thì không có nhiều như là một số tổ chức khác của Đức chẳng hạn. RFI : Giữa việc khôi phục diện tích, mở rộng diện tích rừng ngập mặn và việc cải thiện nâng cao chất lượng của rừng ngập mặn, thì theo ý kiến đánh giá của tiến sĩ, điều nào là quan trọng hơn đối với Việt Nam để có thể chống biến đổi khí hậu ? TS. Lê Anh Tuấn : Tôi nghĩ rằng hiện nay chúng ta phải có một cái giải pháp tương đối tổng hợp. Chúng ta cũng đừng dựa vào một giải pháp duy nhất nào đó. Thứ nhất là về chính sách, phải tiếp tục duy trì ngân sách để phát triển rừng ngập mặn. Thứ hai là phải có sự tham gia của các nhà khoa học, sử dụng những công công cụ hiện đại để chúng ta quản lý rừng ngập mặn tốt hơn. Ví dụ như dùng viễn thám hay là dùng máy bay không người lái để tuần tiễu, tìm cách phát hiện ra những nơi nào rừng ngập mặn đang bị tàn phá hay là xâm hại, hoặc sử dụng những biện pháp, kể cả những biện pháp đơn giản, như trồng rừng lại bằng sức người, theo từng nhóm nhỏ, trồng lại rừng ở những bãi bồi, những chỗ mà rừng ngập mặn bị mất đi hoặc là chúng ta có thể tìm ra những biện pháp hỗ trợ người dân không xâm phạm rừng ngập mặn, nhưng vẫn có thể có được những sinh kế ở trên cái đất rừng ngập mặn đó. Ví dụ như là người ta có thể giành lại một khoảng 20-25 hay là 30% diện tích mặt nước ở trong rừng ngập mặn để người ta nuôi tôm, cua hoặc là các sản vật khác chẳng hạn, mà không làm ảnh hưởng tới rừng ngập mặn. Và trong khi nuôi trồng như vậy thì người ta cũng có biện pháp bảo vệ rừng ngập mặn, phát hiện ra những người lạ xâm lấn vào trong khu rừng đó, đồng thời có thể cảnh báo cho chính quyền khi mà rừng ngập mặn gặp những mối đe dọa khác, ví dụ như sạt lở hay là ô nhiễm do hoạt động sản xuất khác. Ví dụ người sản xuất công nghiệp xả thải không qua xử lý thì có thể ảnh hưởng tới rừng ngập mặn. Như vậy, chính người được giao rừng sẽ là người cùng với chính quyền bảo vệ lại rừng ngập mặn. Và tôi nghĩ rằng cũng nên có những chương trình bền bỉ để giúp cho cộng đồng hay là các bạn trẻ hiểu rõ vai trò của rừng ngập mặn, để cùng nhau bảo vệ. Chúng ta không nên nghĩ rừng chỉ là rừng mà rừng còn có nhiều tác dụng về nguồn nước, về khí hậu, về đất đai và hệ sinh thái, có rất nhiều lợi ích trong đó. RFI Tiếng Việt chân thành cảm ơn tiến sĩ Lê Anh Tuấn, giảng viên khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên của Đại học Cần Thơ, đã tham gia chương trình hôm nay.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Khủng hoảng Trung Đông : Cơ hội cho hợp tác khai thác dầu khí Việt-Trung ở Biển Đông?

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later May 18, 2026 9:08


Khoảng 88% tổng lượng dầu thô nhập khẩu của Việt Nam được nhập từ vùng Vịnh Ba Tư, chỉ đứng sau Philippines (95%) và đứng trước các nước Malaysia (69%), Thái Lan (59%) và Singapore (52%), theo Ngân hàng Đầu tư Maybank (1). Kuwait là nhà cung cấp dầu thô lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 80% tổng lượng nhập khẩu. Khoảng 49% khối lượng khí hóa lỏng LNG nhập khẩu của Việt Nam cũng có xuất xứ từ Vùng Vịnh (2). Sự phụ thuộc nghiêm trọng vào gần như một nước, một khu vực vẫn được coi là “chảo lửa” Trung Đông, được phản ánh rõ trong cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz.  Ngoài ra, Việt Nam có kho dự trữ dầu chiến lược nhỏ nhất Đông Nam Á, trong khi việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả. Đọc thêmViệt Nam đối mặt với tình trạng thiếu xăng dầu vì nguồn cung ứng bị gián đoạn Theo một tài liệu của bộ Công Thương, được Reuters trích dẫn ngày 18/03/2026, Việt Nam cũng phải đối mặt với việc các mỏ dầu ngoài khơi đang dần cạn kiệt, khiến sản lượng dầu thô nội địa dự kiến ​​sẽ bị giảm trong thập niên này, chỉ còn khoảng 5,8 đến 8 triệu tấn/năm, thấp hơn mức bình quân 8,6 triệu tấn của 5 năm gần nhất. Do đó, Việt Nam có nguy cơ phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn nhập khẩu dầu lửa do hệ thống lọc dầu cần lượng nguyên liệu lớn hơn rất nhiều để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn ở trong nước. UNCLOS nói gì về khai thác dầu khí trong vùng tranh chấp chủ quyền ? Về lâu dài, Việt Nam dự trù tăng cường hoạt động thăm dò, trong đó có việc đưa ra các ưu đãi cho các công ty dầu khí quốc tế đầu tư vào các mỏ ngoài khơi. Mục tiêu là nâng cao trữ lượng có thể khai thác thêm 13 triệu đến 17 triệu tấn dầu thô mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030. Khủng hoảng năng lượng ở Trung Đông đã thúc đẩy Philippines nêu khả năng thăm dò dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông, nơi đang có tranh chấp chủ quyền. Liệu Việt Nam có làm như vậy với Trung Quốc ? Thực ra, ngay năm 2005, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đã có thỏa thuận ba bên về “Khảo sát Địa chấn biển chung” (Joint Marine Seismic Undertaking, JSMU) tại khu vực “theo thỏa thuận” rộng 142.886 km² ở Biển Đông, bao gồm một phần quần đảo Trường Sa. Thỏa thuận này kéo dài ba năm và hết hạn vào năm 2008. Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt, giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Trường Sư phạm Lyon, nhận định : “Cả Philippines và Việt Nam đều coi đó là cơ hội để cải thiện quan hệ chính trị, kinh tế và quân sự với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy phát triển chung các nguồn tài nguyên có thể sẽ rất khó khai thác vì những căng thẳng”. Đọc thêmViệt Nam có bị ảnh hưởng từ hợp tác dầu khí Trung Quốc - Philippines ở Biển Đông? Ý định này vẫn chỉ nằm trên giấy tờ vì những đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với hầu hết Biển Đông, cho dù bị vô hiệu hóa trong phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng Tài Thường Trực (PCA) La Haye. Tuy nhiên, các bên vẫn không từ bỏ nỗ lực tìm kiếm một thỏa hiệp, dù chỉ là tạm thời, theo giải thích của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon : “Theo luật quốc tế, khi nhiều quốc gia cùng tuyên bố chủ quyền đối với một vùng biển (vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa chồng lấn), Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 quy định nghĩa vụ hợp tác. Thông qua Điều 74 và 83, Công ước quy định các quốc gia phải đàm phán thiện chí để đạt được sự phân định công bằng và không được làm tổn hại hoặc cản trở một thỏa thuận trong tương lai. Cụ thể, điều này có nghĩa là việc khai thác dầu khí đơn phương tiềm ẩn rủi ro pháp lý tại khu vực tranh chấp giữa nhiều quốc gia theo luật quốc tế. Công ước cũng khuyến khích các giải pháp tạm thời. Công ước quy định các quốc gia có thể ký kết các thỏa thuận tạm thời mang tính thực tiễn trong khi chờ phân định cuối cùng. Chính trong khuôn khổ pháp lý này mà các khu vực phát triển chung về dầu khí đang được phát triển. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng Công ước không đề cập đến phương pháp cần tuân theo. Do đó, Công ước không định nghĩa một cơ chế tiêu chuẩn cho việc quản lý chung dầu khí, cũng không thiết lập các quy tắc chia sẻ doanh thu hoặc quản trị, cũng không tạo ra một thể chế cụ thể cho các khu vực tranh chấp này. Do đó, các phương thức cụ thể (chia sẻ, thuế, nhà điều hành…) hoàn toàn được đàm phán song phương hoặc trong khu vực giữa các quốc gia”. Đọc thêmViệt Nam bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông như nào ? Tiền lệ về gác tranh chấp chủ quyền để cùng thăm dò khai thác Trường hợp tranh chấp chủ quyền trên biển nhưng vẫn hợp tác khai thác dầu khí không phải là hiếm trên thế giới, theo nhà nghiên cứu Laurent Gédéon : “Hai mô hình khu vực phát triển chung có thể được nêu ra làm ví dụ để các bên ở Biển Đông, đặc biệt là Việt Nam, có thể tham khảo. Thứ nhất là Khu vực Phát triển Chung Nigeria-São Tomé và Príncipe (Nigeria-São Tomé and Príncipe Joint Development Zone), liên quan đến hoạt động khai thác dầu khí trong vùng biển mà cả hai quốc gia đều tuyên bố chủ quyền ở Vịnh Guinea. Thứ hai là Khu vực Phát triển Chung Malaysia-Thái Lan (Malaysia-Thailand Joint Development Area, MTJDA), liên quan đến việc khai thác khí đốt tự nhiên trong khu vực tranh chấp giữa Malaysia và Thái Lan, nằm ở Vịnh Thái Lan. Có thể thấy rõ rằng bất chấp những khó khăn, sự hợp tác giữa các bên tuyên bố có quyền về dầu khí ở Biển Đông là khả thi và có thể được thực hiện phù hợp với cả luật pháp quốc tế và luật pháp quốc gia”. Bãi Tư Chính : Việt Nam khẳng định chủ quyền nhưng không khai thác được Tài nguyên dầu khí của Việt Nam tập trung quanh bãi Tư Chính (Vanguard Bank), chiếm khoảng 10% nhu cầu năng lượng của đất nước. Hà Nội khẳng định khu vực nhà giàn DK1, trong đó có bãi Tư Chính, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở của Việt Nam và là thềm lục địa phía nam Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với UNCLOS 1982. Vùng biển này không tranh chấp với nước nào, và lại càng không tranh chấp với Trung Quốc. Ngược lại, Bắc Kinh và Đài Bắc cho rằng bãi Tư Chính thuộc quần đảo Trường Sa, đang có tranh chấp chủ quyền. Trung Quốc thường xuyên tuần tra tại đây nhằm đe dọa Việt Nam và làm gián đoạn hoạt động của các công ty dầu khí khai thác trong khu vực. Tháng 07/2017, tập đoàn Repsol của Tây Ban Nha phải ngừng hoạt động thăm dò khí đốt tại mỏ Cá Rồng Đỏ ở khu vực bãi Tư Chính. Trong suốt ba tuần tháng 07/2019, Trung Quốc đưa tàu thăm dò Hải Dương 8 (Haiyang Dizhi 8), được nhiều tàu hải cảnh và dân quân biển hộ tống, xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam tại khu vực bãi Tư Chính. Hoạt động gây rối này tái diễn trong những năm 2023, 2024. Đọc thêmBãi Tư Chính : Việt Nam nên để ngỏ khả năng kiện Trung Quốc Song song với việc “quấy rối” hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam và tiếp tục đòi chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông, từ năm 2017, Trung Quốc cũng “tích cực” đề xuất một số dự án phát triển chung ở Biển Đông với Việt Nam và Philippines. Động cơ đằng sau đề xuất này là gì ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon giải thích : “Động cơ của Bắc Kinh có thể được xem xét cả về kinh tế và địa chiến lược. Về kinh tế, việc khai thác tài nguyên năng lượng ở Biển Đông cho phép Trung Quốc đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nước ngày càng tăng. Hơn nữa, bất kỳ động thái hội nhập khu vực nào cũng nằm trong khuôn khổ rộng lớn hơn của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), do Bắc Kinh khởi xướng và có hiệu lực từ tháng 01/2022. Về mặt địa-chiến lược, các sáng kiến ​​chung với các quốc gia giáp Biển Đông cho phép Trung Quốc tăng cường quan hệ hợp tác với những nước này. Về lâu dài, sự gần gũi đó có thể góp phần làm suy yếu mối quan hệ giữa các quốc gia này với Hoa Kỳ và từ đó củng cố vị thế của Bắc Kinh trong bối cảnh cạnh tranh Trung-Mỹ”. Những bị động do phụ thuộc quá lớn vào nguồn cung năng lượng Trung Đông có khiến Hà Nội thay đổi quan điểm về thỏa thuận khai thác chung và chia sẻ công bằng nguồn năng lượng ở Biển Đông không ? Liệu có khả năng Việt Nam và Trung Quốc hợp tác trong tương lai gần hay không ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon nhận định : “Có khả năng hợp tác cho dù hai nước, Trung Quốc và Việt Nam, không từ bỏ các tuyên bố chủ quyền của họ bởi vì Việt Nam có những lập luận bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông, nhưng họ có thể gác lại khía cạnh chủ quyền này hoặc đồng ý gác lại để tập trung vào các cơ chế thực tế để quản lý tài nguyên mà trong trường hợp này, là quản lý tài nguyên dầu mỏ. Đúng là nhiều nguồn tài nguyên đang được khai thác, và một số đang gần cạn kiệt. Nhưng không phải tất cả các nguồn tài nguyên ở Biển Đông đều đã được xác định. Trong khuôn khổ quản lý thực tiễn chung các nguồn tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam, có thể sẽ có các đợt thăm dò chung nhằm xác định các mỏ dầu khí hoặc khí đốt tự nhiên mới, sau đó sẽ được khai thác và chia sẻ chung. Đọc thêmViệt Nam, Malaysia, Philippines: Gác tranh chấp, chống Trung Quốc ở Biển Đông? Thực tế cho thấy Việt Nam phụ thuộc vào nguồn cung dầu mỏ Trung Đông. Nhìn vào tình hình bất ổn hiện nay ở Trung Đông, đặc biệt là những khó khăn do các “điểm kiểm soát” - tức là các eo biển chiến lược - gây ra thì hiện giờ đang có rất nhiều tranh luận liên quan đến eo biển Hormuz, đang bị cả Iran và Mỹ phong tỏa. Ngoài ra còn phải nhắc đến eo biển Malacca, một eo biển nhạy cảm, nơi trung chuyển một phần rất lớn dầu mỏ dành cho các nước ở Đông Nam Á và và Đông Bắc Á. Vì vậy, sự phụ thuộc vào các đặc điểm địa lý có thể trở nên rất nhạy cảm từ góc độ địa-chính trị, đang thúc đẩy Việt Nam tìm cách xác định các nguồn tài nguyên dầu mỏ có thể khai thác được mà không cần đi qua những nơi tiềm ẩn nhiều vấn đề từ góc độ địa-chính trị như vậy”. Để có thể đi đến một quyết định, chắc chắn sẽ gây tranh cãi, nhưng mang tính thiết yếu cho nguồn cung năng lượng Việt Nam Nam, nhà nghiên cứu Laurent Gédéon cho răng, “các liên doanh được thành lập trong khuôn khổ quản lý chung không nên bị coi là một bước thụt lùi hoặc là một thất bại, mà là một cơ chế thực dụng được thiết lập trong khi chờ đợi một giải pháp dứt khoát, mà không phán xét về việc phân định ranh giới sau này các vùng biển liên quan và không đặt ra nghi vấn về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mỗi bên”. (1) ASEAN countries exposed by Middle East oil dependence (2) The Middle East Crisis and Southeast Asia's Energy Vulnerability

Tạp chí Việt Nam
Khủng hoảng Trung Đông : Cơ hội cho hợp tác khai thác dầu khí Việt-Trung ở Biển Đông?

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later May 18, 2026 9:08


Khoảng 88% tổng lượng dầu thô nhập khẩu của Việt Nam được nhập từ vùng Vịnh Ba Tư, chỉ đứng sau Philippines (95%) và đứng trước các nước Malaysia (69%), Thái Lan (59%) và Singapore (52%), theo Ngân hàng Đầu tư Maybank (1). Kuwait là nhà cung cấp dầu thô lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 80% tổng lượng nhập khẩu. Khoảng 49% khối lượng khí hóa lỏng LNG nhập khẩu của Việt Nam cũng có xuất xứ từ Vùng Vịnh (2). Sự phụ thuộc nghiêm trọng vào gần như một nước, một khu vực vẫn được coi là “chảo lửa” Trung Đông, được phản ánh rõ trong cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz.  Ngoài ra, Việt Nam có kho dự trữ dầu chiến lược nhỏ nhất Đông Nam Á, trong khi việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả. Đọc thêmViệt Nam đối mặt với tình trạng thiếu xăng dầu vì nguồn cung ứng bị gián đoạn Theo một tài liệu của bộ Công Thương, được Reuters trích dẫn ngày 18/03/2026, Việt Nam cũng phải đối mặt với việc các mỏ dầu ngoài khơi đang dần cạn kiệt, khiến sản lượng dầu thô nội địa dự kiến ​​sẽ bị giảm trong thập niên này, chỉ còn khoảng 5,8 đến 8 triệu tấn/năm, thấp hơn mức bình quân 8,6 triệu tấn của 5 năm gần nhất. Do đó, Việt Nam có nguy cơ phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn nhập khẩu dầu lửa do hệ thống lọc dầu cần lượng nguyên liệu lớn hơn rất nhiều để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn ở trong nước. UNCLOS nói gì về khai thác dầu khí trong vùng tranh chấp chủ quyền ? Về lâu dài, Việt Nam dự trù tăng cường hoạt động thăm dò, trong đó có việc đưa ra các ưu đãi cho các công ty dầu khí quốc tế đầu tư vào các mỏ ngoài khơi. Mục tiêu là nâng cao trữ lượng có thể khai thác thêm 13 triệu đến 17 triệu tấn dầu thô mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030. Khủng hoảng năng lượng ở Trung Đông đã thúc đẩy Philippines nêu khả năng thăm dò dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông, nơi đang có tranh chấp chủ quyền. Liệu Việt Nam có làm như vậy với Trung Quốc ? Thực ra, ngay năm 2005, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đã có thỏa thuận ba bên về “Khảo sát Địa chấn biển chung” (Joint Marine Seismic Undertaking, JSMU) tại khu vực “theo thỏa thuận” rộng 142.886 km² ở Biển Đông, bao gồm một phần quần đảo Trường Sa. Thỏa thuận này kéo dài ba năm và hết hạn vào năm 2008. Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt, giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Trường Sư phạm Lyon, nhận định : “Cả Philippines và Việt Nam đều coi đó là cơ hội để cải thiện quan hệ chính trị, kinh tế và quân sự với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy phát triển chung các nguồn tài nguyên có thể sẽ rất khó khai thác vì những căng thẳng”. Đọc thêmViệt Nam có bị ảnh hưởng từ hợp tác dầu khí Trung Quốc - Philippines ở Biển Đông? Ý định này vẫn chỉ nằm trên giấy tờ vì những đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với hầu hết Biển Đông, cho dù bị vô hiệu hóa trong phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng Tài Thường Trực (PCA) La Haye. Tuy nhiên, các bên vẫn không từ bỏ nỗ lực tìm kiếm một thỏa hiệp, dù chỉ là tạm thời, theo giải thích của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon : “Theo luật quốc tế, khi nhiều quốc gia cùng tuyên bố chủ quyền đối với một vùng biển (vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa chồng lấn), Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 quy định nghĩa vụ hợp tác. Thông qua Điều 74 và 83, Công ước quy định các quốc gia phải đàm phán thiện chí để đạt được sự phân định công bằng và không được làm tổn hại hoặc cản trở một thỏa thuận trong tương lai. Cụ thể, điều này có nghĩa là việc khai thác dầu khí đơn phương tiềm ẩn rủi ro pháp lý tại khu vực tranh chấp giữa nhiều quốc gia theo luật quốc tế. Công ước cũng khuyến khích các giải pháp tạm thời. Công ước quy định các quốc gia có thể ký kết các thỏa thuận tạm thời mang tính thực tiễn trong khi chờ phân định cuối cùng. Chính trong khuôn khổ pháp lý này mà các khu vực phát triển chung về dầu khí đang được phát triển. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng Công ước không đề cập đến phương pháp cần tuân theo. Do đó, Công ước không định nghĩa một cơ chế tiêu chuẩn cho việc quản lý chung dầu khí, cũng không thiết lập các quy tắc chia sẻ doanh thu hoặc quản trị, cũng không tạo ra một thể chế cụ thể cho các khu vực tranh chấp này. Do đó, các phương thức cụ thể (chia sẻ, thuế, nhà điều hành…) hoàn toàn được đàm phán song phương hoặc trong khu vực giữa các quốc gia”. Đọc thêmViệt Nam bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông như nào ? Tiền lệ về gác tranh chấp chủ quyền để cùng thăm dò khai thác Trường hợp tranh chấp chủ quyền trên biển nhưng vẫn hợp tác khai thác dầu khí không phải là hiếm trên thế giới, theo nhà nghiên cứu Laurent Gédéon : “Hai mô hình khu vực phát triển chung có thể được nêu ra làm ví dụ để các bên ở Biển Đông, đặc biệt là Việt Nam, có thể tham khảo. Thứ nhất là Khu vực Phát triển Chung Nigeria-São Tomé và Príncipe (Nigeria-São Tomé and Príncipe Joint Development Zone), liên quan đến hoạt động khai thác dầu khí trong vùng biển mà cả hai quốc gia đều tuyên bố chủ quyền ở Vịnh Guinea. Thứ hai là Khu vực Phát triển Chung Malaysia-Thái Lan (Malaysia-Thailand Joint Development Area, MTJDA), liên quan đến việc khai thác khí đốt tự nhiên trong khu vực tranh chấp giữa Malaysia và Thái Lan, nằm ở Vịnh Thái Lan. Có thể thấy rõ rằng bất chấp những khó khăn, sự hợp tác giữa các bên tuyên bố có quyền về dầu khí ở Biển Đông là khả thi và có thể được thực hiện phù hợp với cả luật pháp quốc tế và luật pháp quốc gia”. Bãi Tư Chính : Việt Nam khẳng định chủ quyền nhưng không khai thác được Tài nguyên dầu khí của Việt Nam tập trung quanh bãi Tư Chính (Vanguard Bank), chiếm khoảng 10% nhu cầu năng lượng của đất nước. Hà Nội khẳng định khu vực nhà giàn DK1, trong đó có bãi Tư Chính, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở của Việt Nam và là thềm lục địa phía nam Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với UNCLOS 1982. Vùng biển này không tranh chấp với nước nào, và lại càng không tranh chấp với Trung Quốc. Ngược lại, Bắc Kinh và Đài Bắc cho rằng bãi Tư Chính thuộc quần đảo Trường Sa, đang có tranh chấp chủ quyền. Trung Quốc thường xuyên tuần tra tại đây nhằm đe dọa Việt Nam và làm gián đoạn hoạt động của các công ty dầu khí khai thác trong khu vực. Tháng 07/2017, tập đoàn Repsol của Tây Ban Nha phải ngừng hoạt động thăm dò khí đốt tại mỏ Cá Rồng Đỏ ở khu vực bãi Tư Chính. Trong suốt ba tuần tháng 07/2019, Trung Quốc đưa tàu thăm dò Hải Dương 8 (Haiyang Dizhi 8), được nhiều tàu hải cảnh và dân quân biển hộ tống, xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam tại khu vực bãi Tư Chính. Hoạt động gây rối này tái diễn trong những năm 2023, 2024. Đọc thêmBãi Tư Chính : Việt Nam nên để ngỏ khả năng kiện Trung Quốc Song song với việc “quấy rối” hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam và tiếp tục đòi chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông, từ năm 2017, Trung Quốc cũng “tích cực” đề xuất một số dự án phát triển chung ở Biển Đông với Việt Nam và Philippines. Động cơ đằng sau đề xuất này là gì ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon giải thích : “Động cơ của Bắc Kinh có thể được xem xét cả về kinh tế và địa chiến lược. Về kinh tế, việc khai thác tài nguyên năng lượng ở Biển Đông cho phép Trung Quốc đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nước ngày càng tăng. Hơn nữa, bất kỳ động thái hội nhập khu vực nào cũng nằm trong khuôn khổ rộng lớn hơn của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), do Bắc Kinh khởi xướng và có hiệu lực từ tháng 01/2022. Về mặt địa-chiến lược, các sáng kiến ​​chung với các quốc gia giáp Biển Đông cho phép Trung Quốc tăng cường quan hệ hợp tác với những nước này. Về lâu dài, sự gần gũi đó có thể góp phần làm suy yếu mối quan hệ giữa các quốc gia này với Hoa Kỳ và từ đó củng cố vị thế của Bắc Kinh trong bối cảnh cạnh tranh Trung-Mỹ”. Những bị động do phụ thuộc quá lớn vào nguồn cung năng lượng Trung Đông có khiến Hà Nội thay đổi quan điểm về thỏa thuận khai thác chung và chia sẻ công bằng nguồn năng lượng ở Biển Đông không ? Liệu có khả năng Việt Nam và Trung Quốc hợp tác trong tương lai gần hay không ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon nhận định : “Có khả năng hợp tác cho dù hai nước, Trung Quốc và Việt Nam, không từ bỏ các tuyên bố chủ quyền của họ bởi vì Việt Nam có những lập luận bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông, nhưng họ có thể gác lại khía cạnh chủ quyền này hoặc đồng ý gác lại để tập trung vào các cơ chế thực tế để quản lý tài nguyên mà trong trường hợp này, là quản lý tài nguyên dầu mỏ. Đúng là nhiều nguồn tài nguyên đang được khai thác, và một số đang gần cạn kiệt. Nhưng không phải tất cả các nguồn tài nguyên ở Biển Đông đều đã được xác định. Trong khuôn khổ quản lý thực tiễn chung các nguồn tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam, có thể sẽ có các đợt thăm dò chung nhằm xác định các mỏ dầu khí hoặc khí đốt tự nhiên mới, sau đó sẽ được khai thác và chia sẻ chung. Đọc thêmViệt Nam, Malaysia, Philippines: Gác tranh chấp, chống Trung Quốc ở Biển Đông? Thực tế cho thấy Việt Nam phụ thuộc vào nguồn cung dầu mỏ Trung Đông. Nhìn vào tình hình bất ổn hiện nay ở Trung Đông, đặc biệt là những khó khăn do các “điểm kiểm soát” - tức là các eo biển chiến lược - gây ra thì hiện giờ đang có rất nhiều tranh luận liên quan đến eo biển Hormuz, đang bị cả Iran và Mỹ phong tỏa. Ngoài ra còn phải nhắc đến eo biển Malacca, một eo biển nhạy cảm, nơi trung chuyển một phần rất lớn dầu mỏ dành cho các nước ở Đông Nam Á và và Đông Bắc Á. Vì vậy, sự phụ thuộc vào các đặc điểm địa lý có thể trở nên rất nhạy cảm từ góc độ địa-chính trị, đang thúc đẩy Việt Nam tìm cách xác định các nguồn tài nguyên dầu mỏ có thể khai thác được mà không cần đi qua những nơi tiềm ẩn nhiều vấn đề từ góc độ địa-chính trị như vậy”. Để có thể đi đến một quyết định, chắc chắn sẽ gây tranh cãi, nhưng mang tính thiết yếu cho nguồn cung năng lượng Việt Nam Nam, nhà nghiên cứu Laurent Gédéon cho răng, “các liên doanh được thành lập trong khuôn khổ quản lý chung không nên bị coi là một bước thụt lùi hoặc là một thất bại, mà là một cơ chế thực dụng được thiết lập trong khi chờ đợi một giải pháp dứt khoát, mà không phán xét về việc phân định ranh giới sau này các vùng biển liên quan và không đặt ra nghi vấn về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mỗi bên”. (1) ASEAN countries exposed by Middle East oil dependence (2) The Middle East Crisis and Southeast Asia's Energy Vulnerability

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Việt Nam, Vatican tiến gần hơn bao giờ hết đến bình thường hóa bang giao

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later May 11, 2026 10:02


Ngày 11/04/2026, nhân chuyến thăm chính thức Tòa Thánh, chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn đã chuyển bức thư của tổng bí thư kiêm chủ tịch nước Tô Lâm mời giáo hoàng Lêô XIV đến thăm chính thức Việt Nam “trong thời gian tới”. Chưa biết chuyến thăm đầu tiên của một giáo hoàng tại Việt Nam sẽ diễn ra vào lúc nào, nhưng lời mời của ông Tô Lâm đánh dấu một bước mới trong quan hệ giữa Hà Nội và Vatican, cho thấy hai bên tiến gần hơn bao giờ hết đến bình thường hóa bang giao, bị gián đoạn từ cách đây hơn 50 năm.  RFI Tiếng Việt phỏng vấn giảng viên lịch sử Đông Nam Á Trần Thị Liên Claire, chuyên gia về lịch sử Công Giáo Việt Nam, Đại học Paris Cité. RFI: Xin chào bà Trần Thị Liên Claire. Trước hết bà đánh giá như thế nào về lời của ông Tô Lâm gởi cho giáo hoàng Lêô XIV? Tác động của chuyến thăm này đối với Giáo hội Công giáo Việt Nam sẽ như thế nào? Trần Thị Liên Claire: “Lời mời của chủ tịch nước kiêm tổng bí thư đảng Tô Lâm thực sự rất quan trọng, nhưng đây không phải là lần đầu tiên, vì chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã từng mời giáo hoàng Phanxicô vào tháng 12/2023, nhưng chuyến thăm đã không thể được thực hiện. Lời mời này thực sự là một phần của mối quan hệ ngoại giao đang phát triển giữa Việt Nam và Vatican. Đã có rất nhiều chuyến thăm chính thức của các đại diện cấp cao nhất của Việt Nam tại Roma, gồm cả tổng bí thư, chủ tịch nước hay thủ tướng. Năm ngoái, phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đã đến thăm Vatican vào tháng 6. Vì vậy, đây thực sự là một điều đã được duy trì trong nhiều năm. Đối với người Việt Nam, chuyến thăm này đã được mong đợi từ rất lâu. Mọi người đã nghĩ rằng khi đi thăm Indonesia và Singapore vào năm ngoái, giáo hoàng Phanxicô sẽ đến Việt Nam, nhưng chuyến đi đó đã không diễn do tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng qua đời và quá trình kế nhiệm phải mất một thời gian. Các Giáo hoàng đã đến thăm tất cả các nước châu Á khác mà chưa thăm Việt Nam, trong khi Việt Nam có một trong những cộng đồng Công Giáo lớn nhất tính về tỷ lệ phần trăm. Vì vậy, chuyến thăm của giáo hoàng thực sự là một tín hiệu vô cùng quan trọng đối với Việt Nam, và nhất là là đối với người Công Giáo Việt Nam. Thậm chí tôi có thể nói, chuyến thăm này mang tính biểu tượng không chỉ đối với người Công Giáo mà còn đối với toàn thể người dân Việt Nam, bởi vì trong một thời gian rất dài, các nhà cầm quyền, dù là vào thời phong kiến hay dưới chế độ Cộng sản, thường nhìn thiểu số Công giáo Việt Nam với sự nghi ngờ, và ngược lại, các nhà cầm quyền lại bị coi là chống Công Giáo. Vì vậy, chuyến thăm này sẽ thực sự chấm dứt những nghi ngờ từ cả hai phía và mở ra một chương mới trong lịch sử Việt Nam và lịch sử Giáo hội tại Việt Nam. Chắc chắn là như vậy.”  RFI: Theo bà thì lời mời giáo hoàng Lêô XIV sang thăm Việt Nam có sẽ thúc đẩy tiến trình bình thường hóa giữa Hà Nội với Vatican? Trần Thị Liên Claire: “Cả hai phía Vatican và Hà Nội đều đã nỗ lực làm việc trong một thời gian dài cho quá trình bình thường hóa quan hệ, vốn đã bị cắt đứt từ năm 1975. Các nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam - Tòa Thánh đã họp từ năm 2009. Họ họp hàng năm, khi thì ở Roma, khi thì ở Hà Nội. Nhóm này đã hoàn tất cuộc họp thứ 13 và đang giải quyết nhiều vấn đề. Trước hết là vấn đề bổ nhiệm các giám mục, rồi đến vấn đề nhà đất của Giáo hội. Có nhiều chủ đề quan trọng khác như giáo dục và thành lập trường đại học Công giáo, nhưng một trong những chủ đề chính của nhóm công tác hỗn hợp là tái lập quan hệ ngoại giao.  Lời mời giáo hoàng thăm Việt Nam là một dấu hiệu của việc hai bên sắp tái lập bang giao, dù nó diễn ra trước hay sau chuyến thăm. Dầu sao thì chuyến thăm chắc chắn sẽ diễn ra vào cuối năm 2026 hoặc năm 2027, vì lời mời này trùng với Ngày Giới trẻ Thế giới, dự kiến ​​diễn ra vào tháng 8/ 2027 tại Seoul. Hơn nữa, kể từ năm 2024, đã có một đại diện thường trú của giáo hoàng ở Việt Nam, tuy chưa phải là sứ thần, đó là Đức ông Marek Zalewski, trước đây là đại diện không thường trú của giáo hoàng tại Việt Nam, trú tại Singapore. Đây thực sự sẽ là một sự kiện lớn: Việt Nam sẽ là quốc gia Cộng sản duy nhất ở châu Á có sứ thần Tòa Thánh và thiết lập quan hệ chính thức với Vatican. Dường như Hồng y Parolin, Quốc vụ khanh của Vatican, giống như là thủ tướng của Tòa Thánh, hiểu rất rõ về Việt Nam. Ngài đã đến Việt Nam từ năm 2009 để quản lý quan hệ giữa hai bên và dường như sẽ đến thăm Việt Nam trong năm 2026. Ngài thực sự là người kiến ​​tạo nên mối quan hệ này. Hồng y Parolin thường nói Việt Nam và tình trạng quan hệ giữa hai bên thực sự là một kiểu mẫu, thậm chí là kiểu mẫu cho quan hệ ngoại giao tương lai với Trung Quốc. Việt Nam thực sự là một điển hình về khả năng hiểu biết nhau và khả năng đối thoại từ cả hai phía, cho dù hai bên không phải lúc nào cũng đồng ý về một số điểm. Thực sự đã có một khả năng đối thoại được phát triển kể từ năm 2009, và đây là kết quả của một thời gian dài gặp gỡ và đàm phán, là kết quả của các ê kíp ngoại giao Việt Nam - Tòa Thánh và đặc biệt là của Hồng y Parolin.”  RFI: Thưa bà, trong quan hệ giữa Việt Nam với Vatican hiện nay, còn những vấn đề nào cần được giải quyết để khai thông mọi bế tắc còn cản trở việc bình thường hóa bang giao? Trần Thị Liên Claire: “Đúng là quan hệ giữa hai bên không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Năm 2025 là giai đoạn rất bất ổn, với việc chủ tịch nước Võ Văn Thưởng mất chức và trước đó là cái chết của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, dẫn đến việc cựu bộ trưởng công an Tô Lâm lên nắm quyền. Tất nhiên mọi chuyện không hoàn toàn dễ dàng trong quan hệ giữa Việt Nam với Tòa Thánh, cả hai phía đều giải quyết vấn đề không phải một cách toàn diện, mà là một cách thực dụng và theo từng trường hợp cụ thể. Vấn đề nhà đất thực sự được giải quyết theo từng trường hợp cụ thể và tất nhiên là không phải ở mọi nơi. Vấn đề bổ nhiệm các giám mục thì theo một quy trình nay đã trôi chảy. Cụ thể, Vatican đề xuất tên của ba vị và sau đó chính phủ sẽ chọn một trong ba vị đó. Vì vậy, về điểm này, họ đã đạt được tiến bộ đáng kể.  Vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, nhưng chính sự hiện diện thường trực của một đại diện Tòa Thánh đã góp phần rất lớn vào việc cải thiện đối thoại. Đối với chính phủ Việt Nam, mong muốn của họ chính là thể hiện mình là một cường quốc tầm trung đáng nể, có khả năng đàm phán với Vatican và, theo một cách nào đó, đảm bảo rằng người Công Giáo luôn trung thành với chính quyền, đặc biệt là thông qua các mối quan hệ chính thức này. Vatican thì tìm cách duy trì mối quan hệ tốt để cộng đồng thiểu số Công Giáo, chiếm 7% dân số, có những điều kiện tốt nhất có thể cho việc thực hành tôn giáo trong một quốc gia Cộng sản.” RFI: Theo bà, Giáo hội Việt Nam có tầm quan trọng như thế nào đối với Tòa Thánh, nhất là nếu hai bên tiến tới tái lập quan hệ ngoại giao? Trần Thị Liên Claire: Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ người Công giáo tuy không bằng các nước Mỹ Latinh hay một số nước châu Phi, nhưng đứng hàng thứ tư châu Á sau Đông Timor (98%), Philippines (80%) và Hàn Quốc (11,3%), cao hơn đáng kể so với Trung Quốc (1%). Hơn nữa, Giáo hội ở Việt Nam cũng là một trong những Giáo hội năng động nhất, với số giáo sĩ thuộc hàng đông đảo nhất châu Á. Vì vậy, Việt Nam thực sự rất quan trọng đối với Vatican, và như tôi đã nói, đó cũng là một dạng thử nghiệm cho quan hệ giữa Tòa Thánh với Trung Quốc, vốn phức tạp hơn nhiều. Vatican rất coi trọng kinh nghiệm về quan hệ với Việt Nam và về sự thành công, nếu họ thiết lập được quan hệ ngoại giao.  Tất nhiên, mọi việc vẫn chưa ngã ngũ, chúng ta vẫn phải xem điều gì sẽ xảy ra trong hai năm 2026-2027. Nhưng lời mời tổng bí thư và tân chủ tịch nước Tô Lâm rất quan trọng, nhất là vì chúng tôi thấy việc ông thâu tóm quyền hành đã gặp khó khăn hơn dự kiến, và chúng tôi không biết liệu điều đó có ảnh hưởng đến mối quan hệ này hay không.  Thực tế chúng ta có thể thấy rõ kể từ năm 2009, bất chấp mọi thay đổi và đặc biệt là trong bối cảnh quốc tế nhiều biến động, hai nhóm nhà ngoại giao tại Hà Nội và Roma đã gặp gỡ thường xuyên và xây dựng được năng lực đối thoại rất tốt. Điều này khá độc đáo đối với Việt Nam, không như các nước cộng sản khác trong khu vực, dù là Bắc Triều Tiên hay Trung Quốc. Đây quả là một trường hợp đặc biệt đối với Vatican, và tôi xin nhắc lại, Đức ông Parolin rất thân thiết với Việt Nam, rất được các nhà ngoại giao Việt Nam nể trọng, và điều này đã góp phần quan trọng vào tiến trình dẫn đến  lời mời này. Tất nhiên, mọi việc chưa ngã ngũ, nhưng dù sao đi nữa, các tín hữu Công giáo Việt Nam đã chờ đợi rất lâu và có lẽ vẫn khó tin rằng chuyến thăm đó cuối cùng sẽ diễn ra.”  RFI: Đối với chính quyền Hà Nội, lợi ích đối với họ là gì, nếu Việt Nam được tiếp đón giáo hoàng và bình thường hóa bang giao với Tòa Thánh? Trần Thị Liên Claire: ”Tất nhiên, như tôi đã nói, không thể so sánh với các nước lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ hay các nước châu Âu. Nhưng xét từ cả góc độ quốc tế và trong nước, tôi xin nhắc lại, thiết lập quan hệ chính thức với Vatican cũng sẽ đảm bảo lòng trung thành của người Công Giáo đối với chính quyền Việt Nam. Và mục tiêu của họ, sau cùng, là duy trì quyền lực của đảng độc quyền lãnh đạo. Vì vậy, trước hết và trên hết, họ mong muốn trở thành một cường quốc kinh tế đáng kể - đó là ưu tiên - nhưng cũng là một cường quốc được quốc tế công nhận. Tóm lại, tôi cho rằng đây sẽ là một sự kiện lịch sử, bởi vì đã hơn 50 năm Việt Nam không có sứ thần Tòa Thánh và chưa từng có chuyến thăm nào của Giáo hoàng trong toàn bộ lịch sử Việt Nam. Trên bình diện chính trị và địa chính trị, đây là một thành công đối với cả ba chủ thể chính: Vatican, Nhà nước Việt Nam và Giáo hội Việt Nam. Và vì vậy, xét về mặt tôn giáo, tất nhiên đối với người Công giáo Việt Nam, đây là sự công nhận tầm quan trọng của Giáo hội Việt Nam trong Giáo hội châu Á.”

Tạp chí Việt Nam
Việt Nam, Vatican tiến gần hơn bao giờ hết đến bình thường hóa bang giao

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later May 11, 2026 10:02


Ngày 11/04/2026, nhân chuyến thăm chính thức Tòa Thánh, chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn đã chuyển bức thư của tổng bí thư kiêm chủ tịch nước Tô Lâm mời giáo hoàng Lêô XIV đến thăm chính thức Việt Nam “trong thời gian tới”. Chưa biết chuyến thăm đầu tiên của một giáo hoàng tại Việt Nam sẽ diễn ra vào lúc nào, nhưng lời mời của ông Tô Lâm đánh dấu một bước mới trong quan hệ giữa Hà Nội và Vatican, cho thấy hai bên tiến gần hơn bao giờ hết đến bình thường hóa bang giao, bị gián đoạn từ cách đây hơn 50 năm.  RFI Tiếng Việt phỏng vấn giảng viên lịch sử Đông Nam Á Trần Thị Liên Claire, chuyên gia về lịch sử Công Giáo Việt Nam, Đại học Paris Cité. RFI: Xin chào bà Trần Thị Liên Claire. Trước hết bà đánh giá như thế nào về lời của ông Tô Lâm gởi cho giáo hoàng Lêô XIV? Tác động của chuyến thăm này đối với Giáo hội Công giáo Việt Nam sẽ như thế nào? Trần Thị Liên Claire: “Lời mời của chủ tịch nước kiêm tổng bí thư đảng Tô Lâm thực sự rất quan trọng, nhưng đây không phải là lần đầu tiên, vì chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã từng mời giáo hoàng Phanxicô vào tháng 12/2023, nhưng chuyến thăm đã không thể được thực hiện. Lời mời này thực sự là một phần của mối quan hệ ngoại giao đang phát triển giữa Việt Nam và Vatican. Đã có rất nhiều chuyến thăm chính thức của các đại diện cấp cao nhất của Việt Nam tại Roma, gồm cả tổng bí thư, chủ tịch nước hay thủ tướng. Năm ngoái, phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đã đến thăm Vatican vào tháng 6. Vì vậy, đây thực sự là một điều đã được duy trì trong nhiều năm. Đối với người Việt Nam, chuyến thăm này đã được mong đợi từ rất lâu. Mọi người đã nghĩ rằng khi đi thăm Indonesia và Singapore vào năm ngoái, giáo hoàng Phanxicô sẽ đến Việt Nam, nhưng chuyến đi đó đã không diễn do tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng qua đời và quá trình kế nhiệm phải mất một thời gian. Các Giáo hoàng đã đến thăm tất cả các nước châu Á khác mà chưa thăm Việt Nam, trong khi Việt Nam có một trong những cộng đồng Công Giáo lớn nhất tính về tỷ lệ phần trăm. Vì vậy, chuyến thăm của giáo hoàng thực sự là một tín hiệu vô cùng quan trọng đối với Việt Nam, và nhất là là đối với người Công Giáo Việt Nam. Thậm chí tôi có thể nói, chuyến thăm này mang tính biểu tượng không chỉ đối với người Công Giáo mà còn đối với toàn thể người dân Việt Nam, bởi vì trong một thời gian rất dài, các nhà cầm quyền, dù là vào thời phong kiến hay dưới chế độ Cộng sản, thường nhìn thiểu số Công giáo Việt Nam với sự nghi ngờ, và ngược lại, các nhà cầm quyền lại bị coi là chống Công Giáo. Vì vậy, chuyến thăm này sẽ thực sự chấm dứt những nghi ngờ từ cả hai phía và mở ra một chương mới trong lịch sử Việt Nam và lịch sử Giáo hội tại Việt Nam. Chắc chắn là như vậy.”  RFI: Theo bà thì lời mời giáo hoàng Lêô XIV sang thăm Việt Nam có sẽ thúc đẩy tiến trình bình thường hóa giữa Hà Nội với Vatican? Trần Thị Liên Claire: “Cả hai phía Vatican và Hà Nội đều đã nỗ lực làm việc trong một thời gian dài cho quá trình bình thường hóa quan hệ, vốn đã bị cắt đứt từ năm 1975. Các nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam - Tòa Thánh đã họp từ năm 2009. Họ họp hàng năm, khi thì ở Roma, khi thì ở Hà Nội. Nhóm này đã hoàn tất cuộc họp thứ 13 và đang giải quyết nhiều vấn đề. Trước hết là vấn đề bổ nhiệm các giám mục, rồi đến vấn đề nhà đất của Giáo hội. Có nhiều chủ đề quan trọng khác như giáo dục và thành lập trường đại học Công giáo, nhưng một trong những chủ đề chính của nhóm công tác hỗn hợp là tái lập quan hệ ngoại giao.  Lời mời giáo hoàng thăm Việt Nam là một dấu hiệu của việc hai bên sắp tái lập bang giao, dù nó diễn ra trước hay sau chuyến thăm. Dầu sao thì chuyến thăm chắc chắn sẽ diễn ra vào cuối năm 2026 hoặc năm 2027, vì lời mời này trùng với Ngày Giới trẻ Thế giới, dự kiến ​​diễn ra vào tháng 8/ 2027 tại Seoul. Hơn nữa, kể từ năm 2024, đã có một đại diện thường trú của giáo hoàng ở Việt Nam, tuy chưa phải là sứ thần, đó là Đức ông Marek Zalewski, trước đây là đại diện không thường trú của giáo hoàng tại Việt Nam, trú tại Singapore. Đây thực sự sẽ là một sự kiện lớn: Việt Nam sẽ là quốc gia Cộng sản duy nhất ở châu Á có sứ thần Tòa Thánh và thiết lập quan hệ chính thức với Vatican. Dường như Hồng y Parolin, Quốc vụ khanh của Vatican, giống như là thủ tướng của Tòa Thánh, hiểu rất rõ về Việt Nam. Ngài đã đến Việt Nam từ năm 2009 để quản lý quan hệ giữa hai bên và dường như sẽ đến thăm Việt Nam trong năm 2026. Ngài thực sự là người kiến ​​tạo nên mối quan hệ này. Hồng y Parolin thường nói Việt Nam và tình trạng quan hệ giữa hai bên thực sự là một kiểu mẫu, thậm chí là kiểu mẫu cho quan hệ ngoại giao tương lai với Trung Quốc. Việt Nam thực sự là một điển hình về khả năng hiểu biết nhau và khả năng đối thoại từ cả hai phía, cho dù hai bên không phải lúc nào cũng đồng ý về một số điểm. Thực sự đã có một khả năng đối thoại được phát triển kể từ năm 2009, và đây là kết quả của một thời gian dài gặp gỡ và đàm phán, là kết quả của các ê kíp ngoại giao Việt Nam - Tòa Thánh và đặc biệt là của Hồng y Parolin.”  RFI: Thưa bà, trong quan hệ giữa Việt Nam với Vatican hiện nay, còn những vấn đề nào cần được giải quyết để khai thông mọi bế tắc còn cản trở việc bình thường hóa bang giao? Trần Thị Liên Claire: “Đúng là quan hệ giữa hai bên không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Năm 2025 là giai đoạn rất bất ổn, với việc chủ tịch nước Võ Văn Thưởng mất chức và trước đó là cái chết của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, dẫn đến việc cựu bộ trưởng công an Tô Lâm lên nắm quyền. Tất nhiên mọi chuyện không hoàn toàn dễ dàng trong quan hệ giữa Việt Nam với Tòa Thánh, cả hai phía đều giải quyết vấn đề không phải một cách toàn diện, mà là một cách thực dụng và theo từng trường hợp cụ thể. Vấn đề nhà đất thực sự được giải quyết theo từng trường hợp cụ thể và tất nhiên là không phải ở mọi nơi. Vấn đề bổ nhiệm các giám mục thì theo một quy trình nay đã trôi chảy. Cụ thể, Vatican đề xuất tên của ba vị và sau đó chính phủ sẽ chọn một trong ba vị đó. Vì vậy, về điểm này, họ đã đạt được tiến bộ đáng kể.  Vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, nhưng chính sự hiện diện thường trực của một đại diện Tòa Thánh đã góp phần rất lớn vào việc cải thiện đối thoại. Đối với chính phủ Việt Nam, mong muốn của họ chính là thể hiện mình là một cường quốc tầm trung đáng nể, có khả năng đàm phán với Vatican và, theo một cách nào đó, đảm bảo rằng người Công Giáo luôn trung thành với chính quyền, đặc biệt là thông qua các mối quan hệ chính thức này. Vatican thì tìm cách duy trì mối quan hệ tốt để cộng đồng thiểu số Công Giáo, chiếm 7% dân số, có những điều kiện tốt nhất có thể cho việc thực hành tôn giáo trong một quốc gia Cộng sản.” RFI: Theo bà, Giáo hội Việt Nam có tầm quan trọng như thế nào đối với Tòa Thánh, nhất là nếu hai bên tiến tới tái lập quan hệ ngoại giao? Trần Thị Liên Claire: Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ người Công giáo tuy không bằng các nước Mỹ Latinh hay một số nước châu Phi, nhưng đứng hàng thứ tư châu Á sau Đông Timor (98%), Philippines (80%) và Hàn Quốc (11,3%), cao hơn đáng kể so với Trung Quốc (1%). Hơn nữa, Giáo hội ở Việt Nam cũng là một trong những Giáo hội năng động nhất, với số giáo sĩ thuộc hàng đông đảo nhất châu Á. Vì vậy, Việt Nam thực sự rất quan trọng đối với Vatican, và như tôi đã nói, đó cũng là một dạng thử nghiệm cho quan hệ giữa Tòa Thánh với Trung Quốc, vốn phức tạp hơn nhiều. Vatican rất coi trọng kinh nghiệm về quan hệ với Việt Nam và về sự thành công, nếu họ thiết lập được quan hệ ngoại giao.  Tất nhiên, mọi việc vẫn chưa ngã ngũ, chúng ta vẫn phải xem điều gì sẽ xảy ra trong hai năm 2026-2027. Nhưng lời mời tổng bí thư và tân chủ tịch nước Tô Lâm rất quan trọng, nhất là vì chúng tôi thấy việc ông thâu tóm quyền hành đã gặp khó khăn hơn dự kiến, và chúng tôi không biết liệu điều đó có ảnh hưởng đến mối quan hệ này hay không.  Thực tế chúng ta có thể thấy rõ kể từ năm 2009, bất chấp mọi thay đổi và đặc biệt là trong bối cảnh quốc tế nhiều biến động, hai nhóm nhà ngoại giao tại Hà Nội và Roma đã gặp gỡ thường xuyên và xây dựng được năng lực đối thoại rất tốt. Điều này khá độc đáo đối với Việt Nam, không như các nước cộng sản khác trong khu vực, dù là Bắc Triều Tiên hay Trung Quốc. Đây quả là một trường hợp đặc biệt đối với Vatican, và tôi xin nhắc lại, Đức ông Parolin rất thân thiết với Việt Nam, rất được các nhà ngoại giao Việt Nam nể trọng, và điều này đã góp phần quan trọng vào tiến trình dẫn đến  lời mời này. Tất nhiên, mọi việc chưa ngã ngũ, nhưng dù sao đi nữa, các tín hữu Công giáo Việt Nam đã chờ đợi rất lâu và có lẽ vẫn khó tin rằng chuyến thăm đó cuối cùng sẽ diễn ra.”  RFI: Đối với chính quyền Hà Nội, lợi ích đối với họ là gì, nếu Việt Nam được tiếp đón giáo hoàng và bình thường hóa bang giao với Tòa Thánh? Trần Thị Liên Claire: ”Tất nhiên, như tôi đã nói, không thể so sánh với các nước lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ hay các nước châu Âu. Nhưng xét từ cả góc độ quốc tế và trong nước, tôi xin nhắc lại, thiết lập quan hệ chính thức với Vatican cũng sẽ đảm bảo lòng trung thành của người Công Giáo đối với chính quyền Việt Nam. Và mục tiêu của họ, sau cùng, là duy trì quyền lực của đảng độc quyền lãnh đạo. Vì vậy, trước hết và trên hết, họ mong muốn trở thành một cường quốc kinh tế đáng kể - đó là ưu tiên - nhưng cũng là một cường quốc được quốc tế công nhận. Tóm lại, tôi cho rằng đây sẽ là một sự kiện lịch sử, bởi vì đã hơn 50 năm Việt Nam không có sứ thần Tòa Thánh và chưa từng có chuyến thăm nào của Giáo hoàng trong toàn bộ lịch sử Việt Nam. Trên bình diện chính trị và địa chính trị, đây là một thành công đối với cả ba chủ thể chính: Vatican, Nhà nước Việt Nam và Giáo hội Việt Nam. Và vì vậy, xét về mặt tôn giáo, tất nhiên đối với người Công giáo Việt Nam, đây là sự công nhận tầm quan trọng của Giáo hội Việt Nam trong Giáo hội châu Á.”

TẠP CHÍ XÃ HỘI
Ô nhiễm kim loại nặng do khai thác đất hiếm, “quả bom nguyên tử” đối với sông Mê Kông

TẠP CHÍ XÃ HỘI

Play Episode Listen Later May 6, 2026 9:30


Dòng sông dài nhất Đông Nam Á đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng môi trường chưa từng có do chất thải từ các hoạt động khai thác đất hiếm khoáng sản ở thượng nguồn. Tại nhiều khu vực trên sông Mê Kông, mức độ nhiễm các kim loại nặng độc hại như thạch tín, thuỷ ngân chì, cao gấp gần 10 lần so với mức an toàn. Không chỉ nguồn sinh kế của hơn 70 triệu người bị đe dọa, những tác động này còn mang tính huỷ hoại đối với môi trường về lâu dài. Từ nhiều tháng qua, các hình ảnh về cá biến dạng, vảy đổi màu, có nhiều khối u, màu mắt bất thường,…, được loan truyền rộng rãi tại Thái Lan. Chúng được phát hiện dọc theo sông Kok ở miền bắc Thái Lan, bắt nguồn từ Miến Điện, chảy qua tỉnh Chiang Rai và đổ vào sông Mê Kông. Nhiều người dân không dám ăn cá sông, ngừng đánh bắt cá trước những thông tin về cá bị nhiễm độc do kim loại nặng được thải ra từ các hoạt động khai khoáng ở thượng nguồn. Tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại vùng Tam giác vàng, nơi các con sông Kok, Sai, Ruak chảy từ Miến Điện vào Thái Lan và đổ vào sông Mê Kông. Trên thực tế, theo Bangkok Post tình trạng ô nhiễm kim loại nặng đã được phát hiện vào tháng 08/2024, khi người dân báo cáo về tình trạng nước sông vẩn đục. Tại đập Ban Kwae Wua, trẻ em bị phát ban sau khi chơi đùa trên sông. Tại Huai Chomphu, nông dân nhận thấy cây trồng héo úa dù được tưới nước hàng ngày. Đến đầu năm 2025, các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm đã xác nhận nỗi lo sợ : dòng sông bị ô nhiễm với hàm lượng thạch tín cao, nồng độ kim loại nặng ở mức báo động. Cục Thủy Sản Thái Lan, được cho là để trấn an dư luận và tránh tác động đối với thị trường, đã thông báo hồi tháng 06/2025, rằng những con cá bị biến dạng được đánh bắt ở các con sông bị nhiễm ký sinh trùng Digenea và sự biến dạng không phải do kim loại nặng gây ra. Trong khi đó các tổ chức phi chính phủ và các nghiên cứu của Đại học Naresuan ở Thái Lan đã đưa ra bằng chứng về việc mô cá chứa kim loại nặng và các dấu hiệu như u, biến màu… là do nhiễm độc hóa học. Họ kết luận rằng cá bị nhiễm vi khuẩn/ký sinh trùng là hệ quả của việc hệ miễn dịch bị suy yếu do sống trong môi trường nhiễm độc lâu ngày. Các báo cáo từ Cục Kiểm soát Ô nhiễm Thái Lan (PCD) gần đây cũng đã phải thừa nhận các chỉ số hóa học về thạch tín, đang vượt ngưỡng an toàn. Kết quả xét nghiệm trầm tích, được công bố vào tháng 4/2026 cho thấy mức độ thạch tín đo được ở nhiều khu vực sông Kok, Sai và Ruak, lên đến mức 296 mg/kg, cao gấp 9 lần ngưỡng nguy hiểm (33 mg/kg). Ô nhiễm chì vượt quá mức an toàn cũng được phát hiện tại nhiều khu vực trên sông Kok, cùng với các kim loại nặng khác, bao gồm niken, đồng và crom, thuỷ ngân. Theo Ủy ban Sông Mê Kông - Mekong River Commission, cơ quan quản lý con sông, nồng độ thạch tín trong trầm tích có thể gây nguy hiểm cho các sinh vật đáy, đặc biệt là ở thượng nguồn sông Kok và sông Mekong. Vào mùa khô, mực nước thấp và lưu lượng giảm, có thể góp phần làm tăng lượng trầm tích tích tụ và nồng độ chất gây ô nhiễm cao hơn. Trong cuộc hội thảo trực tuyến về Khủng hoảng nhiễm độc tại sông Mê Kông, hồi tháng 04/2026, phó giáo sư Wan Wiriya, thuộc đại học Chiang Mai Thái Lan, nhận định :  “Mặc dù hiện nay con người không tiếp xúc trực tiếp với trầm tích giống như các sinh vật sống dưới đáy sông, nhưng thạch tín sẽ tích tụ dần trong hệ sinh thái và dần dần đầu độc chuỗi thức ăn, tác động trực tiếp đến con người”. Dòng sông đã bị đầu độc như thế nào ? Thanapol Penrat, giáo sư tại Đại học Naresuan của Thái Lan, trả lời AP, nhận định : “Vấn đề là ô nhiễm nguồn nước xuyên biên giới do khai thác khoáng sản đất hiếm và vàng không được kiểm soát và quản lý đúng cách ở Miến Điện. Tôi cũng rất quan ngại vì việc khai thác vẫn tiếp diễn ở Lào, như vậy là có thêm một nguồn phát thải chất ô nhiễm, không chỉ ở Miến Điện mà còn ở Lào và điều đó thực sự ảnh hưởng đến sông Mekong một cách tổng thể.” Ở phía thượng nguồn sông Mê Kông, miền bắc Thái Lan, báo cáo của Viện nghiên cứu Stimson có trụ sở tại Mỹ, dựa vào các hình ảnh vệ tinh và việc xác nhận các nguồn tin từ thực địa, chỉ ra hơn 2400 địa điểm khai thác khoáng sản, dọc theo 43 con sông. Tại các phụ lưu của sông Mê Kông, có đến gần 800 địa điểm khai thác, hầu hết không được kiểm soát. Các mỏ này xả trực tiếp xyanua (cyanide), thủy ngân, thạch tín (asen) và kim loại nặng vào nước sông. Các tác giả của báo cáo nêu ra các cơ chế chính đầu độc dòng sông, trong đó có việc khai thác đất hiếm bằng “rửa hóa chất tại chỗ” (in-situ leaching), khai thác vàng và dùng hóa chất (thường là xyanua) để rửa quặng kim loại... Ông Regan Kwan, một trong những tác giả của báo cáo, giải thích với RFI Tiếng Việt : “Mỗi phương pháp đều có nguy cơ gây tác động môi trường đáng kể. Với khai thác sa khoáng dọc sông, quá trình đào bới và khuấy động trầm tích làm giải phóng các kim loại nặng vốn tồn tại tự nhiên trong đất. Khi tiếp xúc với nước và không khí, các chất này có thể hòa tan và làm gia tăng ô nhiễm nguồn nước, với nồng độ kim loại nặng nhiều nơi vượt chuẩn của WHO. Phương pháp ngâm chiết (heap leaching) sử dụng axit để tách kim loại trong quặng ngoài trời. Hệ thống này thiếu che chắn và quản lý chặt chẽ, nên dễ gây rò rỉ nước thải độc hại, ảnh hưởng đến động vật hoang dã và có nguy cơ lan rộng khi xảy ra mưa lớn hoặc thiên tai. Cuối cùng, chiết tách tại chỗ (in situ leaching) bơm hóa chất trực tiếp vào lòng đất để hòa tan đất hiếm, đồng thời sử dụng nước sông trong quá trình khai thác. Sau đó, lượng nước thải chứa kim loại nặng và hóa chất thường được xả ngược trở lại môi trường, gây nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm.” Bắt nguồn từ Tây Tạng, sông Mê Kông chảy qua 6 nước rồi đổ ra Biển Đông, là nguồn cung cấp nước cho nông nghiệp, thuỷ điện, giao thông và thuỷ sản, nuôi sống hơn 70 triệu người trong khu vực. Dòng sông từ lâu đã phải chịu ô nhiễm nhựa, đến các đập thủy điện kìm hãm dòng chảy ở thượng nguồn và việc khai thác cát tàn phá bờ sông, chưa kể tình trạng biến đổi khí hậu, hay các loại ô nhiễm khác. Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng các hoạt động khai thác đất hiếm không được kiểm soát, có thể gây ra cuộc khủng hoảng môi trường nghiêm trọng nhất mà dòng sông từng phải đối mặt. Quả bom nguyên tử "nổ chậm" ở sông Mê Kông Các kim loại nặng như thạch tín hay xyanua không bị phân huỷ theo thời gian. Khi chúng tích tụ, và có thể gây tác động lâu dài ngay cả khi các hoạt đông khai thác đã chấm dứt. Việc tiếp xúc với các kim loại nặng gây ra những hậu quả nguy hiểm đối với sức khoẻ. Ví dụ, thạch tín có thể gây suy tạng. Thủy ngân gây hại cho hệ thần kinh. Chì làm suy giảm nhận thức và cadmium gây hại cho thận. Ônh Brian Eyler, giám đốc chương trình về Đông Nam Á tại viện nghiên cứu Stimson, cũng là đồng tác giả của báo cáo nói trên, nhận định: “Một số người tại Thái Lan gọi đây là “quả bom nguyên tử” đối với sông Mê Kông. Tôi từng được hỏi so sánh về mức độ nghiêm trọng của tình trạng hiện nay. Phải nói rằng, ngoài cuộc chiến tranh Việt Nam trong thế kỷ trước, chưa từng có sự kiện nào ảnh hưởng đến nhiều người như thế này. Hiện áp lực đang đến từ nhiều phía. Nhật Bản và Úc đã phát hiện sản phẩm nhiễm độc. Cuối năm ngoái, Nhật Bản đã ngừng nhập khẩu đậu bắp và đậu xanh từ Chiang Rai ở Thái Lan. Úc cũng tìm thấy nồng độ thạch tín cao trong gạo Thái. Chúng tôi hy vọng áp lực kinh tế này sẽ thúc đẩy sự thay đổi.” Bàn tay Trung Quốc Báo cáo được thực hiện ban đầu, nhằm mục đích nâng cao nhận thức về mức độ nguy hiểm của nồng độ các kim loại nặng được phát hiện trước đó, và chủ yếu tập trung theo dõi hai mỏ khai thác. Nhưng qua quá trình nghiên cứu, nhiều mỏ khai thác mới đã được xây dựng, và chưa từng được thống kê hay đăng ký trước đó, đặc biệt là tại Lào, với 20 mỏ khai thác trái phép. Điều đáng chú ý là nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ của các hoạt động này được thúc đẩy bởi nhu cầu đất hiếm từ Trung Quốc. Viện nghiên cứu Stimson đã đăng tải danh sách các công ty đứng đằng sau các hoạt động này, hầu hết có chủ là người Trung hoặc có liên hệ với Trung Quốc. Nhà nghiên cứu Regan Kwan khẳng định rằng sự hiện diện của bàn tay Trung Quốc là không thể chối cãi. Các doanh nghiệp nhà nước, trên thực tế, không trực tiếp tham gia khai thác tại khu vực này, nhưng có nhiều công ty con hoạt động tại các khâu khác nhau. Ông khẳng định : “Có nhiều bằng chứng chỉ ra rằng các doanh nghiệp này kiểm soát chuỗi cung ứng từ khai thác đến tinh luyện và sản xuất nam châm. Chúng tôi có bằng chứng về các công ty Trung Quốc tham gia khai thác tại Miến Điện và Lào, sau đó xuất khẩu về Trung Quốc để đưa vào các lò luyện. Tại lò luyện, khoáng sản từ nhiều nguồn bị trộn lẫn, khiến việc truy xuất nguồn gốc trở nên bất khả thi. Sự hiện diện và can thiệp của Trung Quốc trong toàn bộ chuỗi cung ứng là điều không thể tranh cãi.” Về phần mình, ông Brian Eyler, với hơn 10 năm kinh nghiệm nghiên cứu tại khu vực, nói rõ là viện nghiên cứu đã thu thập nhiều báo cáo, lời chứng từ các công nhân, cũng như người dân ở Miến Điện, ghi nhận sự hiện diện của người Trung làm việc tại các mỏ này, chủ yếu giữ chức quản lý và tư vấn ở cấp độ kỹ thuật, cũng như tham gia vào toàn bộ chuỗi cung ứng. Cho đến nay, các biện pháp ứng phó với tình trạng này vẫn còn hạn chế, cuộc nội chiến ở Miến Điện khiến vấn đề này khó có thể giải quyết, chưa kể nạn buôn lậu. Điều này cũng dấy lên lo ngại đối với các nước ở hạ lưu sông Mê Kông là Việt Nam và Cam Bốt. Giám đốc của chương trình Đông Nam Á tại viện nghiên cứu Stimson, ông Brian Eyler nhận định : "Hiện vẫn chưa có báo cáo nào về tình trạng nhiễm độc tại hạ nguồn sông Mê Kông, hoặc chưa có đủ xét nghiệm. Đó là nơi cung cấp thực phẩm cho toàn thế giới, và dĩ nhiên không người tiêu dùng nào muốn sử dụng sản phẩm có nguy cơ nhiễm độc. Hiện Việt Nam đang có kế hoạch mở lại các mỏ đất hiếm. Chúng tôi hy vọng chính phủ và các đơn vị vận hành mỏ sẽ áp dụng các biện pháp bảo vệ thích hợp, rút kinh nghiệm từ những bài học đau xót đang xảy ra trên sông Mekong. Việt Nam là một "ngôi sao công nghệ" đang lên, chúng tôi hy vọng các hoạt động công nghiệp hóa của Việt Nam sẽ không làm trầm trọng thêm vấn đề này." Nhu cầu đất hiếm tiếp tục đà tăng Các chuyên gia cũng cảnh báo rằng các hoạt động khai thác đất hiếm sẽ vẫn tiếp tục lan rộng, và không được kiểm soát trước nhu cầu toàn cầu ngày càng gia tăng. Đất hiếm được sử dụng chủ yếu trong việc sản xuất các thiết bị điện tử, hay trong pin điện, phục vụ chuyển đổi xanh, cũng như trong các trung tâm dữ liệu trước sự bùng nổ của AI, cũng như trong ngành công nghiệp quốc phòng. Theo chính phủ Mỹ, những khoáng sản này được sử dụng trong các máy bay chiến đấu như F-35, tàu ngầm, tên lửa Tomahawk, hệ thống radar và nhu cầu về nguồn cung ngày càng tăng khi Mỹ bổ sung và mở rộng kho dự trữ quân sự đã bị hao hụt do các cuộc chiến ở Iran và ở Ukraina. Các khoáng sản, nguyên tố đất hiếm đang rơi vào xòng xoáy địa chính trị. Trung Quốc kiểm soát 90 % thị trường đất hiếm toàn cầu, đã ra lệnh cấm xuất khẩu đất hiếm. Washington đã công bố các khoản đầu tư hàng tỷ đô la vào lĩnh vực này, nhằm đa dng nguồn cung, giảm phụ thuộc vào Trung Quốc. Đây cũng sẽ là một trong những chủ đề được dự trù đem ra  thảo luận trong thượng đỉnh giữa lãnh đạo Hoa Kỳ và Trung Quốc sắp tới.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Việt Nam có bị ảnh hưởng từ hợp tác dầu khí Trung Quốc - Philippines ở Biển Đông?

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later May 4, 2026 9:21


Khủng hoảng dầu lửa Trung Đông lại làm giảm bớt căng thẳng tranh chấp chủ quyền giữa Manila và Bắc Kinh. Ngày 24/03/2026, tổng thống Marcos Jr. tuyên bố “sẵn sàng nối lại đàm phán dự án dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông”, sau đó được bộ Ngoại Giao Philippines nhấn mạnh là “phải tuân theo Hiến Pháp Philippines”. Một tháng sau, đại sứ Philippines tại Trung Quốc giải thích hai bên “vừa cố gắng quản lý những khác biệt vừa tìm kiếm sự hội tụ lợi ích”. Lần đầu đầu tiên từ ba năm qua, dấu hiệu “tan băng” bắt đầu xuất hiện cho dù nguyên thủ Philippines và Trung Quốc cam kết nối lại đàm phán phát triển dầu khí chung ở Biển Đông nhân chuyến công du Bắc Kinh đầu năm 2023 của tổng thống Marcos Jr. Tháng 03/2026, Philippines ban bố “tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia” do khủng hoảng Trung Đông. Ngay sau đó, Bắc Kinh hứa hỗ trợ duy trì nguồn cung nhiên liệu. Khu vực khai thác chung Philippines-Trung Quốc nằm ở đâu ? Mô hình này sẽ tác động như thế nào đối với Việt Nam ? Khủng hoảng Trung Đông đang định hình lại nguồn cung nhiên liệu của nhiều nước Đông Nam Á. Liệu Việt Nam, Philippines và Trung Quốc có thể hướng đến việc tách riêng tranh chấp chủ quyền để đồng khai thác dầu khí ở Biển Đông ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Viện Đông Á - IAO, Trường Sư phạm Lyon tại Pháp. RFI : Gần đây, Manila đề cập đến việc nối lại đàm phán với Bắc Kinh về dự án thăm dò dầu khí chung ở Biển Đông. Xin ông giải thích bối cảnh đằng sau quyết định này của Philippines ? Laurent Gédéon : Bối cảnh của quyết định này liên quan đến việc Philippines bị phụ thuộc nặng nề vào nguồn tài nguyên hydrocarbon, với các nhà cung cấp dầu chính, theo thứ tự quan trọng, là Ả Rập Xê Út, Irak, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Kuwait. Có thể thấy Philippines nhập khẩu gần như toàn bộ dầu thô từ Trung Đông, khiến nước này rất dễ bị ảnh hưởng bởi biến động giá dầu và gián đoạn nguồn cung. Để đối phó với tình trạng này, ngày 24/03, tổng thống Ferdinand Marcos Jr. đã tuyên bố “tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia”, nhằm ứng phó với “rủi ro từ gián đoạn cung ứng và tác động tiêu cực của giá nhiên liệu tăng cao”, hậu quả của xung đột Trung Đông. Đây là một phần trong nỗ lực của chính phủ nhằm giảm thiểu tác động của giá nhiên liệu tăng vọt đối với nền kinh tế quốc gia. Đọc thêmPhilippines và Trung Quốc nối lại đàm phán về Biển Đông và hợp tác năng lượng Về vấn đề này, trong cuộc họp báo ngày 25/03, tổng thống Marcos Jr. cho biết Philippines sẽ tìm nguồn cung năng lượng thay thế từ các đối tác ít bị ảnh hưởng bởi bất ổn Trung Đông. Ông cho biết Manila đang đàm phán với Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Giống như Việt Nam, Philippines cũng đề nghị Tokyo hỗ trợ tiếp cận một phần dự trữ dầu của Nhật Bản. Tokyo phản hồi tích cực, nhưng nhấn mạnh việc hỗ trợ sẽ phụ thuộc vào nhu cầu cụ thể của họ. Cũng chính trong bối cảnh phức tạp này, Philippines thông báo nối lại đàm phán với Trung Quốc về dự án phát triển dầu khí chung. RFI : Thông báo của Philippines liên quan đến khu vực nào tại Biển Đông ? Laurent Gédéon : Khu vực được thảo luận là bãi Cỏ Rong (Reed Bank, Philippines gọi là bãi Recto), cách đảo Palawan khoảng 80 hải lý về phía tây, thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Dự án phát triển tài nguyên hydrocarbon tại bãi Cỏ Rong rất quan trọng đối với nguồn cung năng lượng của Philippines vì theo ước tính, khu vực này chứa khoảng 165 triệu thùng dầu và 3.486 nghìn tỷ feet khối khí đốt. Nguồn tài nguyên này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh mỏ khí Malampaya - hiện cung cấp gần 30% nhiên liệu cho Philippines - đang cạn dần. Vì vậy, việc phát triển bãi Cỏ Rong được xem là giải pháp thay thế cấp thiết. Tương lai an ninh năng lượng của Philippines phụ thuộc nhiều vào kết quả các cuộc đàm phán, trong khi nước này vẫn đối mặt với rủi ro đáng kể. RFI : Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc và Philippines nêu khả năng khai thác chung dầu khí ở Biển Đông. Trước đây, vấn đề này đã được đề cập như thế nào ? Laurent Gédéon : Đây là một tiến trình rất dài. Năm 2003, Trung Quốc và Philippines đã bắt đầu đàm phán về việc cùng khai thác dầu ngoài khơi. Năm 2005, thỏa thuận ba bên về « Khảo sát Địa chấn biển chung » (Joint Marine Seismic Undertaking, JSMU) được ký giữa Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNOOC), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PETROVIETNAM) và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Philippines (PNOC), tại khu vực “theo thỏa thuận” rộng 142.886 km² ở Biển Đông, bao gồm một phần quần đảo Trường Sa. Thỏa thuận này kéo dài ba năm và hết hạn vào năm 2008. Năm 2012, chính quyền Aquino khôi phục ý tưởng hợp tác với Trung Quốc, nhằm thu hút CNOOC đầu tư thăm dò dầu khí. Tuy nhiên, nỗ lực này thất bại do lo ngại liên quan đến đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc. Năm 2014, Manila áp đặt lệnh cấm tạm thời đối với hoạt động thăm dò tại các vùng biển tranh chấp vì căng thẳng với Trung Quốc gia tăng và sau khi Philippines đưa vụ việc ra Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ở La Haye. Tình hình bế tắc trong hai năm, sau khi Bắc Kinh bác bỏ phán quyết ngày 12/07/2016 của Tòa phủ nhận yêu sách “đường chín đoạn” bao trùm phần lớn Biển Đông. Đọc thêmBiển Đông : Động cơ chính trị của Trung Quốc đằng sau tuyên bố bảo vệ môi trường ? Đến năm 2018, hai bên đạt được một số tiến triển khi ký bản ghi nhớ, thiết lập khuôn khổ đàm phán hợp tác phát triển dầu khí. Thỏa thuận quy định trong vòng 12 tháng kể từ tháng 11/2018, hai bên phải thống nhất được khu vực và phương thức thăm dò chung ở Biển Đông. Tuy nhiên, vì không có thỏa thuận cụ thể nào được ký kết, tổng thống Rodrigo Duterte đình chỉ đàm phán vào tháng 06/2022. Ngày 10/01/2023, Tòa án Tối cao Philippines tuyên bố vô hiệu thỏa thuận JSMU ký năm 2005 với Trung Quốc và Việt Nam vì vi hiến, do lo ngại làm suy yếu chủ quyền quốc gia. Dù vậy, các cuộc tiếp xúc không chính thức giữa Trung Quốc và Philippines vẫn tiếp diễn, trước khi hai bên chính thức nối lại đối thoại vào tháng 01/2025. Tiến trình được thúc đẩy trong năm 2026 qua các cuộc tham vấn song phương, bao gồm cuộc tham vấn lần thứ 24 giữa bộ Ngoại Giao hai nước tại Tuyền Châu, Trung Quốc và cuộc họp lần thứ 11 của cơ chế tham vấn song phương về Biển Đông. Các cuộc đàm phán này nhằm xác định những bước đi ban đầu hướng tới hợp tác dầu khí. Tuy nhiên, cần theo dõi phần tiếp theo vì ngày 29/03, Manila khẳng định mọi quyết định hợp tác sẽ phải tuân thủ Hiến Pháp Philippines và bảo đảm chủ quyền quốc gia. RFI : Một số vùng mà Manila tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) chồng lấn với vùng biển mà Việt Nam khẳng định chủ quyền. Một dự án thăm dò dầu khí chung giữa Trung Quốc và Philippines có thể tác động như thế nào đến tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ? Laurent Gédéon : Bãi Cỏ Rong, nơi Trung Quốc và Philippines vừa đàm phán triển khai thăm dò dầu khí chung, nằm ngoài khu vực chồng lấn chủ quyền của Philippines và Việt Nam tại Trường Sa, do đó dự án này không ảnh hưởng đến tuyên bố chủ quyền của Việt Nam. Đọc thêmBiển Đông: Việt Nam dè dặt với các sáng kiến của Philippines Tuy nhiên, tuyên bố chủ quyền vẫn tồn tại, liên quan đến phía nam Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Philippines. Vùng biển tranh chấp này sẽ là chủ đề đàm phán tương lai giữa Việt Nam và Philippines. Về tài nguyên dầu khí của Việt Nam, chúng tập trung quanh bãi Tư Chính, nằm ở rìa phía đông nam và nằm ngoài Vùng Đặc quyền Kinh tế của Philippines. Khu vực này, chiếm khoảng 10% nhu cầu năng lượng Việt Nam, lại là tâm điểm căng thẳng, không phải giữa Việt Nam và Philippines, mà là giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bắc Kinh thường tuần tra tại đây nhằm đe dọa Việt Nam và làm gián đoạn hoạt động của các công ty dầu khí khai thác trong khu vực. RFI : Trong trường hợp này hoặc trong trường hợp các dự án phát triển chung giữa Trung Quốc và Philippines, Việt Nam có thể làm gì ? Liệu lập trường của Hà Nội có được Bắc Kinh và Manila lắng nghe ? Laurent Gédéon : Khi Hiệp định Hợp tác Khảo sát Địa chấn Biển chung (JSMU) được ký năm 2005, mà tôi đề cập ở trên, cả Philippines và Việt Nam đều coi đó là cơ hội để cải thiện quan hệ chính trị, kinh tế và quân sự với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy phát triển chung các nguồn tài nguyên có thể sẽ rất khó khai thác vì những căng thẳng. Tình hình sau đó trở nên phức tạp hơn do Trung Quốc chính thức hóa các tuyên bố chủ quyền tối đa, thể hiện qua “đường chín đoạn”. Tuy nhiên, các bên vẫn không từ bỏ nỗ lực tìm kiếm một thỏa hiệp, dù chỉ là tạm thời. Đặc biệt, Trung Quốc đã tích cực đề xuất một số dự án phát triển chung ở Biển Đông với Philippines và Việt Nam kể từ năm 2017. Động cơ của Bắc Kinh có thể được xem xét cả về kinh tế và địa chiến lược (…) Về lập trường của Việt Nam, kịch bản khả thi nhất sẽ là một hoặc nhiều thỏa thuận chia sẻ tài nguyên, theo đó Trung Quốc, Việt Nam và Philippines sẽ cùng nhau khai thác dầu khí. Tuy nhiên, sự hợp tác như vậy sẽ đòi hỏi cả tính sáng tạo về mặt pháp lý và thiện chí thực sự từ phía các nước liên quan để đạt được một thỏa hiệp. Đọc thêmBiển Đông : Việt Nam có chịu "nhượng" chủ quyền để cùng Philippines chống Trung Quốc ? Theo tôi, Hà Nội, cũng như Bắc Kinh và Manila, trong trường hợp này nên chấp nhận một số nhượng bộ để dung hòa các tuyên bố chủ quyền của mỗi bên đối với các khu vực tranh chấp với việc chia sẻ công bằng các nguồn năng lượng có trong những khu vực đó. Trong trường hợp như vậy, các liên doanh được thành lập trong khuôn khổ quản lý chung không nên bị coi là một bước thụt lùi hoặc là một thất bại, mà là một cơ chế thực dụng được thiết lập trong khi chờ đợi một giải pháp dứt khoát, mà không phán xét về việc phân định ranh giới sau này các vùng biển liên quan và không đặt ra nghi vấn về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của ba bên. Có khả năng đây là một hướng để suy ngẫm hoặc một cơ hội chính trị và kinh tế đáng để đào sâu, đặc biệt là đối với Việt Nam. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Trường Sư phạm Lyon.

Tạp chí Việt Nam
Việt Nam có bị ảnh hưởng từ hợp tác dầu khí Trung Quốc - Philippines ở Biển Đông?

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later May 4, 2026 9:21


Khủng hoảng dầu lửa Trung Đông lại làm giảm bớt căng thẳng tranh chấp chủ quyền giữa Manila và Bắc Kinh. Ngày 24/03/2026, tổng thống Marcos Jr. tuyên bố “sẵn sàng nối lại đàm phán dự án dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông”, sau đó được bộ Ngoại Giao Philippines nhấn mạnh là “phải tuân theo Hiến Pháp Philippines”. Một tháng sau, đại sứ Philippines tại Trung Quốc giải thích hai bên “vừa cố gắng quản lý những khác biệt vừa tìm kiếm sự hội tụ lợi ích”. Lần đầu đầu tiên từ ba năm qua, dấu hiệu “tan băng” bắt đầu xuất hiện cho dù nguyên thủ Philippines và Trung Quốc cam kết nối lại đàm phán phát triển dầu khí chung ở Biển Đông nhân chuyến công du Bắc Kinh đầu năm 2023 của tổng thống Marcos Jr. Tháng 03/2026, Philippines ban bố “tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia” do khủng hoảng Trung Đông. Ngay sau đó, Bắc Kinh hứa hỗ trợ duy trì nguồn cung nhiên liệu. Khu vực khai thác chung Philippines-Trung Quốc nằm ở đâu ? Mô hình này sẽ tác động như thế nào đối với Việt Nam ? Khủng hoảng Trung Đông đang định hình lại nguồn cung nhiên liệu của nhiều nước Đông Nam Á. Liệu Việt Nam, Philippines và Trung Quốc có thể hướng đến việc tách riêng tranh chấp chủ quyền để đồng khai thác dầu khí ở Biển Đông ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Viện Đông Á - IAO, Trường Sư phạm Lyon tại Pháp. RFI : Gần đây, Manila đề cập đến việc nối lại đàm phán với Bắc Kinh về dự án thăm dò dầu khí chung ở Biển Đông. Xin ông giải thích bối cảnh đằng sau quyết định này của Philippines ? Laurent Gédéon : Bối cảnh của quyết định này liên quan đến việc Philippines bị phụ thuộc nặng nề vào nguồn tài nguyên hydrocarbon, với các nhà cung cấp dầu chính, theo thứ tự quan trọng, là Ả Rập Xê Út, Irak, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Kuwait. Có thể thấy Philippines nhập khẩu gần như toàn bộ dầu thô từ Trung Đông, khiến nước này rất dễ bị ảnh hưởng bởi biến động giá dầu và gián đoạn nguồn cung. Để đối phó với tình trạng này, ngày 24/03, tổng thống Ferdinand Marcos Jr. đã tuyên bố “tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia”, nhằm ứng phó với “rủi ro từ gián đoạn cung ứng và tác động tiêu cực của giá nhiên liệu tăng cao”, hậu quả của xung đột Trung Đông. Đây là một phần trong nỗ lực của chính phủ nhằm giảm thiểu tác động của giá nhiên liệu tăng vọt đối với nền kinh tế quốc gia. Đọc thêmPhilippines và Trung Quốc nối lại đàm phán về Biển Đông và hợp tác năng lượng Về vấn đề này, trong cuộc họp báo ngày 25/03, tổng thống Marcos Jr. cho biết Philippines sẽ tìm nguồn cung năng lượng thay thế từ các đối tác ít bị ảnh hưởng bởi bất ổn Trung Đông. Ông cho biết Manila đang đàm phán với Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Giống như Việt Nam, Philippines cũng đề nghị Tokyo hỗ trợ tiếp cận một phần dự trữ dầu của Nhật Bản. Tokyo phản hồi tích cực, nhưng nhấn mạnh việc hỗ trợ sẽ phụ thuộc vào nhu cầu cụ thể của họ. Cũng chính trong bối cảnh phức tạp này, Philippines thông báo nối lại đàm phán với Trung Quốc về dự án phát triển dầu khí chung. RFI : Thông báo của Philippines liên quan đến khu vực nào tại Biển Đông ? Laurent Gédéon : Khu vực được thảo luận là bãi Cỏ Rong (Reed Bank, Philippines gọi là bãi Recto), cách đảo Palawan khoảng 80 hải lý về phía tây, thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Dự án phát triển tài nguyên hydrocarbon tại bãi Cỏ Rong rất quan trọng đối với nguồn cung năng lượng của Philippines vì theo ước tính, khu vực này chứa khoảng 165 triệu thùng dầu và 3.486 nghìn tỷ feet khối khí đốt. Nguồn tài nguyên này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh mỏ khí Malampaya - hiện cung cấp gần 30% nhiên liệu cho Philippines - đang cạn dần. Vì vậy, việc phát triển bãi Cỏ Rong được xem là giải pháp thay thế cấp thiết. Tương lai an ninh năng lượng của Philippines phụ thuộc nhiều vào kết quả các cuộc đàm phán, trong khi nước này vẫn đối mặt với rủi ro đáng kể. RFI : Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc và Philippines nêu khả năng khai thác chung dầu khí ở Biển Đông. Trước đây, vấn đề này đã được đề cập như thế nào ? Laurent Gédéon : Đây là một tiến trình rất dài. Năm 2003, Trung Quốc và Philippines đã bắt đầu đàm phán về việc cùng khai thác dầu ngoài khơi. Năm 2005, thỏa thuận ba bên về « Khảo sát Địa chấn biển chung » (Joint Marine Seismic Undertaking, JSMU) được ký giữa Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNOOC), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PETROVIETNAM) và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Philippines (PNOC), tại khu vực “theo thỏa thuận” rộng 142.886 km² ở Biển Đông, bao gồm một phần quần đảo Trường Sa. Thỏa thuận này kéo dài ba năm và hết hạn vào năm 2008. Năm 2012, chính quyền Aquino khôi phục ý tưởng hợp tác với Trung Quốc, nhằm thu hút CNOOC đầu tư thăm dò dầu khí. Tuy nhiên, nỗ lực này thất bại do lo ngại liên quan đến đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc. Năm 2014, Manila áp đặt lệnh cấm tạm thời đối với hoạt động thăm dò tại các vùng biển tranh chấp vì căng thẳng với Trung Quốc gia tăng và sau khi Philippines đưa vụ việc ra Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ở La Haye. Tình hình bế tắc trong hai năm, sau khi Bắc Kinh bác bỏ phán quyết ngày 12/07/2016 của Tòa phủ nhận yêu sách “đường chín đoạn” bao trùm phần lớn Biển Đông. Đọc thêmBiển Đông : Động cơ chính trị của Trung Quốc đằng sau tuyên bố bảo vệ môi trường ? Đến năm 2018, hai bên đạt được một số tiến triển khi ký bản ghi nhớ, thiết lập khuôn khổ đàm phán hợp tác phát triển dầu khí. Thỏa thuận quy định trong vòng 12 tháng kể từ tháng 11/2018, hai bên phải thống nhất được khu vực và phương thức thăm dò chung ở Biển Đông. Tuy nhiên, vì không có thỏa thuận cụ thể nào được ký kết, tổng thống Rodrigo Duterte đình chỉ đàm phán vào tháng 06/2022. Ngày 10/01/2023, Tòa án Tối cao Philippines tuyên bố vô hiệu thỏa thuận JSMU ký năm 2005 với Trung Quốc và Việt Nam vì vi hiến, do lo ngại làm suy yếu chủ quyền quốc gia. Dù vậy, các cuộc tiếp xúc không chính thức giữa Trung Quốc và Philippines vẫn tiếp diễn, trước khi hai bên chính thức nối lại đối thoại vào tháng 01/2025. Tiến trình được thúc đẩy trong năm 2026 qua các cuộc tham vấn song phương, bao gồm cuộc tham vấn lần thứ 24 giữa bộ Ngoại Giao hai nước tại Tuyền Châu, Trung Quốc và cuộc họp lần thứ 11 của cơ chế tham vấn song phương về Biển Đông. Các cuộc đàm phán này nhằm xác định những bước đi ban đầu hướng tới hợp tác dầu khí. Tuy nhiên, cần theo dõi phần tiếp theo vì ngày 29/03, Manila khẳng định mọi quyết định hợp tác sẽ phải tuân thủ Hiến Pháp Philippines và bảo đảm chủ quyền quốc gia. RFI : Một số vùng mà Manila tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) chồng lấn với vùng biển mà Việt Nam khẳng định chủ quyền. Một dự án thăm dò dầu khí chung giữa Trung Quốc và Philippines có thể tác động như thế nào đến tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ? Laurent Gédéon : Bãi Cỏ Rong, nơi Trung Quốc và Philippines vừa đàm phán triển khai thăm dò dầu khí chung, nằm ngoài khu vực chồng lấn chủ quyền của Philippines và Việt Nam tại Trường Sa, do đó dự án này không ảnh hưởng đến tuyên bố chủ quyền của Việt Nam. Đọc thêmBiển Đông: Việt Nam dè dặt với các sáng kiến của Philippines Tuy nhiên, tuyên bố chủ quyền vẫn tồn tại, liên quan đến phía nam Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Philippines. Vùng biển tranh chấp này sẽ là chủ đề đàm phán tương lai giữa Việt Nam và Philippines. Về tài nguyên dầu khí của Việt Nam, chúng tập trung quanh bãi Tư Chính, nằm ở rìa phía đông nam và nằm ngoài Vùng Đặc quyền Kinh tế của Philippines. Khu vực này, chiếm khoảng 10% nhu cầu năng lượng Việt Nam, lại là tâm điểm căng thẳng, không phải giữa Việt Nam và Philippines, mà là giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bắc Kinh thường tuần tra tại đây nhằm đe dọa Việt Nam và làm gián đoạn hoạt động của các công ty dầu khí khai thác trong khu vực. RFI : Trong trường hợp này hoặc trong trường hợp các dự án phát triển chung giữa Trung Quốc và Philippines, Việt Nam có thể làm gì ? Liệu lập trường của Hà Nội có được Bắc Kinh và Manila lắng nghe ? Laurent Gédéon : Khi Hiệp định Hợp tác Khảo sát Địa chấn Biển chung (JSMU) được ký năm 2005, mà tôi đề cập ở trên, cả Philippines và Việt Nam đều coi đó là cơ hội để cải thiện quan hệ chính trị, kinh tế và quân sự với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy phát triển chung các nguồn tài nguyên có thể sẽ rất khó khai thác vì những căng thẳng. Tình hình sau đó trở nên phức tạp hơn do Trung Quốc chính thức hóa các tuyên bố chủ quyền tối đa, thể hiện qua “đường chín đoạn”. Tuy nhiên, các bên vẫn không từ bỏ nỗ lực tìm kiếm một thỏa hiệp, dù chỉ là tạm thời. Đặc biệt, Trung Quốc đã tích cực đề xuất một số dự án phát triển chung ở Biển Đông với Philippines và Việt Nam kể từ năm 2017. Động cơ của Bắc Kinh có thể được xem xét cả về kinh tế và địa chiến lược (…) Về lập trường của Việt Nam, kịch bản khả thi nhất sẽ là một hoặc nhiều thỏa thuận chia sẻ tài nguyên, theo đó Trung Quốc, Việt Nam và Philippines sẽ cùng nhau khai thác dầu khí. Tuy nhiên, sự hợp tác như vậy sẽ đòi hỏi cả tính sáng tạo về mặt pháp lý và thiện chí thực sự từ phía các nước liên quan để đạt được một thỏa hiệp. Đọc thêmBiển Đông : Việt Nam có chịu "nhượng" chủ quyền để cùng Philippines chống Trung Quốc ? Theo tôi, Hà Nội, cũng như Bắc Kinh và Manila, trong trường hợp này nên chấp nhận một số nhượng bộ để dung hòa các tuyên bố chủ quyền của mỗi bên đối với các khu vực tranh chấp với việc chia sẻ công bằng các nguồn năng lượng có trong những khu vực đó. Trong trường hợp như vậy, các liên doanh được thành lập trong khuôn khổ quản lý chung không nên bị coi là một bước thụt lùi hoặc là một thất bại, mà là một cơ chế thực dụng được thiết lập trong khi chờ đợi một giải pháp dứt khoát, mà không phán xét về việc phân định ranh giới sau này các vùng biển liên quan và không đặt ra nghi vấn về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của ba bên. Có khả năng đây là một hướng để suy ngẫm hoặc một cơ hội chính trị và kinh tế đáng để đào sâu, đặc biệt là đối với Việt Nam. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Trường Sư phạm Lyon.

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM
Khủng hoảng hậu Brexit, Trump, Hormuz : Anh Quốc tìm cách xích lại gần Liên Hiệp Châu Âu

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

Play Episode Listen Later Apr 30, 2026 12:18


Chính phủ Anh đang chuẩn bị một dự luật quan trọng nhằm thúc đẩy chương trình « reset » (khởi động lại) quan hệ với Liên Hiệp Châu Âu (EU), mười năm sau Trưng cầu dân ý Brexit, đưa Anh ra khỏi EU. Dự luật được đưa ra trong bối cảnh thế giới đối mặt với chính sách thuế quan bất nhất của chính quyền Trump và cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz giữa Mỹ và Iran có nguy cơ làm tê liệt nền kinh tế thế giới. Điểm đáng chú ý nhất của dự luật này, nếu được thông qua sớm, là cho phép chính phủ Anh tự động phối hợp và cập nhật các quy định trong nước tương thích với quy chế của Thị trường chung EU (dynamic alignment), mà không cần phải thông qua các cuộc bỏ phiếu chi tiết tại Quốc Hội cho mỗi lần thay đổi.  Thông tín viên Nguyễn Giang tại Luân Đôn giải thích những khó khăn mà nước Anh đang đối mặt, cũng như những điểm chính trong dự luật mới của chính phủ Keir Starmer. RFI Tiếng Việt : Thân chào anh Nguyễn Giang. Đầu tiên, xin anh nhắc lại cho khán thính giả của RFI biết về những gì xảy ra sau khi Hiệp định Brexit chính thức có hiệu lực vào năm 2020. Nền kinh tế Anh Quốc vận hành ra sau bên ngoài Liên Hiệp Châu Âu? Giao thương giữa Anh Quốc và EU được thực hiện như thế nào? TTV. Nguyễn Giang : Kể từ năm 2020, Anh Quốc không còn là thành viên Liên Hiệp Châu Âu và thị trường chung châu Âu nữa nên Luân Đôn phải nỗ lực ký kết các hiệp định tự do thương mại với các nước ở xa như Úc, Hàn Quốc, Ấn Độ và cả Việt Nam. Đây là cách bù lại thiệt hại do việc mất quy chế thành viên EU. Anh cũng đặt nhiều hy vọng vào việc ký được Hiệp định mậu dịch tự do với Hoa Kỳ, nên trên thực tế thì thời của tổng thống Donald Trump đem lại khá nhiều bất ổn cho Anh, với các mức thuế quan lúc thì nói là cắt giảm khá nhiều (xuống 10% cho hàng xuất khẩu của Anh sang Mỹ, tùy quota ngành nghề), có lúc lại ở vào cảnh bị Hoa Kỳ đe dọa thay đổi. Xin nhắc là thỏa thuận thương mại Anh-Mỹ đã được ký vào tháng 5/2025, nhưng mới giữa tháng 4 năm nay (2026), Tổng thống Trump lại đe dọa “có thể thay đổi bất cứ lúc nào” vì lý do địa chính trị và vì yêu sách của Mỹ. Như thế, nhìn quanh thì Anh thấy EU vẫn là bạn hàng lớn, gần nhất. Brexit cũng khiến tăng trưởng kinh tế Anh giảm đáng kể. Một bài đăng tháng 2/2026 của nhóm tác giả Nicholas Bloom, Paul Mizen và Gregory Thwaites từ các đại học Stanford University (Mỹ), King's College London và ĐH Nottingham (Anh) nêu ra con số ước tính khủng khiếp. Theo họ thì Brexit làm thiệt hại của Anh trong những năm qua là 6-8% GDP. Nhìn vào tương lai, thiệt hại tiếp tục sẽ làm sụt giảm chừng 4% GDP mỗi năm, theo nhóm nghiên cứu này, nếu quan hệ Anh-EU vẫn như hiện nay về kinh tế - thương mại. Chính phủ Lao động hiện nay thì coi tăng trưởng là ưu tiên số 1 cho mọi chính sách, nên việc tạo môi trường tương thích về kinh tế với EU là cách họ chọn để khởi động kinh tế Anh vốn tăng trưởng rất yếu, chỉ còn 0,1% trong quý 4 năm 2025. Mười năm sau ngày trưng cầu dân ý và sáu năm thực hiện Brexit, thủ tướng Anh gần đây tuyên bố muốn đảo ngược một số điều khoản của Brexit. Đó là những điều khoản gì ? Liên quan đến những lĩnh vực nào ? TTV. Nguyễn Giang : Tôi xin khẳng định rằng về ngôn từ chính thức, từ thủ tướng Keir Starmer và các thông báo của chính phủ Anh, đây không phải là tiến trình đảo ngược một số điều khoản của Brexit, mặc dù phe đối lập nói như vậy. Cụ thể là thì Anh chỉ muốn, vào những năm tới, kết nối lại gần hơn với EU và tuân theo các tiêu chuẩn EU trong 4 lĩnh vực. Một là nông nghiệp và thực phẩm. Đây là ưu tiên hàng đầu. Anh muốn ký kết một thỏa thuận về tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ để giảm bớt việc kiểm tra biên giới đối với thực phẩm, đồ uống và các sản phẩm động thực vật. Hai là công nghiệp xe hơi. Anh muốn phối hợp các tiêu chuẩn kỹ thuật để đảm bảo xe sản xuất tại Anh có thể lưu thông thuận tiện sang thị trường EU, mà không gặp trở ngại về quy định mới. Ba là lĩnh vực năng lượng và biến đổi khí hậu: Hai bên sẽ kết nối lại hệ thống giao dịch khí thải (Emissions Trading Scheme) và hợp tác chặt chẽ trong thị trường điện năng để giảm chi phí năng lượng. Lĩnh vực thứ tư, có vẻ dễ hơn cả vì không mang tính kinh tế, là Anh và EU sẽ tiếp tục phối hợp công tác an ninh biên giới và di trú. Hai bên đã và đang trao đổi thông tin và phối hợp các quy trình kiểm soát biên giới, chia sẻ dữ liệu tội phạm. Anh có thể giải thích kỹ hơn quy chế « tương thích chủ động » của luật Anh với luật EU ? TTV. Nguyễn Giang : Đây là quy chế thực ra đã áp dụng ở phạm vi hẹp giữa Anh và EU ở Bắc Ireland. Ví dụ trong xuất nhập khẩu nông sản. Quy định về tỷ lệ thuốc trừ sâu dùng trong nông nghiệp với một số loại cây trồng tạo ra hàng xuất khẩu trao đổi thương mại Bắc Ireland thuộc Anh và CH Ireland thuộc EU đã được áp dụng như sau: Phía Anh đồng ý tự tuân theo quy định về tỷ lệ thuốc trừ sâu trong trồng cấy cây xanh, chẳng hạn ở Bắc Ireland, theo tiêu chuẩn EU, việc xuất nhập khẩu cây giữa hai miền Nam-Bắc Ireland không cần kiểm tra thêm. Nay thì  Anh sẵn sàng để từng ngành nghề, do các bộ khác nhau phụ trách, tự động điều chỉnh quy định của mình theo tiêu chuẩn của EU, mỗi khi EU chỉnh sửa các tiêu chuẩn của họ. Lấy ví dụ, nếu EU quy định pin cho xe ô-tô động cơ điện phải có tới 55% thành phần kỹ thuật, công nghệ bản địa chứ không phải hàng Trung Quốc, hay của nước thứ ba nào khác, Anh sẽ tự làm đúng như vậy khi ban hành quy định về pin cho xe chạy điện. Như thế thì hai bên có thể bán pin xe sang thị trường của nhau mà không cần đàm phán về thuế quan nữa. Cơ chế này, nếu được thông qua bằng một đạo luật vào dịp hè năm nay, sẽ được áp dụng cho các ngành kinh tế khác trên toàn Vương quốc Anh trong quan hệ với EU. Trên thực tế thì hai bên đã thảo luận về tiêu chuẩn sản phẩm (Hóa chất và hàng tiêu dùng). Anh có xu hướng bám sát các tiêu chuẩn an toàn hóa chất (REACH) và bảo vệ người tiêu dùng của EU, để tránh tình trạng hàng hóa Anh bị từ chối tại biên giới do khác biệt về tiêu chuẩn. Việc mở rộng theo từng khu vực kinh tế (sector by sector) là những bước đi thận trọng để triển khai chiến lược “tương thích hóa” kinh tế hai bên.  Hôm 15/04/2026, EU đã nhận lại Anh vào chương trình giáo dục Erasmus, nay được gọi là Erasmus +, sẽ được triển khai từ 2027. Theo chính phủ Anh thì ít nhất 100 nghìn sinh viên, thanh niên sẽ được hưởng lợi chỉ trong năm đầu tiên từ việc Anh quay lại chương trình đào tạo, trao đổi giáo dục, văn hóa này. Tôi muốn nói thêm là EU đã ký mở rộng hợp tác tương tự với Thụy Sĩ, nước nằm giữa châu Âu nhưng không phải là thành viên Liên Hiệp Châu Âu, tuy không dùng ngôn từ như các dự tính ký với Anh. Tháng 2 năm nay, EU và Thụy Sĩ đã ký thỏa thuận tăng cường hợp tác trong bốn lĩnh vực: thực phẩm, điện, bảo vệ biên giới và khai thác không gian vũ trụ. Có thể thấy là ba lĩnh vực đầu gần như giống hệt với những gì EU có thể sẽ ký với Anh. Vì sao thủ tướng Anh, Kier Starmer muốn thực hiện dự luật đó vào lúc này ? Thực trạng nền kinh tế Anh hiện nay ra sao ? TTV. Nguyễn Giang : Đầu tiên là bối cảnh quốc tế ngày một khó khăn, về an ninh năng lượng, về chuỗi cung ứng, do chiến sự Trung Đông, do cuộc chiến thuế quan Hoa Kỳ-Trung Quốc, chiến tranh ở Ukraina, đã khiến việc sáp lại gần với láng giềng lớn nhất, và đối tác thương mại quan trọng là EU, trở nên cấp bách với Anh. Như chính lời Thủ tướng Keir Starmer nói với BBC hôm 13/04, thì 10 năm sau Trưng cầu dân ý Brexit, Anh Quốc “cần nhìn về phía trước, không nhìn lại quá khứ”, và khi mà “xung đột lớn, bất ổn lớn (massive conflict, great uncertainty) đang xảy ra trên thế giới thì “vì quyền lợi của mình, Vương quốc Anh cần có một quan hệ gần gũi hơn, mạnh mẽ hơn với châu Âu”. Ông cho rằng nhu cầu đó đến từ thực tiễn hiện nay, và đúng với cả quốc phòng, an ninh, năng lượng và kinh tế. Thứ hai là nhu cầu kích hoạt tăng trưởng kinh tế. Đầu năm nay, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nêu dự báo tăng trưởng kinh tế ở Anh năm 2026 là 1,5%, nhưng trong báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới (World Economic Outlook) trong tháng 4 năm nay, IMF hạ dự báo về tăng trưởng kinh tế Anh xuống chỉ còn 0,8% năm nay. Tức là thực trạng nền kinh tế Anh đang ở điểm rất dễ rơi vào suy thoái. Nghị trình chủ đạo của Chính phủ Anh hiện nay là phải thúc đẩy được tăng trưởng kinh tế. Quan điểm của Đảng Lao Động cầm quyền là tạo quan hệ gần gũi hơn trong giao thương với EU qua chính sách tạo sự “tương thích hóa” ở các ngành then chốt, thì doanh nghiệp sẽ giảm bớt được rào cản kỹ thuật và chi phí, từ đó kinh tế Anh có thêm cơ hội tăng trưởng. Lãnh đạo chính phủ Anh muốn thay đổi những điều khoản trên mà không cần đưa ra Nghị Viện thảo luận. Đâu là những công cụ pháp lý cho phép ông thực hiện các thay đổi mà không qua Nghị Viện ? TTV. Nguyễn Giang : Dự kiến một dự luật (bill) sẽ được giới thiệu trong Diễn văn của Nhà vua  (The King's Speech) vào tháng 5/2026 và được thông qua trước kỳ nghỉ hè năm nay, đánh dấu bước chuyển biến lớn nhất trong quan hệ Luân Đôn - Bruxelles sau khi Anh chính thức rời EU. Khi được thông qua rồi thì luật này cho phép chính phủ, từ nay tới 2028-2029, có thể ra các nghị định hoặc hướng dẫn để điều chỉnh các chính sách từng ngành nghề cụ thể của nền kinh tế, tạo sự tương thích với quy định của EU mà không cần Quốc Hội thông qua chi tiết nữa. Ý định này của thủ tướng Keir Starmer gây tranh cãi ra sao và lập luận của phe chống và ủng hộ là gì ? Liệu đây có là nước cờ mạo hiểm cho thủ tướng Anh khi mà các đảng đối lập chỉ trích ông « phản bội » ý nguyện của người dân ? TTV. Nguyễn Giang : Ngay lập tức kế hoạch này đã bị các đảng đối lập như Bảo thủ và Reform chỉ trích. Họ coi mọi thay đổi hiệp định Brexit đều phải được Nghị viện thông qua. Phe phê phán chính phủ nói đây chẳng khác gì luật thời vua Henry VIII- năm 1539 triều đình Anh ra một luật cho phép ông vua đó điều hành vương quốc bằng các sắc lệnh (to rule by decree) mà không cần Nghị viện bỏ phiếu cho mỗi lần cụ thể để chuẩn thuận hoặc bác bỏ thay đổi. Hiện nay, phe đối lập và những người ủng hộ Brexit cứng rắn lo ngại đây là hành động “hội nhập lại EU bằng cửa sau”, làm mất đi quyền tự chủ về luật pháp của Anh khi phải chạy theo các quy tắc mà họ không còn quyền bỏ phiếu quyết định tại Bruxelles. Trong ngày 13/04/2026, lãnh đạo đảng Bảo thủ Kemi Badenoch đã phát biểu công khai phản đối ý tưởng về dự luật này. Theo bà thì đây là “cách làm tệ nhất ở cả hai đầu”: Anh mất quyền tham gia quyết định về các tiêu chuẩn hàng hóa của EU, mà phải chạy theo, tuân thủ quy định EU. Mặt khác, quy chế tương thích này khiến Anh không còn ký hiệp ước thương mại một cách thoải mái với các nước khác ngoài EU nữa. Trên thực tế thì cả hai đảng Bảo thủ và Reform đều thừa nhận kinh tế đang rất yếu. Nhưng giải thích của Reform là các đời thủ tướng Bảo thủ đã qua và Lao động hiện nay đã “không biết tận dụng cơ hội Brexit đem lại” và đã làm uổng phí sự độc lập tự chủ khỏi EU để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đảng Bảo thủ cầm quyền từ khi Brexit 2016 đến giữa năm 2024 thì nay có ban lãnh đạo mới và ban lãnh đạo này cũng nói họ đang đưa ra các chính sách (mang tính đề xuất) để thúc đẩy tăng trưởng. Nhưng nói một cách khách quan thì chính sách của đảng nào nêu ra cũng vấp phải thực tiễn rất khắc nghiệt. Dư luận Anh nay nghĩ gì về Brexit và về quan hệ với EU ? TTV. Nguyễn Giang : Về dư luận thì tính đến tháng 1/2026, theo Statista, có tới 58% người dân Anh coi quyết định Brexit là sai, và chỉ có 30% coi là đúng. Tuy thế, người ta không nghĩ việc quay trở lại EU là khả thi. Trước mắt, việc xích lại gần EU để kinh tế đỡ khó khăn là bước đi mà nhiều người coi là hợp lý nhất. Tôi thấy bên cạnh chuyện kinh tế thì nhìn chung, người dân chấp nhận Anh ở bên ngoài EU và họ chỉ có thể than phiền về thủ tục kiểm tra biên giới, về hàng không khi sang EU đi du lịch. Rất nhiều vấn đề thực tiễn này vẫn chưa có giải pháp chung gì cả.    

TẠP CHÍ XÃ HỘI
Mặt trận Bình dân Pháp : 2 năm cầm quyền, 90 năm di sản

TẠP CHÍ XÃ HỘI

Play Episode Listen Later Apr 29, 2026 9:43


Cách nay đúng 90 năm, vào năm 1936, trong bối cảnh châu Âu nói chung và nước Pháp nói riêng phải đương đầu với nhiều biến động xã hội, Mặt trận Bình dân - Front populaire - đã ra đời, với nhiều cải cách xã hội mang tính cách mạng, tạo ra những thay đổi lớn lao cho cuộc sống của người dân Pháp. Cho dù chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, khoảng 2 năm, từ năm 1936 đến 1938, nhưng Mặt trận Bình dân đã để lại nhiều dấu ấn cho tới tận ngày nay. RFI tiếng Việt ngày 01/04/2026 phỏng vấn sử gia Jean Vigreux, chuyên gia nghiên cứu về Mặt trận Bình dân, giáo sư Đại học Bourgogne Europe của Pháp. RFI : Mặt trận Bình Dân là gì ? Ra đời trong bối cảnh chính trị - kinh tế - xã hội như thế nào ? Jean Vigreux : Mặt trận Bình dân là một phong trào chính trị, bởi vì chính cuộc bầu cử tháng 4-5 năm 1936 đã đưa một người theo chủ nghĩa xã hội lên lãnh đạo chính phủ ở Pháp, lần đầu tiên trong lịch sử. Đó là Léon Blum. Nhưng ngoài khía cạnh chính trị, Mặt trận Bình dân còn là một phong trào xã hội có quy mô rất lớn, một phong trào đình công lớn chưa từng có và đã giành được những quyền lợi mới cho nhân dân, cho người làm công ăn lương … Có thể nói rằng trong một giai đoạn đặc biệt, từ năm 1936 đến năm 1938, chỉ trong vòng 2 năm, Mặt trận Bình dân thực sự đã ghi dấu ấn trong đời sống của đất nước. Về nguồn gốc, Mặt trận Bình dân ra đời từ sự tập hợp của cánh tả Pháp, vốn dĩ bị chia rẽ kể từ sau Đệ nhất Thế chiến. Có 3 lực lượng chính của cánh tả, đó là đảng Cộng Sản, đảng Xã Hội và các phần tử cánh tả cấp tiến. Ngoài ra, còn có những lực lượng khác. Khi đó, giữa họ có sự chia rẽ. Rồi điều gắn kết họ lại với nhau chính là sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít, là nỗi sợ hãi trước chủ nghĩa Quốc Xã và những gì đã xảy ra ở Đức năm 1933. Và sau đó là đến năm 1934, một cuộc đảo chính do những kẻ cực đoan cánh hữu tiến hành đã chiếm giữ Cung điện Bourbon (Palais Bourbon), trụ sở Hạ Viện, biểu tượng của Cộng Hòa Pháp. Trong bối cảnh đó, phe cánh tả muốn đoàn kết lực lượng và thành lập một liên minh bình dân, sau này đã trở thành Mặt trận Bình dân. Liên minh này được thành lập để bảo vệ nền Cộng Hòa, đồng thời nhằm chống lại cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm 1930 và Đại Suy Thoái 1929. RFI : Trong bối cảnh thời đó, đâu là những thách thức và mục tiêu chính của Mặt trận Bình dân Pháp ? Jean Vigreux : Như tôi vừa nói, mục tiêu là bảo vệ nền Cộng Hòa, nhưng không chỉ đơn thuần là bảo vệ nền Cộng hòa, mà mục tiêu của Mặt trận Bình dân còn là chương trình có thể được tóm gọn khá đơn giản trong 3 từ « Bánh mì », « Hòa bình » và « Tự do ». « Bánh mì » là cung cấp bánh mì cho công nhân, cho những người thất nghiệp do khủng hoảng kinh tế và xã hội. « Hòa bình » là bảo vệ hòa bình chống lại chủ nghĩa phát xít trên phạm vi quốc tế, bởi vì thực sự khi đó có những mối đe dọa tương đối nghiêm trọng, ví dụ phát xít Ý đã tiến hành các cuộc can thiệp quân sự ở châu Phi, ở Ethiopia và nhiều nơi khác nữa. Như vậy, thách thức là lấy chủ nghĩa hòa bình chống lại logic chiến tranh, tức là chủ nghĩa phát xít. Xin nhắc lại là vào năm 1936, Pháp tưởng niệm sự kiện Verdun năm 1916, chỉ mới trước đó 20 năm. Đó là những vụ thảm sát và tàn sát trong Chiến tranh Thế giới Thứ nhất. Và thứ ba là tự do : đó là những quyền tự do cơ bản, trước những gì đang xảy ra ở Trung và Đông Âu, không chỉ dưới bàn tay của phát xít, mà còn cả các chế độ độc tài ở những nước này. Tóm lại, những mục tiêu chính của Mặt trận Bình dân là điều hành để phát triển nền Cộng Hòa, không chỉ về các quyền tự do, mà còn hướng đến một nền dân chủ xã hội. RFI : Những cải cách lớn, những biện pháp tiêu biểu của Mặt trận Bình dân khi đó là gì ? Jean Vigreux : Về những cải cách lớn, trước hết cần lưu ý là chúng đã được thực hiện một cách nhanh chóng. Xin nhắc lại Léon Blum được bổ nhiệm làm chủ tịch Hội đồng - mà ngày nay chúng ta gọi là thủ tướng - vào đầu tháng 6/1936, cụ thể là vào ngày 06/06. Và ngay trong đêm 07 sang ngày 08/06/1936, Thỏa  thuận Matignon đã được ký kết. Đây là lần đầu tiên ở Pháp, chính phủ tập hợp không chỉ các bộ trưởng, mà còn cả các đối tác xã hội, cụ thể là nghiệp đoàn CGT - Tổng Liên đoàn những người lao động - Liên đoàn Công nhân được thống nhất trước đó không lâu, và Liên đoàn Sản xuất Pháp, nghiệp đoàn đại diện cho giới chủ. Cùng với các đối tác xã hội, Nhà nước đã đưa ra quyết định để chấm dứt các cuộc đình công lớn, đưa ra những đề xuất quan trọng, làm thay đổi đời sống người dân. Trong số những thành tựu này có kỳ nghỉ phép có lương, giới hạn giờ làm việc (từ 48 giờ/tuần xuống còn 40 giờ/tuần), bầu cử đại diện người lao động - nói cách khác là sự công nhận các công đoàn và các thỏa ước tập thể. Đó là một số dấu ấn nổi bật của Mặt trận Bình dân. Tất nhiên, chúng ta có thể kể thêm những thành tựu khác, như là sự ra đời của các trung tâm văn hóa và thể thao cho tất cả mọi người, góp phần vào sự phát triển rực rỡ của thời kỳ dân chủ hóa văn hóa. Ngoài ra, còn có thể nói tới cộng đồng nông dân với sự ra đời của Cơ quan Liên ngành Quốc gia về Lúa mỳ, nơi bảo đảm thu nhập cho người nông dân. Muộn hơn một chút thì có thể nói tới việc thành lập SNCF (Công ty Đường sắt Quốc gia Pháp) vào năm 1937. Từng ấy thành tựu lớn chỉ trong một thời gian ngắn cho thấy ý chí chính trị mạnh mẽ và những cải cách quan trọng. RFI : Ông là sử gia chuyên nghiên cứu về Mặt trận Bình dân. Theo ông, đâu là yếu tố then chốt cho phép Mặt trận Bình dân nhanh chóng tạo ra các chuyển biến về đời sống xã hội cho người dân Pháp ? Jean Vigreux : Có hai yếu tố tác động ở đây. Đó là sự kết hợp của nhiều sự kiện. Thứ nhất, đó là sự lên nắm quyền của liên minh Mặt trận Bình dân, với sự thay đổi trong cán cân quyền lực. Lần đầu tiên đảng lãnh đạo là đảng Xã Hội, chứ không còn là các phe cấp tiến hoặc đảng trung hữu hay trung tả tùy thời điểm nữa. Như vậy, chúng ta thấy là có một bước ngoặt mạnh mẽ sang cánh tả. Đảng Cộng Sản, cũng ở vị trí rất quan trọng và giành được 72 ghế, chiếm 15% tổng số ghế được bầu. Đây thực sự là một điều mới mẻ và có ý nghĩa. Yếu tố thứ hai là phong trào xã hội. Xin nhắc lại là giữa hai vòng bầu cử, có ngày 01/05. Ngày 01/05 vào thời đó không phải là ngày nghỉ lễ quốc gia như thời nay. Người lao động khi đó phải đình công để có thể đi biểu tình vào ngày 01/05 và công đoàn CGT đã đề xuất biến ngày 01/05 thành ngày huy động lực lượng cho cuộc bầu cử lập pháp, dự kiến ​​diễn ra vào ngày 03/05/1936, chỉ hai ngày sau Ngày Lao Động 01/05. Phong trào xã hội, các cuộc đình công, mong muốn gây dựng sự ủng hộ của quần chúng trong cả nước cho các cuộc bầu cử và Mặt trận Bình dân, cho phong trào quần chúng thông qua các cuộc đình công, đã thực sự góp phần tạo nên thời điểm then chốt cho phép đời sống xã hội biến chuyển nhanh chóng. Nói tóm lại, một mặt đó là ý chí chính trị, là những gì thủ tướng Léon Blum đã thực hiện, với hàng loạt cải cách rất nhanh chóng và tức thời, mặt khác, đó là nhờ phong trào xã hội. RFI : Các giá trị xã hội mà Mặt trận Bình dân đề cao khi đó đến nay có còn được phát huy mạnh mẽ tại Pháp ? Theo ông, di sản bền vững nhất của Mặt trận Bình dân là gì ? Jean Vigreux : Có nhiều cấp độ trong câu hỏi này. Nói về di sản lâu bền nhất, tôi nghĩ rằng ngày nay mọi người trong xã hội Pháp đều đã chấp nhận kỳ nghỉ phép có lương. Chúng ta đã tăng từ 2 tuần nghỉ phép có lương lên thành 3 tuần vào năm 1956, lên tuần thứ tư vào những năm 1960, và sau đó từ những năm 1980-1982, dưới chính phủ của thủ tướng Pierre Mauroy và tổng thống François Mitterrand, thì có thêm tuần thứ năm nghỉ phép có lương. Đó là một thành tựu đã đạt được và để lại dấu ấn lâu dài trong cuộc sống của người dân Pháp. Nhưng chúng ta không nên quên rằng các giá trị xã hội mà Mặt trận Bình dân đề cao là sự bình đẳng, là việc chia sẻ của cải, cuối cùng đã trở thành một phần của di sản mà Măt trận Bình dân để lại, dẫu là đã bị suy yếu. Tuy nhiên, có một câu hỏi đã được đặt ra về một liên minh chống phát xít. Đây cũng là một trong những câu hỏi đã được đặt ra trong kỳ bầu cử lập pháp gần đây nhất ở Pháp. Và suy cho cùng thì đây cũng là về cách đối phó với sự trỗi dậy của phe cực hữu : Chúng ta nên tiếp tục để mình bị chia rẽ, mỗi người ở một góc riêng, hay là chúng ta nên tham gia vào các lực lượng đấu tranh và cho thấy tình đoàn kết tương thân tương ái ? RFI : Từ góc độ lịch sử, các chính sách xã hội của Mặt trận Bình dân đã tiếp tục ảnh hưởng đến luật lao động Pháp ngày nay như thế nào ? Jean Vigreux : Như tôi đã nói ở trên, điều quan trọng là sự công nhận các nghiệp đoàn và việc bầu chọn các đại diện cho người lao động thông qua các thỏa ước tập thể. Có thể nói đây là di sản quan trọng nhất của Mặt trận Bình dân, nay còn hiện hữu rất rõ ràng, bất kể mỗi người chúng ta theo nghiệp đoàn nào. Số nghiệp đoàn ở Pháp đã tăng mạnh, và từ góc độ này, tôi cho rằng sự công nhận quyền của nghiệp đoàn, sự tham gia của các thành viên nghiệp đoàn  vào đời sống của công ty cũng như vào như đời sống xã hội, đối với tôi, là di sản bền vững nhất của Mặt trận Bình dân. Điều đó không có nghĩa là không có những nỗ lực nhằm hủy bỏ một số thành quả của Mặt trận Bình dân. Điều đó không có nghĩa là không có những bước thụt lùi, nhưng sự hiện diện, sự tự do của các nghiệp đoàn, mới là điều cơ bản. RFI : Vậy theo ông, giới trẻ Pháp ngày nay có ý thức được rằng những thành tựu xã hội, mà họ đang được hưởng, có được là nhờ Mặt trận Bình dân ? Jean Vigreux : Tôi không biết rằng liệu giới trẻ có nhận thức được về điều đó hay không, nhưng đó là điều chúng ta phải liên tục nhắc nhở họ. Chúng ta có thể nhắc cho giới trẻ nhớ tới điều đó ở trường học, cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông và đại học, nhưng điều này liên quan đến các chương trình giảng dạy. Tôi không biết liệu giới trẻ có nhận thức được về điều đó hay không, nhưng tôi có cảm giác rằng nếu như bây giờ chúng ta nói với giới trẻ rằng « sẽ hủy bỏ chế độ nghỉ phép có lương, hủy bỏ chế độ phúc lợi xã hội » thì chắn chắn là họ sẽ không đồng ý đâu. RFI Tiếng Việt chân thành cảm ơn sử gia Jean Vigreux đã tham gia chương trình !

TẠP CHÍ VIỆT NAM
EU giúp Việt Nam đào tạo nguồn lực chất lượng cao, toàn diện cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Apr 20, 2026 8:45


Hơn 50 triệu euro được Liên Hiệp Châu Âu đầu tư cho Chương trình Giáo dục Nghề nghiệp Việt Nam (VETVET). Hiệp định được Liên Âu và chính phủ Việt Nam ký ngày 31/12/2025 và kéo dài đến năm 2030 nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, xây dựng lực lượng lao động có kỹ năng, đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi xanh, chuyển đổi số tại việt Nam. “Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số” được trang Nhân Dân nhấn mạnh “là hai yếu tố căn bản cấu thành một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược” của Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam đang thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên môn, có kỹ năng. Chương trình VETVET của Liên Hiệp Châu Âu được bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn đánh giá “sẽ góp phần hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động”. Về phía Liên Hiệp Châu Âu, trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 20/01/2026, đại sứ Julien Guerrier cho biết Hiệp định tài trợ cho Chương trình Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam-EU đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực giáo dục và phát triển kỹ năng. Chương trình VETVET cũng sẽ giúp Việt Nam tăng sức hấp dẫn cũng như đáp ứng nhu cầu nhân lực của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, vào Việt Nam. RFI : Một thỏa thuận mới về tài trợ Chương trình Giáo dục Nghề nghiệp (VETVET) đã được Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam đã ký ngày 31/12/2025. Xin Đại sứ cho biết chương trình hợp tác chung giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam về lĩnh vực này được triển khai từ bao giờ và nhằm những mục tiêu nào ? Đại sứ Julien Guerrier : Đối với chúng tôi, chương trình VETVET là một sáng kiến ​​lớn nhằm tăng cường công tác đào tạo và giáo dục tại Việt Nam. Công tác chuẩn bị cho chương trình hợp tác và dự án này bắt đầu từ năm 2023, và chúng tôi ký thỏa thuận tài chính vào cuối năm 2025. Vì vậy, hiện nay chúng tôi đã sẵn sàng triển khai dự án này. Đây là một chương trình với nhiều nhà tài trợ, có tổng ngân sách hơn 50 triệu euro, có thể thấy là rất lớn, được đồng tài trợ bởi Liên Hiệp Châu Âu (40 triệu euro), Đức (10,4 triệu euro) và Pháp (500.000 euro). Chương trình sẽ do Expertise France và đối tác Đức là GIZ thực hiện, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam. Chương trình kéo dài 5 năm, được bắt đầu ngay lập tức và kéo dài tới năm 2030. Mục tiêu của chương trình VETVET là hỗ trợ Việt Nam xây dựng một lĩnh vực giáo dục và đào tạo toàn diện, chất lượng cao và hiện đại, trang bị cho người Việt Nam những kỹ năng cần thiết cho nền kinh tế tương lai, đặc biệt là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Thông qua chương trình này, chúng tôi sẽ thiết lập một số quan hệ đối tác với các doanh nghiệp. Chúng tôi sẽ nỗ lực tăng cường sức hấp dẫn và tính bền vững của ngành giáo dục và đào tạo tại Việt Nam để có được những kỹ năng về mặt khởi nghiệp và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Đọc thêmEU và Việt Nam ký kết thỏa thuận chương trình đào tạo nghề trị giá 50 triệu euro RFI : Thỏa thuận mới “nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực kỹ năng cao”. Cụ thể là những ngành nghề nào được chú trọng ? Hoạt động đào tạo sẽ được tiến hành như thế nào ? Tại Việt Nam hay tại các nước thành viên EU tham gia chương trình ? Đại sứ Julien Guerrier : Sự hỗ trợ của Liên Hiệp Châu Âu dành cho đào tạo nghề tại Việt Nam sẽ tập trung vào các lĩnh vực đang thiếu hụt lao động tay nghề cao nhất, như chị đề cập, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghệ cao kỹ thuật số, cho các ngành công nghệ cao như bán dẫn, công nghiệp xanh, nông nghiệp bền vững và công nghệ quản lý môi trường và lâm nghiệp. Đó là những lĩnh vực sẽ được chúng tôi tập trung tới. Chúng tôi sẽ hợp tác với khoảng ba mươi trường cao đẳng nghề và doanh nghiệp để giúp chúng tôi phát triển các kỹ năng này, trước hết là bằng cách đào tạo giảng viên, sau đó là đào tạo người Việt Nam trong các lĩnh vực này, trên khắp các vùng miền của Việt Nam, và đôi khi thông qua các chương trình trao đổi tại Liên Hiệp Châu Âu. Cách tiếp cận sẽ rất sát với nhu cầu thực tế, có nghĩa là các doanh nghiệp sẽ cho chúng tôi biết họ thiếu kỹ năng gì và sẽ cần kỹ năng gì trong tương lai, và chúng tôi sẽ có thể đào tạo giảng viên không chỉ ở các trường cao đẳng nghề mà ngay chính trong doanh nghiệp, những người mà sau này có thể tập trung vào việc đào tạo thanh niên trong những lĩnh vực khác nhau. Điều quan trọng đối với chúng tôi là cần bảo đảm sự tiếp cận công bằng và bình đẳng cho thanh niên, bao gồm cả những người đến từ các vùng khó khăn hoặc các dân tộc thiểu số. Do đó, chúng tôi sẽ bảo đảm rằng tài liệu đào tạo và phương pháp giảng dạy được triển khai sẽ phải bao gồm cả các nhóm dân tộc thiểu số, đồng thời thúc đẩy bình đẳng giới và khuyến khích chương trình đào tạo dành cho phụ nữ tại Việt Nam. RFI : Chương trình đào tạo này có thể mang lại lợi ích như thế nào cho hợp tác giữa EU và Việt Nam ? Đại sứ Julien Guerrier : Đối với Việt Nam, điều này rất rõ ràng, Việt Nam sẽ có nhiều kỹ năng hơn, một lĩnh vực đào tạo nghề hiện đại hơn rất nhiều, hiệu quả và chất lượng cao hơn để đào tạo giới trẻ cho các doanh nghiệp tương lai. Việc này cũng rất cần thiết đối với Liên Hiệp Châu Âu. Thứ nhất, bởi vì đó là một phần trong các chương trình của Liên Âu để đóng góp vào hành động chống biến đổi khí hậu trên toàn thế giới. Ngoài ra cũng bởi vì chúng tôi có rất nhiều nhà đầu tư tại Việt Nam. Chúng tôi có Hiệp định Thương mại Tự do và Hiệp định Đầu tư với Việt Nam. Vì vậy nhiều nhà đầu tư châu Âu đến đây, đầu tư vào các lĩnh vực mà chúng tôi có lợi thế cạnh tranh, cụ thể là các lĩnh vực xanh, bền vững và công nghệ số cao. Và đó là những lĩnh vực cần những kỹ năng này. Vì vậy, chúng tôi sẽ phải đào tạo nguồn nhân lực sau này có thể làm việc cho các công ty của chúng tôi đầu tư vào Việt Nam trong những lĩnh vực này. Đọc thêmViện trợ phát triển: Liên Âu dự trù 300 tỷ euro làm đối trọng với Trung Quốc RFI : Để “đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh và chuyển đổi số tại Việt Nam”, Việt Nam cần nguồn nhân lực kỹ năng cao như thế nào ? Tình hình này có khẩn cấp không ? Đại sứ Julien Guerrier : Có, bởi vì đất nước đang chuyển mình rất, rất nhanh. Việt Nam đặt mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050, giống như Liên Hiệp Châu Âu. Việt Nam cũng khao khát đi đầu trong quá trình chuyển đổi số. Đối với chuyển đổi xanh, sẽ cần các kỹ sư năng lượng tái tạo, kỹ thuật viên, chuyên gia về biến đổi khí hậu, kỹ thuật viên khoa học môi trường và công nhân lành nghề trong các hoạt động nông nghiệp bền vững, ví dụ canh tác lúa phát thải thấp, cũng như trong ngành công nghiệp gỗ và quản lý rừng. Về chuyển đổi số, rất cần các kỹ sư và kỹ thuật viên trong các lĩnh vực điện tử, cơ điện tử và công nghệ thông tin. Ngoài ra cũng cần các chuyên gia về tự động hóa quy trình công nghiệp, robot và các lĩnh vực công nghệ cao khác, đặc biệt là chất bán dẫn, một lĩnh vực mà Việt Nam đang đặt mục tiêu phát triển nhanh chóng. Có thể thấy là có khá nhiều lĩnh vực kỹ thuật cần những con người có thể sử dụng phần mềm mới nhất, tích hợp các giải pháp số vào các ngành công nghiệp truyền thống hơn, và sử dụng tối ưu nguồn năng lượng hiện có. Đó là những kỹ sư trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, lĩnh vực số hóa, cũng như trong mọi ngành công nghiệp ở Việt Nam, để tích hợp những công nghệ này vào các ngành công nghiệp truyền thống hơn. RFI : Chương trình VETVET có tương ứng và đáp ứng với kế hoạch 5 năm được đề ra trong Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIV ? Đại sứ Julien Guerrier : Hoàn toàn đúng vậy. Tôi đã tham dự lễ khai mạc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam sáng 20/01. Đại hội quyết định việc bổ nhiệm lãnh đạo cho 5 năm tới, cũng như các chính sách cần theo đuổi. Các ưu tiên là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Và đối với hai ưu tiên này, mục tiêu số một là phát triển nguồn nhân lực bởi vì đó là điều kiện tiên quyết để thành công trong hai quá trình chuyển đổi này. Vì vậy, theo kế hoạch của Đảng, đây là điểm đứng đầu trong các ưu tiên cho 5 năm tới. Và điều này hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của người dân Việt Nam để phát triển đất nước một cách bền vững. Do đó, giữa các ưu tiên của Liên Hiệp Châu Âu và các ưu tiên của Việt Nam có sự tương đồng hoàn hảo về vấn đề này. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Đại sứ Liên Hiệp Châu Âu tại Việt Nam Julien Guerrier.

Tạp chí Việt Nam
EU giúp Việt Nam đào tạo nguồn lực chất lượng cao, toàn diện cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later Apr 20, 2026 8:45


Hơn 50 triệu euro được Liên Hiệp Châu Âu đầu tư cho Chương trình Giáo dục Nghề nghiệp Việt Nam (VETVET). Hiệp định được Liên Âu và chính phủ Việt Nam ký ngày 31/12/2025 và kéo dài đến năm 2030 nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, xây dựng lực lượng lao động có kỹ năng, đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi xanh, chuyển đổi số tại việt Nam. “Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số” được trang Nhân Dân nhấn mạnh “là hai yếu tố căn bản cấu thành một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược” của Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam đang thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên môn, có kỹ năng. Chương trình VETVET của Liên Hiệp Châu Âu được bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn đánh giá “sẽ góp phần hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động”. Về phía Liên Hiệp Châu Âu, trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 20/01/2026, đại sứ Julien Guerrier cho biết Hiệp định tài trợ cho Chương trình Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam-EU đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực giáo dục và phát triển kỹ năng. Chương trình VETVET cũng sẽ giúp Việt Nam tăng sức hấp dẫn cũng như đáp ứng nhu cầu nhân lực của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, vào Việt Nam. RFI : Một thỏa thuận mới về tài trợ Chương trình Giáo dục Nghề nghiệp (VETVET) đã được Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam đã ký ngày 31/12/2025. Xin Đại sứ cho biết chương trình hợp tác chung giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam về lĩnh vực này được triển khai từ bao giờ và nhằm những mục tiêu nào ? Đại sứ Julien Guerrier : Đối với chúng tôi, chương trình VETVET là một sáng kiến ​​lớn nhằm tăng cường công tác đào tạo và giáo dục tại Việt Nam. Công tác chuẩn bị cho chương trình hợp tác và dự án này bắt đầu từ năm 2023, và chúng tôi ký thỏa thuận tài chính vào cuối năm 2025. Vì vậy, hiện nay chúng tôi đã sẵn sàng triển khai dự án này. Đây là một chương trình với nhiều nhà tài trợ, có tổng ngân sách hơn 50 triệu euro, có thể thấy là rất lớn, được đồng tài trợ bởi Liên Hiệp Châu Âu (40 triệu euro), Đức (10,4 triệu euro) và Pháp (500.000 euro). Chương trình sẽ do Expertise France và đối tác Đức là GIZ thực hiện, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam. Chương trình kéo dài 5 năm, được bắt đầu ngay lập tức và kéo dài tới năm 2030. Mục tiêu của chương trình VETVET là hỗ trợ Việt Nam xây dựng một lĩnh vực giáo dục và đào tạo toàn diện, chất lượng cao và hiện đại, trang bị cho người Việt Nam những kỹ năng cần thiết cho nền kinh tế tương lai, đặc biệt là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Thông qua chương trình này, chúng tôi sẽ thiết lập một số quan hệ đối tác với các doanh nghiệp. Chúng tôi sẽ nỗ lực tăng cường sức hấp dẫn và tính bền vững của ngành giáo dục và đào tạo tại Việt Nam để có được những kỹ năng về mặt khởi nghiệp và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Đọc thêmEU và Việt Nam ký kết thỏa thuận chương trình đào tạo nghề trị giá 50 triệu euro RFI : Thỏa thuận mới “nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực kỹ năng cao”. Cụ thể là những ngành nghề nào được chú trọng ? Hoạt động đào tạo sẽ được tiến hành như thế nào ? Tại Việt Nam hay tại các nước thành viên EU tham gia chương trình ? Đại sứ Julien Guerrier : Sự hỗ trợ của Liên Hiệp Châu Âu dành cho đào tạo nghề tại Việt Nam sẽ tập trung vào các lĩnh vực đang thiếu hụt lao động tay nghề cao nhất, như chị đề cập, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghệ cao kỹ thuật số, cho các ngành công nghệ cao như bán dẫn, công nghiệp xanh, nông nghiệp bền vững và công nghệ quản lý môi trường và lâm nghiệp. Đó là những lĩnh vực sẽ được chúng tôi tập trung tới. Chúng tôi sẽ hợp tác với khoảng ba mươi trường cao đẳng nghề và doanh nghiệp để giúp chúng tôi phát triển các kỹ năng này, trước hết là bằng cách đào tạo giảng viên, sau đó là đào tạo người Việt Nam trong các lĩnh vực này, trên khắp các vùng miền của Việt Nam, và đôi khi thông qua các chương trình trao đổi tại Liên Hiệp Châu Âu. Cách tiếp cận sẽ rất sát với nhu cầu thực tế, có nghĩa là các doanh nghiệp sẽ cho chúng tôi biết họ thiếu kỹ năng gì và sẽ cần kỹ năng gì trong tương lai, và chúng tôi sẽ có thể đào tạo giảng viên không chỉ ở các trường cao đẳng nghề mà ngay chính trong doanh nghiệp, những người mà sau này có thể tập trung vào việc đào tạo thanh niên trong những lĩnh vực khác nhau. Điều quan trọng đối với chúng tôi là cần bảo đảm sự tiếp cận công bằng và bình đẳng cho thanh niên, bao gồm cả những người đến từ các vùng khó khăn hoặc các dân tộc thiểu số. Do đó, chúng tôi sẽ bảo đảm rằng tài liệu đào tạo và phương pháp giảng dạy được triển khai sẽ phải bao gồm cả các nhóm dân tộc thiểu số, đồng thời thúc đẩy bình đẳng giới và khuyến khích chương trình đào tạo dành cho phụ nữ tại Việt Nam. RFI : Chương trình đào tạo này có thể mang lại lợi ích như thế nào cho hợp tác giữa EU và Việt Nam ? Đại sứ Julien Guerrier : Đối với Việt Nam, điều này rất rõ ràng, Việt Nam sẽ có nhiều kỹ năng hơn, một lĩnh vực đào tạo nghề hiện đại hơn rất nhiều, hiệu quả và chất lượng cao hơn để đào tạo giới trẻ cho các doanh nghiệp tương lai. Việc này cũng rất cần thiết đối với Liên Hiệp Châu Âu. Thứ nhất, bởi vì đó là một phần trong các chương trình của Liên Âu để đóng góp vào hành động chống biến đổi khí hậu trên toàn thế giới. Ngoài ra cũng bởi vì chúng tôi có rất nhiều nhà đầu tư tại Việt Nam. Chúng tôi có Hiệp định Thương mại Tự do và Hiệp định Đầu tư với Việt Nam. Vì vậy nhiều nhà đầu tư châu Âu đến đây, đầu tư vào các lĩnh vực mà chúng tôi có lợi thế cạnh tranh, cụ thể là các lĩnh vực xanh, bền vững và công nghệ số cao. Và đó là những lĩnh vực cần những kỹ năng này. Vì vậy, chúng tôi sẽ phải đào tạo nguồn nhân lực sau này có thể làm việc cho các công ty của chúng tôi đầu tư vào Việt Nam trong những lĩnh vực này. Đọc thêmViện trợ phát triển: Liên Âu dự trù 300 tỷ euro làm đối trọng với Trung Quốc RFI : Để “đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh và chuyển đổi số tại Việt Nam”, Việt Nam cần nguồn nhân lực kỹ năng cao như thế nào ? Tình hình này có khẩn cấp không ? Đại sứ Julien Guerrier : Có, bởi vì đất nước đang chuyển mình rất, rất nhanh. Việt Nam đặt mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050, giống như Liên Hiệp Châu Âu. Việt Nam cũng khao khát đi đầu trong quá trình chuyển đổi số. Đối với chuyển đổi xanh, sẽ cần các kỹ sư năng lượng tái tạo, kỹ thuật viên, chuyên gia về biến đổi khí hậu, kỹ thuật viên khoa học môi trường và công nhân lành nghề trong các hoạt động nông nghiệp bền vững, ví dụ canh tác lúa phát thải thấp, cũng như trong ngành công nghiệp gỗ và quản lý rừng. Về chuyển đổi số, rất cần các kỹ sư và kỹ thuật viên trong các lĩnh vực điện tử, cơ điện tử và công nghệ thông tin. Ngoài ra cũng cần các chuyên gia về tự động hóa quy trình công nghiệp, robot và các lĩnh vực công nghệ cao khác, đặc biệt là chất bán dẫn, một lĩnh vực mà Việt Nam đang đặt mục tiêu phát triển nhanh chóng. Có thể thấy là có khá nhiều lĩnh vực kỹ thuật cần những con người có thể sử dụng phần mềm mới nhất, tích hợp các giải pháp số vào các ngành công nghiệp truyền thống hơn, và sử dụng tối ưu nguồn năng lượng hiện có. Đó là những kỹ sư trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, lĩnh vực số hóa, cũng như trong mọi ngành công nghiệp ở Việt Nam, để tích hợp những công nghệ này vào các ngành công nghiệp truyền thống hơn. RFI : Chương trình VETVET có tương ứng và đáp ứng với kế hoạch 5 năm được đề ra trong Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIV ? Đại sứ Julien Guerrier : Hoàn toàn đúng vậy. Tôi đã tham dự lễ khai mạc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam sáng 20/01. Đại hội quyết định việc bổ nhiệm lãnh đạo cho 5 năm tới, cũng như các chính sách cần theo đuổi. Các ưu tiên là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Và đối với hai ưu tiên này, mục tiêu số một là phát triển nguồn nhân lực bởi vì đó là điều kiện tiên quyết để thành công trong hai quá trình chuyển đổi này. Vì vậy, theo kế hoạch của Đảng, đây là điểm đứng đầu trong các ưu tiên cho 5 năm tới. Và điều này hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của người dân Việt Nam để phát triển đất nước một cách bền vững. Do đó, giữa các ưu tiên của Liên Hiệp Châu Âu và các ưu tiên của Việt Nam có sự tương đồng hoàn hảo về vấn đề này. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Đại sứ Liên Hiệp Châu Âu tại Việt Nam Julien Guerrier.

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM
Chiến tranh Iran : « Trung Quốc lặng lẽ nhìn Hoa Kỳ tự bắn vào chân mình »

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

Play Episode Listen Later Apr 16, 2026 9:30


Kể từ khi bùng phát chiến tranh chống Iran do Mỹ và Israel khởi xướng, Trung Quốc tỏ ra kín tiếng. Bắc Kinh không lên án mạnh mẽ Washington trong cuộc chiến tranh chống Teheran, cũng không hoạt động quá tích cực trên mặt trận ngoại giao. Trung Quốc lặng lẽ quan sát Hoa Kỳ phạm sai lầm, đồng thời củng cố thế tự chủ chiến lược trong nhiều lĩnh vực. Trung Quốc đang có cách nhìn như thế nào về cuộc chiến giữa Mỹ và Iran ? RFI Tiếng Việt có cuộc phỏng vấn với nhà địa chính trị Didier Chaudet, chuyên gia về thế giới Ba Tư, Trung – Nam Á, đặc biệt là Pakistan, Ấn Độ và thế giới Himalaya, nhà nghiên cứu Đài Quan sát Tân Á-Âu. ----- ***** ----- RFI Tiếng Việt : Kể từ khi Hoa Kỳ và Israel phát động cuộc chiến chống lại Iran, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vẫn giữ im lặng. Ông nhận định như thế nào về thái độ này của nhà lãnh đạo Trung Quốc ?  Didier Chaudet : Thực ra, đó là một cách tiếp cận cực kỳ khôn ngoan bởi vì người ta có thể tưởng tượng rằng sự im lặng từ phía Trung Quốc là dấu hiệu của sự bối rối, sự bất lực trong việc đảm nhận vai trò lãnh đạo, nhưng đó là quan điểm của phương Tây. Ý tưởng ở đây là cứ để cho Mỹ tiếp tục phạm sai lầm, hết sai lầm này đến sai lầm khác, và cho phép sự tương phản mà Trung Quốc thể hiện trở nên rõ ràng đối với mọi người, đặc biệt là ở các nước đang phát triển : Trung Quốc không tạo ra vấn đề, Trung Quốc không gây ra các cuộc chiến tranh mới, Trung Quốc không làm bất ổn thế giới hiện tại, chính Hoa Kỳ mới là bên làm điều đó, chính Hoa Kỳ đang phá hủy hệ thống quốc tế mà chính họ đã góp phần tạo ra sau Thế Chiến Thứ Hai. Về phía truyền thông Trung Quốc, trên thực tế họ khá trung lập. Phần lớn các phương tiện truyền thông Trung Quốc có ​sự gia tăng mạnh mẽ các phân tích về Iran ngay sau khi chiến tranh bắt đầu, nhưng trên thực tế, diễn ngôn chủ yếu là trung lập trên các phương tiện truyền thông nhà nước và cả trong giới blogger. Có lẽ trong giới blogger, có một chút thiên về ủng hộ Iran hơn, chỉ trích phương Tây, chủ nghĩa tân đế quốc, và thiên về chủ nghĩa nhân đạo hơn. Có thể có một vài tiếng nói rải rác với lập trường ủng hộ Mỹ hơn, nhưng chúng có rất ít ảnh hưởng hiện nay. Đã có một thỏa thuận ngừng bắn và một vòng đàm phán ngắn giữa Hoa Kỳ và Iran tại Islamabad, Pakistan. Các cuộc đàm phán này, tuy đã thất bại, nhưng có nhiều lời bàn tán về vai trò kín đáo của Trung Quốc trong các cuộc hòa giải của Pakistan. Sau đó, CNN dẫn lời các nguồn tin tình báo Mỹ cho biết Trung Quốc đang chuẩn bị gửi vũ khí cho Iran trong những tuần sắp tới. Và do vậy tổng thống Mỹ Donald Trump đe dọa áp thuế Trung Quốc lên mức 50% nếu nước này gửi thiết bị quân sự cho Iran. Theo ông, Trung Quốc đang tính toán gì trong ván cờ này ? Didier Chaudet : Thực ra, ở đây, chúng ta lại dựa vào một nguồn tin của Mỹ chỉ trích Trung Quốc, nên chẳng có gì mới mẻ cả, điều đó khá kinh điển. Chúng ta nhớ rằng chính những phương tiện truyền thông Mỹ đã từng nói với chúng ta rằng có vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Irak. Vì vậy, đó là lý do tại sao tôi khá thận trọng về loại chuyện này. Tuy nhiên, từ một quan điểm rất thực tế, điều đó sẽ có lý, bởi vì trên thực tế, mà không cần đi quá xa, không cần cung cấp một lượng vũ khí khổng lồ, nếu Iran có thể tự vệ và tự vệ tốt, người Mỹ sẽ buộc phải quay lại bàn đàm phán. Vậy trên thực tế chuyện gì đã diễn ra ở Islamabad ? Pakistan đã làm một khối lượng công việc khổng lồ. Họ không chỉ gián tiếp dựa vào Trung Quốc, mà còn dựa vào một liên minh các quốc gia tầm trung trong thế giới Hồi giáo, bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Xê Út và Ai Cập. Họ đã mời ngoại trưởng các nước này đến Islamabad. Một khi ngoại trưởng bốn nước đã có một thỏa thuận, lãnh đạo ngoại giao Pakistan đã đến Trung Quốc để trình bày chi tiết những gì đã được thảo luận giữa bốn bên. Vì vậy, trên thực tế, đã có sự ủng hộ kín đáo từ Trung Quốc đối với khả năng đối thoại, và cốt lõi khu vực Trung Đông Hồi giáo vẫn còn tương đối độc lập và phần nào có tổ chức đang cùng nhau tìm kiếm hòa bình. Nhưng Hoa Kỳ chỉ cho liên minh này 24 giờ. Từ góc nhìn của Hoa Kỳ, điều này khá nan giải vì nó chứng minh rõ ràng rằng họ vẫn đang hoạt động trong khuôn khổ đơn cực. Họ muốn áp đặt quan điểm của mình. Điều Mỹ muốn từ Iran là biến nước này thành một quốc gia giống như Venezuela, một dạng thuộc địa bán ngoại giao. Điều này không hiệu quả với Iran vì Iran không phải là Venezuela. Iran không bị kiểm soát bởi một người duy nhất, đó là một cấu trúc, và dù quý vị thích hay không, tôi cho rằng cấu trúc đó vẫn được ủng hộ bởi ít nhất từ 20-30 đến 35% dân số Iran, những người chia sẻ với chương trình nghị sự chống đế quốc. Vì vậy, người Iran có khả năng tự vệ, và trên thực tế, toàn bộ chiến lược quân sự của Iran trong khoảng 25 năm qua là nhằm củng cố Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Pasdaran). Khi chúng ta nói rằng quân đội chính quy đã bị đánh bại, chúng ta đã biết điều đó vì quân đội chính quy thực sự không nhận được nhiều tiền từ nhà nước Iran. Nhà nước Iran biết rất rõ rằng họ không thể tự mình chống đỡ trong một cuộc chiến với Hoa Kỳ.  Tuy nhiên, họ muốn đảm bảo rằng tình hình trở nên bất khả kháng đối với Mỹ đến mức họ sẽ thua trong một cuộc chiến tranh xâm lược. Và đó là lý do tại sao Lực lượng Vệ binh Cách mạng có tất cả các nguồn lực quân sự cần thiết. Nhưng ngày nay, một thất bại nhanh chóng và hoàn toàn của Iran sẽ thực sự là một vấn đề cho cả Nga và Trung Quốc. Tôi nghĩ nhiều người ở Trung Quốc rất thận trọng. Trên thực tế, họ không nhất thiết muốn giúp đỡ nhiều. Có một cuộc tranh luận nội bộ về việc liệu vũ khí có được gửi đến Iran hay không; tôi không chắc chắn 100%. Điều đó sẽ không quá sốc, thậm chí còn khá thực tế. Nhưng quý vị cũng thấy Trung Quốc cực kỳ thận trọng trong cách họ xử lý mọi việc. Quả thực, do thái độ của Mỹ, những người muốn có lập trường quyết liệt hơn và chống đế quốc ở Bắc Kinh cuối cùng cũng có thể lên tiếng vì cách tiếp cận cực đoan của Trump khiến một số người Trung Quốc bắt đầu nghĩ rằng, « Nhưng xét cho cùng, đúng vậy, một chút chiến tranh du kích chống phương Tây không hẳn là một ý kiến ​​tồi. » Trong trường hợp Hoa Kỳ không mở lại được eo biển Hormuz nhưng Tậ Cận Bình thuyết phục được Iran làm điều đó, hậu quả nào cho Washington và các nước vùng Vịnh ? Liệu Trung Quốc có giữ thế chi phối trong bất kỳ giải pháp ngoại giao nào không ? Vài nếu Bắc Kinh có thể giữ vai trò bảo lãnh, đổi lại họ sẽ đòi hỏi điều gì ? Didier Chaudet : Trên thực tế, cách tiếp cận của Trung Quốc giống như những gì người ta đã thấy trong các hoạt động ngoại giao khác ở Trung Đông, ví ụu như khi Bắc Kinh đưa Iran và Ả Rập Xê Út xích lại gần nhau hơn, mục tiêu là nhằm đối xử với các bên khác như người lớn, chứ không phải như trẻ con bị ép buộc, bằng cách nói rằng, « nếu quý vị muốn hòa bình, chúng tôi sẽ giúp đỡ, chúng tôi sẽ đóng góp ». Hơn nữa, trong vụ việc này, Trung Quốc có một tác động khá khiêm tốn, vì chính nền ngoại giao Irak đã thúc đẩy sự hòa giải, Trung Quốc chỉ đơn giản ủng hộ. Ở đây, cách tiếp cận cũng tương tự, « Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ ổn định ». Tất nhiên, nếu mọi việc có thể được giải quyết bằng con đường ngoại giao, Trung Quốc chắc chắn sẽ ủng hộ vì họ cần duy trì hiện trạng này. Không chỉ họ, mà tất cả các quốc gia châu Á – Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc – những quốc gia không nhất thiết là bạn thân của Trung Quốc ở châu Á, trên thực tế cũng đang đứng về phía Trung Quốc. Do vậy, nếu tình hình vẫn tiếp tục như hiện nay , nếu eo biển Hormuz không được mở cửa – và thính giả ở Việt Nam và Pháp thực sự cần phải tính đến điều này – trong vài tháng nữa, chúng ta sẽ nghe về nạn đói ở các nước phía nam, và tình trạng thiếu lương thực này cũng sẽ ảnh hưởng đến các nước phương bắc. Thính giả ở Pháp không nên nghĩ rằng điều này không liên quan đến họ, chúng sẽ ảnh hưởng đến Pháp theo hai cách : Gia tăng luồng di cư và gia tăng các vấn đề, ngay cả cho ngành nông nghiệp ở chính nước Pháp. Còn ở Việt Nam, tình hình thậm chí có thể còn bi thảm hơn. Người Trung Quốc chắc chắn đã chuẩn bị tốt hơn kể từ cuộc chiến 12 ngày, họ đã hiểu rằng ngày này sẽ đến, rằng eo biển Hormuz sẽ bị đóng cửa. Rõ ràng trong tình hình ngoại giao hiện nay, nếu Trung Quốc thành công về mặt ngoại giao trong việc đạt được điều mà người Mỹ không thể đạt được bằng vũ lực, thì đối với tất cả các nước thuộc khu vực Nam bán cầu, Trung Quốc sẽ là nhà lãnh đạo không thể tranh cãi của thế giới hậu chiến tranh Iran. Và Trung Quốc sẽ đòi hỏi gì đổi lại ? Hoàn toàn không gì cả. Họ sẽ chứng tỏ mình là những người trưởng thành trong cuộc đàm phán, như chúng ta thường nói trong tiếng Anh, đối diện với Mỹ và châu Âu, bên chỉ biết nghe theo, nói mà không làm gì cả. Ngoại trừ việc ngày nay, nói mà không hành động sẽ phải trả giá rất đắt. Một lần nữa, người dân có nguy cơ chết đói trong vài tháng tới nếu tình hình tiếp diễn như hiện nay. Tuy nhiên, nếu chúng xem xét kỹ một số chi tiết nhất định chẳng hạn như việc phí quá cảnh qua eo biển Hormuz cho Iran phải thanh toán bằng nhân dân tệ, liệu chúng ta có thể nói rằng hậu quả lâu dài của chiến hiện nay sẽ khá tích cực cho Trung Quốc hay không ? Điều đó có nghĩa là một ngày nào đó sẽ không còn hệ thống « petrodollar » (dầu hỏa – đô la) nữa mà sẽ là « petroyuan » (dầu hỏa – nhân dân tệ) ? Didier Chaudet :Chắc chắn rồi. Một lần nữa, tại sao Trung Quốc không lên tiếng nhiều hơn ? Tại sao Trung Quốc không hoạt động nhiều hơn trên mặt trận ngoại giao ? Bởi vì người ta « không bao giờ ngăn chặn một kẻ thù khi họ đang tự bắn vào chân mình ». Đến thời điểm này, Hoa Kỳ đã mất phương hướng vì họ liên tục mắc sai lầm. Một khi mọi việc thực sự sẽ lắng xuống, chúng ta rất có thể sẽ hướng tới một thế giới hậu đô la, một thế giới hậu Mỹ, đặc biệt là ở Trung Đông, bởi vì chúng ta cũng phải tính đến việc tất cả các quốc gia đang dựa vào sự bảo hộ của Mỹ để tự vệ và ổn định đất nước, như Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Qatar, Ả Rập Xê Út, đều đã chọn sai người. Tôi không chắc Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất sẽ hồi phục được, đặc biệt là sau các vụ đánh bom của Iran. Tất nhiên, nước này cũng sẽ oán giận Iran, nhưng sự thật là Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất đã hoàn toàn liên minh với Hoa Kỳ và Israel, và điều đó không mang lại cho họ bất kỳ sự bảo vệ nào. Những người có khả năng chi trả ở Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất nhất hiện nay đang rời khỏi đất nước. Là người hiểu rõ Hồng Kông, tôi vẫn ngạc nhiên trước thực tế rằng Hồng Kông được miêu tả với chúng ta theo một khía cạnh khá bi thảm, trong khi trên thực tế, cuộc sống ở đó rất tốt, và Hồng Kông có lẽ đang mong chờ tất cả số tiền từng chảy vào Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Qatar giờ sẽ chuyển sang Singapore và Hồng Kông. Người ta rất ít khi nói về Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, và có lẽ cả Qatar nữa, nhưng hai nước này có nguy cơ sẽ không còn là những cường quốc kinh tế như trước đây nữa, do các chính sách của Mỹ và Israel, và vì vậy dẫn đến đòn trả đũa của Iran. Trang mạng Capital ngày 09/04/2026, có nói đến khả năng hình thành một trục dầu hỏa Nga – Trung Quốc – Iran, có thể kiểm soát đến 30% lượng dầu hỏa toàn cầu. Nếu giả thuyết này thành hiện thực, liệu đó có sẽ là kết cục tàn khốc cho thế bá quyền của Mỹ như một số nhận định ? Didier Chaudet :Trên thực tế, có một số nhà phân tích liên tục lập luận theo kịch bản khối này đối đầu khối kia. Trong khi đó, ở Bắc Kinh, Matxcơva và Tehran, họ nhận ra rằng họ chỉ là đồng minh tình thế. Không phải là hoàn toàn không thể xảy ra việc khối này nổi lên, nhưng nếu điều đó xảy ra, đó là do sự ép buộc từ Mỹ và bởi sự bất lực của Mỹ và sự bất lực của châu Âu trong việc tồn tại độc lập. Chỉ trong bối cảnh này, chúng ta mới có thể thấy một khối như vậy xuất hiện. Bởi vì, trên thực tế, Nga bảo vệ lợi ích của chính họ. Trung Quốc chưa bao giờ hoàn toàn đứng về phía Nga, họ không muốn Nga sụp đổ, nhưng họ cũng không hoan nghênh cuộc chiến xâm lược Ukraina, trái ngược với những gì một số người ở Paris có thể nói – những người mà trên thực tế không hiểu gì về Iran, Trung Quốc hay Nga, và do đó chỉ đang nói những lời lẽ mang tính ý thức hệ. Hiện tại, đây là những quốc gia bị phe phương Tây nhắm mục tiêu đến mức họ có thể bị cám dỗ thành lập khối để trả đũa, nhưng khối này còn lâu mới chắc chắn hình thành. Đây là những quốc gia có lợi ích không hoàn toàn trùng khớp. Người Trung Quốc ủng hộ việc duy trì hiện trạng và một mức độ hòa bình quốc tế nhất định hơn là Nga, và giờ đây thậm chí còn hơn cả Iran. Bởi vì, trong thế giới hiện nay, Trung Quốc đang chiến thắng bằng hòa bình. Chúng ta luôn lo sợ những gì có thể xảy ra với Đài Loan. Tôi rất sốc khi truyền thông Pháp lại khiến người Pháp lo sợ về những gì sẽ xảy ra ở Đài Loan hơn nhiều quốc gia khác ở châu Á. Thực tế, nếu bạn hiểu biết đôi chút về Đài Loan, thì Đài Loan không phải là Ukraina, và trong một thế giới hoàn toàn bị Trung Quốc thống trị, tôi sẽ không quá ngạc nhiên nếu người Đài Loan đạt được thỏa thuận với Trung Quốc trong khi vẫn duy trì được một mức độ độc lập nhất định, nhưng lại ở thế có lợi. Điều đó sẽ không hoàn toàn gây sốc. Ở một khía cạnh kinh tế khác, nhiều chuyên gia đang bàn luận về nguy cơ « điện hóa – nhân dân tệ », nghĩa là mua đồ điện Trung Quốc và thanh toán bằng nhân dân tệ. Với vị thế thống trị trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, phải chăng Trung Quốc đang thu lợi từ cuộc chiến quy mô lớn đang diễn ra ở Trung Đông ? Didier Chaudet :Đó là những gì đã và đang diễn ra. Nếu nhìn vào số liệu năm nay, 4/5 sản lượng năng lượng mặt trời toàn cầu, xét từ góc độ sản xuất, được thực hiện ở Trung Quốc. Cường quốc châu Á này còn thống trị cả các loại máy móc điện, và nhất là xe điện. Với những gì đang xảy ra hiện nay, người dân, kể cả ở Trung Đông đang chi tiền để mua các tấm pin năng lượng mặt trời ở Trung Quốc. Việc mua các sản phẩm này của Trung Quốc đang bùng nổ, ví dụ như Irak. Quốc gia này có dầu mỏ, nhưng có nhu cầu về khí ga tự nhiên và cần nhiều năng lượng để tinh chế dầu. Nhưng trong lúc này, điều đó là không thể bởi vì toàn bộ chuỗi cung ứng truyền thống đã bị gián đoạn bởi những gì đang xảy ra. Nhưng chiến tranh xảy ra, cũng đang thúc đẩy các nước láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, Thái Lan,… hướng đến năng lượng tái tạo ? Didier Chaudet : Hoàn toàn đúng. Điều đó rất cần thiết bởi vì, một lần nữa, với chính sách của Mỹ mà các nước châu Âu đang cho phép, các nước châu Á hoàn toàn phụ thuộc vào dầu khí từ Trung Đông cần phải rút ngắn sự chậm trễ. Và trên thực tế, Trung Quốc đã làm gương vì nước này không phụ thuộc vào dầu khí Trung Đông nhiều như một số nước châu Á khác. Đặc biệt, các nguồn năng lượng tái tạo này đã hoàn toàn thay đổi cuộc chơi đối với Trung Quốc, cả về vấn đề ô nhiễm và tự chủ quốc gia. Thật vậy, Trung Quốc đã đi tiên phong. Và trên thực tế, trái ngược với những lời lẽ tôi bắt đầu nghe ngay trước chiến tranh, về việc Trung Quốc sẽ áp đặt sự phụ thuộc nhất định vào một số quốc gia vì họ bán các sản phẩm như tấm pin mặt trời, v.v., khi quý vị mua một tấm pin mặt trời, quý vị chỉ mua một lần, quý vị không cần phải thường xuyên mua khí đốt hoặc dầu mỏ. Giữa một bên là khí đốt và dầu mỏ bị Hoa Kỳ kiểm soát, và bên kia, người ta chỉ cần mua một lần và tương đối độc lập, thì thà một lần mua từ phía Trung Quốc và học hỏi hai lần để trở nên độc lập còn hơn là mua dầu mỏ với giá cắt cổ và khí đá phiến khủng khiếp từ Hoa Kỳ. Cuối cùng, từ góc độ quân sự, như ông có đề cập đến Đài Loan, cuộc chiến chống Iran, Hoa Kỳ đang vét các nguồn dự trữ quân sự của mình tại châu Á – Thái Bình Dương. Liệu đây có là một mối họa cho Đài Loan hay không ? Động thái này của Washington có làm sứt mẻ uy tín của Mỹ đối với các đồng minh châu Á ? Didier Chaudet 8 : Tất nhiên, Trung Quốc thấy rõ những khó khăn mà Mỹ đang phải đối mặt, nhưng Bắc Kinh cũng thấy rằng sức mạnh tấn công của Washington vẫn còn to lớn. Vì vậy, khi nghĩ rằng Hoa Kỳ đang bị Iran khống chế, và do đó Trung Quốc có thể xâm lược Đài Loan, thực sự quá đơn giản. Trung Quốc hiểu rõ là quân đội đất nước, tuy đã được cải thiện, nhưng vẫn chưa hoàn hảo. Nếu có bất kỳ vấn đề nào xảy ra với cuộc xâm lược Đài Loan, đó là việc Trung Quốc có nguy cơ phải đối mặt với một liên minh do Mỹ dẫn đầu ở châu Á, điều này sẽ khiến cuộc sống của họ trở nên rất khó khăn. Nhật Bản có thể trang bị vũ khí hạt nhân cực kỳ nhanh chóng, và ngày nay chúng ta đang sống trong một thế giới, ở đó, chiến tranh giữa các đại cường, một khi đã bắt đầu, có thể leo thang rất nhanh và đi xa hơn. Hơn nữa, chính phủ Trung Quốc có một khế ước với người dân : Chúng ta đã phần nào giúp quý vị thoát khỏi cảnh bần hàn, chúng ta sẽ cố gắng thêm nữa để trả thù một thế kỷ bị sỉ nhục, vươn lên thành một đại cường, và thực sự trở lại là trung tâm thế giới. Theo tôi, hiện đang có một cuộc tranh luận thực sự ở Bắc Kinh giữa những người muốn ra đòn mạnh hơn, muốn chủ động hơn, và những người nói rằng, trên thực tế, « chúng ta đã chiến thắng phần nào giống như người La Mã chống lại người Carthage, nghĩa là thay vì tấn công Hannibal, chúng ta để đối thủ tự làm suy yếu mình, để họ gặp khó khăn, và cuối cùng chúng ta sẽ chiến thắng bằng một cuộc chiến tiêu hao, hoặc giống như người Nga chống lại Napoleon ». Tôi hoàn toàn không tin vào việc Trung Quốc có thể tấn công Đài Loan. Đây còn là thông điệp tôi muốn gửi đến quý thính giả Pháp của quý đài, những người dường như hoảng sợ hai hoặc ba lần trong năm, về một cuộc xâm lược Đài Loan của Trung Quốc. Tình hình chưa đến mức đó, và điều đó cũng rất có thể xảy ra, có lẽ là trong cuộc tranh luận hiện đang diễn ra sau cánh cổng khép kín ở Bắc Kinh, mà không một người phương Tây nào có thể tiếp cận. Vì vậy tất cả những người nói về nó như thể họ đã lừa dối người nghe, chúng ta cần phải rất rõ ràng. Rất có thể sẽ có một cuộc xâm lược, nhưng cá nhân tôi không thực sự tin điều đó. Tôi nghiêng về giả thuyết rằng Trung Quốc đang chờ đợi Hoa Kỳ tự làm suy yếu mình bằng cách gây ra quá nhiều sai lầm ở các quốc gia khác nhau trên thế giới, đến nỗi cuối cùng, ngay cả từ góc nhìn từ phía Đài Loan, càng ngày sẽ càng nhận ra rằng việc đứng về bên chiến thắng sẽ có lợi hơn. Có rất đông người Đài Loan làm việc ở Thượng Hải và Bắc Kinh, họ có cuộc sống rất tốt, kết hôn với người địa phương. Tôi không nghĩ những người này sẽ kháng cự như Ukraina, nhất là khi sự kháng cự đối với Ukraina đã bị phóng đại quá mức, nước này đã cầm cự được là nhờ vào vũ khí của phương Tây. Liệu phương Tây ngày nay có đủ khả năng tài chính – vì đây là vấn đề tiền bạc – và năng lực quân sự để hỗ trợ Đài Loan theo cách tương tự, khi biết rằng, một lần nữa, Đài Loan không phải là Ukraina. Tôi thật sự nghi ngờ nghiêm trọng về điều này ! RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà địa chính trị học Didier Chaudet, chuyên gia về thế giới Ba Tư, Nam – Trung Á, đặc biệt là về Ấn Độ, Pakistan và thế giới Himalayen, thuộc Đài Quan sát Tân Á – Âu.

TẠP CHÍ KINH TẾ
Chiến tranh Iran và hiệu ứng domino đối với các quốc gia Vùng Vịnh

TẠP CHÍ KINH TẾ

Play Episode Listen Later Apr 7, 2026 9:30


Không thể xuất khẩu dầu hỏa và khí đốt qua eo biển Hormuz, một số cơ sở hạ tầng năng lượng của các quốc gia tại Vịnh Ba Tư bị thiệt hại, đầu tư nước ngoài và ngành hàng không, du lịch bị điêu đứng : Trong hơn một tháng chiến tranh Iran, mô hình kinh tế tại các nước trong khu vực bị đe dọa. Kịch bản tai hại hơn nữa là Hoa Kỳ « chóng chán và phủi tay » kéo dài bất ổn tại Trung Đông.   Nhà nghiên cứu về Trung Đông Jean-Loup Samaan, Đại Học Quốc Gia Singapore trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ hôm 03/04/2026 nói đến một sự « đổ vỡ » niềm tin của các nước vùng Vịnh vào mô hình kinh tế của chính mình, vào ô dù an ninh của Mỹ.   Thất thu từ 120 đến 194 tỷ trong một tháng Sau đúng một tháng chiến tranh, báo kinh tế Pháp Les Echos hôm 01/04/2026 trích dẫn các nguồn tin quân cho biết,từ hôm 08/02/2026, khi phải đối mặt với sức mạnh quân sự của Mỹ và Israel, 83 % các vụ tấn công Iran tiến hành nhắm vào các quốc gia trong Vịnh Ba Tư (17 % còn lại, Teheran đã dành cho Israel cho dù Nhà nước Do Thái mới là bên trực tiếp tấn công Iran). Hai cảng dầu Yanbu (Ả Rập Xê Út) và Fujairah (Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất), lớn nhất thế giới, là mục tiêu bị nhắm tới. Hầu như mỗi ngày, từ Bahrain đến Ả Rập Xê Út, từ Qatar đến Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, hay Koweit, Qatar đều đã phải huy động hệ thống phòng không để chống đỡ với hỏa tiễn và drone của Iran. Theo báo tài chính Mỹ The Wall Street Journal, cuối tháng 3/2026, Dubai đã chi ra hơn 2 tỷ đô la để bắt chận hơn 2000 drone và tên lửa của Iran trong vài tuần lễ. Teheran đóng cửa eo biển Hormuz, chận xuất khẩu dầu khí của các nước vùng Vịnh. Khả năng xuất khẩu của 6 nước bao quanh Vịnh Ba Tư (Ả Rập Xê Út, Qatar, Koweit, Irak, Bahrain, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất) cộng thêm với Oman, đồng kiểm soát eo biển Hormuz bị giới hạn đáng kể. Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất là hai nguồn cung cấp duy nhất trong số này có đường ống dẫn dầu để có thể vẫn xuất khẩu năng lượng mà không phải đi qua cửa khẩu đang do Iran kiểm soát. Trái lại Qatar, Koweit và Irak bị « kẹt cứng » vì không có ngõ thoát hiểm. 90 % dầu Irak sản xuất không có ngõ thoát. Mỏ khí đốt lớn nhất thế giới ở ngoài khơi sát hải phận của Iran, Qatar gọi là North Dome, Teheran gọi là South Pars, cũng đã bị thiệt hại. Bất ngờ hơn nữa là Oman, vốn có thái độ « trung lập » và là nhịp cầu giữa Teheran với Washington, cũng đã bị tên lửa và drone của Iran nhắm đến. Theo thẩm định của Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc, được công bố hôm 30/03/2026, chỉ trong vòng một tháng, tăng trưởng của các quốc gia trong vùng có thể bị giảm từ 3,7 đến 6 % do tác động chiến tranh. Cũng trong thời gian này, thất thu từ các hoạt động khai thác và xuất khẩu năng lượng ước tính khoảng từ 120 đến 194 tỷ đô la. Chiến sự kéo dài sẽ đe dọa việc làm của khoảng 3,7 triệu dân cư trong khu vực, 4 triệu khác bị đẩy vào cảnh nghèo khó. Giám đốc trung tâm nghiên cứu về vùng Vịnh Gulf Research Center, Abdulahzis Sager, cho rằng đối với các nước láng giềng quanh vịnh Ba Tư và Oman, Iran đã « vượt quá giới hạn của tất cả mọi lằn ranh đỏ ». Những nước này trước đây không ủng hộ Mỹ tấn công Iran nay lại nóng lòng muốn Washington giải quyết dứt điểm mối đe dọa xuất phát từ Iran. Trên đài RFI Việt ngữ nhà nghiên cứu về Trung Đông Jean-Loup Samaan, Đại Học Quốc Gia Singapore, cộng tác viên của viện nghiên cứu Pháp Institut Montaigne, Paris nhấn mạnh chiến tranh Iran đang để lộ rõ những nhược điểm trong mạnh mô hình phát triển của các quốc gia vùng Vịnh. Sau nhiều thập niên bình yên vô sự, khu vực này không còn « ngoài vòng khói lửa chiến tranh ». RFI : Xin kính chào Jean-Loup Samaan, Đại Học Quốc Gia Singapore. Câu hỏi đầu tiên : Đâu là những hậu quả trước mắt đối với các quốc gia trong vùng Vịnh sau hơn một tháng chiến tranh ? Jean-Loup Samaan : « Có nhiều khía cạnh khác nhau. Đầu tiên là vấn đề quân sự và an ninh, bao gồm việc bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ công dân và cư dân của các nước trong vùng Vịnh. Ngay từ những giờ đầu của cuộc xung đột, các quốc gia đã hứng chịu tên lửa và drone của Iran. Trong những tuần qua, nhìn chung, hệ thống phòng thủ của các nước này đã hoạt động khá tốt. Nhưng các cơ sở hạ tầng, nhiều cảng xuất khẩu dầu khí đã bị thiệt hại đáng kể, đặc biệt là các nhà máy khí đốt Qatar. Khía cạnh thứ hai, quan trọng không kém là kinh tế. Trong ngắn hạn, có một cuộc khủng hoảng năng lượng. Khu vực này gần như hoàn toàn phụ thuộc vào các nguồn thu nhập từ dầu hỏa, khí đốt. Cho nên những nước như Qatar hay Koweit lâm vào thế kẹt vì xuất khẩu năng lượng bị xáo trộn. Đây là một thách thức về mặt kinh tế.    Nhìn xa hơn, quả thật là các nước trong vùng đang tự hỏi liệu mô hình phát triển kinh tế từ trước đến nay có bền vững hay không. Nhất là trong trường hợp của Dubai, trung tâm thu hút các nhà đầu tư, trung tâm tài chính, ngân hàng trong khu vực và cũng là một nền kinh tế đang trông đợi nhiều vào ngành du lịch, vào ngành hàng không … Đây là một dấu chấm hỏi sẽ tồn tại ngay cả khi mà chiến tranh chấm dứt ». RFI : Như vừa nói, về mặt kinh tế, đối với các quốc gia xuất khẩu năng lượng, chiến tranh không chỉ ảnh hưởng đến xuất khẩu mà còn trực tiếp nhắm vào những nhà máy, những cơ sở hạ tầng năng lượng … Có lẽ đó mới là mối quan tâm chính của các quốc gia sản xuất trong vùng ? Jean-Loup Samaan : « Câu trả lời tùy thuộc rất nhiều vào yếu tố thời gian. Cuộc chiến nay sẽ kéo dài trong bao lâu, Iran phản công đến khi nào ? Chỉ khi đó mới có thể thẩm định chính xác về mức độ thiệt hại. Trước mắt, sau hơn một tháng giao tranh, thiệt hại tương đối hạn chế. Điều đáng chú ý là ngay cả khi có lệnh ngừng bắn, Trung Đông vẫn bất ổn, vẫn bị drone và hỏa tiễn của Iran đe dọa, khi đó kinh tế của các nước trong vùng sẽ bị suy yếu. Thí dụ như các quốc gia cần nhập khẩu dầu khí của Trung Đông bắt đầu tìm kiếm các giải pháp thay thế. Thế rồi các hãng hàng không của các nước trong vùng Vịnh bị mất khách vì mọi người muốn tránh phải bay qua vùng nóng này. Như đã biết, tới nay đây từng là một trong những mắt xích quan trọng nhất thế giới trong lĩnh vực hàng không dân sự ». Đầu tư lâu dài ở Dubai hay Doha có còn hợp lý nữa hay không ? RFI : Ông vừa nêu lên vấn đề bất ổn. Đối với các quốc gia vùng Vịnh thì vế an ninh và kinh tế gắn liền với nhau hơn bất cứ nơi nào. Jean-Loup Samaan : « Đây là một vấn đề cốt lõi đối với các quốc gia vùng Vịnh, bởi vì họ được xây dựng dựa trên ý tưởng đây là những ốc đảo đứng ngoài các cuộc xung đột dai dẳng ở Trung Đông, điều đã được chứng minh trong 20 năm qua. Những quốc gia này hầu như không bị tác động bởi chiến tranh Irak năm 2003 do Mỹ phát động. Căng thẳng với Iran cũng chưa bao giờ thực sự ảnh hưởng đến đời sống hằng ngày tại các nước dầu hỏa. Trong ba năm gần đây, dù có xung đột giữa Israel, Hamas hay Hezbollah, các nước vùng Vịnh vẫn đứng ngoài những biến động đó. Do vậy lần này thực sự là một cú sốc về mặt tâm lý, và sẽ rất khó để xóa nhòa rạn nứt này. Nguy hiểm ở đây là các nước vùng Vịnh cần lao động nước ngoài, cần vốn đầu tư quốc tế để phát triển. Chiến sự lần này làm dấy lên câu hỏi liệu rằng đầu tư lâu dài ở Dubai hay Doha có còn hợp lý nữa hay không ? Đây chắc chắn sẽ là một trong những trọng tâm chính phủ các nước vùng Vịnh sẽ phải thảo luận ». Cũng trong cuộc phỏng vấn dành cho RFI Tiếng Việt, chuyên gia về Trung Cận Đông, Đại Học Quốc Gia Singapore, ông Samaan cho rằng bất luận kết cục chiến tranh Iran ra sao, chiến lược của Hoa Kỳ về Iran vẫn là một bài toán nan giải : RFI : Một yếu tố quan trọng khác là Hoa Kỳ. Hiện tại và sau khi cuộc xung đột kết thúc, Washington vẫn là điểm tựa đáng tin cậy của các nước vùng Vịnh về mặt ngoại giao và an ninh ? Jean-Loup Samaan : « Hiện tại, điều quan trọng cần ghi nhận là sau một tháng xung đột, không có quốc gia nào trong số các nước vùng Vịnh công khai đặt vấn đề hay muốn xem xét lại các thỏa thuận quốc phòng hay sự hiện diện quân sự của Mỹ. Trong ngắn hạn, khả năng phòng thủ của các nước này trước các cuộc tấn công bằng tên lửa và drone Iran vẫn phụ thuộc rất lớn vào Hoa Kỳ. Họ không thể trông cậy vào châu Âu, Trung Quốc và lại càng không thể dựa vào Nga để thay thế vai trò của Mỹ. Vì vậy, về mặt an ninh, Washington vẫn là lựa chọn chính.  Tuy nhiên, điều chắc chắn là cuộc chiến này sẽ để lại vết hằn. Thực ra thì chiến sự lần này chỉ là một phần trong chuỗi các sự kiện trước đó đã khiến các nước trong vùng Vịnh thất vọng và bức xúc với Hoa Kỳ. Xu hướng đã xuất hiện từ thời chính quyền Obama. Các nước chung quanh Vịnh Ba Tư ngày càng xem Mỹ là đối tác không đáng tin cậy, thiếu ổn định và ít quan tâm đến khu vực. Hiện tại, bên cạnh những yếu tố đó, còn xuất hiện thêm một nhận thức mới : Các căn cứ quân sự Mỹ ở Trung Đông ( 2 tại Irak, 1 tại Ả Rập Xê Út, 1 tại Qatar, 1 tại Bahrain, 2 tại Koweit và 1 tại Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất) không hẳn là một lá bùa hộ mạng, giúp các nước này tránh được các vụ tấn công. Trái lại chính những căn cứ đó lại trở thành những mục tiêu Iran nhắm tới.  Trong tương lai, đây sẽ là một thách thức với các nước vùng Vịnh. Một số quốc gia có thể muốn duy trì quan hệ với Mỹ nhưng một cách kín đáo hơn, tức là hợp tác quân sự nhưng không đi kèm với sự hiện diện thường trực của các căn cứ quân sự trên lãnh thổ của họ. Trong mọi trường hợp, kết cục của xung đột lần này sẽ đặt nền tảng cho mối quan hệ trong tương lai giữa các nước trong vùng Vịnh với Hoa Kỳ ». Mắc kẹt giữa chiến tranh và hòa bình Tại Hoa Kỳ, tổng thống Trump vừa dọa « chỉ cần vài giờ cũng có thể hủy diệt Iran », vừa thông báo đàm phán mở lại eo biển Hormuz « có tiến triển tốt » như thể lãnh đạo Nhà Trắng đã mất kiên nhẫn và muốn chóng khép lại cuộc chiến này. Phía Iran thì lại tỏ ra không nóng vội, dù vẫn phải chịu hỏa lực của Israel và Mỹ hàng ngày.  Bằng mọi giá các quốc gia này muốn tránh một giải pháp vội vàng, một lệnh ngừng bắn Mỹ áp đặt để Washington có thể nhanh chóng rút lui. RFI : Kịch bản mà các nước trong  vùng Vịnh muốn tránh bằng mọi giá là « xung đột kết thúc mà không thực sự đem lại một lối thoát ». Đây sẽ là « mối nguy lớn » đối với các quốc gia lân cận với Iran. Nhưng trước mắt, liên quan đến chiến tranh Iran, các quốc gia vùng Vịnh bị lôi cuốn vào cuộc chiến này đang mong đợi gì ? Jean-Loup Samaan : « Tôi nghĩ rằng lập trường của các quốc gia vùng Vịnh khá phức tạp, bởi vì những nước này không hề ảo tưởng rằng có thể quay trở lại tình trạng như trước khi xảy ra xung đột. Tức là không thể quay lại với mối quan hệ tương đối ổn định với Iran. Thực tế là dù không mong muốn chiến tranh, họ vẫn phải hứng chịu những đợt tấn công chưa từng có từ phía Iran. Vì vậy, trong ngắn hạn, bằng mọi giá các quốc gia này muốn tránh một giải pháp vội vàng, một lệnh ngừng bắn mà Mỹ áp đặt để Washington có thể nhanh chóng rút lui. Ông Trump tuyên bố chiến thắng rồi phó mặc cho các nước trong vùng Vịnh một mình đối đầu với Iran.Tiềm năng quân sự của Cộng Hòa Hồi giáo có thể bị suy yếu nhưng vẫn tồn tại. Iran vẫn đủ khả năng tiếp tục phóng tên lửa và drone vào các quốc gia thù nghịch. Thậm chí, Iran còn đòi kiểm soát eo biển Hormuz, đòi thu lộ phí… Đây là kịch bản mà các quốc gia vùng Vịnh không thể chấp nhận. Điều các quốc gia Vịnh Ba Tư mong muốn là một kết quả quân sự rõ ràng, tức là Iran phải bị suy yếu đáng kể, để sau khi chiến tranh kết thúc, nguy cơ các cuộc tấn công tương tự không tái diễn. Chính vì vậy, hiện tại các nước trong vùng tránh gây áp lực buộc Hoa Kỳ phải nhanh chóng chấm dứt chiến tranh. Trước đây, một số quốc gia như Oman từng đóng vai trò tích cực trong việc làm trung gian hòa giải giữa Washington với Teheran vì không muốn xảy ra chiến tranh. Nhưng bây giờ họ phải chấp nhận hứng chịu các cuộc tấn công mỗi ngày và không có lựa chọn nào khác ». Hấp tấp khép lại một cuộc chiến mà không có những biện pháp bảo đảm an ninh và không có gì bảo đảm là tiềm năng quân sự của Iran đã bị khống chế chỉ mở ra một giai đoạn đầy bất trắc cho vùng Vịnh.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Khủng hoảng dầu lửa Trung Đông tạo thuận lợi cho Việt - Nga thúc đẩy hợp tác năng lượng

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Apr 6, 2026 9:33


Xung đột ở Trung Đông dẫn đến cuộc khủng hoảng dầu lửa toàn cầu cho thấy hạn chế tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Các kho dự trữ, nằm trong tay những đối tác tư nhân, chỉ có thể cung cấp dầu lửa đến hết tháng 04/2026. Nhiều chuyến bay nội địa bị cắt giảm vì thiếu xăng. Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn nhập khẩu dầu mỏ, do sản lượng trong nước sụt giảm vì các mỏ dầu ngoài khơi đang cạn dần sau thời gian dài khai thác. Trong khi đó, việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả. Cuộc khủng hoảng này cũng cho thấy Việt Nam cần thiết lập hệ thống dự trữ nhiên liệu chiến lược quốc gia, theo trang Nhân Dân. Ngày 29/03, thủ tướng Phạm Minh Chính đã tới khảo sát địa điểm dự kiến xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược tại Khu kinh tế Nghi Sơn. Song song với nhiệm vụ cấp bách đó, Hà Nội vẫn đang “làm việc với Iran để đề nghị tạo điều kiện, có biện pháp hỗ trợ bảo đảm cho tàu, lao động Việt Nam di chuyển an toàn qua eo biển Hormuz”, theo phát biểu của người phát ngôn bộ Ngoại Giao Phạm Thu Hằng trong buổi họp báo thường kỳ ngày 02/04. Ngoài ra, chính phủ cũng khẩn trương triển khai “ngoại giao xăng dầu” với nhiều nước. Ví dụ đề xuất với Tokyo để được tiếp cận kho dự trữ chiến lược của Nhật Bản, đề nghị Trung Quốc xuất khẩu một phần xăng máy bay. Gần đây, trong chuyến công du Matxcơva, thủ tướng Phạm Minh Chính cũng đề nghị được mua dầu của Nga, cũng như tăng cường hợp tác trong lĩnh vực điện hạt nhân, năng lượng tái tạo. Việc hợp tác với Nga, đang bị phương Tây trừng phạt vì gây chiến ở Ukraina, có thể sẽ được tiến hành như thế nào ? Nga sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc đa dạng hóa nguồn năng lượng của Việt Nam ? Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, tại khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston, Mỹ, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Trước tiên, anh có thể tóm lược mối quan hệ hợp tác năng lượng giữa hai nước Việt Nam và Nga, gần đây là cam kết hợp tác phát triển điện hạt nhân, được ký vào ngày 23/03/2026 nhân chuyến công du Matxcơva của thủ tướng Phạm Minh Chính ? Vì sao có thể hợp tác được trong lĩnh vực điện hạt nhân mà không lo các biện pháp trừng phạt của phương Tây ? Vũ Khang : Khi kể đến quan hệ hợp tác năng lượng Việt Nam và Nga, chúng ta không thể không nhắc đến Vietsovpetro. Xí nghiệp này được thành lập từ năm 1981 với mục đích là giúp Việt Nam tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía Nam. Cần phải nhắc lại 1981 là giai đoạn mà Việt Nam và Liên Xô là đồng minh quân sự của nhau theo Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ký vào năm 1978. Việt Nam đã tranh thủ mối quan hệ đó để phát triển và đảm bảo an ninh năng lượng của mình. Và kể cả sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, Việt Nam vẫn duy trì xí nghiệp liên doanh này với Nga và các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập SNG. Và chính nhờ có xí nghiệp liên doanh này mà từ con số 0, hiện giờ Việt Nam đang sở hữu hệ thống căn cứ dịch vụ dầu khí tổng hợp phục vụ cho các khâu, chuỗi hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ngoài khơi khá là toàn diện. Đây cũng là một cách mà Việt Nam bảo vệ và khẳng định chủ quyền của mình trên Biển Đông. Ngoài ra, hàng năm, liên doanh Vietsovpetro đóng vào ngân sách nhà nước và lợi nhuận cho Việt Nam khoảng 53 tỷ đô la. Đây là một khoản khá là lớn cho ngân sách của nhà nước Việt Nam nếu chúng ta tính GDP Việt Nam rơi vào khoảng 500 tỷ đô một năm. Đây là một nền tảng khá là vững chắc từ ngoại giao cho đến kỹ thuật để Việt Nam và Nga có thể tiến tới hợp tác ở các mảng khác trong hợp tác năng lượng. Đọc thêmViệt Nam và Nga “rửa tiền” mua vũ khí qua thỏa thuận dầu khí với VietSovPetro ? Nếu mà nói rộng hơn về thỏa thuận hợp tác về hạt nhân gần đây thì Nga, với tư cách là một trong năm nước được phép sở hữu vũ khí hạt nhân theo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân NPT, có thể giúp đỡ Việt Nam nghiên cứu và sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích dân sự theo như các điều khoản của Hiệp ước này. Kết quả chuyến thăm Nga của thủ tướng Phạm Minh Chính cho thấy hợp tác Việt - Nga sẽ không chỉ dừng lại ở phát triển năng lượng hạt nhân mà còn bao gồm cả năng lượng mới, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo với tầm nhìn hơn 100 năm.  RFI : Việt Nam đề nghị mua thêm dầu của Nga trong bối cảnh căng thẳng ở Trung Đông vì eo biển Hormuz bị Iran kiểm soát và phong tỏa. Liệu đây có phải là thời cơ tốt để mua dầu Nga mà không bị ảnh hưởng nhiều bởi các biện pháp trừng phạt của phương Tây đối với Nga ?  Vũ Khang : Để giảm thiểu tác động của việc đóng cửa vịnh Hormuz do chiến tranh Mỹ và Iran, Hoa Kỳ đã dỡ bỏ các lệnh trừng phạt mua dầu của Nga trong 30 ngày. Điều này sẽ tạo điều điều kiện thuận lợi để Việt Nam mua được dầu của Nga mà không bị trừng phạt. Tuy vậy, hạn chế của lệnh dỡ bỏ này là chỉ có dầu của Nga đã được chất lên các tàu chở dầu thì mới không bị trừng phạt. Cho nên Việt Nam sẽ phải tiếp tục theo dõi tình hình từ phía Mỹ, cũng như là chiến tranh Mỹ và Iran sẽ kết thúc như thế nào. Đọc thêmTăng cường hợp tác năng lượng : Mục tiêu chính chuyến công du Nga của thủ tướng Việt Nam Một điểm hạn chế nữa khi mua dầu từ Nga, đó là đường vận chuyển khá là dài so với mua từ Trung Đông. Việt Nam mới chỉ đảm bảo được cho cung ứng dầu từ giờ cho đến hết tháng 04, có thể nói sẽ vẫn còn rất khó để chắc chắn là Việt Nam sẽ giải quyết ra sao nguồn cung dầu kể từ tháng 05 trở đi. RFI : Tương tự như nhiều nước trên thế giới, dầu lửa là nhiên liệu thiết yếu cho sản xuất. Việt Nam cần dầu nhập khẩu như nào để phát triển sản xuất ?  Vũ Khang : Hiện nay, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 30% lượng xăng dầu, tương đương với 20 tỷ đô la mỗi năm, để đáp ứng các nhu cầu tiêu thụ trong nước. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần này chính là một phép thử cho khả năng chịu áp lực cho an ninh năng lượng của Việt Nam. Việt Nam, với khả năng của mình, đã tận dụng chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa để thứ nhất, giữ trung lập trong cuộc chiến Mỹ và Iran ; thứ hai, tìm nguồn cung ứng dầu thô từ Kuwait và Nhật Bản, cũng như với các chuỗi chính sách khác trong nước, ví dụ dỡ bỏ thuế đối với xăng dầu tiêu thụ cho đến hết tháng 06 để tránh cho kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng. Đọc thêmViệt Nam thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo để bảo đảm sản xuất và trung hòa khí thải Việt Nam cũng sẽ phát triển kho dự trữ xăng dầu quốc gia riêng biệt tại tỉnh Thanh Hóa khi mà dự trữ hiện nay từ các doanh nghiệp dầu hỏa đầu mối của Việt Nam mới chỉ đủ cho 7 đến 10 ngày tiêu thụ. Nếu nhìn rộng hơn, giá xăng dầu cao cũng sẽ có tác động lớn đến các mặt hàng, hoặc những chính sách kinh tế khác của Việt Nam, vì xăng dầu tăng cao thì sẽ đẩy mạnh lạm phát, cũng như là đẩy mạnh giá trị của đô la. Trong khi đó Việt Nam hiện vẫn phải mua dầu quốc tế bằng đồng đô la, tỷ giá đô la tăng vọt cũng sẽ khiến cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó khăn nhiều hơn nữa trong tương lai gần. RFI : Nhìn rộng hơn, Việt Nam cần phải phát triển, đa dạng hóa nguồn năng lượng như thế nào để bảo đảm cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và cho sản xuất ? Vũ Khang : Phát triển an ninh năng lượng là vấn đề sống còn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam phải cân bằng giữa hai mục tiêu : vừa tăng trưởng GDP và vừa phải giảm khí thải carbon. Theo dữ liệu hiện nay, điện than đang chiếm tỷ trọng trên 33%, thủy điện 28%, năng lượng tái tạo - bao gồm năng lượng Mặt trời và năng lượng gió - khoảng 27%. Do Việt Nam phải dần dần từ bỏ điện than từ nay cho đến năm 2050 theo cam kết tại COP 26, nên Việt Nam bắt buộc phải tìm được nguồn cung thay thế đến từ thủy điện, năng lượng tái tạo và điện hạt nhân. Nếu chúng ta nhìn kỹ hơn, thủy điện Việt Nam lại đang chịu tác động rất là lớn từ môi trường khi mà hạn hán có thể làm chậm nguồn cung cho lưới điện. Năng lượng tái tạo, như là năng lượng Mặt trời hay là năng lượng gió, vẫn chưa đủ bảo đảm ổn định cho lưới điện quốc gia, do hai nguồn năng lượng này cũng phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Đọc thêmViệt Nam sẽ có nhà máy điện hạt nhân đầu tiên vào năm 2030: Liệu có khả thi? Trong bối cảnh đó, điện hạt nhân lại là một nguồn năng lượng đáp ứng được yêu cầu ổn định và đây là một nguồn năng lượng sạch. Nhưng một điểm trừ rất lớn của điện hạt nhân, đó là chi phí đầu tư ban đầu và thời gian để bắt đầu vận hành có thể lên đến một thập kỷ hoặc hơn thế nữa. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng và sản xuất điện hiện nay là 12 đến 15% mỗi năm để đáp ứng được cho mục tiêu phát triển GDP. Theo dự tính đến năm 2030, Việt Nam sẽ cần gấp đôi công suất điện so với hiện nay và đến năm 2050, Việt Nam sẽ cần gấp năm lần công suất điện so với hiện nay. Với quan điểm về an ninh quốc gia, Việt Nam có thể mua điện từ Lào hay là Trung Quốc nhưng do các nghi kỵ về chính trị với láng giềng phương Bắc, về tương lai dài hạn, đây không phải là một điều quá khả thi. Do nhìn chung Việt Nam không muốn phụ thuộc về năng lượng hay an ninh điện vào nước ngoài. Điều này đòi hỏi Việt Nam sẽ phải nhanh chóng đầu tư vào nhân lực, cũng như là cơ sở vật chất để phát triển điện hạt nhân, cũng như năng lượng tái tạo ngay từ bây giờ. Nhìn chung hơn, tự chủ năng lượng sẽ giúp cho Việt Nam duy trì tự chủ về mặt ngoại giao và tránh việc bị cuốn vào xung đột giữa các nước lớn, cũng như bảo đảm được an ninh năng lượng trong trường hợp chiến tranh xảy ra. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, Khoa Chính trị học tại Trường Đại học Boston (Boston College), Hoa Kỳ.

Tạp chí Việt Nam
Khủng hoảng dầu lửa Trung Đông tạo thuận lợi cho Việt - Nga thúc đẩy hợp tác năng lượng

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later Apr 6, 2026 9:33


Xung đột ở Trung Đông dẫn đến cuộc khủng hoảng dầu lửa toàn cầu cho thấy hạn chế tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Các kho dự trữ, nằm trong tay những đối tác tư nhân, chỉ có thể cung cấp dầu lửa đến hết tháng 04/2026. Nhiều chuyến bay nội địa bị cắt giảm vì thiếu xăng. Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn nhập khẩu dầu mỏ, do sản lượng trong nước sụt giảm vì các mỏ dầu ngoài khơi đang cạn dần sau thời gian dài khai thác. Trong khi đó, việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả. Cuộc khủng hoảng này cũng cho thấy Việt Nam cần thiết lập hệ thống dự trữ nhiên liệu chiến lược quốc gia, theo trang Nhân Dân. Ngày 29/03, thủ tướng Phạm Minh Chính đã tới khảo sát địa điểm dự kiến xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược tại Khu kinh tế Nghi Sơn. Song song với nhiệm vụ cấp bách đó, Hà Nội vẫn đang “làm việc với Iran để đề nghị tạo điều kiện, có biện pháp hỗ trợ bảo đảm cho tàu, lao động Việt Nam di chuyển an toàn qua eo biển Hormuz”, theo phát biểu của người phát ngôn bộ Ngoại Giao Phạm Thu Hằng trong buổi họp báo thường kỳ ngày 02/04. Ngoài ra, chính phủ cũng khẩn trương triển khai “ngoại giao xăng dầu” với nhiều nước. Ví dụ đề xuất với Tokyo để được tiếp cận kho dự trữ chiến lược của Nhật Bản, đề nghị Trung Quốc xuất khẩu một phần xăng máy bay. Gần đây, trong chuyến công du Matxcơva, thủ tướng Phạm Minh Chính cũng đề nghị được mua dầu của Nga, cũng như tăng cường hợp tác trong lĩnh vực điện hạt nhân, năng lượng tái tạo. Việc hợp tác với Nga, đang bị phương Tây trừng phạt vì gây chiến ở Ukraina, có thể sẽ được tiến hành như thế nào ? Nga sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc đa dạng hóa nguồn năng lượng của Việt Nam ? Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, tại khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston, Mỹ, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Trước tiên, anh có thể tóm lược mối quan hệ hợp tác năng lượng giữa hai nước Việt Nam và Nga, gần đây là cam kết hợp tác phát triển điện hạt nhân, được ký vào ngày 23/03/2026 nhân chuyến công du Matxcơva của thủ tướng Phạm Minh Chính ? Vì sao có thể hợp tác được trong lĩnh vực điện hạt nhân mà không lo các biện pháp trừng phạt của phương Tây ? Vũ Khang : Khi kể đến quan hệ hợp tác năng lượng Việt Nam và Nga, chúng ta không thể không nhắc đến Vietsovpetro. Xí nghiệp này được thành lập từ năm 1981 với mục đích là giúp Việt Nam tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía Nam. Cần phải nhắc lại 1981 là giai đoạn mà Việt Nam và Liên Xô là đồng minh quân sự của nhau theo Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ký vào năm 1978. Việt Nam đã tranh thủ mối quan hệ đó để phát triển và đảm bảo an ninh năng lượng của mình. Và kể cả sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, Việt Nam vẫn duy trì xí nghiệp liên doanh này với Nga và các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập SNG. Và chính nhờ có xí nghiệp liên doanh này mà từ con số 0, hiện giờ Việt Nam đang sở hữu hệ thống căn cứ dịch vụ dầu khí tổng hợp phục vụ cho các khâu, chuỗi hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ngoài khơi khá là toàn diện. Đây cũng là một cách mà Việt Nam bảo vệ và khẳng định chủ quyền của mình trên Biển Đông. Ngoài ra, hàng năm, liên doanh Vietsovpetro đóng vào ngân sách nhà nước và lợi nhuận cho Việt Nam khoảng 53 tỷ đô la. Đây là một khoản khá là lớn cho ngân sách của nhà nước Việt Nam nếu chúng ta tính GDP Việt Nam rơi vào khoảng 500 tỷ đô một năm. Đây là một nền tảng khá là vững chắc từ ngoại giao cho đến kỹ thuật để Việt Nam và Nga có thể tiến tới hợp tác ở các mảng khác trong hợp tác năng lượng. Đọc thêmViệt Nam và Nga “rửa tiền” mua vũ khí qua thỏa thuận dầu khí với VietSovPetro ? Nếu mà nói rộng hơn về thỏa thuận hợp tác về hạt nhân gần đây thì Nga, với tư cách là một trong năm nước được phép sở hữu vũ khí hạt nhân theo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân NPT, có thể giúp đỡ Việt Nam nghiên cứu và sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích dân sự theo như các điều khoản của Hiệp ước này. Kết quả chuyến thăm Nga của thủ tướng Phạm Minh Chính cho thấy hợp tác Việt - Nga sẽ không chỉ dừng lại ở phát triển năng lượng hạt nhân mà còn bao gồm cả năng lượng mới, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo với tầm nhìn hơn 100 năm.  RFI : Việt Nam đề nghị mua thêm dầu của Nga trong bối cảnh căng thẳng ở Trung Đông vì eo biển Hormuz bị Iran kiểm soát và phong tỏa. Liệu đây có phải là thời cơ tốt để mua dầu Nga mà không bị ảnh hưởng nhiều bởi các biện pháp trừng phạt của phương Tây đối với Nga ?  Vũ Khang : Để giảm thiểu tác động của việc đóng cửa vịnh Hormuz do chiến tranh Mỹ và Iran, Hoa Kỳ đã dỡ bỏ các lệnh trừng phạt mua dầu của Nga trong 30 ngày. Điều này sẽ tạo điều điều kiện thuận lợi để Việt Nam mua được dầu của Nga mà không bị trừng phạt. Tuy vậy, hạn chế của lệnh dỡ bỏ này là chỉ có dầu của Nga đã được chất lên các tàu chở dầu thì mới không bị trừng phạt. Cho nên Việt Nam sẽ phải tiếp tục theo dõi tình hình từ phía Mỹ, cũng như là chiến tranh Mỹ và Iran sẽ kết thúc như thế nào. Đọc thêmTăng cường hợp tác năng lượng : Mục tiêu chính chuyến công du Nga của thủ tướng Việt Nam Một điểm hạn chế nữa khi mua dầu từ Nga, đó là đường vận chuyển khá là dài so với mua từ Trung Đông. Việt Nam mới chỉ đảm bảo được cho cung ứng dầu từ giờ cho đến hết tháng 04, có thể nói sẽ vẫn còn rất khó để chắc chắn là Việt Nam sẽ giải quyết ra sao nguồn cung dầu kể từ tháng 05 trở đi. RFI : Tương tự như nhiều nước trên thế giới, dầu lửa là nhiên liệu thiết yếu cho sản xuất. Việt Nam cần dầu nhập khẩu như nào để phát triển sản xuất ?  Vũ Khang : Hiện nay, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 30% lượng xăng dầu, tương đương với 20 tỷ đô la mỗi năm, để đáp ứng các nhu cầu tiêu thụ trong nước. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần này chính là một phép thử cho khả năng chịu áp lực cho an ninh năng lượng của Việt Nam. Việt Nam, với khả năng của mình, đã tận dụng chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa để thứ nhất, giữ trung lập trong cuộc chiến Mỹ và Iran ; thứ hai, tìm nguồn cung ứng dầu thô từ Kuwait và Nhật Bản, cũng như với các chuỗi chính sách khác trong nước, ví dụ dỡ bỏ thuế đối với xăng dầu tiêu thụ cho đến hết tháng 06 để tránh cho kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng. Đọc thêmViệt Nam thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo để bảo đảm sản xuất và trung hòa khí thải Việt Nam cũng sẽ phát triển kho dự trữ xăng dầu quốc gia riêng biệt tại tỉnh Thanh Hóa khi mà dự trữ hiện nay từ các doanh nghiệp dầu hỏa đầu mối của Việt Nam mới chỉ đủ cho 7 đến 10 ngày tiêu thụ. Nếu nhìn rộng hơn, giá xăng dầu cao cũng sẽ có tác động lớn đến các mặt hàng, hoặc những chính sách kinh tế khác của Việt Nam, vì xăng dầu tăng cao thì sẽ đẩy mạnh lạm phát, cũng như là đẩy mạnh giá trị của đô la. Trong khi đó Việt Nam hiện vẫn phải mua dầu quốc tế bằng đồng đô la, tỷ giá đô la tăng vọt cũng sẽ khiến cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó khăn nhiều hơn nữa trong tương lai gần. RFI : Nhìn rộng hơn, Việt Nam cần phải phát triển, đa dạng hóa nguồn năng lượng như thế nào để bảo đảm cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và cho sản xuất ? Vũ Khang : Phát triển an ninh năng lượng là vấn đề sống còn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam phải cân bằng giữa hai mục tiêu : vừa tăng trưởng GDP và vừa phải giảm khí thải carbon. Theo dữ liệu hiện nay, điện than đang chiếm tỷ trọng trên 33%, thủy điện 28%, năng lượng tái tạo - bao gồm năng lượng Mặt trời và năng lượng gió - khoảng 27%. Do Việt Nam phải dần dần từ bỏ điện than từ nay cho đến năm 2050 theo cam kết tại COP 26, nên Việt Nam bắt buộc phải tìm được nguồn cung thay thế đến từ thủy điện, năng lượng tái tạo và điện hạt nhân. Nếu chúng ta nhìn kỹ hơn, thủy điện Việt Nam lại đang chịu tác động rất là lớn từ môi trường khi mà hạn hán có thể làm chậm nguồn cung cho lưới điện. Năng lượng tái tạo, như là năng lượng Mặt trời hay là năng lượng gió, vẫn chưa đủ bảo đảm ổn định cho lưới điện quốc gia, do hai nguồn năng lượng này cũng phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Đọc thêmViệt Nam sẽ có nhà máy điện hạt nhân đầu tiên vào năm 2030: Liệu có khả thi? Trong bối cảnh đó, điện hạt nhân lại là một nguồn năng lượng đáp ứng được yêu cầu ổn định và đây là một nguồn năng lượng sạch. Nhưng một điểm trừ rất lớn của điện hạt nhân, đó là chi phí đầu tư ban đầu và thời gian để bắt đầu vận hành có thể lên đến một thập kỷ hoặc hơn thế nữa. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng và sản xuất điện hiện nay là 12 đến 15% mỗi năm để đáp ứng được cho mục tiêu phát triển GDP. Theo dự tính đến năm 2030, Việt Nam sẽ cần gấp đôi công suất điện so với hiện nay và đến năm 2050, Việt Nam sẽ cần gấp năm lần công suất điện so với hiện nay. Với quan điểm về an ninh quốc gia, Việt Nam có thể mua điện từ Lào hay là Trung Quốc nhưng do các nghi kỵ về chính trị với láng giềng phương Bắc, về tương lai dài hạn, đây không phải là một điều quá khả thi. Do nhìn chung Việt Nam không muốn phụ thuộc về năng lượng hay an ninh điện vào nước ngoài. Điều này đòi hỏi Việt Nam sẽ phải nhanh chóng đầu tư vào nhân lực, cũng như là cơ sở vật chất để phát triển điện hạt nhân, cũng như năng lượng tái tạo ngay từ bây giờ. Nhìn chung hơn, tự chủ năng lượng sẽ giúp cho Việt Nam duy trì tự chủ về mặt ngoại giao và tránh việc bị cuốn vào xung đột giữa các nước lớn, cũng như bảo đảm được an ninh năng lượng trong trường hợp chiến tranh xảy ra. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, Khoa Chính trị học tại Trường Đại học Boston (Boston College), Hoa Kỳ.

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM
Pakistan có thể hóa giải xung đột Mỹ - Iran ?

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

Play Episode Listen Later Apr 2, 2026 13:25


Xung đột giữa Iran và liên quân Mỹ - Israel nay đã kéo dài sang tháng thứ hai, gây bất ổn cho nguồn cung năng lượng và kinh tế toàn cầu. Trong tình cảnh này, Pakistan, một tác nhân mới, đã bất ngờ xuất hiện và được cho là có tiềm năng hòa giải giữa Mỹ và Iran. Ngày 31/03/2026, Trung Quốc và Pakistan đề xuất thỏa thuận gồm 5 điểm nhằm chấm dứt chiến tranh giữa Iran và liên minh Mỹ - Israel. Trước đó, ngày Chủ Nhật, 29/03, Islamabad tuyên bố sẵn sàng tiếp đón các cuộc đàm phán giữa Washington và Tehran sau nhiều ngày làm sứ giả giữa hai bên. Vì sao lại chọn Pakistan ? Đâu là những lợi thế và những rủi ro cho quốc gia Nam Á này trong vai trò trung gian hòa giải ? Trung Quốc và Ấn Độ có vị thế ra sao trong ván cờ ngoại giao này ? RFI Tiếng Việt có cuộc trao đổi với nhà nghiên cứu địa chính trị về thế giới Ba Tư, Trung Á và Nam Á, Didier Chaudet, chuyên gia về Pakistan, Ấn Độ, thuộc Đài Quan Sát Tân Á-Âu.  ----- ***** ----- RFI Tiếng Việt : Đây dường như không phải là lần đầu tiên Islamabad được Washington đề nghị làm trung gian hòa giải ? Didier Chaudet : Đúng vậy. Trên thực tế, vai trò trung gian của Pakistan có lịch sử lâu dài. Nước này đã từng giữ vai trò cầu nối giữa Mỹ và Trung Quốc trong những năm 1970. Sự xích lại gần giữa hai nước để chống Liên Xô một phần là nhờ sự hỗ trợ của Islamabad. Sau đó, chính là thông qua Pakistan mà Hoa Kỳ đã có thể thực hiện chính sách của họ ở Afghanistan vào những năm 1980. Và gần đây hơn là tiến trình hòa bình với phe Taliban ở Afghanistan, vốn dĩ đã được khởi động ngay từ thời chính quyền Trump đầu tiên, và một lần nữa, trong hồ sơ này, Pakistan đã rất tích cực tham gia. Lần này, trong cuộc xung đột vũ trang giữa Iran và liên minh Mỹ - Israel, vì sao Pakistan lại được chọn để làm trung gian hòa giải giữa Washington và Teheran ? Didier Chaudet : Bởi vì Pakistan là một trong số ít các quốc gia có nhiều đòn bẩy đáng kể đối với chính quyền Trump và chế độ hiện tại ở Iran. Một mặt, Pakistan là quốc gia có số người Hồi giáo theo hệ phái Shia đông thứ hai  thế giới, chỉ sau Iran. Mặt khác, Pakistan đã vun đắp mối quan hệ mạnh mẽ với chính quyền Trump, vốn dĩ rất biết ơn quốc gia Nam Á này vì hai thắng lợi quan trọng : Thứ nhất, Pakistan đã bắt giữ một phần tử thánh chiến thực hiện cuộc tấn công khủng bố nhắm vào tòa đại sứ Mỹ ở Afghanistan trong thời gian triệt thoái quân Mỹ. Thứ hai là Pakistan đã biết cách nhấn mạnh tầm quan trọng hành động can thiệp của Washington trong việc giảm căng thẳng giữa New Dehli và Islamabad vào năm 2025. Thực tế là, mỗi lần như vậy, Pakistan đều tự xác định vị thế của mình theo cách có thể hài lòng chính quyền Trump, nhưng đồng thời nước này cũng có các mối quan hệ lịch sử, những kết nối nhân văn với Iran, thông qua cộng đồng người Hồi giáo hệ phái Shia. Bên cạnh đó, Pakistan không bị coi là một quốc gia liên minh với Mỹ và càng không phải với Israel, bởi vì Islamabad không công nhận Israel. Vì vậy, Teheran có thể cảm thấy phần nào tin tưởng vào Pakistan. Ngoài ra, không giống như các quốc gia Vùng Vịnh, Pakistan không có căn cứ quân sự nào của Mỹ. Phía Teheran vì vậy có thể dễ dàng liên lạc với Islamabad. Chính quyền Trump cũng cảm thấy thoải mái trong mối quan hệ với Pakistan, đặc biệt là với quân đội nước này. Nhìn chung, quốc gia Nam Á này có thể kết nối dễ dàng và suôn sẻ giữa Teheran và Washington. Theo ông, đâu là lợi ích và rủi ro tiềm tàng cho Pakistan khi chấp nhận đóng vai trò trung gian hòa giải cho Mỹ và Iran ? Didier Chaudet : Tôi nghĩ rằng Pakistan rất muốn can thiệp vào hồ sơ này. Là một nước láng giềng, Pakistan có chung đường biên giới với Iran dài gần 900 km. Hai nước này còn có chung một vấn đề : Đó là chủ nghĩa dân tộc ly khai người Baloch, một cộng đồng sắc tộc sinh sống chủ yếu tại Iran, Afghanistan và Pakistan. Những phong trào ly khai này thường xuyên vượt biên giới và đã gây ra nhiều rắc rối giữa Iran và Pakistan trong quá khứ. Vì vậy, nếu chẳng may Iran sụp đổ, Pakistan có nguy cơ nhìn thấy sự ra đời một nhà nước Balochistan độc lập, hay tệ hơn nữa là hỗn loạn bùng phát ở biên giới. Ngoài ra, Pakistan còn phụ thuộc vào nguồn năng lượng đến từ eo biển Hormuz. Quốc gia này rất cần tình hình ở Vịnh Ba Tư nhanh chóng được ổn định. Ít nhất là từ hai tuần nay, giá dầu diesel ở Pakistan đã tăng khoảng 20%. Những người làm việc trong lĩnh vực công ở Pakistan nay được yêu cầu chỉ làm việc 4 ngày trong tuần để tiết kiệm năng lượng và nhiên liệu. Vì vậy, có thể nói là Pakistan không muốn có hỗn loạn ở biên giới và muốn tình hình trở lại bình thường cho nhu cầu năng lượng của chính mình. Về phần rủi ro, kịch bản xấu nhất có thể là hoạt động ngoại giao đó của Pakistan không cho kết quả và nước này gặp thất bại trong việc gây ảnh hưởng để tái lập ổn định hay hòa bình, nhưng trên thực tế đó là một rủi ro tương đối hạn chế. Người ta không thể đổ lỗi cho Pakistan vì đã không xoa dịu được căng thẳng giữa Mỹ và Iran, nhất là Islamabad có thể dễ dàng biện minh rằng « còn có một con át chủ bài mà chúng tôi không kiểm soát được và cũng không ai kiểm soát được, đó là Israel, quốc gia có những lợi ích riêng của họ trong cuộc chiến chống Iran và về vấn đề này, chỉ có Hoa Kỳ mới có thể gây áp lực với đồng minh của họ. Nếu Trump không làm được, chúng ta cũng chẳng sẽ làm được gì ». Truyền thông Mỹ có nhắc đến tên của tướng Asim Munir, tổng tư lệnh quân đội Pakistan, như là một nhà trung gian kín tiếng giữa Trump và Iran. Trong ván cờ ngoại giao này, tướng Munir có vai trò cụ thể gì ? Didier Chaudet : Từ khi bắt giam Imran Khan, nhà lãnh đạo theo tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, muốn thay đổi diện mạo đất nước và loại trừ dần dần tầm ảnh hưởng của quân đội Pakistan, tướng Munir là hiện thân cho quyền lực thực sự ở Pakistan, cho sức mạnh của sự ổn định, tiếng nói ngoại giao trong nhiều chủ đề then chốt và quả thực, ông đã tạo được một mối liên hệ đặc biệt với chính quyền Trump. Dường như cách tiếp cận của ông trong việc chỉ huy cuộc chiến chống Ấn Độ, quốc gia được cho là có ưu thế quân sự vượt trội và quả thực, Ấn Độ có nhiều nguồn lực quân sự hơn Pakistan, và bất chấp những điều đó, trong suốt giai đoạn căng thẳng 2025, Pakistan đã kháng cự mạnh mẽ và điều này đã được ghi nhận ở Washington. Mối liên hệ trực tiếp giữa Munir và Trump từ đó đã được thiết lập mà không có một sự đắn đo nào. Đó là vì chúng ta cũng đang đối diện với một chính quyền mà mối quan hệ cá nhân đóng vai trò quan trọng. Chính quyền Trump có xu hướng ủng hộ những nhà lãnh đạo mạnh mẽ và trước một Munir, họ đang đối mặt với một thế lực thực sự. Họ hiểu rằng nói chuyện với quân đội đồng nghĩa với việc nói chuyện với những thế lực ngầm đang tổ chức và kiểm soát Pakistan. Đây cũng chính là điều thu hút chính quyền Trump, đang tìm kiếm những nguồn quyền lực đích thực. Pakistan còn là một đồng minh rất gần gũi với Trung Quốc cả trên phương diện kinh tế lẫn quân sự. Liệu Trung Quốc có nắm giữ một vai trò ngầm nào trong ván cờ ngoại giao này hay không ? Didier Chaudet : Tôi có lẽ không coi đó là một vai trò bí mật, nhưng trên thực tế, các ngoại trưởng Pakistan, Ai Cập, Ả Rập Xê Út và Thổ Nhĩ Kỳ đã có cuộc gặp tại Islamabad, và một phái đoàn Pakistan cũng đã đến Bắc Kinh, rõ ràng là để giải thích và ít nhất là thông báo cho Trung Quốc biết các cuộc thảo luận đó đã đi đến đâu. Do vậy, tôi không cho đó là một kế hoạch bí mật, nhưng điều đó cho thấy một thế mạnh khác của Pakistan trong mối quan hệ với Iran và với Mỹ. Họ có thể đối thoại với Trung Quốc và có thể được Trung Quốc lắng nghe. Sớm hay muộn Trung Quốc rất có thể sẽ can dự để hỗ trợ thêm cho tiến trình hòa bình, bởi vì nếu chỉ có Mỹ và Iran mặt đối mặt, thì phía Iran sẽ không có chút niềm tin nào. Họ sẽ tự nhủ, « chúng ta đã hai lần đàm phán với chính quyền Trump và cả hai lần chúng ta đều bị phản bội vào năm 2025 và 2026 ». Bên cạnh đó là con át chủ bài Israel, hiện đang tiến hành cuộc chiến riêng và chính quyền Trump thì dường như không có khả năng kiểm soát đồng minh của mình. Xin nhắc lại là chính quyền Trump nhiệm kỳ I là bên đầu tiên đã xé bỏ Hiệp ước Hạt nhân Iran được ký kết dưới thời chính quyền Obama. Thế nên, từ góc nhìn Teheran, họ cảm thấy rất cần sự tham gia thực tế từ những bên khác ngoài Hoa Kỳ để có thể tin rằng hòa bình là điều khả thi. Về điểm này, ảnh hưởng kín đáo của Trung Quốc cho kết cục cuộc chiến là rất có thể, nhưng hiện tại người ta chưa đi đến giai đoạn đó, và vẫn đang trong quá trình thảo luận. Một lần nữa, theo ý tôi, Pakistan chỉ đang vận động hành lang và chuyển tin tức từ nước này sang nước khác. Ấn Độ, nước láng giềng và có mối quan hệ căng thẳng với Pakistan, phản ứng ra sao về việc Islamabad được chọn làm trung gian hòa giải giữa Mỹ và Iran ? Đâu là những rủi ro cho New Dehli ? Didier Chaudet : Thực tế là, tuy có mối quan hệ khó khăn với chính quyền Trump, Ấn Độ dường như đã chọn duy trì liên minh với Mỹ. Trước đây, Iran và Ấn Độ có một mối hữu nghị lâu đời, nhưng tình bạn đó đã phai nhạt dần. Từ năm 2021, Iran thường xuyên lưu ý rằng Ấn Độ là một bằng hữu gây thất vọng, rằng Ấn Độ đã quyết định chọn Washington thay vì Teheran. Chuyến công du gần đây của thủ tướng Narendra Modi đến Israel, nhằm khẳng định rằng Ấn Độ ngả theo và hoàn toàn ủng hộ Israel, khiến Iran có cảm giác quốc gia bằng hữu truyền thống đó không còn là bạn nữa. Liệu rằng Ấn Độ có thể làm khác đi hay không ? Điều này khá khó khăn bởi vì Ấn Độ không những rất cần mối quan hệ mạnh mẽ với Israel, mà còn cần cả mối liên kết chặt chẽ cả về kinh tế và ngoại giao với các nước Vùng Vịnh, đang hứng chịu tên lửa của Iran. Như vậy, Ấn Độ dường như đã chọn Israel và các quốc gia vùng Vịnh thay vì Iran, do đó từ bỏ các lợi ích đáng kể ở Iran. Giấc mơ ban đầu của Ấn Độ là có thể dựa vào Iran để bỏ qua Pakistan trong việc kết nối với Trung Á và Nga. Nhưng trong tình hình hiện tại, điều này không còn khả thi nữa. Nhưng khi đưa ra lựa chọn này, New Dehli đã phần nào tự gạt mình ra khỏi chơi trong việc giải quyết xung đột. New Dehli hiện trong một tình huống khá đặc biệt, hiện đang chịu một áp lực to lớn từ chính quyền Trump để cắt đứt quan hệ với Nga, nhất là trong lĩnh vực dầu hỏa. Ấn Độ dường như đã tuân thủ trong vấn đề Iran. Tuy nhiên, theo tôi, ở New Dehli đang có một cuộc tranh luận nhưng chưa được giải quyết triệt để: Đi theo Mỹ bằng cách này có là một ý tưởng tốt, hay Ấn Độ nên xem xét một chính sách cân bằng hơn ? Quả thật, hiện nay Ấn Độ đang ở trong một tình huống khá nghịch lý là tại Nam Á, có tầm quan trọng trong cuộc chiến tại Iran không phải là Ấn Độ, vốn dĩ là một cường quốc tiềm năng, mà là Pakistan, kẻ thù của New Dehli. Tóm lại, tình hình hiện tại cho Ấn Độ là khá ảm đạm do phải đối mặt với một tình huống là New Dehli thực sự không có chút ảnh hưởng nào trong hồ sơ này ! RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Didier Chaudet, chuyên gia địa chính trị về thế giới Ba Tư, Trung Á, Nam Á, đặc biệt là Pakistan, thuộc Đài Quan Sát Tân Á-Âu.

TẠP CHÍ KINH TẾ
Vận tải đường biển : Đóng cửa eo biển Hormuz, một tiền lệ nguy hiểm

TẠP CHÍ KINH TẾ

Play Episode Listen Later Mar 31, 2026 10:05


Iran đóng cửa eo biển Hormuz đang tạo ra một tiền lệ nguy hiểm đối với giao thương toàn cầu, đối với ngành vận tải đường biển. Vì chiến sự ở Trung Đông, giá nhiên liệu cho một chuyến tàu chở hàng từ châu Á sang châu Âu tăng gấp đôi, cước phí vận chuyển tăng 11 %. Các hãng bảo hiểm từ chối chịu trách nhiệm đối với những tàu thuyền lui tới « vùng chiến sự này ». Đối với ngành vận tải đường biển, bảo đảm an toàn cho thủy thủ đoàn là những khó khăn khác mà vế địa chính trị đang đặt ra cho các chủ tàu. Nhìn xa hơn, mối nguy hiểm chính là việc Teheran đe dọa đòi « thu lệ phí » ở Hormuz có thể trở thành một « tiền lệ » đối với những vùng biển quốc tế khác trên thế giới. Định vị GPS hàng hải hôm 10/03/2026 cho thấy, 460 tàu chở dầu, 67 tàu chở khí hóa lỏng và 367 tàu chở hàng bị kẹt ở eo biển Hormuz. Trong ngày đầu tiên khi Iran bị tấn công (hôm 28/02), số tàu hiện diện trong vùng giảm 80 % so với cùng thời kỳ một tháng trước đó. Trên bản đồ vận tải hàng hóa toàn cầu, eo biển Hormuz nơi chỉ có khoảng 2% lưu lượng vận chuyển container đi qua, nhưng hành lang hẹp này như thể đang trở thành « cái rốn » của thế giới. Hormuz ám ảnh tổng thống Mỹ đến nỗi một ngày ông đổi ý hai lần với Iran, chỉ vì tuyến đường biển này từ khi bị đóng cửa đã làm tăng giá xăng dầu ở Hoa Kỳ, dẫn tới nguy cơ lạm phát. Bên ngoài nước Mỹ, eo biển Hormuz bị phong tỏa làm xáo trộn chuỗi hậu cần toàn cầu, ngành vận tải biển thất thu 340 triệu đô la mỗi ngày từ hôm 28/02/2026, thời hạn hàng được giao đến tay người mua bị kéo dài và các tập đoàn vận tải tìm kiếm những giải pháp thay thế … Tình hình thêm phức tạp khi Hormuz vẫn chưa được khai thông thì đến lượt eo biển thứ nhì trong khu vực Bab el-Mandeb ở vịnh Aden, nối châu Á với Hồng Hải, có nguy cơ bị lực lượng nổi dậy Houthi ở Yemen, cánh tay nối dài của Iran, phong tỏa. Yếu tố địa chính trị ngày càng thách thức các tập đoàn vận tải đường biển vốn là cột sống của cả hệ thống mâu dịch toàn cầu. Mời quý vị theo dõi phần phân tích của giám đốc Học Viện Kinh Tế Hàng Hải ISEMAR Paul Tourret trong cuộc phỏng vấn dành cho RFI Tiếng Việt. Học Viện ISEMAR trụ sở tại Saint Nazaire, miền tây bắc nước Pháp, được thành lập từ năm 1997, nghiên cứu các lĩnh vực vận tải biển, thương mại đường  biển, các hoạt động khai thác hải cảng và ngành công nghiệp đóng tàu. An toàn cho các tàu chở hàng  RFI : Xin kính chào ông Paul Tourret, cảm ơn ông nhận lời mời tham gia chương trình hôm nay. Thưa ông, về an toàn hàng hải, vì sao xung đột ở Trung Đông lần này là bước ngoặt lớn đối với giao thương hàng hải và cũng là một thách thức đối với các tập đoàn vận tải đường biển ? Paul Tourret : « Trong lịch sử, chúng ta đã từng thấy vận tải đường biển bị các cuộc xung đột khuấy nhiễu, do các bên liên quan nhắm vào các đội tàu thương mại của đối phương, bởi vì đấy là một phần các hoạt độnt kinh tế, thương mại mà phía bên kia khai thác để nuôi dưỡng chiến tranh. Cuối 2024, đã có một sự thay đối lớn khi lực lượng phiến quân Houthi ở Hồng Hải tấn công tàu bè của phương Tây, nhiều công ty vận tải đường biển đã phải đổi lộ trình. Các tàu chở hàng nối liền châu Âu với châu Á đã phải đi vòng qua châu Phi. Nhưng xung đột hiện nay tại Trung Đông là lần đầu tiên một tuyến hàng hải huyết mạch bị phong tỏa và Iran không chỉ nhắm vào các lợi ích của đối phương - ở đây là lợi ích của Mỹ và Israel, mà còn bắt tất cả các quốc gia không liên quan, phải trả giá. Đóng cửa eo biển Hormuz ảnh hưởng đến các nước xuất khẩu dầu khí, đến các đối tác châu Á cần nhập khẩu năng lượng từ Vùng Vịnh, tác hại luôn cả đến mọi hoạt động xuất nhập khẩu trên thế giới, ảnh hưởng đến ngành vận tải đường biển, làm đảo lộn đời sống của các thủy thủ trên tàu … » Chính trị và vận tải đường biển RFI : Yếu tố địa chính trị chi phối các hoạt động giao thương, nhất là giao thương hàng hải khi biết rằng đây là phương tiện bảo đảm hơn 80 % các dịch vụ xuất nhập khẩu toàn cầu. Vậy đâu là thách thức đối với các hãng vận tại đường biển, các chủ tàu và giới trong ngành phải thích nghi với tình hình mới này như thế nào ? Paul Tourret : « Trong hai mươi năm qua, thế giới càng lúc càng xóa nhòa các đường biên giới, chúng ta sống trong một môi trường toàn cầu hóa, nghĩa là các luồng trao đổi hàng hóa được phát triển mạnh ở khắp mọi nơi. Hàng hóa, năng lượng, khoáng sản, nguyên liệu, nông phẩm … càng lúc càng được chuyển từ châu lục này sang châu lục khác bằng đường biển … Cùng lúc toàn cảnh địa chính trị càng lúc càng phức tạp. Chiến tranh Iran là cuộc xung đột lớn thứ ba đang diễn ra trên thế giới bên cạnh chiến sự tại Ukraina, xung đột tại Gaza. Các cuộc chiến này đều cho thấy rõ yếu tố địa chính trị có thể làm gián đoạn các luồng trao đổi mậu dịch. Điều này thực sự đang đặt ra rất nhiều vấn đề cho giao thương quốc tế, cho ngành vận tải đường biển. Đặc biệt là khi mà eo biển Hormuz bị đóng cửa, bởi đây là cửa ngõ 2 chiều đưa hàng từ Vịnh Ba Tư đến với thế giới bên ngoài và hàng của thế giới xuất khẩu sang các nước vùng Vịnh. Đông Á chịu áp lực hơn cả bởi vì vừa là khách hàng nhập nhiều dầu khí của Trung Đông, vừa xuất khẩu hàng công nghiệp cho khu vực này. Ngoài ra cũng vì eo biển Hormuz bị đóng cửa mà trong tương lai, hàng xuất khẩu từ Trung Quốc hay Việt Nam, Thái Lan … cũng đều bị ảnh hưởng. Chúng ta không có nhiều phương án thay thế, vì vậy mà ngành vận tải đường biển phần nào bị đóng băng, chờ đợi một giải pháp chính trị. Đây là một tình huống khá đặc biệt ». RFI : Vì chiến tranh Trung Đông, các phí tổn tài chính của các tập đoàn vận tải đường biển đương nhiên tăng lên nhiều, nhưng ngoài ra, họ có thể làm những gì để tăng cường an ninh và mức độ an toàn cho mỗi chuyến tàu, cho các thuyền viên ? Paul Tourret : « Đối với các chủ tàu trên toàn thế giới – ngoại trừ tàu thuyền đang bị kẹt ở Vùng Vịnh Ba Tư, hiện nay giá nhiên liệu đã bị đẩy lên cao. Loại dầu (VLSFO) mà các hãng tàu phải sử dụng, giá đã tăng rất mạnh và tác động đã được thấy rất rõ : Chi phí vận tải đường biển tăng lên trong ngắn hạn. Nếu xung đột kéo dài, chi phí nhiên liệu cho một container vận chuyển giữa châu Á và châu Âu có thể đang từ 100 tăng lên thành 200 đô la cho mỗi chuyến. Đây là một khoản chi tiêu phụ trội rất nặng gánh nhưng họ không thể đùn đẩy toàn bộ lên khách hàng. Không thể nói rằng, chi phí chở một container hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang châu Âu sẽ tăng giá gấp đôi hay hơn thế nữa chỉ vì giá nhiên liệu tăng. Nhưng rõ ràng đây là một yếu tố có thể gây ra lạm phát. Cũng cần lưu ý rằng đây là một cuộc xung đột mang tính tạm thời. Vịnh Ba Tư sẽ không bị đóng cửa trong nhiều năm. Hiện tại thì giá dầu tăng 30 % trên thị trường quốc tế và chưa tăng lên gấp 4 lần như trong các cuộc khủng hoảng trước đây. Một khi chấm dứt chiến tranh, có thể là trong vài ngày, vài tháng hoặc nửa năm, tình hình sẽ trở lại bình thường. Nhưng trong ngắn hạn, rõ ràng đã có chi phí phát sinh do dầu mỏ và các vấn đề về nguồn cung. Điều này gây khó khăn không chỉ cho kinh tế hàng hải mà còn cho toàn bộ nền kinh tế toàn cầu ». RFI : Vâng với điều kiện là các giếng dầu, các cơ sở năng lượng trong khu vực không bị thiệt hại quá lớn. Ngoài ra, Iran tuyên bố muốn thu lệ phí mỗi khi tàu thuyền quốc tế đi qua eo biển Hormuz. Thưa ông giám đốc Học Viện Kinh tế Hàng Hải Paul Tourret, ông đánh giá thế nào về tính khả thi của tham vọng này ? Paul Tourret : « Iran thực ra đang chơi một ván cờ lớn, dùng chiêu bài này để gây sức ép với Hoa Kỳ và thậm chí là với phần còn lại của thế giới. Teheran cho phép tàu thuyền đi qua, miễn phí hoặc có thu phí (người ta nói khoảng 2 triệu đô), đối với các tàu hàng của những quốc gia không thù địch, thậm chí có quan hệ gần gũi với Iran, như là tàu của Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc. Rồi gần đây là tàu của Malaysia, Thái Lan... Do vậy, vì nhu cầu kinh tế cấp thiết, một số quốc gia chấp nhận nộp cho Iran, một dạng ‘tiền mãi lộ', để có thể đi qua eo biển Hormuz.   Tuy nhiên, sẽ rất khó để hoàn toàn kiểm soát eo biển Hormuz, bởi vì theo luật biển của Liên Hiệp Quốc - công ước Montego năm 1982 về quyền tự do đi lại, không ai có thể đóng cửa một eo biển quốc tế. Ngay cả Thổ Nhĩ Kỳ, dù kiểm soát một eo biển còn lớn hơn cả Hormuz, cũng không thể đóng hoàn toàn. Vì vậy, về mặt pháp lý, lập trường của Iran là không hợp pháp, cho dù, ở một mức độ nào đó, bản thân cuộc chiến hiện nay mà Mỹ và Israel tiến hành mang tính không hợp pháp. Eo biển Hormuz cũng không phải là một công trình xây dựng như các kênh đào, nên Iran cũng không thể quản lý. Ngoài ra thì các tập đoàn bảo hiểm hàng hải cũng gây sức ép rất lớn đòi các tàu thuyền tránh xa những vùng khói lửa. Cho nên hiện chỉ có rất ít tàu chở hàng chịu hay được phép trả lệ phí cho Iran. Thực ra trả lệ phí cũng không là một giải pháp quá tệ bởi vì một số quốc gia như Indonesia và ngay cả Việt Nam muốn duy trì nguồn cung nhiên liệu nhất định, phần nào giúp giảm căng thẳng trước mắt, nhưng không giải quyết được vấn đề cốt lõi. Sau cùng giảm nhẹ các biện pháp phong tỏa eo biển Hormuz cũng là một quyết định cho phép Iran giảm bớt tác động của khủng hoảng hiện tại…». Từ eo biển Hormuz đến Malacca RFI :  Paul Tourret, xin một câu hỏi chót : Việc thu lệ phí ở eo biển Hormuz - dù mới chỉ là một đe dọa còn mơ hồ và như vừa nói, không thể kiểm soát hoàn toàn eo biển này, nhưng liệu tuyên bố của Teheran có tạo ra một tiền lệ nguy hiểm, tại những eo biển còn mang tính « chiến lược hơn » nữa ? Chẳng hạn như biển Malacca.   Paul Tourret : « Nguyên tắc cơ bản quyền tự do giao thương trên biển và các vùng biển quốc tế không thuộc chủ quyền của quốc gia nào, tàu thuyền phải được tự do di chuyển. Ngay cả ở bên trong hải phận của một quốc gia thì cũng vẫn tồn tại quyền ‘đi qua vô hại'. Nhờ đó, các eo biển như Malacca (giữa Indonesia, Malaysia và Singapore) luôn mở cho tàu thương mại đi lại tự do. Các quốc gia ven biển không có quyền kiểm soát hay cản trở dòng thương mại. Nếu Iran áp đặt kiểm soát như vậy, đó sẽ là một dạng kiểm soát trên thực tế, thậm chí có thể xem như một hình thức  « thu thuế bảo kê » đối với vận tải biển. Điều này chưa từng xảy ra và sẽ tạo ra một tiền lệ nguy hiểm. Tuy nhiên, nhiều khả năng Iran đang sử dụng điều này như một công cụ để gây sức ép đối với Mỹ, chứ không phải là một giải pháp lâu dài. Dù vậy, vấn đề này đặt ra một câu hỏi rất lớn về luật biển quốc tế : Trước mắt là eo biển Hormuz, nhưng liệu tình trạng tê liệt này một ngày nào đó có thể xảy ra tại các địa điểm chiến lược khác hay không ? Trong một số khu vực, điều này có thể xảy ra. Chẳng hạn ở Hồng Hải, eo biển Bab el-Mandeb, tình hình vốn đã rất phức tạp. Còn ở Đông Nam Á, eo biển Malacca hiện tại nguy cơ chưa lớn vì khu vực giữa Indonesia, Malaysia và Singapore vẫn rất ổn định. Nhưng trong trường hợp xảy ra căng thẳng giữa Trung Quốc và các nước láng giềng như Việt Nam, Malaysia hay Philippines, thì hoàn toàn có thể xuất hiện tình huống một quốc gia tìm cách kiểm soát tuyến hàng hải thương mại. Đây sẽ là một điều hoàn toàn mới kể từ sau Đệ nhị Thế chiến. Và nếu chẳng may kịch bản này xảy ra, đó sẽ là một xu hướng địa chính trị mới : Các quốc gia ven biển tìm cách kiểm soát không gian hàng hải của mình. Đối với khu vực Đông Nam Á, điều này sẽ là một vấn đề rất nghiêm trọng khi mà các bên cho rằng họ có quyền hành xử tùy ý trong vùng biển của mình ». RFI Việt ngữ xin chân thành cảm ơn Paul Tourret, giám đốc Học Viện Kinh Tế Hàng Hải ISEMAR. 

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Liên Hiệp Châu Âu đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Mar 30, 2026 9:00


Ngày 17/02/2026, Việt Nam bị Liên Hiệp Châu Âu đưa vào “danh sách đen” thuế. Quyết định này có thể khiến chi phí đầu tư từ các doanh nghiệp châu Âu gia tăng. Tuy nhiên, tác động lâu dài tới quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên Âu sẽ được hạn chế nếu Hà Nội cải thiện minh bạch và cơ chế trao đổi thông tin thuế. Việt Nam cũng khẳng định đã bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế, tài chính, quản trị doanh nghiệp. Tại sao Việt Nam lại bị đưa vào “danh sách đen” về thuế của Liên Âu, hiện có 10 nước, chủ yếu nằm ở vùng Caribê, Thái Bình Dương và cả Nga ? Danh sách được cập nhật hai lần một năm. Lần sửa đổi tiếp theo dự kiến ​​vào tháng 10/2026. Việt Nam cần có những biện pháp gì để có thể được rút ra khỏi danh sách trong lần cập nhất tới ? Nhà nghiên cứu-giảng viên Sébastien Laffitte, Đại học Cergy Paris (CY Cergy Paris Université), chuyên gia về thuế quốc tế, thuế doanh nghiệp và các thiên đường thuế, kiêm thành viên của Tổ chức Quan sát Thuế Châu Âu (EU Tax Observatory), trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Tháng 02/2026, Việt Nam bị đưa vào danh sách “thiên đường thuế” của Liên Hiệp Châu Âu. Dựa vào nhưng tiêu chí nào Liên Hiệp Châu Âu đưa một nước vào danh sách này ? Sébastien Laffitte : Có lẽ trước hết cần nói rõ rằng danh sách của Liên Hiệp Châu Âu không hoàn toàn là danh sách “thiên đường thuế”, mà đúng hơn là danh sách các quốc gia không hợp tác với Liên Hiệp Châu Âu trong các vấn đề liên quan đến thuế. Sự khác biệt chính nằm ở chỗ danh sách này chủ yếu là một công cụ ngoại giao kinh tế mà Liên Hiệp Châu Âu sử dụng để đàm phán với các nước thứ ba, nhằm thúc đẩy họ điều chỉnh chính sách thuế theo một hướng nhất định. Nếu các quốc gia đó không tuân thủ các tiêu chí của Liên Hiệp Châu Âu, họ có thể phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt. Tất cả những điều này nhằm thúc đẩy một mô hình quản trị thuế minh bạch và hiệu quả hơn. Đọc thêmLiên Âu hy vọng Việt Nam thực hiện triệt để cải cách hành chính để gia tăng hấp dẫn đối với đầu tư châu Âu Danh sách này được thiết lập từ năm 2017 và hiện bao gồm 10 quốc gia. Các quốc gia nằm trong “danh sách đen” thường là những hòn đảo nhỏ ở vùng biển Caribê hoặc Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trong danh sách này cũng có những quốc gia lớn hơn, chẳng hạn như Nga, và gần đây nhất là Việt Nam. Các tiêu chí được sử dụng để xác định việc đưa một quốc gia vào “danh sách đen” bao gồm mức độ minh bạch về thuế, tính công bằng của hệ thống thuế - tức là không tồn tại các cơ chế thuế khuyến khích hành vi trốn thuế một cách rõ ràng - cũng như việc triển khai các biện pháp chống trốn thuế. Trong số các tiêu chí này có một yêu cầu quan trọng liên quan đến việc quốc gia đó phải tuân thủ các tiêu chuẩn về trao đổi thông tin thuế theo yêu cầu của các nước khác. Chính dựa trên tiêu chí này mà Việt Nam bị đưa vào “danh sách đen” của Liên Hiệp Châu Âu, đặc biệt do còn thiếu các biện pháp bảo vệ tính bảo mật của thông tin, cũng như do thời gian mà cơ quan thuế Việt Nam cần để cung cấp thông tin thuế theo yêu cầu từ các nước thứ ba. Vì vậy, việc Việt Nam gần đây bị đưa vào danh sách này chủ yếu xuất phát từ vấn đề minh bạch thuế. RFI : Vậy quốc gia bị nhắm đến, ví dụ trong trường hợp này là Việt Nam, sẽ phải đối mặt với những hậu quả như thế nào ? Sébastien Laffitte : Cụ thể, Ủy Ban Châu Âu yêu cầu các quốc gia thành viên Liên Hiệp Châu Âu áp dụng một loạt biện pháp trừng phạt đối với những quốc gia nằm trong danh sách các nước không hợp tác về thuế. Ngoài ra, các nước thành viên cũng có thể triển khai những biện pháp trừng phạt riêng trong khuôn khổ luật pháp quốc gia của họ. Trước hết, một số biện pháp tối thiểu sẽ được áp dụng chung, sau đó từng quốc gia thành viên có quyền lựa chọn và thực hiện các biện pháp bổ sung mà họ cho là phù hợp. Đọc thêmEU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ? Nhìn chung, các biện pháp này nhằm tăng cường tính minh bạch và mức độ cảnh giác đối với các quốc gia nằm trong “danh sách đen”. Trước hết, một số quỹ viện trợ phát triển của Liên Hiệp Châu Âu sẽ không được phân bổ cho các quốc gia trong danh sách này. Thứ hai, các nước thành viên được yêu cầu áp dụng các biện pháp hành chính, bao gồm việc giám sát chặt chẽ hơn các giao dịch của công dân châu Âu - chẳng hạn như công dân Pháp - với các quốc gia trong “danh sách đen”, cũng như tăng cường kiểm toán thuế đối với các thực thể, tức là cá nhân hoặc doanh nghiệp, có liên hệ với những quốc gia này. Bên cạnh đó, các quốc gia thành viên Liên Âu cũng được khuyến nghị áp dụng các biện pháp lập pháp nhằm chống trốn thuế, chẳng hạn như khấu trừ thuế tại nguồn hoặc áp dụng các khoản thuế bổ sung đối với các giao dịch tài chính với những nước trong danh sách, trong đó có Việt Nam. Tóm lại, việc bị đưa vào danh sách này đồng nghĩa với việc phải đối mặt với một loạt biện pháp trừng phạt kinh tế do các quốc gia thuộc Liên Hiệp Châu Âu áp đặt. RFI : Giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam có Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA), có hiệu lực từ ngày 01/08/2020 và hiệp định bảo hộ đầu tư vẫn đang chờ được các nước Liên Âu phê chuẩn. Việc nằm trong “danh sách đen” sẽ tác động như thế nào đến các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, tại Việt Nam ? Sébastien Laffitte : Đây là một câu hỏi quan trọng. Mục đích của các biện pháp này là khiến các thực thể đến từ Liên Hiệp Châu Âu - đặc biệt là các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam - phải tuân thủ những quy định bổ sung, từ đó làm gia tăng chi phí khi đầu tư vào Việt Nam. Đó cũng chính là mục tiêu mà Liên Hiệp Châu Âu hướng tới. Thông qua “danh sách đen”, cùng với hiệu ứng “chỉ đích danh và lên án” (name and shame), Liên Âu gây sức ép để buộc các quốc gia bị xem là có chính sách thuế thiếu hợp tác hoặc cạnh tranh thuế quá mức phải điều chỉnh chính sách của họ để xóa bỏ hình ảnh tiêu cực này. Đồng thời, các biện pháp trừng phạt cũng nhắm tới các cá nhân và doanh nghiệp hoạt động tại những quốc gia đó nhằm hạn chế các hành vi cạnh tranh thuế gay gắt. Đọc thêmLuật sư Pháp và châu Âu tư vấn cho Việt Nam về EVFTA Tuy nhiên, Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển và không bị đưa vào danh sách vì các hành vi trốn thuế bất chính, mà chủ yếu do những vấn đề liên quan đến việc trao đổi thông tin thuế. Vì vậy, theo quan điểm của tôi, nhiều khả năng Việt Nam sẽ nhanh chóng khắc phục tình hình. Đây cũng là điều mà các đại diện của Việt Nam đã khẳng định trong các thông cáo báo chí được đưa ra sau thông báo của Liên Hiệp Châu Âu. Trong bối cảnh đó, những tác động tiêu cực có thể sẽ được hạn chế. Theo tôi, quan hệ kinh tế với Việt Nam nhiều khả năng sẽ không bị ảnh hưởng đáng kể, đặc biệt vì Việt Nam có vị thế kinh tế và cơ cấu rất khác so với phần lớn các nước còn lại trong danh sách - ngoại trừ Nga - vốn chủ yếu là những quốc đảo nhỏ ở khu vực Thái Bình Dương hoặc Caribê. Cuối cùng, theo quan điểm của tôi, “danh sách đen” của Liên Hiệp Châu Âu về các “thiên đường thuế” nên tập trung nhiều hơn vào những tiêu chí cụ thể liên quan đến nguy cơ trốn thuế và cạnh tranh thuế gay gắt, như tôi đã đề xuất trong các nghiên cứu của mình. RFI : Như ông vừa đề cập, một trong những tác động đầu tiên của các biện pháp trừng phạt là làm gia tăng chi phí đầu tư. Cụ thể, điều này có nghĩa là gì ? Sébastien Laffitte : Nói một cách đơn giản, khi một nhà đầu tư nước ngoài - chẳng hạn từ Pháp - đầu tư vào Việt Nam, giữa hai bên sẽ phát sinh nhiều giao dịch tài chính và kinh doanh. Khi một quốc gia bị đưa vào “danh sách đen”, các biện pháp trừng phạt có thể được áp dụng đối với những giao dịch này. Chẳng hạn, các cơ quan thuế có thể áp dụng các khoản thuế bổ sung đối với những giao dịch giữa chi nhánh hoặc công ty con của doanh nghiệp tại Việt Nam và công ty mẹ tại Pháp. Những biện pháp mang tính chất trừng phạt thuế như vậy sẽ làm gia tăng chi phí liên quan đến các hoạt động đầu tư và kinh doanh vào Việt Nam. Do đó, về tổng thể, việc một quốc gia nằm trong “danh sách đen” có thể khiến chi phí đầu tư vào quốc gia đó tăng lên. Đọc thêmViệt Nam và Liên Hiệp Châu Âu nâng quan hệ ngoại giao lên mức cao nhất RFI : Vậy Việt Nam nên làm thế nào để thoát khỏi danh sách này ? Sébastien Laffitte : Như tôi đã đề cập, danh sách này thực chất là một công cụ ngoại giao kinh tế của Bruxelles. Trên thực tế, Liên Hiệp Châu Âu luôn duy trì liên lạc với các quốc gia liên quan, cả trước khi họ bị đưa vào “danh sách đen”, trong thời gian họ nằm trong danh sách, cũng như trong quá trình xem xét việc đưa họ ra khỏi danh sách. Vì vậy, chắc chắn tồn tại các kênh trao đổi giữa chính quyền châu Âu và Việt Nam. Thông qua các cuộc đối thoại này, các quan chức Liên Hiệp Châu Âu có thể giải thích cho phía Việt Nam những tiêu chí và điều kiện cần thiết để được gỡ tên khỏi danh sách. Để được xóa khỏi “danh sách đen”, Việt Nam cần cải thiện chất lượng của cơ chế trao đổi thông tin thuế theo yêu cầu từ các quốc gia khác. Như đã nói, chính những hạn chế trong lĩnh vực này là lý do chủ yếu khiến Việt Nam bị đưa vào danh sách. Vì vậy, nếu Việt Nam tăng cường các biện pháp bảo đảm tính bảo mật của thông tin, đồng thời cải thiện chất lượng và tốc độ chia sẻ dữ liệu thuế, Việt Nam sẽ đáp ứng tốt hơn các tiêu chí đánh giá và từ đó có khả năng được đưa ra khỏi “danh sách đen”. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm nhà nghiên cứu-giảng viên Sébastien Lafitte, Đại học Cergy Paris, thành viên của Tổ chức Quan sát thuế Châu Âu (EU Tax Observatory).

Tạp chí Việt Nam
Liên Hiệp Châu Âu đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later Mar 30, 2026 9:00


Ngày 17/02/2026, Việt Nam bị Liên Hiệp Châu Âu đưa vào “danh sách đen” thuế. Quyết định này có thể khiến chi phí đầu tư từ các doanh nghiệp châu Âu gia tăng. Tuy nhiên, tác động lâu dài tới quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên Âu sẽ được hạn chế nếu Hà Nội cải thiện minh bạch và cơ chế trao đổi thông tin thuế. Việt Nam cũng khẳng định đã bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế, tài chính, quản trị doanh nghiệp. Tại sao Việt Nam lại bị đưa vào “danh sách đen” về thuế của Liên Âu, hiện có 10 nước, chủ yếu nằm ở vùng Caribê, Thái Bình Dương và cả Nga ? Danh sách được cập nhật hai lần một năm. Lần sửa đổi tiếp theo dự kiến ​​vào tháng 10/2026. Việt Nam cần có những biện pháp gì để có thể được rút ra khỏi danh sách trong lần cập nhất tới ? Nhà nghiên cứu-giảng viên Sébastien Laffitte, Đại học Cergy Paris (CY Cergy Paris Université), chuyên gia về thuế quốc tế, thuế doanh nghiệp và các thiên đường thuế, kiêm thành viên của Tổ chức Quan sát Thuế Châu Âu (EU Tax Observatory), trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Tháng 02/2026, Việt Nam bị đưa vào danh sách “thiên đường thuế” của Liên Hiệp Châu Âu. Dựa vào nhưng tiêu chí nào Liên Hiệp Châu Âu đưa một nước vào danh sách này ? Sébastien Laffitte : Có lẽ trước hết cần nói rõ rằng danh sách của Liên Hiệp Châu Âu không hoàn toàn là danh sách “thiên đường thuế”, mà đúng hơn là danh sách các quốc gia không hợp tác với Liên Hiệp Châu Âu trong các vấn đề liên quan đến thuế. Sự khác biệt chính nằm ở chỗ danh sách này chủ yếu là một công cụ ngoại giao kinh tế mà Liên Hiệp Châu Âu sử dụng để đàm phán với các nước thứ ba, nhằm thúc đẩy họ điều chỉnh chính sách thuế theo một hướng nhất định. Nếu các quốc gia đó không tuân thủ các tiêu chí của Liên Hiệp Châu Âu, họ có thể phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt. Tất cả những điều này nhằm thúc đẩy một mô hình quản trị thuế minh bạch và hiệu quả hơn. Đọc thêmLiên Âu hy vọng Việt Nam thực hiện triệt để cải cách hành chính để gia tăng hấp dẫn đối với đầu tư châu Âu Danh sách này được thiết lập từ năm 2017 và hiện bao gồm 10 quốc gia. Các quốc gia nằm trong “danh sách đen” thường là những hòn đảo nhỏ ở vùng biển Caribê hoặc Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trong danh sách này cũng có những quốc gia lớn hơn, chẳng hạn như Nga, và gần đây nhất là Việt Nam. Các tiêu chí được sử dụng để xác định việc đưa một quốc gia vào “danh sách đen” bao gồm mức độ minh bạch về thuế, tính công bằng của hệ thống thuế - tức là không tồn tại các cơ chế thuế khuyến khích hành vi trốn thuế một cách rõ ràng - cũng như việc triển khai các biện pháp chống trốn thuế. Trong số các tiêu chí này có một yêu cầu quan trọng liên quan đến việc quốc gia đó phải tuân thủ các tiêu chuẩn về trao đổi thông tin thuế theo yêu cầu của các nước khác. Chính dựa trên tiêu chí này mà Việt Nam bị đưa vào “danh sách đen” của Liên Hiệp Châu Âu, đặc biệt do còn thiếu các biện pháp bảo vệ tính bảo mật của thông tin, cũng như do thời gian mà cơ quan thuế Việt Nam cần để cung cấp thông tin thuế theo yêu cầu từ các nước thứ ba. Vì vậy, việc Việt Nam gần đây bị đưa vào danh sách này chủ yếu xuất phát từ vấn đề minh bạch thuế. RFI : Vậy quốc gia bị nhắm đến, ví dụ trong trường hợp này là Việt Nam, sẽ phải đối mặt với những hậu quả như thế nào ? Sébastien Laffitte : Cụ thể, Ủy Ban Châu Âu yêu cầu các quốc gia thành viên Liên Hiệp Châu Âu áp dụng một loạt biện pháp trừng phạt đối với những quốc gia nằm trong danh sách các nước không hợp tác về thuế. Ngoài ra, các nước thành viên cũng có thể triển khai những biện pháp trừng phạt riêng trong khuôn khổ luật pháp quốc gia của họ. Trước hết, một số biện pháp tối thiểu sẽ được áp dụng chung, sau đó từng quốc gia thành viên có quyền lựa chọn và thực hiện các biện pháp bổ sung mà họ cho là phù hợp. Đọc thêmEU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ? Nhìn chung, các biện pháp này nhằm tăng cường tính minh bạch và mức độ cảnh giác đối với các quốc gia nằm trong “danh sách đen”. Trước hết, một số quỹ viện trợ phát triển của Liên Hiệp Châu Âu sẽ không được phân bổ cho các quốc gia trong danh sách này. Thứ hai, các nước thành viên được yêu cầu áp dụng các biện pháp hành chính, bao gồm việc giám sát chặt chẽ hơn các giao dịch của công dân châu Âu - chẳng hạn như công dân Pháp - với các quốc gia trong “danh sách đen”, cũng như tăng cường kiểm toán thuế đối với các thực thể, tức là cá nhân hoặc doanh nghiệp, có liên hệ với những quốc gia này. Bên cạnh đó, các quốc gia thành viên Liên Âu cũng được khuyến nghị áp dụng các biện pháp lập pháp nhằm chống trốn thuế, chẳng hạn như khấu trừ thuế tại nguồn hoặc áp dụng các khoản thuế bổ sung đối với các giao dịch tài chính với những nước trong danh sách, trong đó có Việt Nam. Tóm lại, việc bị đưa vào danh sách này đồng nghĩa với việc phải đối mặt với một loạt biện pháp trừng phạt kinh tế do các quốc gia thuộc Liên Hiệp Châu Âu áp đặt. RFI : Giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam có Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA), có hiệu lực từ ngày 01/08/2020 và hiệp định bảo hộ đầu tư vẫn đang chờ được các nước Liên Âu phê chuẩn. Việc nằm trong “danh sách đen” sẽ tác động như thế nào đến các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, tại Việt Nam ? Sébastien Laffitte : Đây là một câu hỏi quan trọng. Mục đích của các biện pháp này là khiến các thực thể đến từ Liên Hiệp Châu Âu - đặc biệt là các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam - phải tuân thủ những quy định bổ sung, từ đó làm gia tăng chi phí khi đầu tư vào Việt Nam. Đó cũng chính là mục tiêu mà Liên Hiệp Châu Âu hướng tới. Thông qua “danh sách đen”, cùng với hiệu ứng “chỉ đích danh và lên án” (name and shame), Liên Âu gây sức ép để buộc các quốc gia bị xem là có chính sách thuế thiếu hợp tác hoặc cạnh tranh thuế quá mức phải điều chỉnh chính sách của họ để xóa bỏ hình ảnh tiêu cực này. Đồng thời, các biện pháp trừng phạt cũng nhắm tới các cá nhân và doanh nghiệp hoạt động tại những quốc gia đó nhằm hạn chế các hành vi cạnh tranh thuế gay gắt. Đọc thêmLuật sư Pháp và châu Âu tư vấn cho Việt Nam về EVFTA Tuy nhiên, Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển và không bị đưa vào danh sách vì các hành vi trốn thuế bất chính, mà chủ yếu do những vấn đề liên quan đến việc trao đổi thông tin thuế. Vì vậy, theo quan điểm của tôi, nhiều khả năng Việt Nam sẽ nhanh chóng khắc phục tình hình. Đây cũng là điều mà các đại diện của Việt Nam đã khẳng định trong các thông cáo báo chí được đưa ra sau thông báo của Liên Hiệp Châu Âu. Trong bối cảnh đó, những tác động tiêu cực có thể sẽ được hạn chế. Theo tôi, quan hệ kinh tế với Việt Nam nhiều khả năng sẽ không bị ảnh hưởng đáng kể, đặc biệt vì Việt Nam có vị thế kinh tế và cơ cấu rất khác so với phần lớn các nước còn lại trong danh sách - ngoại trừ Nga - vốn chủ yếu là những quốc đảo nhỏ ở khu vực Thái Bình Dương hoặc Caribê. Cuối cùng, theo quan điểm của tôi, “danh sách đen” của Liên Hiệp Châu Âu về các “thiên đường thuế” nên tập trung nhiều hơn vào những tiêu chí cụ thể liên quan đến nguy cơ trốn thuế và cạnh tranh thuế gay gắt, như tôi đã đề xuất trong các nghiên cứu của mình. RFI : Như ông vừa đề cập, một trong những tác động đầu tiên của các biện pháp trừng phạt là làm gia tăng chi phí đầu tư. Cụ thể, điều này có nghĩa là gì ? Sébastien Laffitte : Nói một cách đơn giản, khi một nhà đầu tư nước ngoài - chẳng hạn từ Pháp - đầu tư vào Việt Nam, giữa hai bên sẽ phát sinh nhiều giao dịch tài chính và kinh doanh. Khi một quốc gia bị đưa vào “danh sách đen”, các biện pháp trừng phạt có thể được áp dụng đối với những giao dịch này. Chẳng hạn, các cơ quan thuế có thể áp dụng các khoản thuế bổ sung đối với những giao dịch giữa chi nhánh hoặc công ty con của doanh nghiệp tại Việt Nam và công ty mẹ tại Pháp. Những biện pháp mang tính chất trừng phạt thuế như vậy sẽ làm gia tăng chi phí liên quan đến các hoạt động đầu tư và kinh doanh vào Việt Nam. Do đó, về tổng thể, việc một quốc gia nằm trong “danh sách đen” có thể khiến chi phí đầu tư vào quốc gia đó tăng lên. Đọc thêmViệt Nam và Liên Hiệp Châu Âu nâng quan hệ ngoại giao lên mức cao nhất RFI : Vậy Việt Nam nên làm thế nào để thoát khỏi danh sách này ? Sébastien Laffitte : Như tôi đã đề cập, danh sách này thực chất là một công cụ ngoại giao kinh tế của Bruxelles. Trên thực tế, Liên Hiệp Châu Âu luôn duy trì liên lạc với các quốc gia liên quan, cả trước khi họ bị đưa vào “danh sách đen”, trong thời gian họ nằm trong danh sách, cũng như trong quá trình xem xét việc đưa họ ra khỏi danh sách. Vì vậy, chắc chắn tồn tại các kênh trao đổi giữa chính quyền châu Âu và Việt Nam. Thông qua các cuộc đối thoại này, các quan chức Liên Hiệp Châu Âu có thể giải thích cho phía Việt Nam những tiêu chí và điều kiện cần thiết để được gỡ tên khỏi danh sách. Để được xóa khỏi “danh sách đen”, Việt Nam cần cải thiện chất lượng của cơ chế trao đổi thông tin thuế theo yêu cầu từ các quốc gia khác. Như đã nói, chính những hạn chế trong lĩnh vực này là lý do chủ yếu khiến Việt Nam bị đưa vào danh sách. Vì vậy, nếu Việt Nam tăng cường các biện pháp bảo đảm tính bảo mật của thông tin, đồng thời cải thiện chất lượng và tốc độ chia sẻ dữ liệu thuế, Việt Nam sẽ đáp ứng tốt hơn các tiêu chí đánh giá và từ đó có khả năng được đưa ra khỏi “danh sách đen”. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm nhà nghiên cứu-giảng viên Sébastien Lafitte, Đại học Cergy Paris, thành viên của Tổ chức Quan sát thuế Châu Âu (EU Tax Observatory).

TẠP CHÍ VĂN HÓA
Du lịch Pháp : « Vô địch » về số lượt du khách quốc tế, nhưng thua kém về doanh thu

TẠP CHÍ VĂN HÓA

Play Episode Listen Later Mar 27, 2026 12:33


Theo thông báo hôm 19/02/2026 của bộ Kinh Tế Pháp, cơ quan chủ quản lĩnh vực du lịch, trong cả năm 2025, có 102 triệu lượt khách quốc tế đến Pháp, tăng 2 triệu so với năm 2024. Paris một lần nữa khẳng định được vị thế là điểm đến được du khách ghé thăm nhiều nhất thế giới. 70% du khách quốc tế đến Pháp du lịch tập trung về « kinh đô ánh sáng » Paris và miền nam Pháp. Doanh thu từ du khách quốc tế của Pháp cũng tăng 9%, đạt 77,5 tỷ euro, một con số cao kỷ lục. Tính trung bình, mỗi khách chi tiêu 766 euro trong 1 kỳ nghỉ ở Pháp. Tuy nhiên, nếu so sánh với nước láng giềng phía nam Tây Ban Nha, một đối thủ đáng gờm đang theo sát nút Pháp, với 97 triệu lượt khách, thì doanh thu của Pháp còn « thua xa » Tây Ban Nha. Theo ước tính của Atout France, Cơ quan xúc tiến và phát triển du lịch Pháp, đặc trách quảng bá du lịch Pháp với du khách nước ngoài, doanh thu của Tây Ban Nha là 105 tỷ euro, cao hơn Pháp khoảng 35%. Mục tiêu bộ Kinh Tế Pháp đề ra là đạt doanh thu 100 tỷ euro từ du khách quốc tế vào năm 2030. Theo Adam Oubuih, tổng giám đốc của Atout France, được trang mạng đài France Bleu trích dẫn, nỗ lực đa dạng hóa là cần thiết để « giới thiệu tất cả những gì nước Pháp có thể cung cấp », và Atout France « đang nỗ lực quảng bá di sản, du lịch kinh doanh, du lịch rượu vang và du lịch thể thao, trên tất cả các vùng của nước Pháp lục địa và các vùng lãnh thổ hải ngoại » của Pháp. Để hiểu thêm về thực trạng du lịch Pháp, RFI Tiếng Việt hôm 20/03 phỏng vấn giáo sư địa lý Jean-René Morice, đại học Angers, chủ tịch INNTO France, mạng lưới các các viện và trường đại học tại Pháp chuyên đào tạo và nghiên cứu về du lịch. RFI : Nước pháp ngày càng thu hút du khách quốc tế. Theo ông, đâu là những nét hấp dẫn khách ngoại quốc đến Pháp ? Yếu tố nào giúp Pháp thành công hơn các nước khác ? Jean-René Morice : Quả thực Pháp là một điểm đến rất phổ biến trên thế giới, được tìm kiếm rất nhiều, và thu hút đông đảo du khách. Năm nay, số liệu do Atout France công bố cho thấy có 102 triệu lượt du khách quốc tế đến Pháp. Sự năng động này thực ra đã có từ rất lâu rồi, bắt đầu từ những năm 1980. Nhưng dẫu sao thì vị thế của Pháp cũng tăng mạnh, Pháp trở thành điểm đến du lịch. Các phân tích cho thấy những điều du khách chú ý ở các điểm đến chủ yếu vẫn mang tính văn hóa. Cụ thể, 56% du khách quốc tế đến sân bay Roissy, khi được khảo sát về lý do chọn nước Pháp để đến du lịch, trên hết đã nói đến hình ảnh văn hóa Pháp theo nghĩa rộng, đặc biệt là ẩm thực, nhưng cũng bao gồm văn hóa, di sản, bảo tàng và cảnh quan. Đó là những lý do lựa chọn hàng đầu. Ngoài ra còn có những khía cạnh khác, đặc biệt là với du khách đến từ châu Á, nhóm du khách đang tăng mạnh, thì họ quan tâm đến một số nội dung tương đối mới, ví dụ như du lịch mua sắm. Mảng này cũng đóng góp rất nhiều. Nhưng nhìn chung, Pháp vẫn là một điểm đến với hình ảnh văn hóa chiếm ưu thế. RFI : Kỷ lục 102 triệu lượt khách quốc tế đến Pháp trong năm 2025 phần nào có được là nhờ ảnh hưởng của Thế Vận Hội Mùa Hè Paris 2024 và việc mở cửa trở lại nhà thờ Đức Bà Paris ? Jean-René Morice : Cũng có thể là như vậy. Cá nhân tôi chưa thực hiện một nghiên cứu cụ thể nào về khía cạnh này, nhưng tôi cũng nghĩ rằng kết quả này chủ yếu là do bối cảnh toàn cầu. Điều đó có nghĩa là xu hướng du khách tăng như hiện nay không chỉ là ở riêng Pháp. Sự gia tăng này cũng được ghi nhận khắp nơi trên thế giới. Chúng ta vẫn đang trong thời kỳ hậu Covid, với sự hồi phục của các hoạt động tương đương, hoặc thậm chí cao hơn một chút so với thời kỳ tiền Covid năm 2019. Sự phục hồi đang diễn ra, và theo tôi, thì con số này tới đây sẽ còn tiếp tục tăng, đặc biệt là với nhóm khách du lịch đến từ châu Á, dù hiện vẫn còn khá khiêm tốn, nhưng cũng đang trên đà tăng. Hiện nay chúng ta đang ở trong một bối cảnh phức tạp, với chiến tranh ở Ukraina và xung đột, đặc biệt là tình hình các nước Ả Rập ở Vùng Vịnh. Chúng ta có thể thấy rõ ràng là xung đột đang có tác động đến các hoạt động của người dân Vùng Vịnh, trong đó có du lịch, nhưng rõ ràng là ở nhiều nước, như Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, du lịch có sự phát triển bùng nổ. Quả thực là du lịch đã trở thành một hiện tượng toàn cầu, và sự toàn cầu hóa này đương nhiên cũng khiến có thêm nhiều người đến du lịch ở Pháp. Thế nên, không phải chỉ là nhờ Pháp nỗ lực mà còn là nhờ bối cảnh toàn cầu có lợi cho Pháp. RFI : Khách du lịch đến từ quốc gia nào là đông nhất nhất ? Chủ yếu đó là khách châu Á, châu Âu hay người Mỹ ? Jean-René Morice : Du khách chủ yếu là người châu Âu. Mọi người cứ gọi là du khách quốc tế, nhưng thực ra chủ yếu vẫn là khách đến từ những nước xung quanh. Du khách đến nhiều nhất là từ Anh, sau đó đến người Đức. Cũng có nhiều du khách Hà Lan. Nếu tôi nhớ không nhầm thì khoảng 46% khách du lịch quốc tế hiện nay đến từ châu Âu. Cũng có nhiều khách đến từ các nước khác. Có thể nói đến khách Mỹ, nhiều người Mỹ đi du lịch châu Âu và đặc biệt là đến Pháp. Rồi còn có khách châu Á, ngày càng có nhiều khách đến từ châu Á, và sau đó đặc biệt là du khách đến từ các quốc gia vùng Vịnh. RFI : Mặc dù thu hút tới 102 triệu du khách quốc tế, đông nhất thế giới, nhưng Pháp lại không phải nhà vô địch về doanh thu từ du lịch, ví dụ như thấp hơn nhiều so với nước láng giềng ở phía nam là Tây Ban Nha, cũng một đối thủ tại châu Âu của Pháp trong ngành du lịch. Có phải đó là do mức chi tiêu của du khách tại Pháp không thật là cao ? Jean-René Morice : Đây đúng là một vấn đề lớn của nước Pháp. Chính vì thế, bây giờ chúng ta phải thực sự cân nhắc. Liệu chúng ta có nên tiếp tục xác định các nước là điểm đến du lịch toàn cầu, hay thậm chí ở cấp độ các địa điểm du lịch, ví dụ như những lâu đài, cung điện hay bảo tàng như bảo tàng Louvre, cung điện Versailles, nữa hay không ? Liệu chúng ta có nên tiếp tục cứ tập trung vào xét dựa theo số lượng khách đến tham quan hay không ? Có lẽ là không, bởi vì du lịch cũng là một hoạt động mang tính xã hội, là sự gặp gỡ giao lưu với người khác một cách có nghệ thuật. Không thể phủ nhận rằng du lịch là một yếu tố quan trọng và có khía cạnh liên văn hóa rất rõ rệt. Thế nhưng, chúng ta có thể thấy rõ ràng là ngoài khía cạnh gặp gỡ và hoạt động mang tính xã hội, thì du lịch vẫn là hoạt động mang tính kinh tế. Và yếu tố kinh tế này chính là doanh thu được tạo ra từ các hoạt động du lịch. Chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng Tây Ban Nha đang dẫn đầu về doanh thu du lịch, nhưng Hoa Kỳ cũng vậy, và Hoa Kỳ còn dẫn trước Pháp rất xa. Pháp hiện giờ chỉ đứng thứ 3 hoặc thứ 4 thế giới về lợi ích kinh tế mà du lịch mang lại. Chúng ta có thể thấy rõ Pháp chắc chắn là một điểm đến du lịch hàng đầu về các hoạt động và số lượng du khách, nhúng ta cũng thấy rằng thời gian lưu trú của khách tại Pháp thường rất ngắn. Điểm độc đáo của Pháp là Pháp nằm ở vị trí trung tâm ở châu Âu. Do đó, khi du khách châu Âu quá cảnh qua Pháp, ví dụ, một du khách Bỉ muốn đến Tây Ban Nha thì sẽ đi bằng ô tô, sẽ quá cảnh qua Pháp, và người này sẽ được tính là một lượt khách lưu trú tại Pháp. Sau đó, họ sẽ dành 8-9 ngày ở Tây Ban Nha. Rồi trên đường về, họ sẽ lại đi qua Pháp, lại được tính là thêm một lượt khách lưu trú, nhưng mỗi lần chỉ 1-2 đêm tại Pháp. Kết quả là vị khách du lịch người Bỉ này đã thực hiện một chuyến đi du lịch gồm 3 lần lưu trú riêng biệt : 2 lần ở Pháp và 1 lần ở Tây Ban Nha. Thế nhưng, xét về số đêm lưu trú, thì trong chuyến đi, tổng cộng họ nghỉ tại Tây Ban Nha 8 đêm trong khi Pháp chỉ được có 2-3 đêm thôi.  RFI : Đó là lý do nhiều người cho rằng Pháp là một nước mà du khách quốc tế đi qua để đến nước khác, một quốc gia trung chuyển, quá cảnh, hơn là một điểm đến du lịch thực thụ, hoặc một nơi tham quan chính ? Jean-René Morice : Thực ra thì Pháp vẫn là một quốc gia điểm đến. Điểm đặc biệt của người Pháp là họ thường đi nghỉ ngay chính tại nước Pháp. Người ta gọi đó là một nền du lịch nội địa, nền du lịch quốc gia rất mạnh, điều này cũng có nghĩa là hoạt động du lịch ở Pháp không chỉ thu hút khách quốc tế mà cả khách trong nước, cho phép Pháp vẫn là một điểm đến tham quan chính, hoặc ít nhất là Pháp cũng là một nước mà du lịch là một lĩnh vực quan trọng. Nhưng cũng đúng là có rất nhiều du khách quá cảnh để sang nước khác, bởi vì Pháp thực sự là một trung tâm trung chuyển hàng không, nhất là đối với du khách từ châu Á hoặc các nơi khác, những người sẽ quá cảnh qua Paris chẳng hạn, và sau đó tiếp tục khám phá phần còn lại của châu Âu. Pháp nằm ở trung tâm của châu Âu nên là một điểm trung chuyển quan trọng, với rất đông người quá cảnh. Nhưng mà dẫu sao thì Pháp cũng vẫn là một điểm đến phổ biến, bởi vì có đến 102 triệu lượt khách lưu trú, cho dù chỉ là những kỳ nghỉ rất ngắn. Vì thế, một trong những thách thức mà bộ trưởng Du Lịch Pháp, Serge Papin, và Atout France, đang giải quyết hiện nay là làm thế nào để doanh thu cũng tăng. Nói cách khác là làm thế nào để đưa những chuyến du lịch ngắn này trở thành những chuyến du lịch dài hơn và qua đó khẳng định vị thế của Pháp như một điểm đến du lịch. RFI : Nhóm du khách nào chi tiêu nhiều nhất khi du lịch ở Pháp ? Jean-René Morice : Tôi không có số liệu chính xác, phải nói thành thật là như vậy. Nhưng tôi biết rằng người Mỹ có mức chi tiêu trung bình khá cao. Tôi cũng cho rằng đó là nhóm những du khách đến từ vùng Vịnh, và những nhóm du khách quan tâm đến hàng cao cấp, xa xỉ, nhất là khách châu Á. Họ thường có mức chi tiêu trung bình cao hơn một chút so với khách du lịch châu Âu. Người châu Âu thường có xu hướng đi du lịch bằng ô tô và chọn các loại hình chỗ ở khác, ví dụ các khu cắm trại ngoài trời. Chúng tôi biết là khách du lịch đến từ những nước xa hơn và nhất là quan tâm nhiều đến những thứ xa hoa, sang trọng, thì chi tiêu nhiều hơn. Lĩnh vực xa xỉ phẩm cũng là nét đặc biệt của Pháp với tư cách là điểm đến du lịch, nhờ thế mà Pháp có thể sẽ tạo được doanh thu cao hơn. RFI : Chính phủ Pháp có chiến lược gì để duy trì vị trí của Pháp về du lịch ? Jean-René Morice : Thực ra là chiến lược này đã được thực hiện trong một thời gian khá dài, đặc biệt là từ năm 2015. Khi đó, có nhiều quyết định đã được đưa ra ở Pháp, nhất là việc xếp ngành du lịch vào bộ Kinh Tế như hiện nay. Trước đây, ngành du lịch trực thuộc bộ Ngoại Giao. Như vậy là chúng ta có thể thấy rõ là Pháp đã nhận thức được là việc gây ảnh hưởng không phải lúc nào cũng có thể làm từ nước ngoài, hoạt động du lịch phải được thực hiện ngay ở Pháp chứ không phải từ bên ngoài Pháp. Vì vậy, rất nhiều công việc đã được thực hiện để Pháp được quốc tế trông thấy rõ hơn, tập trung vào việc cải thiện khả năng đón tiếp và chất lượng, tiếp tục đà phát triển. Ví dụ, chúng ta có thể thấy rằng chiến lược Grand Paris (Đại Paris) ngày nay, với hệ thống giao thông cho phép kết nối mọi ngóc ngách của vùng Paris trong thời gian rất ngắn, là một phần của chiến lược này. Du lịch không chỉ đơn thuần là một yếu tố bên ngoài hoặc có thể tách rời khỏi đời sống của các vùng lãnh thổ hoặc các địa phương. Đó là những gì vừa để người dân địa phương được trải nghiệm, mà cũng là để phục vụ du lịch, hoặc ít nhất là liên quan đến ngành du lịch, ví dụ việc kết nối giao thông giữa sân bay Roissy (ở ngoại ô Paris) và trung tâm thành phố. Đã có rất nhiều việc xây dựng, sửa chữa được thực hiện để kết nối Roissy và trung tâm thành phố, và đến nay việc đi lại đã rất dễ dàng. Pháp cũng đã muốn cải thiện một số vấn đề, đặc biệt là về việc xử lý hồ sơ xin thị thực visa đối với khách đến từ một số nước, đặc biệt là cấp visa trong vòng 48 giờ. Đây thực ra là mong muốn đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khách được nhập cảnh vào Pháp, và không biến thủ tục này thành một quy trình hạn chế khả năng khách đến Pháp. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đây không phải là vấn đề của riêng Pháp, nhưng ví dụ khi nhìn vào bảo tàng Louvre hay cung điện Versailles, chúng ta thấy cần có chiến lược cải thiện, nâng cấp, nhất là về số hóa và trí tuệ nhân tạo. Ngoài ra còn là vấn đề phát triển bền vững. Pháp vẫn còn rất nhiều việc phải làm để cải thiện nội dụng, chất lượng, để đón tiếp du khách nước ngoài được tốt hơn. RFI chân thành cảm ơn ông Jean-René Morice, chủ tịch INNTO France, mạng lưới các viện và trường đại học đào tạo và nghiên cứu về du lịch, đã tham gia chương trình.

Tạp chí văn hóa
Du lịch Pháp : « Vô địch » về số lượt du khách quốc tế, nhưng thua kém về doanh thu

Tạp chí văn hóa

Play Episode Listen Later Mar 27, 2026 12:33


Theo thông báo hôm 19/02/2026 của bộ Kinh Tế Pháp, cơ quan chủ quản lĩnh vực du lịch, trong cả năm 2025, có 102 triệu lượt khách quốc tế đến Pháp, tăng 2 triệu so với năm 2024. Paris một lần nữa khẳng định được vị thế là điểm đến được du khách ghé thăm nhiều nhất thế giới. 70% du khách quốc tế đến Pháp du lịch tập trung về « kinh đô ánh sáng » Paris và miền nam Pháp. Doanh thu từ du khách quốc tế của Pháp cũng tăng 9%, đạt 77,5 tỷ euro, một con số cao kỷ lục. Tính trung bình, mỗi khách chi tiêu 766 euro trong 1 kỳ nghỉ ở Pháp. Tuy nhiên, nếu so sánh với nước láng giềng phía nam Tây Ban Nha, một đối thủ đáng gờm đang theo sát nút Pháp, với 97 triệu lượt khách, thì doanh thu của Pháp còn « thua xa » Tây Ban Nha. Theo ước tính của Atout France, Cơ quan xúc tiến và phát triển du lịch Pháp, đặc trách quảng bá du lịch Pháp với du khách nước ngoài, doanh thu của Tây Ban Nha là 105 tỷ euro, cao hơn Pháp khoảng 35%. Mục tiêu bộ Kinh Tế Pháp đề ra là đạt doanh thu 100 tỷ euro từ du khách quốc tế vào năm 2030. Theo Adam Oubuih, tổng giám đốc của Atout France, được trang mạng đài France Bleu trích dẫn, nỗ lực đa dạng hóa là cần thiết để « giới thiệu tất cả những gì nước Pháp có thể cung cấp », và Atout France « đang nỗ lực quảng bá di sản, du lịch kinh doanh, du lịch rượu vang và du lịch thể thao, trên tất cả các vùng của nước Pháp lục địa và các vùng lãnh thổ hải ngoại » của Pháp. Để hiểu thêm về thực trạng du lịch Pháp, RFI Tiếng Việt hôm 20/03 phỏng vấn giáo sư địa lý Jean-René Morice, đại học Angers, chủ tịch INNTO France, mạng lưới các các viện và trường đại học tại Pháp chuyên đào tạo và nghiên cứu về du lịch. RFI : Nước pháp ngày càng thu hút du khách quốc tế. Theo ông, đâu là những nét hấp dẫn khách ngoại quốc đến Pháp ? Yếu tố nào giúp Pháp thành công hơn các nước khác ? Jean-René Morice : Quả thực Pháp là một điểm đến rất phổ biến trên thế giới, được tìm kiếm rất nhiều, và thu hút đông đảo du khách. Năm nay, số liệu do Atout France công bố cho thấy có 102 triệu lượt du khách quốc tế đến Pháp. Sự năng động này thực ra đã có từ rất lâu rồi, bắt đầu từ những năm 1980. Nhưng dẫu sao thì vị thế của Pháp cũng tăng mạnh, Pháp trở thành điểm đến du lịch. Các phân tích cho thấy những điều du khách chú ý ở các điểm đến chủ yếu vẫn mang tính văn hóa. Cụ thể, 56% du khách quốc tế đến sân bay Roissy, khi được khảo sát về lý do chọn nước Pháp để đến du lịch, trên hết đã nói đến hình ảnh văn hóa Pháp theo nghĩa rộng, đặc biệt là ẩm thực, nhưng cũng bao gồm văn hóa, di sản, bảo tàng và cảnh quan. Đó là những lý do lựa chọn hàng đầu. Ngoài ra còn có những khía cạnh khác, đặc biệt là với du khách đến từ châu Á, nhóm du khách đang tăng mạnh, thì họ quan tâm đến một số nội dung tương đối mới, ví dụ như du lịch mua sắm. Mảng này cũng đóng góp rất nhiều. Nhưng nhìn chung, Pháp vẫn là một điểm đến với hình ảnh văn hóa chiếm ưu thế. RFI : Kỷ lục 102 triệu lượt khách quốc tế đến Pháp trong năm 2025 phần nào có được là nhờ ảnh hưởng của Thế Vận Hội Mùa Hè Paris 2024 và việc mở cửa trở lại nhà thờ Đức Bà Paris ? Jean-René Morice : Cũng có thể là như vậy. Cá nhân tôi chưa thực hiện một nghiên cứu cụ thể nào về khía cạnh này, nhưng tôi cũng nghĩ rằng kết quả này chủ yếu là do bối cảnh toàn cầu. Điều đó có nghĩa là xu hướng du khách tăng như hiện nay không chỉ là ở riêng Pháp. Sự gia tăng này cũng được ghi nhận khắp nơi trên thế giới. Chúng ta vẫn đang trong thời kỳ hậu Covid, với sự hồi phục của các hoạt động tương đương, hoặc thậm chí cao hơn một chút so với thời kỳ tiền Covid năm 2019. Sự phục hồi đang diễn ra, và theo tôi, thì con số này tới đây sẽ còn tiếp tục tăng, đặc biệt là với nhóm khách du lịch đến từ châu Á, dù hiện vẫn còn khá khiêm tốn, nhưng cũng đang trên đà tăng. Hiện nay chúng ta đang ở trong một bối cảnh phức tạp, với chiến tranh ở Ukraina và xung đột, đặc biệt là tình hình các nước Ả Rập ở Vùng Vịnh. Chúng ta có thể thấy rõ ràng là xung đột đang có tác động đến các hoạt động của người dân Vùng Vịnh, trong đó có du lịch, nhưng rõ ràng là ở nhiều nước, như Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, du lịch có sự phát triển bùng nổ. Quả thực là du lịch đã trở thành một hiện tượng toàn cầu, và sự toàn cầu hóa này đương nhiên cũng khiến có thêm nhiều người đến du lịch ở Pháp. Thế nên, không phải chỉ là nhờ Pháp nỗ lực mà còn là nhờ bối cảnh toàn cầu có lợi cho Pháp. RFI : Khách du lịch đến từ quốc gia nào là đông nhất nhất ? Chủ yếu đó là khách châu Á, châu Âu hay người Mỹ ? Jean-René Morice : Du khách chủ yếu là người châu Âu. Mọi người cứ gọi là du khách quốc tế, nhưng thực ra chủ yếu vẫn là khách đến từ những nước xung quanh. Du khách đến nhiều nhất là từ Anh, sau đó đến người Đức. Cũng có nhiều du khách Hà Lan. Nếu tôi nhớ không nhầm thì khoảng 46% khách du lịch quốc tế hiện nay đến từ châu Âu. Cũng có nhiều khách đến từ các nước khác. Có thể nói đến khách Mỹ, nhiều người Mỹ đi du lịch châu Âu và đặc biệt là đến Pháp. Rồi còn có khách châu Á, ngày càng có nhiều khách đến từ châu Á, và sau đó đặc biệt là du khách đến từ các quốc gia vùng Vịnh. RFI : Mặc dù thu hút tới 102 triệu du khách quốc tế, đông nhất thế giới, nhưng Pháp lại không phải nhà vô địch về doanh thu từ du lịch, ví dụ như thấp hơn nhiều so với nước láng giềng ở phía nam là Tây Ban Nha, cũng một đối thủ tại châu Âu của Pháp trong ngành du lịch. Có phải đó là do mức chi tiêu của du khách tại Pháp không thật là cao ? Jean-René Morice : Đây đúng là một vấn đề lớn của nước Pháp. Chính vì thế, bây giờ chúng ta phải thực sự cân nhắc. Liệu chúng ta có nên tiếp tục xác định các nước là điểm đến du lịch toàn cầu, hay thậm chí ở cấp độ các địa điểm du lịch, ví dụ như những lâu đài, cung điện hay bảo tàng như bảo tàng Louvre, cung điện Versailles, nữa hay không ? Liệu chúng ta có nên tiếp tục cứ tập trung vào xét dựa theo số lượng khách đến tham quan hay không ? Có lẽ là không, bởi vì du lịch cũng là một hoạt động mang tính xã hội, là sự gặp gỡ giao lưu với người khác một cách có nghệ thuật. Không thể phủ nhận rằng du lịch là một yếu tố quan trọng và có khía cạnh liên văn hóa rất rõ rệt. Thế nhưng, chúng ta có thể thấy rõ ràng là ngoài khía cạnh gặp gỡ và hoạt động mang tính xã hội, thì du lịch vẫn là hoạt động mang tính kinh tế. Và yếu tố kinh tế này chính là doanh thu được tạo ra từ các hoạt động du lịch. Chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng Tây Ban Nha đang dẫn đầu về doanh thu du lịch, nhưng Hoa Kỳ cũng vậy, và Hoa Kỳ còn dẫn trước Pháp rất xa. Pháp hiện giờ chỉ đứng thứ 3 hoặc thứ 4 thế giới về lợi ích kinh tế mà du lịch mang lại. Chúng ta có thể thấy rõ Pháp chắc chắn là một điểm đến du lịch hàng đầu về các hoạt động và số lượng du khách, nhúng ta cũng thấy rằng thời gian lưu trú của khách tại Pháp thường rất ngắn. Điểm độc đáo của Pháp là Pháp nằm ở vị trí trung tâm ở châu Âu. Do đó, khi du khách châu Âu quá cảnh qua Pháp, ví dụ, một du khách Bỉ muốn đến Tây Ban Nha thì sẽ đi bằng ô tô, sẽ quá cảnh qua Pháp, và người này sẽ được tính là một lượt khách lưu trú tại Pháp. Sau đó, họ sẽ dành 8-9 ngày ở Tây Ban Nha. Rồi trên đường về, họ sẽ lại đi qua Pháp, lại được tính là thêm một lượt khách lưu trú, nhưng mỗi lần chỉ 1-2 đêm tại Pháp. Kết quả là vị khách du lịch người Bỉ này đã thực hiện một chuyến đi du lịch gồm 3 lần lưu trú riêng biệt : 2 lần ở Pháp và 1 lần ở Tây Ban Nha. Thế nhưng, xét về số đêm lưu trú, thì trong chuyến đi, tổng cộng họ nghỉ tại Tây Ban Nha 8 đêm trong khi Pháp chỉ được có 2-3 đêm thôi.  RFI : Đó là lý do nhiều người cho rằng Pháp là một nước mà du khách quốc tế đi qua để đến nước khác, một quốc gia trung chuyển, quá cảnh, hơn là một điểm đến du lịch thực thụ, hoặc một nơi tham quan chính ? Jean-René Morice : Thực ra thì Pháp vẫn là một quốc gia điểm đến. Điểm đặc biệt của người Pháp là họ thường đi nghỉ ngay chính tại nước Pháp. Người ta gọi đó là một nền du lịch nội địa, nền du lịch quốc gia rất mạnh, điều này cũng có nghĩa là hoạt động du lịch ở Pháp không chỉ thu hút khách quốc tế mà cả khách trong nước, cho phép Pháp vẫn là một điểm đến tham quan chính, hoặc ít nhất là Pháp cũng là một nước mà du lịch là một lĩnh vực quan trọng. Nhưng cũng đúng là có rất nhiều du khách quá cảnh để sang nước khác, bởi vì Pháp thực sự là một trung tâm trung chuyển hàng không, nhất là đối với du khách từ châu Á hoặc các nơi khác, những người sẽ quá cảnh qua Paris chẳng hạn, và sau đó tiếp tục khám phá phần còn lại của châu Âu. Pháp nằm ở trung tâm của châu Âu nên là một điểm trung chuyển quan trọng, với rất đông người quá cảnh. Nhưng mà dẫu sao thì Pháp cũng vẫn là một điểm đến phổ biến, bởi vì có đến 102 triệu lượt khách lưu trú, cho dù chỉ là những kỳ nghỉ rất ngắn. Vì thế, một trong những thách thức mà bộ trưởng Du Lịch Pháp, Serge Papin, và Atout France, đang giải quyết hiện nay là làm thế nào để doanh thu cũng tăng. Nói cách khác là làm thế nào để đưa những chuyến du lịch ngắn này trở thành những chuyến du lịch dài hơn và qua đó khẳng định vị thế của Pháp như một điểm đến du lịch. RFI : Nhóm du khách nào chi tiêu nhiều nhất khi du lịch ở Pháp ? Jean-René Morice : Tôi không có số liệu chính xác, phải nói thành thật là như vậy. Nhưng tôi biết rằng người Mỹ có mức chi tiêu trung bình khá cao. Tôi cũng cho rằng đó là nhóm những du khách đến từ vùng Vịnh, và những nhóm du khách quan tâm đến hàng cao cấp, xa xỉ, nhất là khách châu Á. Họ thường có mức chi tiêu trung bình cao hơn một chút so với khách du lịch châu Âu. Người châu Âu thường có xu hướng đi du lịch bằng ô tô và chọn các loại hình chỗ ở khác, ví dụ các khu cắm trại ngoài trời. Chúng tôi biết là khách du lịch đến từ những nước xa hơn và nhất là quan tâm nhiều đến những thứ xa hoa, sang trọng, thì chi tiêu nhiều hơn. Lĩnh vực xa xỉ phẩm cũng là nét đặc biệt của Pháp với tư cách là điểm đến du lịch, nhờ thế mà Pháp có thể sẽ tạo được doanh thu cao hơn. RFI : Chính phủ Pháp có chiến lược gì để duy trì vị trí của Pháp về du lịch ? Jean-René Morice : Thực ra là chiến lược này đã được thực hiện trong một thời gian khá dài, đặc biệt là từ năm 2015. Khi đó, có nhiều quyết định đã được đưa ra ở Pháp, nhất là việc xếp ngành du lịch vào bộ Kinh Tế như hiện nay. Trước đây, ngành du lịch trực thuộc bộ Ngoại Giao. Như vậy là chúng ta có thể thấy rõ là Pháp đã nhận thức được là việc gây ảnh hưởng không phải lúc nào cũng có thể làm từ nước ngoài, hoạt động du lịch phải được thực hiện ngay ở Pháp chứ không phải từ bên ngoài Pháp. Vì vậy, rất nhiều công việc đã được thực hiện để Pháp được quốc tế trông thấy rõ hơn, tập trung vào việc cải thiện khả năng đón tiếp và chất lượng, tiếp tục đà phát triển. Ví dụ, chúng ta có thể thấy rằng chiến lược Grand Paris (Đại Paris) ngày nay, với hệ thống giao thông cho phép kết nối mọi ngóc ngách của vùng Paris trong thời gian rất ngắn, là một phần của chiến lược này. Du lịch không chỉ đơn thuần là một yếu tố bên ngoài hoặc có thể tách rời khỏi đời sống của các vùng lãnh thổ hoặc các địa phương. Đó là những gì vừa để người dân địa phương được trải nghiệm, mà cũng là để phục vụ du lịch, hoặc ít nhất là liên quan đến ngành du lịch, ví dụ việc kết nối giao thông giữa sân bay Roissy (ở ngoại ô Paris) và trung tâm thành phố. Đã có rất nhiều việc xây dựng, sửa chữa được thực hiện để kết nối Roissy và trung tâm thành phố, và đến nay việc đi lại đã rất dễ dàng. Pháp cũng đã muốn cải thiện một số vấn đề, đặc biệt là về việc xử lý hồ sơ xin thị thực visa đối với khách đến từ một số nước, đặc biệt là cấp visa trong vòng 48 giờ. Đây thực ra là mong muốn đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khách được nhập cảnh vào Pháp, và không biến thủ tục này thành một quy trình hạn chế khả năng khách đến Pháp. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đây không phải là vấn đề của riêng Pháp, nhưng ví dụ khi nhìn vào bảo tàng Louvre hay cung điện Versailles, chúng ta thấy cần có chiến lược cải thiện, nâng cấp, nhất là về số hóa và trí tuệ nhân tạo. Ngoài ra còn là vấn đề phát triển bền vững. Pháp vẫn còn rất nhiều việc phải làm để cải thiện nội dụng, chất lượng, để đón tiếp du khách nước ngoài được tốt hơn. RFI chân thành cảm ơn ông Jean-René Morice, chủ tịch INNTO France, mạng lưới các viện và trường đại học đào tạo và nghiên cứu về du lịch, đã tham gia chương trình.

TẠP CHÍ XÃ HỘI
Vị thế của tiếng Pháp tại Việt Nam và các thách thức trong bối cảnh cạnh tranh ngôn ngữ gia tăng

TẠP CHÍ XÃ HỘI

Play Episode Listen Later Mar 18, 2026 23:47


Ngày 20/03 hàng năm là Ngày Quốc tế Pháp ngữ, hay còn được gọi là Ngày hội Pháp ngữ. Đây là dịp mà Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ, mà Việt Nam là một thành viên, đặc biệt được nói đến nhiều trên thế giới, với nhiều sự kiện, hoạt động quảng bá cho tiếng Pháp, nét đa dạng văn hóa và các cơ hội phát triển của cộng đồng các quốc gia và vùng lãnh thổ có sử dụng tiếng Pháp. Để hiểu hơn về vị thế của tiếng Pháp như một ngoại ngữ tại Việt Nam, các cơ hội đối với việc dạy và học tiếng Pháp ..., RFI Tiếng Việt có cuộc phỏng vấn tiến sĩ Trần Văn Công, giám đốc CREFAP, Trung tâm Pháp ngữ khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF). RFI : Xin chào TS. Trần Văn Công, ông là giám đốc của Trung tâm Pháp ngữ khu vực châu Á - Thái Bình Dương (CREFAP), thuộc Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF), xin ông cho biết là tại Việt Nam, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranh ngôn ngữ ngày càng gia tăng, hiện nay đâu là vị thế của tiếng Pháp ? Tiếng Pháp hiện giờ phải cạnh tranh nhiều nhất với các ngoại ngữ nào khác ? Sự cạnh tranh này chủ yếu do đâu ? TS. Trần Văn Công : Tiếng Pháp đã từng có một vị trí rất quan trọng ở Việt Nam do những vấn đề lịch sử. Và trong những năm 1990 tiếng Pháp cũng đóng một vai trò rất quan trọng ở Việt Nam vì hội nghị thượng đỉnh Pháp ngữ đã được tổ chức tại Việt Nam. Và một số năm sau đó thì tình hình này vẫn được duy trì. Tuy nhiên, với xu thế hội nhập quốc tế thì vị trí của tiếng Pháp đã có sự thay đổi. Ngày nay tiếng Pháp là một trong những ngôn ngữ được giảng dạy ở các trường đại học và phổ thông. Tuy nhiên vị trí không được như những năm trước. Chúng ta đều biết rằng tiếng Pháp có một truyền thống lâu dài được giảng dạy tại Việt Nam và luôn luôn được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, như là Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ, hoặc là của các đại sứ quán, đặc biệt là đại sứ quán Pháp, của Cơ quan Đại học Pháp ngữ, phái đoàn Wallonie - Bruxelles tại Việt Nam. Hiện nay, ở Việt Nam có các lớp học tiếng Pháp song ngữ ở các trường phổ thông, các trường chuyên dạy tiếng Pháp và các trường thường mà ở đó học sinh có thể lựa chọn tiếng Pháp để học. Ngoài ra thì tiếng Pháp cũng được giảng dạy tại các trường đại học lớn, đặc biệt là ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh hoặc Đà Nẵng. Tiếng Pháp còn được giảng dạy ở các trường đại học kỹ thuật, như là các trường đại học Bách Khoa, Thương Mại, Ngoại Thương, Giao Thông Vận Tải, đại học Y chẳng hạn. Và tiếng Pháp vẫn còn được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như là du lịch, văn hóa, văn học … Nói về vị trí của tiếng Pháp cụ thể ở từng bậc học, thì có thể thấy rằng ở bậc phổ thông bây giờ tiếng Pháp đứng sau một số ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Nhật và tiếng Trung. Chúng ta đều biết rằng tiếng Anh là một ngoại ngữ gần như là bắt buộc trong hệ thống giáo dục ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Còn tiếng Hàn, sở dĩ ngày nay rất nhiều người học tiếng Hàn bởi vì kinh tế và văn hóa của Hàn Quốc có ảnh hưởng rất nhiều đến Việt Nam. Chính vì vậy mà giới trẻ lựa chọn học tiếng Hàn rất nhiều. Và thực ra, với bậc phổ thông thì các bậc phụ huynh lựa chọn ngôn ngữ này cho học sinh. Rồi tiếng Nhật, người ta cũng thấy rằng bây giờ học tiếng Nhật thì có cơ hội làm việc rất nhiều ở Nhật Bản và cơ hội đi du học cũng rất là nhiều. Rồi tiếng Trung, do vị trí địa lý và quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc, nên số người học tiếng Trung rất là nhiều. Và điều này không chỉ bắt đầu ở bậc đại học mà từ bậc phổ thông. Rất nhiều phụ huynh có xu hướng cho con đăng ký vào các lớp học tiếng Trung. RFI : Còn ở bậc đại học hoặc ở các trung tâm ngoại ngữ ? TS. Trần Văn Công : Đối với bậc đại học thì tiếng Pháp cũng đứng sau tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hàn và tiếng Trung. Điều này liên quan chủ yếu đến cơ hội việc làm, bởi vì sinh viên học tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Trung, dễ tìm việc hơn rất nhiều so với sinh viên học tiếng Pháp. Việt Nam bây giờ có rất nhiều doanh nghiệp của Nhật, của Hàn Quốc, của Trung Quốc. Và cơ hội để đi học ở Nhật, học ở Hàn Quốc, học ở Trung Quốc rất là nhiều, thế cho nên sinh viên lựa chọn các ngôn ngữ này. Đây được coi như một thị trường rất hấp dẫn đối với sinh viên học ngoại ngữ. Ngoài ra, các chương trình học bổng và du học rất là rộng rãi đối với sinh viên để các em có thể đi học ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Đối với tiếng Pháp, sinh viên học ngoại ngữ là tiếng Pháp sau khi học xong chủ yếu có thể làm trong lĩnh vực du lịch, chứ còn các lĩnh vực khác thì ít có cơ hội để các em có thể đi làm bằng ngôn ngữ tiếng Pháp mà mình được học ở trường đại học. Việt Nam hiện nay có rất nhiều trung tâm ngoại ngữ. Nếu mà so sánh về thị trường các trung tâm ngoại ngữ thì chúng ta cũng đều thấy rằng là tiếng Pháp cũng luôn luôn đứng sau tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Nhật và tiếng Trung. Ngoài ra còn đứng sau một thứ tiếng khác nữa là tiếng Đức, bởi vì nhu cầu tuyển dụng lao động tiếng Đức rất là lớn, rất nhiều các cơ sở, công ty của Đức tuyển dụng người biết tiếng Đức và việc tuyển dụng này diễn ra khá mạnh mẽ trong những năm vừa qua, chính vì vậy mà số người học tiếng Đức ở các trung tâm để có thể đi Đức làm việc rất là đông. RFI : Vậy nếu so sánh thì vị trí của tiếng Pháp tại Việt Nam so với tại các nước khác ở châu Á - Thái Bình Dương là thành viên của Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ như thế nào ? TS. Trần Văn Công : Nếu mà so sánh vị trí của tiếng Pháp tại Việt Nam so với tiếng Pháp ở các nước khác trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là các nước thành viên của tổ chức quốc tế Pháp ngữ, như là Lào, Campuchia, Thái Lan và Hàn Quốc, thì có thể nói rằng tiếng Pháp được giảng dạy rất nhiều ở Việt Nam. Số lượng người học ở Việt Nam có thể nói là nhiều nhất so với các nước khác trong khu vực. Và đây cũng là điều rất là tốt để có thể là khẳng định vị trí và vị thế của tiếng Pháp trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam. Ở các nước khác thì tỷ lệ người học tiếng Pháp có thể là nhiều hơn. Ví dụ như là ở Campuchia, bởi vì các lớp học tiếng Đức hoặc tiếng Hàn, tiếng Nhật, tiếng Trung ở Campuchia ít hơn so với ở Việt Nam, chính vì vậy mà tiếng Pháp ít bị cạnh tranh hơn bởi các thứ tiếng khác. Trong khi đó, ở Việt Nam thì tiếng Pháp bị cạnh tranh rất nhiều so với các tiếng khác. RFI : Đâu là những khó khăn lớn nhất đối với việc duy trì và phát triển giảng dạy tiếng Pháp ? Theo ông, hệ thống đào tạo giáo viên tiếng Pháp tại Việt Nam hiện nay thì còn phải đối mặt với những thách thức gì ? TS. Trần Văn Công : Tôi cho rằng thách thức lớn nhất đối với tiếng Pháp hiện nay ở Việt Nam là sự cạnh tranh với các ngoại ngữ khác đang được giảng dạy rất mạnh mẽ ở các trường phổ thông, cũng như là các trường đại học, đặc biệt là tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Trung và tiếng Đức. Sở dĩ sinh viên lựa chọn những ngành này bởi vì là thị trường lao động rất là mở, rất là lớn và không những học sinh, sinh viên có cơ hội tìm việc dễ dàng với ngôn ngữ, này mà các em còn có thể có cơ hội tìm được học bổng hoặc là các cơ hội đi du học rất là tốt ở các nước như là Nhật Bản, Hàn Quốc, ở Trung Quốc hoặc là đi làm ở Đức. Thị trường lao động là một trong những yếu tố quyết định đến việc ngôn ngữ nào được giảng dạy nhiều hay ít ở một quốc gia, trong đó có Việt Nam. Chính vì vậy mà tôi nghĩ rằng sự cạnh tranh giữa các thứ tiếng là yếu tố lớn nhất, khó khăn lớn nhất mà tiếng Pháp đang gặp phải. Khó khăn thứ hai là việc tuyển dụng giáo viên ở các trường phổ thông, đại học. Hiện nay ở các trường trung học ở Việt Nam có những trường chuyên, chuyên môn dạy tiếng Pháp, ví dụ ở Hà Nội có trường Hà Nội - Amsterdam, trường Chu Văn An, ở thành phố Hồ Chí Minh có trường Lê Hồng Phong, nhưng mà các học sinh giỏi nhất tiếng Pháp của các trường đó sau khi học xong tiếng Pháp thì các em lại không tiếp tục học tiếng Pháp ở Việt Nam để có thể đi làm giáo viên, mà các em thường lựa chọn ngành nghề nào đó để đi học ở các nước Pháp ngữ, ví dụ ở Pháp, Bỉ hoặc là Canada. Chính vì vậy mà đầu vào cho các trường đào tạo giáo viên tiếng Pháp ở Việt Nam gặp khó khăn, đa số các em đầu vào đều là tiếng Anh và các em phải học tiếng Pháp từ đầu. Chính vì vậy mà đầu ra cũng sẽ bị tác động. Điều này có nghĩa là những giáo viên được đào tạo từ các trường đại học sẽ có trình độ không được tốt như ngày xưa, bởi vì là các em chỉ học có 4 năm đại học thôi, còn trước kia thì đa số là các sinh viên ngành sư phạm học từ phổ thông trở lên, và đặc biệt các em học song ngữ là học 12 năm phổ thông cộng với 4 năm đại học, như vậy các em học 16 năm thì các em có một hành trang về ngôn ngữ rất là tốt, nền tiếng Pháp rất là tốt. Còn bây giờ các em chỉ học 4 năm ở đại học thôi thì chắc chắn là trình độ không thể tốt bằng các em học 16 năm. Yếu tố thứ hai là việc sinh viên đăng ký vào ngành sư phạm tiếng Pháp ngày càng giảm. Tôi lấy một ví dụ là ở trường Đại học Quốc gia Hà Nội thì có ngành đào tạo giáo viên tiếng Pháp. Tuy nhiên, ngành này 2 năm mới tuyển sinh một lần, bởi vì không phải năm nào cũng tuyển được sinh viên. Thế cho nên trường có quyết định là 2 năm mới tuyển sinh một lần. Điều đó chứng tỏ rằng việc đào tạo giáo viên tiếng Pháp gặp rất nhiều khó khăn bởi vì sinh viên không hứng thú với việc là học tiếng Pháp để trở thành giáo viên. Chưa kể là học xong ngành sư phạm giáo viên thì các em gặp khó khăn trong việc xin việc làm, bởi vì rất ít trường phổ thông tuyển giáo viên tiếng Pháp. Bây giờ người ta có xu hướng là tuyển giáo viên tiếng Trung, tiếng Hàn, tiếng Nhật, chứ rất ít trường tuyển giáo viên tiếng Pháp. Đối với bậc đại học thì vẫn có khả năng để tuyển giáo viên tiếng Pháp. Tuy nhiên, bây giờ các trường đại học đều tuyển giáo viên có trình độ tiến sĩ. Rất ít trường tuyển giáo viên có trình độ thạc sĩ. Chính vì vậy mà các ứng viên có thể đáp ứng tiêu chuẩn này cũng rất là ít. RFI : Với sự hỗ trợ của CREFAP, Trung tâm Pháp ngữ khu vực châu Á - Thái Bình Dương mà ông làm giám đốc, thì các giáo viên tiếng Pháp ở Việt Nam có những lợi thế đặc thù nào trong đào tạo và phát triển đội ngũ giáo viên, nếu so sánh với các ngoại ngữ khác ? TS. Trần Văn Công : Tôi có thể nói là giáo viên tiếng Pháp ở Việt Nam nói riêng và của các nước thành viên của Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ đều rất là may mắn bởi vì là được thụ hưởng những chương trình đào tạo cũng như là tập huấn rất thường xuyên và rất thiết thực của các trung tâm Pháp ngữ khu vực. Ở trên thế giới thì có 3 khu vực là Trung Âu và Đông Âu ; khu vực Châu Phi và khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thì có CREFAP là Trung tâm Pháp ngữ châu Á - Thái Bình Dương hỗ trợ cho các trường, kể từ kể từ bậc phổ thông cho đến bậc đại học, trong việc đào tạo giáo viên. Và đây là điều mà chỉ có giáo viên tiếng Pháp được hưởng. Theo tôi quan sát, các thứ tiếng khác như tiếng Anh, hoặc tiếng Hàn, hoặc tiếng Trung … thì rất hiếm khi có những chương trình đào tạo thường xuyên như là đối với giáo viên dạy tiếng Pháp. Ví dụ như là ở Việt Nam thì các giáo viên dạy phổ thông, giáo viên dạy đại học năm nào cũng được tham gia vào các chương trình tập huấn, đào tạo, có thể là trực tiếp hoặc là trực tuyến do Trung tâm CREFAP tổ chức. Các chương trình tập huấn này có thể là chương trình tập huấn ở phạm vi quốc gia hoặc là chương trình tập huấn ở phạm vi khu vực, có nghĩa là với sự tham gia của giáo viên của các nước khác trong khu vực châu Á - Bình Dương, với mục đích là nâng cao trình độ ngôn ngữ và phương pháp giảng dạy cho giáo viên, để họ có một trình độ phù hợp với sự phát triển của xã hội, phù hợp với sự tiến triển của ngành giảng dạy ngoại ngữ trên thế giới. Ví dụ như là hàng năm thì chúng tôi tổ chức các khóa bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy tiếng Pháp, các khóa đào tạo để nâng cao trình độ tiếng Pháp cho giáo viên. Ngoài ra thì giáo viên cũng được tham gia các hội thảo quốc tế. Các hội thảo của giáo viên Pháp ngữ quốc tế được tổ chức, ví dụ năm vừa rồi là tổ chức ở Besançon, Pháp, hoặc các hội thảo quốc tế do trung tâm CREFAP tổ chức hai năm một lần. Đây là dịp rất tốt để giáo viên tiếng Pháp có thể gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm, cũng như là những cái mới về phương pháp giảng dạy, không chỉ với giáo viên của Việt Nam mà với giáo viên của các nước khác trong khu vực, thậm chí là các giáo viên của các khu vực khác nữa, bởi vì giáo viên của các khu vực khác như là châu Âu, châu Mỹ cũng có thể tham dự vào các hội thảo này của chúng tôi để cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm. Và đấy là dịp rất tốt để giáo viên có thể khám phá những điều mới, những cách tân trong giảng dạy và họ có thể cập nhật được các xu hướng giảng dạy mới trong lĩnh vực đào tạo, cũng như là giảng dạy tiếng Pháp cho người nước ngoài. Ví dụ, trong năm vừa rồi thì chúng tôi đã tổ chức những khóa tập huấn như là ứng dụng AI trong việc tạo ra các bài giảng cũng như các học liệu cho giáo viên từ bậc phổ thông đến bậc đại học. Đây là điều rất quan trọng bởi vì ở Việt Nam thì rất ít các tài liệu mang tính định hướng hoặc phù hợp với môi trường xã hội văn hóa của Việt Nam, thường là các trường phổ thông và đại học phải sử dụng các cái giáo trình có sẵn. Với sự hỗ trợ của của CREFAP thì chúng tôi đã tổ chức các khóa tập huấn để giáo viên tham gia có thể tự soạn biên soạn tài liệu để sử dụng trong trường học, ở lớp học của mình, để có thể giảng dạy tiếng Pháp một cách phù hợp nhất. Nếu như các tài liệu này phù hợp với môi trường của học sinh, sinh viên thì các em chắc chắn là sẽ cảm thấy hứng thú hơn. Hoặc là chúng tôi tổ chức những khóa tập huấn liên quan đến việc áp dụng các trò chơi công nghệ trong việc giảng dạy tiếng Pháp, áp dụng các kỹ thuật diễn kịch trong lớp học. Hoặc là dạy ngữ pháp thông qua các hoạt động giải trí. Các chương trình đào tạo này thì đều được giáo viên đánh giá rất cao bởi vì sẽ có một sự đổi mới, giúp cho giáo viên thoát khỏi lối mòn mà từ trước đến nay họ vẫn đi theo. Và như vậy sẽ tạo động cơ cho giáo viên cũng như là cho sinh viên trong việc học tiếng Pháp. Ngoài ra thì đối với giáo viên học tiếng Pháp ở Việt Nam, tôi nghĩ rằng là họ cũng rất may mắn bởi vì được tiếp cận với rất nhiều tài liệu giảng dạy và những học liệu số mà Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ đã xây dựng dựa trên hệ thống giáo viên trên các châu lục. Các chương trình đào tạo của Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ thường kéo theo việc sản xuất ra các học liệu. Và tất cả các học liệu này thì được chia sẻ trên nền tảng số của Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ, gọi là nền tảng Parlons français, trên đó có các học liệu liên quan đến tất cả mọi trình độ, từ cấp độ phổ thông cho đến đại học. Rồi các cái module dạy tiếng Pháp cho các giáo viên muốn tăng cường trình độ tiếng Pháp của mình, hoặc là các module về phương pháp giảng dạy, các module về áp dụng kỹ thuật số trong giảng dạy. Tất cả những điều đó thì là lợi thế đặc thù cho đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp mà các giáo viên dạy tiếng khác không thể có được. RFI : CREFAP đang đồng hành ra sao cùng với các cơ quan giáo dục của Việt Nam để triển khai những chương trình hoặc sáng kiến cụ thể nhằm hỗ trợ giáo viên cải thiện chất lượng giảng dạy tiếng Pháp và thu hút người học mới đến với ngôn ngữ Pháp ? TS. Trần Văn Công : Trung tâm Pháp ngữ châu Á - Thái Bình Dương của Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ thường xuyên phối hợp với bộ Giáo Dục và Đào Tạo của Việt Nam trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Pháp và tăng sức hấp dẫn của ngôn ngữ này đối với người học, cụ thể là thông qua các khóa bồi dưỡng và phát triển năng lực giáo viên. Như tôi đã nói, mỗi một năm chúng tôi tổ chức 2-3 khóa tập huấn. Ngoài ra thì chúng tôi phối hợp với Đại sứ quán Pháp trong việc tổ chức các diễn đàn hoặc là các buổi trao đổi để có thể tăng cường việc giảng dạy tiếng Pháp ở Việt Nam. Ví dụ vào tháng 05/2026, trung tâm của chúng tôi phối hợp cùng với Đại sứ quán Pháp và một vài đối tác nữa ở trong khu vực để tổ chức một diễn đàn về giáo dục tiếng Pháp tại Việt Nam. Diễn đàn sẽ được tổ chức ở thành phố Quy Nhơn. Đây là dịp để các trường có giảng dạy tiếng Pháp đến để chia sẻ kinh nghiệm của mình trong việc thu hút học sinh đến học tiếng Pháp hoặc là cách thức để tổ chức các lớp học tăng cường tiếng Pháp, bởi vì từ năm 2024 bộ Giáo Dục quyết định ngừng tuyển học sinh học chương trình song ngữ. Chính vì vậy mà chúng tôi cũng muốn có hình thức khác để có thể tăng cường việc giảng dạy tiếng Pháp ở các trường. Trước kia đã từng có chương trình song ngữ, bằng cách áp dụng các chương trình giảng dạy tiếng Pháp tăng cường. Để làm được điều đó thì chúng tôi tổ chức diễn đàn này để các trường có mong muốn tham gia vào chương trình đào tạo giảng dạy tiếng Pháp tăng cường có thể bàn luận và chia sẻ kinh nghiệm trong việc xây dựng lộ trình và chương trình hành động để có thể là triển khai việc dạy tiếng Pháp tăng cường ở các trường. Đây là điều rất quan trọng. Hiện nay thì ở Việt Nam có một số các trường phổ thông được dán nhãn là trường Label Education. Các trường này là những trường có giảng dạy tiếng Pháp và đáp ứng được một số tiêu chí để có thể được bộ Giáo Dục Pháp công nhận là các trường có Label Education. Và các trường này rất mong muốn tăng cường giảng dạy tiếng Pháp ngoài số giờ quyết định của bộ Giáo Dục, có nghĩa là sẽ tổ chức thêm một số giờ học tăng cường tiếng Pháp cho học sinh. Muốn làm như thế thì cần phải có sự trao đổi giữa các cơ quan chủ quản là bộ Giáo Dục Đại Học ,cũng như là các đối tác như là đại học của Pháp hoặc là Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ, cũng như là các trường có giảng dạy tiếng Pháp, đặc biệt là các trường phổ thông, bởi vì chúng ta biết là ở một số trường bây giờ người ta có xu hướng là thay các lớp tiếng Pháp bằng các lớp tiếng Trung, tiếng Nhật hoặc là tiếng Hàn, chính vì vậy mà việc mà tổ chức những diễn đàn này sẽ cho phép tăng cường việc quảng bá điểm mạnh hoặc là những thuận lợi của việc học tiếng Pháp đối với học sinh, sau khi học xong phổ thông các em có thể học gì ở trường đại học, các em có thể làm gì khi mà các em học tiếng Pháp … Ngoài ra thì Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ cũng đóng một vai trò quan trọng cho việc quảng bá môi trường Pháp ngữ và thu hút người học trẻ ở Việt Nam, đặc biệt là thông qua các hoạt động hỗ trợ của CREFAP đối với các hoạt động ngoại khóa, ví dụ như là thông qua các hội giáo viên tiếng Pháp. Ở Việt Nam có một số hội giáo viên tiếng Pháp như là Giáo viên tiếng Pháp Hà Nội, hội giáo viên tiếng Pháp Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh, ở đó thì người ta thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại khóa, ví dụ như là giao lưu, các cuộc thi, ví dụ thi hùng biện tiếng Pháp, thi chính tả tiếng Pháp hoặc là thi viết luận về tiếng Pháp, thi vẽ tranh về một chủ đề Pháp ngữ … ; hoặc là tổ chức các sự kiện văn hóa, các dự án giáo dục bằng tiếng Pháp. Đa số các hoạt động ngoại khóa này đều được tổ chức với sự hỗ trợ của CREFAP. Chúng tôi hỗ trợ về mặt tài chính cho các hội giáo viên tiếng Pháp, cũng như các trường đại học để tổ chức các sự kiện này, đặc biệt là sự kiện Ngày hội Pháp ngữ 20/03 do các trường đại học cũng như là các hội giáo viên tiếng Pháp tổ chức ở trên toàn quốc đều nhận được sự hỗ trợ của Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ. Việc tổ chức các hoạt động này sẽ tạo môi trường học tập sinh động và có thể khơi dậy sự quan tâm của học sinh và sinh viên và đặc biệt là của xã hội, của các bậc phụ huynh đối với tiếng Pháp và văn hóa Pháp ngữ. Thông qua các hoạt động đó thì các bậc phụ huynh có thể biết được là tiếng Pháp không chỉ là ngôn ngữ của nước Pháp mà còn là ngôn ngữ của một cả cộng đồng Pháp ngữ gồm rất nhiều quốc gia trên thế giới. Khi học tiếng Pháp thì con họ sẽ có những cơ hội rất là lớn trong việc học tập bằng tiếng Pháp ở các nước có sử dụng tiếng Pháp và các cơ hội làm việc sau này cũng không phải là ít. Chính vì vậy mà việc tổ chức các sự kiện ngoại khóa, các hoạt động ngoại khóa đối với sinh viên và học sinh cũng là một trong những ưu tiên hàng đầu của trung tâm của chúng tôi. Ngoài ra, Trrung tâm Pháp ngữ châu Á - Thái Bình Dương cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các trường có giảng dạy tiếng Pháp ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Chúng tôi có một mạng lưới gọi là mạng lưới các Khoa tiếng Pháp khu vực châu Á - Thái Bình Dương, được thành lập cách đây hơn 20 năm theo đề nghị của các Khoa tiếng Pháp trong khu vực. Và mạng lưới này hoạt động thường xuyên, hàng năm đều có họp đại diện của các trường thành viên, các khoa thành viên. Đây là cơ hội rất tốt để các khoa có thể trao đổi kinh nghiệm trong việc đào tạo, nghiên cứu giảng dạy, tổ chức các hoạt động hợp tác. Đây là một yếu tố để tạo sự gắn kết của cộng đồng Pháp ngữ ở môi trường đại học trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. RFI : Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các quốc gia Pháp ngữ, đặc biệt là với Pháp, có thể tạo ra những triển vọng cơ hội nghề nghiệp cụ thể nào cho người học tiếng Pháp ? Đâu là những lĩnh vực mà tiếng Pháp có thể sẽ mang lại thêm những giá trị rõ nét nhất cho người học tại Việt Nam ? TS. Trần Văn Công : Việt Nam là một trong những nước thành viên của cộng đồng Pháp ngữ. Chính vì vậy mà Việt Nam có quan hệ hợp tác với hầu hết các nước trong cộng đồng ngữ, đặc biệt là với nước Pháp. Chúng ta cũng biết rằng quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các quốc gia trong không gian Pháp ngữ ngày càng được phát triển rất mạnh, trong các lĩnh vực như là kinh tế, giáo dục, khoa học, công nghệ và văn hóa. Sự phát triển hợp tác giữa Việt Nam và các quốc gia này tạo nhiều cơ hội cho người học tiếng Pháp để người học tiếng Pháp có cơ hội để đi học, đi trao đổi cũng như là các cơ hội việc làm. Việt Nam hiện nay có quan hệ với hầu hết các quốc gia trong khối Pháp ngữ và ở các châu lục. Ví dụ như là ở châu Phi thì chúng ta cũng có những quốc gia thành viên của tổ chức quốc tế Pháp ngữ có quan hệ chặt với Việt Nam và cũng có những mối quan hệ về kinh tế rất là chặt chẽ. Sinh viên học ngoại ngữ tiếng Pháp gia thì có thể đi làm ở các nước châu Phi. Ví dụ như là chúng ta cũng biết là Việt Nam có một tập đoàn rất lớn là tập đoàn Viettel về viễn thông của quân đội có những chi nhánh ở các nước châu Phi và sinh viên học tiếng Pháp có thể đi làm việc ở các quốc gia như là Tahiti hoặc là một số quốc gia khác ở châu Phi, hoặc là trong lĩnh vực trao đổi kinh doanh thương mại về gỗ chẳng hạn thì cũng có rất nhiều các doanh nghiệp của Việt Nam có trao đổi thương mại với các nước ở Châu Phi. Chính vì vậy mà sinh viên học tiếng Pháp ra có thể đi làm ở các công ty này, hoặc là đi làm ở văn phòng đại diện của các công ty này tại các nước châu Phi. Ngoài ra thì lĩnh vực du lịch cũng là lĩnh vực thu hút nhiều sinh viên tiếng Pháp nhất ở Việt Nam. Tôi có thể nói rằng là đây là lĩnh vực luôn luôn có nhu cầu tuyển dụng sinh viên học tiếng Pháp, nếu như các em muốn. Tôi đã từng là giáo viên dạy tiếng Pháp trong vòng rất nhiều năm và tôi nhận thấy rằng là sinh viên chỉ cần tiếng Pháp tốt một chút thì có thể tìm được cơ hội làm việc tại các công ty du lịch có sử dụng tiếng Pháp một cách rất dễ dàng và thu nhập các em cũng rất là tốt. Đặc biệt là những mùa cao điểm thì thậm chí là các doanh nghiệp còn mời cả những sinh viên học năm thứ ba, thứ tư để đi hướng dẫn hoặc là hỗ trợ họ trong việc tổ chức các tour du lịch. Và ngành này luôn có nhu cầu về nhân lực có chuyên môn trong lĩnh vực du lịch. Chính vì vậy mà trong những năm qua thì các khoa tiếng Pháp ở Việt Nam, ví dụ như là ở Hà Nội, ở thành phố Hồ Chí Minh, đã tập trung vào việc giảng dạy tiếng Pháp theo định hướng, và chủ yếu người ta chọn định hướng du lịch, bởi vì là người ta nhận thấy rằng nhu cầu về những người biết sử dụng tiếng Pháp trong ngành du lịch rất là lớn. Và điểm yếu của các sinh viên học tiếng Pháp là không có chuyên môn về du lịch. Chính vì vậy mà các khoa tiếng Pháp chuyển hướng bằng cách đào tạo giáo viên về du lịch để giáo viên có thể giảng dạy về du lịch cho sinh viên học tiếng Pháp. Ngoài ra thì cũng có sự phối hợp giữa các khoa tiếng Pháp và các công ty du lịch Pháp ngữ để họ mời các chuyên gia của các doanh nghiệp đến để giảng dạy cho sinh viên. Và như vậy sinh viên không chỉ làm chủ về tiếng Pháp mà làm chủ cả về chuyên môn về du lịch nữa. Và các em khi ra trường có thể làm việc một cách rất là dễ dàng. Cho nên tôi thấy rằng lĩnh vực du lịch này sẽ còn tiếp tục phát phát triển và sinh viên học tiếng Pháp ra mà có trình độ tiếng Pháp tốt thì có thể làm cho lĩnh vực này một cách dễ dàng. Đây cũng là lĩnh vực mà sinh viên làm việc có thể kiếm được mức thu nhập thuộc dạng khá cao trong xã hội ở Việt Nam. RFI tiếng Việt chân thành cảm ơn TS. Trần Văn Công, giám đốc CREFAP/OIF, đã tham gia chương trình !

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Chiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Mar 16, 2026 9:22


Xăng dầu tăng giá là hệ quả rõ nhất có thể thấy ở Việt Nam do chiến tranh Trung Đông. Tình hình xung đột kéo dài và nguy cơ gián đoạn tại eo biển Hormuz đặt Việt Nam trước nhiều thách thức kinh tế và thương mại. Chi phí sản xuất và vận tải đội giá, ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành công nghiệp quan trọng. Chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, nguyên liệu nhập khẩu trở nên khan hiếm. Những biến động này làm giảm tính cạnh tranh của hàng Việt tại các thị trường trọng điểm như Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ. Nền kinh tế toàn cầu xấu đi cũng không phải là dấu hiệu tốt cho Việt Nam vì một phần lớn tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Chi phí gia tăng còn có nguy cơ đẩy lạm phát lên cao. Tất cả những thách này đòi hỏi Việt Nam cần có những giải pháp ứng phó nhanh và hiệu quả. Trên đây là một số nhận định của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên tại Đại học Công giáo Lyon (UCLy) chuyên ngành khoa học chính trị, thành viên của Viện Đông Á tại Trường Sư phạm Lyon (ENS de Lyon), khi trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 12/03/2026. RFI : Cuộc chiến bùng nổ ở Trung Đông đang gây ra những ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực và hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trung Đông có vai trò như thế nào trong quan hệ kinh tế và thương mại của Việt Nam hiện nay ? Laurent Gédéon : Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Trung Đông còn khá hạn chế, với xuất khẩu sang khu vực này chiếm chưa đến 3% tổng kim ngạch. So với Mỹ, Trung Quốc hay Liên Hiệp Châu Âu thì Trung Đông vẫn là thị trường nhỏ hơn, nhưng vẫn được xem là một thị trường chiến lược tiềm năng đối với Việt Nam vì một số lý do. Thứ nhất, về xuất khẩu, Trung Đông là thị trường tiêu thụ nhiều hàng hóa của Việt Nam như điện thoại, linh kiện điện tử, dệt may và đồ nội thất. Khu vực này cũng nhập khẩu nhiều nông sản và thủy sản của Việt Nam do phụ thuộc vào nguồn thực phẩm bên ngoài. Do đó, gạo, cà phê, tiêu, hạt điều, cũng như tôm và các loại hải sản khác của Việt Nam cũng tìm được thị trường đầy triển vọng. Ngoài ra, thị trường thực phẩm “halal”, ít được biết đến nhưng đang phát triển mạnh và có thể đạt 5.000 tỷ đô la vào năm 2030, trở thành lĩnh vực chiến lược mà Việt Nam hướng tới để đáp ứng nhu cầu của các nước Hồi Giáo. Về nhập khẩu, Việt Nam chủ yếu nhập năng lượng từ Trung Đông, đặc biệt là dầu mỏ, sản phẩm từ dầu, khí tự nhiên hóa lỏng và nguyên liệu hóa học. Ngoài ra còn có kim loại và nguyên liệu thô phục vụ công nghiệp. Những nguồn này rất quan trọng đối với ngành công nghiệp và hệ thống năng lượng của Việt Nam. Về mặt này, Trung Đông đóng vai trò then chốt đối với Việt Nam với tư cách là nhà cung cấp năng lượng và công nghiệp. Đọc thêmMối quan hệ truyền thống khiến Việt Nam khó xử trong xung đột Israel-Hamas Đối với các nước vùng Vịnh, Việt Nam đã triển khai chiến lược đầu tư từ nhiều năm qua thông qua các hiệp định thương mại song phương. Tiêu biểu là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (CEPA) ký ngày 28/10/2024 tại Dubai với Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống, nhằm xóa bỏ hầu hết thuế quan, thúc đẩy đầu tư và tăng cường thương mại song phương. Nhìn chung, có thể nói rằng Trung Đông là đòn bẩy quan trọng giúp Việt Nam đa dạng hóa thương mại và nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc vào một số đối tác lớn như Trung Quốc và Hoa Kỳ. RFI : Căng thẳng hoặc xung đột ở Trung Đông có thể ảnh hưởng đến mức độ nào đối với một số thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, như Liên Hiệp Châu Âu hoặc Hoa Kỳ, cũng như các nước vùng Vịnh và Israel ? Laurent Gédéon : Xung đột ở Trung Đông có khả năng tác động đến thị trường xuất khẩu của Việt Nam theo nhiều cách. Thứ nhất, xung đột ở Trung Đông có thể làm giá năng lượng tăng cao vì đây là một trong những khu vực sản xuất dầu khí hàng đầu thế giới. Nếu xung đột kéo dài, sản xuất và vận chuyển hydrocarbon sẽ bị ảnh hưởng. Giá dầu khí tăng khiến chi phí vận tải biển và hàng không tăng, kéo theo chi phí sản xuất tại Việt Nam cao hơn, đặc biệt trong các ngành công nghiệp, dệt may, điện tử và vận tải. Khi giá sản phẩm tăng, hàng Việt Nam sẽ kém cạnh tranh hơn tại các thị trường trọng điểm, cụ thể là Liên Hiệp Châu Âu và Mỹ - hai thị trường xuất khẩu chính (chiếm gần 40%) đối với hàng chế tạo của Việt Nam. Đọc thêmViệt Nam hợp tác dầu khí với Ả Rập Xê Út Yếu tố thứ hai là nhiều tuyến thương mại chiến lược sẽ bị gián đoạn nếu xung đột dẫn đến bất ổn kéo dài ở hai khu vực hàng hải nhạy cảm là Vịnh Ba Tư và phía bắc Ấn Độ Dương, cùng với việc eo biển Hormuz bị đóng một phần hoặc toàn bộ. Tình hình thậm chí có thể nghiêm trọng hơn nếu lực lượng Houthi ở Yemen cũng tham gia vào cuộc xung đột và siết chặt phong tỏa ở eo biển Bab-el-Mandeb để giảm bớt áp lực cho Iran. Cho dù hiện nay lực lượng Houthi giữ thái độ thận trọng nhưng vẫn không thể loại trừ một kịch bản như vậy, bởi vì thủ lĩnh Abdul-Malik al-Houthi đã tuyên bố trên truyền hình ngày 05/03 rằng lực lượng Houthi sẵn sàng tấn công bất cứ lúc nào. Trong bối cảnh bất ổn như vậy, tàu thuyền sẽ phải tránh các vùng biển nguy hiểm, điều này sẽ làm tăng thời gian vận chuyển và chi phí logistic. Trong trường hợp đó, Việt Nam sẽ gặp khó khăn, vì chuỗi giá trị xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các tuyến hàng hải nối các trung tâm sản xuất châu Á với các thị trường lớn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bất kỳ sự gián đoạn nào đối với các tuyến đường này đều có thể dẫn đến việc tăng chi phí và chậm trễ giao hàng. Cuối cùng, yếu tố thứ ba liên quan đến kinh tế toàn cầu. Căng thẳng ở Trung Đông có thể gây bất ổn kinh tế chung, đặc biệt là việc nhà đầu tư rút vốn và các nước phân bổ lại ngân sách tập trung cho quốc phòng. Điều này có thể làm suy yếu kinh tế của các đối tác thương mại của Việt Nam, đặc biệt ở Trung Đông, từ đó giảm nhu cầu nhập khẩu. Nếu xung đột kéo dài hoặc leo thang, tác động tương tự cũng có thể lan sang châu Âu và Mỹ, hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Đọc thêmPetroVietnam sẽ đầu tư 1,2 tỷ đô la vào một mỏ dầu tại Iran Do đó, xung đột giữa Iran với Hoa Kỳ và Israel có thể gián tiếp ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam. Mặc dù Trung Đông không phải đối tác thương mại chính nhưng căng thẳng khu vực vẫn có thể gây ra hậu quả đáng kể cho các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam. Nếu gián đoạn kéo dài, hàng hóa Việt Nam có nguy cơ kém cạnh tranh về giá so với các nước gần châu Âu và Bắc Mỹ hơn và sử dụng các tuyến vận tải ngắn hơn hoặc ít rủi ro hơn. RFI : Ngành công nghệ của Việt Nam đang phát triển. Tại sao lĩnh vực này cũng có thể bị tác động với những diễn biến địa-chính trị ở Trung Đông ? Laurent Gédéon : Nhìn chung ngành công nghiệp công nghệ của Việt Nam, bao gồm điện tử, bán dẫn và lắp ráp, phụ thuộc lớn vào năng lượng và nguyên liệu thô. Căng thẳng tại các quốc gia sản xuất hydrocarbon như Ả Rập Xê Út, Qatar hay Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất có thể làm giá dầu và khí đốt tăng lên, kéo theo chi phí sản xuất và vận tải quốc tế tăng, như đã nói ở trên. Trong khi đó hoạt động công nghiệp của Việt Nam cần nguồn năng lượng lớn, giá năng lượng tăng sẽ tác động đến sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu công nghệ Việt Nam. Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất công nghệ toàn cầu nhờ sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Samsung, Intel, Foxconn và Apple. Với vai trò nhà xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh, bất kỳ gián đoạn nào trong chuỗi logistic hoặc tăng chi phí vận chuyển đến các thị trường xuất khẩu đều sẽ gây thiệt hại đáng kể cho Việt Nam. Trường hợp Israel đặc biệt quan trọng, cần được nhắc lại, bởi vì Việt Nam hợp tác sâu rộng với Nhà nước Do Thái trong trí tuệ nhân tạo AI và công nghệ nông nghiệp (agritech). Agritech là lĩnh vực ứng dụng kỹ thuật số và robot nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả nông nghiệp. Căng thẳng kéo dài có thể làm chậm các dự án hợp tác và giảm đầu tư. Trong bối cảnh Israel là một trung tâm công nghệ quan trọng, việc căng thẳng khu vực kéo dài hoặc leo thang có thể làm chậm các dự án hợp tác công nghệ song phương và dẫn đến sự sụt giảm đầu tư trong lĩnh vực này. Tương tự, Việt Nam cũng có thể phải đối mặt thách thức này với các nước vùng Vịnh, vốn đang thúc đẩy đa dạng hóa kinh tế tập trung vào mở rộng công nghệ cao và đổi mới sáng tạo từ nhiều năm gần đây. Đọc thêmIsrael bán hai vệ tinh do thám cho cơ quan tình báo quân sự Việt Nam Ngoài khu vực Trung Đông, khủng hoảng có thể sẽ gây lạm phát toàn cầu và suy giảm kinh tế ở châu Âu và Mỹ. Và như vậy có thể sẽ làm dao động hoặc giảm nhu cầu sản phẩm điện tử. Đây sẽ là một thách thức lớn cho ngành công nghệ Việt Nam. RFI : Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% vào năm 2026. Áp lực thuế quan của Mỹ đã thúc đẩy Việt Nam tìm cách đa dạng hóa đối tác thương mại. Xung đột ở Trung Đông có thể tác động như thế nào đến mục tiêu này ? Laurent Gédéon : Cuộc xung đột sẽ tác động mạnh đến nguồn năng lượng. Ngày 10/03, Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA) điều chỉnh dự báo giá dầu Brent 2026 lên 79 đô la/thùng (so với 58 đô la vào tháng 02/2026) và tăng 36% kể từ đầu năm. Giá năng lượng tăng sẽ ảnh hưởng đến xăng, dầu hỏa, phân bón, hóa dầu, nhựa và  như vậy sẽ tác động trực tiếp đến vận tải, công nghiệp, luyện kim, bán lẻ và thực phẩm. Nếu xu hướng này tiếp diễn, lạm phát ở Việt Nam, hiện là 2,5%, có thể tăng gấp đôi trong những tháng tới. Giá dầu tăng cũng sẽ đè nặng lên tăng trưởng GDP, ngay cả khi Việt Nam là nước sản xuất dầu khí bởi vì Việt Nam cũng phải nhập dầu khí. Hiện giờ rất khó đưa ra các dự đoán chính xác. Nếu eo biển Hormuz bị đóng cửa hoàn toàn và kéo dài, có nghĩa là Iran rải thủy lôi và bắn vào tàu thuyền tìm cách đi qua, thì giá dầu có thể ở mức hơn 100 đô la/thùng. Một trong những tác động đối với Việt Nam, như đã đề cập, là lạm phát có thể vượt 5%, và xuất khẩu giảm, cho nên có khả năng GDP bị giảm thêm 1%. Tình hình này đòi hỏi chính quyền Việt Nam theo dõi sát sao để dự báo tác động và triển khai các biện pháp ứng phó hiệu quả. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon.

Tạp chí Việt Nam
Chiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

Play Episode Listen Later Mar 16, 2026 9:22


Xăng dầu tăng giá là hệ quả rõ nhất có thể thấy ở Việt Nam do chiến tranh Trung Đông. Tình hình xung đột kéo dài và nguy cơ gián đoạn tại eo biển Hormuz đặt Việt Nam trước nhiều thách thức kinh tế và thương mại. Chi phí sản xuất và vận tải đội giá, ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành công nghiệp quan trọng. Chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, nguyên liệu nhập khẩu trở nên khan hiếm. Những biến động này làm giảm tính cạnh tranh của hàng Việt tại các thị trường trọng điểm như Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ. Nền kinh tế toàn cầu xấu đi cũng không phải là dấu hiệu tốt cho Việt Nam vì một phần lớn tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Chi phí gia tăng còn có nguy cơ đẩy lạm phát lên cao. Tất cả những thách này đòi hỏi Việt Nam cần có những giải pháp ứng phó nhanh và hiệu quả. Trên đây là một số nhận định của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên tại Đại học Công giáo Lyon (UCLy) chuyên ngành khoa học chính trị, thành viên của Viện Đông Á tại Trường Sư phạm Lyon (ENS de Lyon), khi trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 12/03/2026. RFI : Cuộc chiến bùng nổ ở Trung Đông đang gây ra những ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực và hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trung Đông có vai trò như thế nào trong quan hệ kinh tế và thương mại của Việt Nam hiện nay ? Laurent Gédéon : Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Trung Đông còn khá hạn chế, với xuất khẩu sang khu vực này chiếm chưa đến 3% tổng kim ngạch. So với Mỹ, Trung Quốc hay Liên Hiệp Châu Âu thì Trung Đông vẫn là thị trường nhỏ hơn, nhưng vẫn được xem là một thị trường chiến lược tiềm năng đối với Việt Nam vì một số lý do. Thứ nhất, về xuất khẩu, Trung Đông là thị trường tiêu thụ nhiều hàng hóa của Việt Nam như điện thoại, linh kiện điện tử, dệt may và đồ nội thất. Khu vực này cũng nhập khẩu nhiều nông sản và thủy sản của Việt Nam do phụ thuộc vào nguồn thực phẩm bên ngoài. Do đó, gạo, cà phê, tiêu, hạt điều, cũng như tôm và các loại hải sản khác của Việt Nam cũng tìm được thị trường đầy triển vọng. Ngoài ra, thị trường thực phẩm “halal”, ít được biết đến nhưng đang phát triển mạnh và có thể đạt 5.000 tỷ đô la vào năm 2030, trở thành lĩnh vực chiến lược mà Việt Nam hướng tới để đáp ứng nhu cầu của các nước Hồi Giáo. Về nhập khẩu, Việt Nam chủ yếu nhập năng lượng từ Trung Đông, đặc biệt là dầu mỏ, sản phẩm từ dầu, khí tự nhiên hóa lỏng và nguyên liệu hóa học. Ngoài ra còn có kim loại và nguyên liệu thô phục vụ công nghiệp. Những nguồn này rất quan trọng đối với ngành công nghiệp và hệ thống năng lượng của Việt Nam. Về mặt này, Trung Đông đóng vai trò then chốt đối với Việt Nam với tư cách là nhà cung cấp năng lượng và công nghiệp. Đọc thêmMối quan hệ truyền thống khiến Việt Nam khó xử trong xung đột Israel-Hamas Đối với các nước vùng Vịnh, Việt Nam đã triển khai chiến lược đầu tư từ nhiều năm qua thông qua các hiệp định thương mại song phương. Tiêu biểu là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (CEPA) ký ngày 28/10/2024 tại Dubai với Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống, nhằm xóa bỏ hầu hết thuế quan, thúc đẩy đầu tư và tăng cường thương mại song phương. Nhìn chung, có thể nói rằng Trung Đông là đòn bẩy quan trọng giúp Việt Nam đa dạng hóa thương mại và nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc vào một số đối tác lớn như Trung Quốc và Hoa Kỳ. RFI : Căng thẳng hoặc xung đột ở Trung Đông có thể ảnh hưởng đến mức độ nào đối với một số thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, như Liên Hiệp Châu Âu hoặc Hoa Kỳ, cũng như các nước vùng Vịnh và Israel ? Laurent Gédéon : Xung đột ở Trung Đông có khả năng tác động đến thị trường xuất khẩu của Việt Nam theo nhiều cách. Thứ nhất, xung đột ở Trung Đông có thể làm giá năng lượng tăng cao vì đây là một trong những khu vực sản xuất dầu khí hàng đầu thế giới. Nếu xung đột kéo dài, sản xuất và vận chuyển hydrocarbon sẽ bị ảnh hưởng. Giá dầu khí tăng khiến chi phí vận tải biển và hàng không tăng, kéo theo chi phí sản xuất tại Việt Nam cao hơn, đặc biệt trong các ngành công nghiệp, dệt may, điện tử và vận tải. Khi giá sản phẩm tăng, hàng Việt Nam sẽ kém cạnh tranh hơn tại các thị trường trọng điểm, cụ thể là Liên Hiệp Châu Âu và Mỹ - hai thị trường xuất khẩu chính (chiếm gần 40%) đối với hàng chế tạo của Việt Nam. Đọc thêmViệt Nam hợp tác dầu khí với Ả Rập Xê Út Yếu tố thứ hai là nhiều tuyến thương mại chiến lược sẽ bị gián đoạn nếu xung đột dẫn đến bất ổn kéo dài ở hai khu vực hàng hải nhạy cảm là Vịnh Ba Tư và phía bắc Ấn Độ Dương, cùng với việc eo biển Hormuz bị đóng một phần hoặc toàn bộ. Tình hình thậm chí có thể nghiêm trọng hơn nếu lực lượng Houthi ở Yemen cũng tham gia vào cuộc xung đột và siết chặt phong tỏa ở eo biển Bab-el-Mandeb để giảm bớt áp lực cho Iran. Cho dù hiện nay lực lượng Houthi giữ thái độ thận trọng nhưng vẫn không thể loại trừ một kịch bản như vậy, bởi vì thủ lĩnh Abdul-Malik al-Houthi đã tuyên bố trên truyền hình ngày 05/03 rằng lực lượng Houthi sẵn sàng tấn công bất cứ lúc nào. Trong bối cảnh bất ổn như vậy, tàu thuyền sẽ phải tránh các vùng biển nguy hiểm, điều này sẽ làm tăng thời gian vận chuyển và chi phí logistic. Trong trường hợp đó, Việt Nam sẽ gặp khó khăn, vì chuỗi giá trị xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các tuyến hàng hải nối các trung tâm sản xuất châu Á với các thị trường lớn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bất kỳ sự gián đoạn nào đối với các tuyến đường này đều có thể dẫn đến việc tăng chi phí và chậm trễ giao hàng. Cuối cùng, yếu tố thứ ba liên quan đến kinh tế toàn cầu. Căng thẳng ở Trung Đông có thể gây bất ổn kinh tế chung, đặc biệt là việc nhà đầu tư rút vốn và các nước phân bổ lại ngân sách tập trung cho quốc phòng. Điều này có thể làm suy yếu kinh tế của các đối tác thương mại của Việt Nam, đặc biệt ở Trung Đông, từ đó giảm nhu cầu nhập khẩu. Nếu xung đột kéo dài hoặc leo thang, tác động tương tự cũng có thể lan sang châu Âu và Mỹ, hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Đọc thêmPetroVietnam sẽ đầu tư 1,2 tỷ đô la vào một mỏ dầu tại Iran Do đó, xung đột giữa Iran với Hoa Kỳ và Israel có thể gián tiếp ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam. Mặc dù Trung Đông không phải đối tác thương mại chính nhưng căng thẳng khu vực vẫn có thể gây ra hậu quả đáng kể cho các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam. Nếu gián đoạn kéo dài, hàng hóa Việt Nam có nguy cơ kém cạnh tranh về giá so với các nước gần châu Âu và Bắc Mỹ hơn và sử dụng các tuyến vận tải ngắn hơn hoặc ít rủi ro hơn. RFI : Ngành công nghệ của Việt Nam đang phát triển. Tại sao lĩnh vực này cũng có thể bị tác động với những diễn biến địa-chính trị ở Trung Đông ? Laurent Gédéon : Nhìn chung ngành công nghiệp công nghệ của Việt Nam, bao gồm điện tử, bán dẫn và lắp ráp, phụ thuộc lớn vào năng lượng và nguyên liệu thô. Căng thẳng tại các quốc gia sản xuất hydrocarbon như Ả Rập Xê Út, Qatar hay Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất có thể làm giá dầu và khí đốt tăng lên, kéo theo chi phí sản xuất và vận tải quốc tế tăng, như đã nói ở trên. Trong khi đó hoạt động công nghiệp của Việt Nam cần nguồn năng lượng lớn, giá năng lượng tăng sẽ tác động đến sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu công nghệ Việt Nam. Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất công nghệ toàn cầu nhờ sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Samsung, Intel, Foxconn và Apple. Với vai trò nhà xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh, bất kỳ gián đoạn nào trong chuỗi logistic hoặc tăng chi phí vận chuyển đến các thị trường xuất khẩu đều sẽ gây thiệt hại đáng kể cho Việt Nam. Trường hợp Israel đặc biệt quan trọng, cần được nhắc lại, bởi vì Việt Nam hợp tác sâu rộng với Nhà nước Do Thái trong trí tuệ nhân tạo AI và công nghệ nông nghiệp (agritech). Agritech là lĩnh vực ứng dụng kỹ thuật số và robot nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả nông nghiệp. Căng thẳng kéo dài có thể làm chậm các dự án hợp tác và giảm đầu tư. Trong bối cảnh Israel là một trung tâm công nghệ quan trọng, việc căng thẳng khu vực kéo dài hoặc leo thang có thể làm chậm các dự án hợp tác công nghệ song phương và dẫn đến sự sụt giảm đầu tư trong lĩnh vực này. Tương tự, Việt Nam cũng có thể phải đối mặt thách thức này với các nước vùng Vịnh, vốn đang thúc đẩy đa dạng hóa kinh tế tập trung vào mở rộng công nghệ cao và đổi mới sáng tạo từ nhiều năm gần đây. Đọc thêmIsrael bán hai vệ tinh do thám cho cơ quan tình báo quân sự Việt Nam Ngoài khu vực Trung Đông, khủng hoảng có thể sẽ gây lạm phát toàn cầu và suy giảm kinh tế ở châu Âu và Mỹ. Và như vậy có thể sẽ làm dao động hoặc giảm nhu cầu sản phẩm điện tử. Đây sẽ là một thách thức lớn cho ngành công nghệ Việt Nam. RFI : Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% vào năm 2026. Áp lực thuế quan của Mỹ đã thúc đẩy Việt Nam tìm cách đa dạng hóa đối tác thương mại. Xung đột ở Trung Đông có thể tác động như thế nào đến mục tiêu này ? Laurent Gédéon : Cuộc xung đột sẽ tác động mạnh đến nguồn năng lượng. Ngày 10/03, Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA) điều chỉnh dự báo giá dầu Brent 2026 lên 79 đô la/thùng (so với 58 đô la vào tháng 02/2026) và tăng 36% kể từ đầu năm. Giá năng lượng tăng sẽ ảnh hưởng đến xăng, dầu hỏa, phân bón, hóa dầu, nhựa và  như vậy sẽ tác động trực tiếp đến vận tải, công nghiệp, luyện kim, bán lẻ và thực phẩm. Nếu xu hướng này tiếp diễn, lạm phát ở Việt Nam, hiện là 2,5%, có thể tăng gấp đôi trong những tháng tới. Giá dầu tăng cũng sẽ đè nặng lên tăng trưởng GDP, ngay cả khi Việt Nam là nước sản xuất dầu khí bởi vì Việt Nam cũng phải nhập dầu khí. Hiện giờ rất khó đưa ra các dự đoán chính xác. Nếu eo biển Hormuz bị đóng cửa hoàn toàn và kéo dài, có nghĩa là Iran rải thủy lôi và bắn vào tàu thuyền tìm cách đi qua, thì giá dầu có thể ở mức hơn 100 đô la/thùng. Một trong những tác động đối với Việt Nam, như đã đề cập, là lạm phát có thể vượt 5%, và xuất khẩu giảm, cho nên có khả năng GDP bị giảm thêm 1%. Tình hình này đòi hỏi chính quyền Việt Nam theo dõi sát sao để dự báo tác động và triển khai các biện pháp ứng phó hiệu quả. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon.

TẠP CHÍ XÃ HỘI
Chính sách gia đình bền vững, phổ quát: Yếu tố giúp Pháp hạn chế phần nào tình trạng tỉ lệ sinh giảm

TẠP CHÍ XÃ HỘI

Play Episode Listen Later Mar 13, 2026 10:13


Số ca sinh trong một năm của Pháp giảm xuống mức thấp nhất tính từ 80 năm trở lại đây (từ năm 1946, sau Đệ Nhị Thế Chiến). Theo số liệu thường niên Viện Thống kê Quốc gia Pháp (INSEE) công bố vào giữa tháng 01/2026, Pháp chỉ ghi nhận ​​645.000 ca sinh trong cả năm 2025, giảm 2,1 % so với năm 2024, và giảm tới 24% so với năm 2010. Thực ra, đây không phải sự suy giảm đột ngột tại Pháp. Tính từ năm 2011 đến nay, trừ năm 2021 do tác động của biện pháp phong tỏa dài ngày chống đại dịch Covid-19, số ca sinh hàng năm của Pháp đều giảm. Điều an ủi là Pháp vẫn là nước có tỉ lệ sinh thuộc nhóm cao nhất ở châu Âu. Trả lời phỏng vấn đài RFI Tiếng Việt ngày 05/03/2026, nhà nhân khẩu học Gilles Pison, giáo sư danh dự tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia của Pháp, cố vấn của ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Dân số Quốc gia (INED), cũng là tác giả của cuốn Atlas Dân số Thế giới (NXB Autrement 2023), trước hết nhận định tỉ lệ sinh tại Pháp có xu hướng giảm không nằm ngoài xu hướng chung trên thế giới : « Đằng sau tỉ lệ sinh giảm, tình trạng chung của thế giới, là mong muốn có ít con hơn, nhưng là để có thể đầu tư nhiều hơn cho mỗi đứa con để những đứa trẻ này có thể thành công trong cuộc sống. Điều này có nghĩa là phải đầu tư để mỗi đứa trẻ được sinh ra sẽ phải được hưởng điều kiện giáo dục tốt, sẽ phải có nghề nghiệp tốt và nói tóm lại là sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn so với cha mẹ các em. Ở khắp nơi trên thế giới này, các bậc phụ huynh cũng đều hiểu rõ là nếu có nhiều con, họ sẽ không thể bảo đảm được là mỗi đứa con của họ đều sẽ thành công trong cuộc sống. Dẫu sao thì họ cũng phải đầu tư cho từng đứa con học hành rất nhiều năm và theo những chương trình học có chất lượng cao, có nghĩa là phụ huynh phải trả rất nhiều chi phí. Nói tóm lại, sinh ít con hơn là xu hướng toàn cầu và đã bắt đầu có từ rất lâu rồi, và điều này gắn với mong muốn có những đứa con thành công trong cuộc sống ».    Tỉ lệ sinh con ở 2 nhóm phụ nữ vốn tỉ lệ sinh cao nhất, 30-34 tuổi và 25-29 tuổi, đều giảm tại Pháp. Và tính tổng thể, tỉ lệ sinh trung bình năm 2025 đã giảm xuống còn 1,56 con/phụ nữ. Nhà nhân khẩu học Gilles Pison cho biết : « Tỉ lệ sinh tiếp tục giảm và đã giảm xuống mức thấp nhất, dưới ngưỡng 2 con/phụ nữ. Đây là một điều khiến các nhà nhân khẩu học ngạc nhiên, bởi vì họ từng nghĩ rằng khi tỉ lệ sinh con của phụ nữ xuống đến mức 2 con/người thì rồi sẽ ngừng giảm, nhưng không, nó vẫn cứ tiếp tục giảm ». Tỉ lệ sinh trung bình ở Pháp như vậy đã giảm nhanh và mạnh hơn so với các dự báo, bất chấp chính sách thúc đẩy dân số của các chính phủ ở cả phe tả và hữu. Tỉ lệ sinh trung bình trên thực tế như vậy cũng thấp hơn so với kết quả thăm dò ý kiến : ví dụ theo một cuộc điều tra Viện INED thực hiện năm 2024, đa phần số người được hỏi cho biết họ muốn sinh con và trung bình người Pháp muốn có 2 con. Không chỉ vậy, phụ nữ cũng sinh con muộn hơn : độ tuổi trung bình của phụ nữ khi sinh con là 31,2 tuổi, so với độ tuổi 30,4 cách nay 10 năm. Về điều này, nhà nhân khẩu học Gilles Pison phân tích : « Mong muốn là một chuyện, còn thực hiện mong muốn đó lại là chuyện khác. Chúng ta thấy là không phải mong muốn nào cũng trở thành hiện thực. Thế nên, có một khoảng cách giữa số con người ta muốn có, và số con mà họ đã sinh ra. Điều này không thực sự gây ngạc nhiên và đã có từ trước. Các kết quả nghiên cứu mà chúng tôi có cho thấy người dân Pháp, cũng như người dân các nước khác, nhất là phụ nữ, vừa muốn có con, vừa muốn có công việc, theo đuổi sự nghiệp. Khi khó dung hòa hai yếu tố công việc và gia đình, thì đa phần những người phụ nữ muốn có con đều đẩy lui thời điểm sinh con, một số người thậm chí vì cứ phải trì hoãn mãi mà cuối cùng không sinh được con dù họ mong muốn ». Ưu điểm trong chính sách gia đình của Pháp Tạo điều kiện để các bậc phụ huynh có thể dung hòa công việc và cuộc sống gia đình chính là điều mà chính sách gia đình của nhiều nước phát triển hướng tới để thúc đẩy tỉ lệ sinh, ví dụ chế độ nghỉ thai sản, không chỉ cho người mẹ mà những năm gần đây là cho cả người cha, chính sách trông giữ trẻ nhỏ, tiền hỗ trợ nuôi con … Chính sách của Pháp có gì nổi trội ? Trả lời RFI tiếng Việt, nhà nhân khẩu học Gilles Pison cho biết tiếp : « Có lẽ điểm đặc biệt là chính sách gia đình của Pháp có từ lâu đời nhất. Pháp là nước đầu tiên ở châu Âu, thậm chí là trên thế giới, quan tâm đến chính sách khuyến khích sinh con. Điều này đã có từ hơn 100 năm trước, nhất là sau Đệ nhất Thế chiến gây ra nhiều thương vong trong quân đội và khiến dân số không tăng, thậm chí là giảm nhẹ. Nhà nước Pháp đã thực hiện chính sách khuyến khích sinh sản, trong khi các quốc gia khác không quan tâm đến những vấn đề như vậy. Sau đó, chính sách khuyến khích sinh con của Pháp đã phát triển thành chính sách gia đình. Mục tiêu chính không còn là thúc đẩy tỷ lệ sinh mà là giúp các gia đình có con nuôi dạy tốt con cái. Sự chuyển đổi này diễn ra đặc biệt sau Đệ nhị Thế chiến, thế nên chính sách gia đình của Pháp là một trong những chính sách lâu đời nhất. Chính sách này tiếp tục tồn tại bất chấp những thay đổi chính trị bởi vì tại Pháp có sự đồng thuận trong suy nghĩ rằng việc hỗ trợ các bậc phụ huynh nuôi dạy con cái là điều tốt. Và như thế, nó đã tồn tại mà không vấp phải những thay đổi đột ngột. Sau này, chính sách gia đình của pháp vẫn tiếp tục được duy trì, với những điều chỉnh, nhưng thường chỉ là những điều chỉnh nhỏ. Có lẽ chính sự lâu đời, và tính liên tục của chính sách gia đình, phần nào đã giải thích tại sao tỷ lệ sinh của Pháp tương đối cao hơn so với các nước láng giềng. Trên thực tế, cuối cùng thì mọi người hiểu rằng có thể trông cậy vào sự hỗ trợ của Nhà nước nếu họ có con ». Tuy nhiên, theo nhà nhân khẩu học Gilles Pison, trên thực tế, rất khó để đo lường chính xác những đóng góp của chính sách gia đình đối với tỷ lệ sinh ở Pháp.   Về phía François Clanché, giám đốc Viện Dân Số Quốc Gia Pháp (INED), trong phiên điều trần ngày 26/01/2026 trước Thượng Viện về tỉ lệ sinh và triển vọng dân số, đã nhấn mạnh đến « tính phổ quát » trong chính sách gia đình của Pháp so với các nước khác : « Có một yếu tố quan trọng khác có lẽ đã giúp Pháp tránh được tình trạng suy giảm tỷ lệ sinh trong suốt một thời gian dài : chính sách gia đình của chúng ta nhìn chung mang tính phổ quát. Điều đó có nghĩa là chính sách gia đình của chúng ta không yêu cầu là để có con thì phải kết hôn. Vì vậy, rõ ràng khi các quốc gia nhìn vào chúng ta, hoặc so sánh với chúng ta, họ sẽ thấy rằng các ưu đãi về thuế, hay đúng hơn là biện pháp giảm thuế cho các gia đình, được áp dụng cho cả các cặp vợ chồng, cũng như các cặp đôi không kết hôn, các bà mẹ đơn thân … Và thêm một điều rất quan trọng : Hiện nay, việc hỗ trợ sinh con bằng y tế được mở rộng cho cả các cặp đồng tính nữ và phụ nữ độc thân muốn có con. Tất nhiên chỉ điều này không đóng góp thật là nhiều, nhưng tất cả các yếu tố làm cho chính sách khuyến khích sinh con, chính sách hỗ trợ gia đình trở nên phổ quát, là những điều đóng vai trò quan trọng và nhìn chung đã giúp Pháp duy trì thứ hạng khá cao trong các bảng xếp hạng như chúng ta đã thấy. Cho dù đây không phải cuộc thi, nhưng hiện nay chúng ta có tỷ lệ sinh cao hơn các quốc gia có điều kiện tương tự, rõ ràng điều này có thể có lợi cho chúng ta nếu muốn nâng cao trở lại tỷ lệ sinh ». Có thể đảo ngược xu thế tỉ lệ sinh giảm ? Trong bối cảnh nước Pháp ghi nhận số ca sinh của một năm thấp kỷ lục, một câu hỏi đang được đặt ra nhiều là Nhà nước có thể làm thế nào để đảo ngược xu hướng tỉ lệ sinh giảm. Giám đốc Viện Dân Số Quốc Gia Pháp (INED) nhận định : « Đó có thể là các chính sách nhằm ngăn chặn việc phụ nữ phải chịu thiệt thòi trong sự nghiệp chỉ vì họ là một người mẹ. Điều này có thể bao gồm các chính sách về tổ chức tại nơi làm việc, giúp nhà tuyển dụng bớt ngần ngại hơn khi tuyển dụng một người có khả năng sẽ sinh con. Và điều này cũng có thể bao gồm các chính sách công nhằm bảo đảm là các ông bố đóng vai trò quan trọng hơn trong việc nuôi dạy con cái bằng cách cho họ được hướng dẫn, đào tạo tốt hơn và hiện diện nhiều hơn bên con cái. Trong cuộc khảo sát do Hội đồng cấp cao về Gia đình, Trẻ em và Người cao tuổi thực hiện, nhiều phụ nữ có con nói rằng nếu người cha hiện diện nhiều hơn trong việc nuôi dạy đứa con đầu lòng của họ, thì có lẽ họ đã sinh thêm đứa con thứ hai, thậm chí con thứ ba. Nhiều nghiên cứu, đặc biệt là các nghiên cứu so sánh giữa các nước châu Âu cũng cho thấy điều đó. Chúng tôi thấy rằng các quốc gia có tỷ lệ sinh giảm mạnh nhất và đang ngày càng khó phục hồi là những nước mà người phụ nữ đảm nhận vai trò quan trọng trong lực lượng lao động nhưng nam giới lại không tham gia nhiều vào việc nhà và trong việc nuôi dạy con cái. (…) Và rồi còn cả vấn đề lòng tin nữa. Đó là sự tin tưởng vào các chính sách. Những chính sách mà mọi người có cảm tưởng không bền vững thì sẽ không mang lại hiệu quả. Nếu muốn thúc đẩy một người lập gia đình, thì điều quan trọng là phải khiến họ có cảm giác rằng sự hỗ trợ của Nhà nước, đặc biệt là về giáo dục và nhà ở … sẽ được duy trì lâu dài. Nếu các chính sách công thay đổi, nếu mọi người có cảm giác là khoản hỗ trợ cho việc làm cha mẹ được tăng lên, nhưng chính sách hỗ trợ thuế hoặc tài trợ cho giáo dục lại bị cắt giảm, thì lòng tin của giới trẻ đối với các chính sách gia đình sẽ giảm, và điều này rõ ràng sẽ khiến họ do dự trong kế hoạch ». Suy cho cùng, phục hồi tỉ lệ sinh không phải là việc ngày một ngày hai có thể đạt được, nhất là sau 15 năm số ca sinh tại Pháp gần như giảm liên tục, năm này sang năm khác. Cần một chính sách ổn định, dài hơi để trên hết có thể duy trì mong muốn có con của người Pháp và thúc đẩy họ hiện thực hóa mong muốn có con.

TẠP CHÍ XÃ HỘI
Vì sao các đại học Anh ngưng tuyển sinh từ Bangladesh và Pakistan?

TẠP CHÍ XÃ HỘI

Play Episode Listen Later Mar 11, 2026 11:05


Một số đại học Anh ngừng nhận sinh viên từ Bangladesh và Pakistan để hạn chế tình trạng hàng nghìn sinh viên sau khi học xong đã ở lại quá hạn visa và xin tỵ nạn. Sức ép của bộ Nội Vụ buộc các trường đại học làm chặt việc tuyển sinh từ nước ngoài, lại xảy ra vào thời điểm rất nhiều trường đã thiếu hụt số sinh viên quốc tế nói chung từ 3-4 năm qua, gặp khủng hoảng tài chính, tới mức phải cắt giảm các khóa học, đóng cửa bộ môn, và thậm chí giải tán cả các cơ sở học đường. RFI Tiếng Việt : Thân chào anh Nguyễn Giang. Hiện là nghiên cứu sinh tại đại học City University of London, anh giải thích vấn đề “tiến thoái lưỡng nan này” của ngành giáo dục đại học Anh quốc như thế nào ? Nguyễn Giang : Tin tức thời gian qua cho hay hàng loạt đại học Anh, như University of Wolverhampton, đã tuyên bố ngừng nhận tuyển sinh từ Bangladesh và Pakistan, còn các đại học Sunderland và Coventry thì “tạm ngưng” nhận đơn xin du học từ hai nước đó. Các trường London Metropolitan, Chester và Hertfordshire đều có các biện pháp tương tự, ít ra là trong năm 2026. Trên thực tế thì trong niên khóa tới (2026-2027) mà mùa tuyển sinh sẽ bắt đầu từ đầu hè 2026, con số các đại học Anh phải rà soát đơn đăng ký ghi danh từ tất cả các nước trên thế giới, sẽ tăng lên. Tôi được biết là ít nhất trên 20 trường đang bị bộ Nội Vụ cảnh báo rằng nếu những năm qua, họ có số sinh viên quốc tế học xong ở lại quá hạn visa, hoặc xin tỵ nạn, vượt một ngưỡng nhất định thì chính phủ sẽ đơn giản là rút giấy phép tuyển sinh quốc tế của họ. Mà thiếu sinh viên nước ngoài thì hàng loạt trường đại học ở Anh sẽ gặp khó khăn lớn về nguồn thu. Trong năm 2025, hàng loạt trường ở Scotland, ở miền Trung nước Anh đã phải đóng nhiều khóa học. Nhưng tin gây choáng nhất là có thêm hai đại học Kent và Essex ở vùng phụ cận của Luân Đôn trong năm 2025 đã phải đóng một số cơ sở (campus) và sa thải hàng trăm giảng viên vì thiếu sinh viên nước ngoài. Các trường khác không cẩn thận có nguy cơ rơi vào tình trạng tương tự. Trước khi nói về vấn đề của các đại học Anh, xin anh cho biết câu chuyện sinh viên quốc tế trốn ở lại đi làm chui hoặc học xong mới xin tỵ nạn là như thế nào ? Đây là câu chuyện khá nhức nhối ở Anh và hóa ra nó đã xảy ra mấy năm nay mà giờ người ta mới nói tới nhiều. Báo chí rất nhiều năm chỉ tập trung vào chuyện người di cư bằng thuyền nhỏ từ Pháp sang Anh qua eo biển mà không biết là hàng chục phần trăm số người xin tị nạn ở Anh là từ những người vào Anh hợp pháp, có thị thực hẳn hoi, gồm không ít sinh viên. Chỉ khi giấy tờ, việc làm khó khăn họ mới quay ra xin tỵ nạn, tạo ra gánh nặng không nhỏ cho nhà nước, vì người được công nhận tỵ nạn là được bảo hiểm y tế, được nhà ở miễn phí ngay lập tức. Xin nêu một vài con số, tính từ tháng 7/2024 đến tháng 6/2025, có 111.084 người nộp đơn xin tỵ nạn lên bộ Nội Vụ Anh, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước đó. Trong tổng số này thì có gần 44 nghìn người là vào bất hợp pháp, gồm 39% là « thuyền nhân » và 11% nữa là vào bằng xe thùng, containers... Chừng 13% nữa đã vào Anh từ Liên Hiệp Châu Âu, từ các đường khác hoặc là thân nhân của ai đó đã tới Anh nhưng hết hạn visa không xin thêm được. Còn lại thì tới 41 nghìn (37%) là đã tới Anh hợp pháp rồi mới xin tỵ nạn. Trong số này có gần 15 nghìn là sinh viên hoặc cựu sinh viên quốc tế. Ngoài sinh viên Bangladesh và Pakistan thì có sinh viên các nước nào nữa hay xin tỵ nạn ở Anh ? Tôi nhớ hồi tháng 5/2025, đã có tin công dân của ba nước Pakistan, Sri Lanka và Nigeria bị cho là có mặt đông nhất trong nhóm “ở lại quá hạn visa”, gồm các sinh viên - tin của báo The Guardian 06/05/2025 trích nguồn bộ Nội Vụ. Nhưng những thông báo chính thức đầu tháng 12/2025 lại cho thấy có thêm Bangladesh trong danh sách. Các nước này được cho là “quốc gia rủi ro cao” (high-risk countries) khi tuyển sinh viên và các đại học Anh giờ phải rà soát kỹ về nguồn tiền của sinh viên du học và thậm chí phỏng vấn gắt gao hơn để loại từ đầu nguy cơ có những bạn chọn con đường du học – an toàn, thậm chí rẻ hơn vượt biên – để vào Anh. Việt Nam và Trung Quốc không thấy có tên trong danh sách này nhưng việc kiểm tra hồ sơ du học thì sinh viên nước nào cũng bị rà lại kỹ và khắt khe hơn trước. Bức tranh giáo dục đại học Anh những năm qua có thay đổi gì không anh nếu đánh giá số sinh viên quốc tế ? Một điều rõ nét, có thể nhìn thấy ở các giảng đường đại học tại Luân Đôn mà tôi hay tới là sinh viên Trung Quốc tới Anh du học giảm đều, sinh viên Ấn Độ và các nước Nam Á tăng lên nhanh. Con số chính thức, theo trang Study Travel ở Anh trích nguồn nhà nước thì từ sau đại dịch Covid-19, sinh viên du học từ Trung Quốc tới Anh giảm đi 15%, còn khoảng gần 90 nghìn visa mỗi năm, còn sinh viên Ấn Độ thì tăng lên tới 140 nghìn visa ở năm cao nhất. Pakistan về ba với gần 37 nghìn visa du học, và sau đó là Nigeria, Nepal.... Việc tăng và giảm này, và quy chế visa khắt khe hơn có tác động ra sao tới nguồn thu của các đại học Anh và nền kinh tế Anh ? Sinh viên du học giảm tạo ra vấn đề tài chính rất nghiêm trọng cho các đại học Anh. Ví dụ, tính 12 tháng cho tới hết tháng 6/2025 thì Anh cấp 435.891 visa du học cho sinh viên quốc tế. Con số này đã giảm đi 18% so với cùng kỳ năm trước đó và 34% so với hai năm trước đó. Trở lại câu chuyện của hai đại học Kent University và Essex University, vừa đều phải đóng một trong số các khuôn viên và cơ sở giáo dục (campus) của họ trong năm 2025, vì “thiếu hụt ngân sách, do sinh viên nước ngoài ít sang”, thì câu chuyện được cho là “quả bom nổ chậm” với toàn ngành giáo dục đại học Anh. Việc đóng hẳn một campus phục vụ hàng chục nghìn sinh viên, như Medway campus của đại học Kent ở thành phố Chatham, và Southend campus của đại học Essex, có tác động xấu và ngay lập tức đến ba nhóm người. Một là các giảng viên và nhân viên đại học. Ví dụ mấy tháng trước, trường Kent bị sáp nhập vào đại học Greenwich thì để lập ra một trường mới - London and South East University Group- thì hàng trăm giảng viên, nhân viên sẽ bị mất việc nếu không được tái tuyển để có việc làm ở trường mới. Vụ của đại học Essex mới nhất đây thì tới 400 giảng viên, nhân viên sẽ mất việc khi một campus bị đóng và số phận cơ sở còn lại ở Colchester chưa rõ sẽ ra sao về tài chính. Hai là các sinh viên, gồm cả sinh viên nước ngoài bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ví dụ chừng 800 sinh viên đại học Essex sẽ phải chuyển từ campus ở Southend-on-Sea, ở bờ biển phía Đông lên một cơ sở mới cần mở rộng - ở Colchester cách đó 70km. Tất nhiên, vì nhiều khóa học, bộ môn bị đóng, và giảng viên đã bị sa thải, tình cảnh học tiếp của các em này sẽ không dễ. Những cuộc sáp nhập còn là sự bắt đầu của quá trình thanh lọc nơi cũ, nơi mới. Hai đại học Greenwich và Kent ghép lại làm một thì họ chỉ còn một Ban Giám hiệu, và nhiều khoa, nhiều bộ môn sẽ phải tái cấu trúc. Theo nguồn tin của cá nhân tôi thì khi ngay ở trường Greenwich, một số giảng viên người Việt cũng đang lo lắng khi mà khoa của họ chọn 2 lấy 1 khi tinh giản biên chế. Ba là tác động xấu đến nền kinh tế địa phương nơi có hàng nghìn sinh viên Anh và sinh viên nước ngoài học tập, sinh hoạt, mua sắm và thuê chỗ ở. Nguồn thu hàng triệu bảng/năm cho kinh tế một thành phố, thị trấn ở Anh sẽ biến mất. Số liệu của đại học Essex nói từ niên khóa 2021-2022 số sinh viên nước ngoài, khá đông là từ EU, tới học ở trường này đã giảm 52%, làm mất một nguồn thu lớn. Với đại học Kent, vốn nằm cạnh tuyến xe lửa cao tốc Eurostar nối với EU, thì hồi 2023 họ đã phải đóng một campus ở Bruxelles vì thiếu hụt sinh viên châu Âu, hệ quả của Brexit. Vì sau Brexit sinh viên EU phải trả phí quốc tế, ngang sinh viên Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc... thay cho mức phí ngang sinh viên Anh (chừng 10 nghìn bảng/năm học phí), nên họ không sang nữa. Cuối cùng, theo anh, câu chuyện này phản ánh điều gì ở Vương quốc Anh ? Tôi chia sẻ quan điểm với nhiều đồng nghiệp trong các nhóm giáo dục đại học tại Anh rằng mô hình tuyển sinh dựa vào sinh viên quốc tế quá lớn, tới mức phụ thuộc, hiện nay đang gặp khủng hoảng. Rộng hơn thì đây là nghịch lý của Anh quốc, với các ưu tiên trái ngược nhau. Với việc chặn tiếp sinh viên Nam Á, châu Phi bằng quy chế visa khắt khe hơn, bộ Nội Vụ Anh sẽ giảm được người xin tỵ nạn, nhưng lại sẽ khiến các đại học và nhiều ngành dịch vụ mất thu nhập, và kinh tế sẽ khó khăn hơn. Ngược lại, có ý kiến cho rằng các đại học Anh quốc sẽ phải trải qua quá trình cạnh tranh tự nhiên, và tái cấu trúc để trường nào hoạt động tốt, tuyển sinh tốt thì tồn tại, những trường không may mắn thì hẳn sẽ phải đóng cửa.

Tạp chí văn hóa
Lăng kính của nhà báo ảnh Robert Capa vẫn mang tính thời sự

Tạp chí văn hóa

Play Episode Listen Later Feb 27, 2026 9:06


Được mệnh danh là “cha đẻ” của phóng viên ảnh chiến trường, Robert Capa đã để lại cho hậu thế kho tàng ảnh tư liệu đồ sộ, lột tả trần trụi hiện thực nghiệt ngã của chiến tranh. Qua lăng kính đầy tính nhân văn, những tác phẩm của ông không chỉ xuất hiện trên khắp các mặt báo lớn mà còn chứng minh sức mạnh của nghệ thuật kể chuyện bằng hình ảnh, lay động hàng triệu độc giả. Triển lãm tại bảo tàng Libération ở Paris, từ ngày 18/02 đến ngày 20/12 là dịp để công chúng tại Pháp nhìn lại những cột mốc đánh dấu sự nghiệp của nhiếp ảnh gia huyền thoại – Robert Capa. Triển lãm trưng bày hơn 60 bức ảnh do ông chụp trong nhiều giai đoạn khác nhau trên khắp địa cầu, cùng những tài liệu, kỷ vật cá nhân của ông. Robert Capa tên thật là Endre Ernő Friedmann, sinh năm 1913 tại Budapest, Hungary. Bí danh “Robert Capa” được ông chọn vì nghe có vẻ “rất Mỹ”, giúp ông dễ dàng bán ảnh với giá cao hơn. Cuộc đời của ông gắn liền với những biến động lịch sử ở châu Âu và là một trong những nhà nhiếp ảnh hiếm hoi, từng tác nghiệp trong 5 cuộc chiến, từ cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha, cho đến chiến tranh Trung – Nhật, qua Đệ Nhị Thế Chiến, và cuộc chiến ở Đông Dương, nơi ông « rơi máy », trút hơi thở cuối cùng, khi dẫm phải mìn lúc tác nghiệp tại Thái Bình, Việt Nam vào năm 1954. Đọc thêmRobert Capa: Tài liệu quý hiếm nhân 60 năm ngày giỗ Với phong cách « dấn thân » và tôn chỉ  « Nếu ảnh không đẹp chứng tỏ bạn chưa đến đủ gần », Robert Capa đã đặt nền móng cho nghề phóng viên ảnh hiện đại, được coi là một trong những nhà nhiếp ảnh chiến trường vĩ đãi nhất thế kỷ XX. Để hiểu rõ thêm về Robert Capa, RFI đã phỏng vấn Kevin Desurmont, phụ trách triển lãm của bảo tàng Libération ở Paris. Bảo tàng đã chọn cách kể chuyện dẫn dắt người xem như thế nào trong triển lãm lần này để nói về Robert Capa? Chúng tôi thực hiện triển lãm này, với sự hợp tác của Magnum Photos, hãng ảnh do Robert Capa thành lập vào năm 1947. Chúng tôi khai thác kho lưu trữ của Magnum, gồm những bản in báo chí, từng được lưu hành rộng rãi trong các phòng biên tập báo chí trên khắp châu Âu và thế giới. Đây không chỉ là một bộ sưu tập ảnh, mà còn là một cuộc trưng bày các bản in và hiện vật mang theo câu chuyện lịch sử đằng sau chúng. Sợi chỉ xuyên suốt triển làm là những hình ảnh mang tính biểu tượng của ông, cách ông làm việc, cách các bản in được sử dụng trên báo chí vào những năm 1930 và sau đó. Chúng tôi liên kết tất cả các nội dung này, với con người Robert Capa, và một bộ phim tiểu sử về ông, để cuối cùng mở ra những vấn đề cốt lõi: nhiếp ảnh chiến tranh là gì, và đâu là những giới hạn đạo đức cần được cân nhắc. Chúng tôi cố gắng đặt câu hỏi về việc khi nào nhiếp ảnh chiến tranh đi quá xa ? Khi nào nhiếp ảnh gia nên dừng lại trong vai trò của mình ? Robert Capa được coi là một "nhân vật" do Friedmann tạo ra. Điểm đáng chú ý nhất của nhân vật này là gì? Robert Capa có tên khai sinh là Endre Ernő Friedmann, là một người tị nạn Do Thái từ Hungary, chống phát xít, đến Paris vào năm 1933 từ rất trẻ, (khi mới 17 tuổi) và gặp rất nhiều những người tị nạn khác, (…) và cùng gặp khó khăn trong việc bán ảnh, và cứ thế Robert Capa ra đời, có phần lập dị, là một người thích mạo hiểm và thích việc chơi đùa với cuộc sống. Ông cũng là người luôn tìm đến những nơi nguy hiểm. Ông tiến thẳng vào tâm điểm hiểm nguy, và điều này được thể hiện rất rõ trong triển lãm. Tại triển lãm, chúng tôi trưng bày cả những thước phim tư liệu ghi lại cảnh ông thực sự lao vào trung tâm của các trận giao tranh. Phong cách của ông là ở tuyến đầu, ở khoảng cách gần nhất, chụp cả những người lính trực tiếp chiến đấu lẫn cảnh khốn cùng mà chiến tranh gieo rắc. Rốt cuộc, khó có thể xếp ông vào trào lưu “nhiếp ảnh nhân văn” theo nghĩa một trường phái cụ thể, nhưng rõ ràng ông sở hữu một cái nhìn đậm tính nhân văn, đối với các nhân vật và hiện thực mà mình ghi lại. Ông đánh giá thế nào về vai trò của Capa trong lịch sử báo ảnh? Robert Capa hành nghề nhiếp ảnh vào thời điểm mà báo ảnh đang trong trải qua một cuộc cách mạng. Các báo, tạp chí, đưa ra những đường biên tập mới, cùng với sự hồi sinh mạnh mẽ của báo chí có hình minh họa. Các bức ảnh trở thành phương tiện quan trọng để phản ánh, truyền tải thời sự. Các nhà nhiếp ảnh tham gia vào quá trình này. Bên cạnh đó, là những tiến bộ kỹ thuật, với những máy ảnh ngày càng nhỏ gọn, linh hoạt với nhiều tính năng vượt trội. Nhờ vậy, nhiếp ảnh gia có thể ghi lại những sự kiện trực tiếp trên đường phố, nhanh chóng tráng, rửa ảnh và chuyển về tòa soạn để kịp thời xuất bản. Do đó, có một làn sóng đổi mới mạnh mẽ trong thập niên 1930 về báo ảnh, Capa là một trong gương mặt góp phần quan trọng vào quá trình này. Điều đặc biệt ở chỗ là ông đã trở thành phóng viên ảnh chiến trường nổi tiếng nhất, từ nội chiến ở Tây Ban Nha, quan cuộc chiến ở Đông Dương năm 1954. Công việc của ông đã được các đồng nghiệp và các tòa soạn thừa nhận. Điều này củng cố thêm kinh nghiệm chuyên môn của mình. Đông Dương cũng là nơi mà Robert Capa đã thiệt mạng khi tác nghiệp, vậy bảo tàng đề cập đến cái chết của huyền thoại nhiếp ảnh gia chiến trường này như thế nào ? Về cái chết của Capa, chúng tôi tiếp cận câu chuyện này bằng cách giới thiệu ở gian cuối cùng của triển lãm một trong những tấm ảnh cuối cùng được ông chụp.  Đó là bức ảnh màu cuối cùng cho thấy những cánh đồng lúa và những người lính Pháp, được chụp trước khi ông giẫm phải mìn. Bức ảnh màu này được trình bày dưới dạng tấm in cũ và cũng có bản phóng lớn, để người xem có thể thực sự đắm mình trong khoảnh khắc cuối cùng đó. Hình ảnh màu và các cảnh tượng binh lính trên cánh đồng lúa, gợi lên cách mà các phóng viên chiến trường tiếp tục thực hành nghề nghiệp trong các xung đột sau này, đặc biệt là Chiến tranh Việt Nam, với những hình ảnh có thể được liên tưởng đến những tấm ảnh này. Triển lãm được tổ chức trong bối cảnh đang diễn ra nhiều cuộc xung đột thu hút sự quan tâm của quốc tế, từ cuộc chiến ở Ukraina cho đến xung đột ở Trung Đông. Vậy đâu là thông điệp mà bảo tàng muốn truyền tải khi đề cập đến nhà báo ảnh chiến trường Robert Capa ? Thông điệp mà chúng tôi muốn truyền tải là những bức ảnh của Capa vẫn còn mang tính thời sự, cho dù đã nhiều thập kỷ trôi qua kể từ khi ông qua đời, nó vẫn là một tiêu chuẩn tham chiếu đối với nhiều phóng viên chiến tranh đương đại. Đồng thời, chúng tôi đặt ra nhiều câu hỏi xuyên suốt triển lãm về cách các tấm ảnh được lan toả, và về vị trí của người chụp. Ví dụ, có một câu hỏi trọng tâm là: đến lúc nào thì một phóng viên nên dừng chụp để cứu người mà họ đang ghi lại?  Vấn đề này được đặt ra qua trao đổi với các nhà báo/phóng viên chiến tranh hiện đại, trong đó một đại diện của hãng Magnum, đã trả lời chúng tôi rằng nhiều câu hỏi mà Capa từng đối diện vẫn còn nguyên giá trị ngày nay, bất chấp tiến bộ kỹ thuật và những hình thức xung đột mới.   RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn ông Kevin Desurmont, và bảo tàng Libération Paris.

TẠP CHÍ VĂN HÓA
Lăng kính của nhà báo ảnh Robert Capa vẫn mang tính thời sự

TẠP CHÍ VĂN HÓA

Play Episode Listen Later Feb 27, 2026 9:06


Được mệnh danh là “cha đẻ” của phóng viên ảnh chiến trường, Robert Capa đã để lại cho hậu thế kho tàng ảnh tư liệu đồ sộ, lột tả trần trụi hiện thực nghiệt ngã của chiến tranh. Qua lăng kính đầy tính nhân văn, những tác phẩm của ông không chỉ xuất hiện trên khắp các mặt báo lớn mà còn chứng minh sức mạnh của nghệ thuật kể chuyện bằng hình ảnh, lay động hàng triệu độc giả. Triển lãm tại bảo tàng Libération ở Paris, từ ngày 18/02 đến ngày 20/12 là dịp để công chúng tại Pháp nhìn lại những cột mốc đánh dấu sự nghiệp của nhiếp ảnh gia huyền thoại – Robert Capa. Triển lãm trưng bày hơn 60 bức ảnh do ông chụp trong nhiều giai đoạn khác nhau trên khắp địa cầu, cùng những tài liệu, kỷ vật cá nhân của ông. Robert Capa tên thật là Endre Ernő Friedmann, sinh năm 1913 tại Budapest, Hungary. Bí danh “Robert Capa” được ông chọn vì nghe có vẻ “rất Mỹ”, giúp ông dễ dàng bán ảnh với giá cao hơn. Cuộc đời của ông gắn liền với những biến động lịch sử ở châu Âu và là một trong những nhà nhiếp ảnh hiếm hoi, từng tác nghiệp trong 5 cuộc chiến, từ cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha, cho đến chiến tranh Trung – Nhật, qua Đệ Nhị Thế Chiến, và cuộc chiến ở Đông Dương, nơi ông « rơi máy », trút hơi thở cuối cùng, khi dẫm phải mìn lúc tác nghiệp tại Thái Bình, Việt Nam vào năm 1954. Đọc thêmRobert Capa: Tài liệu quý hiếm nhân 60 năm ngày giỗ Với phong cách « dấn thân » và tôn chỉ  « Nếu ảnh không đẹp chứng tỏ bạn chưa đến đủ gần », Robert Capa đã đặt nền móng cho nghề phóng viên ảnh hiện đại, được coi là một trong những nhà nhiếp ảnh chiến trường vĩ đãi nhất thế kỷ XX. Để hiểu rõ thêm về Robert Capa, RFI đã phỏng vấn Kevin Desurmont, phụ trách triển lãm của bảo tàng Libération ở Paris. Bảo tàng đã chọn cách kể chuyện dẫn dắt người xem như thế nào trong triển lãm lần này để nói về Robert Capa? Chúng tôi thực hiện triển lãm này, với sự hợp tác của Magnum Photos, hãng ảnh do Robert Capa thành lập vào năm 1947. Chúng tôi khai thác kho lưu trữ của Magnum, gồm những bản in báo chí, từng được lưu hành rộng rãi trong các phòng biên tập báo chí trên khắp châu Âu và thế giới. Đây không chỉ là một bộ sưu tập ảnh, mà còn là một cuộc trưng bày các bản in và hiện vật mang theo câu chuyện lịch sử đằng sau chúng. Sợi chỉ xuyên suốt triển làm là những hình ảnh mang tính biểu tượng của ông, cách ông làm việc, cách các bản in được sử dụng trên báo chí vào những năm 1930 và sau đó. Chúng tôi liên kết tất cả các nội dung này, với con người Robert Capa, và một bộ phim tiểu sử về ông, để cuối cùng mở ra những vấn đề cốt lõi: nhiếp ảnh chiến tranh là gì, và đâu là những giới hạn đạo đức cần được cân nhắc. Chúng tôi cố gắng đặt câu hỏi về việc khi nào nhiếp ảnh chiến tranh đi quá xa ? Khi nào nhiếp ảnh gia nên dừng lại trong vai trò của mình ? Robert Capa được coi là một "nhân vật" do Friedmann tạo ra. Điểm đáng chú ý nhất của nhân vật này là gì? Robert Capa có tên khai sinh là Endre Ernő Friedmann, là một người tị nạn Do Thái từ Hungary, chống phát xít, đến Paris vào năm 1933 từ rất trẻ, (khi mới 17 tuổi) và gặp rất nhiều những người tị nạn khác, (…) và cùng gặp khó khăn trong việc bán ảnh, và cứ thế Robert Capa ra đời, có phần lập dị, là một người thích mạo hiểm và thích việc chơi đùa với cuộc sống. Ông cũng là người luôn tìm đến những nơi nguy hiểm. Ông tiến thẳng vào tâm điểm hiểm nguy, và điều này được thể hiện rất rõ trong triển lãm. Tại triển lãm, chúng tôi trưng bày cả những thước phim tư liệu ghi lại cảnh ông thực sự lao vào trung tâm của các trận giao tranh. Phong cách của ông là ở tuyến đầu, ở khoảng cách gần nhất, chụp cả những người lính trực tiếp chiến đấu lẫn cảnh khốn cùng mà chiến tranh gieo rắc. Rốt cuộc, khó có thể xếp ông vào trào lưu “nhiếp ảnh nhân văn” theo nghĩa một trường phái cụ thể, nhưng rõ ràng ông sở hữu một cái nhìn đậm tính nhân văn, đối với các nhân vật và hiện thực mà mình ghi lại. Ông đánh giá thế nào về vai trò của Capa trong lịch sử báo ảnh? Robert Capa hành nghề nhiếp ảnh vào thời điểm mà báo ảnh đang trong trải qua một cuộc cách mạng. Các báo, tạp chí, đưa ra những đường biên tập mới, cùng với sự hồi sinh mạnh mẽ của báo chí có hình minh họa. Các bức ảnh trở thành phương tiện quan trọng để phản ánh, truyền tải thời sự. Các nhà nhiếp ảnh tham gia vào quá trình này. Bên cạnh đó, là những tiến bộ kỹ thuật, với những máy ảnh ngày càng nhỏ gọn, linh hoạt với nhiều tính năng vượt trội. Nhờ vậy, nhiếp ảnh gia có thể ghi lại những sự kiện trực tiếp trên đường phố, nhanh chóng tráng, rửa ảnh và chuyển về tòa soạn để kịp thời xuất bản. Do đó, có một làn sóng đổi mới mạnh mẽ trong thập niên 1930 về báo ảnh, Capa là một trong gương mặt góp phần quan trọng vào quá trình này. Điều đặc biệt ở chỗ là ông đã trở thành phóng viên ảnh chiến trường nổi tiếng nhất, từ nội chiến ở Tây Ban Nha, quan cuộc chiến ở Đông Dương năm 1954. Công việc của ông đã được các đồng nghiệp và các tòa soạn thừa nhận. Điều này củng cố thêm kinh nghiệm chuyên môn của mình. Đông Dương cũng là nơi mà Robert Capa đã thiệt mạng khi tác nghiệp, vậy bảo tàng đề cập đến cái chết của huyền thoại nhiếp ảnh gia chiến trường này như thế nào ? Về cái chết của Capa, chúng tôi tiếp cận câu chuyện này bằng cách giới thiệu ở gian cuối cùng của triển lãm một trong những tấm ảnh cuối cùng được ông chụp.  Đó là bức ảnh màu cuối cùng cho thấy những cánh đồng lúa và những người lính Pháp, được chụp trước khi ông giẫm phải mìn. Bức ảnh màu này được trình bày dưới dạng tấm in cũ và cũng có bản phóng lớn, để người xem có thể thực sự đắm mình trong khoảnh khắc cuối cùng đó. Hình ảnh màu và các cảnh tượng binh lính trên cánh đồng lúa, gợi lên cách mà các phóng viên chiến trường tiếp tục thực hành nghề nghiệp trong các xung đột sau này, đặc biệt là Chiến tranh Việt Nam, với những hình ảnh có thể được liên tưởng đến những tấm ảnh này. Triển lãm được tổ chức trong bối cảnh đang diễn ra nhiều cuộc xung đột thu hút sự quan tâm của quốc tế, từ cuộc chiến ở Ukraina cho đến xung đột ở Trung Đông. Vậy đâu là thông điệp mà bảo tàng muốn truyền tải khi đề cập đến nhà báo ảnh chiến trường Robert Capa ? Thông điệp mà chúng tôi muốn truyền tải là những bức ảnh của Capa vẫn còn mang tính thời sự, cho dù đã nhiều thập kỷ trôi qua kể từ khi ông qua đời, nó vẫn là một tiêu chuẩn tham chiếu đối với nhiều phóng viên chiến tranh đương đại. Đồng thời, chúng tôi đặt ra nhiều câu hỏi xuyên suốt triển lãm về cách các tấm ảnh được lan toả, và về vị trí của người chụp. Ví dụ, có một câu hỏi trọng tâm là: đến lúc nào thì một phóng viên nên dừng chụp để cứu người mà họ đang ghi lại?  Vấn đề này được đặt ra qua trao đổi với các nhà báo/phóng viên chiến tranh hiện đại, trong đó một đại diện của hãng Magnum, đã trả lời chúng tôi rằng nhiều câu hỏi mà Capa từng đối diện vẫn còn nguyên giá trị ngày nay, bất chấp tiến bộ kỹ thuật và những hình thức xung đột mới.   RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn ông Kevin Desurmont, và bảo tàng Libération Paris.

TẠP CHÍ XÃ HỘI
Nghịch lý về xu hướng ăn uống không lành mạnh tại nước Pháp nổi tiếng về ẩm thực

TẠP CHÍ XÃ HỘI

Play Episode Listen Later Feb 20, 2026 11:23


Nước Pháp vốn lâu nay vẫn nổi tiếng là xứ sở ẩm thực, người Pháp được xem là có gu ăn uống tinh tế, các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn cao, thế nhưng nay nước Pháp đang trở thành « thiên đường » của đồ ăn nhanh và nhiều hiệp hội, tổ chức tại Pháp ngày càng lo ngại về tình trạng tiêu dùng tràn lan các thực phẩm không lành mạnh (malbouffe). Một cuộc khảo sát của 7 hiệp hội, tổ chức về 5.000 sản phẩm khuyến mại tại 5 hệ thống bán lẻ lớn nhất của Pháp (Carrefour, Cooopérative U, E.Leclerc, Intermarché và Lidl) trong hai tháng 02-03/2025, cho thấy 66% chương trình khuyến mãi thực phẩm tại hệ thống các siêu thị lớn liên quan đến các sản phẩm quá béo, quá ngọt hoặc quá mặn, không tốt cho sức khỏe người tiêu dùng, thậm chí là các thực phẩm mà các định chế y tế khuyến cáo hạn chế sử dụng, như các thức uống ngọt, thịt chế biến sẵn, thực phẩm chế biến từ thịt đỏ … Tố cáo các siêu thị thúc đẩy người tiêu dùng mua thực phẩm không lành mạnh, thậm chí « bán rẻ » sức khỏe của khách hàng, các hiệp hội này kêu gọi các chuỗi siêu thị lớn bảo đảm là ít nhất 50% thực phẩm được khuyến mại phải là sản phẩm có chất lượng, với giá cả phải chăng. Trong số 7 hiệp hội, tổ chức về thực phẩm, sức khỏe, bệnh tiểu đường, gia đình hay bảo vệ khí hậu, có Food Watch France, một tổ chức phi lợi nhuận đấu tranh cho quyền của cộng đồng được tiếp cận thực phẩm lành mạnh, giá cả phải chăng, được lựa chọn và bảo đảm phát triển bền vững. Để hiểu thêm về thực trạng tiêu dùng thực phẩm không lành mạnh tại Pháp, RFI Tiếng Việt phỏng vấn bà Audrey Morice, phụ trách chương trình quảng bá của Food Watch France. RFI : Trước hết, nên hiểu thế nào là đồ ăn không lành mạnh ? Audrey Morice : Tất cả các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng thấp nhưng chứa nhiều calorie, cholesterol, chất béo bão hòa, đường, đôi khi là muối, về cơ bản đó là những thứ ẩn nấp đằng sau thực phẩm không lành mạnh mà chúng ta cần biết. Nói cách khác, đó là những thực phẩm quá béo, quá ngọt, quá mặn. Ngày nay, thực phẩm không lành mạnh còn gắn liền thực phẩm siêu chế biến, vốn bị chỉ trích rất nhiều. Chúng chiếm tới gần 1/3 lượng calorie chúng ta nạp hàng ngày vào người, do đây thường là những thực phẩm rất tiện lợi, trông rất ngon miệng mà lại không đắt mấy. Tuy nhiên, đằng sau những thực phẩm này là một quá trình biến đổi theo dây chuyền công nghiệp, dẫn đến những hậu quả về sức khỏe và gây nhiều tranh cãi. Đây thực ra là những xu hướng tiêu dùng thực phẩm có từ những năm 1960-1970, với sự xuất hiện của thức ăn nhanh McDonald's và thực phẩm công nghiệp. Cách nay vài thập kỷ, chúng ta được tiêu thụ trực tiếp thực phẩm được nuôi trồng. Nhưng rồi sau đó, theo thời gian, loại thực phẩm này đã dần dần trải qua quá trình chế biến theo tiêu chuẩn của ngành công nghiệp thực phẩm. Cùng với đó là sự thay đổi về lối sống, cách vận chuyển, dẫn đến việc mọi người chuyển sang sử dụng thực phẩm không lành mạnh, còn giá cả thực phẩm tươi thì cứ tăng, các phương pháp sản xuất bị công nghiệp hóa, giá những sản phẩm theo số lượng lớn và chứa nhiều đường lại giảm. Tất cả những điều đó dẫn đến việc các siêu thị ngày nay tràn ngập những sản phẩm "siêu chế biến" và các xu hướng tiêu thụ thức ăn nhanh, như McDonald's, KFC … Điều này có nghĩa là nguồn cung ngày nay tập trung vào nhóm thực phẩm không lành mạnh, thay vì hướng đến các sản phẩm tươi, ngon, chất lượng. RFI : Pháp vốn nổi tiếng trên thế giới là xứ sở của ẩm thực. Vậy bà giải thích thế nào về tiến triển của xu hướng tiêu dùng thực phẩm không lành mạnh như vậy, ví dụ ăn fastfood ? Audrey Morice : Kiểu thực phẩm chế biến không lành mạnh lần đầu tiên du nhập vào Pháp từ nước ngoài là vào những năm 1970, khi hệ thống thực phẩm của thế giới bắt đầu trở nên công nghiệp hóa đến mức dần dần trở thành có vấn đề. Đó là khi thực phẩm bắt đầu trải qua quá nhiều quá trình chế biến. Thực ra thực phẩm chế biến sẵn không phải là điều gì mới mẻ, nhưng vấn đề nằm ở chỗ những loại thực phẩm như thế này được chế biến quá nhiều và dần dần xuất hiện trên thị trường. Đây không phải là hiện tượng mới, mà có lẽ chúng ta chỉ  ngày càng nhận thức rõ hơn rằng những loại thực phẩm này, bắt đầu xuất hiện cách đây vài thập kỷ, nay đã dần dần tràn ngập thị trường. Hiện nay, chúng ta đã có các nghiên cứu về các tác động của loại thực phẩm này đối với sức khỏe. Trước tiên, các nghiên cứu khoa học đã cho thấy có những tác động gây tranh cãi, rồi sau đó là các nghiên cứu lâm sàng đang ngày càng được tiến hành nhiều về các tác động lên cơ thể con người và hệ thống y tế của chúng ta. Và các chuyên gia y tế cả chục năm nay đã cảnh báo về tác hại của loại thực phẩm không lành mạnh này đối với con người. RFI : Chúng ta có thể giải thích xu hướng đáng báo động này như thế nào và đâu là những lý do chính dẫn đến xu hướng tiêu dùng thực phẩm không lành mạnh ở Pháp ? Audrey Morice : Những lý do chính của thị trường thực phẩm không lành mạnh này, cũng giống như nhiều vấn đề khác có liên quan đến thực phẩm và sức khỏe, cần được xem xét từ phía các nhà cung ứng. Ngày nay, hầu hết cư dân đều có các nguồn cung cấp thực phẩm dễ tiếp cận về mặt địa lý, nghĩa là nói chung chỉ cần lái xe 5 phút là đến nơi. Nếu không phải quý vị đang sống ở các hòn đảo, thì chỉ cần lái xe 5-10 phút, hoặc nếu ở thành phố thì chỉ cần đi bộ vài trăm mét là có thể đến được một siêu thị, một cửa hàng tiện lợi. Những yếu tố thống lĩnh thị trường thực phẩm chính là các siêu thị và ngành chế biến thực phẩm. Vấn đề là ở chỗ những công ty này không tạo thuận lợi cho việc đưa các thực phẩm lành mạnh và bền vững đến người tiêu dùng. Trái lại, họ khuyến mại và hướng người tiêu dùng đến với những thực phẩm siêu chế biến. Hiện giờ cứ 10 sản phẩm bày bán trong siêu thị thì có tới 7 mặt hàng là thực phẩm không lành mạnh. Như vậy, vấn đề hiện nay thực sự nằm ở các nhà cung cấp hàng hóa cho thị trường : họ không cho phép mọi người ưu tiên tiêu thụ những sản phẩm tốt lành nhất. Ngoài ra ngày càng có nhiều chiêu quảng cáo và tiếp thị mạnh tập trung chủ yếu vào những sản phẩm ít có lợi cho sức khỏe của chúng ta. RFI : Đó là từ phía nhà cung cấp. Vậy còn về phía người tiêu dùng, cuộc khủng hoảng, lạm phát liệu có phải những yếu tố đẩy người tiêu dùng đến với loại thực phẩm rẻ tiền, không lành mạnh ? Audrey Morice : Dĩ nhiên là lạm phát có các tác động rõ rệt. Đó là làm tăng giá thực phẩm, điều này có nghĩa là thực sự tạo ra sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn thực phẩm và chắc chắn sẽ là sẽ gây trở ngại cho những người có ngân sách eo hẹp nhất, những người chịu cảnh sống bấp bênh nhất, khiến họ không được tiếp cận với các loại thực phẩm có chất lượng dinh dưỡng cao. Tất nhiên là họ phải ưu tiên chọn mua những loại thực phẩm rẻ tiền, giàu năng lượng nhưng lại nghèo dinh dưỡng, ảnh hưởng tới khả năng tiêu dùng những thực phẩm lành mạnh hơn, như trái cây, rau củ, cá, hay các sản phẩm từ sữa … Mặc dù một số loại thực phẩm cơ bản đã thực sự trở nên không thể tiếp cận được và bị gạt khỏi danh sách mua sắm, chúng ta cũng có thể phối hợp, điều chỉnh, để cân bằng cả ngân sách và sức khỏe, bởi vì chúng ta biết rằng những người có điều kiện sống bấp bênh nhất cũng là những nạn nhân đầu tiên bị các căn bệnh liên quan đến chế độ ăn uống kém chất lượng. Ví dụ, chúng ta biết rằng tình trạng béo phì phổ biến gấp đôi ở những nhóm người khiêm tốn nhất về tài chính và đó chính là tổng hợp của sự bất bình đẳng : bất bình đẳng xã hội và bất bình đẳng về sức khỏe liên quan đến chế độ ăn uống. RFI : Nhóm người tiêu dùng nào ở Pháp mua nhiều thực phẩm không lành mạnh nhất ? Audrey Morice : Ngày nay, thực sự có yếu tố xã hội và yếu tố kinh tế. Có những hộ gia đình ở Pháp không đủ khả năng chi tiêu, đang phải giảm một phần ngân sách vốn dành để mua thực phẩm. Như vậy là có những người trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Trong những năm gần đây, chúng ta cũng chứng kiến ​​cảnh hàng dài sinh viên xếp hàng trước những nơi phân phát thực phẩm cứu trợ, và chúng ta cũng đã thấy rằng số người phải nhận trợ thực giúp phẩm tăng bùng nổ. Thế những, ngoài yếu tố kinh tế và xã hội, có một thực tế là thực phẩm không lành mạnh cũng bán chạy nhờ quảng cáo và tiếp thị, và trẻ em là đối tượng đặc biệt bị ngành công nghiệp thực phẩm nhắm tới để bán các sản phẩm, ví dụ như đồ ăn nhẹ, soda hay kẹo. Đó là những sản phẩm đặc biệt thu hút các em. Tại Pháp, chúng ta biết rằng ngày nay nhiều trẻ em đang thừa cân, số này đang ngày càng tăng, nhưng các em vẫn tiêu thụ quá nhiều đồ ngọt. RFI : Food Watch France đã tiến hành một cuộc điều tra về hoạt động tiếp thị nhắm tới nhóm đối tương là trẻ em tại Pháp. Vậy theo bà, đâu là điều đáng lo ngại nhất, đáng báo động nhất ? Audrey Morice : Tiếp thị và quảng cáo nhắm vào trẻ em là vấn đề mà các chuyên gia y tế đã cảnh báo từ suốt gần 10 năm qua. Ngày nay, có nhiều hoạt động quảng cáo và tiếp thị mạnh mẽ nhắm vào trẻ em. Ngành công nghiệp thực phẩm nhắm vào những trẻ nhỏ tuổi nhất. Quảng cáo là để bán hàng, nhưng ngành công nghiệp thực phẩm lại sử dụng các nhân vật hoạt hình, những người có sức ảnh hưởng, những ngôi sao ca nhạc. Những ngôi sao này cũng có ảnh hưởng đến lựa chọn tiêu dùng của những các em ở lứa tuổi nhỏ. Trẻ em không nhận ra là có sự khác biệt giữa quảng cáo và thông tin đơn thuần. Bằng cách sử dụng các kỹ thuật tiếp thị đánh vào tâm lý, ngành công nghiệp thực phẩm đang cố gắng bán ngày càng nhiều sản phẩm và đa phần là các thực phẩm quá béo, quá ngọt, quá mặn, mà theo các chuyên gia không nên quảng cáo đến đối tượng trẻ em. Điều này có những hậu quả trực tiếp đến thói quen ăn uống của trẻ còn rất nhỏ tuổi, từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ, cả về sau trong suốt cuộc đời của các em. RFI : Vậy theo Food Watch France, đâu là những giải pháp để chống lại tình trạng thực phẩm không lành mạnh ở Pháp ? Audrey Morice : Trước hết, xin nhắc lại là các giải pháp đã được biết đến. Nhắc lại điều này là rất quan trọng. Đã có những giải pháp cụ thể để bảo đảm là thực phẩm lành mạnh, được lựa chọn kỹ càng, bền vững và phù hợp với túi tiền của tất cả mọi người. Trên thực tế, việc đầu tiên là phải buộc ngành công nghiệp thực phẩm và các nhánh phân phối quy mô lớn gánh trách nhiệm vì chúng ta đang nói đến sự tập trung, quyền lực kinh tế, các tác nhân đầy quyền lực đang phần nào là chỗ dựa cho các nhà cung ứng thực phẩm với một sự thiếu minh bạch về việc tính toán giá cả thực phẩm. Để cân bằng cán cân quyền lực này, nhà nước phải đặt ra những quy định chặt chẽ và rõ ràng hơn để bảo vệ người tiêu dùng về chất lượng các sản phẩm được bày bán, chiến lược tiếp thị ý tưởng, giá cả niêm yết trên kệ hàng. Để làm được những điều đó, một trong những đề xuất mà Food Watch France đưa ra là, ví dụ ngăn chặn sự bùng nổ biên lợi nhuận của ngành công nghiệp thực phẩm và các chuỗi siêu thị phân phối, cho phép trả công một cách công bằng cho nông dân và khôi phục tính minh bạch trong cách mà ngành nông nghiệp thực phẩm xây dựng giá cả để khắc phục tình trạng những thực phẩm lành mạnh nhất hiện nay lại là những sản phẩm đắt nhất. Bên cạnh đó, còn có nhiều giải pháp và phương án thay thế cho phép đưa ra các chính sách ngăn ngừa tình trạng sống bấp bênh, hỗ trợ việc lập giải pháp thay thế, với các sáng kiến ​​như cửa thực phẩm xã hội và đoàn kết, nhóm mua chung, giỏ hàng đoàn kết, quỹ thực phẩm chung. Cũng có rất nhiều biện pháp rất đơn giản nhìn từ góc độ sức khỏe, như bắt buộc ghi thành phần dinh dưỡng trên bao bì thực phẩm, cấm quảng cáo hướng tới trẻ em, hay các biện pháp như đánh thuế nước ngọt hoặc đánh thuế các sản phẩm có đường, như chúng ta thấy là đã được bàn luận rất nhiều trong dự luật tài trợ an sinh xã hội. Như vậy là có rất nhiều giải pháp đã được biết tới, có một số giải pháp rất dễ thực hiện, chỉ cần là giới chính trị mong muốn thực hiện. Một số giải pháp khác thì đòi hỏi chính phủ vào cuộc để buộc ngành công nghiệp thực phẩm làm sao cho người tiêu dùng được tiếp cận các sản phẩm lành mạnh và bảo đảm phát triển bền vững hơn. RFI tiếng Việt chân thành cảm ơn Audrey Morice đã tham gia chương trình !

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Liên Âu hy vọng Việt Nam thực hiện triệt để cải cách hành chính để gia tăng hấp dẫn đối với đầu tư châu Âu

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Feb 2, 2026 9:30


Liên Hiệp Châu Âu hiện là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba và là thị trường nhập khẩu lớn thứ năm của Việt Nam. Năm 2026 được coi là “thời điểm vàng” để doanh nghiệp Việt Nam khai thác tối đa lợi thế từ Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA) với Liên Âu vì lộ trình cắt giảm thuế quan giữa hai bên đã tiến gần đến 100%. EU cũng không ngừng hỗ trợ Việt Nam trong chuyển đổi xanh để đáp ứng tiêu chí sản phẩm của khối 27 nước. Kể từ khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực ngày 01/08/2020, giao thương giữa Việt Nam và Liên Hiệp Châu Âu không ngừng gia tăng. Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại song phương đạt 73,8 tỷ đô la, trong đó Việt Nam xuất siêu khoảng 30 tỷ đô la. Theo báo Đầu tư ngày 07/01, Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Liên Âu trong khối ASEAN, đứng trong top 10 nhà cung ứng hàng hóa cho thị trường EU (Eurostat 2024). Doanh nghiệp châu Âu tin vào Việt Nam Liên Âu hiện là nhà đầu tư lớn thứ 6 của Việt Nam. Việt Nam trở thành điểm hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư Liên Âu. Trả lời RFI Tiếng Việt ngày 20/01/2026, đại sứ Liên Hiệp Châu Âu tại Việt Nam Julien Guerrier nhận định : “Tôi thậm chí có thể nói rằng trong một hoặc hai năm gần đây, chúng ta đã thấy sự gia tăng đáng kể về niềm tin của các nhà đầu tư châu Âu vào Việt Nam. Điều này được Phòng Thương mại Châu Âu - EuroCham tại Việt Nam đo lường hàng tháng. Mức độ tin tưởng vào đất nước gia tăng nhanh chóng. Năm 2025, tăng trưởng của Việt Nam đạt 8% và Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số trong những năm tới. Vì vậy, đây là một quốc gia có nhiều cơ hội kinh tế, nơi có một mong muốn thực sự, một tầm nhìn để hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam, và là nơi đang thu hút ngày càng nhiều công ty châu Âu. Hiện tại có 1.500 công ty thành viên của EuroCham đang đầu tư mạnh vào Việt Nam. Đọc thêmHiệp định Tự do Thương mại EU-Việt Nam : Pháp-Việt được lợi gì? Cụ thể, theo Chỉ số Niềm tin Kinh doanh (BCI) quý IV năm 2025 được EuroCham thực hiện, niềm tin đã tăng 13,5 điểm so với quý trước và lên đến 80 điểm - mức cao nhất trong 7 năm gần đây. Chủ tịch EuroCham Bruno Jaspaert đánh giá trong bài nhận định đăng trên The Investor ngày 19/01 : “Đây không chỉ là một con số ấn tượng, nó còn báo hiệu một sự chuyển biến rõ ràng trong tâm lý kinh doanh châu Âu, từ sự phục hồi thận trọng sang niềm tin chiến lược… Từ 2021 đến 2025, các nhà đầu tư châu Âu đã rót hơn 28 tỷ đô la vào Việt Nam. Điều này cho thấy niềm tin dài hạn của họ và tiềm năng của đất nước”. Trước đó, tại Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Thương mại Việt Nam - EU 2025, diễn ra ngày 17/10/2025, phó chủ tịch EuroCham Jean-Jacques Bouflet nhận định : 76% lãnh đạo doanh nghiệp châu Âu hiện nay nhìn nhận Việt Nam là điểm đến đầu tư hấp dẫn, và 80% dự báo điều kiện sẽ còn thuận lợi hơn trong 5 năm tới. Khả năng phục hồi và tư duy cải cách : Hai yếu tố củng cố niềm tin Niềm tin này được căn cứ vào hai yếu tố chủ đạo : Khả năng phục hồi đáng kể ; tư duy cải cách mạnh mẽ. Khả năng phục hồi Về yếu tố thứ nhất, Việt Nam được giới chuyên gia đánh giá là đã thể hiện được sự linh hoạt, khéo léo hóa giải các biện pháp thuế đối ứng (ban đầu lên đến 46%) của tổng thống Mỹ Donald Trump. Giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, nhận định với RFI Tiếng Việt : “Vấn đề thuế quan (với Mỹ) đã được Việt Nam đàm phán khá khéo léo, và cuối cùng họ không bị thiệt hại quá nhiều. Còn về quan hệ song phương với Trung Quốc, quan hệ đối tác kinh tế và thương mại đã cởi mở hơn và nhiều hơn. Nhìn từ góc độ này, bối cảnh rất đặc biệt cho Việt Nam, nhưng “ngoại giao cây tre” đã chứng tỏ hiệu quả đáng kể, bởi vì Việt Nam đã phần nào vượt qua các cuộc xung đột đánh dấu năm 2025 mà không bị thiệt hại đáng kể”. Năm 2025, Việt Nam gia nhập nhóm 25 nền kinh tế có trị giá xuất nhập khẩu lớn nhất thế giới, với tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 920 tỷ đô la. Theo Cục Hải quan, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất (152 tỷ đô la) của Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp hàng hóa lớn nhất (183 tỷ đô la) cho Việt Nam. Tư duy cải cách Tư duy cải cách mạnh mẽ là yếu tố thứ hai tác động đến niềm tin của doanh nghiệp châu Âu vào Việt Nam. Ngày 16/01, hãng tin Pháp AFP nhận định “từ khi lên nắm giữ vị trí cao nhất cách đây chỉ 17 tháng, ông Tô Lâm đã tiến hành chiến dịch chống tham nhũng quyết liệt, giảm bớt thủ tục hành chính và thúc đẩy đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng” : từ 30 bộ và cơ quan chính phủ giảm xuống còn 22, giảm gần 150.000 công chức, khởi động nhiều dự án đầy tham vọng về đường sắt và năng lượng. Đối với nhiều nhà ngoại giao và nhà phân tích, được AFP trích dẫn ngày 16/01, “chính trị gia 68 tuổi là một chiến lược gia khôn khéo, có khả năng chấp nhận rủi ro, và những canh bạc táo bạo nhất của ông đã mang lại thành công”. Giáo sư danh dự Carl Thayer, Đại học New South Wales (Úc), “không gọi ông Tô Lâm là Trump của Việt Nam, nhưng đó là một nhà lãnh đạo tìm cách củng cố quyền lực để đưa ra những quyết định nhanh chóng và dứt khoát”. Đọc thêmEuroCham : Tinh giản hành chính nhưng cần nhanh, hiệu quả để Việt Nam tăng hấp lực Tân tổng bí thư “Tô Lâm sẽ vạch ra hướng đi cho các cải cách đã ấp ủ trong năm qua”, theo nhận định với AP của Nguyễn Khắc Giang, nghiên cứu viên thỉnh giảng tại Chương trình Nghiên cứu Việt Nam, Viện ISEAS-Yusof Ishak (Singapore) : “Tôi cho rằng các cải cách sẽ tiếp tục được đẩy nhanh sau Đại hội Đảng. Nhưng rõ ràng, sẽ có rất nhiều rào cản đối với các cải cách của ông ấy, đặc biệt là nếu nhìn vào cách thức mà các phe phái bảo thủ, nhất là quân đội, sẽ đặt ra nhất nhiều hạn chế, vì lo ngại rằng các cải cách sẽ đi quá xa, khiến Việt Nam có thể đi chệch khỏi con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng muốn đề ra cho đất nước”. EU sẵn sàng đồng hành trong quá trình chuyển đổi Vậy mô hình tăng trưởng mới gồm những điểm gì ? Đó là tái cấu trúc nền kinh tế, đặt mục tiêu tăng trưởng ít nhất là 10% hàng năm cho đến 2030, đưa thu nhập bình quân đầu người lên khoảng 8.500 USD vào năm 2030 ; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Để thực hiện chiến lược này, chính phủ coi trọng ba nhóm giải pháp chính : Hoàn thiện thể chế để phát triển, xóa bỏ những điểm nghẽn, rào cản, giải phóng mọi nguồn lực (…) ; Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, trọng dụng nhân tài (…) ; Phát triển xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; nhất là hạ tầng giao thông chiến lược (đường sắt, cảng biển), hạ tầng công nghệ, hạ tầng năng lượng. Những hạ tầng này hết sức quan trọng để bảo đảm tăng trưởng 2 con số trở lên trong thời gian tới và mục tiêu đến năm 2045 trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao. Đây cũng là ba trụ cột cốt lõi được chủ tịch EuroCham Bruno Jaspaert nhấn mạnh khi nói về chiến lược phát triển của Việt Nam để đạt được tham vọng này. Cụ thể, Liên Hiệp Châu Âu, cũng như các nhà đầu tư châu Âu, trông đợi gì từ Đại hội Đảng XIV ? Đại sứ EU Julien Guerrier nhận định với RFI Tiếng Việt : “Đại hội cần hướng tới việc xác định và phê duyệt các chính sách đã được hoạch định cho 5 năm tới. Việt Nam đang thực hiện quá trình đơn giản hóa hành chính ở quy mô lớn, bao gồm việc sáp nhập các tỉnh, bộ và đơn giản hóa các thủ tục, tất cả nhằm mục đích hiện đại hóa đất nước và thu hút đầu tư. Tôi nghĩ rằng điều mà chúng tôi kỳ vọng, đó là sự thành công của tất cả các cải cách này, để môi trường kinh doanh trở nên hấp dẫn hơn đối với các doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư vào các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, công nghiệp xanh và chuyển đổi số. Đây là những ngành công nghiệp của tương lai và cũng là những lĩnh vực mà Liên Hiệp Châu Âu có lợi thế cạnh tranh và có thể cung cấp cho Việt Nam những giải pháp công nghệ cao, an toàn, bảo đảm tính tự chủ chiến lược và độc lập kinh tế của Việt Nam đối với việc phát triển trong tương lai về những lĩnh vực trọng điểm này”. Đọc thêmEU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ? Một khung pháp lý minh bạch, ổn định và nhất quán chính là nền tảng để xây dựng một nền kinh tế có thể tiến xa và tăng trưởng bền vững, để thuyết phục được các nhà đầu tư tự tin đặt những “viên gạch” dài hạn. Điểm này đã trở thành điều kiện tiên quyết trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao. Chủ tịch EuroCham cho rằng “nếu làm tốt, Việt Nam hoàn toàn có thể thu hút thêm nhiều dòng vốn châu Âu vào các lĩnh vực giá trị gia tăng cao như công nghệ, năng lượng tái tạo, sản xuất xanh và dịch vụ hiện đại”. Để hỗ trợ chuyển đối số, chuyển đổi xanh được chính phủ Việt Nam khẳng định “là hai yếu tố căn bản cấu thành một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược”, Liên Hiệp Châu Âu và chính phủ Việt Nam đã ký Hiệp định tài trợ cho Chương trình Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam (VETVET) với hơn 50 triệu euro. Được ký ngày 31/12/2025 - ngay trước khi khai mạc Đại hội Đảng XIV, Hiệp định có hiệu lực đến năm 2030, trùng với kế hoạch 5 năm 2026-2030. Đại sứ Julien Guerrier đánh giá Chương trình VETVET cũng sẽ giúp Việt Nam tăng sức hấp dẫn cũng như đáp ứng nhu cầu nhân lực của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, vào Việt Nam.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam XIV : Sự cân bằng quyền lực giữa công an và quân đội

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Jan 19, 2026 10:18


Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ XIV diễn ra từ ngày 19 đến 25/01/2026 được nhấn mạnh là "Đại hội tiến vào kỷ nguyên mới". Những định hướng chính trị chính cho 5 năm tới được thông qua trong dịp này. Nhưng vấn đề được quan tâm nhất : Ai sẽ là tổng bí thư ? Tổng bí thư Tô Lâm, 68 tuổi, được cho là sẽ tiếp tục giữ chức vụ cao nhất trong Đảng thêm một nhiệm kỳ. Thậm chí, có thông tin tổng bí thư sẽ kiêm nhiệm chức chủ tịch nước, như mô hình của Trung Quốc, Bắc Triều Tiên… Trong trường hợp đó, mối quan hệ với bên quân đội sẽ như thế nào vì chủ tịch nước hiện nay là đại tướng quân đội Lương Cường ? Các nhà tân lãnh đạo Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức như thế nào trong bối cảnh chính trường quốc tế đầy biến động ? Giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Ngoại trưởng Lê Hoài Trung nhấn mạnh Đại hội Đảng lần thứ XIV là "sự kiện mang ý nghĩa bước ngoặt, là dấu mốc đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển đất nước". Vậy thách thức trong 5 năm tới đối với ban lãnh đạo mới là gì ?  Benoît de Tréglodé : Nói là "Thời điểm bước ngoặt" ư ? Đời sống chính trị của chế độ Việt Nam được chi phối bởi chu kỳ các Đại hội đảng Cộng sản Việt Nam. Thời điểm năm 2026 này cũng không then chốt hơn thời điểm cách đây 5 năm, vào năm 2021. Rõ ràng đây là những mốc thời gian, lần nào cũng thực sự quan trọng khi đưa đời sống chính trị Việt Nam trở lại chu trình liên tục, không gián đoạn. Đây là những yếu tố giữ cân bằng đời sống chính trị Việt Nam. Đọc thêmViệt Nam trước Đại hội Đảng: Yếu tố Trung Quốc và lá bài Hoa Kỳ Điều thú vị là trong nhiệm kỳ này có hai ngày trọng đại, đánh dấu khởi đầu và gần như kết thúc nhiệm kỳ. Những ngày kỷ niệm luôn rất quan trọng để hiểu được vị trí trung tâm của một chế độ và các nhà lãnh đạo. Việt Nam của nhiệm kỳ thứ XIV sẽ bắt đầu bằng sự kiện kỷ niệm có ý nghĩa nền tảng đối với ông Tô Lâm, cũng như với toàn bộ giới lãnh đạo chính trị đất nước : Đó là kỷ niệm 40 năm Đổi Mới. Khẳng định nền tảng và định hướng kinh tế của đất nước thông qua một lễ kỷ niệm đánh dấu thời kỳ mở cửa kinh tế là một biểu tượng không thể quan trọng hơn đối với một đất nước đang đặt việc theo đuổi phát triển và tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm trong mọi tham vọng và dự án của mình. Lễ kỷ niệm thứ hai, rất quan trọng, đánh dấu cho nhiệm kỳ này, đó là việc tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng 1930-2030. Và đây cũng là trách nhiệm của ban lãnh đạo sẽ được bầu chọn vào cuối tuần. Trong cả hai trường hợp, chúng ta đều đề cập tới hai trụ cột, hai nền tảng cơ bản của hệ thống Việt Nam hiện nay. Đó là sự tiếp nối của chính sách kinh tế đầy tham vọng về tăng trưởng và mở cửa. Ở điểm này, tôi tin là sẽ không có bất kỳ sự thay đổi hay điều chỉnh nào. Việt Nam đã khẳng định vị thế vững chắc trong khu vực và trên trường quốc tế. Việc này phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Và Đảng lại tìm thấy ở đó cơ sở cho tính hợp pháp và duy trì thế độc quyền của mình. Việc một nước Việt Nam có mức tăng trưởng 8% hàng năm củng cố đáng kể vị thế của Đảng trong xã hội Việt Nam và trên trường quốc tế. Đọc thêmMột mình tiếp tổng thống Mỹ, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam Về trụ cột thứ hai, đội ngũ lãnh đạo mới, được lựa chọn vào cuối kỳ Đại hội, sẽ nhắc lại hơn bao giờ hết rằng vai trò của người tổ chức, của người lãnh đạo tối cao của đảng Cộng Sản Việt Nam, sẽ tuyệt đối không được thay đổi và phải bằng mọi giá củng cố chiến lược thực dụng, thực tế về kinh tế của đất nước. RFI : Chúng ta đã nhắc đến những thách thức, những tham vọng về kinh tế, và trong bối cảnh những thay đổi toàn cầu, các nhà tân lãnh đạo của đất nước, đặc biệt là tổng bí thư cần phải có những kỹ năng, phẩm chất nào và phải đáp ứng những điều kiện gì để có thể thành công ? Benoît de Tréglodé : Câu hỏi này khá phức tạp, không thể tóm gọn trong vài điểm. Phẩm chất quan trọng nhất của một tổng bí thư đảng là từng giữ chức tổng bí thư và sở hữu kiến ​​thức cũng như mạng lưới quan hệ cần thiết để duy trì vị trí, và từ vị trí đó có thể bảo đảm sự liên tục của chính sách quốc gia. Vào đúng ngày khai mạc Đại hội Đảng XIV và chỉ bốn đến năm ngày trước khi diễn ra các phiên thảo luận cuối cùng, thì cũng không phải là không thể đưa ra một số giả định. Các nhà phân tích đã bàn luận về vấn đề này trong vài tuần qua. Rất có thể tổng bí thư đương nhiệm muốn tiếp tục tại vị. Và tin đồn còn đi xa hơn khi cho rằng ông Tô Lâm dường như muốn mở rộng vai trò và phạm vi chức năng bằng cách kiêm nhiệm thêm chức chủ tịch nước. Đây là điều không có gì đặc biệt ở Việt Nam, đã từng xảy ra và không phải là hiếm gặp ở các quốc gia khác có hệ thống chính trị tương tự. Ví dụ Trung Quốc và vai trò của Tập Cận Bình trong việc hoạch định cả chính sách đối nội lẫn đối ngoại. Đọc thêmViệt Nam : “Quốc tế hóa” vai trò của tổng bí thư đảng Cộng Sản Một điều thú vị khác cần lưu ý, cho dù không muốn đi trước thời gian biểu của đại hội cũng như thời điểm công bố các quyết định vào cuối tuần này, là trên thực tế, 18 tháng đầu cầm quyền của ông Tô Lâm cho thấy tổng bí thư đương nhiệm đã can thiệp rất tích cực và quyết liệt vào cả chính sách đối nội, lẫn đối ngoại. Do đó, có thể nói rằng phạm vi hoạt động của hai lĩnh vực này đã được cùng một cá nhân khai thác triệt để. Vì vậy, xin nhắc lại là không phải là không thể dự đoán được quyết định được đưa ra vào cuối tuần này. RFI : Nếu hai vị trí cao nhất được sáp nhập, việc này sẽ tác động như thế nào đối với bên quân đội trong “ngũ trụ”, sắp tới có thể là “tứ trụ” ? Benoît de Tréglodé : Điều đầu tiên tôi nghĩ đến là việc phân chia sẽ như thế nào. Nói một cách khái quát, ông Tô Lâm sẽ để lại chút ít gì cho quân đội nếu họ không muốn làm mất mặt quân đội. Nhưng tôi nghĩ quân đội sẽ mất khá nhiều ; họ đã mất khá nhiều nếu việc sáp nhập này diễn ra. Nhưng trong nội bộ Bộ Chính Trị, chuyện sẽ diễn ra như thế nào đối với bên quân đội ? Đây là việc rất quan trọng. Việc sáp nhập hai vị trí tổng bí thư và chủ tịch nước là một vấn đề rất phức tạp nhìn từ góc độ Hiến Pháp. Chủ tịch nước Việt Nam là người đứng đầu lực lượng vũ trang và, theo một cách nào đó, cũng là người đứng đầu Ủy ban Quốc phòng và An ninh. Vì vậy, từ góc độ đó, việc không còn trao chức chủ tịch nước cho một sĩ quan quân đội, mà lại tự cho mình nắm giữ chức vụ đó, đã đặt ra nhiều vấn đề gây khó khăn cho bộ trưởng Quốc Phòng đương nhiệm trong việc đàm phán. Xin nhắc lại là năm 2025, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII được khai mạc vào đúng ngày mang tính biểu tượng, ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12. Đọc thêmHà Nội căng thẳng trước thềm đại hội đảng : Quân đội có cản bước cải cách của ông Tô Lâm? Vấn đề thực sự quan trọng trong đại hội lần này là nếu ông Tô Lâm quyết định giữ cả hai vị trí này thì ông cũng tránh gây tổn hại không đáng có cho Quân đội Việt Nam và các đại diện của Quân đội, trong trường hợp hiện nay là bộ trưởng bộ Quốc Phòng. Hiện tại vẫn còn hơi sớm để thảo luận về quyết định này vì chúng ta chưa biết kết quả, mà phải chờ tới cuối Đại hội Đảng XIV. Nhưng giả sử có sự phân bổ quyền lực này và nhìn từ quan điểm cá nhân, ông Tô Lâm với tư cách là tổng bí thư, người có thể nắm giữ cả hai vị trí, và ông Tô Lâm với tư cách là tướng Công an với bộ Công An cùng với mạng lưới đằng sau, chuyện này sẽ diễn ra như thế nào trong mối quan hệ với Quân đội và bộ Quốc Phòng, một trụ cột khác của bộ máy an ninh và quyền lực Việt Nam ? Sự cân bằng giữa hai chủ thể an ninh vô cùng lớn này, mà chúng ta không nên quên hiện đã trở thành các chủ thể chính trị và kinh tế, là cốt lõi của tương lai chế độ chính trị Việt Nam. RFI : Cuộc cải cách hành chính năm 2025 cũng có những tác động nhất định đến vai trò của tổng bí thư ? Benoît de Tréglodé : Tổng bí thư Tô Lâm - người biết rằng ông thực sự không có đối thủ nào trong bộ máy thể chế Việt Nam và cũng biết rằng sự nổi tiếng của ông có thể biến động theo thời gian và bằng cách cố nắm bắt, thực hiện một bước đi quan trọng để tận dụng lợi thế của việc sáp nhập tiềm năng và quyền lực gần như tùy ý trong bộ máy Nhà nước Việt Nam - sẽ cần các công cụ hiến pháp giúp ông tiến lên, cho phép ông thi hành các quyết định của mình. Trong một chế độ mà Việt Nam gọi là "nền dân chủ nhân dân", các quyết định không phải do một người đưa ra mà phải được một bộ máy phê chuẩn, trong trường hợp này là Quốc Hội và các cơ quan khác. Do đó, tự do của ông Tô Lâm cũng phụ thuộc vào đa số mà ông sẽ có trong bộ Chính Trị, và đa số này cũng phụ thuộc vào đa số mà ông sẽ có trong Ban Chấp hành Trung ương. Vì vậy nếu ông Tô Lâm thực sự theo đuổi hoạt động chính trị ở Việt Nam, ông cần có một Ban Chấp hành Trung ương ủng hộ ông, một Bộ Chính Trị ủng hộ ông và một Quốc Hội thông qua các quyết định của ông. Trong mọi trường hợp đó, cải cách hành chính đều có tác động, đều có những hệ quả đối với cơ cấu của các cơ quan ra quyết định quan trọng ở Việt Nam. Cho nên có thể hiểu rằng việc thực hiện cải cách hành chính năm 2025 cũng liên quan trực tiếp đến mong muốn của người khởi xướng là có được những cơ quan nắm giữ quyền lực chính trị quan trọng ở Việt Nam đứng sau ông và xác nhận các hành động của ông. Đọc thêmQuyền lực cá nhân tổng bí thư thông qua quá trình tinh giản bộ máy hành chính ở Việt Nam RFI : Sau Đại hội, công cuộc chiến chống tham nhũng sẽ được tiếp tục thực hiện ? Và liệu có quyết liệt như đang làm hiện nay không ? Benoît de Tréglodé : Cần phải nhắc lại rằng tham nhũng là một vấn đề còn lâu mới giải quyết được và không phụ thuộc vào chu kỳ 5 năm của các Đại hội Đảng. Tham nhũng gắn liền mật thiết với khái niệm phát triển kinh tế. Và tham nhũng cũng gắn liền mật thiết với cách hoạt động và tài trợ của bộ máy hành chính. Sự phát triển kinh tế ở hầu hết các nước châu Á đều bao gồm, hoặc đi kèm với sự gia tăng các hành vi tham nhũng khá phổ biến. Vì vậy, không nên cố gắng đưa việc chấm dứt, kết thúc hoặc tiếp tục các chiến dịch chống tham nhũng vào chương trình nghị sự của mỗi Đại hội Đảng. Đọc thêmChống tham nhũng thời hậu Nguyễn Phú Trọng: Sẽ vẫn "diệt chuột không để vỡ bình" Tham nhũng đã, đang và sẽ tiếp tục xảy ra, điều đó là chắc chắn. Và mọi chuyện sẽ không sớm dừng lại nay mai. Năm 2025 được đánh dấu bởi cuộc cải cách hành chính của ông Tô Lâm, với tham vọng đơn giản hóa và hiện đại hóa bộ máy Nhà nước, và cũng bao gồm cả tham vọng hạn chế số lượng các trung gian tại các cơ quan chính phủ, vốn luôn là cơ hội nảy sinh các hành vi tham nhũng ở Việt Nam. Bản thân cuộc cải cách hành chính này đã bao hàm mong muốn hạn chế những hành vi lạm dụng hoặc tham nhũng. Cải cách này lại cũng diễn ra vào thời điểm thuận lợi, chỉ một năm trước Đại hội Đảng, còn rõ ràng mang tham vọng tái xác định vị trí hoặc tái tập trung quyền lực chính trị ở Việt Nam xung quanh Đảng và người khởi xướng cải cách. Vì vậy, rõ ràng là nhìn từ góc độ này, cuộc cải cách hành chính còn mang một chiều hướng chính trị rất rõ rệt : vừa hiện đại hóa bộ máy về mặt chức năng, vừa thâu tóm bộ máy về mặt chính trị. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Mỹ trở lại Đông Nam Á: ASEAN và Việt Nam có giữ được cân bằng an ninh với Trung Quốc?

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Jan 5, 2026 9:50


Tháng 10/2025, tổng thống Mỹ Donald Trump đến Kuala Lumpur, Malaysia, họp thượng đỉnh với các nước ASEAN nhằm trấn an đồng minh, đối tác. Hoa Kỳ đã ký nhiều thỏa thuận, cam kết liên quan đến an ninh với Việt Nam, Malaysia, Philippines, Cam Bốt. Liệu Đông Nam Á lại trở thành tâm điểm trong chính sách đối ngoại của Mỹ năm 2026 ? Tại sao Washington lại tái khẳng định hiện diện mạnh mẽ hơn ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Biển Đông, trong thời điểm này ? Liệu những cam kết như vậy có lợi cho Việt Nam không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon, tại Viện Đông Á (Institut d'Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. RFI : Việc Hoa Kỳ trở lại hội nghị thượng đỉnh châu Á gửi đi một tín hiệu chính trị mạnh mẽ. Washington thực sự đang tìm kiếm điều gì thông qua việc tái khẳng định sự hiện diện của họ ở Đông Nam Á này ? Laurent Gédéon : Đúng là Pete Hegseth đã đến Kuala Lumpur ngày 30/10/2025 để tham dự cuộc họp của các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng. Có thể thấy rõ Mỹ muốn tận dụng cơ hội này để tái khởi động mối quan hệ với ba kiểu quốc gia : Trung Quốc ; các nước trong khu vực có quan hệ tốt nhưng không mang tính chiến lược ; các nước có mối liên hệ chặt chẽ với Mỹ về quốc phòng. Ông Hegseth đã gặp bộ trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Đổng Quân để thảo luận về việc nối lại các cuộc trao đổi quân sự trực tiếp giữa Washington và Bắc Kinh, nhưng cũng chia sẻ những lo ngại của Mỹ về hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và xung quanh Đài Loan. Thông qua cuộc gặp với người đồng cấp Trung Quốc, bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ muốn tái khẳng định cam kết của Washington về hai vấn đề này. Rất có thể là việc tỏ thái độ kiên quyết đó chủ yếu nhằm mục đích trấn an các bên khác tham dự hội cấp cao về quyết tâm của Washington. Ngoài ra, ông Hegseth cũng đã tận dụng cơ hội đó để ký nhiều thỏa thuận quân sự với ba quốc gia trong khu vực. Trước tiên là với Philippines, ông Hegseth gặp bộ trưởng Quốc Phòng Philippines và tuyên bố thành lập Lực lượng Đặc nhiệm Philippines (Task Force-Philippines). Đây là một sáng kiến ​​chung nhằm cải thiện sự hợp tác và khả năng tương tác giữa Mỹ và Philippines trong trường hợp khẩn cấp ở Biển Đông và các khu vực khác. Đọc thêmMỹ và Malaysia củng cố hợp tác quốc phòng ở Biển Đông để đối phó với "chiến thuật vùng xám" Với Malaysia, ông Hegseth đã họp với bộ trưởng Quốc Phòng Mohamed Khaled Nordin. Hai bên đã ký một bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng, công bố gia hạn thỏa thuận chung về mua sắm thiết bị quân sự và hỗ trợ nhau. Và cuối cùng, với Cam Bốt, ông và người đồng cấp Cam Bốt đã tuyên bố nối lại cuộc tập trận chung thường niên, vốn bị đình chỉ từ năm 2017. Hai bên cũng đề cập đến khả năng một tàu chiến của Mỹ đến thăm Căn cứ Hải quân Ream ở Cam Bốt. Căn cứ này được Trung Quốc hỗ trợ hiện đại hóa và lực lượng Trung Quốc được hưởng quyền tiếp cận đặc biệt. Tất cả những yếu tố này, bao gồm cả cuộc gặp với bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam, đều thể hiện rõ mong muốn tái đầu tư của Mỹ vào khu vực và, thông qua các thỏa thuận này, mong muốn tích hợp một số nước trong khu vực vào một cấu trúc an ninh trong tương lai mà phần nào có thể nhắm đến Trung Quốc. RFI : “Nước Mỹ trên hết không có nghĩa là Nước Mỹ đơn độc”. Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ đối với khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Điều này đã được thể hiện qua quan hệ đối tác an ninh giữa Mỹ với Malaysia và với Philippines, như ông đã giải thích. Liệu sự trở lại ấn tượng như vậy có thuyết phục được các nước ASEAN và có lợi cho họ không, khi mà những nước này không hề nhắc đích danh Bắc Kinh trong những lời chỉ trích về hành động gây bất ổn của Trung Quốc ? Laurent Gédéon : Đúng vậy, không gian hàng hải đã được nhấn mạnh thành trọng tâm bởi vì trong tuyên bố ngày 01/11/2025, ông Hegseth nói :  Chúng tôi đang thực hiện nguyên tắc “Nước Mỹ trên hết”. Nhưng “Nước Mỹ trên hết” không có nghĩa là chỉ riêng nước Mỹ. Nó có nghĩa là cùng với các đồng minh và đối tác của chúng tôi, những bên có khả năng duy trì an ninh, ổn định, tự do hàng hải và cuối cùng là hòa bình. Mặc dù các nước ASEAN không nêu đích danh Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh đã được bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ nhắc đến rất nhiều. Ví dụ, trong cuộc họp không chính thức, ông Hegseth đã cảnh báo các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN về mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra cho chủ quyền của nước họ. Ông nói :  Hành động của Trung Quốc là một lời cảnh tỉnh... Các hành động khiêu khích của Trung Quốc cũng thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với đất nước của quý vị, thách thức và đe dọa chủ quyền lãnh thổ của đất nước quý vị. Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ trong việc duy trì một khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương an toàn và ổn định. Ông cũng cổ vũ sự hợp tác giữa Mỹ và ASEAN để phát triển nhận thức tình hình hàng hải chung, đặc biệt là ở Biển Đông. Đây là điểm quan trọng. Thêm vào đó, ngày 09/09, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đã nói với người đồng cấp Trung Quốc Đổng Quân rằng Mỹ có những lợi ích sống còn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mà Washington coi là một khu vực hoạt động ưu tiên, và Mỹ sẽ kiên quyết bảo vệ những lợi ích đó. Tuy nhiên, có thể nhận thấy cho dù Mỹ thể hiện quyết đoán, có lập trường vững chắc như vậy, các quốc gia trong khu vực vẫn còn khá lưỡng lự về mức độ cam kết của Washington đối với các vấn đề như Biển Đông và Đài Loan. Thái độ lưỡng lự này được thôi thúc bởi điều được gọi là “sự mơ hồ chiến lược” của Mỹ, khi Washington không nêu rõ là sẽ tham gia hay không, hoặc là họ sẽ tham gia như thế nào vào một cuộc xung đột công khai với Trung Quốc. RFI : Sự trở lại của Mỹ, hay nói đúng hơn là sự tăng cường cam kết của Mỹ đối với khu vực có thể sẽ mang lại lợi ích như thế nào cho Việt Nam ? Laurent Gédéon : Tôi nghĩ rằng bất kỳ sự tái đầu tư nào của Mỹ vào khu vực, nếu không dẫn đến xung đột trực tiếp với Trung Quốc, đều chỉ có lợi cho Việt Nam, vì nó củng cố cán cân chiến lược khu vực và giảm bớt quan hệ bất đối xứng với Trung Quốc, ngay cả khi không có thỏa thuận quân sự chính thức giữa Hà Nội và Washington. Đọc thêmBiển Đông, Trung Quốc : Việt Nam cần đề phòng khả năng Trump "rũ áo" như với Ukraina? Do đó, chắc chắn rằng lập trường kiên quyết của ông Hegseth, đặc biệt là về Biển Đông, chỉ có thể được Hà Nội hoan nghênh vì nó phù hợp với các tuyên bố và yêu cầu của Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn tồn đọng một sự bất trắc chiến lược, đặc biệt là về ý muốn thực sự của Mỹ trong việc ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc bằng vũ lực nếu tình hình đòi hỏi. Điểm bất trắc thứ hai liên quan đến kết quả của một cuộc đối đầu tiềm tàng giữa Trung Quốc và Mỹ. Các kịch bản được thảo ra cho kết quả khác nhau, và không phải tất cả đều cho rằng lực lượng Mỹ thắng quân đội Trung Quốc. Do đó, tôi tin rằng những điểm không chắc chắn này sẽ khiến Việt Nam tiếp tục thận trọng trong lập trường ngoại giao, ưu tiên giữ trung lập giữa Washington và Bắc Kinh để bảo vệ tương lai của mình. RFI : Thỏa thuận được gọi là “Thỏa thuận hòa bình” giữa Thái Lan và Cam Bốt được ký kết dưới sự bảo trợ của tổng thống Mỹ Donald Trump. Sự kiện này cho thấy mức độ ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nhưng liệu kiểu ảnh hưởng đó, dưới sự đe dọa về hậu quả kinh tế, có bền vững hay không ? Laurent Gédéon : Chính sách của chính quyền Trump nhìn chung được coi là tương đối khó đoán, điều này làm suy yếu niềm tin vào tính ổn định chiến lược của Hoa Kỳ. Về thỏa thuận do Donald Trump, thủ tướng Thái Lan và thủ tướng Cam Bốt cùng ký, mặc dù được mô tả là một “thỏa thuận hòa bình”, nhưng nó giống với một thỏa thuận ngừng bắn hơn, bởi vì không giải quyết được vấn đề cốt lõi, liên quan đến tranh chấp biên giới giữa hai nước. Đọc thêmChính sách thuế của Trump cản trở chiến lược « xoay trục sang châu Á » của Mỹ Đúng là Donald Trump tự nhận là đóng vai trò quan trọng trong quá trình này, nhất là bằng cách đe dọa đình chỉ các cuộc đàm phán thương mại với cả hai nước và tăng thuế quan. Điều này diễn ra trong bối cảnh Cam Bốt lúc đó chịu mức thuế 49% và Thái Lan 36%. Rõ ràng là áp lực của Mỹ đã thúc đẩy cả hai bên tạm ngừng giao tranh nhưng không chấm dứt được xung đột. Hơn nữa, hai quốc gia khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tạm thời tranh chấp : Malaysia, quốc gia giữ chức chủ tịch ASEAN năm 2025, và Trung Quốc. Cả Kuala Lumpur và Bắc Kinh đều gây áp lực để ngăn chặn xung đột leo thang, bởi vì sẽ đi ngược lại lợi ích của họ. Do đó, sáng kiến ​​của Mỹ quan trọng nhưng cần được xem xét dưới góc độ hai hạn chế sau đây : Thứ nhất, đây không phải là một giải pháp dứt điểm cho xung đột, mà chỉ là một thỏa thuận ngừng bắn ; Thứ hai, điều đó chỉ có thể thực hiện được nhờ hành động phối hợp, dù kín đáo, của hai quốc gia khác. Và đó chính là cách mà các nước trong khu vực nhìn nhận và phân tích. RFI : Philippines giữ chức chủ tịch luân phiên ASEAN năm 2026. Manila có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc, cùng với cam kết của Mỹ, về vấn đề Biển Đông. Chúng ta có thể kỳ vọng những diễn biến nào trong năm 2026 ? Laurent Gédéon : Đúng là rất khó để dự đoán tương lai. Nhưng những yếu tố hiện có cho thấy Philippines, quốc gia đã xích lại gần hơn đáng kể với Mỹ kể từ khi ông Ferdinand Marcos Jr. lên nắm quyền vào năm 2022, có thể sẽ tìm cách thúc đẩy một động thái cứng rắn hơn, hoặc thậm chí là cưỡng chế, đối với Trung Quốc. Ví dụ, Philippines có thể sẽ cố gắng khôi phục việc xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) ở Biển Đông. Dự án này có từ năm 2002 nhưng chưa bao giờ thành hiện thực, chủ yếu là do Trung Quốc thiếu hành động. Chính quyền Manila cũng có thể cố gắng đạt được sự lên án rõ ràng đối với các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông, điều mà ASEAN chưa từng làm cho đến nay. Tuy nhiên, Philippines sẽ phải tính đến việc các nước thành viên ASEAN có mức độ quan hệ khác nhau với Trung Quốc, điển hình như các nước Cam Bốt, Thái Lan và Miến Điện sẽ cố gắng làm giảm nhẹ bất kỳ sáng kiến ​​nào của nước chủ tịch ASEAN mà họ coi là không thân thiện, hoặc quá không thân thiện với Trung Quốc. Đọc thêmPhilippines-Mỹ-Nhật diễn tập tại Biển Đông, Trung Quốc kêu gọi Manila ngừng khiêu khích Một điểm đáng chú ý khác, có thể sẽ được quan tâm trong năm 2026, liên quan đến Đài Loan và khả năng Trung Quốc tiến hành hành động quân sự nhắm đến hòn đảo. Nếu kịch bản này xảy ra và Mỹ can thiệp, Philippines sẽ ở tuyến đầu, thậm chí có thể là một bên tham chiến. Trong giả thuyết này, câu hỏi đặt ra là về khả năng hành động và mức độ chủ động của Philippines trong ASEAN, bởi vì Philippines vừa là một bên tham gia xung đột vừa giữ chức chủ tịch ASEAN. Do đó, năm 2026 chắc chắn sẽ có rất nhiều biến động và cần được theo dõi sát sao. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
2025 : Một năm cải cách, bất trắc để Việt Nam khởi động "kỷ nguyên mới"?

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Dec 29, 2025 10:12


Năm 2025 khép lại với hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII ngày 22-23/12 và khả năng ông Tô Lâm tiếp tục làm tổng bí thư, theo nguồn tin của Reuters. Năm 2025 cũng đánh dấu nhiều kỷ lục về kim ngạch thương mại, số lượt du khách nước ngoài đến Việt Nam ; tăng trưởng “sáng nhất trong khu vực” Đông Nam Á, tinh gọn bộ máy hành chính. Bên cạnh đó là những thiệt hại khủng khiếp do thiên tai, ô nhiễm môi trường. RFI Tiếng Việt điểm lại một số sự kiện quan trọng tại Việt Nam năm 2025. Tổng bí thư tập trung quyền lực trong nước Tại hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, các đại biểu nhất trí ủng hộ những chính sách được tổng bí thư Tô Lâm thúc đẩy. Ông Tô Lâm trở thành người thi hành được nhanh chóng “cuộc cách mạng chống quan liêu” được ấp ủ từ lâu. Thành công này cũng cho thấy quyền lực cá nhân của ông Tô Lâm và những chiến lược tập trung quyền lực đằng sau, theo nhận định của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, khi trả lời RFI Tiếng Việt ngày 04/07/2025 : “(…) Nếu một cuộc cải cách đầy tham vọng như vậy được thực hiện bởi một người duy nhất thì đó là do ông ấy không cảm thấy bị bất kỳ ai đe dọa và điều này nằm trong quyền lực to lớn của ông trong bộ máy chính trị Việt Nam. Vào đúng năm trước Đại hội Đảng, với cuộc tinh giản bộ máy hành chính ở cấp địa phương, nhưng cũng có thể nói là ở cấp trung ương, ở cấp bộ, không ai chắc chắn là giữ được vị trí của mình, kể cả trong Ban Chấp hành Trung ương. Số người may mắn được chọn sẽ ít hơn vào năm 2026. Có thể nói chiến dịch kiểm soát khổng lồ này thậm chí còn hiệu quả hơn các chiến dịch chống tham nhũng thông thường. Bởi vì chúng khiến mọi người run sợ, ai cũng muốn giữ lấy chỗ và có thể theo đuổi sự nghiệp trong một bộ máy hành chính bị thu hẹp lại”. Đọc thêmSáp nhập tỉnh, thành 2025 : Chiến lược tập quyền và thành công cá nhân của TBT Tô Lâm Mở rộng vai trò của tổng bí thư trên trường quốc tế Trong hơn một năm giữ chức tổng bí thư, ông Tô Lâm có lẽ là lãnh đạo đảng công du nước ngoài nhiều nhất, thăm hơn 20 nước, ký nhiều thỏa thuận nâng cấp quan hệ đối tác. Tổng bí thư không chỉ còn muốn đứng đầu đảng, giữ vai trò về tư tưởng, mà là một nhà lãnh đạo cao nhất. Và ông Tô Lâm đang làm cho các đối tác phương Tây quen dần với hình ảnh này, theo nhận định của tiến sĩ Vũ Khang, Đại học Boston, Mỹ : “Việt Nam đã đặt các đối tác phương Tây vào vị trí phải công nhận tính chính danh và sự ngang hàng của vị trí tổng bí thư với các vị trí nguyên thủ quốc gia qua các cuộc gặp cấp cao. Đây cũng là một di sản của cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi ông đã thành công bắt Mỹ phải công nhận tổng bí thư là ngang hàng với chức tổng thống Mỹ. Điều này chứng tỏ đây là một chính sách đường dài chứ không phải ngắn hạn cho kỳ Đại hội Đảng sắp tới, và dù ai ở vị trí tổng bí thư đi chăng nữa thì cũng sẽ được kế thừa di sản này”. Đọc thêmNâng cấp đối tác chiến lược toàn diện với Pháp, chủ tịch Tô Lâm muốn thể hiện năng lực ngoại giao, ổn định chính trị Việt Nam Mối quan hệ đặc biệt với Pháp được thể hiện qua chuyến công du Hà Nội của tổng thống Emmanuel Macron. Với 14 thỏa thuận trị giá 9 tỷ euro, Pháp muốn hiện diện mạnh mẽ tại Việt Nam, kể cả trong lĩnh vực quốc phòng. Giáo sư Pierre Journoud, Đại học Paul Valery - Montpellier 3, đánh giá : “Có thể nói ngắn gọn rằng bối cảnh hiện nay thuận lợi cho việc Việt Nam và Pháp xích lại gần hơn trong lĩnh vực quốc phòng. Pháp là nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ hai thế giới vào năm 2024, cho nên có một số tham vọng chính đáng ở khu vực Đông Nam Á. Còn Việt Nam đã tổ chức triển lãm quốc phòng quốc tế lần thứ hai tại Hà Nội vào tháng 12/2024. Việt Nam bắt đầu đa dạng hóa việc mua vũ khí và trang thiết bị quân sự để bù đắp cho những thiếu hụt thực sự, hoặc được cho là như vậy, của nhà cung cấp Nga, vốn chiếm ưu thế ở Việt Nam”. Kim ngạch thương mại lập kỷ lục, bất chấp thuế đối ứng của Mỹ Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam lập kỷ lục, đạt 920 tỷ đô la, tăng 16,9% so với năm 2024, theo Tổng Cục Hải quan. Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp hàng hóa lớn nhất cho Việt Nam, đạt kim ngạch 183 tỷ đô la. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, đạt mốc kỷ lục gần 152 tỷ đô la, bất chấp các biện pháp thuế đối ứng (20%) của tổng thống Donald Trump. Tuy vậy, trả lời RFI Tiếng Việt, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng mức thuế 20% vẫn bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, so với một số nước khác được mức thuế 19% hoặc 15% : “Theo tôi, những mặt hàng bị tác động bao gồm may mặc, da giày, kể cả một số mặt hàng đồ gỗ. Nếu như tình hình tiếp tục như thế này, các nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ phải tìm cách đa dạng hóa các thị trường và tìm các biện pháp để có thể tiếp tục duy trì sản xuất và xuất khẩu và tìm cách né tránh thuế 20% này. Hiện nay Việt Nam đang cố gắng tìm cách mở rộng thị trường ở Trung Đông và tìm kiếm những thị trường ở châu Phi, đồng thời muốn phát triển những thị trường khác tuy nhỏ nhưng hy vọng là sẽ vẫn có thể đón nhận được hàng hóa của Việt Nam một cách thuận lợi”.  Đọc thêmViệt Nam: Thuế "trung chuyển" của Mỹ gây khó khăn cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Thặng dự thương mại (đạt 21,2 tỷ đô la) chủ yếu đến từ khối đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với 48,2 tỷ đô la bởi vì các doanh nghiệp trong nước thâm hụt thương mại hơn 27 tỷ đô la. Mức thuế 20% có thể khả thi cho hoạt động xuất khẩu của các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, thuế “trung chuyển” (transshipment) lên tới 40% mới là vấn đề khó khăn. Ông Jean-Jacques Bouflet, phó chủ tịch Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam - EuroCham, giải thích với RFI Tiếng Việt ngày 08/08 : “Theo thuật ngữ hải quan Hoa Kỳ, “trung chuyển” không chỉ đơn giản là dỡ hàng từ một phương tiện vận chuyển hay từ một hình thức vận chuyển này sang một phương tiện hoặc hình thức vận chuyển khác, mà chủ yếu là sự thay đổi nguồn gốc ở nước cuối cùng. Nói cách khác, nếu quyết định đánh thuế hàng “trung chuyển” được sử dụng để áp đặt một hàm lượng nội địa tối thiểu đáng kể, thì có nghĩa là để ngăn chặn nhập khẩu nguyên liệu từ các nước thứ ba, ý tôi muốn nói ở đây là Trung Quốc chẳng hạn. Đây có lẽ sẽ là một vấn đề lớn đối với phần lớn lĩnh vực sản xuất của Việt Nam (…) bởi vì hiện tại, Việt Nam không thể bảo đảm sản xuất được 100% hoặc 80% sản lượng nội địa, có thể là trừ sản xuất nông nghiệp”. Mục tiêu tăng trưởng 10% năm 2026 khó đạt được vì khó khăn toàn cầu Với tổng kim ngạch thương mại năm 2025 đạt 920 tỷ đô la, Việt Nam gia nhập nhóm 25 nền kinh tế thương mại lớn nhất thế giới. Sau mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) khoảng 8%, chính phủ đề ra mục tiêu tăng trưởng 10% cho năm 2026. Ông Hubert Testard, chuyên gia về châu Á, tổng biên tập báo mạng Asialyst, cho rằng “mục tiêu này lại quá lạc quan, rất tham vọng” : “Trước tiên là mức thuế quan trung bình 20% của Mỹ mà ai cũng biết, nhưng cũng phải kể đến nhiều mức thuế đặc biệt khác đối với ô tô, thép, nhôm. Gần đây, còn có một vấn đề khác đối với các nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam, với thông báo ngừng xuất khẩu một số mặt hàng vào năm 2026. Ngoài ra, bối cảnh chung ở một số nước khác cũng không đặc biệt hơn. Nghĩa là nhu cầu của Trung Quốc không mạnh lắm, châu Âu thì đang cố gắng hạn chế dòng hàng nhập khẩu từ châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc. Vì vậy, bối cảnh quốc tế sẽ kém thuận lợi hơn. Tất cả các tổ chức quốc tế đều dự đoán năm 2026 sẽ có mức tăng trưởng kém hơn một chút so với năm 2025”. Đọc thêm2026 : Bối cảnh quốc tế không thuận lợi cho mục tiêu tăng trưởng 10% của Việt Nam Mục tiêu tăng trưởng cũng có thể bị tác động vì thiệt hại do thiên tai, ô nhiễm môi trường. Theo Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, năm 2025 đã đi vào lịch sử thiên tai Việt Nam với những kỷ lục chưa từng có ; thiệt hại kinh tế lên tới hơn 100.000 tỷ đồng (gần 4 tỷ đô la) - lớn nhất từ trước tới nay. Theo Kế hoạch Ứng phó thiên tai chung năm 2025, được Liên Hiệp Quốc xây dựng trên cơ sở hợp tác giữa chính phủ Việt Nam và các đối tác trong nước, quốc tế, khoảng 96,2 triệu đô la được huy động để đáp ứng nhu cầu nhân đạo, hỗ trợ cho người dân bị ảnh hưởng, đồng thời xây dựng lộ trình hướng tới khả năng phục hồi và thích ứng với  biến đổi khí hậu trong dài hạn. Giải quyết ô nhiễm môi trường : Vấn đề cấp bách Một vấn đề khác là tình trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam, khiến khoảng 70.000 người chết. Để giảm bớt “thành tích” nhiều lần đứng đầu danh sách “đô thị ô nhiễm nhất thế giới”, thành phố Hà Nội triển khai lộ trình cấm xe chạy xăng dầu, bắt đầu trong vành đai 1 (trung tâm) Hà Nội, kể từ ngày 01/07/2026. Song song với biện pháp triệt để này, nhà quy hoạch đô thị Basile Hassan, trưởng dự án Moov'Hanoi, Cơ quan hỗ trợ Hợp tác quốc tế Vùng Paris tại Việt Nam - PRX-Vietnam, cho rằng cần phát triển, nâng cấp hệ thống giao thông công cộng để người dân có nhiều lựa chọn : “Mạng lưới giao thông công cộng hiện tại không đáp ứng được nhu cầu của người dân. Hà Nội có tàu điện nhưng lại không đủ, thậm chí còn không đi đến trung tâm thành phố. Trong bối cảnh người dân chủ yếu sử dụng xe máy, rất cạnh tranh về mặt thời gian, đi từ điểm A đến điểm B mà không phải thay đổi phương tiện, cho nên giao thông công cộng có vẻ kém cạnh tranh hơn vì mất thời gian hơn so với xe máy, phải nối chuyến, phải đi đến các bến. Vì vậy về mặt thời gian và hiệu quả, phương tiện công cộng kém hấp dẫn hơn xe máy, được ưa chuộng ở Hà Nội”. Đọc thêm“Xanh hóa” giao thông Hà Nội: Cần bỏ ôtô cá nhân thể hiện “thành đạt” và kết nối hệ thống công cộng Việt Nam đón gần 22 triệu lượt du khách nước ngoài Cho dù trải qua một năm thiên tai, nhiều di tích, công trình bị ngập trong mưa lũ, Việt Nam ghi nhận số lượng du khách nước ngoài kỷ lục, gần 22 triệu lượt. Mục tiêu đặt ra cho năm 2026 là thu hút 25 triệu du khách quốc tế. Ngoài việc chú trọng vào dịch vụ chăm sóc khách hàng, chi phí không quá đắt, thì kéo dài thời gian miễn thị thực đối với nhiều nước được cho là một yếu tố quan trọng, theo giải thích với RFI Tiếng Việt của ông Nguyễn Xuân Hải, giám đốc của La Palanche Voyages : “Bây giờ khi được 45 ngày, có thể người ta đến Việt Nam chỉ 15 ngày thôi, nhưng người ta có thể tiến, lùi ngày để có được vé máy bay tốt hơn, phù hợp với khả năng chi trả của người ta hơn. Miễn visa 45 ngày là cả một bước đột phá lớn (...) Nay có đến 45 ngày miễn visa, giống như là chúng ta đang “thừa giấy vẽ voi”. Chúng tôi sẽ có thể vẽ ra những con voi rất sinh động, đưa được khách đến những vùng xa hơn, sâu hơn, đến những nơi mà theo chúng tôi còn nguyên bản hơn”. Đọc thêmDu lịch Việt Nam: Đà phục hồi bị ảnh hưởng bởi yếu tố kinh tế, địa chính trị

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Biến tàu hỏa thành trải nghiệm du lịch văn hóa sang trọng ở Việt Nam

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Dec 22, 2025 9:37


“Đi tàu từ Nam ra Bắc giúp tôi khám phá sự đa dạng của Việt Nam. Kỷ niệm của tôi về tàu hỏa ở Việt Nam, đó là một phương tiện di chuyển thực sự chậm, nhưng không hề lãng phí thời gian vì tàu thường chạy đêm, sáng mai thức dậy là nhìn thấy cả đồng lúa xanh rì bên ngoài cửa sổ…”. Từ phương tiện giao thông chậm, rẻ hơn máy bay, tàu hỏa đang được phát triển thành cách du lịch chậm, tham quan ngay từ khung cửa sổ. Những cảm nhận trên là của Jean-Marc De Jaeger, phóng viên chuyên mục du lịch của nhật báo Pháp Le Figaro khi trả lời RFI Tiếng Việt. Ông là tác giả cuốn Đi tàu hỏa ở Châu Á: 22 Hành trình trên Đường ray (En train En Asie : 22 itinéraires sur les rails, NXB Voyage Gallimard, 2025), trong đó có Việt Nam : Tại sao có Việt Nam trong lộ trình? Đối với tôi, việc này quan trọng vì đây là một quốc gia khá rộng lớn về mặt địa lý và dân số. Và đặc biệt, tuyến tàu Thống Nhất giống như huyết mạch của đất nước, dài hơn một nghìn km, kết nối các điểm đến chính của Việt Nam, trong 36 giờ. Cho nên trong một cuốn sách hướng dẫn về du lịch bằng tàu hỏa, không thể bó quả Việt Nam. Còn theo tạp chí du lịch Lonely Planet, tuyến đường sắt Bắc-Nam nằm trong số những tuyến đường sắt đẹp nhất thế giới năm 2025. Tàu hỏa ở Việt Nam chạy rất chậm, chỉ khoảng 50 km/giờ, chỉ có một đường, khổ cũ 1,43 mét, từ thời Pháp thuộc và tránh nhau tại các ga lớn. Tàu hỏa không phải là phương tiện để đi khi có công việc gấp, nhưng là “cứu cánh” cho những người say xe, sợ máy bay. Nhưng những năm gần đây, tàu hỏa đã được phát triển thành một dòng du lịch trải nghiệm sang trọng, đề cao dịch vụ cá nhân, “sống chậm”. Đây là một trong những mảng được định hướng để phát triển du lịch nghỉ dưỡng cao cấp ở Việt Nam. “Nhâm nhi thời gian trôi, có nghĩa là khi đi máy bay, thực sự là chẳng nhìn thấy gì nhiều. Ví dụ nếu bay từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Hà Nội, chúng ta sẽ chỉ thấy sân bay khởi hành và sân bay đến, rồi ngắm được một chút quang cảnh ở độ cao 10.000 m, nhưng sẽ không thấy các chặng trung gian, sẽ không được hòa mình vào cuộc sống. Đi tàu có thể ngắm rõ quang cảnh vì tàu chạy khá chậm, khoảng 50 km/giờ, đặc biệt là ở phía bắc Đà Nẵng, nơi tàu chạy dọc bờ biển và quang cảnh đẹp một cách ấn tượng. Với tàu hỏa, chúng ta cũng được thoải mái ứng biến, có thể xuống ở một ga nhỏ, nơi không có sân bay, và tự do khám phá đất nước, gần gũi với thiên nhiên, với người dân hơn”. Độc đáo du lịch tàu hỏa Có khoảng 7 tuyến du lịch sang trọng đang được khai thác hoặc sắp được triển khai ở Việt Nam. Nổi tiếng nhất, có chí phí cao nhất (hơn 9.000 đô la) là tuyến SJourney xuyên Việt 8 ngày 7 đêm (Hà Nội - Ninh Binh - Quảng Bình - Huế - Đà Nẵng (Hội An) - Nha Trang - Mũi Né - TP Hồ Chí Minh). Đoàn tàu là khách sạn 5 sao di động, chỉ có 10 toa ngủ với 30 phòng ngủ và đón tối đa 60 khách, tập trung vào chăm sóc cá nhân và nghệ thuật ẩm thực. Từ phòng riêng, du khách có thể thấy phong cảnh lướt qua những ô cửa sổ lớn, từ những phố thị ồn ào, sôi động cho đến những vùng nông thôn yên bình, ruộng đồng thẳng cánh cò bay. Và mỗi sáng thực dậy lại là một địa điểm khác và bắt đầu chuyến tham quan những địa danh được xếp hạng di sản văn hóa thế giới. Không sử dụng SJourney, nhưng nhà báo Pháp Jean-Marc De Jaeger cũng dừng ở những chặng như vậy : “Đi tàu từ Nam ra Bắc đã giúp tôi khám phá sự đa dạng của Việt Nam : Thành phố Hồ Chí Minh là một thủ phủ kinh tế khá năng động và hiện đại, thành phố Đà Nẵng ven biển với thiên nhiên hùng vĩ, còn Hà Nội là một thành phố đậm chất văn hóa, khá truyền thống, và cách không xa đó lắm là những rặng núi ở Sapa (…). Ngày đầu tiên tới Việt Nam, tôi bắt tàu Violette Express ở thành phố Hồ Chí Minh (…). Những ngày đầu tiên tôi ở Việt Nam là trên tàu hỏa. Kỷ niệm đọng lại trong tôi rất đẹp. Tàu khá thoải mái, có rất nhiều khách du lịch. Tàu có hai hạng, giá vé chênh lệch nhau, có những toa tàu mà khách du lịch ưu tiên và những toa tàu mà người dân địa phương ưa thích”. Violette Express là loại hình toa tàu du lịch chất lượng cao, được gắn vào đoàn tàu quốc gia để phục vụ khách, giống như tàu đêm Hà Nội - Sapa của Victoria Express, Sapaly Express, le Vic Sapa Train hoặc Chapa Express, Hoa Phượng Đỏ với các toa VIP trên tuyến Hà Nội - Hải Phòng. Ngoài ra, còn có một số tuyến được khai thác riêng, như The Vietage nối Đà Nẵng - Quy Nhơn, được coi là khách sạn 5 sao di động với giá khoảng 450 đô la/chuyến. Hành trình được chọn đi qua những cung đường đẹp, một bên là biển, bên kia là cánh đồng và làng mạc. Đậm chất du lịch trải nghiệm hơn còn có tuyến La Reine dài 7 km nối Đà Lạt - Trại Mát, được công ty đường sắt Việt Nam khai thác, tàu du lịch Hà Nội 5 cửa ô nối Hà Nội - Từ Sơn (Bắc Ninh), Revolution Express : hai tiếng đi tàu từ Đà Nẵng đến Huế với đầu máy hơi nước của những năm 1960… Điểm chung của những tuyến tàu du lịch này là dịch vụ, trải nghiệm văn hóa, truyền thống, kết hợp tiện nghi của hiện đại với vẻ đẹp của kiến trúc Đông Dương để tạo nên nét tinh tế, sang trọng và rất lịch sử. Đây là “chìa khóa để tạo nên những tour trọn gói, đẳng cấp” và là “chiến lược nhằm khai thác nhóm đối tượng khách hàng sẵn sàng chi trả cho những dịch vụ chất lượng vượt trội” trong phân khúc du lịch bằng tàu hỏa, theo báo Nhân Dân ngày 03/06/2025. Phó Cục trưởng Du lịch Quốc gia Việt Nam Phạm Văn Thủy, được trang Nhân Dân trích dẫn, cho rằng những chuyến tàu không chỉ kết nối địa lý mà còn kết nối trải nghiệm, góp phần thúc đẩy và lan tỏa giá trị vùng miền đến đông đảo du khách trong và ngoài nước theo cách độc lạ, góp phần mở đầu cho một hình thức tour tuyến mới trong việc phát triển du lịch Việt Nam trong nhiều năm tới. Nhật ký ảnh hành trình du lịch bằng tàu hỏa ở Việt Nam Nhà báo Jean-Marc De Jaeger truyền tải kinh nghiệm du lịch tàu hỏa ở Việt Nam qua dạng nhật ký hành trình với những hướng dẫn thực tế và thông tin lịch sử, văn hóa những địa danh ông đi qua. “Đây là một cuốn sách minh họa, có nhiều hình ảnh, có cả phố Đường tàu nổi tiếng ở Hà Nội, giới thiệu một số địa điểm không thể bỏ qua khi tới Việt Nam. Đây là một câu chuyện, một hành trình, nên tôi tìm cách nói với độc giả, kiểu : “Nào, hãy theo tôi, lên tàu cùng tôi, khám phá địa danh này, địa danh kia”. Tôi nghĩ thông qua hành trình này mà tôi kích thích được độc giả khám phá đất nước bằng tàu hỏa. Trong số những địa điểm tôi ở lại vài ngày có Đà Nẵng, thành phố mà tôi rất thích vì có bờ biển xung quanh, thiên nhiên hùng vĩ, rất nhiều di tích tôn giáo. Và đặc biệt Đà Nẵng là trung tâm đường sắt của Việt Nam, có nghĩa là có những chuyến Bắc-Nam, hoặc có những chuyến đến Đà Nẵng rồi quay đầu. Tiếc là không có tàu đi từ Đà Nẵng đến Hội An, mà phải đi taxi hoặc xe buýt thêm gần một tiếng. Qua đó cũng thấy rằng từ ga tàu, có thể tỏa đi các địa điểm xung quanh bằng taxi hoặc phương tiện giao thông công cộng”. Cuốn sách không chỉ là những hướng dẫn mà cũng là nơi chia sẻ cảm xúc, cảm nhận của tác giả về hành trình. Mỗi thành phố, mỗi địa danh đã được Jean-Marc De Jaeger nghiên cứu và tìm tài liệu tỉ mỉ từ trước đó, tham khảo ý kiến những người biết rõ về Việt Nam. Và nếu có nhiều thời gian hơn, Jean-Marc De Jaeger nói là “có thể truyền đạt nhiều hơn trong sách. Nhưng chắc cũng không đủ chỗ mà sẽ phải làm một hướng dẫn riêng”. Một điểm nữa được nhà báo của tờ Le Figaro nhấn mạnh đó là đi tàu làm nảy sinh những mối liên hệ, kết nối, là cách hay nhất để hiểu được phần nào cuộc sống của người dân địa phương : “Khi ở trên tàu, tôi được tiếp xúc với người dân địa phương, mặc dù không phải ai cũng nói được tiếng Anh. Nhưng tôi vẫn có thể thấy một chút về lối sống, thói quen ăn uống trên tàu, cách mọi người di chuyển trong một hành trình dài như vậy. Đó là cách trải nghiệm rất hay. Tàu hỏa là cách tìm hiểu và gần gũi với người dân địa phương, để biết thêm một chút về cuộc sống hàng ngày của họ. Hành trình từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Đà Nẵng có vẻ dài, mất 16 hoặc 17 tiếng, nhưng tôi không để ý thời gian trôi qua vì tàu rất thoải mái, có nhiều dịch vụ. Hơn nữa, tôi thực sự đánh giá cao lòng hiếu khách của đội ngũ nhân viên trên tàu, những người rất tận tâm với hành khách. Bữa sáng được tính trong vé. Khách luôn có thể yêu cầu đồ ăn bất cứ lúc nào ban ngày hay ban đêm. Vì vậy, đây là một phương tiện di chuyển khiến bạn cảm thấy như là ở nhà. Trong khoang tàu, ban đầu có thể là những người không quen biết, nhưng sau đó cũng có thể bắt chuyện rất dễ dàng”. Du lịch bằng tàu hỏa xa xỉ có thể sẽ phát triển hơn nữa trong thời gian tới. Công ty Belmond, trực thuộc tập đoàn LVMH (Moët Hennessy Louis Vuitton), đã ký thỏa thuận khung với Tổng công ty Đường sắt Việt Nam để thực hiện đề xuất đưa 10 toa tàu cổ của Eastern & Oriental Express đến Việt Nam, phục vụ khách du lịch giữa Hà Nội-Thành phố Hồ Chí Minh. Tập đoàn Belmond khai thác các đoàn tàu du lịch nổi tiếng Venice-Simplon Orient Express, Royal Scotsman và Andean Explore. Tuy nhiên, kể từ khi được bộ Giao thông Vận tải Việt Nam “bật đèn xanh” vào tháng 03/2024, không có thêm thông tin nào về dự án này.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Mỹ muốn kéo Việt Nam vào quỹ đạo “bán đồng minh”, Hà Nội vẫn chưa sẵn sàng rời Matxcơva

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Dec 8, 2025 9:34


“Washington muốn hợp tác chặt chẽ hơn với Việt Nam về mặt quân sự”. Mối quan hệ này được thể hiện qua việc Mỹ chuyển giao ba tàu tuần tra cho Cảnh sát biển Việt Nam (1), năm máy bay huấn luyện T-6C trên tổng số 12 chiếc (2). Một cột mốc quan trọng khác là chuyến công du Hà Nội của bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ Pete Hegseth đầu tháng 11/2025. Ông khẳng định “Hoa Kỳ quyết tâm theo đuổi những dự án này và nhiều dự án khác”. Việt Nam giữ vai trò như thế nào trong chiến lược quốc phòng vừa được tổng thống Trump điều chỉnh ngày 05/12, theo đó Trung Quốc vẫn là đối thủ “hàng đầu” của Mỹ ? Liệu Hà Nội có thể tăng cường mối quan hệ quân sự với Washington mà vẫn không tách rời Matxcơva ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon tại Viện Đông Á (Institut d'Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. RFI : Việt Nam nằm trong số các điểm dừng chân trong chuyến công du châu Á của bộ trưởng Chiến tranh Hoa Kỳ Pete Hegseth tháng 11/2025. Chuyến thăm này diễn ra trong bối cảnh nào ? Laurent Gédéon : Trước hết, cần lưu ý rằng ông Pete Hegseth được coi là một đồng minh thân cận của tổng thống Donald Trump và được biết là người có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc. Ngày 03/11, ông Hegseth kết thúc chuyến thăm Việt Nam kéo dài hai ngày, gặp bộ trưởng Quốc Phòng Phan Văn Giang và cam kết tăng cường quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Chuyến thăm này trùng với kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao song phương và hai năm nâng cấp lên thành Đối tác Chiến lược Toàn diện - cấp ngoại giao cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này diễn ra trong bối cảnh ngoại giao tế nhị, được đánh dấu bằng chuyến công du Bắc Triều Tiên của tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm ngày 09/10, dự lễ duyệt binh tại Bình Nhưỡng để kỷ niệm 80 năm thành lập đảng Lao Động Triều Tiên. Dĩ nhiên là chuyến công du đầu tiên của một quan chức cấp cao Việt Nam từ năm 2007 cũng được theo dõi sát sao ở Washington. Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư Tô Lâm thăm Bắc Triều Tiên, dự lễ 80 năm thành lập đảng Lao Động Việc tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam thăm Bình Nhưỡng có thể được phân tích trên hai cấp độ. Thứ nhất là thể hiện mong muốn của Hà Nội trong việc khôi phục quan hệ với Bình Nhưỡng bị đình trệ vì đại dịch Covid-19, Bắc Triều Tiên gần như đóng cửa hoàn toàn biên giới với du khách nước ngoài. Mặt khác, điều này có thể liên quan đến môi trường địa-chiến lược nhạy cảm ở Đông Nam Á, đặc biệt là liên quan đến Trung Quốc, cũng như sự bất cân xứng quân sự đặc trưng trong mối quan hệ Việt-Trung. Trong bối cảnh này, Hà Nội quan tâm đến các phương pháp hiện đại hóa hệ thống vũ khí Liên Xô do Bắc Triều Tiên phát triển, đặc biệt là không quân, bởi vì Việt Nam cũng được trang bị vũ khí hạng nặng từ Nga hoặc Liên Xô cũ. Mối quan tâm này có thể giải thích sự hiện diện của bộ trưởng Phan Văn Giang. Giả thuyết này càng được củng cố qua việc hai bên đã ký một thỏa thuận hợp tác quốc phòng song phương. Bên cạnh hai yếu tố này, Việt Nam cũng đang định hình là một trung gian tiềm năng nếu đối thoại giữa Mỹ và Bắc Triều Tiên được nối lại, như trường hợp hồi tháng 02/2019. Lập trường này sẽ giúp Hà Nội có được lợi thế ngoại giao quý giá đối với Washington, đặc biệt là trong giai đoạn quan hệ kinh tế song phương nhạy cảm. Chuyến thăm của bộ trưởng Pete Hegseth, diễn ra trong bối cảnh phức tạp như đã nói ở trên, còn được đánh dấu bởi mong muốn của Hà Nội trong việc tìm kiếm sự cân bằng giữa hợp tác với các bên liên quan trong khu vực, tìm kiếm ảnh hưởng của Mỹ làm đối trọng với Trung Quốc, và duy trì khoảng cách tương đối với Washington mà không cắt đứt quan hệ với Mỹ. RFI : Hoa Kỳ đã tạm dừng viện trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế USAID trên thế giới, yêu cầu các đối tác và đồng minh chi tiêu nhiều hơn cho an ninh của họ. Ngược lại, Washington lại công bố khoản tài trợ mới 130 triệu đô la cho dự án xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa, nâng tổng số viện trợ không hoàn lại lên 430 triệu đô la. Đâu là lý do có thể giải thích cho quyết định này ? Laurent Gédéon : Thông qua quyết định này có thể thấy kết quả của sự hợp tác về các vấn đề hậu chiến, vốn là nền tảng chính trị và biểu tượng thiết yếu trong quan hệ Việt-Mỹ. Năm 1995 khi bình thường hóa quan hệ, hai nước hợp tác trong việc rà phá bom mìn, tìm kiếm hài cốt quân nhân mất tích và tẩy sạch chất dioxin tại các căn cứ không quân cũ bị nhiễm của Mỹ. Vết tích chiến tranh vẫn in hằn đối với cả người Mỹ và người Việt Nam. Việc nêu bật hậu quả về con người và môi trường của các vụ ném bom của quân đội Mỹ ở Việt Nam đã nâng cao nhận thức tại Hoa Kỳ và thúc đẩy mong muốn giải quyết cuộc xung đột này. Bối cảnh này là một trong những yếu tố giải thích cho quyết định tài trợ của Washington. Đọc thêmMỹ - Việt Nam tăng cường hợp tác quân sự Ngoài ra, còn có một lý do khác liên quan đến mong muốn của Washington trong việc thúc đẩy bất cứ việc gì có thể giúp hai nước xích lại gần nhau về mặt chiến lược, cho dù chi phí không phải là nhỏ. Theo quan điểm của các chiến lược gia Mỹ, một Việt Nam trung lập nhưng hòa giải đối với Mỹ, hoặc thậm chí là một Việt Nam đồng minh, là một mục tiêu đặc biệt quan trọng, bởi vì sẽ giúp kiềm chế Trung Quốc. Đây chắc chắn là một trong những lý do cho sáng kiến ​​của Mỹ. RFI : Liệu sự hợp tác về di sản chiến tranh có tạo nền tảng cho mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước sâu sắc hơn không ? Việt Nam có thể vận dụng sự hợp tác này như thế nào để phát triển quan hệ với một cựu thù ? Laurent Gédéon : Hợp tác về di sản chiến tranh chắc chắn rất quan trọng để củng cố quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Việc này cũng mang ý nghĩa chính trị nội bộ ở Việt Nam. Tại một đất nước mà cuộc chiến vẫn giữ ý nghĩa biểu tượng rất quan trọng đối với người dân, kể cả các thế hệ về sau, sự hợp tác về di sản chiến tranh này mang lại cho chính quyền tính chính danh chính trị cần thiết trong nỗ lực phát triển quan hệ với cựu thù. Tuy nhiên, sự hợp tác này không phải là động lực duy nhất thúc đẩy mối quan hệ Việt-Mỹ. Ngoài di sản chung của chiến tranh, mối quan hệ đó còn được thúc đẩy bởi thực tế cụ thể của bối cảnh địa-chiến lược hiện tại trong khu vực, được đánh dấu bằng sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chỉ riêng thực tế này cũng rất thuận lợi cho việc thúc đẩy các cuộc đàm phán giữa hai nước. Đọc thêmHoa Kỳ muốn hợp tác giúp Việt Nam có đủ vũ khí để tự vệ Các cuộc đàm về việc mua 24 chiến đấu cơ F-16, được tiết lộ ngày 22/04, cũng phải được đặt trong bối cảnh này. Mặc dù khởi đầu đầy hứa hẹn nhưng thỏa thuận lại không tiến triển trong chuyến thăm Hà Nội của bộ trưởng Pete Hegseth. Tuy nhiên, thất bại này không liên quan - hoặc chỉ liên quan tối thiểu - đến vấn đề ký ức lịch sử và di sản chiến tranh như vừa đề cập ở trên. Đó là lý do tại sao tôi nói rằng còn có những yếu tố tác động khác. Thật vậy, cần phải nói là song song với đàm phán Việt-Mỹ, nhiều cuộc đàm phán khác cũng diễn ra giữa Hà Nội và Matxcơva để Việt Nam mua chiến đấu cơ của Nga. Báo New York Times đưa tin vào ngày 27/10 rằng Hà Nội đã đặt mua vũ khí Nga trị giá 8 tỷ đô la, trong đó có 40 chiến đấu cơ Su-35 và Su-30. Nếu được xác nhận, hợp đồng này chứng minh hai điều : Thứ nhất, sự xích lại gần nhau ngày càng sâu sắc giữa Hà Nội và Matxcơva, và thứ hai, những thắc mắc của Việt Nam liên quan đến mức độ tin cậy lâu dài của Mỹ. Tuy nhiên, vì Washington hiểu rằng Việt Nam đã tăng cường quân sự đáng kể trong những năm gần đây, với ngân sách quốc phòng hiện chiếm gần 2% GDP, cho nên rất có thể Mỹ sẽ tiếp tục nỗ lực xích lại gần hơn bằng cách dựa vào những nền tảng được đặt ra trong hợp tác song phương về di sản chiến tranh, cũng như những chương trình hợp tác khác. RFI : Trong cuộc đối thoại ngày 02/11, bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam cũng bày tỏ mong muốn Mỹ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực quốc phòng và chia sẻ kinh nghiệm về an ninh mạng. Đâu là mục đích của Việt Nam trong việc này ? Laurent Gédéon : Đây là điểm đáng chú ý, bởi vì từ một năm nay, Việt Nam giữ vị thế nổi bật trong lĩnh vực an ninh mạng. Ngày 24/12/2024, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chính thức thông qua Công ước Liên Hiệp Quốc về Chống Tội phạm Mạng và chỉ định Hà Nội là địa điểm tổ chức ký kết. Lễ mở ký Công ước Hà Nội được tổ chức ngày 25 và 26/10/2025. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hợp tác quốc tế về an ninh mạng, đồng thời phản ánh tầm quan trọng đặc biệt cho ngành ngoại giao Việt Nam. Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, thiệt hại kinh tế hàng năm trên quy mô toàn cầu do tội phạm mạng dự kiến ​​vượt quá 10.000 tỷ đô la Mỹ vào năm 2025, với hàng triệu cuộc tấn công mạng xảy ra mỗi ngày. Đọc thêmHơn 60 nước ký kết Công ước chống Tội phạm Mạng tại Hà Nội, nhiều tập đoàn kỹ thuật số tẩy chay Tại Việt Nam, cũng như nhiều nơi khác trên thế giới, tội phạm mạng ngày càng gia tăng về quy mô và tính chất phức tạp về bản chất, cũng như tác động. Theo thiếu tướng Lê Xuân Minh, cục trưởng Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm mạng, bộ Công An, năm 2024 đã xảy ra hơn 100.000 sự cố an ninh mạng. Tội phạm mạng chuyển hướng từ các cuộc tấn công đơn lẻ, quy mô nhỏ sang hoạt động xuyên quốc gia được tổ chức bài bản, nhắm vào các hệ thống quốc gia trọng yếu và các doanh nghiệp kinh tế lớn. Đầu tháng 12/2025, bộ Công An cũng đã cảnh báo về sự gia tăng nhanh chóng của các video và hình ảnh được AI tạo ra sau trận lũ lụt ở miền Trung Việt Nam một tuần trước đó. Rõ ràng đây là vấn đề dân sự. Nhưng vì có tính chất hỗn hợp, những vấn đề này thường đan xen giữa lĩnh vực dân sự và quân sự, hoặc thậm chí là an ninh dân sự và quốc phòng. Trong bối cảnh đó, Hoa Kỳ - quốc gia sở hữu một trong những chuyên môn hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này - rõ ràng có thể hỗ trợ Việt Nam, nếu Hà Nội yêu cầu, dưới hình thức đào tạo chuyên gia, cung cấp chuyên gia, chia sẻ dữ liệu số, xây dựng năng lực, thậm chí là hội nhập vào các mạng lưới quốc tế. Tuy nhiên, để đi xa hơn trong quá trình hợp tác này, ví dụ, liên quan đến việc chia sẻ kinh nghiệm từ xung đột Ukraina, có lẽ Việt Nam sẽ phải thay đổi triệt để các ưu tiên chiến lược và ngoại giao, trong đó có việc Hà Nội có thể sẽ phải tách khỏi Matxcơva và xích lại gần Washington, điều này sẽ đưa Việt Nam vào quỹ đạo đồng minh hoặc bán đồng minh của Mỹ. Nhưng đó sẽ là sự thay đổi mô hình mà Hà Nội có lẽ chưa sẵn sàng vào thời điểm này, cho dù được Washington khuyến khích. Do đó, hợp tác Mỹ-Việt trong lĩnh vực an ninh mạng nhiều khả năng sẽ vẫn ở mức độ hạn chế. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. (1) Hoa Kỳ mở rộng hợp tác quốc phòng Hoa Kỳ - Việt Nam với việc bàn giao máy bay huấn luyện T-6C (2) Hoa Kỳ chuyển giao tàu tuần tra thứ ba cho Cảnh sát Biển Việt Nam nhân kỉ niệm 30 năm quan hệ ngoại giao

TẠP CHÍ VIỆT NAM
2026 : Bối cảnh quốc tế không thuận lợi cho mục tiêu tăng trưởng 10% của Việt Nam

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Nov 17, 2025 9:08


Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng năm 2026 đạt 10% trở lên “để tạo đà, tạo lực, tạo thế cho tăng trưởng hai con số trong những năm tiếp theo, GDP đầu người đạt 5.500 đô la” (1). Đây là hai trong số 15 chỉ tiêu về kinh tế-xã hội trong kế hoạch dự kiến năm 2026 để đạt hai mục tiêu 100 năm đã đề ra : Đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Ngày 19/10/2025, thủ tướng Phạm Minh Chính thừa nhận mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số những năm tới là không dễ đạt được, nhưng không thể không làm. Chính phủ duy trì mức tăng trưởng 8% cho năm 2025 (thấp hơn so với dự báo hồi đầu năm) nhờ vào việc “nền kinh tế Việt Nam đã chứng minh được khả năng phục hồi bất chấp những cú sốc bên ngoài”. Tuy nhiên, các định chế tài chính, ngân hàng quốc tế đưa ra mức thẩm định thấp hơn : từ 6,5% đến 6,7%. Chính phủ xác định phải thay đổi mô hình kinh tế, hiện vẫn dựa vào gia công, nhập khẩu và mô hình tăng trưởng, chủ yếu đến từ vốn, lao động (2). Tuy nhiên, những thay đổi này liệu có thể mang lại kết quả ngay năm 2026 để góp phần cho mục tiêu tăng trưởng 10% ? Tăng trưởng của Việt Nam vẫn phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu, đặc biệt là thị trường Mỹ, mức thuế hải quan 20% áp dụng đối với hàng hóa của Việt Nam, cũng như những xáo trộn trên thế giới do thuế đối ứng của Mỹ, sẽ tiếp tục tác động như thế nào đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam năm 2026 ? Ông Hubert Testard, chuyên gia về châu Á và các thách thức kinh tế quốc tế, tổng biên tập báo mạng Asialyst chuyên về châu Á, chia sẻ một số nhận định với RFI Tiếng Việt. RFI : Chính phủ Việt Nam đưa ra dự báo tăng trưởng GDP năm 2025 là 8%. Vào tháng 9, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đưa ra dự báo là khoảng 6,7%, còn Ngân hàng Thế giới là 6,6%, Quỹ Tiền tệ Quốc tế là 6,5%. Có thể thấy sự khác biệt rất rõ giữa những mức dự báo này. Liệu chúng ta có thể lạc quan về dự báo được chính phủ Việt Nam đưa ra không ? Hubert Testard : Đúng là có sự khác biệt giữa dự báo chính thức của chính phủ Việt Nam, khá là lạc quan cho năm 2025, và dự báo của các tổ chức quốc tế. Sự khác biệt này có thể là do những gì xuất hiện trong báo cáo của các tổ chức quốc tế thường dựa trên dữ liệu chậm hơn ngày công bố từ một đến hai tháng. Ví dụ, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế - IMF vừa công bố báo cáo thường niên vào ngày 15/10, nhưng dữ liệu đối với Việt Nam có lẽ là những dữ liệu dừng lại vào cuối tháng 8. Vấn đề ở chỗ là Việt Nam đã ghi nhận kết quả quý III rất tốt, với mức tăng trưởng hơn 8% một chút. Và đó là lý do khiến chính phủ Việt Nam lạc quan về tăng trưởng cả năm. Nhưng chúng ta biết rằng quý IV sẽ ít khả quan hơn vì áp lực từ thuế quan của Mỹ. Xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong quý I đã rất tốt vì các nhà xuất khẩu lường trước được những vấn đề này và do đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đã tăng gần 30% trong nửa đầu năm. Nhưng rõ ràng, giờ đây mọi chuyện không thể như cũ được nữa và sẽ có tác động trong quý IV. Đọc thêmMỹ-Việt công bố tuyên bố chung về thỏa thuận khung thương mại, Hà Nội vẫn chịu mức thuế quan 20% Nhưng vì kết quả quý III rất tốt, tôi nghĩ rằng nhìn chung, kết quả cả năm sẽ không chênh lệch quá nhiều so với dự báo của chính phủ. Tôi nghĩ con số này sẽ tốt hơn so với những gì Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế hoặc Ngân Hàng Thế Giới dự báo trong số liệu chính thức hiện nay của họ. Theo tôi, kết quả sẽ đạt trên 7% trong năm nay. RFI : Ngày 20/10, thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh “kinh tế Việt Nam khẳng định đủ sức chống chịu trước các cú sốc bên ngoài, tăng trưởng cao hàng đầu thế giới”. Liệu điều này có thể giúp đạt được mục tiêu tăng trưởng 10% cho năm 2026 ? Hubert Testard : Mức 10% vào năm 2026, trái lại, lại quá lạc quan, rất tham vọng. Và theo tôi, có lẽ không thể đạt được đối với Việt Nam, bởi vì bối cảnh quốc tế trong năm 2026 sẽ bớt thuận lợi hơn nhiều. Trước tiên là mức thuế quan trung bình 20% của Mỹ mà ai cũng biết, nhưng cũng phải kể đến nhiều mức thuế đặc biệt khác đối với ô tô, thép, nhôm. Gần đây, còn có một vấn đề khác đối với các nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam, với thông báo ngừng xuất khẩu một số mặt hàng vào năm 2026. Tất cả những điểm này sẽ có tác động nhất định. Ngoài ra, bối cảnh chung ở một số nước khác cũng không đặc biệt hơn. Nghĩa là, nhu cầu của Trung Quốc không mạnh lắm, châu Âu đang cố gắng hạn chế dòng hàng nhập khẩu từ châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc. Vì vậy, bối cảnh quốc tế sẽ kém thuận lợi hơn. Tất cả các tổ chức quốc tế đều dự đoán năm 2026 sẽ có mức tăng trưởng kém hơn một chút so với năm 2025. Vì vậy, việc đạt được 10% trong bối cảnh này, đối với tôi, là không được khả thi lắm. RFI : Ông vừa nhắc đến mức thuế 20% của Mỹ, khả năng thủy sản Việt Nam không được xuất khẩu sang Mỹ năm 2026… những biện pháp này có tác động đến GDP của Việt Nam không trong khi năm 2024, xuất khẩu sang Hoa Kỳ chiếm khoảng 30% GDP của Việt Nam ? Hubert Testard : Có, chắc chắn là có. Đã có những đánh giá về tác động này, nhưng chúng ta hãy chờ xem tác động thực sự như thế nào. Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc tế - IMF, tác động của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch của Mỹ gây thiệt hại ít nhất là khoảng 0,5 đến 0,7% GDP cho Việt Nam. Đó là một cú sốc đáng kể và có thể bù đắp được nếu Việt Nam thúc đẩy nhiều hơn nhu cầu nội địa và đa dạng hóa trao đổi thương mại quốc tế. Tuy nhiên, đây vẫn là một cú sốc tiềm tàng khá mạnh. Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) cũng ước tính xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ có thể giảm 20%. Tôi thấy con số này hơi quá. Nhưng rõ ràng là vẫn sẽ có một cú sốc rất lớn, cho nên Việt Nam sẽ phải bù đắp cú sốc này bằng nhiều biện pháp khác nhau trên thị trường nội địa cũng như đa dạng hóa trao đổi thương mại. Đọc thêmViệt Nam : “Bạn” hay “thù” trong chính sách đánh thuế của Trump ? RFI : Mô hình tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, đầu tư công và xuất khẩu, chủ yếu từ các nhà đầu tư nước ngoài. Liệu mô hình này có còn phù hợp trong tương lai ? Hubert Testard : Rõ ràng là phải thay đổi mô hình này. Đó là điều mà Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OCDE) khuyến nghị trong báo cáo tháng 06/2025 về Việt Nam. Tổ chức này đưa ra một loạt đề xuất để mô hình tăng trưởng của Việt Nam tiến triển. Tôi nghĩ là trong bối cảnh nhu cầu quốc tế sẽ phức tạp, Việt Nam cần phát triển nhu cầu nội địa nhiều hơn hiện tại. Dù sao vẫn có một số điểm tích cực, ví dụ như tiền lương ở Việt Nam đang tăng nhanh hơn so với các nước ASEAN khác. Và đó là một cách tốt để hỗ trợ nhu cầu nội địa. Nhưng vẫn còn nhiều vấn đề khác, ví dụ, chi tiêu về xã hội rõ ràng là không đủ, đặc biệt là cho người cao tuổi. Cho nên lương hưu, đặc biệt là lương hưu tối thiểu, là một vấn đề. Ngoài ra, chi tiêu cho giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, cũng không đủ. Chúng ta biết rằng kinh phí mà thanh niên Việt Nam phải trả để học đại học là quá cao, và khiến một bộ phận người trẻ không muốn hoặc không thể theo học. Đó là điều cần phải thay đổi bởi vì Việt Nam ngày càng cần một lực lượng lao động được đào tạo bài bản và có trình độ để đạt được tăng trưởng hiệu quả hơn và hướng tới các công nghệ khác. Đọc thêmĐể duy trì tăng trưởng cao, Việt Nam buộc phải thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân Ngoài ra, còn có một vấn đề tiềm ẩn khác đang bắt đầu nổi lên, đó là tình trạng lão hóa dân số. Hiện nay, những người trên 65 tuổi chiếm 15% dân số Việt Nam, còn khá thấp so với các quốc gia khác. Tuy nhiên, điều này sẽ thay đổi rất nhanh chóng và sẽ đạt hơn 30% vào năm 2050, đồng nghĩa với việc chi tiêu xã hội cho y tế và hưu trí sẽ tăng đáng kể. Như vậy, chính phủ cần tìm cách tài trợ cho chi tiêu xã hội và làm thay đổi phát triển mô hình xã hội Việt Nam. RFI : Gần đây thiệt hại do thiên tai gây ra ở Việt Nam cũng được đề cập. Theo đánh giá sơ bộ, thiệt hại này chiếm khoảng 2% GDP. Liệu đây có phải là một tác động cần được xem xét cho tăng trưởng ở Việt Nam ? Hubert Testard : Như chúng ta đã biết, biến đổi khí hậu vẫn đang tiếp tục gây ra những tác động, và Việt Nam nằm trong số những nước bị tác động nặng. Chị nhắc đến khoảng 2%, nhưng có khả năng con số này sẽ tăng lên trong những năm tới. Điều đó có nghĩa là, chúng ta không nên kỳ vọng vào việc các cú sốc khí hậu sẽ giảm đi, mà ngược lại sẽ gia tăng. Vì vậy, ở điểm này, Việt Nam cần đầu tư nhiều hơn để có thể ứng phó với những cú sốc trong tương lai. Ngoài ra còn có một khía cạnh khác, đó là quá trình chuyển đổi năng lượng của Việt Nam nhằm giảm phát khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Đây cũng là một dự án đầu tư lớn được tiến hành tại Việt Nam. Có thể thấy là có nhiều dự án đã được khởi động, mọi việc tiến triển, nhưng vẫn còn rất xa mục tiêu được đặt ra cho năm 2050. Cho nên chính phủ Việt Nam vẫn còn rất nhiều việc phải làm. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn chuyên gia Hubert Testard, tổng biên tập báo mạng Asialyst chuyên về châu Á.  (1) Quốc hội thảo luận mục tiêu tăng trưởng 2026 từ 10%, GDP đầu người đạt 5.500 USD 2/ Chính phủ đặt mục tiêu GDP năm 2026 tăng 10%

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Việt Nam : “Quốc tế hóa” vai trò của tổng bí thư đảng Cộng Sản

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Nov 3, 2025 9:50


Khoảng 20 chuyến công du đến 20 nước trong vòng hơn một năm giữ chức tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Tô Lâm có lẽ là nhà lãnh đạo đảng công du nước ngoài nhiều nhất. Trong khuôn khổ những chuyến công du này, Việt Nam nâng cấp Đối tác Chiến lược Toàn diện với 6 nước, và Đối tác Chiến lược với 5 nước khác. Dưới thời ông Tô Lâm, Việt Nam đang “quốc tế hóa” vai trò của tổng bí thư. Khi đưa tin về chuyến công du Anh Quốc và Bắc Ireland của ông Tô Lâm, từ 28-30/10/2025, hãng tin Anh Reuters nhận định nhà lãnh đạo quyền lực nhất của Việt Nam, ông Tô Lâm, đã đóng vai trò trung tâm trong việc định hình chính sách đối ngoại kể từ khi trở thành tổng bí thư đảng Cộng Sản vào năm ngoái (2024), một nỗ lực trước đây do chủ tịch nước và thủ tướng dẫn đầu. Cho thế giới thấy nhà lãnh đạo thực sự ở Việt Nam Ngay sau khi chính thức được bầu làm tổng bí thư, tại buổi họp báo ngày 03/08/2024, ông Tô Lâm có bài phát biểu “khẳng định kế thừa và phát huy những thành quả cách mạng mà cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và các thế hệ lãnh đạo đi trước đã gây dựng”. Điểm này đang được ông Tô Lâm phát triển mạnh mẽ hơn, theo nhận định của giáo sư danh dự Carl Thayer, Đại học New South Wales : “Tổng bí thư Tô Lâm đang tận dụng sự lãnh đạo của mình để phát huy di sản của người tiền nhiệm Nguyễn Phú Trọng, người đã chính thức hóa vai trò của tổng bí thư trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Tổng bí thư Trọng đã được lãnh đạo chính phủ Anh và Nhật Bản, hai nền dân chủ tự do, đón tiếp, và được tổng thống Barack Obama tiếp đón tại Nhà Trắng. Ông Trọng cũng đã tiếp đón tổng thống Joe Biden tại Hà Nội”. Theo thông lệ, chuyến công du nước ngoài đầu tiên của tân tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam là đến Lào, sau đó là Cam Bốt và Trung Quốc - nước láng giềng rộng lớn mà ngay vào thời kỳ đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam xác định rõ chính sách đối với Trung Quốc “là phải thân thiện”. Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng tại Đại học Boston, Mỹ, nhận định với RFI Tiếng Việt : “Việc Việt Nam quốc tế hóa vai trò của tổng bí thư thực ra không có gì là bất ngờ. Một trong những ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là bảo vệ an ninh của thể chế, và một trong những cách đó là nâng cao vai trò của tổng bí thư trên trường quốc tế. Với các nước chung chí hướng như là Bắc Triều Tiên, Trung Quốc hay Lào thì đây cũng không phải là một sự thay đổi lớn do vai trò của quan hệ kênh Đảng từ lâu đã được khẳng định”. Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư Tô Lâm thăm Bắc Triều Tiên, dự lễ 80 năm thành lập đảng Lao Động Tiếp theo là hàng loạt vòng công du cho đến cuối năm 2024. Ví dụ, tháng 09/2024, tổng bí thư Tô Lâm đến dự Hội nghị thượng đỉnh Tương Lai, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc và làm việc ở Hoa Kỳ. Sau đó, ông công du nước Cuba anh em. Đến đầu tháng 10, ông công du Mông Cổ, tiếp theo là Ireland và Pháp. Đến tháng 11 là Malaysia. Trong những chuyến công du này, Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành Đối tác Chiến lược Toàn Diện với ba nước Mông Cổ, Pháp, Malaysia. Các nước ASEAN mở đầu cho vòng công du năm 2025 của tổng bí thư Tô Lâm. Tháng 03, ông thăm Singapore, Indonesia, nâng cấp quan hệ lên mức cao nhất với hai nước. Với những hoạt động này, tổng bí thư “đang đảm nhiệm vai trò nhà ngoại giao cấp cao, thường là nhiệm vụ của chủ tịch nước hoặc thủ tướng”, theo ý kiến của giáo sư Zachary Abuza, Đại học Chiến tranh Quốc gia Hoa Kỳ ở Washington : “Bằng cách này, ông Lâm đã khẳng định rõ ràng rằng ông coi chức vụ quyền lực nhất của đảng Cộng sản Việt Nam là chức vụ có chức năng điều hành trong đảng-nhà nước, điều mà những người tiền nhiệm của ông, những người chỉ tập trung vào chính sách và hệ tư tưởng, chưa từng đảm nhiệm”. Trong tháng 05, ông thăm bốn nước thuộc Liên Xô cũ (Kazakhstan, Azerbaijan, Nga, Belarus), nhân chuyến công du theo lời mời dự Ngày Chiến thắng với lễ diễu binh trên Quảng trường Đỏ ở Matxcơva. Ba tháng sau ông thăm Hàn Quốc. Trong tháng 10/2025, ông Tô Lâm công du Bắc Triều Tiên dự lễ kỷ niệm 80 thành lập đảng Lao Động Triều Tiên, sau đó là vòng công du hai nước châu Âu Phần Lan và Bulgari, cuối cùng là Anh Quốc và Bắc Ireland, nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược với Helsinki và đối tác chiến lược toàn diện với Luân Đôn. Có thể thấy ông Tô Lâm quảng bá mạnh hơn, cho quốc tế thấy rõ hơn hình ảnh và vai trò của tổng bí thư - nhà lãnh đạo trên thực tế của Việt Nam, theo nhận định của Giáo sư Carl Thayer ngày 28/09 : “Tổng bí thư Tô Lâm đã liên tiếp công du nước ngoài kể từ khi nắm quyền lãnh đạo đảng và đóng vai trò quan trọng trong việc ký kết bảy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mới (Úc, Pháp, Malaysia, New Zealand, Indonesia, Singapore và Thái Lan). Ông Tô Lâm đang chứng minh rằng vị thế tổng bí thư không chỉ quan trọng đối với các vấn đề đối nội mà còn cả đối ngoại”. Đọc thêmLãnh đạo Việt Nam Tô Lâm đi Mỹ dự Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc Một yếu tố mới, được tiến sĩ Lê Hồng Hiệp nhận định trên trang Fulcrum ngày 02/07/2025, là vai trò của “Đệ nhất phu nhân” định nghĩa lại nền ngoại giao và chính trị Việt Nam. Bà Ngô Phương Ly, “đệ nhất phu nhân trên thực tế, đã mở đường cho việc tăng cường các nỗ lực ngoại giao của Việt Nam và làm dịu đi hình ảnh của chồng bà” : “Bà Phương Ly, phu nhân của tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm, đang nhanh chóng nổi lên như một nhân vật mang lại sự thay đổi trong ngoại giao quốc tế của Việt Nam. Bà tháp tùng ông Tô Lâm trong hầu hết các chuyến thăm nước ngoài và tiếp đón các nhà lãnh đạo nước ngoài tại Việt Nam. Thông qua việc thường xuyên tham gia các hoạt động văn hóa và xã hội với các đối tác nước ngoài, bà đã nâng cao vị thế ngoại giao của Việt Nam và nâng cao hình ảnh của ông Tô Lâm trước công chúng, qua đó góp phần nâng cao vị thế chính trị của ông. Ví dụ, trong chuyến thăm Singapore của ông Tô Lâm vào tháng 03/2025, bà Phương Ly đã tham gia các cuộc thảo luận về các vấn đề văn hóa với bà Loo Tze Lui, phu nhân thủ tướng Singapore Lawrence Wong, và chứng kiến ​​lễ ký kết Biên bản ghi nhớ giữa Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và Nhạc viện Yong Siew Toh của Singapore. Gần đây hơn, trong chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Pháp Emmanuel Macron tháng 05/2025, bà Phương Ly đã tháp tùng bà Brigitte Macron tham quan Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và Văn Miếu Quốc Tử Giám, chia sẻ những hiểu biết sâu sắc về di sản văn hóa phong phú của Việt Nam với Đệ nhất phu nhân Pháp”. Đọc thêmQuảng bá hình ảnh Việt Nam qua những chuyến công du của lãnh đạo thế giới Vai trò của tổng bí thư trong “định hình chính sách đối ngoại” Ngoài việc khẳng định quyền lực lãnh đạo thực sự ở Việt Nam, những chuyến công du nước ngoài của ông Tô Lâm, với tần suất dày đặc hơn so với người tiền nhiệm, còn nằm trong định hướng Hội nhập quốc tế trong tình hình mới, được quy định trong Nghị quyết số 59 (ngày 24/01/2025) và được cổng thông tin Chính phủ nhấn mạnh ngày 16/09 là “quyết sách quan trọng, đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước”. Một mặt, Nghị quyết đưa ra hướng dẫn củng cố mối quan hệ “hữu nghị truyền thống” lâu đời của Việt Nam với Nga, Cuba, Bắc Triều Tiên. Mặt khác, Nghị quyết cũng cho thấy Việt Nam đang chủ động hơn trong các vấn đề quốc tế. Giáo sư Carl Thayer, Đại học New South Wales, phân tích : Nghị quyết số 59 lưu ý rằng hội nhập quốc tế đòi hỏi “chủ động, tích cực và dũng cảm” để thúc đẩy các mạng lưới đối tác đã được thiết lập, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, củng cố lòng tin chính trị và giải quyết các thách thức khu vực và toàn cầu thông qua hợp tác hòa bình, tất cả đều trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Nghị quyết số 59 cũng củng cố một trong những mục tiêu quan trọng của hội nhập quốc tế - duy trì môi trường hòa bình và ổn định để Việt Nam có thể phát triển kinh tế. Ví dụ chuyến công du Bình Nhưỡng của tổng bí thư Tô Lâm cũng được coi là nhằm trong chiến lược “bảo vệ đất nước từ sớm và từ xa, trước khi đất nước lâm nguy” phù hợp với chủ trương của Nghị quyết số 59, theo nhận định của giáo sư Carl Thayer : “Nếu ông Tô Lâm đến thăm Bình Nhưỡng, ông có thể sẽ tìm hiểu xem Việt Nam có thể đóng vai trò ngoại giao và chính trị nào trong bất kỳ tiến trình hòa bình nào trên bán đảo Triều Tiên. Việt Nam có lợi ích thiết yếu trong việc duy trì ổn định trên bán đảo Triều Tiên. Bất kỳ sự suy giảm nào trong hiện trạng, dẫn đến đối đầu giữa Hoa Kỳ và Hàn Quốc với Bắc Triều Tiên, Trung Quốc và Nga, sẽ đẩy Việt Nam ra ngoài lề và gây khó khăn cho quan hệ với các cường quốc”. Đọc thêmTổng bí thư đảng Cộng Sản, chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm công du Mông Cổ, Ireland và Pháp Trong số 5 quan điểm chỉ đạo về hội nhập quốc tế, hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh được coi là một trong những trụ cột và là “một nội dung rất quan trọng”, theo phát biểu ngày 16/09 của ông Lê Hoài Trung, lúc đó là quyền ngoại trưởng. Ngoài ra, Việt Nam “chuyển từ xin nhận, gia nhập, tham gia sang chủ động đóng góp và xây dựng, định hình và sẵn sàng đóng góp có trách nhiệm vào công việc chung của cộng động quốc tế”. Sự kiện Hà Nội đăng cai tổ chức Lễ mở ký Công ước Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng ngày 25/10/2025, được Việt Nam coi là “dấu mốc lịch sử không chỉ với cộng đồng quốc tế mà còn khẳng định vai trò vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế”. Trang VnExpress đưa tin “các nước đánh giá cao vai trò lãnh đạo, dẫn dắt của Việt Nam thông qua sáng kiến đăng cai Lễ mở ký”. Nhân dịp này, tổng bí thư Tô Lâm đã tiếp tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres. Cho dù “hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân” nhưng được thực hiện “dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước”. Trong tiến trình này, tổng bí thư không chỉ còn muốn đứng đầu đảng, giữ vai trò về tư tưởng, mà là một nhà lãnh đạo cao nhất đất nước. Hình ảnh mới này đang được ông Tô Lâm làm cho các đối tác phương Tây quen dần, theo nhận định của tiến sĩ Vũ Khang, Đại học Boston : Đối với các đối tác phương Tây, Việt Nam đã đặt các đối tác phương Tây vào vị trí phải công nhận tính chính danh và sự ngang hàng của vị trí tổng bí thư với các vị trí nguyên thủ quốc gia qua các cuộc gặp cấp cao. Đây cũng là một di sản của cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi ông đã thành công bắt Mỹ phải công nhận tổng bí thư là ngang hàng với chức tổng thống Mỹ, từ đó mở ra các nước phương Tây khác cũng chấp nhận theo. Điều này chứng tỏ đây là một chính sách đường dài chứ không phải ngắn hạn cho kỳ Đại hội Đảng sắp tới, và dù ai ở vị trí tổng bí thư đi chăng nữa thì cũng sẽ được kế thừa di sản này.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Dù muốn nhưng Việt Nam vẫn phải tránh "hợp tác quân sự" với Bắc Triều Tiên

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Oct 20, 2025 9:49


Quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và Bắc Triều Tiên được “tạo xung lực mới” thông qua chuyến công du Bình Nhưỡng của tổng bí thư Tô Lâm từ ngày 09-11/10/2025 nhưng tạm dừng ở cấp độ chính trị, trao đổi văn hóa và du lịch. Bình Nhưỡng đã phát triển mạnh chương trình tên lửa, kể cả hạt nhân và cho dù có muốn, Hà Nội cũng chỉ dừng ở “ý định thư hợp tác quốc phòng khi điều kiện cho phép”. Bắc Triên Tiên bị Liên Hiệp Quốc trừng phạt vì phát triển chương trình hạt nhân. Còn “Việt Nam không muốn vi phạm các lệnh trừng phạt quốc tế đối với Bắc Triều Tiên” theo nhận định của nhà nghiên cứu Vũ Khang, Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston (Mỹ), vì Hà Nội đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế trong những thập niên gần đây và không ngừng mở rộng mạng lưới đối tác với các nước phương Tây. Cùng với “ngoại giao cây tre”, Việt Nam thể hiện là “bạn” với tất cả các nước, là một quốc gia trung lập, không chọn phe. Và trong chính sách đối ngoại đa phương, Hà Nội coi Bình Nhưỡng là một đối tác quan trọng. Tuy nhiên, “việc này không đồng nghĩa là Việt Nam ủng hộ chương trình hạt nhân hay chính sách chống phương Tây của Bắc Triều Tiên”. Chuyến thăm Bình Nhưỡng của ông Tô Lâm diễn ra chỉ hai tháng sau chuyến công du Seoul còn cho thấy Hà Nội tiếp tục chính sách cân bằng quan hệ và đặt trọng tâm vào việc duy trì ổn định khu vực để phát triển kinh tế và hợp tác với cả hai miền Triều Tiên. Chuyến công du đầu tiên kể từ 18 năm qua mang lại những triển vọng như thế nào cho quan hệ Việt Nam - Bắc Triều Tiên ? Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, tại Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston, Mỹ, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Mối quan hệ giữa Việt Nam và Bắc Triều Tiên trở thành đề tài được chú sau khi nhà lãnh đạo Kim Jong Un mời tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm đến dự 80 thành lập đảng Lao Động Triều Triên và lễ duyệt binh ở Bình Nhưỡng. Năm 2025 cũng đánh dấu 75 năm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên, mối quan hệ này không phải lúc nào cũng suôn sẻ ! Vũ Xuân Khang : Quan hệ Việt Nam-Bắc Triều Tiên thực ra từ sau chiến tranh Lạnh không có nhiều phát triển so với quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc. Nói như vậy không có nghĩa là quan hệ Việt-Triều không quan trọng. Trong tình hình chính sách đối ngoại hiện nay của Việt Nam, Bắc Triều Tiên là một trong những đối tác truyền thống của Hà Nội, khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao kể từ rất sớm, vào tháng 01/1950. Và Bắc Triều Tiên là nước thứ 3 đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, chỉ sau Trung Quốc và Liên Xô. Trong chiến tranh chống Mỹ, Bắc Triều Tiên đã cam kết sẽ bảo vệ miền Bắc khỏi các cuộc tấn công của Mỹ và chính họ đã gửi phi công tham chiến, cũng như một lượng lớn khí tài và viện trợ kinh tế cho miền Bắc. Mặc dù quan hệ hai bên đã bị sứt mẻ trong chiến tranh Đông Dương lần 3 khi Bắc Triều Tiên ủng hộ Trung Quốc và Khmer Đỏ chống lại Việt Nam, hai bên đã không có bất kỳ cuộc trao đổi cấp cao nào. Và đó gần như là giai đoạn mà hai bên không muốn nhắc tới. Đọc thêmViệt Nam cố giữ trung lập giữa Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên Kể từ năm 1988-1989 đến nay, sau khi Việt Nam rút quân khỏi Cam Bốt, thì hai nước mới bắt đầu có những trao đổi cấp cao trở lại. Tuy nhiên, việc Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc vào năm 1992 đã khiến cho quan hệ Việt Nam-Bắc Triều Tiên tạm thời trở nên đóng băng. Kể từ đầu những năm 2000 trở lại đây, Việt Nam và Bắc Triều Tiên mới bắt đầu nối lại những đàm phán cấp cao do chính Bình Nhưỡng bày tỏ mong muốn là được thử nghiệm các mô hình mở cửa kinh tế như Việt Nam và Trung Quốc đã làm. Có thể thấy là quan hệ giữa Việt Nam và Bắc Triều Tiên kể từ sau Chiến tranh Lạnh không có nhiều phát triển, nhất là quan hệ thương mại gần như nhỏ giọt, chỉ khoảng 20 triệu đô la/năm. Và về quan hệ quân sự, càng không có một chi tiết nào được công bố trên truyền thông. Những năm gần đây, Việt Nam và Bắc Triều Tiên mong muốn tiếp tục nối lại quan hệ ngoại giao sau khi đại dịch Covid-19 làm ảnh hưởng tới trao đổi cấp cao giữa hai nước mà do chủ tịch Bắc Triều Tiên Kim Jong Un đã cố gắng nối lại trong chuyến thăm Hà Nội năm 2019. RFI : Tổng bí thư Tô Lâm là nhà lãnh đạo đảng thứ 3 đến thăm Bắc Triều Tiên trong 75 năm qua, lần gần đây nhất là chuyến thăm của tổng bí thư Nông Đức Mạnh năm 2007. Vậy chuyến công du này có ý nghĩa như thế nào ? Vũ Xuân Khang : Cần phải nói rõ là trong những năm gần đây, vì những lý do về kinh tế, về đại dịch nên Bắc Triều Tiên đã đóng cửa rất nhiều đại sứ quán và lãnh sự quán ở các nước đối tác truyền thống khác, như Uganda, Angola, Nepal, Senegal, Bangladesh, Hồng Kông, và Tây Ban Nha… nhưng họ vẫn duy trì hiện diện ở Việt Nam. Điều này cho thấy Bắc Triều Tiên vẫn nhìn nhận Việt Nam như là một đối tác rất quan trọng ở Đông Nam Á. Và trong những năm gần đây, cho dù hai nước không gặp nhau trực tiếp do đại dịch Covid-19, nhưng vẫn có những thư mừng hoặc những lời chúc mừng trong giai đoạn hai nước tổ chức Đại hội Đảng. Đặc biệt kể từ năm 2024, hai nước bắt đầu thực sự nối lại các cuộc gặp mặt cấp cao như chuyến thăm Việt Nam của ông Kim Song Nam, trưởng ban quốc tế trung ương của Đảng Lao động Triều Tiên, vào tháng 03/2024. Việt Nam cũng đã gửi thứ trưởng bộ Quốc Phòng và bộ Ngoại Giao đến thăm Bắc Triều Tiên vào tháng 9 và tháng 10/2024. Việc Bắc Triều Tiên hiện giờ mới mời được tổng bí thư Tô Lâm qua cũng là do đại dịch Covid-19 cũng như là hai bên vẫn chưa tìm được dịp đủ lớn, đủ trang trọng để mời tổng bí thư của Việt Nam qua. Dịp 80 năm thành lập đảng Lao Động Triều Tiên là một dịp rất hợp lý để Bắc Triều Tiên có thể nối lại các đàm phán cấp cao với Việt Nam ở cấp tổng bí thư. Đọc thêmViệt Nam giúp được gì Bắc Triều Tiên để gỡ thế cô lập ? RFI : Bắc Triều Tiên được cho là nhà cung cấp vũ khí, đạn dược cho Nga để duy trì cuộc chiến ở Ukraina. Bắc Triều Tiên cũng nổi tiếng về sản xuất tên lửa đạn đạo, hạt nhân, trong đó có một tên lửa đạn đạo tầm xa mới đã được giới thiệu trong lễ duyệt binh. Liệu mảng quân sự sẽ được đề cập trong quá trình thắt chặt quan hệ hữu nghị với Bình Nhưỡng không ? Hai bên dự kiến phát triển quá trình hợp tác này như thế nào ? Vũ Xuân Khang : Trong chuyến thăm lần này của tổng bí thư Tô Lâm, Việt Nam và Bắc Triều Tiên đã ký kết Ý định thư giữa hai bộ Quốc Phòng về hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng. Cần nói rõ đây chỉ là ý định thư, nghĩa là hai nước bày tỏ quan điểm và các nội dung hợp tác trong tương lai khi các điều kiện cho phép. Và ở đây, lại cần nhấn mạnh vào yếu tố "khi các điều kiện cho phép" bởi vì Việt Nam hiểu rằng Bắc Triều Tiên vẫn đang chịu cấm vận rất lớn từ phương Tây. Đặc biệt là chương trình vũ khí hạt nhân và tên lửa tầm xa, bất kỳ hoạt động hợp tác nào của Việt Nam với Bắc Triều Tiên trong lĩnh vực tên lửa tầm xa có thể vi phạm các lệnh trừng phạt của Liên Hiệp Quốc. Việc này có thể sẽ ảnh hưởng tới quan hệ của Việt Nam với các nước phương Tây khi mà các nước phương Tây cũng như Hàn Quốc luôn luôn đặt vấn đề rằng Việt Nam phải cố gắng duy trì và bảo đảm các lệnh trừng phạt của Liên Hiệp Quốc đối với Bắc Triều Tiên trong các cuộc gặp cấp cao. Nhưng phải nói rằng thực ra, Việt Nam lại rất hợp với vũ khí của Bắc Triều Tiên. Trong thời gian gần đây, Việt Nam mới thành lập Bộ Tư lệnh Pháo binh Tên lửa và Hà Nội mong muốn nâng cấp tầm bắn của các tên lửa Scud-B do Liên Xô sản xuất và Liên Xô đã trao cho Việt Nam rất nhiều tên lửa Scud vào giai đoạn 1980. Còn Việt Nam, kể từ sau Chiến tranh Lạnh, lại không có điều kiện để thực sự tìm được một nguồn cung dồi dào hoặc một lời khuyên để phát triển loại vũ khí này. Bắc Triều Tiên lại có một nền tảng quốc phòng rất mạnh, kể cả Liên Xô sụp đổ, họ cũng đã tự cải tiến tên lửa Scud, như chúng ta thấy là họ đã có một hệ thống tên lửa tầm xa rất phát triển, như mới đây nhất là trong lễ diễu binh có tên lửa Hỏa Tinh-20 có khả năng bắn đến Mỹ và sử dụng nhiên liệu rắn. Đọc thêmMô hình Việt Nam có thích hợp với Bắc Triều Tiên? Do đó, Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi kinh nghiệm từ chương trình vũ khí hoặc là về công nghiệp quốc phòng nói chung của Bắc Triều Tiên. Nhưng như tôi đã đề cập ở trên, Việt Nam vẫn phải chú ý rất kỹ đến lệnh trừng phạt của Liên Hiệp Quốc. Đây mới chỉ là một ý định thư chưa chưa phải là một thỏa thuận hợp tác quốc phòng rõ ràng giữa hai nước. RFI : Tổng bí thư Tô Lâm trước đó đã công du Seoul. Việt Nam được cho là mua pháo K9 Thunder của Hàn Quốc. Và bây giờ là chuyến công du Bình Nhưỡng. Những hoạt động này có ý nghĩa như thế nào ? Vũ Xuân Khang : Chuyến thăm đến Triều Tiên của tổng bí thư Tô Lâm gần như là ngay sau chuyến thăm Hàn Quốc hồi tháng 08, đây là một lời khẳng định rõ ràng về đường lối ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam trong tương lai cũng như hiện tại và Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả nước và mong làm cầu nối giữa các bên. Đặc biệt chuyến thăm Bắc Triều Tiên lần này còn có tiềm năng lớn với Việt Nam trong hoàn cảnh chủ tịch Bắc Triều Tiên Kim Jong Un và tổng thống Mỹ Donald Trump đều để ngỏ khả năng gặp mặt trong trường hợp hai bên đồng ý về một thỏa thuận hạt nhân. Đọc thêmVũ khí: Hàn Quốc giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào Nga Việt Nam với tư cách là đối tác tin cậy của cả hai nước và là chủ nhà của thượng đỉnh Mỹ-Triều năm 2019 sẽ mong muốn lại một lần nữa được thể hiện vai trò, cầu nối, trung gian hòa giải và đóng góp vào xây dựng hòa bình trên bán đảo Triều Tiên. Trong các tuyên bố với cả phía Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc, Việt Nam đều nhấn mạnh rất rõ là mong muốn hai miền Triều Tiên tiếp tục đối thoại và hợp tác với nhau và Việt Nam cũng đề cập vai trò của mình trong việc ủng hộ bảo vệ an ninh khu vực. Đặc biệt, trong chuyến thăm Hàn Quốc của tổng bí thư Tô Lâm, Việt Nam cũng đề cập rất rõ là ủng hộ chính sách hòa giải liên Triều của tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung. Điều này thể hiện Việt Nam mong muốn được tiếp tục làm cầu nối giữa hai miền. Việc Bắc Triều Tiên vẫn gửi lời mời tổng bí thư Tô Lâm sau khi Việt Nam ký kết mua pháo K9 Thunder của Hàn Quốc cho thấy Bình Nhưỡng coi trọng vai trò trung gian hòa giải, cũng như đường lối đối ngoại độc lập tự chủ của Việt Nam. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, tại Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston, Hoa Kỳ.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Việt Nam : Người lao động bị giảm thu nhập, làm việc thêm giờ do ô nhiễm, nhiệt độ cực đoan

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Sep 29, 2025 10:32


Ô nhiễm không khí và nắng nóng kéo dài không chỉ tác động đến sức khỏe và tỉ lệ tử vong, mà còn ảnh hưởng đến việc làm tại Việt Nam. Một bộ phận người lao động phải làm việc thêm 1 tiếng 45 phút và bị giảm thu nhập 129.000 đồng/tháng trong những giai đoạn như vậy. Đây là một trong những nhận định được nêu trong nghiên cứu “Nhiệt độ cực đoan và ô nhiễm ảnh hưởng đến hiệu suất lao động ở Việt Nam như thế nào?” Nghiên cứu được ông Nguyễn Việt Cường, viện phó Viện Nghiên cứu Phát triển Mêkông và kinh tế gia Cecilia Poggi, Cơ quan Phát triển Pháp - AFD thực hiện trong khuôn khổ Dự án GEMMES Việt Nam và được đăng trong số 79 AFD Research Paper (Tài liệu Nghiên cứu của AFD), tháng 07/2025. Kinh tế gia Cecilia Poggi, điều phối các chương trình nghiên cứu liên quan đến bảo trợ xã hội, thế giới lao động và hòa nhập xã hội tại AFD, đã dành cho RFI Tiếng Việt buổi phỏng vấn về chủ đề này. RFI : Vào cuối tháng 7 trong Tài liệu Nghiên cứu của AFD, ông Nguyễn Việt Cường và bà đã xuất bản một nghiên cứu về "Tác động của nhiệt độ cực đoan và ô nhiễm không khí đối với nguồn cung lao động và thu nhập: dữ liệu từ Việt Nam". Tình hình ở Việt Nam đáng báo động đến mức nào để một nghiên cứu như vậy được thực hiện ? Cecilia Poggi : Tình hình hiện nay vẫn chưa hoàn toàn đáng báo động. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng với việc các đợt nắng nóng cực đoan ngày càng trầm trọng, chẳng hạn như đợt nắng nóng 44°C được ghi nhận vào tháng 04/2024 ở miền Bắc Việt Nam, cùng với các đợt ô nhiễm ngày càng gia tăng, những câu hỏi như thế này cần được đặt ra. Các dữ liệu cũng cho thấy rõ điều đó. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, gây thiệt hại khoảng 3,2% GDP vào năm 2020. Và mặc dù đã có các chính sách chủ động nhằm giảm thiểu ô nhiễm không khí, Việt Nam vẫn luôn có mức độ bụi mịn PM2.5 cao, tương đương với Trung Quốc và cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu trong hơn 20 năm qua. Đọc thêmViệt Nam: Cá chết hàng loạt do nắng nóng khủng khiếp Những mối đe dọa môi trường này không phải là những rủi ro trừu tượng. Chúng gây ra hậu quả trực tiếp đến sức khỏe, khả năng làm việc và khả năng kiếm sống của người dân. Vì vậy, nghiên cứu của chúng tôi tìm hiểu tác động của nắng nóng cực đoan và ô nhiễm không khí đến công việc của người dân tại Việt Nam. Cụ thể, chúng tôi muốn tìm hiểu xem những hiện tượng đó đã khiến một số người ngừng làm việc hoặc ít tích cực tìm việc như thế nào, cũng như ảnh hưởng ra sao đến hiệu suất làm việc của họ, bằng cách phân tích dữ liệu từ tất cả khu vực tại Việt Nam từ 2015-2022. RFI : Nghiên cứu nêu rằng không thấy những tác động đáng kể của nhiệt độ cực đoan hoặc ô nhiễm không khí đến sự tham gia của lực lượng lao động nhưng các tác giả đã quan sát thấy nhiều tác động nhỏ nhưng đáng kể đến thời gian làm việc và thu nhập. Có thể giải thích hiện tượng này như thế nào ? Cecilia Poggi : Nhìn chung, mọi người không nghỉ việc vì những thay đổi bất thường về thời tiết hoặc ô nhiễm. Do đó, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động vẫn ổn định. Tuy nhiên, thực tế lại tế nhị hơn. Nắng nóng gay gắt hoặc một ngày ô nhiễm cao khiến khó có thể duy trì số giờ làm việc hoặc năng suất tương tự như bình thường. Điều này có thể được giải thích bởi những tác động đến sức khỏe, như mệt mỏi hoặc các vấn đề về hô hấp, hoặc chủ ý giảm tốc độ làm việc vì lý do an toàn. Và chúng tôi chứng minh rằng việc làm vẫn còn, nhưng khả năng làm việc với năng suất tương đương có thể bị ảnh hưởng, đặc biệt là trong giai đoạn ô nhiễm nghiêm trọng hơn mức bình thường. Đọc thêm Ô nhiễm không khí ở Hà Nội: Giải pháp không phải đơn giản Ví dụ, chúng tôi nhận thấy rằng một ngày nắng nóng mỗi tháng làm giảm khoảng 0,5% giờ làm việc hàng tuần và 0,7% thu nhập hàng tháng. Và tác động này thậm chí còn rõ rệt hơn khi liên quan đến ô nhiễm : Tăng thêm một microgam trên một mét khối hạt mịn PM2.5 dẫn đến giảm 1% số giờ làm việc, tương ứng với việc bị mất 1 tiếng 45 phút mỗi tháng. Ô nhiễm cũng tác động đến thu nhập hàng tháng, theo đánh giá trong nghiên cứu của chúng tôi là 1,7%, khoảng 129.000 đồng/tháng, tương đương từ 3 đến 4% mức lương tối thiểu thấp nhất theo chuẩn 2023. Xin lưu ý rằng hiện tại chúng tôi đang tiến hành bản phân tích thứ 10 để hiểu rõ hơn về tác động của ô nhiễm, cũng như nhiệt độ khắc nghiệt đối với sức khỏe. Bài báo nghiên cứu thứ hai sẽ phân tích tác động đến chi phí y tế và tỷ lệ tử vong. RFI : Trong nghiên cứu, bà và cộng sự cũng đề cập đến sự bất bình đẳng về tác động của ô nhiễm không khí và nhiệt độ cực đoan đối với người lao động. Tại sao lại có sự bất bình đẳng này ? Cecilia Poggi : Không phải tất cả người lao động đều bị tác động như nhau, và nghiên cứu của chúng tôi cũng chỉ ra rằng không phải tất cả đều có thể thích nghi như nhau. Cho nên xuất hiện sự bất bình đẳng trước những hiện tượng này. Nghiên cứu cho thấy rằng người lao động thường xuyên phải làm việc theo giờ cố định không thể dễ dàng bù đắp số giờ bị mất, cho nên họ cảm nhận được tác động của ô nhiễm nhiều hơn so với những người lao động tự do vì những người này có thể phân bổ khối lượng công việc của họ trong nhiều ngày. Một điều đáng quan tâm là những người lao động ngoài trời, mặc dù tiếp xúc nhiều hơn với hiện tượng biến đổi khí hậu, nhưng thực sự lại ít bị ảnh hưởng hơn khi họ tự kinh doanh, làm việc độc lập bởi vì họ có thể sắp xếp lại công việc của mình. Ví dụ trường hợp của những nông dân tự do ở nông thôn hoặc những người bán hàng rong ở thành phố. Ngược lại, khi nhân viên phải làm việc ở ngoài trời, ví dụ trong ngành xây dựng, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những tác động tiêu cực rõ rệt hơn nhiều. Đọc thêmCơ quan AFD của Pháp hỗ trợ Việt Nam thực hiện cam kết khí hậu RFI : Liệu có một vùng hoặc nhiều vùng ở Việt Nam bị tác động nặng hơn cả từ những hiện tượng ô nhiễm không khí và nhiệt độ cực đoan này ? Cecilia Poggi : Để trả lời câu hỏi này, trước tiên tôi muốn nhắc lại rằng các vùng miền ở Việt Nam chịu mức độ ô nhiễm khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện thời tiết. Một nghiên cứu bổ sung mà đồng tác giả là phó giáo sư Nguyễn Thị Nhật Thanh thuộc trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy có sự biến động mạnh mẽ theo vùng về cách tình trạng ô nhiễm biển đổi tùy thuộc vào thời tiết hoặc hiện tượng khí tượng. Do đó câu trả lời không đơn giản như vậy, bởi vì, ví dụ, ở miền Bắc Việt Nam, những thay đổi về nhiệt độ và độ ẩm ảnh hưởng đến ô nhiễm không khí về lâu dài, trong khi lượng mưa và tốc độ gió lại có tác động ngay lập tức trong việc thay đổi nó. Tuy nhiên, những tác động này không giống ở miền Nam Việt Nam, nơi tất cả các tác động có xu hướng xảy ra ngay lập tức. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng ở cấp độ quốc gia, các tác động xấu của các hiện tượng nhiệt độ cực đoan và ô nhiễm đối với thời gian làm việc thể hiện rõ rệt ở khu vực thành thị hơn là khu vực nông thôn. Tiếp theo, nếu gộp các khu vực thành vùng lớn như miền Nam, miền Trung hoặc miền Bắc, chúng ta cũng thấy rằng trong cả hai trường hợp, tác động của những ngày nắng nóng hoặc các đợt ô nhiễm ở miền Nam rõ rệt hơn so với miền Bắc hoặc miền Trung. Và với những tác động này, chúng tôi khuyến nghị rằng các biện pháp đối phó, phòng ngừa nên được thực hiện tùy theo các khu vực và phải được thử nghiệm bởi các cơ quan chức năng, đặc biệt là về mặt bảo vệ việc làm trước những thách thức ô nhiễm. Đọc thêm“Xanh hóa” giao thông Hà Nội: Cần bỏ ôtô cá nhân thể hiện “thành đạt” và kết nối hệ thống công cộng RFI : Vậy, trước những hiện tượng này, các nhà nghiên cứu khuyến nghị chính phủ Việt Nam nên có những biện pháp nào để giải quyết ? Cecilia Poggi : Dựa trên kết quả nghiên cứu, trước tiên cần xem xét việc bổ sung các cách thức liên quan tới sức khỏe và an toàn lao động. Việt Nam hiện đã lập giới hạn nhiệt độ đối với công việc trong nhà, nhưng chưa có tiêu chuẩn nào về chất lượng không khí tại nơi làm việc. Đây là một lĩnh vực mà Việt Nam có thể tham khảo từ các quốc gia đã đặt ra ngưỡng phơi nhiễm ô nhiễm không khí tại nơi làm việc. Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách có thể thử nghiệm các giải pháp về công việc đặc thù để ứng phó với các đợt ô nhiễm cao, có tính đến đặc điểm công việc của người lao động. Ví dụ, đối với người lao động ở các khu vực đô thị bị ô nhiễm, chúng ta  có thể phân tích chi tiết hơn xem liệu thời gian làm việc linh hoạt hoặc làm việc từ xa có thể vẫn cho phép duy trì năng suất trong những ngày ô nhiễm cao hay không. Cuối cùng, để tiếp tục các chính sách về môi trường cũng cần giải quyết gốc rễ của ô nhiễm. Vì vậy, về lâu dài, việc tiếp tục thực hiện các chính sách môi trường đang triển khai sẽ góp phần cải thiện đời sống của mọi người với việc giảm phát thải, tăng cường giao thông công cộng bền vững và thêm không gian xanh. Bên cạnh đó cũng không được quên những thách thức quan trọng, ví dụ như cần hạn chế việc cứng hóa nền đất hay bê tông hóa quá mức trong quá trình đô thị hóa. Đọc thêmMoov'Hanoi : Đưa giao thông công cộng thành phương thức di chuyển hấp dẫn ở Hà Nội RFI : Nghiên cứu này nằm trong khuôn khổ chương trình GEMMES Việt Nam. Xin bà giải thích thêm về chương trình này và nghiên cứu của bà trong khuôn khổ chương trình ! Cecilia Poggi : GEMMES Việt Nam giai đoạn 2 là chương trình nghiên cứu ba năm do Cơ quan Phát triển Pháp - AFD tài trợ, phối hợp với Cục Biến đổi Khí hậu, bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam và được triển khai với sự hợp tác của các chuyên gia và tổ chức khoa học, đại học Việt Nam. Trong giai đoạn 1, chương trình tập trung vào vấn đề khí hậu. Giai đoạn 2 hiện nay hỗ trợ chính phủ thực hiện tham vọng trung hòa các-bon và đồng thời trở thành một quốc gia có thu nhập cao. Cụ thể hơn, chúng tôi có ba trục nghiên cứu. Trục đầu tiên tìm cách hiểu rõ hơn về các đợt nắng nóng cực đoan bằng cách nghiên cứu các mô hình khí hậu. Trục thứ hai xem xét các tác động kinh tế vĩ mô của quá trình chuyển đổi năng lượng. Trục thứ ba, trong đó có nghiên cứu mà chúng ta đang đề cập, xem xét cách biến đổi khí hậu và quá trình chuyển đổi năng lượng tác động đến người dân, hay đúng hơn là các khía cạnh xã hội của những quá trình chuyển đổi này. Chương trình này thực sự là một ví dụ về sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu và các tác nhân công và cho thấy rằng nghiên cứu có thể hỗ trợ việc xác định và triển khai các chính sách công cho quá trình chuyển đổi sinh thái. Toàn bộ kết quả sẽ được hoàn thiện vào mùa hè 2026. Công chúng quan tâm có thể truy cập vào trang web của AFD, trên đó có một trang dành riêng cho chương trình GEMMES Việt Nam 2. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn kinh tế gia Cecilia Poggi, Cơ quan Phát triển Pháp - AFD.

TẠP CHÍ VIỆT NAM
Vũ khí: Hàn Quốc giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào Nga

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Play Episode Listen Later Sep 15, 2025 11:15


Từ đối tác kinh tế tin cậy, Việt Nam và Hàn Quốc tiến một bước lớn trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng. Hợp đồng cung cấp 20 pháo K9 Thunder của tập đoàn Hanwha Aerospace, trị giá 250 triệu đô la Mỹ mở ra hướng đi mới cho xuất khẩu vũ khí cho Hà Nội. Việt Nam là khách hàng thứ 11 trên thế giới của loại pháo K9 nhưng đây là lần đầu tiên Hàn Quốc xuất khẩu vũ khí sang một nước Cộng Sản. Đây cũng là lần đầu tiên, Hà Nội mua vũ khí của Seoul trong bối cảnh muốn đa dạng nguồn cung để giảm bớt phụ thuộc vào Nga. Thỏa thuận này được đúc kết sau chuyến thăm cấp Nhà nước từ ngày 10-13/08/2025 của tổng bí thư Tô Lâm tới Seoul. Theo trang Korea Herald, việc giao hàng sẽ được quản lý thông qua Cơ quan Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Hàn Quốc và dự kiến ​​hoàn thành vào cuối năm 2025. Để hiểu thêm về ý nghĩa của hợp đồng vũ khí đầu tiên này và mối quan hệ hợp tác quốc phòng Việt Nam - Hàn Quốc, RFI Tiếng Việt phỏng vấn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, tại Canberra, Úc. RFI : Việt Nam mua 20 pháo tự hành K9 Thunder do tập đoàn Hàn Quốc Hanwha Aerospace sản xuất, trị giá 250 triệu đô la. Hợp đồng sẽ được bàn giao vào cuối năm nay. Đây là lần đầu tiên Việt Nam mua vũ khí của Hàn Quốc, trong khi Nga vẫn là nhà cung cấp chính. Về phía Seoul, đây cũng là lần đầu tiên xuất khẩu vũ khí cho một quốc gia Cộng Sản, theo như nhận định của một chuyên gia Hàn Quốc. Xin anh cho biết đối với cả hai nước, hợp đồng “lần đầu tiên” có ý nghĩa như thế nào ? Nguyễn Thế Phương : Hợp đồng này có nhiều hàm ý. Thứ nhất, lần đầu tiên nó mở ra một thị trường nhập khẩu vũ khí mới cho Việt Nam. Trước đây, tầm 70 tới 80% số lượng vũ khí của Việt Nam là nhập từ Nga và một phần nhỏ khác là nhập từ một số nước Đông Âu, Israel. Bây giờ Hàn Quốc trở thành một thị trường nhập khẩu vũ khí cực kỳ tiềm năng cho Việt Nam. Hàm ý thứ hai, sau cuộc chiến Nga Ukraina, Việt Nam đã cố gắng đa dạng hóa nguồn cung vũ khí. Và thành công bước đầu là có thêm được một đối tác nhập khẩu vũ khí mà có thể nói là tương đối bền vững. Vì Hàn Quốc suy cho cùng cũng là một trong những nước đối tác chiến lược toàn diện. Việt Nam - Hàn Quốc mặc dù mới thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1993 nhưng quan hệ toàn diện từ chính trị, kinh tế, xã hội đặc biệt là quan hệ giữa người dân với nhau, từ đó tới nay phát triển rất tốt và dự báo là cũng sẽ phát triển tiếp. Đọc thêmCông nghiệp quốc phòng Hàn Quốc giúp Việt Nam tự chủ an ninh, đa dạng hợp tác Và có thể trong tương lai, Việt Nam cũng sẽ tìm kiếm thêm một số đối tác khác, không phải là các đối tác truyền thống trước đây như Ấn Độ hay Iran nữa mà là những đối tác mới, bây giờ là Hàn Quốc, sau này có thể là Thổ Nhĩ Kỳ. Đây chỉ là một bước đầu trong nỗ lực đa dạng hóa của nguồn cung vũ khí. Và thứ ba, nó thể hiện sự đa phương hóa và đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế - chiến lược ngoại giao của Việt Nam vốn đã bắt đầu từ năm 2003 cho tới bây giờ - và nó mang lại một số kết quả khích lệ trong bối cảnh tình hình thế giới đang diễn biến hết sức phức tạp, hết sức khó lường và ưu tiên chính sách ở thời điểm hiện tại vẫn phải là chuẩn bị cho năng lực quốc phòng đạt được hiệu quả răn đe nhất định. RFI : Trong cẩm nang thị trường quốc phòng về Việt Nam công bố tháng 12/2024, Cơ quan Quản lý Chương trình mua sắm Quốc phòng Hàn Quốc (DAPA) đã liệt kê các mặt hàng xuất khẩu đầy hứa hẹn sang Việt Nam vào năm 2033 (pháo tự hành K9, hệ thống tên lửa địa đối không tầm trung Cheongung-II, hệ thống ngắm pháo cho xe bọc thép và xe tăng, hệ thống nhận dạng laser…). Căn cứ vào những con số này, có thể thấy là hợp tác quốc phòng song phương đầy tiềm năng. Những yếu tố nào có thể giải thích cho việc hai nước tăng cường phát triển hợp tác quốc phòng ? Nguyễn Thế Phương : Yếu tố để giải thích thì một phần tôi đã trình bày ở trên : Đó là nhu cầu mua sắm quốc phòng của Việt Nam hiện tại là rất lớn trong bối cảnh những thách thức an ninh khu vực nổi lên, không chỉ là vấn đề Biển Đông với Trung Quốc mà còn là vấn đề an ninh phi truyền thống ở phía Tây nữa, đặc biệt là vấn đề sông Mêkông, phòng chống tội phạm buôn người xuyên quốc gia. Những yếu tố an ninh như vậy yêu cầu là quá trình hiện đại hóa quân đội Việt Nam phải được đẩy mạnh và mang tính hiệu quả. Nhu cầu quốc phòng lớn nhưng mà bạn hàng truyền thống - đó là Nga - hiện tại đang gặp cực kỳ nhiều rắc rối. Trong bối cảnh đó và dưới áp lực phải hiện đại hóa một cách hiệu quả, việc đa dạng hóa nguồn cung vũ khí, tìm tới những đối tác vừa truyền thống, vừa an toàn, vừa bền vững, là một hướng đi tất yếu thì Hàn Quốc nằm trong sự lựa chọn đó. Đọc thêmHàn Quốc : Phát triển công nghiệp quốc phòng để tự vệ ? Điểm thứ hai, tại sao là Hàn Quốc mà không phải là một số quốc gia khác ? Thứ nhất, Hàn Quốc có nền công nghiệp quốc phòng mạnh, hiện nay là quốc gia xuất khẩu vũ khí đứng hàng thứ tư thế giới. Các loại công nghệ quốc phòng của họ được đánh giá tiên tiến hàng đầu thế giới, đặc biệt tại những mảng công nghệ và những mảng vũ khí mà Việt Nam đang cần, ví dụ pháo binh, các loại công nghệ vũ khí phòng không. Đặc biệt là ngành công nghiệp đóng tàu chiến Hàn Quốc. Ngành công nghiệp đóng tàu Hàn Quốc nói chung là gần như số 2, số 3 thế giới, chỉ sau Trung Quốc với Nhật Bản và nhiều khi Hàn Quốc còn cân bằng với Nhật Bản. Đối với Việt Nam, nhu cầu đóng tàu cũng như là nhu cầu về những mặt hàng vũ khí phòng không, không quân ở thời điểm hiện tại là rất cần thiết tại vì Nga đang bị cấm vận. Cho nên việc có một bạn hàng mới giỏi về vấn đề đóng tàu và các loại vũ khí không quân là cần thiết. Và Việt Nam có thể tận dụng điều đó trong mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt-Hàn. Tiếp theo, quan hệ chính trị ngoại giao và quốc phòng giữa Việt Nam với Hàn Quốc khá là sâu rộng và cả hai nước có một niềm tin chiến lược chiến lược nhất định. Nó khác với Mỹ. Ở thời điểm hiện tại, có vẻ Việt Nam không có nhiều lòng tin chiến lược với Mỹ. Cho nên là một số dự án hợp tác quốc phòng tiềm năng giữa Việt Nam và Mỹ đang hơi bị trì hoãn, ví dụ đàm phán mua máy bay vận tải C130 đang bị trì hoãn rất là nhiều bởi vì rất nhiều vấn đề khác nhau. Đọc thêmTriển lãm quốc phòng quốc tế: Việt Nam tìm giải pháp thay thế vũ khí Nga Chưa kể rằng yếu tố ý thức hệ cũng là một trong những điểm khiến cho hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và phương Tây nói chung, cũng như là giữa Việt Nam và Mỹ nói riêng, có một số rào cản lớn. Những điểm đó đối với quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc hầu như rất là nhỏ. Mặc dù là một trong những quốc gia đồng minh của Mỹ nhưng Hàn Quốc nằm trong vùng văn hóa Đông Á. Họ hiểu được cách thức mà chính trị ở các quốc gia Đông Á cũng như Đông Nam Á vận hành. Họ chấp nhận mối quan hệ đó, do vậy niềm tin chiến lược giữa hai bên là có. Bởi vì có niềm tin chiến lược, cho nên những rào cản như Việt Nam đối mặt với Mỹ hay phương Tây nằm ở mức tối thiểu. Do đó nó cho phép Hàn Quốc có thể chuyển giao công nghệ tới Việt Nam, đặc biệt là một số loại công nghệ quân sự nhạy cảm mà không gặp phải nhiều rào cản quá lớn. Trong khi vấn đề dân chủ, nhân quyền hay là những vấn đề liên quan tới rào cản kỹ thuật hoặc là sự cho phép sử dụng vũ khí giữa Việt Nam và Mỹ, lại lớn. Yếu tố niềm tin chiến lược trong chính trị và quân sự chính là một điểm nổi bật khiến cho Hàn Quốc trở thành một trong những đối tác quốc phòng mới của Việt Nam ở thời điểm mà nhu cầu mua sắm vũ khí của Việt Nam là cấp thiết. RFI : Như anh đã đề cập ở trên về năng lực đóng tàu của Hàn Quốc thì Việt Nam cũng có nhu cầu về tàu tuần tra tốc độ cao và tàu ngầm nhỏ để bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông. Liệu đây có phải là một vấn đề tế nhị mà cả Việt Nam và Hàn Quốc cần hết sức chú ý vì đều không muốn khiêu khích Trung Quốc ? Nguyễn Thế Phương : Tác động tới quyết định Việt Nam mua vũ khí của nước nào, thực ra sức ép của Trung Quốc là có. Nhưng yếu tố Trung Quốc không có tác động quyết định tới việc là Việt Nam mua vũ khí, tàu chiến hay là máy bay của bất kỳ nước nào. Những mặt hàng như là tàu tuần tra cỡ nhỏ hoặc là tàu ngầm mini, thực ra Việt Nam đã có thể tự chế tạo được những gam tàu đó. Điều mà Việt Nam cần ở hiện tại và điều mà Hàn Quốc có thể cung cấp là khả năng đóng những gam tàu lớn. Hiện nay tàu chiến lớn nhất của Việt Nam, không tính của cảnh sát biển, dao động tầm 1.200 tới 1.500 tấn. Điều mà Việt Nam cần hiện nay là những tàu chiến cỡ lớn, có khả năng hoạt động biển xa, trang bị các loại vũ khí phòng thủ cũng như tấn công phù hợp, tầm từ 3.000 tới 6.000 tấn. Hiện tại phải nói là Việt Nam chưa có đủ tiềm lực để đóng những cái gam tàu cỡ lớn như vậy. Với ví dụ Philippines cho thấy rằng Hàn Quốc có thể có tiềm năng trong tương lai cung cấp công nghệ, cũng như giúp Việt Nam đóng những gam tàu chiến có độ giãn nước lớn từ 3.000 đến 6.000 tấn. Còn dưới 2.000 tấn thì theo sự tìm hiểu của tôi, ở thời điểm hiện tại Việt Nam có khả năng tự đóng được. Ngay cả một số dự án tàu ngầm mini cỡ từ 1.000 tấn chở xuống thì Việt Nam cũng đã có thể tự đóng. Mặc dù chưa xác định rõ được tính hiệu quả trong tác chiến của các loại vũ khí hải quân đó nhưng về mặt công nghệ thì Việt Nam đã đóng được rồi. Trung Quốc sẽ không ảnh hưởng gì tới quyết định đó bởi vì đó là nhu cầu Việt Nam. Và Trung Quốc cũng hiểu rằng khoảng cách về mặt quyền lực, về mặt quân sự giữa hai bên quá là lớn. Việt Nam mua thêm khoảng một vài tàu cũng không làm thay đổi mấy cán cân quyền lực, chỉ là Việt Nam cải thiện hơn một chút khả năng răn đe về hướng biển. Đọc thêmTriển lãm Quốc phòng : Việt Nam thể hiện “khả năng răn đe”, hướng đến xuất khẩu thiết bị quân sự RFI : Sau 17 năm không hoạt động, Ủy ban hợp tác Quốc phòng và Quân sự Hàn Quốc - Việt Nam đã được khôi phục. Quyết định này mang ý nghĩa như thế nào ? Và Ủy ban sẽ hoạt động như thế nào ? Nguyễn Thế Phương : Ủy ban Hợp tác Quốc phòng Việt Nam Hàn Quốc là một cơ quan làm cầu nối để có thể trao đổi về những nhu cầu, cũng như là những mong muốn của hai bên về hợp tác quốc phòng. Nó sẽ đẩy nhanh quá trình trao đổi thông tin, quá trình ra quyết định chính sách, quá trình tham vấn chính sách giữa hai bên để có được những quyết định phù hợp, không những trong mua sắm vũ khí, khí tài, mà còn trong hợp tác những vấn đề an ninh khác, ví dụ như là những vấn đề phi truyền thống hay là những hợp tác ngoại giao quốc phòng, chia sẻ thông tin… Nói tóm lại, ủy ban này là một cơ chế song phương mang tính kết nối - coordination để hai bên đẩy mạnh hơn nữa hợp tác quốc phòng, vốn dĩ là sắp tới cộng với việc hai bên đã là đối tác chiến lược toàn diện rồi, thì ngoài kinh tế, tài chính, đầu tư - FDI, thì quốc phòng sẽ là một trong những trụ cột mới trong quan hệ hợp tác song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc. RFI Tiếng Việt xin trân thành cảm ơn anh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.