POPULARITY
Đầu năm 2026, nhiều thúc đẩy từ phía Nga cũng như nội bộ chính giới châu Âu để Liên Âu trực tiếp đối thoại với điện Kremlin nhằm tìm ra giải pháp chấm dứt cuộc chiến tranh Nga – Ukraina, kéo dài từ hơn 4 năm nay. Đầu tháng 6, trước thềm thượng đỉnh của khối 27 nước ngày 18-19/06/2026, theo một số thông tin báo chí, giới lãnh đạo châu Âu có thể đề nghị với Nga « một thỏa thuận ngừng bắn », như một điều kiện tiên quyết trước khi bước vào đàm phán chính thức. *** Việc khối 27 nước tìm lập trường thống nhất để đối thoại trực tiếp với Nga là một diễn biến mới, và đáng được khích lệ, trong bối cảnh cho đến nay, « Liên Hiệp Châu Âu gánh vác một phần chủ yếu và ngày càng lớn cái giá về kinh tế, tài chính cũng như về chính trị của cuộc xung đột này, nhưng lại bị gạt ra bên lề trong các cuộc đàm phán quan trọng » (Le Diplomat). Thống nhất lập trường, duy trì áp lực để buộc Nga có giải pháp chấm dứt chiến tranh là điều cần thiết, tuy nhiên, nhiều chuyên gia hàng đầu cảnh báo, một thỏa thuận ngừng bắn vội vàng với Nga là lợi bất cập hại. Đọc thêm : Nan giải của châu Âu là tìm được “tiếng nói chung” để đối thoại Putin « Trên thực tế, một thỏa thuận ngừng bắn vội vàng hoặc được thiết kế kém có thể khiến việc đạt được một giải pháp lâu dài trở nên khó khăn hơn », theo nhận định của chuyên gia Trung tâm tư vấn độc lập Chatham House, thuộc Royal Institute of International Affairs, có trụ sở tại Luân Đôn (bài « Một thỏa thuận ngừng bắn giữa Nga và Ukraina có thể gây nguy hiểm cho an ninh của Ukraine và châu Âu như thế nào? » của ông Simon Smith, đồng tác giả, đồng phụ trách chương trình nghiên cứu về khu vực Á – Âu và Nga). Nhận định của chuyên gia Chatham House ngụ ý nhắc đến vết xe đổ của hai thỏa thuận ngừng bắn Minsk I và Minsk II, được xác lập hồi 2014-2015, rút cục đã bị nhiều người coi như một « thất bại của ngoại giao châu Âu », tạo điều kiện cho Nga tiếp tục lấn tới bảy năm sau đó, với cuộc xâm lăng trên quy mô lớn, kéo dài cho đến nay. Thỏa thuận Minsk I và Minsk II cụ thể ra sao ? Các thỏa thuận, được ký kết tại Minsk, thủ đô Belarus, trong hai đợt, tháng 9/2014 (tên chính thức là Nghị định thư Minsk, thường được gọi là Thỏa thuận Minsk I), và tháng 2/2015 (« Gói biện pháp nhằm thực thi các Thỏa thuận Minsk », thường gọi là Thỏa thuận Minsk II), có mục tiêu hướng đến chấm dứt xung đột ở miền đông Ukraina. Ký kết hai thỏa thuận này là các thành viên của nhóm tiếp xúc ba bên, bao gồm các đại diện của Nga và Ukraina, cùng đại diện của Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu - OSCE. Thỏa thuận sau đó được các lực lượng ly khai được Nga hậu thuẫn ký kết. Các thỏa thuận này bao gồm 13 điểm: ngoài lệnh ngừng bắn, là việc rút vũ khí hạng nặng ra xa đường chiến tuyến, trao đổi tù nhân và con tin. Các thỏa thuận cũng quy định cải cách hiến pháp ở Ukraina để ban hành quy chế đặc biệt của hai vùng lãnh thổ, chiếm một phần của hai tỉnh Luhansk và Donetsk, do phe ly khai kiểm soát. Hai thỏa thuận này là kết quả các vận động ngoại giao của tổng thống Pháp François Hollande và thủ tướng Đức Angela Merkel, phối hợp với tổng thống Nga Vladimir Putin và đương kim tổng thống Ukraina Petro Poroshenko. Sự kết hợp của Bộ Tứ này thường được gọi là « Công thức Normadie », do bắt nguồn từ cuộc gặp không chính thức giữa lãnh đạo bốn nước tại lâu đài Château de Bénouville (Calvados), vùng Normandie - Pháp, bên lề lễ kỷ niệm 70 năm ngày đồng minh đổ bộ trong Thế chiến Hai, vài tháng sau khi chiến tranh bùng nổ ở Donbass. Ít ngày sau khi Thỏa thuận Minsk II được đúc kết, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã ra một nghị quyết, yêu cầu các bên tôn trọng Thỏa thuận này, nhưng không mang tính cưỡng chế. Vì sao các thỏa thuận Minsk bị coi là nguy hại cho Ukraina ? Đằng sau các biện pháp có vẻ rất bài bản như trên là một thực tế hoàn toàn khác. Viện Nghiên cứu Chiến tranh ISW, có trụ sở Washington, trong một bài phân tích về « Những bài học rút ra từ Thỏa thuận Minsk » (Lessons of the Minsk Deal), nhận định hệ quả nói chung của các Thỏa thuận Minsk này là đã không mang lại nền hòa bình lâu dài mà chủ yếu giúp Nga có thời gian tái tổ chức lực lượng, tăng cường hậu thuẫn phe ly khai, chấp nhận « đóng băng chiến sự », củng cố nền kinh tế chiến tranh để chuẩn bị cho cuộc tấn công trong tương lai. Chuyên gia Viện Nghiên cứu Chiến tranh Mỹ nhấn mạnh, một thỏa thuận ngừng bắn mới được đưa ra nhanh chóng, vội vã và thiếu bảo đảm có thể lặp lại mô hình của các thỏa thuận Minsk, cho phép Nga phục hồi sức mạnh, thay vì buộc Matxcơva phải thay đổi các tính toán chiến lược. Đọc thêm : Bất đồng Nga-Ukraina về Donbass có thể khiến Thỏa thuận Minsk tan vỡ ? Chuyên gia chính trị quốc tế Kristian Åtland, người Na Uy, tác giả nhiều khảo cứu về các thỏa thuận Minsk, nhấn mạnh là các thỏa thuận này là hoàn toàn « không hiệu quả », « không công bằng », « không bền vững », Ukraina đã bị buộc phải chấp nhận trong bối cảnh lực lượng ly khai được Nga hậu thuẫn đẩy quân đội Ukraina vào chân tường tại vùng Donbass (« War, diplomacy, and more war: why did the Minsk agreements fail? », Springer, 2024). Vị chuyên gia này cũng là tác giả bài « Đàm phán ngừng bắn Nga-Ukraina: Những bài học từ Tiến trình thất bại của các thỏa thuận Minsk » (2025). Đàm phán bên họng súng : Hàng nghìn binh sĩ Ukraina bị bao vây, Putin báo động nguy cơ thảm sát Hai thỏa thuận được ký kết đúng vào thời điểm hàng nghìn binh sĩ Ukraina bị vây hãm tại Ilovaisk (từ ngày 7/8 đến ngày 2/9/2014) và Debaltseve (từ 14/01 đến 20/02/2015). Nhà ngoại giao Pháp Jacques Audibert, cố vấn của tổng thống Hollande, người có mặt trực tiếp trong các đàm phán dẫn đến hai thỏa thuận nói trên, cho biết cụ thể: « Tình hình càng trở nên căng thẳng hơn, bởi rõ ràng là ông Putin đã cố tình kích động. Tuyên bố đầu tiên của ông ấy trong cuộc đàm phán này là: ‘‘Tôi xin lỗi, có 8.000 binh sĩ bị mắc kẹt trong vòng vây ở Debaltseve. Bao vây họ là các lực lượng pháo binh của quân ly khai mà tôi không thể kiểm soát được. Tôi không thể làm gì được ! Vì tôi là người Nga mà ! Tất cả những binh sĩ này đều có nguy cơ bị thảm sát, nếu chúng ta không đạt được thỏa thuận tối hôm nay." Đó là bầu không khí mở đầu cuộc đàm phán kéo dài 16 giờ. Rõ ràng khi bạn bị đặt vào trong tình huống căng thẳng và hoàn toàn khác biệt như thế này, khi ai đó nói thẳng với bạn rằng, có thể có hàng ngàn người chết, nếu đàm phán thất bại, bạn sẽ phải ở trong tâm trạng căng thẳng tột độ. Điều này đúng với tất cả mọi người, nhưng đặc biệt là với người Ukraina. » Nga đã sử dụng việc leo thang quân sự có chủ đích để buộc Kiev chấp nhận các nhượng bộ lớn, trong bối cảnh Kiev cũng chịu áp lực nhiều từ các nước phương Tây ủng hộ tiến trình Minsk, để buộc phải ký kết các thỏa thuận này. Hàng loạt điều bất khả: Ngôn từ mơ hồ, Kiev không được quyền kiểm soát biên giới… Ngoài chuyện ý đồ và mục tiêu của các bên, chuyên gia Na Uy Kristian Åtland nêu bật diễn đạt mơ hồ trong các thỏa thuận cũng là một nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc Thỏa thuận trở nên bất khả thi ngay từ đầu (« The vagueness and ambiguity of the language used in the Minsk agreements became an obstacle to the agreements' implementation »). Các thỏa thuận nói trên không có giá trị pháp lý khi chỉ được ký kết bởi các đại diện cấp thấp, gồm cựu tổng thống Ukraina, Leonid Koutchma, đại sứ Nga tại Ukraina và đại diện của OSCE. Không chỉ đến sau này, mà ngay vào lúc Thỏa thuận Minsk II được ký kết, truyền thông Pháp đã ghi nhận triển vọng thỏa thuận bất khả thi, đặc biệt với việc Ukraina sẽ chỉ được quyền kiểm soát hơn 400 km đường biên giới Ukraina – Nga, nằm giữa các khu vực ly khai ở Donbass và lãnh thổ Nga, một khi bầu cử địa phương ở các vùng ly khai được tổ chức, mà thời gian lại chưa được ấn định. Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu - OSCE cũng không có thẩm quyền gì với việc giám sát tình hình ở đường biên giới. Trong thời gian đó, không có gì ngăn cản Nga tiếp tục đưa binh sĩ và phương tiện quân sự vào các vùng đất của Ukraina, do phe ly khai kiểm soát. Niềm tin vào Thỏa thuận Minsk và Putin: Ngay trước thềm cuộc xâm lăng 2022 Ngay tại thời điểm đó, và giờ đây nhìn lại, các thỏa thuận Minsk đã được coi như là bình phong, một phương tiện câu giờ đối với cả hai bên. Không chỉ cho Nga có thêm thời gian để chuẩn bị cho cuộc xâm lăng lớn mà phía Ukraina cũng tạm thời tránh được các tổn thất lớn trong bối cảnh lực lượng vũ trang còn rất yếu. Điều đáng nhấn mạnh là 7 năm sau, trước thềm cuộc xâm lăng quy mô lớn của Nga, ngày 24/02/2022, trong một bộ phận giới ngoại giao, học giả châu Âu, về mặt chính thức, các thỏa thuận Minsk vẫn được xem như là một cánh cửa dẫn đến hòa bình. Ngay cả một nhà nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực này, như Tatiana Kastouéva-Jean, giám đốc Trung tâm Nga thuộc Viện Pháp về Quan hệ Quốc tế - Ifri, hai tuần trước cuộc tấn công của Nga (24/02/2022), vẫn đặt hy vọng vào việc thúc đẩy thực thi thỏa thuận Minsk, trong lúc tổng thống Pháp đang tiếp tục các vận động ngoại giao dồn dập, với hy vọng còn nước còn tát: « Nước Pháp đang gánh vác một trách nhiệm đặc biệt vào thời điểm này. Thật vậy, Emmanuel Macron đang đưa tiếng nói của châu Âu trở lại vị trí hàng đầu, đặc biệt là về một khía cạnh: các thỏa thuận Minsk. Đây là những thỏa thuận được ký kết vào tháng 2/2015 với mục tiêu giải quyết tình hình ở miền đông Ukraina. Đó là một mảnh ghép trong bức tranh toàn cảnh đối đầu căng thẳng hiện tại, với việc Nga tăng cường quân đội áp sát biên giới, trước khi đưa ra các yêu sách rộng hơn liên quan đến an ninh châu Âu và trật tự của châu Âu nói chung, thời kỳ sau khi Liên Xô sụp đổ ». Đọc thêm - Nửa thế kỷ ''Hiệp định Helsinki'': Chiến tranh Ukraina xóa sổ "Kiến trúc an ninh châu Âu" Nhà nghiên cứu viện Ifri tin tưởng vào khả năng Nga có thể sẵn sàng cho một giải pháp ngoại giao : « Chúng ta còn rất xa mới giải quyết được cuộc khủng hoảng. Nhưng với những diễn biến mới nhất này, tôi nghĩ chúng ta có thể mang lại thêm một chút hy vọng cho giải pháp ngoại giao. Tổng thống Putin đã để ngỏ cánh cửa thỏa hiệp. Ông ấy đã dành nhiều lời khen ngợi cho tổng thống Pháp Macron, cảm ơn ông ấy đã trở lại, đã đích thân đến, v.v. Trên thực tế, nếu chúng ta đang ở bên bờ vực chiến tranh, thì đây ắt không phải là kiểu hành vi mà chúng ta thấy ». (« Ukraina/Nga, một thỏa hiệp bất khả? », Tọa đàm với đài Pháp France Info, ngày 09/02/2022). Kẻ xâm lăng được coi là người hòa giải: Nghệ thuật đàm phán của Putin Minsk I và Minsk II đã được điện Kremlin sử dụng hiệu quả để khẳng định tính chính đáng của Nga trong hồ sơ chiến tranh vùng Donbass của Ukraina. Tại châu Âu, có người còn mong muốn có thêm một Thỏa thuận Minsk III. Điều mà nhiều chuyên gia nhấn mạnh là ảo tưởng hòa bình nhờ có được thiện chí của Nga, đã từng khiến châu Âu mất phương hướng trong một thời gian dài, và có thể sẽ tiếp tục mắc bẫy. Đọc thêm : Sử gia Françoise Thom: ‘‘Cho đến nay, người Nga vẫn coi nước Nga là một đế chế'' Bà Céline Marangé, chuyên gia về Nga, Ukraina và Belarus, Viện nghiên cứu chiến lược IRSEM thuộc Trường Quân sự - Ecole militaire Paris, lưu ý đến việc tổng thống Nga đã thành công một cách ngoạn mục, khi thể hiện mình là một bên trung gian hòa giải trong các thỏa thuận Minsk : « Tổng thống Nga coi các thỏa thuận Minsk II là một chiến thắng cá nhân của mình, một dấu hiệu cho thấy kỹ năng đàm phán và giành được những nhượng bộ từ các đối thủ. Trên thực tế, ông ta đã thành công đáng kể trong việc bảo đảm rằng các thỏa thuận không xác định bất kỳ nghĩa vụ rõ ràng nào đối với Matxcơva. Vì vậy, theo một cách nào đó, Điện Kremlin có thể tự thể hiện mình không phải là một bên tham gia xung đột, như trên thực tế từ đầu đã luôn là như vậy. Nga thể hiện là một bên trung gian hòa giải trong một cuộc xung đột nội bộ ở nước láng giềng, do quản lý kém, giống như một người trung gian hòa giải đối với một cuộc nội chiến. Trong khi đó, trên thực tế, tình hình bất ổn đã được Matxcơva đạo diễn ngay từ đầu, và vũ khí hạng nặng mà phe ly khai có được rõ ràng là đến từ Nga. » *** Nhiều chuyên gia khẩn thiết nhấn mạnh là, trong các đối thoại có thể diễn ra với điện Kremlin sắp tới, các lãnh đạo châu Âu cần kiên quyết duy trì lập trường, chỉ có thể chấp nhận một thỏa thuận đình chiến khi có được các đảm bảo vững chắc, các cơ chế thực thi rõ ràng, chặt chẽ, cùng với việc hậu thuẫn để Ukraina gia nhập các cấu trúc an ninh của châu Âu, để khiến cho mọi hành động gây hấn của Nga trong tương lai phải trả giá đắt. Chỉ có như vậy, châu Âu mới không bị rơi vào vết xe đổ của các thỏa thuận Minsk.
Ngoại trưởng Mỹ hôm 20/05/2026 tuyên bố Washington « quyết tâm » áp đặt một sự thay đổi cho Cuba ». Marco Rubio ngụ ý nói đến một sự thay đổi chế độ ở La Habana ? Chính quyền Trump siết chặt gọng kềm, bóp ngạt kinh tế Cuba. Bên cạnh yếu tố lịch sử lâu đời, gắn liền Washington với La Habana, Nhà Trắng có nhiều lý do để quan tâm đến Cuba. Với kinh nghiệm hơn 65 năm gần như liên tục bị trừng phạt, không thể xem nhẹ sức kháng cự của La Habana và nhất là khi hòn đảo này được cả Trung Quốc lẫn Nga hậu thuẫn. Ngay từ nhiệm kỳ đầu, (2016-2020), tổng thống Mỹ Donald Trump đã khép lại giai đoạn tan băng giữa Washington với La Habana mà người tiền nhiệm Barack Obama đã mở ra khi chính thức nối lại bang giao với Cuba ngày 17/12/2014. Một năm sau khi trở lại Nhà Trắng, từ đầu 2026 bằng nhiều cách, ông Trump tiếp tục gia tăng sức ép với hòn đảo chỉ cách bang Florida, khoảng 150 km : Cắt các nguồn cung cấp dầu hỏa cho Cuba, đứng đầu là Venezuela và Mêhicô; huy động các công cụ pháp lý và quân sự để làm suy yếu chế độ liên tục cầm quyền tại hòn đảo này từ sau cuộc cách mạng năm 1959. Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Marco Rubio một người Mỹ gốc Cuba trong một thông điệp bằng tiếng Tây Ban Nha trực tiếp lên án chế độ ở La Habana « tham ô », « cướp bóc » và « đàn áp » nhân dân, đồng thời hứa hẹn tổng thống Trump đề xuất cho gần 12 triệu dân Cuba một « con đường mới ». 66 năm liên tục phong tỏa Cuba Cách nay gần 12 năm, thông báo tái lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, chủ tịch Cuba khi đó là ông Raul Castro đã nhấn mạnh, « Điều đó không có nghĩa là đôi bên đã giải quyết được vấn đề cốt lõi » : Kinh tế Cuba vẫn bị phong tỏa. Từ năm 1960 Hoa Kỳ đã đưa ra nhiều lý do khác nhau để trừng phạt La Habana. Tổng thống Dwight D. Eisenhower của bên đảng Cộng Hòa viện cớ chế độ Fidel Castro tịch thu các tài sản của Hoa Kỳ tại Cuba, để hạn chế nhập khẩu đường từ hòn đảo này vào Mỹ. Hai năm sau đó, cáo buộc La Habana thân thiện với Liên Xô cộng sản, tổng thống phe Dân Chủ J.F Kennedy đã mở rộng các biện pháp trừng phạt và ban hành lệnh « cấm vận ». Cuba trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên vào thời điểm ¾ xuất khẩu của Cuba là để hướng tới thị trường Hoa Kỳ và 70 % nhập khẩu phụ thuộc vào đối tác thương mại Bắc Mỹ này. Năm 1991 khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ, mở ra viễn cảnh Mỹ bình thường hóa quan hệ với Cuba, thì Washington lại chủ trương gia tăng áp lực để thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa tại quốc gia trong tay nhà cách mạng Fidel Castro. 1991-1994 là một thời kỳ « đen tối » đối với Cuba : GDP của nước này sụt giảm 35 %. Năm 1992 lấy cớ đòi Cuba tôn trọng nhân quyền, dưới thời tổng thống G.H Bush, Hạ Viện Mỹ thông qua đạo luật Torricelli mở rộng thêm nữa các biện pháp trừng phạt Cuba. Hai điểm đáng chú ý trong văn bản này. Thứ nhất là Washington cấm các hãng vận tải đường biển nước ngoài làm ăn với Mỹ giao thương với Cuba. Đây là tai họa đối với một quốc đảo như Cuba. Thứ hai là Hoa Kỳ trừng phạt mọi quốc gia « liên đới » với La Habana. Năm 1996 sau vụ hai máy bay của một tổ chức người Cuba lưu vong xuất phát từ bang Florida bị Cuba bắn hạ - Raul Castro khi đó là bộ trưởng Quốc Phòng, tổng thống Bill Clinton bên đảng Dân Chủ còn mạnh tay hơn với La Habana khi đặt bút phê chuẩn đạo luật Helms-Burton. Nhưng chính những đòn trừng phạt mạnh tay đó cũng đã đè nặng lên một phần các quyền lợi của Hoa Kỳ. Đầu những năm 2000 hiệp hội các nông gia Mỹ có nhu cầu xuất khẩu nhiều hơn sang Cuba. Chính quyền G.W Bush tỏ dấu hiệu nhượng bộ nhưng đó chỉ là một « bàn tay sắt trong vỏ bọc nhung ». Một chuyên gia về Cuba được nguyệt san Le Monde Diplomatique năm 2015 trích dẫn ghi nhận « chính sách trừng phạt của Mỹ đã dẫn tới những hậu quả tai hại về phương diện y tế cho Cuba » : Gần 80 % các bằng sáng chế trong lĩnh vực này đều thuộc chủ quyền của các tập đoàn của Mỹ hay các chi nhánh của họ, cho nên người dân Cuba trong một nhiều thập niên hoàn toàn không được tiếp cận với bất kỳ một tiến bộ nào về mặt khoa học, y tế, thuốc men. Phải đợi đến sự kiện tổng thống Mỹ Barack Obama bắt tay lãnh đạo Cuba Raul Castro nhân một buổi lễ tưởng niệm cố tổng thống Nam Phi, Nelson Mandela cuối 2013, bang giao giữa Hoa Kỳ với một thuộc địa cũ là Cuba mới rẽ sang một khúc quanh mới. Hai cựu tổng thống Mỹ Jimmy Carter, Bill Clinton khi đã rút lui khỏi chính trường, lên tiếng chống đối chính sách trừng phạt của Mỹ nhắm vào Cuba. Họ nhìn nhận Washington « hoàn toàn thất bại » trên phương diện này. Tổng thống Trump ở nhiệm kỳ đầu đã chấm dứt chính sách tan băng của người tiền nhiệm Obama và còn mạnh tay hơn nữa từ đầu năm nay. Trên đài truyền hình tư nhân BFM TV chuyên gia về châu Mỹ Latinh, Gaspard Estrada Viện Nghiên Cứu Paris Montaigne, khoa Global South trường London School of Economics phân tích việc chính quyền Trump đang bóp ngạt kinh tế Cuba : « Chính quyền Trump đang làm tất cả để cắt đứt mọi nguồn cung cấp dầu hỏa cho Cuba, từ Venezuela đến Mêhicô. Hậu quả kèm theo rất tai hại đối với người dân Cuba : họ bị mất điện triền miên, không có xăng dầu để di chuyển. Cuba càng lúc càng bị cô lập với thế giới bên ngoài. Washington bóp ngạt kinh tế Cuba để bắt buộc hòn đảo này phải thay đổi chế độ, nhưng dường như chính quyền Trump quên mất rằng, khủng hoảng kinh tế tại hòn đảo này sẽ đẩy người dân Cuba ra biển, tìm đường định cư tại Hoa Kỳ. Điều này sẽ ảnh hưởng đến chính sách nhập cư của Mỹ, đặc biệt là trước bầu cử giữa kỳ. (...) Mục tiêu của tổng thống Trump rất rõ ràng : Đó là làm suy yếu Cuba bằng mọi cách, kể cả việc cắt đứt các nguồn ngoại tệ mà La Habana đang cần để tài trợ cho các dự án khác. Ngay từ nhiệm kỳ đầu, Donald Trump đã chận đầu tư ngoại quốc vào Cuba, đánh vào ngành du lịch của hòn đảo này. Và từ đầu năm nay Washington liên tục ban hành thêm các biện pháp trừng phạt. Như thông lệ Cuba vẫn hô hào phải vùng lên chống đế quốc Mỹ, nhưng lần này, La Habana chủ động đàm phán với Hoa Kỳ. Đây là dấu hiệu rõ rệt nhất cho thấy chế độ đang bị suy yếu. Dù vậy chúng ta không biết đôi bên đang thương lượng về những gì và Mỹ đàm phán với ai ». Yếu tố Nga và Trung Quốc Nhưng lật đổ chế độ Cộng Sản Cuba hay đem lại một sự thay đổi thật sự cho quốc đảo này không là nhiệm vụ dễ hoàn thành. Theo nhà nghiên cứu Jérome Leleu thuộc Trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội EHESS -Paris, bất chấp những căng thẳng và các biện pháp phong tỏa càng lúc càng cứng rắn mà Mỹ kiên trì áp đặt, liên hệ giữa Washington với La Habana từ năm 1960 đến nay chưa bao giờ « đứt quãng ». Cuba luôn đòi hỏi hai điều : Chấm dứt trừng phạt và trả lại căn cứ quân sự Guantanamo được đặt dưới quyền kiểm soát của Hoa Kỳ từ khi Cuba giành được độc lập năm 1902. Về phía Washington, dưới danh nghĩa Nhà Trắng dù trong tay đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa cũng đều đòi La Habana trả lại tài sản cho các doanh nghiệp và tư nhân Mỹ đã bị chế độ Castro tịch thu từ sau cuộc Cách Mạng năm 1959. Vậy thì tổng thống Donald Trump với những áp lực trên nhiều phương diện nhắm vào Cuba từ đầu 2026 liệu có đạt được các mục tiêu mong muốn hay không ? Theo giới phân tích, câu trả lời là không vì Cuba dù mất đi nguồn cung cấp dầu hỏa quan trọng là Venezuela từ đầu năm đến nay, nhưng vẫn có thể trông cậy vào Nga và nhất là Trung Quốc. Trước hết là đối với Nga, trả lời đài RFI Pháp ngữ, Emmanuel Pietrobon, chuyên gia độc lập người Ý về châu Mỹ Latinh nhấn mạnh : Cuba là « vùng ảnh hưởng duy nhất của Nga trong vùng biển Caribe, cho nên Matxcơva dưới chế độ Cộng Sản Liên Xô trước kia hay của tổng thống Putin hiện tại đều phải bằng mọi giá yểm trợ La Habana ». « Nga cần hòn đảo nhỏ này để gây sức ép với Mỹ. Nói một cách ví von, chỉ cần bước ra ngoài ban công là người Mỹ có thể nhìn thấy sự hiện diện của Nga. Do đó, đối với Matxcơva, Cuba chiếm một lợi thế địa chiến lược, tương tự như là vị thế của Đài Loan đối với Washington trong vùng châu Á-Thái Bình Dương. Có thể nói, Cuba là một phiên bản của Đài Loan trong vùng biển Caribê. Ngoài khía cạnh địa chính trị, hòn đảo này còn có nhiều lợi thế về kinh tế. Cuba có dầu hỏa, nhưng vì bị cấm vận triền miên nên chưa từng được thăm dò, và đương nhiên là cũng chưa từng được khai thác. Rồi Cuba cũng có những nguồn dự trữ về cobalt, nickel và cũng có tiềm năng về đất hiếm… Tất cả những yếu tố đó cho thấy, Cuba chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng về địa chính trị đối với Nga (...) Cuba chỉ cách bang Florida một giờ bay. Hòn đảo này cũng làm một căn cứ không thể thiếu, với một vị trí then chốt và duy nhất để tiến hành các hoạt động dọ thám. Không phải tình cờ mà trong những năm gần đây, có lẽ và từ nửa sau thập niên 2010, tổng thống Nga, Vladimir Putin đã quyết định mở lại trung tâm thu thập thông tin tình báo bằng tín hiệu lớn nhất mà Liên Xô từng sở hữu trong giai đọan Chiến Tranh Lạnh: Đó là căn cứ Lourdes ». Một quân bài để thương lượng về Ukraina Nhất là vào thời điểm mà Nga cần đàm phán với Mỹ về Ukraina thì Cuba có thể là một lá chủ bài trong mắt điện Kremlin Emmanuel Pietrobon giải thích tiếp : « Matxcơva nhất quyết gửi đến Washington một thông điệp chính trị. Vào lúc Donald Trump có ý định phân chia thế giới theo những vùng ảnh hưởng khác nhau, Nga muốn Hoa Kỳ hiểu rằng tham vọng đó chỉ có thể thành công nếu như Nhà Trắng công nhận Kremin cũng có quyền xây dựng những vùng ảnh hưởng của riêng mình. Do vậy, Cuba như thể là một đòn bẩy trong tiến trình đàm phán giữa Nga và Mỹ. Trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, Liên Xô đã đặt tên lửa ở Cuba trong lúc mà Hoa Kỳ đặt tên lửa tại Châu Âu - nhất là tại Ý cũng như là để làm đối trọng với việc Mỹ đã điều vũ khí hạt nhân đến Thổ Nhĩ Kỳ. Giờ đây theo logic tương tự, Matxcơva dùng Cuba để mặc cả với Mỹ về Ukraina ». 22 % nhập khẩu của Cuba phụ thuộc vào Trung Quốc Nhìn từ Bắc Kinh, Cuba là một đồng minh truyền thống lâu đời : Chính quyền Fidel Castro là quốc gia ở Tây bán cầu đầu tiên thiết lập bang giao với chế độ Mao Trạch Đông. Năm 2025, chủ tịch Diaz Canel đến Bắc Kinh nhân kỷ niệm 65 năm bang giao hai nước. Về thương mại, từ đầu những năm 2000 Trung Quốc đã trở thành một trong những đối tác quan trọng nhất của Cuba, đứng trước cả Nga hay Venezuela. Cuba là « một trong những thị trường tiềm năng nhất của các nhà sản xuất pin mặt trời Trung Quốc ». Trung Quốc chiếm 22 % nhập khẩu của Cuba Ngoài ra, đối với ông Tập Cận Bình cũng như Vladimir Putin, giá trị chiến lược của Cuba chính là nhờ có vị trí sát cạnh Hoa Kỳ, một cửa ngõ quan trọng trong vùng biển Caribe. Do vậy giới quan sát cho rằng, không chắc Donald Trump đạt được mục đích đưa Cuba trở thành một « quốc gia thân thiện » với Hoa Kỳ. Không có gì bảo đảm ông sẽ được sử sách nhớ đến như một vị tổng thống vượt trội hơn tất cả những người tiền nhiệm, từ tướng Dwight David Eisenhower, tổng thống John Fitzgerald Kennedy, đến Bill Clinton, Barack Obama. Điều chắc chắn duy nhất là những tham vọng về địa chính trị của Washington trong vùng biển Caribe đã, đang và tiếp tục vấp phải những quyền lợi của Nga và Trung Quốc. Lịch sử cũng đã chứng minh rằng từ năm 1960 đến nay Cuba đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế. Mỗi lần « thoát chết trong đường tơ kẽ tóc » La Habana luôn được một « quý nhân phù trợ ». Trong giai đoạn chiến tranh lạnh điểm tựa chính là Liên Xô. Khi Liên bang Xô Viết tan rã thì từng bước đến lượt Venezuela, dưới thời hai tổng thống Hugo Chavez (1999-2013) và Nicolas Maduro chống lưng. Trung Quốc là một đối tác thương mại « không thể thiếu » của Cuba, cho nên trong cuộc đọ sức bất cân xứng lần này với chính quyền Trump, chủ tịch Cuba Miguel Diaz-Canel có thể trông cậy vào điểm tựa là chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
Trong vòng chưa đầy một tuần, lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình đã lần lượt tiếp đón hai nguyên thủ hàng đầu thế giới: Tổng thống Mỹ Donald Trump và nguyên thủ Nga Vladimir Putin. Nhưng trước hai cuộc gặp thượng đỉnh đó, Trung Quốc đã lần lượt trải thảm đỏ đón nhiều nguyên thủ, lãnh đạo chính phủ khác từ Anh, Pháp, Đức, cho đến Canada và sắp tới đây là tổng thống Brazil. Liệu lời mời đến Bắc Kinh có trở thành một tấm vé được săn đón nhất hiện nay ? Một điều chắc chắn, đó là chính quyền Trung Quốc đã khéo léo dàn dựng hai chuyến thăm thượng đỉnh vừa qua. Chuyến đi của Donald Trump đã được lên kế hoạch từ lâu, chỉ bị hoãn do chiến tranh Iran. Tương tự, tổng thống Nga đã được đồng cấp Trung Quốc mời đến Bắc Kinh từ tháng 02/2026, nhưng lịch trình đã được thúc đẩy sớm hơn dự kiến. Nhưng sự trọng thị và những nghi lễ mà Tập Cận Bình dành cho hai đồng cấp hầu như không có gì khác : Cùng một đội tiếp đón danh dự, một cuộc duyệt binh, và một buổi tiếp đón long trọng tại Đại Lễ đường Nhân dân. Bộ ba chiến lược Nga-Mỹ-Trung Đây là lần đầu tiên Trung Quốc liên tiếp đón hai nguyên thủ Mỹ và Nga trong cùng một tháng. Một mặt, những cuộc gặp này làm nổi rõ các nỗ lực của Bắc Kinh trong việc xử lý các mối quan hệ với hai cường quốc Nga và Mỹ, đồng thời khẳng định vị thế một cường quốc thiết yếu trong một trật tự thế giới ngày càng bị phân mảnh. Mặt khác, hai cuộc họp thượng đỉnh này cho thấy có những chuyển động trong tam giác chiến lược Nga-Mỹ-Trung, được cho là một trong những bộ ba năng động nhất, mang yếu tố quyết định cho việc định hình quỹ đạo hệ thống quốc tế đang có những biến đổi. Mối quan hệ giữa Matxcơva và Bắc Kinh những năm gần đây càng ngày càng được thắt chặt, trong khi quan hệ Mỹ - Trung chuyển thành một cuộc đối đầu gay gắt, đặc biệt là kể từ nhiệm kỳ I của Donald Trump. Tuy nhiên, những phát biểu của Donald Trump trong cuộc họp với Tập Cận Bình hôm 14/05/2026 rằng hai nhà lãnh đạo duy trì một mối quan hệ « tuyệt vời », « lâu nhất » chưa bao giờ có giữa các nguyên thủ của hai nước, đã cho thấy ông Trump đang nhận ra một « thực tế mới », đó là « Trung Quốc có một vị thế quan trọng và Hoa Kỳ không thể đánh bại ». Và trong mối quan hệ tay ba này, vị trí của ba cường quốc trong tam giác đang có sự thay đổi từ Nga-Mỹ-Trung sang thành Nga-Trung-Mỹ, ở đó « Trung Quốc ngày nay chiếm vị trí trung tâm và giữ một vai trò chủ chốt », theo như nhận định từ nhà nghiên cứu Trịnh Vĩnh Niên (Zheng Yongnian), giáo sư ngành chính sách công, trường đại học Hồng Kông với trang South China Morning Post. Trung – Mỹ : Đối thủ ngang vai ngang vế Còn theo chuyên gia hàng đầu về chính sách đối ngoại của Trung Quốc, bà Theresa Fallon, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Nga, châu Âu và châu Á, trụ sở tại Bruxelles, trả lời kênh truyền hình Deutsche Welle, cuộc gặp thượng đỉnh Trump – Tập thể hiện một sự chấp nhận một hình thức G2, nghĩa là một thế giới lưỡng cực mà ở đó Hoa Kỳ nhìn nhận Trung Quốc là một đối thủ « ngang tầm ». Theo bà, « chính quyền Trump đã cho phép điều đó xảy ra. Dưới thời tổng thống Obama, khi Trung Quốc muốn được coi là đối tác ngang hàng, Mỹ đã phản đối kịch liệt và nói "Không, không, không, đây không phải là thượng đỉnh G2". Vì vậy, giờ đây chúng ta đang chứng kiến một sự chuyển dịch âm thầm, mặc dù điều đó vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng. Người ta thấy Trump tỏ ra rất thân thiện trong khi ông Tập vẫn giữ sự điềm tĩnh và không mấy gì nồng ấm ». Dù vậy, nhà nghiên cứu về chính sách Trung Quốc cho rằng Donald Trump đã mắc sai lầm, khi trong các cuộc họp tại Bắc Kinh đã gợi ý rằng việc bán vũ khí cho Đài Loan là một con bài mặc cả, điều mà chưa một tổng thống Mỹ nào làm. Bà giải thích : « Bằng cách như thế, Trump đang làm suy yếu dần các thỏa thuận đã được thiết lập và nguyên trạng ở eo biển Đài Loan. Ông đang đưa ra những tín hiệu trái ngược và tất cả các đồng minh trong khu vực đang chăm chú theo dõi. Điều này có ý nghĩa gì cho họ ? Liệu họ có phải thận trọng hơn với Trung Quốc hay không ? Liệu sự cẩn trọng này cuối cùng có sẽ biến thành sự nhượng bộ hay không ? Giờ còn phải chờ xem, do lập trường của Trump là khá bất ổn ». Chính sự bất nhất này của ông Trump trong hồ sơ Đài Loan và trong chiến lược đối với Trung Quốc đã khiến nhiều nước khác, kể cả các nước đồng minh, cảm thấy bất an. Điều này giải thích vì sao lãnh đạo các nước đó cố gắng tiếp cận Tập Cận Bình và hiện tượng này mang lại cảm giác mọi thứ đang tăng tốc, theo như nhận xét của bà Therese Fallon. Tập Cận Bình : Nhà đàm phán cứng rắn Chỉ có điều như quan sát từ nhiều nhà phân tích, đến Bắc Kinh lần này, cả hai nguyên thủ Nga, Mỹ, đều trong thế yếu, vào lúc cả Nga lẫn Mỹ đều đang bị lún sâu vào những cuộc chiến tranh do chính họ gây ra. Tuy được tiếp đón long trọng, cả hai phái đoàn Nga và Mỹ đều ra về với những thỏa thuận ít ỏi, không như kỳ vọng. Ở đây, một lần nữa, Tập Cận Bình đã thể hiện rõ khả năng làm chủ tình thế, và không phải là người dễ dàng bỏ lỡ cơ hội áp đặt các điều khoản của mình. Về hồ sơ đường ống dẫn khí « Sức mạnh Siberia 2 » của Nga, ông Tập Cận Bình tiếp tục trì hoãn các cuộc đàm phán, trong khi đồng cấp Nga trước khi đến Bắc Kinh rất kỳ vọng đạt một thỏa thuận vào lúc kinh tế Nga gặp khó khăn do các lệnh cấm vận của phương Tây và những đòn tấn công bằng drone của Ukraina nhắm vào các cơ sở năng lượng. Sự từ chối không phải là dứt khoát, nhưng nó thậm chí còn tệ hơn. Người phát ngôn điện Kremlin nói rằng cuộc đàm phán có « tiến bộ lớn », đôi bên có « sự hiểu biết chung về các thông số chính » của dự án, trước khi thừa nhận « vẫn cần phải thống nhất một số chi tiết » và nhất là chưa có « thời hạn thực hiện » nào được đề cập. Nói cách khác, Tập Cận Bình chưa chấp thuận dự án. Ông Putin trở về Matxcơva tay không. Bà Theresa Fallon lưu ý, Trung Quốc luôn là một nhà đàm phán cứng rắn, « thực sự hiểu họ đang nắm giữ Nga trong tay và họ sẽ không dễ dàng nhượng bộ Putin ». Với Trump, cùng một thái độ và sự lạnh lùng mang tính chủ quyền. Tổng thống Mỹ đã đến đề nghị « người bạn lớn » của mình giúp ông mở khóa eo biển Hormuz. Bắc Kinh, một đồng minh của Teheran và là khách hàng lớn của dầu khí Iran, có đủ đòn bẩy cần thiết. Nhưng Tập Cận Bình đã không sử dụng nó. Trump ra về với một số hợp đồng, lời hứa và những lời nói suông. Tại eo biển Hormuz, mọi thứ vẫn không thay đổi. Nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh không vội vàng. Ông có đủ khả năng để chờ đợi – và quan sát đối thủ của mình ngày càng mất kiên nhẫn. Chính điều này cho thấy ông ta đã vươn lên một đẳng cấp khác, theo quan sát của Le Point. Nga, một cạnh của tam giác, một quân cờ của Trung Quốc Nhìn chung, theo quan điểm của chuyên gia Theresa Fallon, Trung Quốc hiện nay là đối thủ cạnh tranh hàng đầu của Mỹ, đặc biệt là trong cuộc đua trí tuệ nhân tạo. Trong cuộc đua này, ai thắng cuộc sẽ trở thành lãnh đạo thế giới và đây là điều Trung Quốc cũng như Mỹ đang nỗ lực hướng đến. Dù vậy, vị giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Nga, châu Âu và châu Á, nhìn nhận hiện tại có một tam giác chiến lược giữa Nga, Trung Quốc và Mỹ. « Ít nhất đó là cảm nhận của tôi từ những cuộc gặp này. Nhưng rõ ràng, Nga là phần ngắn nhất của tam giác đó và Trung Quốc sẽ sử dụng Nga để thực sự tiến quân vì Nga chống phương Tây, vì vậy Trung Quốc và Nga cùng nhau có chung mục tiêu chống phương Tây, và điều đó là có lợi cho cả hai bên vì họ có chung đường biên giới dài. Như một học giả Trung Quốc nói với tôi: "Lý do chúng ta phải tiếp tục ôm Nga là vì chúng ta đang chuẩn bị cho chiến tranh. Vì vậy, chúng ta cần Nga trong trại của mình chứ không phải ở ngoài trại." Vì vậy, bất kể điều gì xảy ra, tôi nghĩ Trung Quốc muốn thấy nước Nga yếu hơn vì khi đó họ có thể nhận được nhiều thứ hơn từ Nga, nhiều công nghệ hơn, nhiều quyền tiếp cận với Bắc Cực, có thể là các thỏa thuận năng lượng tốt hơn. Điều đó phù hợp với mục tiêu của Trung Quốc trong thế giới mà Mỹ đang dồn hết năng lượng, sự chú ý và tên lửa vào Iran ». Chuyên gia Therese Fallon kết luận, khi tập trung vào các khu vực khác trên thế giới, Trung Quốc đang tiếp tục đà tiến và tỏ ra điềm tĩnh hơn bao giờ hết : « Giờ không phải là lúc Bắc Kinh đến các thủ đô khác. Trung Quốc đã đảo ngược tình thế và việc khiến mọi người đổ xô đến gặp Tập Cận Bình dường như thực sự có lợi cho Trung Quốc ! »
Giữa lúc « dầu sôi lửa bỏng », một thành viên quan trọng của Tổ Chức Các Nước Xuất Khẩu Dầu Hỏa OPEC chính thức rời khỏi mái nhà chung ngày 01/05/2026. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) đã chuẩn bị nước cờ này từ lâu năm. « Đợt sóng ngầm » này xuất phát từ đâu và hậu quả nào trên bàn cờ năng lượng quốc tế vào lúc mọi chú ý vẫn tập trung vào chiến tranh Iran và việc eo biển Hormuz bị phong tỏa ? OPEC và OPEC+ vừa mất thêm một thành viên sau khi Qatar (2019) và Angola (2024) đã rời đi. Quyết định của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) tiếp tục làm suy yếu trọng lượng của toàn khối trên bàn cờ năng lượng quốc tế nhưng lại có lợi cho Hoa Kỳ. Mỹ không tham gia OPEC hay OPEC+. Còn đối với các quốc gia nhập khẩu dầu, sự ra đi này có đem lại những thay đổi nào hay không ? Cạnh tranh khốc liệt giữa các nguồn cung cấp dầu Trong một chương trình trên đài truyền hình tư nhân BFM TV, chuyên gia Hervé Goulletquer, thuộc công ty tư vấn độc lập Accuracy, chi nhánh tại Paris, nhận định là không. « Trong ngắn hạn, không có gì thay đổi bởi vì hiện nay eo biển Hormuz đang bế tắc, cản trở các hoạt động xuất khẩu dầu. Điểm thứ nhì là quyết định này làm suy yếu OPEC do có một sự rạn nứt. Trọng lượng của tổ chức này qua đó bị giảm đi. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất bảo đảm khoảng 13 % lượng dầu trong toàn khối và là nguồn cung cấp lớn thứ ba sau Ả Rập Xê Út và Irak (dầu của Iran vốn đã bị phong tỏa từ nhiều năm). Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng, từ trước đến nay UAE luôn là một thành viên bướng bỉnh, không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định chung. Nhìn dưới kía cạnh chính trị thì sự suy yếu của khối các quốc gia xuất khẩu này chứng tỏ thị trường dầu hỏa thế giới rất dễ bị dao động. Điểm thứ ba là trước viễn cảnh tiêu thụ dầu hỏa có thể là sẽ giảm trong dài hạn - với những mục tiêu chuyển đổi năng lượng, bớt phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch ..., cho nên Abu Dhabi muốn tận dụng thời điểm hiện tại để khai thác tối đa và xuất khẩu được nhiều chừng nào tốt chừng nấy, rồi đem nguồn thu nhập này đầu tư để phát triển những lĩnh vực khác, giảm bớt phụ thuộc vào công nghiệp dầu hỏa sau này. Trong tính toán đó, UAE không quan tâm nhiều đến mục tiêu phải giữ giá dầu trên thị trường quốc tế như quan điểm của Riyad. Sau cùng về mặt ngoại giao, khó có thể hy vọng các nước trong Vùng Vịnh sẽ được ổn định. Căng thẳng giữa Abu Dhabi với Riyad đã quá rõ. Ảo ảnh về một sự ổn định trong khu vực này hoàn toàn sụp đổ sau quyết định của UAE bước ra khỏi OPEC ». Năm 2019 Qatar đã rời khỏi tổ chức OPEC để tập trung phát triển ngành công nghiệp khí đốt, đồng thời « giành lại quyền định đoạt tương lai ». Hiện tại, cả Ả Rập Xê Út lẫn Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất cùng đang rất cần vốn để chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế, chuẩn bị cho thời đại « dầu hỏa không còn là vua ». Nhưng Riyad và Abu Dhabi lại đi theo hai hướng khác nhau. Hai cột trụ năng lượng trong Vùng Vịnh này đang lao vào một cuộc cạnh tranh khốc liệt. Tranh thủ thị trường Mọi người chờ đợi một khi chiến tranh Iran kết thúc, eo biển Hormuz được giải tỏa, giao thương hàng hải trở lại bình thường, tất cả các nhà cung cấp trong Vùng Vịnh, kể cả Ả Rập Xê Út hay Iran, đều đua nhau « giải phóng » những lượng dầu bị tồn kho trong những tuần lễ xung đột. Trong giai đoạn từ 28/02/2026 đến ngày 01/05/2026 khả năng sản xuất của các quốc gia dầu hỏa trong Vùng Vịnh chỉ còn có 10 % so với trước nhưng rất hiếm những chuyến tàu dầu vượt ra khỏi được « vùng chiến sự » này do lệnh phong tỏa kép của Mỹ và Iran. Hiện tại bản thân Iran đang đau đầu vì đang phải tìm những kho để trữ dầu vẫn kẹt lại ở phía trong eo biển Hormuz. Nói các khác một khi « cửa biển này » hoạt động trở lại bình thường, sẽ có không ít nhà cung cấp hối hả đi tìm các nguồn tiêu thụ để giải quyết hàng tồn kho, đế lấp đầy lại những thiếu hụt ngân sách trong thời gian chiến tranh. UAE muốn « đi trước một nước cờ » để không bị bất kỳ một hạn ngạch hay luật chơi chung nào của OPEC trói buộc. Một một chiến lược được chuẩn bị từ trước Giám đốc công ty tư vấn chuyên về năng lượng, Carole Nakhle được báo L'Orient Le Jour trích dẫn hoàn toàn không bất ngờ với quyết định chia tay nói trên cho dù UAE là thành viên toàn phần từ 1967. Bà giải thích, nhà cung cấp này từ lâu nay đã bất mãn về chính sách chung của OPEC do Ả Rập Xê Út áp đặt. UAE đã đầu tư rất nhiều cho tương lai để bớt phụ thuộc vào vàng đen. Riyad, tiếng nói có trọng lượng nhất trong khối OPEC thì lại chủ trương « hạn chế mức cung » để giữ giá dầu trong lúc Abu Dhabi muốn xuất khẩu « nhiều chừng nào tốt chừng nấy ». Theo thể thức vận hành chung được quy định từ 56 năm nay, OPEC ấn định những quota cho mỗi thành viên. Vì luật chơi chung này, UAE chỉ được sản xuất 3,4 triệu thùng dầu mỗi ngày, trong lúc năng suất thực sự của Abu Dhabi là hơn 4,8 triệu thùng/ngày. Từ hơn 5 năm nay UAE đã đầu tư 150 tỷ đô la để nâng cao khả năng sản xuất và cung cấp đến 5 triệu thùng một ngày cho thế giới ngay từ 2027. « Chính sách chung của OPEC không còn phù hợp với lợi ích của Abu Dhabi » (Bộ trưởng Năng Lượng UAE) Điểm thứ nhì theo Mohammed Baharoom, giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Chính Trị tại Dubai được báo Le Monde trích dẫn, « ít nhất là từ 4 năm nay Abu Dhabi đã muốn ra khỏi OPEC » nhằm « phục vụ tốt hơn các đối tác chiến lược như với Ấn Độ, Hàn Quốc và cả Hoa Kỳ ». Những đối tác này là « cột trụ bảo đảm an toàn về mặt kinh tế cho UAE ». Yếu tố Hoa Kỳ Mỹ là một yếu tố trong bài toán của UAE. Trên đài truyền hình Nhà nước Franc5, giáo sư Patrice Geoffron chuyên về năng lượng giảng dậy tại Đại học Paris Dauphine nhìn nhận Abu Dhabi chia tay tổ chức OPEC sau gần 60 năm chung sống trước hết là vì lợi ích quốc gia nhưng Hoa Kỳ là bên hưởng lợi nhiều hơn cả : « Tổ chức OPEC được hình thành từ thập niên 1960, với mục đích là điểu chỉnh lượng dầu sản xuất vì lợi ích chung. Ý tưởng ban đầu là một nghĩa vụ liên đới với nhau, phân định xem mỗi thành viên được sản xuất, xuất khẩu bao nhiêu thùng dầu mỗi ngày để giữ giá trên thị trường. Ra khỏi OPEC có nghĩa là Abu Dhabi không còn phải thể hiện liên đới với các thành viên khác, không bị trói buộc vì các khoản quota, không còn phải tuân thủ chính sách chung. Sự ra đi này có lợi cho hai quốc gia là Nga và Mỹ. Nga là thành viên OPEC+ và do đang phải đài thọ chiến tranh Ukraina hiện nay, nên Matxcơva muốn xuất khẩu nhiều, không bị ràng buộc vì những cam kết về hạn ngạch với Riyad. Còn Mỹ thì không là thành viên OPEC nên sẽ hài lòng thấy khối này bị suy yếu. Đây là cơ hội cho các nhà sản xuất dầu ở Hoa Kỳ sản xuất nhiều hơn ». Hiện tại giá dầu đã vượt ngưỡng 110 thậm chí có lúc là 120 đô la một thùng, hoàn toàn do tình hình ở eo biển Hormuz. Theo chuyên gia về năng lượng Carole Nakhle, « trong ngắn hạn, giá dầu trên thị trường quốc tế do các yếu tố địa chính trị quyết định. Giá cả chuyển động tùy theo tình hình ở eo biển Hormuz, những biến cố có thể xảy ra tại Venezuela ». Nhưng về lâu dài thì khác. Theo bà Carole Nakhle, ra khỏi OPEC có nghĩa là UAE đã chuyển sang thế tấn công, sẵn sàng bơm thêm dầu vào thị trường, làm hạ nhiệt giá dầu, « đáp ứng yêu cầu của Washington ». Donald Trump từ lâu nay vẫn đòi OPEC « mở thêm van dầu » để xăng dầu bán ra trên thị trường Mỹ giảm giá. Tổng thống Mỹ đang cần được cử tri ủng hộ trước bầu cử giữa kỳ tháng 11/2026. Một tổ chức các quốc gia xuất khẩu dầu hỏa mà càng suy yếu, càng có lợi cho Hoa Kỳ. Năm 2025, OPEC chiếm khoảng 30% nguồn cung dầu toàn cầu, (hoặc 41% nếu tính cả liên minh mở rộng OPEC+). Mất đi một thành viên, trọng lượng của OPEC sẽ bị thu hẹp lại. Để so sánh, tổ chức này bảo đảm 58 % nhu cầu tiêu thụ cho thế giới vào năm 1973 khi cuộc khủng hoảng dầu hỏa lần thứ nhất bùng phát. Do vậy cựu bộ trưởng Kinh tế Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Nasser Saidi dự báo sau khi OPEC mất đi một thành viên là Abu Dhabi, sẽ đến lượt Caracas chia tay với khối này, nhất là khi mà Washington « đang kiểm soát » dầu hỏa của Venezuela. Tổ Chức Các Quốc Gia Xuất Khẩu Dầu Hỏa OPEC đang để lộ rõ những rạn nứt từ bên trong và sự cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu dầu hỏa ngày càng gay gắt. « Hợp tác » giữa các nhà sản xuất không còn là ưu tiên số 1 trước những tính toán ích kỷ hơn. Đối với Ả Rập Xê Út, thành viên quan trọng nhất trong khối OPEC, sự rút lui của Abu Dhabi là một « lời cảnh cáo ». Nhìn từ Washington, đây là « cơ hội ». Đối với bản thân Tổ Chức Tổ Chức Các Nước Xuất Khẩu Dầu Hỏa thì vị thế trên bàn cờ năng lượng của nhóm 11 nước ngày đang bị thu hẹp lại. Nhìn từ phía các nền kinh tế phải nhập khẩu dầu thì chưa chắc viễn cảnh các nhà cung cấp và xuất khẩu cạnh tranh khốc liệt hơn sẽ là một tin vui. Điều chắc chắn duy nhất là thị trường dầu hỏa đang có nhiều biến động.
Kể từ khi bùng phát chiến tranh chống Iran do Mỹ và Israel khởi xướng, Trung Quốc tỏ ra kín tiếng. Bắc Kinh không lên án mạnh mẽ Washington trong cuộc chiến tranh chống Teheran, cũng không hoạt động quá tích cực trên mặt trận ngoại giao. Trung Quốc lặng lẽ quan sát Hoa Kỳ phạm sai lầm, đồng thời củng cố thế tự chủ chiến lược trong nhiều lĩnh vực. Trung Quốc đang có cách nhìn như thế nào về cuộc chiến giữa Mỹ và Iran ? RFI Tiếng Việt có cuộc phỏng vấn với nhà địa chính trị Didier Chaudet, chuyên gia về thế giới Ba Tư, Trung – Nam Á, đặc biệt là Pakistan, Ấn Độ và thế giới Himalaya, nhà nghiên cứu Đài Quan sát Tân Á-Âu. ----- ***** ----- RFI Tiếng Việt : Kể từ khi Hoa Kỳ và Israel phát động cuộc chiến chống lại Iran, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vẫn giữ im lặng. Ông nhận định như thế nào về thái độ này của nhà lãnh đạo Trung Quốc ? Didier Chaudet : Thực ra, đó là một cách tiếp cận cực kỳ khôn ngoan bởi vì người ta có thể tưởng tượng rằng sự im lặng từ phía Trung Quốc là dấu hiệu của sự bối rối, sự bất lực trong việc đảm nhận vai trò lãnh đạo, nhưng đó là quan điểm của phương Tây. Ý tưởng ở đây là cứ để cho Mỹ tiếp tục phạm sai lầm, hết sai lầm này đến sai lầm khác, và cho phép sự tương phản mà Trung Quốc thể hiện trở nên rõ ràng đối với mọi người, đặc biệt là ở các nước đang phát triển : Trung Quốc không tạo ra vấn đề, Trung Quốc không gây ra các cuộc chiến tranh mới, Trung Quốc không làm bất ổn thế giới hiện tại, chính Hoa Kỳ mới là bên làm điều đó, chính Hoa Kỳ đang phá hủy hệ thống quốc tế mà chính họ đã góp phần tạo ra sau Thế Chiến Thứ Hai. Về phía truyền thông Trung Quốc, trên thực tế họ khá trung lập. Phần lớn các phương tiện truyền thông Trung Quốc có sự gia tăng mạnh mẽ các phân tích về Iran ngay sau khi chiến tranh bắt đầu, nhưng trên thực tế, diễn ngôn chủ yếu là trung lập trên các phương tiện truyền thông nhà nước và cả trong giới blogger. Có lẽ trong giới blogger, có một chút thiên về ủng hộ Iran hơn, chỉ trích phương Tây, chủ nghĩa tân đế quốc, và thiên về chủ nghĩa nhân đạo hơn. Có thể có một vài tiếng nói rải rác với lập trường ủng hộ Mỹ hơn, nhưng chúng có rất ít ảnh hưởng hiện nay. Đã có một thỏa thuận ngừng bắn và một vòng đàm phán ngắn giữa Hoa Kỳ và Iran tại Islamabad, Pakistan. Các cuộc đàm phán này, tuy đã thất bại, nhưng có nhiều lời bàn tán về vai trò kín đáo của Trung Quốc trong các cuộc hòa giải của Pakistan. Sau đó, CNN dẫn lời các nguồn tin tình báo Mỹ cho biết Trung Quốc đang chuẩn bị gửi vũ khí cho Iran trong những tuần sắp tới. Và do vậy tổng thống Mỹ Donald Trump đe dọa áp thuế Trung Quốc lên mức 50% nếu nước này gửi thiết bị quân sự cho Iran. Theo ông, Trung Quốc đang tính toán gì trong ván cờ này ? Didier Chaudet : Thực ra, ở đây, chúng ta lại dựa vào một nguồn tin của Mỹ chỉ trích Trung Quốc, nên chẳng có gì mới mẻ cả, điều đó khá kinh điển. Chúng ta nhớ rằng chính những phương tiện truyền thông Mỹ đã từng nói với chúng ta rằng có vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Irak. Vì vậy, đó là lý do tại sao tôi khá thận trọng về loại chuyện này. Tuy nhiên, từ một quan điểm rất thực tế, điều đó sẽ có lý, bởi vì trên thực tế, mà không cần đi quá xa, không cần cung cấp một lượng vũ khí khổng lồ, nếu Iran có thể tự vệ và tự vệ tốt, người Mỹ sẽ buộc phải quay lại bàn đàm phán. Vậy trên thực tế chuyện gì đã diễn ra ở Islamabad ? Pakistan đã làm một khối lượng công việc khổng lồ. Họ không chỉ gián tiếp dựa vào Trung Quốc, mà còn dựa vào một liên minh các quốc gia tầm trung trong thế giới Hồi giáo, bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Xê Út và Ai Cập. Họ đã mời ngoại trưởng các nước này đến Islamabad. Một khi ngoại trưởng bốn nước đã có một thỏa thuận, lãnh đạo ngoại giao Pakistan đã đến Trung Quốc để trình bày chi tiết những gì đã được thảo luận giữa bốn bên. Vì vậy, trên thực tế, đã có sự ủng hộ kín đáo từ Trung Quốc đối với khả năng đối thoại, và cốt lõi khu vực Trung Đông Hồi giáo vẫn còn tương đối độc lập và phần nào có tổ chức đang cùng nhau tìm kiếm hòa bình. Nhưng Hoa Kỳ chỉ cho liên minh này 24 giờ. Từ góc nhìn của Hoa Kỳ, điều này khá nan giải vì nó chứng minh rõ ràng rằng họ vẫn đang hoạt động trong khuôn khổ đơn cực. Họ muốn áp đặt quan điểm của mình. Điều Mỹ muốn từ Iran là biến nước này thành một quốc gia giống như Venezuela, một dạng thuộc địa bán ngoại giao. Điều này không hiệu quả với Iran vì Iran không phải là Venezuela. Iran không bị kiểm soát bởi một người duy nhất, đó là một cấu trúc, và dù quý vị thích hay không, tôi cho rằng cấu trúc đó vẫn được ủng hộ bởi ít nhất từ 20-30 đến 35% dân số Iran, những người chia sẻ với chương trình nghị sự chống đế quốc. Vì vậy, người Iran có khả năng tự vệ, và trên thực tế, toàn bộ chiến lược quân sự của Iran trong khoảng 25 năm qua là nhằm củng cố Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Pasdaran). Khi chúng ta nói rằng quân đội chính quy đã bị đánh bại, chúng ta đã biết điều đó vì quân đội chính quy thực sự không nhận được nhiều tiền từ nhà nước Iran. Nhà nước Iran biết rất rõ rằng họ không thể tự mình chống đỡ trong một cuộc chiến với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, họ muốn đảm bảo rằng tình hình trở nên bất khả kháng đối với Mỹ đến mức họ sẽ thua trong một cuộc chiến tranh xâm lược. Và đó là lý do tại sao Lực lượng Vệ binh Cách mạng có tất cả các nguồn lực quân sự cần thiết. Nhưng ngày nay, một thất bại nhanh chóng và hoàn toàn của Iran sẽ thực sự là một vấn đề cho cả Nga và Trung Quốc. Tôi nghĩ nhiều người ở Trung Quốc rất thận trọng. Trên thực tế, họ không nhất thiết muốn giúp đỡ nhiều. Có một cuộc tranh luận nội bộ về việc liệu vũ khí có được gửi đến Iran hay không; tôi không chắc chắn 100%. Điều đó sẽ không quá sốc, thậm chí còn khá thực tế. Nhưng quý vị cũng thấy Trung Quốc cực kỳ thận trọng trong cách họ xử lý mọi việc. Quả thực, do thái độ của Mỹ, những người muốn có lập trường quyết liệt hơn và chống đế quốc ở Bắc Kinh cuối cùng cũng có thể lên tiếng vì cách tiếp cận cực đoan của Trump khiến một số người Trung Quốc bắt đầu nghĩ rằng, « Nhưng xét cho cùng, đúng vậy, một chút chiến tranh du kích chống phương Tây không hẳn là một ý kiến tồi. » Trong trường hợp Hoa Kỳ không mở lại được eo biển Hormuz nhưng Tậ Cận Bình thuyết phục được Iran làm điều đó, hậu quả nào cho Washington và các nước vùng Vịnh ? Liệu Trung Quốc có giữ thế chi phối trong bất kỳ giải pháp ngoại giao nào không ? Vài nếu Bắc Kinh có thể giữ vai trò bảo lãnh, đổi lại họ sẽ đòi hỏi điều gì ? Didier Chaudet : Trên thực tế, cách tiếp cận của Trung Quốc giống như những gì người ta đã thấy trong các hoạt động ngoại giao khác ở Trung Đông, ví ụu như khi Bắc Kinh đưa Iran và Ả Rập Xê Út xích lại gần nhau hơn, mục tiêu là nhằm đối xử với các bên khác như người lớn, chứ không phải như trẻ con bị ép buộc, bằng cách nói rằng, « nếu quý vị muốn hòa bình, chúng tôi sẽ giúp đỡ, chúng tôi sẽ đóng góp ». Hơn nữa, trong vụ việc này, Trung Quốc có một tác động khá khiêm tốn, vì chính nền ngoại giao Irak đã thúc đẩy sự hòa giải, Trung Quốc chỉ đơn giản ủng hộ. Ở đây, cách tiếp cận cũng tương tự, « Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ ổn định ». Tất nhiên, nếu mọi việc có thể được giải quyết bằng con đường ngoại giao, Trung Quốc chắc chắn sẽ ủng hộ vì họ cần duy trì hiện trạng này. Không chỉ họ, mà tất cả các quốc gia châu Á – Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc – những quốc gia không nhất thiết là bạn thân của Trung Quốc ở châu Á, trên thực tế cũng đang đứng về phía Trung Quốc. Do vậy, nếu tình hình vẫn tiếp tục như hiện nay , nếu eo biển Hormuz không được mở cửa – và thính giả ở Việt Nam và Pháp thực sự cần phải tính đến điều này – trong vài tháng nữa, chúng ta sẽ nghe về nạn đói ở các nước phía nam, và tình trạng thiếu lương thực này cũng sẽ ảnh hưởng đến các nước phương bắc. Thính giả ở Pháp không nên nghĩ rằng điều này không liên quan đến họ, chúng sẽ ảnh hưởng đến Pháp theo hai cách : Gia tăng luồng di cư và gia tăng các vấn đề, ngay cả cho ngành nông nghiệp ở chính nước Pháp. Còn ở Việt Nam, tình hình thậm chí có thể còn bi thảm hơn. Người Trung Quốc chắc chắn đã chuẩn bị tốt hơn kể từ cuộc chiến 12 ngày, họ đã hiểu rằng ngày này sẽ đến, rằng eo biển Hormuz sẽ bị đóng cửa. Rõ ràng trong tình hình ngoại giao hiện nay, nếu Trung Quốc thành công về mặt ngoại giao trong việc đạt được điều mà người Mỹ không thể đạt được bằng vũ lực, thì đối với tất cả các nước thuộc khu vực Nam bán cầu, Trung Quốc sẽ là nhà lãnh đạo không thể tranh cãi của thế giới hậu chiến tranh Iran. Và Trung Quốc sẽ đòi hỏi gì đổi lại ? Hoàn toàn không gì cả. Họ sẽ chứng tỏ mình là những người trưởng thành trong cuộc đàm phán, như chúng ta thường nói trong tiếng Anh, đối diện với Mỹ và châu Âu, bên chỉ biết nghe theo, nói mà không làm gì cả. Ngoại trừ việc ngày nay, nói mà không hành động sẽ phải trả giá rất đắt. Một lần nữa, người dân có nguy cơ chết đói trong vài tháng tới nếu tình hình tiếp diễn như hiện nay. Tuy nhiên, nếu chúng xem xét kỹ một số chi tiết nhất định chẳng hạn như việc phí quá cảnh qua eo biển Hormuz cho Iran phải thanh toán bằng nhân dân tệ, liệu chúng ta có thể nói rằng hậu quả lâu dài của chiến hiện nay sẽ khá tích cực cho Trung Quốc hay không ? Điều đó có nghĩa là một ngày nào đó sẽ không còn hệ thống « petrodollar » (dầu hỏa – đô la) nữa mà sẽ là « petroyuan » (dầu hỏa – nhân dân tệ) ? Didier Chaudet :Chắc chắn rồi. Một lần nữa, tại sao Trung Quốc không lên tiếng nhiều hơn ? Tại sao Trung Quốc không hoạt động nhiều hơn trên mặt trận ngoại giao ? Bởi vì người ta « không bao giờ ngăn chặn một kẻ thù khi họ đang tự bắn vào chân mình ». Đến thời điểm này, Hoa Kỳ đã mất phương hướng vì họ liên tục mắc sai lầm. Một khi mọi việc thực sự sẽ lắng xuống, chúng ta rất có thể sẽ hướng tới một thế giới hậu đô la, một thế giới hậu Mỹ, đặc biệt là ở Trung Đông, bởi vì chúng ta cũng phải tính đến việc tất cả các quốc gia đang dựa vào sự bảo hộ của Mỹ để tự vệ và ổn định đất nước, như Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Qatar, Ả Rập Xê Út, đều đã chọn sai người. Tôi không chắc Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất sẽ hồi phục được, đặc biệt là sau các vụ đánh bom của Iran. Tất nhiên, nước này cũng sẽ oán giận Iran, nhưng sự thật là Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất đã hoàn toàn liên minh với Hoa Kỳ và Israel, và điều đó không mang lại cho họ bất kỳ sự bảo vệ nào. Những người có khả năng chi trả ở Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất nhất hiện nay đang rời khỏi đất nước. Là người hiểu rõ Hồng Kông, tôi vẫn ngạc nhiên trước thực tế rằng Hồng Kông được miêu tả với chúng ta theo một khía cạnh khá bi thảm, trong khi trên thực tế, cuộc sống ở đó rất tốt, và Hồng Kông có lẽ đang mong chờ tất cả số tiền từng chảy vào Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Qatar giờ sẽ chuyển sang Singapore và Hồng Kông. Người ta rất ít khi nói về Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, và có lẽ cả Qatar nữa, nhưng hai nước này có nguy cơ sẽ không còn là những cường quốc kinh tế như trước đây nữa, do các chính sách của Mỹ và Israel, và vì vậy dẫn đến đòn trả đũa của Iran. Trang mạng Capital ngày 09/04/2026, có nói đến khả năng hình thành một trục dầu hỏa Nga – Trung Quốc – Iran, có thể kiểm soát đến 30% lượng dầu hỏa toàn cầu. Nếu giả thuyết này thành hiện thực, liệu đó có sẽ là kết cục tàn khốc cho thế bá quyền của Mỹ như một số nhận định ? Didier Chaudet :Trên thực tế, có một số nhà phân tích liên tục lập luận theo kịch bản khối này đối đầu khối kia. Trong khi đó, ở Bắc Kinh, Matxcơva và Tehran, họ nhận ra rằng họ chỉ là đồng minh tình thế. Không phải là hoàn toàn không thể xảy ra việc khối này nổi lên, nhưng nếu điều đó xảy ra, đó là do sự ép buộc từ Mỹ và bởi sự bất lực của Mỹ và sự bất lực của châu Âu trong việc tồn tại độc lập. Chỉ trong bối cảnh này, chúng ta mới có thể thấy một khối như vậy xuất hiện. Bởi vì, trên thực tế, Nga bảo vệ lợi ích của chính họ. Trung Quốc chưa bao giờ hoàn toàn đứng về phía Nga, họ không muốn Nga sụp đổ, nhưng họ cũng không hoan nghênh cuộc chiến xâm lược Ukraina, trái ngược với những gì một số người ở Paris có thể nói – những người mà trên thực tế không hiểu gì về Iran, Trung Quốc hay Nga, và do đó chỉ đang nói những lời lẽ mang tính ý thức hệ. Hiện tại, đây là những quốc gia bị phe phương Tây nhắm mục tiêu đến mức họ có thể bị cám dỗ thành lập khối để trả đũa, nhưng khối này còn lâu mới chắc chắn hình thành. Đây là những quốc gia có lợi ích không hoàn toàn trùng khớp. Người Trung Quốc ủng hộ việc duy trì hiện trạng và một mức độ hòa bình quốc tế nhất định hơn là Nga, và giờ đây thậm chí còn hơn cả Iran. Bởi vì, trong thế giới hiện nay, Trung Quốc đang chiến thắng bằng hòa bình. Chúng ta luôn lo sợ những gì có thể xảy ra với Đài Loan. Tôi rất sốc khi truyền thông Pháp lại khiến người Pháp lo sợ về những gì sẽ xảy ra ở Đài Loan hơn nhiều quốc gia khác ở châu Á. Thực tế, nếu bạn hiểu biết đôi chút về Đài Loan, thì Đài Loan không phải là Ukraina, và trong một thế giới hoàn toàn bị Trung Quốc thống trị, tôi sẽ không quá ngạc nhiên nếu người Đài Loan đạt được thỏa thuận với Trung Quốc trong khi vẫn duy trì được một mức độ độc lập nhất định, nhưng lại ở thế có lợi. Điều đó sẽ không hoàn toàn gây sốc. Ở một khía cạnh kinh tế khác, nhiều chuyên gia đang bàn luận về nguy cơ « điện hóa – nhân dân tệ », nghĩa là mua đồ điện Trung Quốc và thanh toán bằng nhân dân tệ. Với vị thế thống trị trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, phải chăng Trung Quốc đang thu lợi từ cuộc chiến quy mô lớn đang diễn ra ở Trung Đông ? Didier Chaudet :Đó là những gì đã và đang diễn ra. Nếu nhìn vào số liệu năm nay, 4/5 sản lượng năng lượng mặt trời toàn cầu, xét từ góc độ sản xuất, được thực hiện ở Trung Quốc. Cường quốc châu Á này còn thống trị cả các loại máy móc điện, và nhất là xe điện. Với những gì đang xảy ra hiện nay, người dân, kể cả ở Trung Đông đang chi tiền để mua các tấm pin năng lượng mặt trời ở Trung Quốc. Việc mua các sản phẩm này của Trung Quốc đang bùng nổ, ví dụ như Irak. Quốc gia này có dầu mỏ, nhưng có nhu cầu về khí ga tự nhiên và cần nhiều năng lượng để tinh chế dầu. Nhưng trong lúc này, điều đó là không thể bởi vì toàn bộ chuỗi cung ứng truyền thống đã bị gián đoạn bởi những gì đang xảy ra. Nhưng chiến tranh xảy ra, cũng đang thúc đẩy các nước láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, Thái Lan,… hướng đến năng lượng tái tạo ? Didier Chaudet : Hoàn toàn đúng. Điều đó rất cần thiết bởi vì, một lần nữa, với chính sách của Mỹ mà các nước châu Âu đang cho phép, các nước châu Á hoàn toàn phụ thuộc vào dầu khí từ Trung Đông cần phải rút ngắn sự chậm trễ. Và trên thực tế, Trung Quốc đã làm gương vì nước này không phụ thuộc vào dầu khí Trung Đông nhiều như một số nước châu Á khác. Đặc biệt, các nguồn năng lượng tái tạo này đã hoàn toàn thay đổi cuộc chơi đối với Trung Quốc, cả về vấn đề ô nhiễm và tự chủ quốc gia. Thật vậy, Trung Quốc đã đi tiên phong. Và trên thực tế, trái ngược với những lời lẽ tôi bắt đầu nghe ngay trước chiến tranh, về việc Trung Quốc sẽ áp đặt sự phụ thuộc nhất định vào một số quốc gia vì họ bán các sản phẩm như tấm pin mặt trời, v.v., khi quý vị mua một tấm pin mặt trời, quý vị chỉ mua một lần, quý vị không cần phải thường xuyên mua khí đốt hoặc dầu mỏ. Giữa một bên là khí đốt và dầu mỏ bị Hoa Kỳ kiểm soát, và bên kia, người ta chỉ cần mua một lần và tương đối độc lập, thì thà một lần mua từ phía Trung Quốc và học hỏi hai lần để trở nên độc lập còn hơn là mua dầu mỏ với giá cắt cổ và khí đá phiến khủng khiếp từ Hoa Kỳ. Cuối cùng, từ góc độ quân sự, như ông có đề cập đến Đài Loan, cuộc chiến chống Iran, Hoa Kỳ đang vét các nguồn dự trữ quân sự của mình tại châu Á – Thái Bình Dương. Liệu đây có là một mối họa cho Đài Loan hay không ? Động thái này của Washington có làm sứt mẻ uy tín của Mỹ đối với các đồng minh châu Á ? Didier Chaudet 8 : Tất nhiên, Trung Quốc thấy rõ những khó khăn mà Mỹ đang phải đối mặt, nhưng Bắc Kinh cũng thấy rằng sức mạnh tấn công của Washington vẫn còn to lớn. Vì vậy, khi nghĩ rằng Hoa Kỳ đang bị Iran khống chế, và do đó Trung Quốc có thể xâm lược Đài Loan, thực sự quá đơn giản. Trung Quốc hiểu rõ là quân đội đất nước, tuy đã được cải thiện, nhưng vẫn chưa hoàn hảo. Nếu có bất kỳ vấn đề nào xảy ra với cuộc xâm lược Đài Loan, đó là việc Trung Quốc có nguy cơ phải đối mặt với một liên minh do Mỹ dẫn đầu ở châu Á, điều này sẽ khiến cuộc sống của họ trở nên rất khó khăn. Nhật Bản có thể trang bị vũ khí hạt nhân cực kỳ nhanh chóng, và ngày nay chúng ta đang sống trong một thế giới, ở đó, chiến tranh giữa các đại cường, một khi đã bắt đầu, có thể leo thang rất nhanh và đi xa hơn. Hơn nữa, chính phủ Trung Quốc có một khế ước với người dân : Chúng ta đã phần nào giúp quý vị thoát khỏi cảnh bần hàn, chúng ta sẽ cố gắng thêm nữa để trả thù một thế kỷ bị sỉ nhục, vươn lên thành một đại cường, và thực sự trở lại là trung tâm thế giới. Theo tôi, hiện đang có một cuộc tranh luận thực sự ở Bắc Kinh giữa những người muốn ra đòn mạnh hơn, muốn chủ động hơn, và những người nói rằng, trên thực tế, « chúng ta đã chiến thắng phần nào giống như người La Mã chống lại người Carthage, nghĩa là thay vì tấn công Hannibal, chúng ta để đối thủ tự làm suy yếu mình, để họ gặp khó khăn, và cuối cùng chúng ta sẽ chiến thắng bằng một cuộc chiến tiêu hao, hoặc giống như người Nga chống lại Napoleon ». Tôi hoàn toàn không tin vào việc Trung Quốc có thể tấn công Đài Loan. Đây còn là thông điệp tôi muốn gửi đến quý thính giả Pháp của quý đài, những người dường như hoảng sợ hai hoặc ba lần trong năm, về một cuộc xâm lược Đài Loan của Trung Quốc. Tình hình chưa đến mức đó, và điều đó cũng rất có thể xảy ra, có lẽ là trong cuộc tranh luận hiện đang diễn ra sau cánh cổng khép kín ở Bắc Kinh, mà không một người phương Tây nào có thể tiếp cận. Vì vậy tất cả những người nói về nó như thể họ đã lừa dối người nghe, chúng ta cần phải rất rõ ràng. Rất có thể sẽ có một cuộc xâm lược, nhưng cá nhân tôi không thực sự tin điều đó. Tôi nghiêng về giả thuyết rằng Trung Quốc đang chờ đợi Hoa Kỳ tự làm suy yếu mình bằng cách gây ra quá nhiều sai lầm ở các quốc gia khác nhau trên thế giới, đến nỗi cuối cùng, ngay cả từ góc nhìn từ phía Đài Loan, càng ngày sẽ càng nhận ra rằng việc đứng về bên chiến thắng sẽ có lợi hơn. Có rất đông người Đài Loan làm việc ở Thượng Hải và Bắc Kinh, họ có cuộc sống rất tốt, kết hôn với người địa phương. Tôi không nghĩ những người này sẽ kháng cự như Ukraina, nhất là khi sự kháng cự đối với Ukraina đã bị phóng đại quá mức, nước này đã cầm cự được là nhờ vào vũ khí của phương Tây. Liệu phương Tây ngày nay có đủ khả năng tài chính – vì đây là vấn đề tiền bạc – và năng lực quân sự để hỗ trợ Đài Loan theo cách tương tự, khi biết rằng, một lần nữa, Đài Loan không phải là Ukraina. Tôi thật sự nghi ngờ nghiêm trọng về điều này ! RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà địa chính trị học Didier Chaudet, chuyên gia về thế giới Ba Tư, Nam – Trung Á, đặc biệt là về Ấn Độ, Pakistan và thế giới Himalayen, thuộc Đài Quan sát Tân Á – Âu.
Xung đột ở Trung Đông dẫn đến cuộc khủng hoảng dầu lửa toàn cầu cho thấy hạn chế tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Các kho dự trữ, nằm trong tay những đối tác tư nhân, chỉ có thể cung cấp dầu lửa đến hết tháng 04/2026. Nhiều chuyến bay nội địa bị cắt giảm vì thiếu xăng. Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn nhập khẩu dầu mỏ, do sản lượng trong nước sụt giảm vì các mỏ dầu ngoài khơi đang cạn dần sau thời gian dài khai thác. Trong khi đó, việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả. Cuộc khủng hoảng này cũng cho thấy Việt Nam cần thiết lập hệ thống dự trữ nhiên liệu chiến lược quốc gia, theo trang Nhân Dân. Ngày 29/03, thủ tướng Phạm Minh Chính đã tới khảo sát địa điểm dự kiến xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược tại Khu kinh tế Nghi Sơn. Song song với nhiệm vụ cấp bách đó, Hà Nội vẫn đang “làm việc với Iran để đề nghị tạo điều kiện, có biện pháp hỗ trợ bảo đảm cho tàu, lao động Việt Nam di chuyển an toàn qua eo biển Hormuz”, theo phát biểu của người phát ngôn bộ Ngoại Giao Phạm Thu Hằng trong buổi họp báo thường kỳ ngày 02/04. Ngoài ra, chính phủ cũng khẩn trương triển khai “ngoại giao xăng dầu” với nhiều nước. Ví dụ đề xuất với Tokyo để được tiếp cận kho dự trữ chiến lược của Nhật Bản, đề nghị Trung Quốc xuất khẩu một phần xăng máy bay. Gần đây, trong chuyến công du Matxcơva, thủ tướng Phạm Minh Chính cũng đề nghị được mua dầu của Nga, cũng như tăng cường hợp tác trong lĩnh vực điện hạt nhân, năng lượng tái tạo. Việc hợp tác với Nga, đang bị phương Tây trừng phạt vì gây chiến ở Ukraina, có thể sẽ được tiến hành như thế nào ? Nga sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc đa dạng hóa nguồn năng lượng của Việt Nam ? Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, tại khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston, Mỹ, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Trước tiên, anh có thể tóm lược mối quan hệ hợp tác năng lượng giữa hai nước Việt Nam và Nga, gần đây là cam kết hợp tác phát triển điện hạt nhân, được ký vào ngày 23/03/2026 nhân chuyến công du Matxcơva của thủ tướng Phạm Minh Chính ? Vì sao có thể hợp tác được trong lĩnh vực điện hạt nhân mà không lo các biện pháp trừng phạt của phương Tây ? Vũ Khang : Khi kể đến quan hệ hợp tác năng lượng Việt Nam và Nga, chúng ta không thể không nhắc đến Vietsovpetro. Xí nghiệp này được thành lập từ năm 1981 với mục đích là giúp Việt Nam tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía Nam. Cần phải nhắc lại 1981 là giai đoạn mà Việt Nam và Liên Xô là đồng minh quân sự của nhau theo Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ký vào năm 1978. Việt Nam đã tranh thủ mối quan hệ đó để phát triển và đảm bảo an ninh năng lượng của mình. Và kể cả sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, Việt Nam vẫn duy trì xí nghiệp liên doanh này với Nga và các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập SNG. Và chính nhờ có xí nghiệp liên doanh này mà từ con số 0, hiện giờ Việt Nam đang sở hữu hệ thống căn cứ dịch vụ dầu khí tổng hợp phục vụ cho các khâu, chuỗi hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ngoài khơi khá là toàn diện. Đây cũng là một cách mà Việt Nam bảo vệ và khẳng định chủ quyền của mình trên Biển Đông. Ngoài ra, hàng năm, liên doanh Vietsovpetro đóng vào ngân sách nhà nước và lợi nhuận cho Việt Nam khoảng 53 tỷ đô la. Đây là một khoản khá là lớn cho ngân sách của nhà nước Việt Nam nếu chúng ta tính GDP Việt Nam rơi vào khoảng 500 tỷ đô một năm. Đây là một nền tảng khá là vững chắc từ ngoại giao cho đến kỹ thuật để Việt Nam và Nga có thể tiến tới hợp tác ở các mảng khác trong hợp tác năng lượng. Đọc thêmViệt Nam và Nga “rửa tiền” mua vũ khí qua thỏa thuận dầu khí với VietSovPetro ? Nếu mà nói rộng hơn về thỏa thuận hợp tác về hạt nhân gần đây thì Nga, với tư cách là một trong năm nước được phép sở hữu vũ khí hạt nhân theo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân NPT, có thể giúp đỡ Việt Nam nghiên cứu và sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích dân sự theo như các điều khoản của Hiệp ước này. Kết quả chuyến thăm Nga của thủ tướng Phạm Minh Chính cho thấy hợp tác Việt - Nga sẽ không chỉ dừng lại ở phát triển năng lượng hạt nhân mà còn bao gồm cả năng lượng mới, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo với tầm nhìn hơn 100 năm. RFI : Việt Nam đề nghị mua thêm dầu của Nga trong bối cảnh căng thẳng ở Trung Đông vì eo biển Hormuz bị Iran kiểm soát và phong tỏa. Liệu đây có phải là thời cơ tốt để mua dầu Nga mà không bị ảnh hưởng nhiều bởi các biện pháp trừng phạt của phương Tây đối với Nga ? Vũ Khang : Để giảm thiểu tác động của việc đóng cửa vịnh Hormuz do chiến tranh Mỹ và Iran, Hoa Kỳ đã dỡ bỏ các lệnh trừng phạt mua dầu của Nga trong 30 ngày. Điều này sẽ tạo điều điều kiện thuận lợi để Việt Nam mua được dầu của Nga mà không bị trừng phạt. Tuy vậy, hạn chế của lệnh dỡ bỏ này là chỉ có dầu của Nga đã được chất lên các tàu chở dầu thì mới không bị trừng phạt. Cho nên Việt Nam sẽ phải tiếp tục theo dõi tình hình từ phía Mỹ, cũng như là chiến tranh Mỹ và Iran sẽ kết thúc như thế nào. Đọc thêmTăng cường hợp tác năng lượng : Mục tiêu chính chuyến công du Nga của thủ tướng Việt Nam Một điểm hạn chế nữa khi mua dầu từ Nga, đó là đường vận chuyển khá là dài so với mua từ Trung Đông. Việt Nam mới chỉ đảm bảo được cho cung ứng dầu từ giờ cho đến hết tháng 04, có thể nói sẽ vẫn còn rất khó để chắc chắn là Việt Nam sẽ giải quyết ra sao nguồn cung dầu kể từ tháng 05 trở đi. RFI : Tương tự như nhiều nước trên thế giới, dầu lửa là nhiên liệu thiết yếu cho sản xuất. Việt Nam cần dầu nhập khẩu như nào để phát triển sản xuất ? Vũ Khang : Hiện nay, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 30% lượng xăng dầu, tương đương với 20 tỷ đô la mỗi năm, để đáp ứng các nhu cầu tiêu thụ trong nước. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần này chính là một phép thử cho khả năng chịu áp lực cho an ninh năng lượng của Việt Nam. Việt Nam, với khả năng của mình, đã tận dụng chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa để thứ nhất, giữ trung lập trong cuộc chiến Mỹ và Iran ; thứ hai, tìm nguồn cung ứng dầu thô từ Kuwait và Nhật Bản, cũng như với các chuỗi chính sách khác trong nước, ví dụ dỡ bỏ thuế đối với xăng dầu tiêu thụ cho đến hết tháng 06 để tránh cho kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng. Đọc thêmViệt Nam thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo để bảo đảm sản xuất và trung hòa khí thải Việt Nam cũng sẽ phát triển kho dự trữ xăng dầu quốc gia riêng biệt tại tỉnh Thanh Hóa khi mà dự trữ hiện nay từ các doanh nghiệp dầu hỏa đầu mối của Việt Nam mới chỉ đủ cho 7 đến 10 ngày tiêu thụ. Nếu nhìn rộng hơn, giá xăng dầu cao cũng sẽ có tác động lớn đến các mặt hàng, hoặc những chính sách kinh tế khác của Việt Nam, vì xăng dầu tăng cao thì sẽ đẩy mạnh lạm phát, cũng như là đẩy mạnh giá trị của đô la. Trong khi đó Việt Nam hiện vẫn phải mua dầu quốc tế bằng đồng đô la, tỷ giá đô la tăng vọt cũng sẽ khiến cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó khăn nhiều hơn nữa trong tương lai gần. RFI : Nhìn rộng hơn, Việt Nam cần phải phát triển, đa dạng hóa nguồn năng lượng như thế nào để bảo đảm cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và cho sản xuất ? Vũ Khang : Phát triển an ninh năng lượng là vấn đề sống còn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam phải cân bằng giữa hai mục tiêu : vừa tăng trưởng GDP và vừa phải giảm khí thải carbon. Theo dữ liệu hiện nay, điện than đang chiếm tỷ trọng trên 33%, thủy điện 28%, năng lượng tái tạo - bao gồm năng lượng Mặt trời và năng lượng gió - khoảng 27%. Do Việt Nam phải dần dần từ bỏ điện than từ nay cho đến năm 2050 theo cam kết tại COP 26, nên Việt Nam bắt buộc phải tìm được nguồn cung thay thế đến từ thủy điện, năng lượng tái tạo và điện hạt nhân. Nếu chúng ta nhìn kỹ hơn, thủy điện Việt Nam lại đang chịu tác động rất là lớn từ môi trường khi mà hạn hán có thể làm chậm nguồn cung cho lưới điện. Năng lượng tái tạo, như là năng lượng Mặt trời hay là năng lượng gió, vẫn chưa đủ bảo đảm ổn định cho lưới điện quốc gia, do hai nguồn năng lượng này cũng phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Đọc thêmViệt Nam sẽ có nhà máy điện hạt nhân đầu tiên vào năm 2030: Liệu có khả thi? Trong bối cảnh đó, điện hạt nhân lại là một nguồn năng lượng đáp ứng được yêu cầu ổn định và đây là một nguồn năng lượng sạch. Nhưng một điểm trừ rất lớn của điện hạt nhân, đó là chi phí đầu tư ban đầu và thời gian để bắt đầu vận hành có thể lên đến một thập kỷ hoặc hơn thế nữa. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng và sản xuất điện hiện nay là 12 đến 15% mỗi năm để đáp ứng được cho mục tiêu phát triển GDP. Theo dự tính đến năm 2030, Việt Nam sẽ cần gấp đôi công suất điện so với hiện nay và đến năm 2050, Việt Nam sẽ cần gấp năm lần công suất điện so với hiện nay. Với quan điểm về an ninh quốc gia, Việt Nam có thể mua điện từ Lào hay là Trung Quốc nhưng do các nghi kỵ về chính trị với láng giềng phương Bắc, về tương lai dài hạn, đây không phải là một điều quá khả thi. Do nhìn chung Việt Nam không muốn phụ thuộc về năng lượng hay an ninh điện vào nước ngoài. Điều này đòi hỏi Việt Nam sẽ phải nhanh chóng đầu tư vào nhân lực, cũng như là cơ sở vật chất để phát triển điện hạt nhân, cũng như năng lượng tái tạo ngay từ bây giờ. Nhìn chung hơn, tự chủ năng lượng sẽ giúp cho Việt Nam duy trì tự chủ về mặt ngoại giao và tránh việc bị cuốn vào xung đột giữa các nước lớn, cũng như bảo đảm được an ninh năng lượng trong trường hợp chiến tranh xảy ra. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, Khoa Chính trị học tại Trường Đại học Boston (Boston College), Hoa Kỳ.
Xung đột ở Trung Đông dẫn đến cuộc khủng hoảng dầu lửa toàn cầu cho thấy hạn chế tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Các kho dự trữ, nằm trong tay những đối tác tư nhân, chỉ có thể cung cấp dầu lửa đến hết tháng 04/2026. Nhiều chuyến bay nội địa bị cắt giảm vì thiếu xăng. Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn nhập khẩu dầu mỏ, do sản lượng trong nước sụt giảm vì các mỏ dầu ngoài khơi đang cạn dần sau thời gian dài khai thác. Trong khi đó, việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả. Cuộc khủng hoảng này cũng cho thấy Việt Nam cần thiết lập hệ thống dự trữ nhiên liệu chiến lược quốc gia, theo trang Nhân Dân. Ngày 29/03, thủ tướng Phạm Minh Chính đã tới khảo sát địa điểm dự kiến xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược tại Khu kinh tế Nghi Sơn. Song song với nhiệm vụ cấp bách đó, Hà Nội vẫn đang “làm việc với Iran để đề nghị tạo điều kiện, có biện pháp hỗ trợ bảo đảm cho tàu, lao động Việt Nam di chuyển an toàn qua eo biển Hormuz”, theo phát biểu của người phát ngôn bộ Ngoại Giao Phạm Thu Hằng trong buổi họp báo thường kỳ ngày 02/04. Ngoài ra, chính phủ cũng khẩn trương triển khai “ngoại giao xăng dầu” với nhiều nước. Ví dụ đề xuất với Tokyo để được tiếp cận kho dự trữ chiến lược của Nhật Bản, đề nghị Trung Quốc xuất khẩu một phần xăng máy bay. Gần đây, trong chuyến công du Matxcơva, thủ tướng Phạm Minh Chính cũng đề nghị được mua dầu của Nga, cũng như tăng cường hợp tác trong lĩnh vực điện hạt nhân, năng lượng tái tạo. Việc hợp tác với Nga, đang bị phương Tây trừng phạt vì gây chiến ở Ukraina, có thể sẽ được tiến hành như thế nào ? Nga sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc đa dạng hóa nguồn năng lượng của Việt Nam ? Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, tại khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston, Mỹ, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Trước tiên, anh có thể tóm lược mối quan hệ hợp tác năng lượng giữa hai nước Việt Nam và Nga, gần đây là cam kết hợp tác phát triển điện hạt nhân, được ký vào ngày 23/03/2026 nhân chuyến công du Matxcơva của thủ tướng Phạm Minh Chính ? Vì sao có thể hợp tác được trong lĩnh vực điện hạt nhân mà không lo các biện pháp trừng phạt của phương Tây ? Vũ Khang : Khi kể đến quan hệ hợp tác năng lượng Việt Nam và Nga, chúng ta không thể không nhắc đến Vietsovpetro. Xí nghiệp này được thành lập từ năm 1981 với mục đích là giúp Việt Nam tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía Nam. Cần phải nhắc lại 1981 là giai đoạn mà Việt Nam và Liên Xô là đồng minh quân sự của nhau theo Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ký vào năm 1978. Việt Nam đã tranh thủ mối quan hệ đó để phát triển và đảm bảo an ninh năng lượng của mình. Và kể cả sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, Việt Nam vẫn duy trì xí nghiệp liên doanh này với Nga và các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập SNG. Và chính nhờ có xí nghiệp liên doanh này mà từ con số 0, hiện giờ Việt Nam đang sở hữu hệ thống căn cứ dịch vụ dầu khí tổng hợp phục vụ cho các khâu, chuỗi hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ngoài khơi khá là toàn diện. Đây cũng là một cách mà Việt Nam bảo vệ và khẳng định chủ quyền của mình trên Biển Đông. Ngoài ra, hàng năm, liên doanh Vietsovpetro đóng vào ngân sách nhà nước và lợi nhuận cho Việt Nam khoảng 53 tỷ đô la. Đây là một khoản khá là lớn cho ngân sách của nhà nước Việt Nam nếu chúng ta tính GDP Việt Nam rơi vào khoảng 500 tỷ đô một năm. Đây là một nền tảng khá là vững chắc từ ngoại giao cho đến kỹ thuật để Việt Nam và Nga có thể tiến tới hợp tác ở các mảng khác trong hợp tác năng lượng. Đọc thêmViệt Nam và Nga “rửa tiền” mua vũ khí qua thỏa thuận dầu khí với VietSovPetro ? Nếu mà nói rộng hơn về thỏa thuận hợp tác về hạt nhân gần đây thì Nga, với tư cách là một trong năm nước được phép sở hữu vũ khí hạt nhân theo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân NPT, có thể giúp đỡ Việt Nam nghiên cứu và sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích dân sự theo như các điều khoản của Hiệp ước này. Kết quả chuyến thăm Nga của thủ tướng Phạm Minh Chính cho thấy hợp tác Việt - Nga sẽ không chỉ dừng lại ở phát triển năng lượng hạt nhân mà còn bao gồm cả năng lượng mới, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo với tầm nhìn hơn 100 năm. RFI : Việt Nam đề nghị mua thêm dầu của Nga trong bối cảnh căng thẳng ở Trung Đông vì eo biển Hormuz bị Iran kiểm soát và phong tỏa. Liệu đây có phải là thời cơ tốt để mua dầu Nga mà không bị ảnh hưởng nhiều bởi các biện pháp trừng phạt của phương Tây đối với Nga ? Vũ Khang : Để giảm thiểu tác động của việc đóng cửa vịnh Hormuz do chiến tranh Mỹ và Iran, Hoa Kỳ đã dỡ bỏ các lệnh trừng phạt mua dầu của Nga trong 30 ngày. Điều này sẽ tạo điều điều kiện thuận lợi để Việt Nam mua được dầu của Nga mà không bị trừng phạt. Tuy vậy, hạn chế của lệnh dỡ bỏ này là chỉ có dầu của Nga đã được chất lên các tàu chở dầu thì mới không bị trừng phạt. Cho nên Việt Nam sẽ phải tiếp tục theo dõi tình hình từ phía Mỹ, cũng như là chiến tranh Mỹ và Iran sẽ kết thúc như thế nào. Đọc thêmTăng cường hợp tác năng lượng : Mục tiêu chính chuyến công du Nga của thủ tướng Việt Nam Một điểm hạn chế nữa khi mua dầu từ Nga, đó là đường vận chuyển khá là dài so với mua từ Trung Đông. Việt Nam mới chỉ đảm bảo được cho cung ứng dầu từ giờ cho đến hết tháng 04, có thể nói sẽ vẫn còn rất khó để chắc chắn là Việt Nam sẽ giải quyết ra sao nguồn cung dầu kể từ tháng 05 trở đi. RFI : Tương tự như nhiều nước trên thế giới, dầu lửa là nhiên liệu thiết yếu cho sản xuất. Việt Nam cần dầu nhập khẩu như nào để phát triển sản xuất ? Vũ Khang : Hiện nay, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 30% lượng xăng dầu, tương đương với 20 tỷ đô la mỗi năm, để đáp ứng các nhu cầu tiêu thụ trong nước. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần này chính là một phép thử cho khả năng chịu áp lực cho an ninh năng lượng của Việt Nam. Việt Nam, với khả năng của mình, đã tận dụng chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa để thứ nhất, giữ trung lập trong cuộc chiến Mỹ và Iran ; thứ hai, tìm nguồn cung ứng dầu thô từ Kuwait và Nhật Bản, cũng như với các chuỗi chính sách khác trong nước, ví dụ dỡ bỏ thuế đối với xăng dầu tiêu thụ cho đến hết tháng 06 để tránh cho kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng. Đọc thêmViệt Nam thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo để bảo đảm sản xuất và trung hòa khí thải Việt Nam cũng sẽ phát triển kho dự trữ xăng dầu quốc gia riêng biệt tại tỉnh Thanh Hóa khi mà dự trữ hiện nay từ các doanh nghiệp dầu hỏa đầu mối của Việt Nam mới chỉ đủ cho 7 đến 10 ngày tiêu thụ. Nếu nhìn rộng hơn, giá xăng dầu cao cũng sẽ có tác động lớn đến các mặt hàng, hoặc những chính sách kinh tế khác của Việt Nam, vì xăng dầu tăng cao thì sẽ đẩy mạnh lạm phát, cũng như là đẩy mạnh giá trị của đô la. Trong khi đó Việt Nam hiện vẫn phải mua dầu quốc tế bằng đồng đô la, tỷ giá đô la tăng vọt cũng sẽ khiến cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó khăn nhiều hơn nữa trong tương lai gần. RFI : Nhìn rộng hơn, Việt Nam cần phải phát triển, đa dạng hóa nguồn năng lượng như thế nào để bảo đảm cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và cho sản xuất ? Vũ Khang : Phát triển an ninh năng lượng là vấn đề sống còn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam phải cân bằng giữa hai mục tiêu : vừa tăng trưởng GDP và vừa phải giảm khí thải carbon. Theo dữ liệu hiện nay, điện than đang chiếm tỷ trọng trên 33%, thủy điện 28%, năng lượng tái tạo - bao gồm năng lượng Mặt trời và năng lượng gió - khoảng 27%. Do Việt Nam phải dần dần từ bỏ điện than từ nay cho đến năm 2050 theo cam kết tại COP 26, nên Việt Nam bắt buộc phải tìm được nguồn cung thay thế đến từ thủy điện, năng lượng tái tạo và điện hạt nhân. Nếu chúng ta nhìn kỹ hơn, thủy điện Việt Nam lại đang chịu tác động rất là lớn từ môi trường khi mà hạn hán có thể làm chậm nguồn cung cho lưới điện. Năng lượng tái tạo, như là năng lượng Mặt trời hay là năng lượng gió, vẫn chưa đủ bảo đảm ổn định cho lưới điện quốc gia, do hai nguồn năng lượng này cũng phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Đọc thêmViệt Nam sẽ có nhà máy điện hạt nhân đầu tiên vào năm 2030: Liệu có khả thi? Trong bối cảnh đó, điện hạt nhân lại là một nguồn năng lượng đáp ứng được yêu cầu ổn định và đây là một nguồn năng lượng sạch. Nhưng một điểm trừ rất lớn của điện hạt nhân, đó là chi phí đầu tư ban đầu và thời gian để bắt đầu vận hành có thể lên đến một thập kỷ hoặc hơn thế nữa. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng và sản xuất điện hiện nay là 12 đến 15% mỗi năm để đáp ứng được cho mục tiêu phát triển GDP. Theo dự tính đến năm 2030, Việt Nam sẽ cần gấp đôi công suất điện so với hiện nay và đến năm 2050, Việt Nam sẽ cần gấp năm lần công suất điện so với hiện nay. Với quan điểm về an ninh quốc gia, Việt Nam có thể mua điện từ Lào hay là Trung Quốc nhưng do các nghi kỵ về chính trị với láng giềng phương Bắc, về tương lai dài hạn, đây không phải là một điều quá khả thi. Do nhìn chung Việt Nam không muốn phụ thuộc về năng lượng hay an ninh điện vào nước ngoài. Điều này đòi hỏi Việt Nam sẽ phải nhanh chóng đầu tư vào nhân lực, cũng như là cơ sở vật chất để phát triển điện hạt nhân, cũng như năng lượng tái tạo ngay từ bây giờ. Nhìn chung hơn, tự chủ năng lượng sẽ giúp cho Việt Nam duy trì tự chủ về mặt ngoại giao và tránh việc bị cuốn vào xung đột giữa các nước lớn, cũng như bảo đảm được an ninh năng lượng trong trường hợp chiến tranh xảy ra. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, Khoa Chính trị học tại Trường Đại học Boston (Boston College), Hoa Kỳ.
VOV1 - Ngày 4/4, hơn 200.000 người dân và du khách đã đổ về thủ đô Moscow để tham dự cuộc diễu hành tàu điện cổ, kỷ niệm 127 năm mạng lưới tàu điện, nơi các toa tàu điện lịch sử và ô tô cổ cùng tỏa sáng trên khắp các tuyến đường.Đây là một trong những sự kiện được chờ đợi nhất trong năm của người dân Matxcơva. Những toa tàu điện cổ chầm chậm chạy dọc theo các tuyến đường trung tâm thành phố trong sự cổ vũ nồng nhiệt của hàng nghìn khán giả đứng chật 2 bên đường. Đặc biệt, nhiều nhân viên ngành giao thông Matxcơva mặc trang phục của những thập niên đầu thế kỷ 20, gợi nhắc những hoài niệm về một quãng thời gian tươi đẹp của người dân thủ đô, gắn liền với những toa tàu điện. Tại điểm dừng cuối, các toa tàu điện cổ mở cửa cho người dân lên tham quan và chụp ảnh lưu niệm.Trong khuôn khổ chương trình, một cuộc triển lãm ngoài trời được tổ chức, trưng bày 16 toa tàu điện cổ các thế hệ và khoảng 40 ô tô cổ các loại, trong đó có những chiếc Moskvich từ những năm 70 của thế kỷ trước. Bên cạnh đó là các chương trình biểu diễn nghệ thuật liên tục cả ngày, với sự tham gia trình diễn của nhiều ca sỹ nổi tiếng.Hơn 200.000 người dân và du khách đã đổ về thủ đô Matxcơva để tham dự cuộc diễu hành tàu điện cổ
Thế giới trước nguy cơ phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng kép : năng lượng và lương thực vì chiến sự ở Vịnh Ba Tư. « Sẽ có thêm 45 triệu người bị thiếu ăn nghiêm trọng vì lạm phát », nếu xung đột tại Trung Đông kéo dài đến tháng 6/2026 và giá dầu hơn 100 đô la/thùng. Trên đây là kết luận Chương Trình Lương Thực Thế Giới trực thuộc Liên Hiệp Quốc đã đưa ra hôm 17/03/2026, chỉ 2 tuần sau khi chiến tranh ở Trung Đông khai mào. Hai yếu tố dẫn tới những báo động như trên : Một mặt là do eo biển Hormuz bị phong tỏa trong lúc chính 85 % tiêu thụ lương thực thực phẩm tại 8 quốc gia Vùng Vịnh (Iran, Irak, Kuwait, Ả Rập Xê Út, Bahrain, Qatar, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Oman) phải nhập khẩu từ bên ngoài. Mặt khác, chiến sự kéo dài đe dọa đến 1/3 phân bón do các nhà máy ở Vịnh Ba Tư cung cấp cho thế giới. Hiểm họa mất đi nguồn cung cấp phân bón từ các quốc gia trong Vùng Vịnh đang lớn dần, nhất là kể từ khi các cơ sở năng lượng từ Iran đến các vương quốc dầu hỏa đã trở thành mục tiêu tấn công. Vùng Vịnh, « kho » phân bón và urê Không là « kho ngũ cốc » hay « nông trại của thế giới » như Ukraina, nhưng chiến sự trong Vùng Vịnh bắt đầu đặt thị trường nông nghiệp trong thế căng thẳng. Giá nhu yếu phẩm bị đẩy lên cao mà đầu tiên hết là tại các nước trong Vịnh Ba Tư. Từ ngày 03/03/2026 tàu chở hàng chỉ còn có thể ra vào eo biển Hormuz một cách nhỏ giọt và có chọn lọc. Ngoài các giếng dầu và các mỏ khí đốt, ngoài các nhà máy lọc dầu và các cơ sở năng lượng, Vịnh Ba Tư còn có những nhà máy sản xuất phân bón bậc nhất thế giới, cung cấp từ « 20 đến 30 % phân đạm cho nông dân trên thế giới, nhất là châu Á, châu Phi và châu Âu ». Trong ba tuần, giá một tấn phân bón urê tăng thêm hơn 30 %. Một nửa sản lượng nông nghiệp toàn cầu phụ thuộc vào nitơ tổng hợp để đảm bảo năng suất cao, theo thẩm định của cơ quan tư vấn Global Sovereign Advisory hoạt động tại Paris và Dubai. Vùng Vịnh kiểm soát từ 30 đến 50 % thị phần phân bón tại châu Phi. Riêng với Burundi thì tỉ lệ này là hơn 75 %. Maroc là một ngoại lệ và đã trở thành nhà sản xuất và xuất khẩu quan trọng nhất của toàn châu lục này, nhưng bản thân Maroc lại phải nhập gần như toàn bộ lưu huỳnh (souffre) từ Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và amoniac của Ả Rập Xê Út. Phân đạm : Mức độ lệ thuộc của châu Âu Tại Pháp, sau ba tuần chiến sự bùng lên ở Trung Đông, giới trồng trọt và chăn nuôi đang lo thiếu phân bón ngay vào mùa xuân năm 2026. Theo thẩm định của Viện Nghiên Cứu Nông Nghiệp Pháp INRAE, « 2/3 nhập khẩu phân đạm của Pháp do các quốc gia dầu hỏa cung cấp ». Trước đây nguồn cung cấp chính là Nga, nhưng từ 2022 khi nổ ra chiến tranh Ukraina thì Pháp cũng như Liên Hiệp Châu Âu ngày càng trông cậy vào các đối tác trong Vùng Vịnh. Bất chấp 20 đợt trừng phạt liên tiếp nhắm vào Matxcơva, Bruxelles vẫn không dám đụng vào các nhà sản xuất phân bón của Nga. Thậm chí so với thời điểm 2022, kim ngạch nhập khẩu của Pháp từ Nga trong lĩnh vực này đã 80 %. Trả lời đài truyền hình tư nhân BFM TV hôm 11/03/2026, Sébastien Abis, giám đốc cơ quan tư vấn chuyên về lương thực phẩm Club DEMETER giải thích vì sao khủng hoảng dầu lửa kéo dài sẽ tạo nên một cơn sốt lương thực cho thế giới : « Thế giới rất cần dầu khí để làm ra phân bón. Chúng ta cũng cần xăng và dầu cho máy cầy, máy gặt, cần năng lượng cho các nhà máy chế biến thực phẩm … Thành thứ giá dầu và khí đốt tăng lên, ảnh hưởng trực tiếp đến bên nông nghiệp, đến công nghiệp chế biến thực phẩm của toàn cầu (...)Châu Âu phải nhập khẩu phân bón, nhất là phân đạm chứa nitơ do các nước ở Vịnh Ba Tư cung cấp. Bởi vì, sản xuất được urê đòi hỏi rất nhiều năng lượng. Chính vì vậy mà Nga là một nguồn cung cấp quan trọng cho thế giới, nhưng với chiến tranh Ukraina châu Âu đã ban hành nhiều đợt trừng phạt và hạn chế đáng kể nhập khẩu phân bón của Nga. Châu Âu chuyển hướng và trông cậy vào phân bón của Trung Đông -đặc biệt là của Qatar, nguồn cung cấp khí đốt số 1 toàn cầu. Trong khu vực này, ngoài Qatar ra, một nhà sản xuất quan trọng khác là Iran … Nói cách khác đây là một thách thức kép đối với Liên Hiệp Châu Âu ». Qatar cần từ 3 đến 5 năm để phục hồi khả năng cung cấp khí đốt Mối đe dọa thế giới thiếu hụt năng lượng và phân đạm từ Trung Đông lại càng lớn khi mà các bên trực tiếp tham chiến đã nhắm vào các cơ sở hạ tầng năng lượng của đối phương. Dù vậy, chuyên gia kinh tế Philippe Waecheter giám đốc cơ quan tư vấn Ostrum Asset Management- Paris trước mắt không quá bi quan, ông so sánh cơn sốt khí đột hiện tại với thời điểm mùa xuân và mùa hè 2022 khi mà chiến tranh Ukraina bắt đầu và phương Tây trừng phạt dầu và khí của Nga. Khi đó giá khí đốt đang từ 17 euro/kWh tăng vọt lên thành 340 euro/kWh. Trước mắt thì giá cả dù đã tăng lên gấp đôi từ đầu chiến sự, nhưng vẫn dao động ở khoảng 50 euro/kWh. Philippe Waecheter nhận xét : « Hiện tại chúng ta đang phải đối mặt với một cú sốc dầu hỏa. Câu hỏi còn lại là liệu xung đột sẽ kéo dài bao lâu và nếu kéo dài thì sẽ dẫn tới lạm phát với những hệ quả nghiêm trọng. Dù vậy hiện tại, hoàn cảnh khác nhiều so với thời điểm 2022. Khi đó thị trường châu Âu còn rất lệ thuộc vào năng lượng của Nga và đã không có một sự chuẩn bị trước. Việc eo biển Hormuz bị phong tỏa vì chiến sự ở Trung Đông, đặt ra vấn đề cho việc cung cấp dầu hỏa và khí đốt, đồng thời còn thách thức luôn cả thị trường phân bón. Giá phân bón trên thế giới tùy thuộc vào 2 yếu tố : một là khối lượng có thực sự và có thể sử dụng, và hai là giá khí đốt bởi vì như đã biết, để sản xuất phân đạm urê cần rất nhiều khí đốt. Cho nên giá khí đốt mà tăng lên thì giá phân bón cũng bị đẩy lên cao ». Nông phẩm, lương thực thực phẩm chế biến cũng như thịt cá trở nên đắt đỏ hơn. Trong đêm 18 rạng sáng 19/03/2026, chiến tranh tại Trung Đông dường như đã rẽ sang một khúc quanh mới khi nhiều cơ sở năng lượng của các bên trở thành mục tiêu tấn công. Doha thông báo 17 % khả năng xuất khẩu của Qatar bị thiệt hại và phải mất từ 3 đến 5 năm mới hy vọng phục hồi. Là nhà cung cấp khí đốt lớn nhất cho thế giới (chiếm 20 % thị phần toàn cầu) kết luận này của Qatar càng làm dấy lên lo ngại về tình trạng « mất an toàn lương thực ». Không có phân bón, năng suất trồng trọt giảm đi, cùng lúc mọi chi phí tăng lên do giá xăng dầu bị đẩy lên cao. Giá nhu yếu phẩm sẽ là một gánh nặng với nhiều quốc gia. Nguy cơ các nước dầu hỏa đói ăn Vẫn Sébastien Abis, giám đốc Club DEMETER, chuyên tổng hợp thông tin và tư vấn lương thực phẩm nhấn mạnh đến « con đường hai chiều » của eo biển Hormuz : « Eo biển Hormuz không chỉ là cửa ngõ đưa năng lượng của các quốc gia trong Vùng Vịnh ra với thế giới bên ngoài đứng quên đây là một tuyến giao thương hàng hải hai chiều. Eo biển này trước hết còn là cổng vào, mang lương thực thực phẩm, hàng hóa của bên ngoài vào cho 8 quốc gia bao quanh Vịnh Ba Tư. Khu vực này phụ thuộc rất nhiều vào ngũ cốc, nông phẩm, thịt, những sản phẩm chế biến từ sữa, thực phẩm chế biến từ mọi nơi trên thế giới và phải chung chuyển qua ngả này. Đất đai ở đây chủ yếu là sa mạc, họ không có thể phát triển trồng trọt, cũng không có nhiều nguồn nước ngọt cho việc canh tác … toàn bố khu vực chung quanh Vịnh Ba Từ phải nhập khẩu lương thực thực phẩm. Phong tỏa Hormuz, các tàu hàng bị kẹt trước khi đi qua được eo biển này là một mối đe dọa tiềm tàng đối với an ninh lương thực của tất cả các quốc gia trong vùng ». Hôm 01/03/2026, một ngày sau khi Israel và Mỹ khai hỏa tấn công Iran, số lượng tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz giảm 80 % so với một tuần lễ trước đó. Các quốc gia Vùng Vịnh phải nhập khẩu đến 85 % nông phẩm, phụ thuộc vào 92 % ngũ cốc của nước ngoài, 62 % vào thịt và 56 % vào rau củ tươi của các quốc gia ngoài khu vực. Bản thân Iran luôn phải nhập khẩu ngũ cốc, dầu ăn, đặc biệt là của Nga. Theo nghiên cứu của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF và Đại học Anh Oxford, năm 2025 gần một nửa ngũ cốc được nhập khẩu vào các nước trong Vùng Vịnh phải đi qua eo biển Hormuz là để phục vụ thị trường Iran. Hãng tin Pháp AFP trong một cuộc khảo sát được công bố hôm 19/03/2026 đánh giá do chiến tranh và tắc nghẽn giao thông hàng hải ở eo biển Hormuz, giá thực phẩm tăng mạnh tại Bahrain và Kuwait, giá thịt tăng gấp đôi, rau quả tươi càng lúc càng khan hiếm. Giám đốc Chương Trình Lương Thực Thế Giới Carl Skau đánh giá : đóng cửa Hormuz và rủi ro gia tăng tại Hồng Hải không chỉ đẩy giá năng lượng, nhiên liệu và phân bón tăng cao, mà đây còn là một « rủi ro lớn đối với một phần nhân loại ». Thêm 45 triệu dân sẽ gia nhập đội ngũ 320 triệu người đang trong tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng. Trong kịch bản xấu nhất, chỉ trong ba tháng nữa, thế giới sẽ đạt kỷ lục với 360 triệu người đói.
Việc Israel và Hoa Kỳ tấn công Iran trực tiếp giúp Matxcơva tháo gỡ cùng lúc những khó khăn tài chính, chứng minh Nga là một nguồn cung cấp năng lượng « đáng tin cậy », nhất là với Trung Quốc. Chiến sự tại Trung Đông giảm nhẹ một phần lệnh cấm vận dầu hỏa nhắm vào Nga, tăng nguồn thu nhập để tài trợ cho cỗ máy chiến tranh tại Ukraina. Cơn sốt dầu do khủng hoảng tại Iran sẽ kéo dài bao lâu ? Tổng thống Vladimir Putin đang đánh cược vào khả năng Mỹ bị sa lầy ở Iran, lấn cấn vì an ninh Vùng Vịnh nên càng dễ buông tay với Ukraina. Điều duy nhất Nga muốn tránh bằng mọi giá là kịch bản chế độ Teheran sụp đổ, vì như vậy Matxcơva sẽ mất một lá bài then chốt tại Trung Đông. RFI tiếng Việt mời Arnaud Dubien, giám đốc Đài Quan Sát Pháp-Nga tại Matxcơva, phân tích về tác động của khủng hoảng tại Trung Đông đối với nước Nga. Đêm 09/03/2026, tuyên bố của tổng thống Mỹ Donald rằng Trump chiến sự tại Trung Đông sẽ « chóng kết thúc » cũng đủ để làm hạ nhiệt trên thị trường năng lượng. Giá khí đốt đã giảm 15 % trong phiên giao dịch vào sáng ngày 10/03/2026. Từ khi chiến dịch Epic Fury khai mào, giá dầu trên thế giới đã tăng 30 % trong một tuần, khí đốt, mà Qatar là nguồn cung cấp lớn nhất, tăng giá 75 % trong 10 ngày qua. Trong bối cảnh Nga đang phải huy động 10 % ngân sách để tài trợ chiến tranh Ukraina, đây trước hết là một tin vui đối với nước Nga : Matxcơva bội thu nhờ dầu khí của các quốc gia Vùng Vịnh bị mắc kẹt trong chảo lửa Trung Đông. Giá dầu trước chiến tranh Iran đang từ 60-65 đô la/thùng đã vượt ngưỡng 100 đô la hôm 09/03/2026. Năng lượng của Nga trở nên « có giá » Báo Kommersant của Nga tuần trước chạy tựa lớn : « Về kinh tế, phải chăng Nga là một trong những bên có lợi nhất từ chiến tranh Iran ? » Vào lúc Matxcơva đang cần ngoại tệ để đài thọ cho cỗ máy chiến tranh, kinh tế Nga đình đốn, phó giám đốc quỹ tài chính quốc gia Alexei Grivach, được báo Le Figaro trích dẫn, cho rằng: « Tình hình tại Trung Đông xấu đi khiến năng lượng của Nga càng có sức thu hút cao, mở ra nhiều cơ hội cho Trung Quốc, Ấn Độ và nhiều quốc gia khác tại châu Á ». Phát ngôn viên điện Kremlin Dmitri Peskov khẳng định : « Nhu cầu mua dầu hỏa của Nga tăng mạnh liên quan trực tiếp đến chiến tranh Iran ». Như thể chiến tranh tại Iran và chảo lửa ở Trung Đông hiện tại cho phép nước Nga giải quyết được nhiều vấn đề trong một sớm một chiều. Đầu tiên hết là thúc đẩy ngành xuất khẩu dầu khí, tiếp sức cho các tập đoàn năng lượng mà doanh thu bị thu hẹp do các lệnh trừng phạt của Âu, Mỹ càng lúc càng khắt khe. Gần đây nhất, Ấn Độ bị chính quyền Trump thúc ép để hạn chế mua dầu của Nga. Tháng 1/2026 dầu của Nga chỉ còn chiếm 20 % nhập khẩu của Ấn Độ trong lúc 55 % dầu thô tiêu thụ tại quốc gia Nam Á này do các nước Trung Đông cung cấp. Nhờ chiến tranh Iran, khối lượng dầu của Nga bị tồn đọng bỗng chốc có điểm đến an toàn, thậm chí là được « danh chính ngôn thuận » cập các bến cảng của Trung Quốc hay Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ. Cũng trong trường hợp của Ấn Độ, chính Trump ngay tuần trước đã tạm thời cho phép New Delhi nhập khẩu trở lại dầu của Nga sau nhiều tháng hù dọa, rồi « trừng phạt » Ấn Độ đã mua dầu của Nga. Trả lời RFI tiếng Việt, giám đốc Đài Quan Sát Pháp-Nga Arnaud Dubien xem đây trước hết là dấu hiệu cho thấy Mỹ « thất bại khi muốn làm suy yếu mối quan hệ Ấn Độ - Nga ». Điểm thứ ba quan trọng đối với Nga là sau khi « tạm » cho phép Ấn Độ mua lại dầu hỏa của Nga, Mỹ và sau đó sẽ là châu Âu phải xét lại việc cấm vận dầu khí của Nga. Lợi thế thứ tư là uy tín của nước Nga với tư cách là một nhà cung cấp năng lượng cho thế giới được tăng thêm khi dầu của Trung Đông bị « kẹt » ở eo biển Hormuz và trong Vịnh. Cuối cùng, Matxcơva hôm nay đã bắt đầu sử dụng lại lá bài năng lượng để mặc cả với châu Âu, đặc biệt là trên vấn đề Ukraina. Arnaud Dubien, Đài Quan Sát Pháp-Nga, nhấn mạnh : Trái với phân tích của nhiều chuyên gia, quyền lợi của Nga tại Trung Đông không chỉ giới hạn ở Iran, cho nên Matxcơva tránh khẳng định vai trò một « đồng minh thân thiết » của Teheran : « Về cuộc khủng hoảng gần đây, chúng ta thấy rõ những giới hạn và những cơ hội đối với Nga. Giới hạn ở đây đối với Nga, cũng như các nước khác, bao gồm Trung Quốc, châu Âu … là Matxcơva đã không thể ngăn cản Israel và Mỹ tấn công Iran. Tuy nhiên, Nga tránh thể hiện sự liên kết hay liên đới với Teheran. Bởi vì lợi ích của Nga ở Trung Đông không chỉ thu hẹp ở Iran mà thậm chí còn còn lớn hơn rất nhiều ở các quốc gia trong Vùng Vịnh. Nói cách khác, Matxcơva rất thận trọng, tránh để bị Ả Rấp Xê Út, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và các nước khác đánh giá là đứng về phía Iran. Trên thực tế Nga cũng không hoàn toàn đứng về phía Iran » Trước mắt, dầu khí tăng giá là một « làn gió mới » thổi tới Matxcơva. Arnaud Dubien, Đài Quan Sát Pháp-Nga, phân tích thêm từng điểm một : « Điều rất đáng chú ý Matxcơva đã có nhiều thay đổi trong cách nhận thức và đánh giá tình hình ở Trung Đông kể từ hôm 28/02/2026, khi Hoa Kỳ và Israel bắt đầu oanh kích Iran. Thoạt đầu công luận Nga khó tin và bị choáng váng, không thể ngờ là bộ máy lãnh đạo chế độ Iran đã bị đánh trúng, nhất là mới chỉ hai tháng trước đây, Mỹ cũng đã có một chiến dịch ngoạn mục bắt cóc tổng thống Venezuela. Hành động này khiến Nga sửng sốt và lo ngại. Nhưng trong hơn chục ngày qua, đã có một số thay đổi, bởi vì tình hình ở Trung Đông, ít ra là cho đến thời điểm này, rõ ràng đã không diễn ra như Mỹ và Israel mong muốn. Chế độ ở Teheran tuy trong tình trạng rắn không đầu nhưng không sụp đổ, đồng thời những hệ quả ngoài dự kiến khi can thiệp quân sự đang bắt đầu xuất hiện với quy mô rất lớn. Hậu quả đầu tiên là trong lĩnh vực kinh tế, và có thể trong thời gian tới sẽ là những tác động về phương diện chính trị (…) Về ngắn hạn, vấn đề đầu tiên liên quan đến năng lượng, đặc biệt là dầu mỏ. Gần đây nhất là Mỹ đã phải đồng ý tạm thời để cho Ấn Độ mua dầu hỏa của Nga để thay thế lượng dầu mà Trung Đông không thể cung cấp cho quốc gia Nam Á này. Đây là một điều thuận lợi cho cả Ấn Độ lẫn Nga. Hơn nữa những nỗ lực trước đây của Washington để làm suy yếu quan hệ giữa New Delhi với Matxcơva là vô ích. Nhưng câu hỏi chính là tình trạng khan hiếm dầu từ Trung Đông sẽ kéo dài bao lâu. Ngoài dầu hỏa ra, xung đột với Iran còn tác động trực tiếp đến thị trường khí hóa lỏng, mà Qatar là một nguồn cung cấp chính yếu, chiếm khoảng 20 % xuất khẩu toàn cầu. Hệ thống sản xuất đã bị gián đoạn và trong mọi trường hợp cần hơn một tháng để khôi phục lại hoàn toàn các hoạt động trong lĩnh vực này. Trên vấn đề năng lượng, Liên Hiệp Châu Âu và Trung Quốc bị thiệt hại nặng hơn cả (…) Trong mọi trường hợp, hậu quả từ xung đột ở Trung Đông lần này là Nga và Trung Quốc sẽ hợp tác sâu hơn trong lĩnh vực năng lượng. Thực ra thì hợp tác song phương trên lĩnh vực này đã rất mạnh. Tôi muốn nói đến đường ống dẫn dầu nối Đông Siberi với Trung Quốc, hoạt động từ khoảng 15 năm nay, rồi đôi bên cũng đã kết nối với đường ống Power of Siberia từ 2019. Nga cũng là một nguồn cung cấp khí hóa lỏng quan trọng cho Trung Quốc. Nhìn từ Bắc Kinh, Nga được xem là nguồn cung cấp có ít rủi ro nhất, và có lẽ là rẻ nhất. Không ai nghĩ là vì một lý do nào đó xuất khẩu của Nga sang Trung Quốc bị gián đoạn (…) Ngoài ra còn có phân bón, một thế mạnh khác của Nga. Các lô hàng hiện đang bị mắc kẹt tại eo biển Hormuz. Trong khi đó, Liên Hiệp Châu Âu đã áp thêm thuế nhập khẩu đối với phân bón do Nga sản xuất. Có thể nói trên thị trường này, dường như chính châu Âu, nhất là các doanh nghiệp và người dân châu Âu, mới là bên chịu thiệt thòi trong chuyện này ». Những bất lợi về chiến lược Bên cạnh những lợi ích kinh tế, chiến sự tại Iran cũng là một ẩn số đối với nước Nga của ông Vladimir Putin. Thứ nhất, ngoài những hợp đồng quân sự giữa Matxcơva với Cộng Hòa Hồi Giáo Iran, Nga còn có nhiều quyền lợi kinh tế tại quốc gia Trung Đông này từ các chương trình hạt nhân dân sự như ở Busher, cho đến các chương trình đầu tư cùng khai thác dầu mỏ của các tập đoàn như Gazprom hay Rosneft, Likoil…, các công trình xây dựng đường sắt … Cũng chính nhờ những dự án liên doanh đó, trong 4 năm qua, Nga đã phần nào lách được lệnh trừng phạt quốc tế. Đổi lại, Iran cũng đã được hỗ trợ không ít về vốn đầu tư và công nghệ. Chiến tranh Iran kéo dài và những thiệt hại về vật chất đe dọa trực tiếp đến quyền lợi của Nga Quan trong hơn nữa và đây là điểm thứ nhì : Đầu 2025 Nga và Iran đã ký kết một hiệp định « đối tác chiến lược toàn diện », nhưng khi Teheran bị tấn công, Matxcơva không mấy năng nổ can thiệp giúp đồng minh Trung Đông này. Tatiana Kastouéva Jean, Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI, ghi nhận : Hiệp định đối tác chiến lược toàn diện giữa Matxcơva và Teheran không bắt buộc các bên phải bảo vệ lẫn nhau về mặt quân sự nhưng chỉ nội việc Nga tránh trực tiếp chỉ trích tổng thống Trump can thiệp vào Iran, không hỗ trợ Teheran bằng các phương tiện quân sự cũng đủ để công luận nghi ngờ về lợi ích khi được Matxcơva yểm trợ. Uy tín của Matxcơva có phần sứt mẻ trong mắt các quốc gia đang phát triển thuộc khối Global South. Điểm thứ ba, như báo The Conversation ghi nhận, đó là nguồn cung cấp vũ khí cho Iran, những thất bại quân sự của quốc gia này trước hỏa lực của Mỹ và Israel phần nào cũng là thất bại của Nga. Sau cùng, nếu như chế độ trong tay các giáo sĩ ở Teheran sụp đổ, Matxcơva sẽ vừa mất đi một đồng minh, một đối tác nặng ký trong khu vực, vừa mất đi ảnh hưởng của Teheran ở Trung Đông qua « trục kháng chiến » từ Liban đến Yemen… Có điều, như tờ báo này đánh giá, cho dù có mất Iran, chưa chắc Matxcơva sẽ mất ảnh hưởng ở Trung Cận Đông. Cuối cùng, đương nhiên Nga cũng như Trung Quốc không muốn trông thấy một chế độ bị lật đổ, nhưng nếu như cặp bài trùng Mỹ-Israel lật đổ được chế độ thần giáo tại Teheran, thì cũng sẽ dễ để Vladimir Putin biện minh cho cuộc chiến kéo dài từ hơn 4 năm qua tại Ukraina. Nhìn từ quan điểm của giám đốc Đài Quan Sát Pháp Nga Arnaud Dubien, yếu tố Ukraina mới là điều quan trọng trong phản ứng của tổng thống Putin về xung đột ở Trung Đông : « Chúng ta biết rằng quan hệ giữa Nga và Mỹ rất phức tạp, thậm chí có khá nhiều mâu thuẫn. Những mâu thuẫn đó lại càng rõ hơn nữa kể từ khi Donald Trump lên nắm quyền. Điện Kremlin quan niệm Donald Trump gần như là nhân vật duy nhất ở phương Tây cố gắng hiểu và đặt mình vào vị trí của người Nga trong cuộc khủng hoảng Ukraina, tức là cố gắng tính đến các lợi ích an ninh và những lo ngại của Nga. Điều đó có giá trị rất lớn đối với Matxcơva. Tuy nhiên, đồng thời Nga cũng nhận thấy chính sách đối ngoại của Trump là một chính sách khá cứng rắn, dựa nhiều vào sức mạnh, có thể gây tổn hại cho lợi ích của Nga, chẳng hạn như qua cách hành xử của Mỹ tại Venezuela. Chính vì mối quan hệ phức tạp này mà Vladimir Putin đã rất thận trọng trên vấn đề Iran. Tổng thống Nga gửi điện chia buồn với Teheran về cái chết của giáo chủ Khamenei nhưng đã tránh công khai chỉ trích Washington. Theo tôi, đối với Kremlin, điều quan trọng nhất đối với tổng thống Putin là giữ Trump đứng về phía mình trong vấn đề Ukraina. Ít nhất là phải đảm bảo rằng tổng thống Mỹ không ngả theo lập trường của châu Âu hoặc Ukraina. Nhưng quan trọng hơn nữa theo tôi là cách phân tích hiện nay tại Kremlin về tình hình Iran. Theo Matxcơva, Mỹ đang tự lún sâu vào một cuộc khủng hoảng mà có thể họ sẽ phải trả giá rất đắt. Vì vậy, tại sao phải lên tiếng mạnh mẽ hay chỉ trích Hoa Kỳ ? Tốt hơn hết là để mọi việc tự diễn ra, chỉ có điều là nếu chế độ Iran thực sự sụp đổ, đó sẽ là một vố đau đối với Nga và cả đối với Trung Quốc ».
Năm 2026, chiến tranh Ukraina bước sang năm thứ năm. Bất chấp các trừng phạt của phương Tây, kinh tế Nga vẫn chưa sụp đổ như phát biểu của nhiều nhà lãnh đạo châu Âu trước đây. Dù vậy, tổng thống Nga Vladimir Putin hôm 04/02/2026, trong một cuộc họp về các vấn đề kinh tế, thừa nhận tăng trưởng kinh tế năm 2025 chỉ ở mức 1%, thấp hơn nhiều so với những năm đầu cuộc chiến. Phải chăng các lệnh trừng phạt của phương Tây giờ bắt đầu có hiệu quả ? Nga hiện là quốc gia bị phương Tây trừng phạt nặng nề nhất, hơn cả Iran và Bắc Triều Tiên. Riêng Liên Hiệp Châu Âu đã ban hành 19 gói trừng phạt nhắm vào Nga. Có hai loại đối tượng bị trừng phạt: Thứ nhất là các cá nhân như tổng thống Nga, các chỉ huy nhóm Wagner hay nhà tỷ phú Roman Abramovic ; thứ hai là các thực thể như ngân hàng, các chính đảng, hãng truyền thông và nhất là các doanh nghiệp. Để hiểu được hiệu quả của trừng phạt của phương Tây, các nhà phân tích tập trung vào nhóm đối tượng thứ hai do vai trò vĩ mô kinh tế của chúng, ở ba khía cạnh của các lệnh trừng phạt : Tài chính, Công nghệ - thương mại và Năng lượng. Trừng phạt tài chính Vào thời điểm Nga phát động "chiến dịch quân sự đặc biệt" xâm lược Ukraina tháng 02/2022, các hoạt động kinh tế Nga có một giai đoạn bị đóng băng. Trả lời Les Echos, nhà kinh tế học Julien Vercueil, chuyên gia về Nga, Viện Ngôn ngữ và Văn minh phương Đông Quốc gia (INALCO), nhận định hiện tượng này không hẳn là do các lệnh trừng phạt mà là do cú sốc và sự bất ổn đi kèm với biến cố địa chính trị quy mô lớn : « Trong tình huống này, phản xạ đầu tiên của các tác nhân kinh tế, doanh nghiệp, hộ gia đình, các nhà đầu tư nước ngoài hay trong nước, … là bảo vệ tiền tiết kiệm của mình. Và do vậy, chúng phải được đưa ra ngoài lãnh thổ Nga. Đây là những gì họ làm ngay từ tháng 01/2022, trước khi có chiến tranh. Người ta đã chứng kiến trong quý I/2022 hiện tượng rút vốn ồ ạt lớn chưa từng có ở Nga trước đây. » Quá trình tháo chạy vốn tăng nhanh sau khi những trừng phạt tài chính đầu tiên được thực thi : Hạn chế khả năng tiếp cận thị trường vốn quốc tế của Nga, loại các ngân hàng Nga khỏi hệ thống SWIFT (Hiệp hội Viễn thông Tài chính Liên ngân hàng Toàn cầu) và phong tỏa 210 tỷ đô la tài sản Nga ở châu Âu. Tuy nhiên, chính quyền Nga cũng đã có những phản ứng nhanh chóng, ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống tài chính, chẳng hạn như ra lệnh đóng cửa sàn chứng khoán Matxcơva và áp đặt kiểm soát ngoại hối nghiêm ngặt, có nghĩa là người dân Nga không thể đổi rúp sang đô la. Kết quả là Nga đã nhanh chóng hồi hương vốn, giúp cân bằng và giảm bớt sự dịch chuyển, « tháo chạy vốn tự phát », theo như nhận định của Julien Vercueil. Phản ứng cứng rắn này của chính quyền Nga đã giảm tác động các trừng phạt, cứu hệ thống tài chính Nga khỏi sự sụp đổ. Giai đoạn bất ổn và trừng phạt ban đầu này, tất nhiên, đã làm chậm lại nền kinh tế Nga vào năm 2022. Nhưng ngay từ năm 2023, tăng trưởng phục hồi nhờ hiệu ứng kết hợp giá dầu thế giới tăng và sự chuyển đổi sang nền kinh tế chiến tranh, thúc đẩy chi tiêu công đặc biệt là trong lĩnh vực quốc phòng. Trừng phạt thương mại Loại trừng phạt thứ hai là cấm xuất khẩu sang Nga các sản phẩm trong những lĩnh vực trọng yếu như vận tải, hàng không, hàng xa xỉ hay công nghiệp quốc phòng. Mục đích là kềm chế năng lực công nghiệp và làm suy yếu Nga nhiều hơn. Theo Ủy Ban Châu Âu, kể từ tháng 02/2022, Liên Hiệp Châu Âu đã cấm xuất khẩu hàng hóa và công nghệ sang Nga với tổng giá trị ước tính là hơn 48 tỷ euro, tức chiếm khoảng hơn một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của Liên Âu trước chiến tranh. Qua phân tích các dữ liệu của Global Trade Tracker liên quan đến các hoạt động xuất – nhập khẩu của Nga, hai nhà kinh tế học Kevin Lefèvre và Charlotte Emlinger tại Trung tâm Nghiên cứu Triển vọng và Thông tin Quốc tế (CEPII) cùng kết luận là « khoảng một phần ba các sản phẩm bị trừng phạt đã được bù đắp từ các quốc gia không áp dụng trừng phạt ». Đặc biệt, các nhà nghiên cứu còn nhận thấy « khoảng 2/3 trong số 50 sản phẩm bị trừng phạt bởi một liên minh lớn các nước, bao gồm cả Liên Hiệp Châu Âu và Hoa Kỳ, đã được bù đắp từ nhiều nước khác. » Để có được những mặt hàng bị cấm đó, Nga thực hiện hai phương pháp : Hoặc tìm nhà cung cấp ở các quốc gia không áp dụng lệnh trừng phạt như Trung Quốc, đã trở thành đối tác thương mại hàng đầu của Nga từ đầu cuộc chiến. Hoặc những hàng hóa này được xuất khẩu từ những nước thực thi lệnh trừng phạt sang các quốc gia trung gian, gần với Nga như Thổ Nhĩ Kỳ hay Armenia, những nước không áp đặt lệnh trừng phạt, và sau đó chúng được tái xuất khẩu sang Nga. Sự lách luật này của Nga không có nghĩa là các đòn trừng phạt không có hiệu quả. Trên thực tế, Matxcơva không nhất thiết tìm được những sản phẩm có chất lượng tương đương ở các nhà cung cấp mới. Và nhất là họ phải mua đắt hơn những sản phẩm nhập khẩu đó, kể cả những mặt hàng không bị trừng phạt. Theo khảo sát, kể từ khi nổ ra chiến tranh, giá nhập khẩu của Nga tăng trung bình 13% so với giá nhập khẩu của phần còn lại của thế giới, và tăng 22% đối với hàng nhập khẩu từ các nước không trừng phạt Nga. Mức tăng này có thể lên đến hơn 120% đối với những mặt hàng chiến lược được dùng trên chiến trường Ukraina. Như vậy, các trừng phạt này có tác động trực tiếp đến chi phí chiến tranh của Nga, và chúng còn có một chi phí tiềm ẩn : Sự phụ thuộc của Nga vào một số đối tác mới khi Nga muốn bán hàng hóa của mình ra thế giới. Đây chính là những gì diễn ra đối với dầu hỏa của Nga. Trừng phạt năng lượng Trước chiến tranh, năm 2021, dầu khí của Nga chiếm gần một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của Nga (46%). Chiến tranh bùng nổ, Liên Hiệp Châu Âu ban hành một số biện pháp cứng rắn : Cấm nhập khẩu dầu thô và các sản phẩm chế biến từ dầu Nga qua đường hàng hải, cấm nhập khẩu khí đốt hóa lỏng kể từ năm 2027, và áp đặt mức giá trần đối với các doanh nghiệp bán dầu hỏa Nga là 44,10 đô la/thùng, có hiệu lực từ ngày 01/02/2026. Hệ quả là, theo chuyên gia kinh tế Kevin Lefèvre, « Nga không còn có thể xuất khẩu tất cả các mặt hàng của mình, nhất là các sản phẩm năng lượng sang Liên Hiệp Châu Âu và Hoa Kỳ, và do vậy nước này, phải chuyển hướng xuất khẩu sang các nước khác, vốn yêu cầu một mức giá thấp hơn nhiều để có thể mua tất cả các sản phẩm tái xuất khẩu này. Điều này có nghĩa là nguồn thu cho nền kinh tế Nga ít hơn trước. Hơn nữa, tác động này còn trầm trọng hơn do các lệnh trừng phạt của châu Âu, yêu cầu các công ty vận tải dầu hỏa phải giữ giá dầu ở mức thấp hơn khoảng 15% so với giá thị trường, làm giảm thêm doanh thu cho nền kinh tế Nga ». Chỉ có điều tuy những trừng phạt này ảnh hưởng trực tiếp đến cốt lõi mô hình kinh tế Nga, nhưng trong hai năm 2023 và 2024, giá dầu thế giới cao đã bù đắp cho mức sụt giảm xuất khẩu vì các lệnh trừng phạt. Chuyên gia về Nga, ông Julien Vercueil cho rằng, « tác động của giá cả chiếm ưu thế hơn so với tác động về số lượng. Và do vậy, Nga được hưởng lợi rất nhiều từ thặng dư thương mại và thặng dư tài khoản vãng lai, giúp nước này phục hồi khá nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng trên 4% ». Ngoài ra, Nga còn thực hiện nhiều chiến thuật để né tránh các lệnh trừng phạt và bán dầu hỏa của mình thông qua các công ty ảo và đội tầu ma nổi tiếng. Nhưng tình hình đã trên nên khó khăn hơn vào năm 2025 khi giá dầu thế giới giảm, đồng rúp tăng giá, và nhất là Mỹ ban hành trừng phạt nhắm vào hãng dầu chính của Nga là Rosneft và Lukoil, khiến nguồn thu từ dầu khí của Nga sụt giảm mất 25% so với năm 2024. Theo nhận xét của Julien Vercueil, « đặc điểm chính của các lệnh trừng phạt Mỹ là được thực thi khá nhanh chóng. Và đó là điểm khiến những biện pháp này trở nên khó khăn hơn nhiều cho những bên muốn né tránh chúng. Vì vậy, đây là một mối đe dọa có thể nói là đáng lo hơn một chút so với một số mối đe dọa hoặc tuyên bố được nhiều quốc gia khác đưa ra ». Ấn Độ là một ví dụ điển hình. Từ lâu là một khách hàng lớn nhất của Nga, sau Trung Quốc, nhưng quốc gia Nam Á này đang dần chuyển hướng khỏi Nga để tránh các mức thuế cao của Mỹ. Nhìn vào tầm mức quan trọng doanh thu từ dầu khí của Nga, các lệnh trừng phạt gần đây cuối cùng dường như đã có tác động lớn hơn so với những năm đầu do giá cả thị trường thế giới giảm. Theo Financial Times, những đòn trừng phạt mới đã làm giảm tỷ trọng thu nhập năng lượng trong ngân sách Nga từ 50% xuống còn 24%, mức thấp nhất trong 10 năm. Để bù đắp, điện Kremlin đã phải tăng thuế TVA và các loại thuế khác đối với các doanh nghiệp nhỏ. Kinh tế Nga trì trệ Dù vậy, nhiều nhà quan sát cũng nhìn nhận là khó có thể khẳng định các biện pháp trừng phạt kinh tế có hiệu quả đối với Nga hay không. Giới chuyên gia cho rằng các lệnh trừng phạt đã bị luồn lách, nhưng điều đó cũng đang gây thiệt hại nặng nề cho Nga. Sau bốn năm chiến tranh, kinh tế Nga đang bị suy giảm đáng kể. Tăng trưởng rớt xuống chỉ còn 1% trong năm 2025, trong khi lạm phát tăng vọt và ngân sách Nhà nước bị thâm hụt. Tại Nga, ngày càng có nhiều nhà kinh tế bắt đầu thảo luận về vai trò của các lệnh trừng phạt trong những khó khăn kinh tế hiện nay. Một điều chắc chắn là tổng chi phí của các biện pháp trừng phạt và chiến tranh ngày càng thể hiện rõ đối với nền kinh tế Nga. Có thể nói, « chiến tranh cộng với các lệnh trừng phạt đã khiến Nga mất đi hai năm tăng trưởng ». Đúng là nền kinh tế Nga đang dần bị xói mòn, nhưng người ta chỉ có thể đánh giá hiệu quả của các trừng phạt trong dài hạn. Do vậy, chuyên gia kinh tế Kevin Lefèvre đưa ra kết luận : « Nếu mục tiêu là chấm dứt chiến tranh, thì đúng là những biện pháp trừng phạt đó không hiệu quả. Nếu mục tiêu là làm sụp đổ nền kinh tế Nga, thì chúng cũng không vận hành. Nhưng nếu mục tiêu là làm tăng chi phí chiến tranh cho Nga, thì đúng là chúng ta có bằng chứng cho thấy giá cả hàng nhập khẩu sẽ tăng, chất lượng hàng nhập khẩu sẽ giảm, và đặc biệt là sự phụ thuộc lớn hơn vào các đối tác khác. Vì vậy, tôi nghĩ rằng các biện pháp trừng phạt đối với Nga không hẳn là một thất bại thảm hại, nhưng cũng không phải là phương thuốc thần kỳ. » Vàng : 300 ngàn ounce được bán ra với giá kỷ lục Theo trang La Tribune, Ngân hàng Trung ương Nga vào tháng 01/2026 đã bán một phần vàng dự trữ, tận dụng giá vàng cao kỷ lục trên thị trường thế giới để giải quyết thâm hụt ngân sách ngày càng lớn do doanh thủ dầu khí sụt giảm. Dữ liệu do Ngân hàng Trung ương Nga công bố gần đây cho thấy, vàng dự trữ của Nga đã giảm mất 300 ngàn ounce, xuống còn 74,5 triệu ounce, đánh dấu lần giảm dự trữ vàng thật đầu tiên kể từ tháng 10/2025. Với giá vàng trung bình khoảng 4.700 đô la một ounce trong tháng Một, việc bán vàng sẽ mang lại khoảng 1,4 tỷ đô la cho ngân sách liên bang theo giá thị trường. Mặc dù Nga đã giảm lượng dự trữ vàng khối, giá trị tiền tệ của dự trữ vàng của nước này đã tăng 23%, lên mức kỷ lục 402,7 tỷ đô la - lần đầu tiên vượt quá 400 tỷ đô la - do vậy, việc bán vàng trở nên sinh lợi.
Để bảo đảm cho sự sống còn của chế độ, Iran hôm 02/03/2026 thông báo đóng cửa eo biển Hormuz. Cắt nguồn thu nhập của chính mình và bẩy quốc gia xuất khẩu dầu khí trong Vùng Vịnh, đe dọa cỗ máy sản xuất từ Trung Quốc, Nhật Bản đến châu Âu và nhất là « đè nặng lên túi tiền » của dân Mỹ là một « sự tự sát về kinh tế và chiến lược ». Phong tỏa « cửa ngõ » cung cấp 25 % dầu hỏa và 1/5 khí hóa lỏng cho toàn cầu là đòn mạnh nhất và nguy hiểm nhất trong số tất cả những « vũ khí » của Iran. Quyết định này không chỉ ảnh hưởng đến thị trường năng lượng mà còn làm tê liệt rất nhiều ngành công nghiệp khác và đe dọa tăng trưởng toàn cầu. Chính quyền Iran thông báo « đóng cửa » eo biển Hormuz, đã « tấn công một tàu dầu có liên quan đến Mỹ » và dọa « đốt » mọi tàu thuyền dám đi qua cửa biển duy nhất để tiến vào Vịnh Ba Tư, với các quốc gia Irak, Kuwait, Ả Rập Xê Út, Bahrain, Qatar, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất bao quanh. Hình ảnh hai chiếc tàu chở dầu bốc cháy tại « chảo lửa » trên biển này đẩy giá dầu hỏa có lúc vượt ngưỡng 80 đô la một thùng, tăng 10 % trong phiên giao dịch ngày 02/03/2026 và cũng chỉ trong một ngày, khí đốt tăng giá 50 %. Mọi ánh mắt dồn về eo biển Hormuz Sau bốn ngày Israel và Hoa Kỳ oanh tạc Iran, giới trong ngành ghi nhận các cơ sở hạ tầng dầu khí của Cộng Hòa Hồi Giáo này vẫn nguyên vẹn. Do vậy, lo ngại không nằm ở chỗ cộng đồng quốc tế sợ mất đi nguồn cung cấp của Iran, hiện ước tính khoảng hơn 3 triệu thùng dầu một ngày (năm 2025) mà điểm nóng nhất hiện nay là eo biển Hormuz. Báo tài chính Anh, Financial Times từng đưa tin, trước loạt tấn công hôm 28/02/2026, nhiều quốc gia trong vùng Vịnh, kể cả Iran và đặc biệt là Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất đã đẩy nhanh xuất khẩu nhằm giúp khách hàng tăng dự trữ. Đành rằng trong bối cảnh chiến tranh hiện nay, mỗi ngày thế giới đang mất đi 3,3 triệu thùng dầu Iran sản xuất, - và hơn 30 % khối lượng này là để xuất khẩu, nhưng dầu của Iran chỉ chỉ để phục vụ Trung Quốc. Hamayoun Falakskahi chuyên gia của cơ quan tư vấn về năng lượng Kpler, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của eo biển nước nông nằm giữa Iran với Oman : « Vịnh Ba Tư là cửa ngõ nơi 1 phần 3 lượng dầu hỏa quốc tế phải đi qua. Trong trường hợp đóng cửa eo biển Hormuz các thị trường trên thế giới sẽ mất đi lượng dầu đó, sẽ bị xáo trộn mạnh. Giá dầu chỉ trong một sớm một chiều có thể tăng lên thêm từ 20 đến 30 % một thùng. Đóng cửa eo biển này là một quyết định phi lý nhưng không loại trừ khả năng Teheran sẽ làm liều nếu như Iran thẩm định xác suất tồn tại cao hơn khả năng chế độ bị lật đổ ». Là nguồn nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới, lại lệ thuộc nhiều vào đối tác Iran, Trung Quốc đang trong thế « ngồi trên lửa ». Phát ngôn viên bộ ngoại giao nước này hôm Chủ Nhật vừa qua kêu gọi nhanh chóng chấm dứt xung đột : « Vịnh Ba Tư là một khu vực rất quan trọng về phương diện vận tải hàng và dầu bằng đường biển. Trung Quốc kêu gọi cộng đồng quốc tế gia tăng nỗ lực giải quyết xung đột và ngăn chận những xáo trộn trong khu vực tác động đến phát triển kinh tế » Về phần Francis Perrin, chuyên gia về dầu hỏa, giám đốc nghiên cứu Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp, thì theo ông ngoài tầm mức quan trọng về kinh tế, eo biển Hormuz còn là một điểm nóng về phương diện chiến lược, quân sự. Nhìn trên bản đồ, Mỹ có ít nhất 6 căn cứu quân sự dọc theo bờ biển phía Nam vịnh Ba Tư : « Trong Vùng Vịnh, Bahrain là nơi Hạm Đội 5 của Mỹ đặt trụ sở thường trực. Một trong những nhiệm vụ chính của Hạm Đội 5 chủ yếu là để bảo đảm an toàn cho các tuyến tàu chở dầu, đưa năng lượng từ Trung Đông, từ các quốc gia chung quanh Vịnh Ả Rập và Ba Tư Vùng Vịnh ra đến eo biển Hormuz. Đóng cửa eo biển này là một hành động khiêu chiến ». Iran tự bắn vào chân Giới trong ngành dự báo ngay cả trong trường hợp khả quan nhất tức là xung đột chỉ diễn ra vài tuần, như tổng thống Mỹ Donald Trump đã xác nhận và Teheran không phong tỏa eo biển Hormuz mà chỉ gây khó dễ cho các hoạt động vận tải đường biển trong khu vực này, nâng mức độ « rủi ro » lên cao, cũng đủ để đẩy giá dầu đang từ 60-65 đô la như hồi tuần trước lên tới hơn 100 đô la/thùng. Eo biển Hormuz, nối liên Vịnh Ba Tư với Vịnh Oman. Nằm giữa Iran và Oman, eo biển này có độ dài khoảng hơn 60 km, rộng chừng 40-50 km với điểm hẹp nhất là chỉ hơn 3 cây số và đây cũng là một vùng nước nông chỉ khoảng 50 mét theo các dữ liệu chính thức. Thế nhưng eo biển này là có tầm chiến lược trên nhiều phương diện, như giám đốc nghiên cứu của Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp, ông Emmanuel Hache ghi nhận. Thứ nhất, 20% lượng dầu tiêu thụ toàn cầu phải chung chuyển qua ngả này. Phần lớn xuất khẩu dầu hỏa của 6 nhà sản xuất trong khu vực gồm Ả Rập Xê Út, Bahrain, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Iran, Irak, Kuwait, Qatar và Oman đều đi qua tuyến này. 75 % trong số đó nhằm phục vụ các thị trưởng châu Á. Điểm thứ nhì là trên thị trường khí đốt, 1/5 khí hóa lỏng tiêu thụ trên toàn cầu do các quốc gia trong Vùnh Vịnhcung cấp đều phải đi qua cửa ngõ eo biển Hormuz. Do tính chiến lược này, chưa bao giờ Iran dám phong tỏa eo biển Hormuz (kể cả trong giai đoạn chiến tranh với Irak 1980-1988, hay trong những cuộc khủng hoảng căng thẳng nhất với Hoa Kỳ) bởi vì đóng cửa eo biển chiến lược này là đe dọa trực tiếp đến tăng trưởng và kinh tế của tất cả các quốc gia xuất khẩu năng lượng trong khu vực, là đe dọa đến các khách hàng quan trọng nhất từ Trung Quốc đến Ấn Độ, Nhật Bản và châu Âu. Một lúc cắt đi các nguồn cung cấp dầu hỏa và khí đốt của thế giới là nước cờ quá mạo hiểm và cũng là lằn ranh đỏ mà từ trước đến nay chính quyền trong tay các giáo chủ Iran, Khomeni trước kia và Khamenei cho đến cuối tuần qua, chưa bao giờ dám vượt qua. Nhưng cũng chính vì « tính chiến lược » của eo biển này mà trong hơn 40 năm qua Teheran đã nhiều lần đe dọa « đóng cửa » một vùng biển mà Iran đồng quản lý để gây áp lực và để mặc cả ới các quốc gia trong vùng Vịnh Ba Tư và Vịnh Oman để khảng định vị trí của Iran trong khu vực, để mặc cả với Hoa Kỳ khi cần. Do vậy theo chuyên gia Pháp này, đóng cửa eo biển Hormuz cho thấy tình hình tại khu vực đã thực sự « trở nên phức tạp hơn ». Chuyên gia Pháp Emmanuel Hache kết luận : « tự sát cả về mặt chiến lược lẫn kinh tế » và ngoài tầm mức quan trọng đối với năng lượng, thì eo biển Hormuz cũng là nơi 1/3 phân bón tiên thụ trên thế giới phải đi qua. Giải pháp thay thế ? Vậy có giải pháp nào để thay thế cho cửa biển Hormuz hay không ? Giới trong ngành đồng loạt trả lời là có. Hiện đã có sẵn một số tuyến đường ống cho phép dầu của Ả Rập Xê Út vươn ra thế giới mà không cần phải đi qua eo biển Hormuz. Tập đoàn dầu khí khổng lồ Saudi Aramco của Ả Rập Xê Út đang khai thác đường ống East-West vốn đã được xây dựng trong chiến tranh Iran–Irak trong thập niên 1980. Abu Dhabi Crude Oil Pipeline được Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất khánh thành năm 2012 là một ngõ thoát hiểm thứ hai trong khu vực. Bản thân Iran, từ 2021 cũng đã chuyển dầu ra thế giới qua đường ống Goreh-Jask. Tuy nhiên, năng suất của các đường ống này có giới hạn. Theo báo cáo của Cơ Quan Năng Lượng Quốc Tế công bố tháng 6/2025, đường ống East-West có công suất 5 triệu thùng/ngày (trong khi sản lượng của Ả Rập Xê Út đạt 8,9 triệu thùng/ngày). Còn Abu Dhabi Crude Oil Pipeline đạt 1,5 triệu thùng/ngày (so với sản lượng hơn 2,9 triệu thùng/ngày của UAE). Tình huống khó khăn hơn đối với Irak, Kuwait và Qatar do các nhà sản xuất và xuất khẩu năng lượng này không có « kế hoạch B » trong trường hợp eo biển Hormuz bị phong tỏa. Nga hưởng lợi Câu hỏi cuối cùng nếu eo biển Hormuz bị phong tỏa lâu dài, ai là những bên bị thiệt hai hơn cả ? Ngoài các quốc gia sản xuất và xuất khẩu dầu khí trong vùng Vịnh, chắc chắn Châu Á là trên tuyến đầu. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), năm 2023, 83% dầu thô tiêu thụ tại châu Á do các nước ở Trung Đông và Vùng Vịnh cung cấp và phải đi qua eo biển Hormuz. Có điều châu Á là động lực tăng trưởng kinh tế toàn cầu hiện nay, cho nên chắc chắn là tăng trưởng của thế giới sẽ bị sụt giảm. Với chỉ khoảng 8%, Mỹ ít phụ thuộc vào dầu từ Vùng Vịnh cho nên có vẻ như Nhà Trắng không mấy lo lắng nếu eo biển Hormuz phải đóng cửa lâu dài. Tuy nhiên, một cuộc khủng hoảng dầu lửa đẩy giá dầu lên cao, lạm phát tại Mỹ cũng bị ảnh hưởng. Đây là điều hơn nửa năm trước bầu cử giữa kỳ, chính quyền Trump không muốn để xảy ra. Nói cách khác, giá dầu tăng sẽ gây tổn hại cho tất cả các nước nhập khẩu dầu trên thế giới, ngay cả nước không mua dầu Iran. Trái lại chiến sự và một đợt phong tỏa eo biển Hormuz kéo dài Matxcơva là bên hưởng lợi hơn cả, khi mà Ấn Độ, Trung Quốc sẽ phải trông cậy nhiều hơn vào dầu hỏa của Nga
Giáo chủ Iran Ali Khamenei, 86 tuổi, không chỉ nắm giữ quyền lực tại Iran mà còn là người đứng đầu cả một « đế chế tài chính Setad » trị giá hàng trăm tỷ đô la. Là một quốc gia giàu tài nguyên nhưng 40 % trong số 92 triệu người dân Iran sống dưới ngưỡng nghèo khó. Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo, với khoảng 200.000 quân, kiểm soát một chiếc « hộp đen » ngoài tầm mắt của các cơ chế giám sát tài chính quốc tế. Từ 15 năm qua kinh tế Iran gần như liên tục bị Hoa Kỳ và phương Tây trừng phạt, dù vậy, để bảo đảm sự tồn tại cho chế độ, đâu là bí quyết giúp Teheran vẫn có phương tiện tài trợ cho những cánh tay nối dài trong khu vực, như Hezbollah tại Liban hay các nhóm vũ trang thuộc lực lượng Hachd al-Chaabi ở Irak, phong trào Hồi Giáo Hamas của người Palestine : Những lá chắn giữa Iran và Israel. 100 tỷ đô la nhờ xuất khẩu dầu hỏa Theo tuần báo Anh The Economist ấn bản ngày 17/10/2024, « Các công ty bình phong, một mạng lưới tài chính ngầm rộng lớn và Trung Quốc là ba lá chủ bài » của Iran trong nhiều thập niên qua. Các công ty bình phong là công cụ để chuyển và rửa tiền từ các khoản giao dịch mua bán dầu và vũ khí, như với Nga - nhất là từ khi Iran cung cấp drone cho Matxcơva sử dụng trên chiến trường Ukraina. Tạp chí Time Magazine thẩm định dầu hỏa chiếm 70 % thu nhập của Iran và với khả năng cung cấp từ 3 đến 4 triệu thùng dầu một ngày, doanh thu của Setad trong tay giáo chủ Khamenei, năm 2025 đã lên tới 100 tỷ đô la Mỹ. Báo tài chính Arabian Gulf Business Insight lưu ý sau đợt giao tranh giữa Israel và Iran, tháng 6/2025 Hoa Kỳ đã ban hành thêm các biện pháp trừng phạt Teheran, nhưng vô ích, bởi Iran đã quá quen cách vượt rào và đã xây dựng một mạng lưới tài chính ngầm cho phép Ngân Hàng Trung Ương « trực tiếp thu tiền từ khi dầu hỏa rời khỏi các giàn khoan. Nếu như Iran đã mất hẳn những thị trường Âu, Mỹ thì 95 % xuất khẩu dầu thô Iran đổ về Trung Quốc » như The Economist ghi nhận. Trong hệ thống này, không ít các công ty bình phong đã được dựng lên tại Iran, Trung Quốc và phần lớn các khoản giao dịch đó không cần phải sử dụng đến đồng đô la Mỹ để thanh toán. 200 tỷ đô la trong « két tiền » của Vệ Binh Cách Mạng Vào lúc tàu chiến của Hoa Kỳ hiện diện tại Trung Đông trong những ngày đầu 2026, tổng thống Trump dọa Teheran « không còn nhiều thời gian » trước khi Washington mạnh tay tấn công, tương lai của chế độ liên tục cầm quyền từ sau cuộc cách mạng năm 1979 có vẻ bấp bênh hơn bao giờ hết, truyền thông phương Tây khẳng định giáo chủ Khamenei và những người thân cận, đang làm chủ một kho bạc khổng lồ hàng trăm tỷ đô la. Từ năm 2013 kho bạc bí mật đó đã vượt ngưỡng tâm lý 100 tỷ đô la. Quỹ nghiên cứu của Mỹ Foundation for Defense of Democaties ước tính, hiện tại, số tiền này « đã được nhân lên gấp đôi » và do Setad quản lý. Setad là một con bạch tuộc, hiện diện và thậm chí chiếm thế độc quyền, hoặc gần như độc quyền trong nhiều lĩnh vực then chốt từ bất động sản đến các ngành công nghiệp dầu khí, các tập đoàn khai thác khoáng sản, sân bay, hải cảng, ngân hàng, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông và đương nhiên là cả ngành công nghiệp vũ khí. Với thời gian Setad từng bước trở thành một « két tiền » của chế độ ở Teheran, hoàn toàn biệt lập với ngân sách quốc gia. Đây cũng là công cụ để giáo chủ Khamenei từ đầu thập niên 1990 củng cố quyền lực chính trị, quân sự và cả trên bàn cờ khu vực … Giới trong ngành gọi thực thể này là một chiếc « hộp đen », cất giấu « hàng trăm tỷ đô la » để Vệ Binh Cách Mạng -Pasdaran, theo tiếng Ba Tư, toàn quyền sử dụng ngoài vòng kiểm soát của các định chế tài chính ngân hàng quốc tế. Báo chí phương Tây còn tiết lộ, một trong những nhân vật quan trọng nhất điều hành Setad chính là Mojtaba Khamenei, 57 tuổi, con trai giáo chủ Iran. Nhiều nguồn tin thông thạo được các hãng tin Anh, Mỹ trích dẫn thậm chí còn nói rõ, Setad dưới sự điều hành của giáo chủ và gia đình Khamenei đã bắt rễ khá sâu vào Venezuela, nhất là trong hai lĩnh vực xây dựng và dầu hỏa. Ngoài ra, qua các trung gian, thực thể này cũng đã hiện diện tại châu Âu, với những hệ thống khách sạn cao cấp ở Frankfurt - Đức, hay một vài « dự án bất động sản kín đáo hơn » tại Pháp, Ý … Phong trào nổi dậy tại Iran bùng lên nhiều ngày trong năm 2025 mà một trong những nguyên nhân chính là tình trạng kinh tế tồi tệ tại một quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên như Iran. Vào thời điểm đó, phải mất gần 1,5 triệu rial mới đổi lấy được 1 đô la Mỹ ; khoảng 40 % dân số Iran sống trong cảnh nghèo khó càng hoảng hốt và phẫn nộ khi thấy giá nhu yếu phẩm tăng 75 % trong một sớm một chiều. Hậu quả từ lệnh trừng phạt của Mỹ Trên kênh truyền hình Public Sénat hôm 12/01/2026 nhà nghiên cứu David Rigoulet -Roze, Viện Phân Tích Chiến Lược của Pháp IFAS, nhấn mạnh đến tính bất cập của cả một « hệ thống » kinh tế tại quốc gia dầu hỏa này. Rigoulet -Roze cũng là tổng biên tập tạp chí Orients Stratégiques, tác giả cuốn République Islamique d'Iran en crise systémique- Cộng hòa Hồi giáo Iran bị khủng hoảng có hệ thống, NXB L'Harmattan. « Chủ yếu là do hệ thống vận hành tại Cộng Hòa Hồi Giáo Iran. Đây không chỉ là một quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên mà còn có trình độ dân trí cao. Nghịch lý ở đây là vừa giàu tài nguyên thiên nhiên vừa có nhân lực rất tốt nhưng chỉ vì những lý do mang tính ý thức hệ nên Iran mới lún vào khủng hoảng như hiện nay. Đương nhiên, khủng hoảng tại quốc gia này thêm nghiêm trọng dưới tác động của các đợt trừng phạt kéo dài trong rất nhiều năm. Mọi người thường cho rằng, lệnh trừng phạt quốc tế, đặc biệt là chính sách gây áp lực tối đa của Hoa Kỳ là nguyên nhân, nhưng bên cạnh đó chính quyền Iran đã quản lý đất nước một cách quá kém cỏi. Thêm vào đó là quá nhiều những trục trặc trong hệ thống kinh tế, là vai trò độc quyền của Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo trong những lĩnh vực then chốt, là tình trạng tham nhũng triền miên … Hơn nữa một phần thu nhập quốc gia lại được dùng để nuôi dưỡng các lực lượng ở hải ngoại, như là phong trào Hồi Giáo Hezbollah ở Liban, hay Hamas của người Palestine, để làm những lá chắn bảo vệ an ninh của bản thân Iran. Công luận ý thức được là thu nhập quốc gia bị thất thoát ra nước ngoài… ». Thierry Coville, chuyên nghiên cứu về Iran tại Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược -IRIS, lấy làm tiếc cho một quốc gia có nhiều tiềm năng như Iran nhưng đã đánh mất cơ hội để trở thành một cường quốc khu vực. Thierry Coville là tác giả cuốn l'Iran, une puissance en mouvement -Iran, một cường quốc đang chuyển động, NXB Eyrolles « Nhờ thỏa thuận hạt nhân ký kết hồi năm 2015 mà phần lớn các biện pháp trừng phạt nhắm vào Iran đã được dỡ bỏ trong giai đoạn 2016-2017. Đó là một ngoại lệ duy nhất trong suốt nhiều năm trời, chính xác hơn là từ 2011 cho đến nay. Chính vì không bị trừng phạt cho nên trong thời gian 2016-2017 lạm phát đã hạ xuống còn dưới 10 %. Đến năm 2018 Donald Trump lại đưa Teheran vào danh sách đen và theo tôi, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng kiệt quệ hiện nay. Lạm phát hiện tại khoảng 30-40 %. Ngoài ra, hệ thống chính trị và kinh tế tại Iran khiến quốc gia này không thể phát huy hết tiềm năng, bởi vì một phần các hoạt động kinh tế quốc gia thuộc lĩnh vực ‘bán công', trong tay lực lượng mang tên Pasdaran theo tiếng Ba Tư, tức là Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo Iran. Đây chính là kho bạc của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran. Pasdaran được cho là kiểm soát từ 40% đến 70% GDP của Iran, theo tôi tỷ lệ đó có lẽ 20 % tức là 1 phần 5 tổng sản phẩm nội địa của nước này. Đây là một trọng lượng đã quá lớn rồi. Điều đó cũng có nghĩa là Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo Iran trực tiếp quản lý rất nhiều các doanh nghiệp trên toàn quốc (…) Cái khổ đối với Iran là quốc gia này thực sự có nhiều các doanh nhân thực thụ, thế nhưng lĩnh vực tư nhân chỉ tương đương 20 % GDP. Câu hỏi còn lại là để tồn tại, liệu chính quyền Teheran có sẵn sàng cải tổ cơ cấu để mở rộng vai trò của lĩnh lực kinh tế tư nhân hay không ? Điều này hết sức quan trọng vì đây trước hết là một vấn đề chính trị và nó đặt lại vai trò của khu vực mà tôi gọi là bán công, trong tay các vệ binh -Pasdaran. Các số liệu thống kê cho thấy tình trạng kiệt quệ kinh tế dẫn tới cuộc nổi dậy lần này. Khoảng 40 % dân số Iran sống trong cảnh nghèo khó mà nguyên nhân chủ yếu là do trừng phạt kinh tế Mỹ ban hành ». Mùa thu năm 2025 trước khi làn sóng phẫn nộ tại Iran lan tràn, một ngân hàng lớn ở Iran tuyên bố phá sản, hơn 7 triệu thân chủ trắng tay. Đó là ngân hàng Ayandeh, do một nhà tài phiệt thân cận với con trai giáo chủ Khamenei và với cựu tổng thống Iran Mahmoud Ahmedinejad sáng lập. Cùng lúc, báo chí tại Trung Đông và Âu Mỹ đưa tin, trong cuộc xung đột 12 ngày đêm hồi tháng 6/2025 với Israel, 10 tỷ đô la đã rời khỏi Iran và được chuyển đến Irak hay Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất.
Ngày 05/02/2026, hiệp định kiểm soát vũ khí hạt nhân chiến lược Mỹ - Nga New Start hết hiệu lực. Washington và Matxcơva không triển hạn hiệp ước được coi là thỏa thuận cuối cùng về vũ khí hạt nhân giữa hai đại cường. Nhiều người lo ngại về nguy cơ chạy đua hạt nhân bùng phát. Hiệp định hạt nhân New Start, được ký kết tại Praha năm 2010 dưới thời tổng thống Mỹ Barack Obama và tổng thống Nga Dmitri Medvedev, liên quan đến việc kiểm soát các vũ khí hạt nhân tấn công chiến lược. Cụ thể là giới hạn số đầu đạn hạt nhân của mỗi nước là 1.550, và tổng số phương tiện dàn phóng và oanh tạc cơ, triển khai và chưa triển khai là 800. Hiệp ước New Start không bao gồm các vũ khí hạt nhân chiến thuật, tên lửa hành trình, tên lửa siêu thanh, cùng các vũ khí không gian, các phương tiện tấn công tin học. New Start: « Thế cân bằng chiến lược » mong manh thời hậu Chiến tranh Lạnh Hiệp định New Start được triển hạn thêm 5 năm kể từ 2021 và hết hạn hôm nay. Bất chấp các áp lực quốc tế, Nga và Mỹ rút cục đã không gia hạn hiệp ước quan trọng này. Tối hôm qua, 04/02, tại trụ sở Liên Hiệp Quốc, tổng thư ký Antonio Guterres cảnh báo đây là « một thời điểm nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế », khi hai cường quốc sở hữu phần lớn kho vũ khí hạt nhân thế giới chấm dứt thỏa thuận pháp lý duy nhất ràng buộc hai bên, cho phép kiểm soát thế cân bằng về loại vũ khí răn đe mang tính hủy diệt này. Tình thế này vô cùng nguy hiểm, trong bối cảnh vũ khí hạt nhân ngày càng có nguy cơ bị sử dụng trong các xung đột. « Từ thời điểm sự cân bằng chiến lược này bị phá vỡ và nếu một cường quốc hạt nhân quyết định leo thang như điều chúng ta lo ngại với Nga trong bối cảnh chiến tranh ở Ukraina, sẽ có nguy cơ các sự kiện vượt khỏi tầm kiểm soát », theo Alain De Neve, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh và Quốc phòng Bỉ (IRSD) (bài « Đê vỡ »: nguy cơ xung đột hạt nhân gia tăng khi hiệp ước New START hết hiệu lực ngày 5/2, RTBF, ngày 02/02/2026). Cuộc chiến bốn ngày Ấn Độ - Pakistan hồi năm 2025 cho thấy vũ khí hạt nhân không hề bảo đảm là quốc gia sở hữu không bị tấn công. Cũng hôm qua, giáo hoàng Lêô XIV đưa ra cùng cảnh báo: « Ngày mai, Hiệp ước New START hết hạn. Hiệp ước, được ký kết năm 2010 bởi hai tổng thống Mỹ, Nga, đại diện cho một bước tiến quan trọng trong việc hạn chế sự phổ biến vũ khí hạt nhân. Tôi khẩn thiết kêu gọi tìm cách đảm bảo một sự tiếp nối cụ thể và hiệu quả. » Những hệ quả khi New Start chấm dứt: Lá chắn Golden Dome của Mỹ, Nga phát triển vũ khí tối tân mới… Việc Nga và Mỹ không triển hạn Hiệp định New Start có tác động ra sao đối với nguy cơ bùng phát chạy đua vũ trang, ông Daryl Kimball, giám đốc điều hành Hiệp hội Kiểm soát Vũ khí (Arms Control Association - ACA), trụ sở tại Washington D.C, thành lập từ năm 1971, giải thích: « Chúng ta đã đến tình trạng là, với việc hiệp ước này hết hạn, cả hai bên có thể, lần đầu tiên sau khoảng 35 năm, gia tăng tăng đáng kể số lượng vũ khí hạt nhân hiện có. Và điều này sẽ mở ra cánh cửa cho một cuộc chạy đua vũ trang nguy hiểm và không kiểm soát, không chỉ giữa Hoa Kỳ và Nga, mà còn liên quan đến Trung Quốc, quốc gia cũng đang tăng cường kho vũ khí hạt nhân, ít hơn nhưng vẫn rất nguy hiểm, để đáp trả hệ thống lá chắn tên lửa Golden Dome của Mỹ, bằng cách phát triển vũ khí tấn công đến mức làm bão hòa hệ thống, và tự tin có thể trả đũa bằng vũ khí hạt nhân. Điều này sẽ không giúp giảm bớt hoặc làm chậm lại cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Trên thực tế, nó sẽ làm tăng tốc. Đây là điều chúng ta thực sự cần tập trung trong năm nay và những năm tiếp theo. Thời điểm này thực sự đánh dấu một bước ngoặt rất quan trọng, đưa chúng ta vào một thời kỳ cạnh tranh hạt nhân toàn cầu nguy hiểm và khó lường gấp bội, một thời kỳ mà chúng ta hoàn toàn chưa từng chứng kiến. » Số lượng vũ khí hạt nhân hiện có, chưa cần tăng thêm, đã đủ hủy hiệt nền văn minh nhân loại, theo nhiều chuyên gia. Với việc Nga, Mỹ không triển hạn New Start, nhân loại gần đại thảm họa hơn bao giờ hết. Không phải ngẫu nhiên mà với Đồng hồ Tận thế do các nhà khoa học nguyên tử (Bulletin of the Atomic Scientists - BAS) Mỹ lập ra, theo sáng kiến của nhà bác học Albert Einstein, để báo động nhân loại trước đe dọa sống còn (như bom nguyên tử, biến đổi khí hậu…), kim đồng hồ chỉ còn cách nửa đêm (tức giờ Tận Thế) có 85 giây, gần hơn 4 giây so với năm ngoái, gần nhất từ trước đến nay, hơn cả khi Mỹ và Liên Xô bên bờ vực chiến tranh hạt nhân. Vì sao Nga, Mỹ không đạt thỏa thuận triển khai tiếp New Start ? Vì sao Nga, Mỹ không đạt thỏa thuận triển khai tiếp New Start ? Về vấn đề này, phía Nga và Mỹ đưa ra những giải thích khác nhau. Phát ngôn viên điện Kremlin, Dmitri Peskov, một mặt thừa nhận mối nguy hiểm của việc không triển hạn Hiệp định New Start, mặt khác đổ lỗi cho phía Washington không đáp ứng sáng kiến của Matxcơva : « Quý vị đều biết rằng sáng kiến của Nga, được tổng thống Putin nêu rõ, vẫn đang được xem xét. Chúng tôi vẫn chưa nhận được bất kỳ phản hồi nào từ phía Mỹ về sáng kiến này. Thật vậy, thời gian đang trôi qua nhanh như chớp, và chỉ trong vài ngày nữa, thế giới có thể sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm hơn nhiều so với hiện tại. Trên thực tế, lần đầu tiên, Mỹ và Liên bang Nga, hai quốc gia sở hữu kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới, sẽ không có một văn kiện nền tảng nào để hạn chế và kiểm soát các kho vũ khí này. Chúng tôi hiểu rằng tình hình này là rất tồi tệ, rất tồi tệ đối với an ninh toàn cầu, đối với an ninh chiến lược. » Về phía Mỹ, ngoại trưởng Marco Rubio cho rằng nguyên nhân chính của việc New Start không được triển hạn là do Trung Quốc, một cường quốc hạt nhân đang lên, không chấp nhận tham gia đàm phán về một hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân mới : « Bạn biết đấy, tổng thống Donald Trump đã từng nói rõ rằng, để có được sự kiểm soát vũ khí thực sự trong thế kỷ 21, không thể làm bất cứ điều gì mà không bao gồm Trung Quốc, bởi vì nước này có một kho vũ khí hạt nhân khổng lồ và đang phát triển nhanh chóng.» Đối đầu hạt nhân: Từ lưỡng cực đang chuyển thành thế « tam cực » Đòi hỏi Trung Quốc tham gia vào một hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân là quan điểm của nhiều đời tổng thống Mỹ. Ông Robert Peters, nghiên cứu viên cao cấp về Răn đe chiến lược tại Trung tâm Allison, thuộc Heritage Foundation, trong một cuộc tọa đàm của Viện tư vấn The International Institute for Strategic Studies IISS, Luân Đôn, giải thích rõ hơn về ý nghĩa của việc Mỹ không muốn gia hạn New Start trong tình trạng hiện nay : « Quan điểm của tôi là việc để New START hết hạn có lợi cho Hoa Kỳ. Trong khi việc gia hạn New START chỉ là một thỏa thuận chính trị để tiếp tục các giới hạn hiện tại về đầu đạn hạt nhân chiến lược đã triển khai, mà không có cơ chế thanh tra vũ khí. Việc gia hạn mà không bao gồm các biện pháp thanh tra và xác minh mới, sẽ có lợi cho Nga và Trung Quốc, nhưng gần như chắc chắn không có lợi cho Hoa Kỳ, cũng như các đồng minh của chúng ta ở Ấn Độ-Thái Bình Dương, hoặc châu Âu. Trung Quốc là cường quốc hạt nhân phát triển nhanh nhất trên hành tinh. Họ đang chế tạo 100 đầu đạn mới mỗi năm và hiện có nhiều hầm chứa tên lửa đạn đạo ICBM nhiều hơn số hầm chứa các tên lửa ICBM của Hoa Kỳ. New START không giải quyết được điều này. New START cũng không giải quyết được 2.000 vũ khí hạt nhân phi chiến lược của Nga. Nhưng việc để New START hết hạn sẽ mang lại cho Hoa Kỳ một số lựa chọn. Nếu Hoa Kỳ tăng số đầu đạn hạt nhân trên mỗi ICBM từ một lên hai, điều này sẽ cho phép chúng ta đặt cả mục tiêu hạt nhân chiến lược của Trung Quốc và Nga vào tình trạng nguy hiểm mà không cần phải triển khai thêm tên lửa… ». 1.500 đầu đạn hạt nhân : Ám ảnh Mỹ, Nga về hiểm họa Trung Quốc Hiệp định New Start là hệ quả của thế « ổn định chiến lược », đã được hai đại cường hạt nhân Mỹ và Nga (kế thừa Liên Xô) đúc kết trong bối cảnh thế đối đầu lưỡng cực. Tuy nhiên, từ gần hai thập niên trở lại đây, Trung Quốc đang trên đường khẳng định như một cường quốc hạt nhân có tiềm lực lớn, không che giấu ý định sánh vai với Mỹ. Bruno Tertrais (Quỹ Nghiên cứu Chiến lược Pháp), chuyên gia hàng đầu về răn đe chiến lược, trong một nhận định hồi 2010, khi Mỹ - Nga đúc kết hiệp định New Start, đã nhấn mạnh « một trong các tiêu chuẩn để hiệp định này chọn con số 1.550 đầu đạn là do nỗi sợ của cả Nga và Mỹ rằng một ngày nào đó Trung Quốc có thể sánh vai với hai đại cường ». Theo một số dự đoán của giới chuyên gia, vào khoảng 2035, với tốc độ phát triển hiện nay, Trung Quốc có thể sở hữu đến 1.500 đầu đạn hạt nhân các loại (The Economist, ngày 29/08/2023, trích thông tin bộ Quốc Phòng Mỹ). Nhiều chuyên gia Mỹ nhấn mạnh đến việc thế giới đang chuyển từ thế lưỡng cực sang thế « tam cực ». Theo nhiều nhà quan sát, Washington hiện chưa tìm được cách thức để xác lập một quan hệ nhằm hướng tới một « thế ổn định chiến lược » về hạt nhân với Bắc Kinh. Báo cáo của Ủy ban Quốc hội về Tư thế Chiến lược của Hoa Kỳ (tháng 10/2023), báo cáo gần nhất của Quốc hội về chiến lược hạt nhân của Mỹ, khuyến nghị rằng « một chiến lược để giải quyết mối đe dọa từ hai đối thủ hạt nhân ngang tầm (two-nuclear-peer) là điều kiện tiên quyết để xây dựng các giới hạn kiểm soát vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ trong giai đoạn 2027-2035 ». Ủy ban kết luận : « Kể từ năm 2009, môi trường an ninh đã xấu đi đáng kể và các mối đe dọa hiện hữu mới đã xuất hiện », « Hoa Kỳ hiện đang đối mặt với một thách thức có tính rủi ro cao, đòi hỏi hành động khẩn cấp. Tuy nhiên, Ủy ban chưa thấy chính phủ Hoa Kỳ thể hiện sự khẩn cấp và sáng tạo cần thiết để đáp ứng thách thức ». Đối thoại khó khăn Mỹ - Nga và cánh cửa để ngỏ của Matxcơva Riêng về quan hệ Mỹ - Nga trong lĩnh vực đối thoại về răn đe chiến lược, bất chấp việc New Start hết hiệu lực, một số chuyên gia như tiến sĩ Nikolai Sokolov, nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Giải trừ Quân bị và Phòng chống Phổ biến Vũ khí ở Vienna, không quá lo ngại. Trong cuộc tọa đàm với Viện tư vấn chiến lược International Institute for Strategic Studies IISS, Luân Đôn, ông nhấn mạnh đến vấn đề căn bản là hai bên cần nối lại các đối thoại thiện chí, đã cho phép đạt được các thỏa thuận về vũ khí răn đe chiến lược trước đây : « Thực sự, đó không phải là một quyết định lớn lắm. Thế cân bằng chiến lược rất khó bị thay đổi. Tôi thực sự không tin rằng trong một năm quý vị có thể triển khai thêm 400 đầu đạn hạt nhân hoặc thứ gì đó tương tự. Việc New Start hết hiệu lực không ảnh hưởng đến thế cân bằng chiến lược trong ngắn hạn. Tôi nhấn mạnh là trong ngắn hạn thôi. Điều quan trọng hơn không phải là gia hạn thêm một năm, mà là cần bắt đầu các cuộc tham vấn và đàm phán nghiêm túc về một hiệp ước mới, trong ba năm tới. Đó phải là các cuộc đàm phán thực sự. Về cơ bản, cần có các nhóm làm việc hàng ngày. Chúng ta đã có hai ví dụ về quy trình đó. Một là vào nửa cuối năm 2020, dưới thời Trump và hai là vào tháng 12/2021 dưới thời Biden, khá tích cực, nhưng quá ngắn để có thể thực sự mang lại kết quả nghiêm túc. Tôi cũng muốn lưu ý ở đây rằng vào mùa thu năm 2020, Matxcơva lần đầu tiên trong lịch sử kiểm soát vũ khí đã đồng ý đưa kho vũ khí hạt nhân của mình ra bàn đàm phán. Nhượng bộ đã bị rút lại kể từ năm 2021. Tuy nhiên, tất cả chúng ta thực sự biết rằng sẽ không bao giờ có thể hoàn toàn rút lại bất kỳ nhượng bộ nào đã đưa ra . » Tiến sĩ Nikolai Sokolov từng làm việc tại bộ Ngoại giao Liên Xô, và sau đó là Liên bang Nga, và đã tham gia vào các cuộc đàm phán kiểm soát vũ khí giữa Mỹ với Liên Xô trước đây và Nga sau nay (về các hiệp định tên lửa tầm trung INF, START 1, START 2…). Cân bằng về « Răn đe hạt nhân » thế giới: Để thoát hỗn loạn cần Trung Quốc tham gia Việc Nga, Mỹ không đạt thỏa thuận gia hạn Hiệp định New Start được đông đảo giới chuyên gia gắn liền với bối cảnh Trung Quốc đang trỗi dậy như một đại cường hạt nhân tương lai, chưa kể đến các căng thẳng địa chính trị toàn cầu đang thúc đẩy nhiều quốc gia tìm kiếm hoặc gia tăng sức mạnh hạt nhân. Trong thế giới « tam cực » mới này, vấn đề không chỉ là Mỹ và Nga phải hướng đến một thỏa thuận mới về cân bằng vũ khí chiến lược, mà một thỏa thuận về vấn đề này chỉ có thể được đúc kết với sự tham gia của các bên khác, đặc biệt là Trung Quốc. Để làm được điều này, điều kiện tiên quyết là các bên, trước hết là các đại cường, phải chấp nhận đối thoại, lắng nghe những lo ngại của nhau, điều không hề dễ dàng trong bối cảnh thế đối đầu địa chính trị, hoài nghi ngờ vực đang ngày một gia tăng. Bà Malorie Stewart*, phó chủ tịch điều hành của tổ chức phi chính phủ Hội đồng về Rủi ro về chiến lược răn đe hạt nhân, nhấn mạnh : « Các vũ khí tối tân mới mà tổng thống Nga Putin công bố vào năm 2018 xuất hiện từ lâu trước dự án lá chắn tên lửa Golden Dome của Mỹ. Nhưng chúng ta thấy có mối quan hệ giữa lo ngại của Nga, và ở một mức độ nào đó là của Trung Quốc, về hệ thống phòng thủ tên lửa của Hoa Kỳ và Hoa Kỳ hiểu điều đó. Nga đang nâng cấp các vũ khí tối tân mới của mình để tự cảm thấy mạnh hơn, Hoa Kỳ cần phải phản ứng về lo ngại này của Nga. Nga đang rung chuông cảnh báo khi họ tiếp tục thử nghiệm chúng, ông Putin tuyên bố đây là các siêu vũ khí để ngăn chặn tất cả các cuộc tấn công hoặc duy trì thế « ổn định chiến lược ». Tôi nghĩ thực sự cần bàn về điều này trong bối cảnh Nga và Trung Quốc mong muốn thảo luận về hệ thống lá chắn tên lửa Golden Dome của Mỹ. » * Chuyên gia Malorie Stewart từng giữ nhiều chức vụ cấp cao trong chính phủ Mỹ, gần đây nhất là trợ lý cục trưởng Cục Kiểm soát Vũ khí, Răn đe và Ổn định tại bộ Ngoại Giao Mỹ (2022-2025).
Mỹ là mẫu số chung của nhiều biến cố xảy ra trên thị trường dầu hỏa thế giới trong một chục ngày đầu năm 2026 : Can thiệp quân sự và kiểm soát xuất khẩu dầu hỏa của Venezuela ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi kinh tế của Bắc Kinh. Là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng khác của Trung Quốc, Iran bị Hoa Kỳ đe dọa nếu đàn áp người biểu tình. Hải quân Mỹ bắt giữ một tàu chở dầu mang cờ Nga làm dấy lên lo ngại về một « cuộc chiến dầu hỏa » giữa hai nhà sản xuất và xuất khẩu nặng ký của thế giới. Tổng thống Donald Trump đang tính toán những gì chưa đầy một năm đến kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ ? Sau các đòn « trừng phạt », và « thuế quan » đến lượt dầu hỏa trở thành công cụ phục vụ lợi ích an ninh và địa chính trị của nước Mỹ ? Sau nhiều tháng chuẩn bị, Mỹ đã can thiệp quân sự vào Venezuela. Ngay sau đó tổng thống Donald Trump thông báo chính quyền mới tại Caracas đã chuyển nhượng từ 30 triệu đến 50 triệu thùng dầu cho Hoa Kỳ, mở thêm van dầu cho dân Mỹ. Ông Trump cũng khẳng định Hoa Kỳ đã « lập tức » kiểm soát các hoạt động xuất khẩu dầu hỏa, chiếm 90 % tổng kim ngạch xuất khẩu của Venezuela và Washington « sẽ tiếp tục cung cấp dầu của Venezuela cho Trung Quốc ». Mục đích đối nội trước bầu cử giữa nhiệm kỳ Báo tài chính The Wall Street Journal tiết lộ tổng thống Hoa Kỳ muốn giữ giá dầu ở ngưỡng 50 đô la một thùng, thay vì từ 60 đến 65 đô la một thùng như hiện tại. Lý do tháng 11/2026 cử tri Mỹ được kêu gọi bầu lại 35 thượng nghị sĩ và 435 dân biểu ở Hạ Viện. Bầu cử giữa nhiệm kỳ sau gần 2 năm cầm quyền là một « cuộc hẹn » quan trọng đối với mỗi tổng thống Hoa Kỳ, Donald Trump không là một ngoại lệ. Trong một năm qua, giá 1 gallon xăng tại Mỹ đã giảm 8 % và đây là dấu hiệu rõ rệt nhất giảm chi phí sinh hoạt tại Mỹ và cũng là một " phương tiện hiệu quả để chinh phục lá phiếu cử tri trước bầu cử giữa nhiệm kỳ (mid-term)". Đối với các nhà sản xuất của Mỹ, cái giá 50 đô la một thùng dầu cũng được coi là ngưỡng « có thể chấp nhận được » họ vẫn có lãi để tiếp tục khai thác. Ngay sau chiến dịch quân sự tại Venezuela, Donald Trump đã lập tức khuyến khích các tập đoàn dầu hỏa Hoa Kỳ đầu tư vào quốc gia Nam Mỹ này. Trả lời báo Le Figaro, chuyên gia về dầu hỏa, Francis Perrin, giám đốc nghiên cứu Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp nhấn mạnh không là yếu tố duy nhất, nhưng dầu hỏa là một chìa khóa trong quyết định của tổng thống Trump về Venezuela : « Donald Trump rất rõ ràng và đã nhanh chóng hành động : chỉ trong vài ngày, Mỹ hoàn toàn làm chủ nguồn xuất khẩu dầu hỏa của Venezuela. Dầu hỏa ở đây là một trong những lý do thôi thúc Washington can thiệp vào quốc gia Nam Mỹ này, bên cạnh những vấn đề như là ma túy, nhập cư, hay tư tưởng chính trị của Caracas và nhất là những liên hệ giữa Venezuela với Trung Quốc cũng như với Iran ». Cũng tổng thống Trump kêu gọi các tập đoàn Mỹ mạnh dạn đầu tư vào Venezuela. Tuy là một trong những mỏ dầu tiềm năng nhất của thế giới và từng là một thành viên sáng lập của khối các quốc gia xuất khẩu dầu hỏa, nhưng Venezuela đã đánh mất hào quang. Sản lượng hiện tại ước chừng từ 900.000 đến 1 triệu thùng mỗi ngày. Để so sánh thì một quốc gia dầu hỏa khác cũng đang bị phương Tây trừng phạt là Iran, năm 2024 cung cấp từ 3,2 đến 3,5 triệu thùng dầu một ngày. Do vậy theo chuyên gia Francis Perrin, viện IRIS trước mắt các tập đoàn năng lượng của Mỹ không hào hứng như tổng thống Trump mong đợi. « Các tập đoàn dầu hỏa Mỹ là những công ty tư nhân. Họ chạy theo lợi nhuận nhưng không nhất thiết phải nghe theo chỉ định của tổng thống Trump. Không phải vì ông bảo họ lao vào Venezuela mà họ nghe theo. Các tập đoàn này căn cứ vào một số điều kiện trước khi quyết định đầu tư. Những điều kiện đó gồm : ổn định chính trị lâu dài, bởi vì ngành công nghiệp dầu hỏa cần đầu tư rất nhiều, đầu tư hàng chục tỷ đô la và phải mất 10 -20 thậm chí là 30 năm mới mong lấy lại vốn. Điều kiện thứ nhì để bỏ vốn vào Venezuela là các hãng Mỹ cầm chắc phải có lãi. Điều đó có nghĩa là sẽ phải đàm phán rất chi tiết với Caracas về hợp đồng khai thác, hoạt động … Về điểm này quyết định sau cùng thuộc về Venezuela. Yếu tố thứ ba mang tính quyết định tùy thuộc vào những dự phóng của các tập đoàn dầu hỏa về thị trường vàng đen trên thế giới trong trung và dài hạn. Xu hướng hiện nay là thế giới dư thừa dầu hỏa, cung nhiều hơn cầu. Giá dầu do luật thị trường định đoạt và hoàn toàn không do Caracas hay Washington quyết định ». Caracas đương nhiên phải chấp nhận Nhưng trong vấn đề dầu hỏa Venezuela, tổng thống Trump đã ghi được một bàn thắng quan trọng : Mỹ giành được từ tay chính quyền mới ở Caracas quyền quyết định về lượng dầu xuất khẩu của Venezuela. Chuyên gia về dầu hỏa Francis Perrin nhìn nhận đây là một thỏa thuận quá bất cân đối với Venezuela. « Các giới chức Venezuela không có sự lựa chọn nào khác. Caracas bắt buộc phải chấp nhận đàm phán và để cho Hoa Kỳ quyết định Venezuela được xuất khẩu bao nhiêu dầu, bán cho ai và với giá nào. Điều đó có nghĩa là Caracas không thể áp dụng chính sách giá cả ưu đãi với Cuba và nhất là với Trung Quốc » Mục tiêu đối ngoại : Từ Trung Quốc đến Nga Mỹ là mẫu số chung của ba sự kiện gần đây nhất liên quan đến ngành dầu hỏa toàn cầu là từ vụ can thiệp quân sự ở Venezuela đến việc Hải Quân Hoa Kỳ tạm bắt giữ một tàu dầu của Nga, và nhất là những diễn biến tại Iran, một mỏ dầu khác của thế giới. Tuy không mới nhưng Nga và Trung Quốc là những mục tiêu quan trọng nhất các nhà chiến lược của MỸ đang nhắm tới. Francis Perrin viện IFRI phân tích : « Rõ ràng, Trung Quốc trong tầm ngắm của Hoa Kỳ khi Washington can thiệp quân sự vào Venezuela. Chiến lược an ninh quốc gia Mỹ công bố tháng 12/2025 đã nhấn mạnh là không một cường quốc nào ngoài châu Mỹ và là những đối thủ của Hoa Kỳ được quyền sở những cơ sở mang tính chiến lược tại châu lục này. Với chính quyền Trump, dầu hỏa của Venezuela là một vấn đề chiến lược. Trung Quốc là khách hàng lớn nhất của Venezuela và lại mua dầu của nước này với giá rẻ. Ngoại trưởng kiêm cố vấn an ninh quốc gia của Nhà Trắng, Marco Rubio quan niệm thời kỳ đó đã chấm dứt ». Sự cố tàu dầu của Nga hôm 07/01/2025 bị bắt giữ từng làm dấy lên lo ngại Matxcơva sẽ trả đũa và có thể là bằng cách « cũng sẽ chặn bắt » các tàu dầu của Hoa Kỳ…. Nhưng kịch bản « một cuộc xung đột dầu hỏa » trực tiếp giữa Washington và Matxcơva tạm thời đã lắng xuống. Dù vậy giới phân tích lưu ý : Từ đầu những năm 2000, Nga đã thắt chặt quan hệ với Venezuela coi đây như một điểm nhất trong mục tiêu thách thức Hoa Kỳ đang dẫn dắt trật tự thế giới. Các ông Vladimir Putin và Hugo Chávez tận dụng mối quan hệ cá nhân tốt đẹp để thách thức Washington và mở ra một cánh cửa cho nước Nga tại châu Mỹ Latinh, như nhận định của Financial Times. Mua bán vũ khí và dầu hỏa là trọng tâm trong mối bang giao song phương. Do vậy giới quan sát đã ngạc nhiên trước phản ứng kín đáo của Nga khi Mỹ can thiệp vào Venezuela và bắt cóc tổng thống Maduro. Thực ra từ 2025 chính quyền Trump đã tìm cách chận nguồn thu nhập dầu của Nga. Rõ rệt nhất áp lực triền miên nhắm vào Ấn Độ. Nhà Trắng liên tục đòi New Delhi ngừng hay hạn chế mua vào dầu hỏa của Nga. Ẩn số Iran Trái lại thì lo ngại đang lớn dần khi mà tổng thống Mỹ dọa « can thiệp » kể cả bằng phương tiện quân sự vào Iran, đã khiến giới trong ngành thận trọng hơn hẳn. Trung Quốc là một trong những bên liên quan hàng đầu, do là khách hàng lớn nhất và gần như duy nhất, rất trung thành với dầu hỏa Iran. Năm ngoái Iran sản xuất dưới 3,5 triệu thùng dầu mỗi ngày và gần một nửa hoàn toàn chỉ để cung cấp cho Trung Quốc. Giám đốc nghiên cứu của viện quan hệ quốc tế và chiến lược IRIS của Pháp nói đến mối liên hệ chặt chẽ giữa dầu hỏa và chiến tranh : « Dầu hỏa và chiến tranh luôn gắn liền với nhau : lúc thì dầu hỏa là nguyên nhân dẫn đến chiến tranh, lúc thì đấy là một trong những lý do dẫn tới xung đột. Chiến tranh -như trường hợp của Ukraina từ đầu 2022 mang lại những hậu quả rất lớn đối với lĩnh vực dầu hỏa, năng lượng. Trong mọi trường hợp dầu hỏa nuôi dưỡng chiến tranh bởi vì xe thiết giáp, chiến xa … chiến đấu cơ hay tàu chiến cũng đều cần phải có xăng dầu … Trong trường hợp của Venezuela, vàng đen chỉ là một trong những yếu tố đã thúc đẩy Hoa Kỳ can thiệp ». Tham vọng chiếm đoạt tài nguyên Trong thời đại « ảo » thế giới cần những tài nguyên « thực » hơn bao giờ hết, cho nên yếu tố địa chính trị và tham vọng tài nguyên thiên nhiên càng lúc càng gắn chặt vào nhau. Francis Perrin, giám đốc nghiên cứu viện IRIS của Pháp kết luận. « Địa chính trị và tài nguyên thiên nhiên giờ đây gắn chặt vào nhau. Dầu hỏa là yếu tố quyết định trên bàn cờ năng lượng. Còn khoáng sản chiến lược thì đang nắm giữ chìa khóa trong những lĩnh vực then chốt như công nghiệp quân sự, công nghệ kỹ thuật số, công nghệ năng lượng sạch …Thế giới ảo ngày hôm nay thực ra rất cần những tài nguyên thực, những tài nguyên vật chất ». Điểm nhấn trong hồ sơ dầu hỏa hiện nay là ba biến cố đang diễn ra từ đầu năm 2026, có thể báo trước những gì có thể xảy ra trong những tranh chấp tài nguyên ở mọi nơi trên thế giới, kể cả ở Biển Đông.
Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nga đều là những cường quốc sử dụng sức mạnh để chiếm đoạt hoặc làm suy yếu các quốc gia, các vùng lãnh thổ hay nhóm khác. Đây là thách thức lớn nhất đối với thế giới trong năm 2026. Toàn cảnh kinh tế tiếp tục bị chi phối bởi những tham vọng của Trung Quốc về Biển Đông, Hoa Đông và eo biển Đài Loan, những tính toán chiến lược của Matxcơva đe dọa an ninh và ổn định của toàn châu Âu, vì chiến tranh thương mại do Mỹ khai mào, vì mục tiêu của chính quyền Trump « khôi phục lại thời kỳ vàng son » cho Hoa Kỳ. Các cuộc xung đột vũ trang, nguy cơ nổ ra cuộc chiến « khoáng sản chiến lược » phản ánh khuynh hướng chung của các thế lực mạnh nhất hiện nay về kinh tế, quân sự, hay chính trị. Phần còn lại trên thế giới, từ Canada, Brazil đến Úc hay khối ASEAN « cố gắng cầm cự », tránh chọc giận chủ nhân Nhà Trắng để hàng xuất khẩu sang Mỹ không bị đánh thuế cao hơn. Cho dù truyền thông quốc tế liên tục nói đến « nguy cơ Trung Quốc suy thoái », nhưng 7 nước công nghiệp phát triển nhất thế giới, kể cả Hoa Kỳ, vẫn muốn làm ăn với quốc gia hơn 1,4 tỷ dân này. Ảnh hưởng của Bắc Kinh với các khu vực từng được coi là sân sau của Mỹ, như các quốc gia Vùng Vịnh và nhất là châu Mỹ Latinh, ngày càng lớn. Hai nền công nghiệp hàng đầu châu Á là Nhật Bản và Hàn Quốc cố gắng « thích nghi với những thách thức mới ». Ấn Độ thì vẫn lệ thuộc vào Nga cả về quân sự và năng lượng. Trong khi đó, Liên Âu và Anh Quốc, một trong ba đầu máy tăng trưởng của toàn cầu, trên mặt trận kinh tế lâm vào thế « lưỡng đầu thọ địch » : bị cả hàng hóa và công nghệ Trung Quốc cạnh tranh, còn người bạn tốt Hoa Kỳ thì vừa dùng đòn thuế quan để o ép Bruxelles, Luân Đôn và giữ Lục Địa Già trong thế phụ thuộc vào công nghệ cao của Mỹ. Tại Nhà Trắng, chính quyền Trump theo đuổi mục tiêu mang lại hào quang cho nước Mỹ. Do vậy Washington tiếp tục « để mắt » đến vùng Groenland hiện do Đan Mạch quản lý, vì địa điểm chiến lược của quần đảo này sát với Bắc Cực, vì được cho là một vùng lãnh thổ giàu tài nguyên. Cũng nhằm « đưa Hoa Kỳ trở lại thời kỳ hoàng kim », chính quyền Trump đang giành lại ảnh hưởng trong vùng biển Caribe với mục tiêu sau cùng là « đẩy Trung Quốc ra khỏi khu vực Hoa Kỳ luôn coi là sân sau của mình ». Mỹ muốn gạt Trung Quốc ra khỏi châu Mỹ Latinh Mục tiêu này đang trở nên cấp bách khi biết rằng trong 25 năm qua tổng kim ngạch mậu dịch hai chiều giữa Trung Quốc và các nước Trung và Nam Mỹ đã được nhân lên gấp 42 lần. Tháng 5/2025 nhân thượng đỉnh Trung Quốc và khối các nước châu Mỹ Latinh (CELAC) Bắc Kinh đã cấp thêm 9 tỷ đô la tín dụng cho khối này. Theo giáo sư Emmanuel Véron chuyên gia về địa lý Học Viện Quân Sự Pháp -Ecole de Guerre « phần lớn các quốc gia trong vùng biển Caribe và Trung- Nam Mỹ đều xem Trung Quốc là một đối tác không thể thiếu, nhất là vào lúc Hoa Kỳ dưới nhiệm kỳ thứ hai của tổng thống Donald Trump đang cắt giảm mọi viện trợ quốc tế và đang chuẩn bị cho một cuộc xung đột quân sự trong vùng biển Caribe. Ngân Hàng Phát Triển và Ngân Hàng Ngoại Thương Trung Quốc hiện là hai chủ nợ lớn nhất tại « sân sau » này của Mỹ. Từ 2005, hai ngân hàng này cấp hơn 120 tỷ đô la tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân trong khu vực này, để đổi lấy năng lượng và các loại khoáng sản từ than đá đến uranium. Khoảng 70 % sắt do Brazil sản xuất chỉ để xuất khẩu sang Trung Quốc. Trung Quốc cũng là nơi mua vào 60 % đồng của Peru hơn 45 % khoáng sản của Bolivia… Trong mối quan hệ này, Bắc Kinh, theo giáo sư Véron, hành xử như « một kẻ săn mồi » chiếm đoạt tài nguyên của các quốc gia đang phát triển sát cửa ngõ Hoa Kỳ. Tại châu lục này, từ 2000 đến 2025 « Trung Quốc đã từng bước thế chỗ các đối tác truyền thống là Mỹ và châu Âu (…), để trở thành đối tác thương mại quan trọng nhất của một số quốc gia như Brazil, Achentina hay Peru, Bolivia và Chilê ». Hơn thế nữa, theo thời gian, « Châu Mỹ Latinh và các nước trong vùng biển Caribe đã trở thành một lá chủ bài trong chiến lược rộng lớn của Bắc Kinh » để « bao vây » Washington. Cạnh tranh về công nghệ « khốc liệt hơn » Không nhất thiết phải là một nhà chiêm tinh, rất dễ đoán 2026 tiếp tục là một năm « căng thẳng », tăng trưởng và đầu tư qua đó bị tác động lây. Tanguy Struye de Swielande, giáo sư về quan hệ quốc tế Đại học Công Giáo Louvain - Bỉ, lưu ý từ khi Donald Trump lên cầm quyền trong nhiệm kỳ đầu sau cuộc bầu cử tổng thống 2016, « căng thẳng về địa chính trị, sự cạnh tranh về công nghệ … đều đã mở đường cho một trật tự thế giới mới » nhưng đây là một mô hình « đa cực » mà ở đó các thế lực « bảo vệ quyền lợi của mình và định hình lại các vùng ảnh hưởng » … Mỹ, Trung Quốc và Nga đều trong tư thế của những con ó « săn mồi », những « puissances prédatrices ». Chính vì muốn mở rộng ảnh hưởng của Nga với khu vực mà tổng thống Vladimir Putin đã khởi động chiến tranh xâm lược Ukraina, chiếm thêm lãnh thổ và tài nguyên của nước láng giềng. Vì muốn khai thác tối đa những lợi thế của một quốc gia hùng mạnh nhất, mà tổng thống Trump đòi giành lại kênh đào Panama, đòi tuyên bố chủ quyền với từ Canada đến vùng tự trị Groenland do Đan Mạch quản lý. Cũng để khẳng định vị trí siêu cường, hai nền kinh tế hàng đầu thế giới là Hoa Kỳ và Trung Quốc đã lao vào một cuộc chiến thương mại, đọ sức về công nghệ và mở mặt trận « chiến tranh đất hiếm », chạy đua phát triển tiền ảo. Trung Quốc từ 2014 đã phát triển đồng tiền digital, tuy kết quả không như mong đợi nhưng rõ ràng là đã đi trước Bắc Kinh một bước. Theo giáo sư trường Paris School of Economics (PSE) Eric Monnet, Mỹ đang kỳ vọng vào tiền mã hóa để giành lại sân chơi đang bị Trung Quốc gặm nhấm và nhất là để ngăn ngừa khả năng nhân dân tệ cũng sẽ trở thành một đơn vị tiền tệ dự trữ, được hưởng những lợi thế « ngang hàng với đô la ». Trên đài truyền hình Arte, chuyên gia kinh tế Eric Heyer, giám đốc Đài Quan Sát Tình Hình Kinh Tế Pháp, đưa ra thêm một yếu tố vì sao tổng thống Trump lại rất phấn khởi với tiền Crypto: « Đồng tiền ảo có nhiều đặc điểm : Đầu tiên hết là không cần minh bạch, bất cứ ai cũng có thể giấu mặt để can thiệp. Đó là lợi thế không nhỏ cho các hoạt động bất hợp pháp. Yếu tố thứ nhì khiến ông Trump thích phát triển cryptocurrency là tỷ giá lên xuống rất mạnh, có nghĩa người ta cũng dễ làm giầu mà cũng dễ phá sản. Điểm thú vị thứ ba trong mắt tổng thống Mỹ là tiền digital không thuộc thẩm quyền của Cục Dự trữ Liên bang. Ông rất ghét định chế tài chính này ngay từ nhiệm kỳ đầu. Cho nên đây là cơ hội tốt nhất để Trump qua mặt Federal Reserve. Tiền ảo đáp ứng được tất cả những tiêu chuẩn này trong mắt tổng thống Hoa Kỳ và còn là công cụ cho phép thực hiện nhiều hoạt động không mấy minh bạch ». Châu Âu trong thế thủ Bên cạnh ba thế lực hàng đầu vừa nêu, cả ba đều trong tư thế của những « kẻ săn mồi », Liên Hiệp Châu Âu và Anh Quốc thực sự trong thế thủ. Giáo sư trường Khoa Học Chính Trị Paris Sébastien Yves Laurent đơn cử một trường hợp cụ thể cho thấy châu Âu hoàn toàn phụ thuộc vào công nghệ của Hoa Kỳ: « Từ 10-15 năm nay, ngân sách của Pháp dành cho công tác tình báo liên tục tăng lên ngay cả khi chi tiêu của nhà nước bị siết lại. Nhưng chúng ta cần biết nguồn vốn đó được sử dụng như thế nào. Tình báo là một hoạt động trong bóng tối với nhiều bí mật, dù vậy vẫn có thể phát hiện được là Pháp huy động khá nhiều phương tiện để đầu tư vào các công nghệ phục vụ cho những hoạt động tình báo. Hệ quả kèm theo là nguy cơ chúng ta lệ thuộc quá đáng vào các công nghệ mà bỏ qua những yếu tố khác. Tôi muốn nói là chúng ta sẽ tin tưởng quá nhiều vào công nghệ. Trong khi đó cốt lõi của lĩnh vực này là thu thập rồi phân tích thông tin. Công nghệ mới cho phép chúng ta phân tích một khối lượng dữ liệu rất lớn, nhưng thường đó là những nguồn mở. Do vậy công nghệ sẽ làm thay đổi hẳn cách xử lý thông tin trong ngành tình báo. Thêm vào đó các công cụ và công nghệ mà nhân viên tình báo châu Âu sử dụng cho đến nay là của Mỹ. Khác với nhân viên tình báo, các thiết bị điện tử và công nghệ sử dụng trong mục tiêu này không có tổ quốc ! » Chuyên gia Valérie Dagrand thuộc tổ chức Numeum, một hiệp hội chuyên về công nghệ số, cho biết thêm : « Theo một công trình nghiên cứu rất xác đáng được công bố gần đây, 80 % cơ sở hạ tầng cũng như phần mềm sử dụng trong lĩnh vực digital không do các tập đoàn châu Âu cung cấp, mà là của Mỹ. Thành thử châu Âu rất chậm trễ trong mục tiêu tự chủ về mặt công nghệ. Khả năng chọn lựa của châu Âu do vậy cũng rất hạn hẹp ». Chính vì để khắc phục nhược điểm này châu Âu đã có một số sáng kiến để « tự chủ » hơn về công nghệ. Khai mạc hội nghị công nghệ tại Berlin hôm 18/11/2025, thủ tướng Friedrich Merz đã thông báo một khoản đầu tư 12 tỷ euro, nhưng đây chỉ là một giọt nước so với những phương tiện của các tập đoàn Silicon Valley. « Rõ ràng là các công ty châu Âu đóng một vai trò đầu tàu để đem lại những phát minh mới trong lĩnh vực digital. Cũng rất đáng mừng khi thấy có nhiều doanh nghiệp của Đức, Pháp và châu Âu tham gia, hưởng ứng hội nghị này và đã hăng hái đầu tư. Chung cuộc đã huy động được thêm hơn 12 tỷ euro đầu tư vào công nghệ số và điều đó chứng minh châu Âu có tiềm năng để phát triển những công nghệ mới và từng bước tự chủ hơn trong lĩnh vực này ».
Trước khi trở thành một trong những vở opéra nổi tiếng nhất nhờ một giai điệu quen thuộc, quyến rũ và nóng bỏng, Carmen của nhà soạn nhạc người Pháp Georges Bizet từng bị một « cái dớp » : Bị khán giả la ó trong buổi ra mắt công chúng đầu tiên, rồi tác giả đã qua đời sau vỏn vẹn 33 lần vở kịch được diễn xuất. Bizet chết trẻ và không hề biết ông là cha đẻ của một tuyệt tác từng làm siêu lòng những nhạc sĩ bậc thầy như Tchaikovsky, Brahms. Riêng triết gia người Đức Friedrich Nietzsche thì từng thú nhận Carmen đã giúp ông trở thành một con người tốt hơn ! Carmen lấy cốt truyện từ một sáng tác cùng tên của nhà văn Pháp Prosper Mérimée. Vai nữ chính là cô Gypsy - bohémienne nóng bỏng, đầy ma lực quyến rũ chàng hạ sĩ Don José, để rồi rơi vào vòng tay của hiệp sĩ đấu bò Escamillo. Vở nhạc kịch mang tên cô gái làm nghề quấn thuốc lá trong một nhà máy ở Sevilla vùng Andalucia, miền nam Tây Ban Nha này do nhà hát Opéra Comique Paris đặt hàng với Georges Bizet và ông đã vất vả lắm mới hoàn tất tác phẩm này. Để chiều lòng ca sĩ chính, người thủ vai Carmen, Bizet đã phải viết lại đến 13 lần nhạc khúc hát nổi tiếng nhất trong vở kịch « L'Oiseau est un enfant rebelle ». Con số 3 xui xẻo Cũng đã vất vả lắm giữa rất nhiều công việc để tìm kế sinh nhai, Bizet mới tìm được thời gian và một không gian thích hợp để sáng tác nhưng để rồi chỉ nhận lấy những lời chê bai và thu về những thất vọng sau buổi ra mắt công chúng Paris đầu tiên ngày 03/03/1875. Có lẽ ngày Ba Tháng Ba không mang lại may mắn cho Bizet. Bị giới phê bình bài xích tột độ, khán giả tẩy chay vì một nàng Carmen vượt ra ngoài lễ giáo, dám phản bội người tình, dám tự do yêu đương, không phù hợp với hình ảnh tuyệt vời của người con gái chung thủy, dịu dàng, nhà hát Opéra Comique thường xuyên vắng khách vì Carmen … Bizet vốn đã túng thiếu lại càng phải bươn chải nhiều hơn, soạn nhạc nhiều hơn để bù đắp vào lỗ hổng tài chính vì … Trái tim tan vỡ Làm việc đến kiệt sức, Georges Bizet qua đời sau một cơn đau tim ngày 03/06/1875, đúng vào buổi vở Carmen được trình diễn lần thứ 33, thọ 36 tuổi … Lại là những con số Ba định mệnh! Vào lúc Bizet trút hơi thở cuối cùng ở Bougival cách Paris hơn 20 km, thì trên sân khấu Opéra Comique, lần thứ 33 nhập vai Carmen, nữ diễn viên chính Célestine Galli – Marié ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, như bị ma nhập, bà la khóc và nói Bizet đã từ trần ! Vienna, bệ phóng cho một vở opéra của Pháp Vào lúc mà khán giả Paris khinh rẻ vở opéra tâm huyết của Georges Bizet thì Carmen lại được khán giả của thành Vienna, Áo, nồng nhiệt chào đón. Hình ảnh một phụ nữ yêu hết mình, không cho phép ai – kể cả người tình chà đạp, rẻ khinh, một người đàn bà không khuất phục trước cái chết … Sức mạnh của Carmen đã hoàn toàn chinh phục giới phê bình và khán giả Vienna trong buổi ra mắt công chúng đầu tiên ngày 23 tháng 10 cùng năm 1875. Lại một lần nữa con số 3 xuất hiện. Từ đó Carmen chắp cánh bay xa từ Roma đến Luân Đôn và sang mãi đến tận New York hay Matxcơva, Saint Petersbourg … Nhà soạn nhạc người Nga Tchaikovski báo trước « chỉ trong 10 năm, Carmen sẽ là vở opéra ăn khách nhất hành tinh ». Nhạc sĩ dương cầm và cũng là một nhà soạn nhạc nổi tiếng của trường phái lãng mạn Johannes Brhams đã 20 lần đi xem và nghe tuyệt tác của Brizet. … Carmen đã nhiều lần được được dựng thành phim, mà một trong những người đầu tiên đưa tác phẩm này của Georges Bizet đến với nghệ thuật thứ Bảy là danh hài Charlie Charplin năm 1915. Bản La Habanera cũng đã vượt thời gian, cả ngàn lần, cả chục ngàn lần là nhạc nền cho các thí sinh tại các cuộc thi đấu quốc tế ở những thể loại từ vũ ba lê đến trượt băng nghệ thuật hay ba lê dưới nước … Từ năm 1994 bản nhạc này không thể thiếu trong mỗi lễ trao giải đua xe Công Thức 1. Biểu tượng của tự do và sức sống Làm sao có thể giải thích thành công này ? 150 năm sau buổi ra mắt đầu tiên vở kịch này, nhà phê bình Eric Emmanuel Schmidt giải thích : Không ai có thể dửng dưng với vở opéra Carmen, bởi vì đối với cô gái vùng Andalucia này, « không có Thượng Đế, quy củ nào trói buộc cô. Carmen hoàn toàn sống vì khoảnh khắc hiện tại, sống hết mình với tất cả nghị lực. Tác phẩm phẩm này kết thúc bằng cái chết của Carmen, nhưng tuyệt đối cô không hề nao núng hay lo sợ trước tử thần ». Carmen trước hết là hình tượng của một phụ nữ tự do, một tinh thần độc lập, một cá tính mạnh mẽ : dám yêu, dám giành quyền tự định đoạt cuộc đời. Khát vọng tự do đó là điều năm 1875 khán giả Paris, nhất là khán giả lui tới Opéra Comique của Paris chưa thể chấp nhận. Sự khắt khe đó với nhân vật chính Carmen đã tồn tại cho đến thập niên 1960. Diva Maria Callas đã bao lần nhập vai cô bohémienne không chung tình và tiếng hát, cách thể hiện của La Callas đến nay vẫn là độc nhất vô nhị, vậy mà bà không thể chấp nhận Carmen. Callas chỉ trích Carmen « hành xử như một người đàn ông đa thê. Nhưng phụ nữ thì không được phép có nhiều người tình ». Trong mắt nữ danh ca Maria Callas, « Carmen không thuộc về thế giới hoàn hảo ». Trái lại ca sĩ tenor Roberto Alagna người đã nhiều lần nhập vai hạ sĩ quan Don José, người tình bị Carmen phản bội, lại rất ngưỡng mộ các nhân vật được nhà văn Merimée và Bizet dựng lên. Với ông « Carmen là một tác phẩm hoàn hảo, bởi vừa phong phú về mặt hình ảnh, sắc màu, vừa khơi dậy rất nhiều tâm trạng của mỗi con người chúng ta, từ sự hào hứng đến nỗi lo sợ. Carmen là một tuyệt tác » Bạn diễn của nam danh ca ténor Roberto Alagna, nữ ca sĩ Elina Garania, đã nhiều lần thủ vai Carmen, nhận xét : « Thành công của vở opéra này chính là ở chỗ các tác giả, cả về lời thoại lẫn âm nhạc, đã khơi dậy nhiều cảm xúc khác nhau của con người. Ai thì cũng muốn tự do, ai cũng mưu cầu hạnh phúc, nhưng mỗi chúng ta lại có quan niệm riêng về hạnh phúc, về tự do. Ai cũng theo đuổi những giấc mơ, nhưng thực ra có mấy người biết được mình đang mơ về những gì ». 150 năm sáng tạo Đây cũng là điều đã đưa Carmen đến với những sân khấu rất xa lạ với khung cảnh của thành phố Sevilla miền nam Tây Ban Nha ban đầu : trên sân khấu ở Bắc Kinh hay Thượng Hải, nàng Carmen không phải là cô công nhân trong nhà máy cuốn thuốc lá, mà là một cô thợ giặt … Carmen đã chinh phục con tim của khán giả ở châu Mỹ Latinh khi vở opéra Georges Bizet từng dày công biên soạn được cải biên đôi chút để trở thành một vở Hip opéra, mang một chút phong thái của thể loại hip hop. Carmen cũng đã nhiều lần được các nhà soạn kịch tùy ý diễn giải, người thì quan niệm không thể để cho cô gái xinh đẹp và nồng cháy này chết thảm trong tay người tình Don José, vì những tràng pháo tay của khán giả khi vở opéra này hạ màn có thể bị ngộ nhận như một hành động cổ vũ cho các vụ bạo hành phụ nữ. Năm 2018 khán giả Ý trên sân khấu nhà hát ở Florence đã bàng hoàng thấy một Carmen giết chết người tình, vì một nhà soạn kịch đã dám thay đổi cả cốt truyện của Mérimée. Nhưng bất luận trong hoàn cảnh nào, Carmen vẫn là biểu tượng của tình yêu và tự do, của sức sống mãnh liệt và những con số 3 tưởng chừng là xui xẻo với vở ca nhạc kịch nổi tiếng nhất và tâm huyết nhất của Bizet thực ra chỉ là một chuỗi trùng hợp …
Trước khi trở thành một trong những vở opéra nổi tiếng nhất nhờ một giai điệu quen thuộc, quyến rũ và nóng bỏng, Carmen của nhà soạn nhạc người Pháp Georges Bizet từng bị một « cái dớp » : Bị khán giả la ó trong buổi ra mắt công chúng đầu tiên, rồi tác giả đã qua đời sau vỏn vẹn 33 lần vở kịch được diễn xuất. Bizet chết trẻ và không hề biết ông là cha đẻ của một tuyệt tác từng làm siêu lòng những nhạc sĩ bậc thầy như Tchaikovsky, Brahms. Riêng triết gia người Đức Friedrich Nietzsche thì từng thú nhận Carmen đã giúp ông trở thành một con người tốt hơn ! Carmen lấy cốt truyện từ một sáng tác cùng tên của nhà văn Pháp Prosper Mérimée. Vai nữ chính là cô Gypsy - bohémienne nóng bỏng, đầy ma lực quyến rũ chàng hạ sĩ Don José, để rồi rơi vào vòng tay của hiệp sĩ đấu bò Escamillo. Vở nhạc kịch mang tên cô gái làm nghề quấn thuốc lá trong một nhà máy ở Sevilla vùng Andalucia, miền nam Tây Ban Nha này do nhà hát Opéra Comique Paris đặt hàng với Georges Bizet và ông đã vất vả lắm mới hoàn tất tác phẩm này. Để chiều lòng ca sĩ chính, người thủ vai Carmen, Bizet đã phải viết lại đến 13 lần nhạc khúc hát nổi tiếng nhất trong vở kịch « L'Oiseau est un enfant rebelle ». Con số 3 xui xẻo Cũng đã vất vả lắm giữa rất nhiều công việc để tìm kế sinh nhai, Bizet mới tìm được thời gian và một không gian thích hợp để sáng tác nhưng để rồi chỉ nhận lấy những lời chê bai và thu về những thất vọng sau buổi ra mắt công chúng Paris đầu tiên ngày 03/03/1875. Có lẽ ngày Ba Tháng Ba không mang lại may mắn cho Bizet. Bị giới phê bình bài xích tột độ, khán giả tẩy chay vì một nàng Carmen vượt ra ngoài lễ giáo, dám phản bội người tình, dám tự do yêu đương, không phù hợp với hình ảnh tuyệt vời của người con gái chung thủy, dịu dàng, nhà hát Opéra Comique thường xuyên vắng khách vì Carmen … Bizet vốn đã túng thiếu lại càng phải bươn chải nhiều hơn, soạn nhạc nhiều hơn để bù đắp vào lỗ hổng tài chính vì … Trái tim tan vỡ Làm việc đến kiệt sức, Georges Bizet qua đời sau một cơn đau tim ngày 03/06/1875, đúng vào buổi vở Carmen được trình diễn lần thứ 33, thọ 36 tuổi … Lại là những con số Ba định mệnh! Vào lúc Bizet trút hơi thở cuối cùng ở Bougival cách Paris hơn 20 km, thì trên sân khấu Opéra Comique, lần thứ 33 nhập vai Carmen, nữ diễn viên chính Célestine Galli – Marié ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, như bị ma nhập, bà la khóc và nói Bizet đã từ trần ! Vienna, bệ phóng cho một vở opéra của Pháp Vào lúc mà khán giả Paris khinh rẻ vở opéra tâm huyết của Georges Bizet thì Carmen lại được khán giả của thành Vienna, Áo, nồng nhiệt chào đón. Hình ảnh một phụ nữ yêu hết mình, không cho phép ai – kể cả người tình chà đạp, rẻ khinh, một người đàn bà không khuất phục trước cái chết … Sức mạnh của Carmen đã hoàn toàn chinh phục giới phê bình và khán giả Vienna trong buổi ra mắt công chúng đầu tiên ngày 23 tháng 10 cùng năm 1875. Lại một lần nữa con số 3 xuất hiện. Từ đó Carmen chắp cánh bay xa từ Roma đến Luân Đôn và sang mãi đến tận New York hay Matxcơva, Saint Petersbourg … Nhà soạn nhạc người Nga Tchaikovski báo trước « chỉ trong 10 năm, Carmen sẽ là vở opéra ăn khách nhất hành tinh ». Nhạc sĩ dương cầm và cũng là một nhà soạn nhạc nổi tiếng của trường phái lãng mạn Johannes Brhams đã 20 lần đi xem và nghe tuyệt tác của Brizet. … Carmen đã nhiều lần được được dựng thành phim, mà một trong những người đầu tiên đưa tác phẩm này của Georges Bizet đến với nghệ thuật thứ Bảy là danh hài Charlie Charplin năm 1915. Bản La Habanera cũng đã vượt thời gian, cả ngàn lần, cả chục ngàn lần là nhạc nền cho các thí sinh tại các cuộc thi đấu quốc tế ở những thể loại từ vũ ba lê đến trượt băng nghệ thuật hay ba lê dưới nước … Từ năm 1994 bản nhạc này không thể thiếu trong mỗi lễ trao giải đua xe Công Thức 1. Biểu tượng của tự do và sức sống Làm sao có thể giải thích thành công này ? 150 năm sau buổi ra mắt đầu tiên vở kịch này, nhà phê bình Eric Emmanuel Schmidt giải thích : Không ai có thể dửng dưng với vở opéra Carmen, bởi vì đối với cô gái vùng Andalucia này, « không có Thượng Đế, quy củ nào trói buộc cô. Carmen hoàn toàn sống vì khoảnh khắc hiện tại, sống hết mình với tất cả nghị lực. Tác phẩm phẩm này kết thúc bằng cái chết của Carmen, nhưng tuyệt đối cô không hề nao núng hay lo sợ trước tử thần ». Carmen trước hết là hình tượng của một phụ nữ tự do, một tinh thần độc lập, một cá tính mạnh mẽ : dám yêu, dám giành quyền tự định đoạt cuộc đời. Khát vọng tự do đó là điều năm 1875 khán giả Paris, nhất là khán giả lui tới Opéra Comique của Paris chưa thể chấp nhận. Sự khắt khe đó với nhân vật chính Carmen đã tồn tại cho đến thập niên 1960. Diva Maria Callas đã bao lần nhập vai cô bohémienne không chung tình và tiếng hát, cách thể hiện của La Callas đến nay vẫn là độc nhất vô nhị, vậy mà bà không thể chấp nhận Carmen. Callas chỉ trích Carmen « hành xử như một người đàn ông đa thê. Nhưng phụ nữ thì không được phép có nhiều người tình ». Trong mắt nữ danh ca Maria Callas, « Carmen không thuộc về thế giới hoàn hảo ». Trái lại ca sĩ tenor Roberto Alagna người đã nhiều lần nhập vai hạ sĩ quan Don José, người tình bị Carmen phản bội, lại rất ngưỡng mộ các nhân vật được nhà văn Merimée và Bizet dựng lên. Với ông « Carmen là một tác phẩm hoàn hảo, bởi vừa phong phú về mặt hình ảnh, sắc màu, vừa khơi dậy rất nhiều tâm trạng của mỗi con người chúng ta, từ sự hào hứng đến nỗi lo sợ. Carmen là một tuyệt tác » Bạn diễn của nam danh ca ténor Roberto Alagna, nữ ca sĩ Elina Garania, đã nhiều lần thủ vai Carmen, nhận xét : « Thành công của vở opéra này chính là ở chỗ các tác giả, cả về lời thoại lẫn âm nhạc, đã khơi dậy nhiều cảm xúc khác nhau của con người. Ai thì cũng muốn tự do, ai cũng mưu cầu hạnh phúc, nhưng mỗi chúng ta lại có quan niệm riêng về hạnh phúc, về tự do. Ai cũng theo đuổi những giấc mơ, nhưng thực ra có mấy người biết được mình đang mơ về những gì ». 150 năm sáng tạo Đây cũng là điều đã đưa Carmen đến với những sân khấu rất xa lạ với khung cảnh của thành phố Sevilla miền nam Tây Ban Nha ban đầu : trên sân khấu ở Bắc Kinh hay Thượng Hải, nàng Carmen không phải là cô công nhân trong nhà máy cuốn thuốc lá, mà là một cô thợ giặt … Carmen đã chinh phục con tim của khán giả ở châu Mỹ Latinh khi vở opéra Georges Bizet từng dày công biên soạn được cải biên đôi chút để trở thành một vở Hip opéra, mang một chút phong thái của thể loại hip hop. Carmen cũng đã nhiều lần được các nhà soạn kịch tùy ý diễn giải, người thì quan niệm không thể để cho cô gái xinh đẹp và nồng cháy này chết thảm trong tay người tình Don José, vì những tràng pháo tay của khán giả khi vở opéra này hạ màn có thể bị ngộ nhận như một hành động cổ vũ cho các vụ bạo hành phụ nữ. Năm 2018 khán giả Ý trên sân khấu nhà hát ở Florence đã bàng hoàng thấy một Carmen giết chết người tình, vì một nhà soạn kịch đã dám thay đổi cả cốt truyện của Mérimée. Nhưng bất luận trong hoàn cảnh nào, Carmen vẫn là biểu tượng của tình yêu và tự do, của sức sống mãnh liệt và những con số 3 tưởng chừng là xui xẻo với vở ca nhạc kịch nổi tiếng nhất và tâm huyết nhất của Bizet thực ra chỉ là một chuỗi trùng hợp …
VOV1 - Khi mùa Giáng sinh và Năm mới 2026 đang đến gần, thủ đô Matxcơva lại khoác lên mình một diện mạo rực rỡ với ánh đèn lễ hội, những khu chợ Giáng sinh và dòng người tấp nập giữa giá lạnh mùa đông.
Với một bức tường thành kiên cố, Trung Quốc tự tin lao vào một cuộc đối đầu với Mỹ ở mọi hiệp trong trận chiến thương mại mà tổng thống Trump khai mào ngay từ những ngày đầu trở lại Nhà Trắng. Liên Âu bị kẹt giữa 2 thế lực Mỹ-Trung. Sau gần 4 năm « tự chủ về năng lượng », Bruxelles bớt phụ thuộc vào dầu khí của Nga để dựa vào các nhà sản xuất Hoa Kỳ, trong lúc năng lượng tái tạo chưa thực sự cất cánh. Năm 2025 sắp khép lại, các chủ đề trên đây đã làm lu mờ những khu vực khác trên thế giới. Có rất ít bài phân tích về tác động hai cuộc chiến tại Ukraina và Gaza với toàn cầu. Khu vực Trung Đông, châu Phi … chỉ thi thoảng được nhắc tới, khi tổng thống Hoa Kỳ công du các quốc gia vùng Vịnh, hay khi ông triệu tập các lãnh đạo của châu Phi đến Washington ký một thỏa thuận ngừng bắn tại một châu lục « rất xa xôi » trong mắt ông Trump. Các hội nghị thường niên của khối BRICS quy tụ những nền kinh tế đang trỗi dậy, của hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEAN, diễn đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á Thái Bình Dương APEC, các khối G7 hay G20 « chỉ họp hội nghị cho có lệ ». Tại G20 vừa qua ở Gyeongju, Hàn Quốc, tổng thống Mỹ đã vắng mặt. Donald Trump rời khỏi quốc gia Đông Bắc Á này sau thượng đỉnh Busan với lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình. Như thể về kinh tế, thế giới giờ đây chỉ còn lại hai cực là Mỹ và Trung Quốc. Trung Quốc, « too big to deal » Tháng 4/2025, sau ba tháng trở lại cầm quyền, tổng thống Mỹ dùng đòn « thuế đối ứng » mở một cuộc chiến thương mại với toàn cầu. Trong những tháng tiếp theo, từ Liên Hiệp Châu Âu đến Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc hay Việt Nam … hối hả cử phái đoàn sang Washington đàm phán, nhưng riêng Trung Quốc là một ngoại lệ. Sau nhiều vòng đàm phán với chính quyền Washington, các đối tác thương mại chính của Mỹ như Liên Hiệp Châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc thở phào nhẹ nhõm thấy hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ trung bình bị áp thuế 15% thay vì 30-40% như ông Trump đã dọa ban đầu. Sắc lệnh điều chỉnh mức thuế đối ứng, được công bố hôm 01/08/2025, duy trì mức thuế 20% với hàng Việt Nam thay vì 46% như đã loan báo 4 tháng trước đó. Nhà Trắng khẳng định đánh thuế hàng nước ngoài cho phép thu về « hàng chục tỷ, thậm chí là cả ngàn tỷ đô la » cho nước Mỹ. và Donald Trump dự trù dùng số tiền khổng lồ đó để giảm thuế cho các hộ gia đình và doanh nghiệp, tăng chi tiêu xã hội và quốc phòng … Cố vấn thương mại của Nhà Trắng Peter Navarro chừng mực hơn khi cho rằng « dưới sự dẫn dắt sáng suốt của tổng thống » khi sử dụng các đòn thuế quan, « ngân sách Hoa Kỳ mỗi năm thu về được thêm 600 tỷ đô la ». Để so sánh, kim ngạch nhập khẩu của Mỹ năm 2022 là 3.200 tỷ đô la. Trái lại, theo một nghiên cứu của đại học Yale, với mức thuế hải quan 25%, thu nhập của các hộ gia đình Mỹ sẽ bị sụt giảm từ 2.700 đô la đến 3.000 đô la mỗi năm. Trung Quốc chuyển từ thế « thủ » sang thế « công » Về phía Trung Quốc thoạt tiên đã nhường cho Hoa Kỳ tha hồ « leo thang » với những tuyên bố về hạn ngạnh thuế quan có lúc lên tới 240% … để rồi Bắc Kinh đổi chiến lược. Trung Quốc dùng đất hiếm để mặc cả với Donald Trump vào lúc Nhà Trắng có kế hoạch xây dựng « mái vòm vàng tự vệ » tựa như mái vòm chống tên lửa của Israel. Chuyên gia kinh tế Alix Franguel Alves thuọc quỹ nghiên cứu German Marshall Fund of the United States tại Washington trên đài RFI ghi nhận chính sách thuế quan của tổng thống Trump đi theo logic giành lại vị trí trung tâm trên bàn cờ thương mại thế giới, vào lúc mà Hoa Kỳ trong thế nhập siêu « thường trực ». Thâm hụt mậu dịch của Mỹ năm 2024 lên tới 3.000 tỷ đô la và trên bàn cờ thương mại toàn cầu, Mỹ chỉ còn chiếm 13% . Năm 2025 là năm mà mô hình « kinh tế toàn cầu hóa » bị « phân mảnh », các khối kinh tế khu vực ngày càng đóng vai trò lớn hơn. Bên cạnh tranh luận ai được ai thua trong cuộc đọ sức thương mại này, hậu quả trước mắt là các đối tác của Hoa Kỳ đã hối hả khởi động lại hoặc đúc kết đàm phán về môt thỏa thuận tự do mậu dịch. Châu Âu bất chấp những chống đối trong nội bộ ký kết bằng được thỏa thuận tự do mậu dịch với khối các quốc gia châu Mỹ Latinh MERCOSUR. Trung Quốc chạy nước rút để thông qua những thỏa thuận « đối tác chưa từng có » với quần đảo Cook ở mãi tận Nam Thái Bình Dương, hay khởi động đàm phán với Kirghistan tại Trung Á. Cũng chính sách bảo hộ này của Mỹ đã thúc đẩy Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc xích lại gần nhau để hướng tới « đàm phán về một thỏa thuận tự do mậu dịch » giữa ba quốc gia Đông Bắc Á này. Thế rồi, trong lúc Hoa Kỳ bắt thế giới phải chạy theo những thông báo « sốc » gần như hàng ngày của Donald Trump, Bắc Kinh đã từng bước xây dựng mạng lưới công nghiệp và công nghệ để chuẩn bị đối đầu với Mỹ. Tiêu biểu nhất là Trung Quốc đang dẫn đầu trong nhiều lĩnh vực chuyển đổi năng lượng, nhiều nước châu Âu đang cố gắng học hỏi công nghệ chế tạo bình điện cho xe ô tô của Trung Quốc và đòi các đối tác Trung Quốc « chuyển giao công nghệ » trong các dự án hợp tác. Hơn thế nữa, ngay cả trong các mảng mà tưởng chừng Hoa Kỳ đang dẫn đầu, như trí tuệ nhân tạo, sản xuất máy chế tạo bọ điện tử tiên tiến nhất … thì Trung Quốc cũng đã tạo bất ngờ. Điểm đáng chú ý sau cùng trong cuộc đọ sức Mỹ Trung là vào lúc tổng thống Trump dùng đòn hù dọa và o ép các đối phương bằng sức mạnh kinh tế, thì ông Tập Cận Bình trong năm 2025 đã dùng đúng lá bài này kể cả đối với Donald Trump. Châu Âu bị kẹt giữa hai thế lực Năm 2025 vẫn là một năm mà tham vọng « tự chủ » về năng lượng, quốc phòng hay kỹ thuật số của toàn khối 27 nước châu Âu vẫn còn ngoài tầm tay. Trên đài phát thanh Pháp France Culture hôm 10/12/2025 chuyên gia Olivier Blanchard, nguyên kinh tế trưởng Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, lấy làm tiếc cho một khối quốc gia thịnh vượng và có nhiềm tiềm năng như Liên Hiệp Châu Âu : « Châu Âu đương nhiên gặp nhiều khó khăn, tất cả không đều do lỗi của ông Trump. Trước hết có những vấn đề nội bộ : Châu Âu đang đối mặt với hiện tượng các đảng cực hữu đang lên và cánh này không có khuynh hướng ủng hộ châu Âu. Hệ quả là Liên Âu bị tê liệt, không đưa ra được những quyết định dứt khoát. Đây thực sự là cả một vấn đề lớn với khối này, nhất là trong bối cảnh môi trường quốc tế bất thuận lợi vì hai thế lực Mỹ và Trung Quốc. Với Hoa Kỳ, Liên Âu không thực sự có vũ khí để mặc cả bất kỳ điều gì : Châu Âu không có đất hiếm như Trung Quốc và cũng không có bất kỳ một phương tiện nào để đánh trúng những nhược điểm của đối thủ này. Đó là một thực tế. Thế còn đối với Trung Quốc, thì đây tựa như một bàn billard 3 cú, tức là Mỹ đánh thuế hàng của Trung Quốc thì cũng sẽ ảnh hưởng đến Liên Hiệp Châu Âu. Lý do : Trung Quốc không thể xuất khẩu hàng sang Hoa Kỳ nên tăng tốc, ồ ạt xuất khẩu sang châu Âu. Châu lục này sẽ phải đối mặt với một làn sóng hàng Trung Quốc. Đối với nền công nghiệp của châu Âu, vấn đề chính là Trung Quốc. Bắc Kinh đã chủ trương phát triển một chiến lược khá tốn kém, tức là dùng rất nhiều tiền, để hỗ trợ cho các doanh nghiệp để giúp họ phát triển. Đương nhiên trong số các doanh nghiệp được giúp đỡ cũng có không ít thất bại, thế nhưng, những ai mà đã thành công để vươn lên thì họ đã bắt đầu với những lợi thế vô cùng to lớn, vì được nhà nước giúp đỡ. Trong những điều kiện đó, rất khó để các tập đoàn châu Âu cạnh tranh lại được ». Nga-Mỹ ngầm bắt tay hợp tác trên lưng Ukraina Riêng có Ukraina là một hồ sơ mà chủ nhân Nhà Trắng liên tục theo dõi từ ngày đầu trở lại cầm quyền : Donald Trump từng khẳng định chỉ cần 24 giờ để chấm dứt chiến tranh, nhưng mọi việc kéo dài hơn ông mong đợi. Cũng trong nỗ lực vãn hồi hòa bình tại Ukraina, tổng thống Mỹ đã mời nguyên thủ Nga sang Alaska tháng 8/2025. Nhưng kết quả vẫn chưa đi đến đâu. Tổng thống Trump bắt đầu « mất kiên nhẫn » trên vấn đề Ukraina. Điều đó không cấm cản Washington và Matxcơva âm thầm thúc đẩy hợp tác kinh tế. Báo The Wall Street Journal tuần trước thậm chí cho rằng các dự án hợp tác kinh tế giữa hai bên hiện đã đạt mức độ rất cụ thể, liên quan trực tiếp đến một số nhà tài phiệt Nga, đến một mỏ khí đốt tại Sakhalin, tại vùng biển Okhotsk, thuộc vùng Viễn Đông Nga. Về phía Matxcơva, từ tháng 2/2025 tổng thống Vladimir Putin đã chủ trì một cuộc họp về khai thác đất hiếm và đã đề cập đến các mỏ tài nguyên tại « những vùng lãnh thổ mới » tên mà Matxcơva gọi các vùng lãnh thổ vừa chiếm được của Ukraina, và để ngỏ khả năng mời các đối tác Mỹ cùng tham dự. Căn cứ vào các thông tin từ báo tài chính Mỹ, vào lúc Hoa Kỳ gây áp lực với Ấn Độ đòi New Delhi ngừng hay hạn chế mua vào dầu hỏa của Nga, chính quyền Donald Trump lại âm thầm đàm phán với Matxcơva cũng về năng lượng và dầu khí !
Bất chấp những áp lực của Hoa Kỳ, Ấn Độ vẫn mua dầu hỏa của Nga và Matxcơva vẫn là nguồn cung cấp năng lượng và vũ khí « đáng tin cậy » nhất cho quốc gia Nam Á này. Chuyên gia về địa chính trị Olivier Guillard thuộc viện nghiên cứu IEGA, Paris, nhận định tổng thống Vladimir Putin muốn khẳng định « quan hệ về năng lượng giữa Nga và Ấn Độ không bị áp lực quốc tế phá vỡ ». New Delhi lâm vào « thế kẹt » trong mối quan hệ tay ba Ấn-Nga-Mỹ nhưng không thể rời xa nguồn cung ứng « quan trọng nhất » đang bảo đảm 1/3 tổng kim ngạch nhập khẩu năng lượng cho toàn quốc. Tuần trước, trong chuyến công du Ấn Độ đầu tiên từ khi khởi động « chiến dịch quân sự » đặc biệt tại Ukraina, tổng thống Vladimir Putin vừa đặt chân đến New Delhi đã tuyên bố:« Nguồn dầu Nga cung dầu cho Ấn Độ sẽ tiếp tục mà không bị gián đoạn, bất chấp những áp lực từ bên ngoài ». Nga cung cấp 1/3 dầu hỏa cho Ấn Độ Phải đặt tuyên bố này trong bối cảnh từ năm 2022 khi Nga xâm chiếm Ukraina, dưới tác động của các lệnh trừng phạt mà phương Tây ban hành, xuất khẩu năng lượng của Nga sang châu Âu - khách hàng quan trọng nhất, giảm gần 80 %. Các tập đoàn dầu khí của Nga lập tức chuyển hướng sang châu Á, trông cậy nhiều vào Ấn Độ và Trung Quốc. Cả hai đã trở thành những khách hàng quan trọng nhất. Riêng Ấn Độ, từ năm 2024 bất ngờ qua mặt Trung Quốc, nhập khẩu đến hơn 2 triệu thùng dầu của Nga mỗi ngày, chiếm hơn 1/3 tổng kim ngạch nhập khẩu năng lượng của Ấn Độ. Cuối tháng 8/2025 tổng thống Donald Trump áp đặt mức thuế bổ sung 50% lên toàn bộ hàng hóa Ấn Độ nhập khẩu vào lãnh thổ Hoa Kỳ. Mục đích của Washington là gây sức ép, để New Delhi bớt mua dầu hỏa của Nga bởi khoản giao dịch này góp phần tài trợ cho cuộc chiến mà Nga đang tiến hành ở Ukraina. Đây cũng là một trong những yếu tố làm xấu đi quan hệ giữa Hoa Kỳ và Ân Độ. Chủ nhân Nhà Trắng cho biết, ông được thủ tướng Narendra Modi cam đoan là Ấn Độ « ngừng mua dầu của Nga ». New Delhi hoàn toàn im lặng về điều này cho dù theo các thống kê của hải quan Ấn Độ, trong giai đoạn từ đầu tháng 9 đến ngày 21/11/2025, tổng kim ngạch nhập khẩu dầu Nga của Ấn Độ giảm đi 30 %. Ấn Độ và chủ trương « không liên kết » Dầu hỏa là một trong hai hồ sơ quan trọng nhất trong bang giao giữa New Delhi và Matxcơva. Trả lời RFI Việt ngữ, chuyên gia Olivier Guillard thuộc Viện Nghiên Cứu về Địa Chính Trị Thực Hành -Institut d'Etudes de Géopolitique Appliquée -IEGA, Paris trước hết nhấn mạnh : tiếp đón trọng thể tổng thống Nga trong bối cảnh « cơm chẳng lành canh chẳng ngọt » với Mỹ, thủ tướng Modi thể hiện truyền thống không liên kết về đối ngoại của New Delhi. Hơn nữa hai hồ sơ lớn là năng lượng và quốc phòng luôn gắn chặt Ấn Độ với Nga : Olivier Guillard : « Chuyến thăm ngắn ngủi 27 giờ của tổng thống Nga tại Ấn Độ diễn ra đúng như những gì hai nhà lãnh đạo Vladimir Putin và Narendra Modi đã tính trước. Đây là một cuộc tái ngộ giữa hai đối tác lâu năm và họ rất ăn ý với nhau. Cả hai đánh giá cao đối tác và cũng chính những tình huống khó khăn giúp New Delhi và Matxcơva dễ dàng tạo dựng một liên minh. Đôi bên đã ký kết nhiều thỏa thuận, đặc biệt là về thương mại. Hợp tác mậu dịch giữa Ấn Độ và Nga đã mở rộng tới mục tiêu nâng tổng trao đổi mậu dịch hai chiều lên ngưỡng 100 tỷ đô la từ nay đến khoảng năm 2030. Đương nhiên đây là chuyến thăm đầu tiên của Vladimir Putin đến Ấn Độ kể từ khi Nga phát động cuộc chiến tại Ukraina. Phương tây muốn thủ tướng Modi dùng ảnh hưởng để thuyết phục tổng thống Nga trong vấn đề này ». Chiến tranh Ukraina đã truất phế Ả Rập Xê Út khỏi vị trí nhà cung cấp số 1 về dầu hỏa cho Ấn Độ. Cuối năm 2021, chỉ có 2 % nhập khẩu dầu vào Ấn Độ là do các tập đoàn Nga cung cấp, nhưng tỷ lệ này đã tăng vọt lên tới 35 % và có lúc lên đến 40 % trong năm 2024. Theo tạp chính năng lượng Connaissances des Energies, về dầu hỏa Ấn Độ phụ thuộc đến 85 % vào Nga. Có ít nhất hai lý do giải thích cho « bước nhảy vọt » nói trên: Nga cung cấp dầu cho Ấn Độ với giá thấp hơn nhiều so với thị trường. Theo tờ báo mạng Lenergeek Ấn Độ đang mua vào dầu của Nga với giá thấp hơn đến 12 % so với giá một thùng dầu Brent. Điểm thứ nhì là Ấn Độ nhập khẩu dầu thô của Nga, bảo đảm công tác lọc dầu trước khi xuất khẩu trở lại sang châu Âu và một số nước châu Á như Nhật Bản. Tiêu biểu nhất là đầu tư của Ấn Độ vào công nghiệp lọc dầu tăng mạnh từ 2023 đến nay. Olivier Guillard, viện IEGA Paris phân tích thêm : Olivier Guillard : « Về năng lượng, New Delhi từng bị chỉ trích mua dầu của Nga với giá rẻ trong khi một phần lớn dầu xuất khẩu của Nga bị phương Tây trừng phạt. Hoa Kỳ đang đòi Ấn Độ bớt mua dầu của Nga và chuyển hướng đến các nguồn cung cấp khác. Trên thực tế chính quyền Modi đã nhượng bộ Mỹ phần nào. Do vậy mục tiêu chuyến công du New Delhi lần này của tổng thống Vladimir Putin nhằm cứu vãn quan hệ đối tác năng lượng Nga – Ấn trong tương lai. Matxcơva cần được bảo đảm là liên hệ về năng lượng giữa hai nước vẫn không bị áp lực quốc tế phá vỡ. Chính vì thế mà ông Putin tuyên bố Nga vẫn cung cấp dầu hỏa cho Ấn Độ ». 70 % vũ khí của Ấn Độ do Nga cung cấp Đương nhiên hồ sơ quan trọng thứ hai và cũng đang chịu áp lực từ phía Mỹ là vấn đề quốc phòng : Hiện tại tổng trao đổi mậu dịch hai chiều giữa Ấn Độ và Nga đạt gần 70 tỷ đô la. Lãnh đạo 2 nước vừa cam kết nâng số này lên thành 100 tỷ trước ngưỡng năm 2030. Nhưng đây là một cán cân thương mại hoàn toàn bất lợi cho New Delhi. Nga do bán vũ khí và năng lượng xuất khẩu đến 64 tỷ đô la sang Ấn Độ năm ngoái, trong chiều ngược lại chỉ mua vào có 5 tỷ đô la hàng Made in India. Trước ngày tổng thống Putin gặp lại thủ tướng Modi ở New Delhi, Matxcơva để ngỏ khả năng đôi bên sẽ chính thức thông báo một loạt các hợp đồng vũ khí và thiết bị quân sự hạng nặng, nhưng theo các nguồn thạo tin, cho đến hôm nay, vẫn chưa có thêm thông tin về hợp đồng Matxcơva cung cấp tên lửa địa đối không tầm xa S-400 hay chiến đầu cơ Su-57 thế hệ mới nhất cho New Delhi. Một nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Quốc Tế Stockholm SIPRI trong thời gian từ 2010 đến 2017, 70 % đơn đặt hàng của Ấn Độ đều dồn cho các nhà cung cấp Nga, nhưng từ khi Matxcơva chiếm bán đảo Crimée của Ukraina, New Delhi bắt đầu đa dạng hóa các nguồn cung cấp, đặc biệt chuyển hướng tới các tập đoàn của Mỹ, Israel và của Pháp. Ấn Độ, « khách hàng Matxcơva không thể đánh mất » Trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng, thông điệp của tổng thống Vladimir Putin tuần trước với New Delhi cũng rất rõ ràng, như chuyên gia về địa chính trị viện IEGA Olivier Guillard nhận định : Olivier Guillard : « Hồ sơ lớn thứ hai, như thường thấy trong các cuộc thảo luận chiến lược giữa Nga và Ấn Độ, là vấn đề quốc phòng. Trong nhiều thập niên, Liên Xô xưa kia và nước Nga ngày nay luôn là nguồn cung cấp chính các trang thiết bị quân sự hạng nặng cho Ấn Độ — đặc biệt là máy bay chiến đấu, máy bay ném bom, cũng như các hệ thống phòng thủ tên lửa. Ấn Độ muốn tiếp tục hưởng lợi từ quan hệ đối tác này, bởi vì khi mua các hệ thống vũ khí hoặc máy bay chiến đấu, công tác bảo trì và theo dõi thiết bị kéo dài hàng chục năm; không thể « cắt đứt ngay lập tức » trong một sớm một chiều. Trong gần hai chục năm qua, New Delhi vẫn tương đối trung thành với nhà cung cấp Nga, nhất là trong bối cảnh quan hệ giữa New Delhi và Washington trở nên căng thẳng gần đây. Tương tự như trên vế năng lượng, Vladimir Putin đến Ấn Độ cũng là để nhắc nhở rằng Nga là một nhà cung cấp vũ khí đáng tin cậy ». Cuối cùng nhà địa chính trị học Guillard nhìn nhận vị trí khá tế nhị của thủ tướng Modi trong một ván cờ tay ba giữa Nga, Mỹ và Ấn Độ nhưng về năng lượng cũng như hợp tác quốc phòng, Vladimir Putin và Narendra Modi cùng muốn gửi đến tổng thống Donald Trump một thông điệp: Chính sách đối ngoại của Matxcơva hay New Delhi đều không do Hoa Kỳ định đoạt. Riêng đối với điện Kremlin, trên cả hai vế năng lượng và quốc phòng, Ấn Độ là « khách hàng không thể đánh mất ». Olivier Guillard : « Ngay hôm Thứ Hai, 08/12/2025 sau khi nguyên thủ Nga rời khỏi Ấn Độ, New Delhi đã tiếp nhiều quan chức Mỹ như thể để cân bằng lại mối quan hệ đồng thời trình bày về những gì đã thảo luận giữa thủ tướng Narendra Modi và tổng thống Vladimir Putin. Điều đó cho thấy Ấn Độ thận trọng giữ thế cân bằng giữa Nga và Mỹ. Tuy nhiên, New Delhi và Matxcơva đã ký một loạt thỏa thuận nhằm củng cố quan hệ đối tác kinh tế và và hợp tác song phương khá đa dạng chứ không chỉ bị thu hẹp ở các lĩnh vực năng lượng và quốc phòng. Hai đối tác lâu đời này muốn chứng minh rằng chính sách đối ngoại của mỗi bên không do Hoa Kỳ quyết định, và lợi ích của Ấn Độ cũng như của Nga không để Nhà Trắng chi phối. Trong cái thế tam giác giữa Ấn Độ - Mỹ và Nga, đến nay New Delhi vẫn giữ được thế chủ động, nhưng cũng có thể là chính quyền Modi được nhắc nhở là Mỹ không mấy hài lòng ».
“Washington muốn hợp tác chặt chẽ hơn với Việt Nam về mặt quân sự”. Mối quan hệ này được thể hiện qua việc Mỹ chuyển giao ba tàu tuần tra cho Cảnh sát biển Việt Nam (1), năm máy bay huấn luyện T-6C trên tổng số 12 chiếc (2). Một cột mốc quan trọng khác là chuyến công du Hà Nội của bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ Pete Hegseth đầu tháng 11/2025. Ông khẳng định “Hoa Kỳ quyết tâm theo đuổi những dự án này và nhiều dự án khác”. Việt Nam giữ vai trò như thế nào trong chiến lược quốc phòng vừa được tổng thống Trump điều chỉnh ngày 05/12, theo đó Trung Quốc vẫn là đối thủ “hàng đầu” của Mỹ ? Liệu Hà Nội có thể tăng cường mối quan hệ quân sự với Washington mà vẫn không tách rời Matxcơva ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon tại Viện Đông Á (Institut d'Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. RFI : Việt Nam nằm trong số các điểm dừng chân trong chuyến công du châu Á của bộ trưởng Chiến tranh Hoa Kỳ Pete Hegseth tháng 11/2025. Chuyến thăm này diễn ra trong bối cảnh nào ? Laurent Gédéon : Trước hết, cần lưu ý rằng ông Pete Hegseth được coi là một đồng minh thân cận của tổng thống Donald Trump và được biết là người có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc. Ngày 03/11, ông Hegseth kết thúc chuyến thăm Việt Nam kéo dài hai ngày, gặp bộ trưởng Quốc Phòng Phan Văn Giang và cam kết tăng cường quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Chuyến thăm này trùng với kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao song phương và hai năm nâng cấp lên thành Đối tác Chiến lược Toàn diện - cấp ngoại giao cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này diễn ra trong bối cảnh ngoại giao tế nhị, được đánh dấu bằng chuyến công du Bắc Triều Tiên của tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm ngày 09/10, dự lễ duyệt binh tại Bình Nhưỡng để kỷ niệm 80 năm thành lập đảng Lao Động Triều Tiên. Dĩ nhiên là chuyến công du đầu tiên của một quan chức cấp cao Việt Nam từ năm 2007 cũng được theo dõi sát sao ở Washington. Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư Tô Lâm thăm Bắc Triều Tiên, dự lễ 80 năm thành lập đảng Lao Động Việc tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam thăm Bình Nhưỡng có thể được phân tích trên hai cấp độ. Thứ nhất là thể hiện mong muốn của Hà Nội trong việc khôi phục quan hệ với Bình Nhưỡng bị đình trệ vì đại dịch Covid-19, Bắc Triều Tiên gần như đóng cửa hoàn toàn biên giới với du khách nước ngoài. Mặt khác, điều này có thể liên quan đến môi trường địa-chiến lược nhạy cảm ở Đông Nam Á, đặc biệt là liên quan đến Trung Quốc, cũng như sự bất cân xứng quân sự đặc trưng trong mối quan hệ Việt-Trung. Trong bối cảnh này, Hà Nội quan tâm đến các phương pháp hiện đại hóa hệ thống vũ khí Liên Xô do Bắc Triều Tiên phát triển, đặc biệt là không quân, bởi vì Việt Nam cũng được trang bị vũ khí hạng nặng từ Nga hoặc Liên Xô cũ. Mối quan tâm này có thể giải thích sự hiện diện của bộ trưởng Phan Văn Giang. Giả thuyết này càng được củng cố qua việc hai bên đã ký một thỏa thuận hợp tác quốc phòng song phương. Bên cạnh hai yếu tố này, Việt Nam cũng đang định hình là một trung gian tiềm năng nếu đối thoại giữa Mỹ và Bắc Triều Tiên được nối lại, như trường hợp hồi tháng 02/2019. Lập trường này sẽ giúp Hà Nội có được lợi thế ngoại giao quý giá đối với Washington, đặc biệt là trong giai đoạn quan hệ kinh tế song phương nhạy cảm. Chuyến thăm của bộ trưởng Pete Hegseth, diễn ra trong bối cảnh phức tạp như đã nói ở trên, còn được đánh dấu bởi mong muốn của Hà Nội trong việc tìm kiếm sự cân bằng giữa hợp tác với các bên liên quan trong khu vực, tìm kiếm ảnh hưởng của Mỹ làm đối trọng với Trung Quốc, và duy trì khoảng cách tương đối với Washington mà không cắt đứt quan hệ với Mỹ. RFI : Hoa Kỳ đã tạm dừng viện trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế USAID trên thế giới, yêu cầu các đối tác và đồng minh chi tiêu nhiều hơn cho an ninh của họ. Ngược lại, Washington lại công bố khoản tài trợ mới 130 triệu đô la cho dự án xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa, nâng tổng số viện trợ không hoàn lại lên 430 triệu đô la. Đâu là lý do có thể giải thích cho quyết định này ? Laurent Gédéon : Thông qua quyết định này có thể thấy kết quả của sự hợp tác về các vấn đề hậu chiến, vốn là nền tảng chính trị và biểu tượng thiết yếu trong quan hệ Việt-Mỹ. Năm 1995 khi bình thường hóa quan hệ, hai nước hợp tác trong việc rà phá bom mìn, tìm kiếm hài cốt quân nhân mất tích và tẩy sạch chất dioxin tại các căn cứ không quân cũ bị nhiễm của Mỹ. Vết tích chiến tranh vẫn in hằn đối với cả người Mỹ và người Việt Nam. Việc nêu bật hậu quả về con người và môi trường của các vụ ném bom của quân đội Mỹ ở Việt Nam đã nâng cao nhận thức tại Hoa Kỳ và thúc đẩy mong muốn giải quyết cuộc xung đột này. Bối cảnh này là một trong những yếu tố giải thích cho quyết định tài trợ của Washington. Đọc thêmMỹ - Việt Nam tăng cường hợp tác quân sự Ngoài ra, còn có một lý do khác liên quan đến mong muốn của Washington trong việc thúc đẩy bất cứ việc gì có thể giúp hai nước xích lại gần nhau về mặt chiến lược, cho dù chi phí không phải là nhỏ. Theo quan điểm của các chiến lược gia Mỹ, một Việt Nam trung lập nhưng hòa giải đối với Mỹ, hoặc thậm chí là một Việt Nam đồng minh, là một mục tiêu đặc biệt quan trọng, bởi vì sẽ giúp kiềm chế Trung Quốc. Đây chắc chắn là một trong những lý do cho sáng kiến của Mỹ. RFI : Liệu sự hợp tác về di sản chiến tranh có tạo nền tảng cho mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước sâu sắc hơn không ? Việt Nam có thể vận dụng sự hợp tác này như thế nào để phát triển quan hệ với một cựu thù ? Laurent Gédéon : Hợp tác về di sản chiến tranh chắc chắn rất quan trọng để củng cố quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Việc này cũng mang ý nghĩa chính trị nội bộ ở Việt Nam. Tại một đất nước mà cuộc chiến vẫn giữ ý nghĩa biểu tượng rất quan trọng đối với người dân, kể cả các thế hệ về sau, sự hợp tác về di sản chiến tranh này mang lại cho chính quyền tính chính danh chính trị cần thiết trong nỗ lực phát triển quan hệ với cựu thù. Tuy nhiên, sự hợp tác này không phải là động lực duy nhất thúc đẩy mối quan hệ Việt-Mỹ. Ngoài di sản chung của chiến tranh, mối quan hệ đó còn được thúc đẩy bởi thực tế cụ thể của bối cảnh địa-chiến lược hiện tại trong khu vực, được đánh dấu bằng sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chỉ riêng thực tế này cũng rất thuận lợi cho việc thúc đẩy các cuộc đàm phán giữa hai nước. Đọc thêmHoa Kỳ muốn hợp tác giúp Việt Nam có đủ vũ khí để tự vệ Các cuộc đàm về việc mua 24 chiến đấu cơ F-16, được tiết lộ ngày 22/04, cũng phải được đặt trong bối cảnh này. Mặc dù khởi đầu đầy hứa hẹn nhưng thỏa thuận lại không tiến triển trong chuyến thăm Hà Nội của bộ trưởng Pete Hegseth. Tuy nhiên, thất bại này không liên quan - hoặc chỉ liên quan tối thiểu - đến vấn đề ký ức lịch sử và di sản chiến tranh như vừa đề cập ở trên. Đó là lý do tại sao tôi nói rằng còn có những yếu tố tác động khác. Thật vậy, cần phải nói là song song với đàm phán Việt-Mỹ, nhiều cuộc đàm phán khác cũng diễn ra giữa Hà Nội và Matxcơva để Việt Nam mua chiến đấu cơ của Nga. Báo New York Times đưa tin vào ngày 27/10 rằng Hà Nội đã đặt mua vũ khí Nga trị giá 8 tỷ đô la, trong đó có 40 chiến đấu cơ Su-35 và Su-30. Nếu được xác nhận, hợp đồng này chứng minh hai điều : Thứ nhất, sự xích lại gần nhau ngày càng sâu sắc giữa Hà Nội và Matxcơva, và thứ hai, những thắc mắc của Việt Nam liên quan đến mức độ tin cậy lâu dài của Mỹ. Tuy nhiên, vì Washington hiểu rằng Việt Nam đã tăng cường quân sự đáng kể trong những năm gần đây, với ngân sách quốc phòng hiện chiếm gần 2% GDP, cho nên rất có thể Mỹ sẽ tiếp tục nỗ lực xích lại gần hơn bằng cách dựa vào những nền tảng được đặt ra trong hợp tác song phương về di sản chiến tranh, cũng như những chương trình hợp tác khác. RFI : Trong cuộc đối thoại ngày 02/11, bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam cũng bày tỏ mong muốn Mỹ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực quốc phòng và chia sẻ kinh nghiệm về an ninh mạng. Đâu là mục đích của Việt Nam trong việc này ? Laurent Gédéon : Đây là điểm đáng chú ý, bởi vì từ một năm nay, Việt Nam giữ vị thế nổi bật trong lĩnh vực an ninh mạng. Ngày 24/12/2024, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chính thức thông qua Công ước Liên Hiệp Quốc về Chống Tội phạm Mạng và chỉ định Hà Nội là địa điểm tổ chức ký kết. Lễ mở ký Công ước Hà Nội được tổ chức ngày 25 và 26/10/2025. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hợp tác quốc tế về an ninh mạng, đồng thời phản ánh tầm quan trọng đặc biệt cho ngành ngoại giao Việt Nam. Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, thiệt hại kinh tế hàng năm trên quy mô toàn cầu do tội phạm mạng dự kiến vượt quá 10.000 tỷ đô la Mỹ vào năm 2025, với hàng triệu cuộc tấn công mạng xảy ra mỗi ngày. Đọc thêmHơn 60 nước ký kết Công ước chống Tội phạm Mạng tại Hà Nội, nhiều tập đoàn kỹ thuật số tẩy chay Tại Việt Nam, cũng như nhiều nơi khác trên thế giới, tội phạm mạng ngày càng gia tăng về quy mô và tính chất phức tạp về bản chất, cũng như tác động. Theo thiếu tướng Lê Xuân Minh, cục trưởng Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm mạng, bộ Công An, năm 2024 đã xảy ra hơn 100.000 sự cố an ninh mạng. Tội phạm mạng chuyển hướng từ các cuộc tấn công đơn lẻ, quy mô nhỏ sang hoạt động xuyên quốc gia được tổ chức bài bản, nhắm vào các hệ thống quốc gia trọng yếu và các doanh nghiệp kinh tế lớn. Đầu tháng 12/2025, bộ Công An cũng đã cảnh báo về sự gia tăng nhanh chóng của các video và hình ảnh được AI tạo ra sau trận lũ lụt ở miền Trung Việt Nam một tuần trước đó. Rõ ràng đây là vấn đề dân sự. Nhưng vì có tính chất hỗn hợp, những vấn đề này thường đan xen giữa lĩnh vực dân sự và quân sự, hoặc thậm chí là an ninh dân sự và quốc phòng. Trong bối cảnh đó, Hoa Kỳ - quốc gia sở hữu một trong những chuyên môn hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này - rõ ràng có thể hỗ trợ Việt Nam, nếu Hà Nội yêu cầu, dưới hình thức đào tạo chuyên gia, cung cấp chuyên gia, chia sẻ dữ liệu số, xây dựng năng lực, thậm chí là hội nhập vào các mạng lưới quốc tế. Tuy nhiên, để đi xa hơn trong quá trình hợp tác này, ví dụ, liên quan đến việc chia sẻ kinh nghiệm từ xung đột Ukraina, có lẽ Việt Nam sẽ phải thay đổi triệt để các ưu tiên chiến lược và ngoại giao, trong đó có việc Hà Nội có thể sẽ phải tách khỏi Matxcơva và xích lại gần Washington, điều này sẽ đưa Việt Nam vào quỹ đạo đồng minh hoặc bán đồng minh của Mỹ. Nhưng đó sẽ là sự thay đổi mô hình mà Hà Nội có lẽ chưa sẵn sàng vào thời điểm này, cho dù được Washington khuyến khích. Do đó, hợp tác Mỹ-Việt trong lĩnh vực an ninh mạng nhiều khả năng sẽ vẫn ở mức độ hạn chế. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. (1) Hoa Kỳ mở rộng hợp tác quốc phòng Hoa Kỳ - Việt Nam với việc bàn giao máy bay huấn luyện T-6C (2) Hoa Kỳ chuyển giao tàu tuần tra thứ ba cho Cảnh sát Biển Việt Nam nhân kỉ niệm 30 năm quan hệ ngoại giao
“Washington muốn hợp tác chặt chẽ hơn với Việt Nam về mặt quân sự”. Mối quan hệ này được thể hiện qua việc Mỹ chuyển giao ba tàu tuần tra cho Cảnh sát biển Việt Nam (1), năm máy bay huấn luyện T-6C trên tổng số 12 chiếc (2). Một cột mốc quan trọng khác là chuyến công du Hà Nội của bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ Pete Hegseth đầu tháng 11/2025. Ông khẳng định “Hoa Kỳ quyết tâm theo đuổi những dự án này và nhiều dự án khác”. Việt Nam giữ vai trò như thế nào trong chiến lược quốc phòng vừa được tổng thống Trump điều chỉnh ngày 05/12, theo đó Trung Quốc vẫn là đối thủ “hàng đầu” của Mỹ ? Liệu Hà Nội có thể tăng cường mối quan hệ quân sự với Washington mà vẫn không tách rời Matxcơva ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon tại Viện Đông Á (Institut d'Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. RFI : Việt Nam nằm trong số các điểm dừng chân trong chuyến công du châu Á của bộ trưởng Chiến tranh Hoa Kỳ Pete Hegseth tháng 11/2025. Chuyến thăm này diễn ra trong bối cảnh nào ? Laurent Gédéon : Trước hết, cần lưu ý rằng ông Pete Hegseth được coi là một đồng minh thân cận của tổng thống Donald Trump và được biết là người có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc. Ngày 03/11, ông Hegseth kết thúc chuyến thăm Việt Nam kéo dài hai ngày, gặp bộ trưởng Quốc Phòng Phan Văn Giang và cam kết tăng cường quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Chuyến thăm này trùng với kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao song phương và hai năm nâng cấp lên thành Đối tác Chiến lược Toàn diện - cấp ngoại giao cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này diễn ra trong bối cảnh ngoại giao tế nhị, được đánh dấu bằng chuyến công du Bắc Triều Tiên của tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm ngày 09/10, dự lễ duyệt binh tại Bình Nhưỡng để kỷ niệm 80 năm thành lập đảng Lao Động Triều Tiên. Dĩ nhiên là chuyến công du đầu tiên của một quan chức cấp cao Việt Nam từ năm 2007 cũng được theo dõi sát sao ở Washington. Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư Tô Lâm thăm Bắc Triều Tiên, dự lễ 80 năm thành lập đảng Lao Động Việc tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam thăm Bình Nhưỡng có thể được phân tích trên hai cấp độ. Thứ nhất là thể hiện mong muốn của Hà Nội trong việc khôi phục quan hệ với Bình Nhưỡng bị đình trệ vì đại dịch Covid-19, Bắc Triều Tiên gần như đóng cửa hoàn toàn biên giới với du khách nước ngoài. Mặt khác, điều này có thể liên quan đến môi trường địa-chiến lược nhạy cảm ở Đông Nam Á, đặc biệt là liên quan đến Trung Quốc, cũng như sự bất cân xứng quân sự đặc trưng trong mối quan hệ Việt-Trung. Trong bối cảnh này, Hà Nội quan tâm đến các phương pháp hiện đại hóa hệ thống vũ khí Liên Xô do Bắc Triều Tiên phát triển, đặc biệt là không quân, bởi vì Việt Nam cũng được trang bị vũ khí hạng nặng từ Nga hoặc Liên Xô cũ. Mối quan tâm này có thể giải thích sự hiện diện của bộ trưởng Phan Văn Giang. Giả thuyết này càng được củng cố qua việc hai bên đã ký một thỏa thuận hợp tác quốc phòng song phương. Bên cạnh hai yếu tố này, Việt Nam cũng đang định hình là một trung gian tiềm năng nếu đối thoại giữa Mỹ và Bắc Triều Tiên được nối lại, như trường hợp hồi tháng 02/2019. Lập trường này sẽ giúp Hà Nội có được lợi thế ngoại giao quý giá đối với Washington, đặc biệt là trong giai đoạn quan hệ kinh tế song phương nhạy cảm. Chuyến thăm của bộ trưởng Pete Hegseth, diễn ra trong bối cảnh phức tạp như đã nói ở trên, còn được đánh dấu bởi mong muốn của Hà Nội trong việc tìm kiếm sự cân bằng giữa hợp tác với các bên liên quan trong khu vực, tìm kiếm ảnh hưởng của Mỹ làm đối trọng với Trung Quốc, và duy trì khoảng cách tương đối với Washington mà không cắt đứt quan hệ với Mỹ. RFI : Hoa Kỳ đã tạm dừng viện trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế USAID trên thế giới, yêu cầu các đối tác và đồng minh chi tiêu nhiều hơn cho an ninh của họ. Ngược lại, Washington lại công bố khoản tài trợ mới 130 triệu đô la cho dự án xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa, nâng tổng số viện trợ không hoàn lại lên 430 triệu đô la. Đâu là lý do có thể giải thích cho quyết định này ? Laurent Gédéon : Thông qua quyết định này có thể thấy kết quả của sự hợp tác về các vấn đề hậu chiến, vốn là nền tảng chính trị và biểu tượng thiết yếu trong quan hệ Việt-Mỹ. Năm 1995 khi bình thường hóa quan hệ, hai nước hợp tác trong việc rà phá bom mìn, tìm kiếm hài cốt quân nhân mất tích và tẩy sạch chất dioxin tại các căn cứ không quân cũ bị nhiễm của Mỹ. Vết tích chiến tranh vẫn in hằn đối với cả người Mỹ và người Việt Nam. Việc nêu bật hậu quả về con người và môi trường của các vụ ném bom của quân đội Mỹ ở Việt Nam đã nâng cao nhận thức tại Hoa Kỳ và thúc đẩy mong muốn giải quyết cuộc xung đột này. Bối cảnh này là một trong những yếu tố giải thích cho quyết định tài trợ của Washington. Đọc thêmMỹ - Việt Nam tăng cường hợp tác quân sự Ngoài ra, còn có một lý do khác liên quan đến mong muốn của Washington trong việc thúc đẩy bất cứ việc gì có thể giúp hai nước xích lại gần nhau về mặt chiến lược, cho dù chi phí không phải là nhỏ. Theo quan điểm của các chiến lược gia Mỹ, một Việt Nam trung lập nhưng hòa giải đối với Mỹ, hoặc thậm chí là một Việt Nam đồng minh, là một mục tiêu đặc biệt quan trọng, bởi vì sẽ giúp kiềm chế Trung Quốc. Đây chắc chắn là một trong những lý do cho sáng kiến của Mỹ. RFI : Liệu sự hợp tác về di sản chiến tranh có tạo nền tảng cho mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước sâu sắc hơn không ? Việt Nam có thể vận dụng sự hợp tác này như thế nào để phát triển quan hệ với một cựu thù ? Laurent Gédéon : Hợp tác về di sản chiến tranh chắc chắn rất quan trọng để củng cố quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Việc này cũng mang ý nghĩa chính trị nội bộ ở Việt Nam. Tại một đất nước mà cuộc chiến vẫn giữ ý nghĩa biểu tượng rất quan trọng đối với người dân, kể cả các thế hệ về sau, sự hợp tác về di sản chiến tranh này mang lại cho chính quyền tính chính danh chính trị cần thiết trong nỗ lực phát triển quan hệ với cựu thù. Tuy nhiên, sự hợp tác này không phải là động lực duy nhất thúc đẩy mối quan hệ Việt-Mỹ. Ngoài di sản chung của chiến tranh, mối quan hệ đó còn được thúc đẩy bởi thực tế cụ thể của bối cảnh địa-chiến lược hiện tại trong khu vực, được đánh dấu bằng sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chỉ riêng thực tế này cũng rất thuận lợi cho việc thúc đẩy các cuộc đàm phán giữa hai nước. Đọc thêmHoa Kỳ muốn hợp tác giúp Việt Nam có đủ vũ khí để tự vệ Các cuộc đàm về việc mua 24 chiến đấu cơ F-16, được tiết lộ ngày 22/04, cũng phải được đặt trong bối cảnh này. Mặc dù khởi đầu đầy hứa hẹn nhưng thỏa thuận lại không tiến triển trong chuyến thăm Hà Nội của bộ trưởng Pete Hegseth. Tuy nhiên, thất bại này không liên quan - hoặc chỉ liên quan tối thiểu - đến vấn đề ký ức lịch sử và di sản chiến tranh như vừa đề cập ở trên. Đó là lý do tại sao tôi nói rằng còn có những yếu tố tác động khác. Thật vậy, cần phải nói là song song với đàm phán Việt-Mỹ, nhiều cuộc đàm phán khác cũng diễn ra giữa Hà Nội và Matxcơva để Việt Nam mua chiến đấu cơ của Nga. Báo New York Times đưa tin vào ngày 27/10 rằng Hà Nội đã đặt mua vũ khí Nga trị giá 8 tỷ đô la, trong đó có 40 chiến đấu cơ Su-35 và Su-30. Nếu được xác nhận, hợp đồng này chứng minh hai điều : Thứ nhất, sự xích lại gần nhau ngày càng sâu sắc giữa Hà Nội và Matxcơva, và thứ hai, những thắc mắc của Việt Nam liên quan đến mức độ tin cậy lâu dài của Mỹ. Tuy nhiên, vì Washington hiểu rằng Việt Nam đã tăng cường quân sự đáng kể trong những năm gần đây, với ngân sách quốc phòng hiện chiếm gần 2% GDP, cho nên rất có thể Mỹ sẽ tiếp tục nỗ lực xích lại gần hơn bằng cách dựa vào những nền tảng được đặt ra trong hợp tác song phương về di sản chiến tranh, cũng như những chương trình hợp tác khác. RFI : Trong cuộc đối thoại ngày 02/11, bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam cũng bày tỏ mong muốn Mỹ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực quốc phòng và chia sẻ kinh nghiệm về an ninh mạng. Đâu là mục đích của Việt Nam trong việc này ? Laurent Gédéon : Đây là điểm đáng chú ý, bởi vì từ một năm nay, Việt Nam giữ vị thế nổi bật trong lĩnh vực an ninh mạng. Ngày 24/12/2024, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chính thức thông qua Công ước Liên Hiệp Quốc về Chống Tội phạm Mạng và chỉ định Hà Nội là địa điểm tổ chức ký kết. Lễ mở ký Công ước Hà Nội được tổ chức ngày 25 và 26/10/2025. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hợp tác quốc tế về an ninh mạng, đồng thời phản ánh tầm quan trọng đặc biệt cho ngành ngoại giao Việt Nam. Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, thiệt hại kinh tế hàng năm trên quy mô toàn cầu do tội phạm mạng dự kiến vượt quá 10.000 tỷ đô la Mỹ vào năm 2025, với hàng triệu cuộc tấn công mạng xảy ra mỗi ngày. Đọc thêmHơn 60 nước ký kết Công ước chống Tội phạm Mạng tại Hà Nội, nhiều tập đoàn kỹ thuật số tẩy chay Tại Việt Nam, cũng như nhiều nơi khác trên thế giới, tội phạm mạng ngày càng gia tăng về quy mô và tính chất phức tạp về bản chất, cũng như tác động. Theo thiếu tướng Lê Xuân Minh, cục trưởng Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm mạng, bộ Công An, năm 2024 đã xảy ra hơn 100.000 sự cố an ninh mạng. Tội phạm mạng chuyển hướng từ các cuộc tấn công đơn lẻ, quy mô nhỏ sang hoạt động xuyên quốc gia được tổ chức bài bản, nhắm vào các hệ thống quốc gia trọng yếu và các doanh nghiệp kinh tế lớn. Đầu tháng 12/2025, bộ Công An cũng đã cảnh báo về sự gia tăng nhanh chóng của các video và hình ảnh được AI tạo ra sau trận lũ lụt ở miền Trung Việt Nam một tuần trước đó. Rõ ràng đây là vấn đề dân sự. Nhưng vì có tính chất hỗn hợp, những vấn đề này thường đan xen giữa lĩnh vực dân sự và quân sự, hoặc thậm chí là an ninh dân sự và quốc phòng. Trong bối cảnh đó, Hoa Kỳ - quốc gia sở hữu một trong những chuyên môn hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này - rõ ràng có thể hỗ trợ Việt Nam, nếu Hà Nội yêu cầu, dưới hình thức đào tạo chuyên gia, cung cấp chuyên gia, chia sẻ dữ liệu số, xây dựng năng lực, thậm chí là hội nhập vào các mạng lưới quốc tế. Tuy nhiên, để đi xa hơn trong quá trình hợp tác này, ví dụ, liên quan đến việc chia sẻ kinh nghiệm từ xung đột Ukraina, có lẽ Việt Nam sẽ phải thay đổi triệt để các ưu tiên chiến lược và ngoại giao, trong đó có việc Hà Nội có thể sẽ phải tách khỏi Matxcơva và xích lại gần Washington, điều này sẽ đưa Việt Nam vào quỹ đạo đồng minh hoặc bán đồng minh của Mỹ. Nhưng đó sẽ là sự thay đổi mô hình mà Hà Nội có lẽ chưa sẵn sàng vào thời điểm này, cho dù được Washington khuyến khích. Do đó, hợp tác Mỹ-Việt trong lĩnh vực an ninh mạng nhiều khả năng sẽ vẫn ở mức độ hạn chế. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. (1) Hoa Kỳ mở rộng hợp tác quốc phòng Hoa Kỳ - Việt Nam với việc bàn giao máy bay huấn luyện T-6C (2) Hoa Kỳ chuyển giao tàu tuần tra thứ ba cho Cảnh sát Biển Việt Nam nhân kỉ niệm 30 năm quan hệ ngoại giao
Ngày 02/12/2025, tổng thống Nga Vladimir Putin đã tiếp đặc sứ Mỹ Steve Witkoff để thảo luận về bản kế hoạch hòa bình do tổng thống Donald Trump đề xuất, bao gồm 28 điểm được rút xuống còn 19 điểm. Sau năm giờ trao đổi, điện Kremlin cho biết chưa đạt được đồng thuận về những vùng lãnh thổ bị Nga chiếm đóng và sáp nhập. Tuy nhiên, theo đánh giá từ nhiều quan sát, bất chấp các nỗ lực ngoại giao từ nhiều phía, Nga sẽ không vội vã đúc kết thỏa thuận hòa bình vì nhiều lý do. Áp lực ngoại giao, chính trị và quân sự Trong vòng tám ngày, tổng thống Ukraina Volodymyr Zelensky đã hai lần đến Paris gặp gỡ đồng cấp Pháp Emmanuel Macron kể từ khi bản kế hoạch hòa bình 28 điểm do tổng thống Mỹ Donald Trump đề xuất được tiết lộ. Tổng thống Zelensky có thể kỳ vọng điều gì từ phía Pháp ? Sử gia quân sự Benoist Bihan, trong một chương trình truyền hình của báo Pháp Le Figaro, nhận định nguyên thủ Ukraina đến Pháp trước hết là để tìm kiếm một điểm tựa về ngoại giao vào lúc ông đang gặp khó khăn ít nhất trên ba phương diện : « Một mặt, ông ấy chịu áp lực quân sự từ Nga ngày càng mạnh trên chiến tuyến. Mặt khác, còn có sức ép chính trị và ngoại giao từ phía Mỹ buộc ông phải nhanh chóng ký kết một hiệp định hòa bình với những điều khoản mà vì những lý do chính trị nội bộ có lẽ khó thể chấp nhận được đối với người dân Ukraina. Hơn nữa, ông Zelensky, hiện đang bị suy yếu bởi vụ bê bối tham nhũng, dường như đang rơi vào tình huống mà những người theo đường lối cứng rắn, những người mang tư tưởng chủ nghĩa dân tộc cực đoan chắc chắn sẽ từ chối một nền hòa bình được coi theo các điều kiện của Matxcơva ». Người ta « thật khó mà không thấy chút lo lắng, thậm chí hoảng loạn từ phía tổng thống Zelensky », theo quan sát của cựu đại sứ Pháp tại Washington, Gérard Araud, trên kênh truyền hình tư nhân Pháp LCI. Vào thời điểm nhiều « pháo đài » của Ukraina như Povrovsk hay Vovchansk, những thành phố chiến lược, được cho là đã thất thủ, những cam kết viện trợ quân sự cho Ukraina từ châu Âu đang bị suy yếu dần. Châu Âu : Nguồn hỗ trợ tài chính, quân sự hạn hẹp Kho vũ khí đã qua sử dụng được dùng để trang bị cho Ukraina nay đã cạn kiệt, và một phần lớn số thiết bị này đã bị phá hủy trên chiến trường. Giờ đây, điều châu Âu có thể làm cho Ukraina là viện trợ tài chính, mà việc sử dụng khối tài sản Nga bị phong tỏa tại châu Âu, hiện do cơ quan tài chính Euroclear trụ sở tại Bỉ quản lý, đang là vấn đề gây tranh cãi. Tuy nhiên, theo đánh giá của nhà sử học quân sự Benoist Bihan, đây còn là điều « vạn bất đắc dĩ », vì việc sử dụng nguồn tài chính này cũng chẳng thể cải thiện được tình hình quân sự của Ukraina: « Đối với quân đội Ukraina, hàng tỷ đô la này sẽ đòi hỏi mất rất nhiều thời gian trước khi có thể được chuyển đổi thành những gì họ còn thiếu, cụ thể là vũ khí và nhất là thành những gì châu Âu không thể giúp đỡ họ, đó là cuộc khủng hoảng nhân sự. Quân đội Ukraina là một đội quân thiếu hụt cơ cấu nhân lực ». Những ngày cuối tháng 11 đầu tháng 12/2025, những nỗ lực ngoại giao từ Mỹ, Ukraina và châu Âu chưa cho thấy một tia hy vọng nào về hòa bình cho Ukraina. Sau năm giờ hội đàm giữa tổng thống Nga Vladimir Putin và đặc sứ Mỹ Steve Witkoff, điện Kremlin thông báo đôi bên chưa đạt được một thỏa hiệp nào về các vùng lãnh thổ mà Nga chiếm đóng và đòi sáp nhập. Nguy cơ chiến tranh kéo dài có thể là điều khó tránh. Và trong trường hợp này, nhà nghiên cứu về chiến lược quân sự Pháp, Benoist Bihan, trả lời Le Figaro, khẳng định Nga giờ có đủ tiềm lực để tiếp tục thực hiện chiến tranh như năm 2022. Điều này được thể hiện rõ qua khả năng của Nga duy trì liên tục các cuộc tấn công kể từ năm 2023. Kiev : Hạn chế về hỏa lực và sai lầm chiến lược Theo giải thích của Benoist Bihan, thiệt hại về nhân mạng của Nga trong năm 2025 đã giảm một nửa so với 2024, năm được cho là ác liệt nhất, và nhịp độ thiệt quân của Nga nằm trong khoảng từ 800 – 1200 quân mỗi tuần, mà đỉnh điểm có khi lên đến 1.400 quân. Cùng giai đoạn này, phía Ukraina cũng hứng chịu thiệt hại nhân mạng nặng nề. Benoist Bihan thừa nhận không thể biết được con số chính xác, nhưng đó sẽ là con số thống kê « khiếp hãi », có thể cao hơn rất nhiều so với Nga. Một mặt là do Nga đã tăng cường mạnh hỏa lực so với Ukraina khi điều động thêm không quân, các loại đạn pháo, đặc biệt là drone. Bên cạnh đó, với khoảng 140 triệu dân, Nga vẫn dễ dàng huy động thêm quân so với Ukraina chỉ có 28 triệu dân. Nước Nga của ông Putin còn có được một sự hậu thuẫn quân sự hiếm có từ Bắc Triều Tiên về đạn pháo và nhất là nhân lực, điều mà châu Âu đã không thể cung cấp. Mặt khác, đó còn là do sai lầm chiến lược của Ukraina. Khi tiến hành cuộc xâm nhập vào Kursk, vùng lãnh thổ của Nga, quân đội Ukraina hy vọng có thể chuyển hướng quân Nga trên mặt trận Donbass và mở ra một mặt trận thứ cấp, một điểm « cầm chân » quân Nga, để rồi có thể ghi điểm chính trị, nhất là đối với phương Tây, nhằm chứng tỏ rằng Kiev vẫn có khả năng tiến hành các chiến dịch tấn công và gây bất ngờ cho đối thủ. Chỉ có điều chiến dịch này đã để lại một khoảng trống chiến lược mà Nga đã tận dụng thành lợi thế chiến trường. Chuyên gia Benoist Bihan giải thích tiếp : « Nga đã nhanh chóng điều chỉnh, tái triển khai quân dự bị vì họ có sẵn, và điều đó đã trở thành một vấn đề thực sự lần này là cho phía Ukraina. Nói một cách khác, một khi họ đã xâm nhập vào lãnh thổ Nga, về mặt chính trị, việc từ bỏ những gì họ đã đạt được là rất phức tạp, và Nga đã lợi dụng điều này để sử dụng, trong vài tuần, thậm chí vài tháng, lực lượng dự bị chiến lược của quân đội Ukraina, mà họ đang thiếu để đối phó với các cuộc tấn công của Nga ». Chiến lược trì hoãn của tổng thống Nga Nhìn từ tổng quan này, nhà sử học về quân sự ghi nhận Ukraina khó thể tìm lại được thế chủ động, sự năng động như năm 2022, vào đầu cuộc chiến. Nhìn vào các chỉ số, tất cả các xu hướng đều trong « báo động đỏ ». Ukraina thiếu nghiêm trọng những người lính có kinh nghiệm để thực hiện các mục tiêu chiến lược, làm tiêu hao nguồn lực Nga, hoặc có thể ngăn chặn quân Nga, để rồi có thể dựa trên cơ sở này tiến hành các cuộc đàm phán. Đây cũng có lẽ là lý do vì sao Hoa Kỳ của Donald Trump hối thúc Ukraina ký kết hiệp định hòa bình. Khi nguyên thủ Mỹ nói rằng, « mọi thứ đang diễn ra không tốt đẹp ở Ukraina », đơn giản chỉ vì, « về mặt quân sự, thời gian càng trôi qua, vị thế đàm phán của Ukraina và các đồng minh càng yếu đi ». Chuyên gia Benoist Bihan nhận xét « Nga hiểu rất rõ điều đó và đây là lý do vì sao họ cố tình trì hoãn các cuộc đàm phán. Tôi có cảm giác ông Putin không mấy vội vã ký kết thỏa thuận hòa bình bởi vì ông ấy biết hoặc nghĩ rằng càng kéo dài, thì các điều kiện mà ông ấy có thể áp đặt sẽ càng khắt khe hơn ». Chiến tranh Ukraina, hay « chiến dịch quân sự đặc biệt » mà Nga khởi xướng, lúc ban đầu được xem là một thất bại quân sự của Nga do việc đánh giá thấp nghiêm trọng tình trạng chuẩn bị và ý chí chiến đấu của quân đội Nga, cũng như là do thái độ tự mãn về năng lực của một đội quân chưa bao giờ tiến hành một cuộc chiến quy mô lớn như thế kể từ khi Liên Xô sụp đổ, thì nay Nga cũng đã cho thấy khả năng thích ứng với thực tế chiến trường. Giao chiến với Nga, liệu Châu Âu có đủ sức ? Về phía Ukraina, nhà sử học Benoist Bihan cho rằng Kiev cũng đã phạm sai lầm xem thường khả năng hồi phục tiềm lực của Nga sau thành công bất ngờ của cuộc kháng chiến chống Nga năm 2022. Bất chấp nguồn viện trợ quân sự phương Tây, quân đội Ukraina đã phải đối đầu với quân đội Nga, vốn đã có thời gian để phục hồi và lấy lại phần nào sự tự tin. Kể từ năm 2023, Ukraina rơi vào bế tắc chiến lược. Hôm 01/12, vài giờ trước khi diễn ra cuộc gặp với phái đoàn Mỹ tại điện Kremlin, tổng thống Putin không ngần ngại dọa rằng « Nga đã sẵn sàng nếu châu Âu muốn chiến tranh và bắt đầu cuộc xung đột trước ». Nếu ngày mai sẽ xảy ra chiến tranh với Nga, liệu châu Âu có đủ lực để đối phó ? Về điểm này, chuyên gia quân sự khẳng định là « Không ». Ông giải thích : « Quân đội châu Âu không tồn tại; đó là quân đội của từng quốc gia riêng lẻ, của từng quốc gia châu Âu khác nhau. Và đó là nơi bắt đầu của sự bất định, bởi vì chúng ta có những đội quân như quân đội Pháp, tương đối dày dạn kinh nghiệm và được chuẩn bị tốt. Chúng ta có những đội quân như quân đội Đức, vẫn đang trong quá trình tái thiết và do đó sẽ mất vài năm để đạt được hiệu quả chiến đấu. Và rồi chúng ta có quân đội của các quốc gia nhỏ hơn, có ít nguồn lực hơn và ít kinh nghiệm chiến đấu hơn. Vì vậy, sẽ có sự chênh lệch về trình độ chuyên môn giữa các đội quân trong liên minh NATO. Họ có các quy trình chung, nhưng hiện nay rõ ràng họ chưa sẵn sàng để tiến hành chiến tranh, và đặc biệt là không sẵn sàng tiến hành chiến tranh trong điều kiện như ở Ukraina ! »
Khoảng 20 chuyến công du đến 20 nước trong vòng hơn một năm giữ chức tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Tô Lâm có lẽ là nhà lãnh đạo đảng công du nước ngoài nhiều nhất. Trong khuôn khổ những chuyến công du này, Việt Nam nâng cấp Đối tác Chiến lược Toàn diện với 6 nước, và Đối tác Chiến lược với 5 nước khác. Dưới thời ông Tô Lâm, Việt Nam đang “quốc tế hóa” vai trò của tổng bí thư. Khi đưa tin về chuyến công du Anh Quốc và Bắc Ireland của ông Tô Lâm, từ 28-30/10/2025, hãng tin Anh Reuters nhận định nhà lãnh đạo quyền lực nhất của Việt Nam, ông Tô Lâm, đã đóng vai trò trung tâm trong việc định hình chính sách đối ngoại kể từ khi trở thành tổng bí thư đảng Cộng Sản vào năm ngoái (2024), một nỗ lực trước đây do chủ tịch nước và thủ tướng dẫn đầu. Cho thế giới thấy nhà lãnh đạo thực sự ở Việt Nam Ngay sau khi chính thức được bầu làm tổng bí thư, tại buổi họp báo ngày 03/08/2024, ông Tô Lâm có bài phát biểu “khẳng định kế thừa và phát huy những thành quả cách mạng mà cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và các thế hệ lãnh đạo đi trước đã gây dựng”. Điểm này đang được ông Tô Lâm phát triển mạnh mẽ hơn, theo nhận định của giáo sư danh dự Carl Thayer, Đại học New South Wales : “Tổng bí thư Tô Lâm đang tận dụng sự lãnh đạo của mình để phát huy di sản của người tiền nhiệm Nguyễn Phú Trọng, người đã chính thức hóa vai trò của tổng bí thư trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Tổng bí thư Trọng đã được lãnh đạo chính phủ Anh và Nhật Bản, hai nền dân chủ tự do, đón tiếp, và được tổng thống Barack Obama tiếp đón tại Nhà Trắng. Ông Trọng cũng đã tiếp đón tổng thống Joe Biden tại Hà Nội”. Theo thông lệ, chuyến công du nước ngoài đầu tiên của tân tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam là đến Lào, sau đó là Cam Bốt và Trung Quốc - nước láng giềng rộng lớn mà ngay vào thời kỳ đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam xác định rõ chính sách đối với Trung Quốc “là phải thân thiện”. Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng tại Đại học Boston, Mỹ, nhận định với RFI Tiếng Việt : “Việc Việt Nam quốc tế hóa vai trò của tổng bí thư thực ra không có gì là bất ngờ. Một trong những ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là bảo vệ an ninh của thể chế, và một trong những cách đó là nâng cao vai trò của tổng bí thư trên trường quốc tế. Với các nước chung chí hướng như là Bắc Triều Tiên, Trung Quốc hay Lào thì đây cũng không phải là một sự thay đổi lớn do vai trò của quan hệ kênh Đảng từ lâu đã được khẳng định”. Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư Tô Lâm thăm Bắc Triều Tiên, dự lễ 80 năm thành lập đảng Lao Động Tiếp theo là hàng loạt vòng công du cho đến cuối năm 2024. Ví dụ, tháng 09/2024, tổng bí thư Tô Lâm đến dự Hội nghị thượng đỉnh Tương Lai, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc và làm việc ở Hoa Kỳ. Sau đó, ông công du nước Cuba anh em. Đến đầu tháng 10, ông công du Mông Cổ, tiếp theo là Ireland và Pháp. Đến tháng 11 là Malaysia. Trong những chuyến công du này, Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành Đối tác Chiến lược Toàn Diện với ba nước Mông Cổ, Pháp, Malaysia. Các nước ASEAN mở đầu cho vòng công du năm 2025 của tổng bí thư Tô Lâm. Tháng 03, ông thăm Singapore, Indonesia, nâng cấp quan hệ lên mức cao nhất với hai nước. Với những hoạt động này, tổng bí thư “đang đảm nhiệm vai trò nhà ngoại giao cấp cao, thường là nhiệm vụ của chủ tịch nước hoặc thủ tướng”, theo ý kiến của giáo sư Zachary Abuza, Đại học Chiến tranh Quốc gia Hoa Kỳ ở Washington : “Bằng cách này, ông Lâm đã khẳng định rõ ràng rằng ông coi chức vụ quyền lực nhất của đảng Cộng sản Việt Nam là chức vụ có chức năng điều hành trong đảng-nhà nước, điều mà những người tiền nhiệm của ông, những người chỉ tập trung vào chính sách và hệ tư tưởng, chưa từng đảm nhiệm”. Trong tháng 05, ông thăm bốn nước thuộc Liên Xô cũ (Kazakhstan, Azerbaijan, Nga, Belarus), nhân chuyến công du theo lời mời dự Ngày Chiến thắng với lễ diễu binh trên Quảng trường Đỏ ở Matxcơva. Ba tháng sau ông thăm Hàn Quốc. Trong tháng 10/2025, ông Tô Lâm công du Bắc Triều Tiên dự lễ kỷ niệm 80 thành lập đảng Lao Động Triều Tiên, sau đó là vòng công du hai nước châu Âu Phần Lan và Bulgari, cuối cùng là Anh Quốc và Bắc Ireland, nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược với Helsinki và đối tác chiến lược toàn diện với Luân Đôn. Có thể thấy ông Tô Lâm quảng bá mạnh hơn, cho quốc tế thấy rõ hơn hình ảnh và vai trò của tổng bí thư - nhà lãnh đạo trên thực tế của Việt Nam, theo nhận định của Giáo sư Carl Thayer ngày 28/09 : “Tổng bí thư Tô Lâm đã liên tiếp công du nước ngoài kể từ khi nắm quyền lãnh đạo đảng và đóng vai trò quan trọng trong việc ký kết bảy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mới (Úc, Pháp, Malaysia, New Zealand, Indonesia, Singapore và Thái Lan). Ông Tô Lâm đang chứng minh rằng vị thế tổng bí thư không chỉ quan trọng đối với các vấn đề đối nội mà còn cả đối ngoại”. Đọc thêmLãnh đạo Việt Nam Tô Lâm đi Mỹ dự Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc Một yếu tố mới, được tiến sĩ Lê Hồng Hiệp nhận định trên trang Fulcrum ngày 02/07/2025, là vai trò của “Đệ nhất phu nhân” định nghĩa lại nền ngoại giao và chính trị Việt Nam. Bà Ngô Phương Ly, “đệ nhất phu nhân trên thực tế, đã mở đường cho việc tăng cường các nỗ lực ngoại giao của Việt Nam và làm dịu đi hình ảnh của chồng bà” : “Bà Phương Ly, phu nhân của tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm, đang nhanh chóng nổi lên như một nhân vật mang lại sự thay đổi trong ngoại giao quốc tế của Việt Nam. Bà tháp tùng ông Tô Lâm trong hầu hết các chuyến thăm nước ngoài và tiếp đón các nhà lãnh đạo nước ngoài tại Việt Nam. Thông qua việc thường xuyên tham gia các hoạt động văn hóa và xã hội với các đối tác nước ngoài, bà đã nâng cao vị thế ngoại giao của Việt Nam và nâng cao hình ảnh của ông Tô Lâm trước công chúng, qua đó góp phần nâng cao vị thế chính trị của ông. Ví dụ, trong chuyến thăm Singapore của ông Tô Lâm vào tháng 03/2025, bà Phương Ly đã tham gia các cuộc thảo luận về các vấn đề văn hóa với bà Loo Tze Lui, phu nhân thủ tướng Singapore Lawrence Wong, và chứng kiến lễ ký kết Biên bản ghi nhớ giữa Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và Nhạc viện Yong Siew Toh của Singapore. Gần đây hơn, trong chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Pháp Emmanuel Macron tháng 05/2025, bà Phương Ly đã tháp tùng bà Brigitte Macron tham quan Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và Văn Miếu Quốc Tử Giám, chia sẻ những hiểu biết sâu sắc về di sản văn hóa phong phú của Việt Nam với Đệ nhất phu nhân Pháp”. Đọc thêmQuảng bá hình ảnh Việt Nam qua những chuyến công du của lãnh đạo thế giới Vai trò của tổng bí thư trong “định hình chính sách đối ngoại” Ngoài việc khẳng định quyền lực lãnh đạo thực sự ở Việt Nam, những chuyến công du nước ngoài của ông Tô Lâm, với tần suất dày đặc hơn so với người tiền nhiệm, còn nằm trong định hướng Hội nhập quốc tế trong tình hình mới, được quy định trong Nghị quyết số 59 (ngày 24/01/2025) và được cổng thông tin Chính phủ nhấn mạnh ngày 16/09 là “quyết sách quan trọng, đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước”. Một mặt, Nghị quyết đưa ra hướng dẫn củng cố mối quan hệ “hữu nghị truyền thống” lâu đời của Việt Nam với Nga, Cuba, Bắc Triều Tiên. Mặt khác, Nghị quyết cũng cho thấy Việt Nam đang chủ động hơn trong các vấn đề quốc tế. Giáo sư Carl Thayer, Đại học New South Wales, phân tích : Nghị quyết số 59 lưu ý rằng hội nhập quốc tế đòi hỏi “chủ động, tích cực và dũng cảm” để thúc đẩy các mạng lưới đối tác đã được thiết lập, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, củng cố lòng tin chính trị và giải quyết các thách thức khu vực và toàn cầu thông qua hợp tác hòa bình, tất cả đều trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Nghị quyết số 59 cũng củng cố một trong những mục tiêu quan trọng của hội nhập quốc tế - duy trì môi trường hòa bình và ổn định để Việt Nam có thể phát triển kinh tế. Ví dụ chuyến công du Bình Nhưỡng của tổng bí thư Tô Lâm cũng được coi là nhằm trong chiến lược “bảo vệ đất nước từ sớm và từ xa, trước khi đất nước lâm nguy” phù hợp với chủ trương của Nghị quyết số 59, theo nhận định của giáo sư Carl Thayer : “Nếu ông Tô Lâm đến thăm Bình Nhưỡng, ông có thể sẽ tìm hiểu xem Việt Nam có thể đóng vai trò ngoại giao và chính trị nào trong bất kỳ tiến trình hòa bình nào trên bán đảo Triều Tiên. Việt Nam có lợi ích thiết yếu trong việc duy trì ổn định trên bán đảo Triều Tiên. Bất kỳ sự suy giảm nào trong hiện trạng, dẫn đến đối đầu giữa Hoa Kỳ và Hàn Quốc với Bắc Triều Tiên, Trung Quốc và Nga, sẽ đẩy Việt Nam ra ngoài lề và gây khó khăn cho quan hệ với các cường quốc”. Đọc thêmTổng bí thư đảng Cộng Sản, chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm công du Mông Cổ, Ireland và Pháp Trong số 5 quan điểm chỉ đạo về hội nhập quốc tế, hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh được coi là một trong những trụ cột và là “một nội dung rất quan trọng”, theo phát biểu ngày 16/09 của ông Lê Hoài Trung, lúc đó là quyền ngoại trưởng. Ngoài ra, Việt Nam “chuyển từ xin nhận, gia nhập, tham gia sang chủ động đóng góp và xây dựng, định hình và sẵn sàng đóng góp có trách nhiệm vào công việc chung của cộng động quốc tế”. Sự kiện Hà Nội đăng cai tổ chức Lễ mở ký Công ước Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng ngày 25/10/2025, được Việt Nam coi là “dấu mốc lịch sử không chỉ với cộng đồng quốc tế mà còn khẳng định vai trò vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế”. Trang VnExpress đưa tin “các nước đánh giá cao vai trò lãnh đạo, dẫn dắt của Việt Nam thông qua sáng kiến đăng cai Lễ mở ký”. Nhân dịp này, tổng bí thư Tô Lâm đã tiếp tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres. Cho dù “hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân” nhưng được thực hiện “dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước”. Trong tiến trình này, tổng bí thư không chỉ còn muốn đứng đầu đảng, giữ vai trò về tư tưởng, mà là một nhà lãnh đạo cao nhất đất nước. Hình ảnh mới này đang được ông Tô Lâm làm cho các đối tác phương Tây quen dần, theo nhận định của tiến sĩ Vũ Khang, Đại học Boston : Đối với các đối tác phương Tây, Việt Nam đã đặt các đối tác phương Tây vào vị trí phải công nhận tính chính danh và sự ngang hàng của vị trí tổng bí thư với các vị trí nguyên thủ quốc gia qua các cuộc gặp cấp cao. Đây cũng là một di sản của cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi ông đã thành công bắt Mỹ phải công nhận tổng bí thư là ngang hàng với chức tổng thống Mỹ, từ đó mở ra các nước phương Tây khác cũng chấp nhận theo. Điều này chứng tỏ đây là một chính sách đường dài chứ không phải ngắn hạn cho kỳ Đại hội Đảng sắp tới, và dù ai ở vị trí tổng bí thư đi chăng nữa thì cũng sẽ được kế thừa di sản này.
Khoảng 20 chuyến công du đến 20 nước trong vòng hơn một năm giữ chức tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Tô Lâm có lẽ là nhà lãnh đạo đảng công du nước ngoài nhiều nhất. Trong khuôn khổ những chuyến công du này, Việt Nam nâng cấp Đối tác Chiến lược Toàn diện với 6 nước, và Đối tác Chiến lược với 5 nước khác. Dưới thời ông Tô Lâm, Việt Nam đang “quốc tế hóa” vai trò của tổng bí thư. Khi đưa tin về chuyến công du Anh Quốc và Bắc Ireland của ông Tô Lâm, từ 28-30/10/2025, hãng tin Anh Reuters nhận định nhà lãnh đạo quyền lực nhất của Việt Nam, ông Tô Lâm, đã đóng vai trò trung tâm trong việc định hình chính sách đối ngoại kể từ khi trở thành tổng bí thư đảng Cộng Sản vào năm ngoái (2024), một nỗ lực trước đây do chủ tịch nước và thủ tướng dẫn đầu. Cho thế giới thấy nhà lãnh đạo thực sự ở Việt Nam Ngay sau khi chính thức được bầu làm tổng bí thư, tại buổi họp báo ngày 03/08/2024, ông Tô Lâm có bài phát biểu “khẳng định kế thừa và phát huy những thành quả cách mạng mà cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và các thế hệ lãnh đạo đi trước đã gây dựng”. Điểm này đang được ông Tô Lâm phát triển mạnh mẽ hơn, theo nhận định của giáo sư danh dự Carl Thayer, Đại học New South Wales : “Tổng bí thư Tô Lâm đang tận dụng sự lãnh đạo của mình để phát huy di sản của người tiền nhiệm Nguyễn Phú Trọng, người đã chính thức hóa vai trò của tổng bí thư trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Tổng bí thư Trọng đã được lãnh đạo chính phủ Anh và Nhật Bản, hai nền dân chủ tự do, đón tiếp, và được tổng thống Barack Obama tiếp đón tại Nhà Trắng. Ông Trọng cũng đã tiếp đón tổng thống Joe Biden tại Hà Nội”. Theo thông lệ, chuyến công du nước ngoài đầu tiên của tân tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam là đến Lào, sau đó là Cam Bốt và Trung Quốc - nước láng giềng rộng lớn mà ngay vào thời kỳ đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam xác định rõ chính sách đối với Trung Quốc “là phải thân thiện”. Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng tại Đại học Boston, Mỹ, nhận định với RFI Tiếng Việt : “Việc Việt Nam quốc tế hóa vai trò của tổng bí thư thực ra không có gì là bất ngờ. Một trong những ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là bảo vệ an ninh của thể chế, và một trong những cách đó là nâng cao vai trò của tổng bí thư trên trường quốc tế. Với các nước chung chí hướng như là Bắc Triều Tiên, Trung Quốc hay Lào thì đây cũng không phải là một sự thay đổi lớn do vai trò của quan hệ kênh Đảng từ lâu đã được khẳng định”. Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư Tô Lâm thăm Bắc Triều Tiên, dự lễ 80 năm thành lập đảng Lao Động Tiếp theo là hàng loạt vòng công du cho đến cuối năm 2024. Ví dụ, tháng 09/2024, tổng bí thư Tô Lâm đến dự Hội nghị thượng đỉnh Tương Lai, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc và làm việc ở Hoa Kỳ. Sau đó, ông công du nước Cuba anh em. Đến đầu tháng 10, ông công du Mông Cổ, tiếp theo là Ireland và Pháp. Đến tháng 11 là Malaysia. Trong những chuyến công du này, Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành Đối tác Chiến lược Toàn Diện với ba nước Mông Cổ, Pháp, Malaysia. Các nước ASEAN mở đầu cho vòng công du năm 2025 của tổng bí thư Tô Lâm. Tháng 03, ông thăm Singapore, Indonesia, nâng cấp quan hệ lên mức cao nhất với hai nước. Với những hoạt động này, tổng bí thư “đang đảm nhiệm vai trò nhà ngoại giao cấp cao, thường là nhiệm vụ của chủ tịch nước hoặc thủ tướng”, theo ý kiến của giáo sư Zachary Abuza, Đại học Chiến tranh Quốc gia Hoa Kỳ ở Washington : “Bằng cách này, ông Lâm đã khẳng định rõ ràng rằng ông coi chức vụ quyền lực nhất của đảng Cộng sản Việt Nam là chức vụ có chức năng điều hành trong đảng-nhà nước, điều mà những người tiền nhiệm của ông, những người chỉ tập trung vào chính sách và hệ tư tưởng, chưa từng đảm nhiệm”. Trong tháng 05, ông thăm bốn nước thuộc Liên Xô cũ (Kazakhstan, Azerbaijan, Nga, Belarus), nhân chuyến công du theo lời mời dự Ngày Chiến thắng với lễ diễu binh trên Quảng trường Đỏ ở Matxcơva. Ba tháng sau ông thăm Hàn Quốc. Trong tháng 10/2025, ông Tô Lâm công du Bắc Triều Tiên dự lễ kỷ niệm 80 thành lập đảng Lao Động Triều Tiên, sau đó là vòng công du hai nước châu Âu Phần Lan và Bulgari, cuối cùng là Anh Quốc và Bắc Ireland, nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược với Helsinki và đối tác chiến lược toàn diện với Luân Đôn. Có thể thấy ông Tô Lâm quảng bá mạnh hơn, cho quốc tế thấy rõ hơn hình ảnh và vai trò của tổng bí thư - nhà lãnh đạo trên thực tế của Việt Nam, theo nhận định của Giáo sư Carl Thayer ngày 28/09 : “Tổng bí thư Tô Lâm đã liên tiếp công du nước ngoài kể từ khi nắm quyền lãnh đạo đảng và đóng vai trò quan trọng trong việc ký kết bảy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mới (Úc, Pháp, Malaysia, New Zealand, Indonesia, Singapore và Thái Lan). Ông Tô Lâm đang chứng minh rằng vị thế tổng bí thư không chỉ quan trọng đối với các vấn đề đối nội mà còn cả đối ngoại”. Đọc thêmLãnh đạo Việt Nam Tô Lâm đi Mỹ dự Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc Một yếu tố mới, được tiến sĩ Lê Hồng Hiệp nhận định trên trang Fulcrum ngày 02/07/2025, là vai trò của “Đệ nhất phu nhân” định nghĩa lại nền ngoại giao và chính trị Việt Nam. Bà Ngô Phương Ly, “đệ nhất phu nhân trên thực tế, đã mở đường cho việc tăng cường các nỗ lực ngoại giao của Việt Nam và làm dịu đi hình ảnh của chồng bà” : “Bà Phương Ly, phu nhân của tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm, đang nhanh chóng nổi lên như một nhân vật mang lại sự thay đổi trong ngoại giao quốc tế của Việt Nam. Bà tháp tùng ông Tô Lâm trong hầu hết các chuyến thăm nước ngoài và tiếp đón các nhà lãnh đạo nước ngoài tại Việt Nam. Thông qua việc thường xuyên tham gia các hoạt động văn hóa và xã hội với các đối tác nước ngoài, bà đã nâng cao vị thế ngoại giao của Việt Nam và nâng cao hình ảnh của ông Tô Lâm trước công chúng, qua đó góp phần nâng cao vị thế chính trị của ông. Ví dụ, trong chuyến thăm Singapore của ông Tô Lâm vào tháng 03/2025, bà Phương Ly đã tham gia các cuộc thảo luận về các vấn đề văn hóa với bà Loo Tze Lui, phu nhân thủ tướng Singapore Lawrence Wong, và chứng kiến lễ ký kết Biên bản ghi nhớ giữa Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và Nhạc viện Yong Siew Toh của Singapore. Gần đây hơn, trong chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Pháp Emmanuel Macron tháng 05/2025, bà Phương Ly đã tháp tùng bà Brigitte Macron tham quan Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và Văn Miếu Quốc Tử Giám, chia sẻ những hiểu biết sâu sắc về di sản văn hóa phong phú của Việt Nam với Đệ nhất phu nhân Pháp”. Đọc thêmQuảng bá hình ảnh Việt Nam qua những chuyến công du của lãnh đạo thế giới Vai trò của tổng bí thư trong “định hình chính sách đối ngoại” Ngoài việc khẳng định quyền lực lãnh đạo thực sự ở Việt Nam, những chuyến công du nước ngoài của ông Tô Lâm, với tần suất dày đặc hơn so với người tiền nhiệm, còn nằm trong định hướng Hội nhập quốc tế trong tình hình mới, được quy định trong Nghị quyết số 59 (ngày 24/01/2025) và được cổng thông tin Chính phủ nhấn mạnh ngày 16/09 là “quyết sách quan trọng, đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước”. Một mặt, Nghị quyết đưa ra hướng dẫn củng cố mối quan hệ “hữu nghị truyền thống” lâu đời của Việt Nam với Nga, Cuba, Bắc Triều Tiên. Mặt khác, Nghị quyết cũng cho thấy Việt Nam đang chủ động hơn trong các vấn đề quốc tế. Giáo sư Carl Thayer, Đại học New South Wales, phân tích : Nghị quyết số 59 lưu ý rằng hội nhập quốc tế đòi hỏi “chủ động, tích cực và dũng cảm” để thúc đẩy các mạng lưới đối tác đã được thiết lập, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, củng cố lòng tin chính trị và giải quyết các thách thức khu vực và toàn cầu thông qua hợp tác hòa bình, tất cả đều trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Nghị quyết số 59 cũng củng cố một trong những mục tiêu quan trọng của hội nhập quốc tế - duy trì môi trường hòa bình và ổn định để Việt Nam có thể phát triển kinh tế. Ví dụ chuyến công du Bình Nhưỡng của tổng bí thư Tô Lâm cũng được coi là nhằm trong chiến lược “bảo vệ đất nước từ sớm và từ xa, trước khi đất nước lâm nguy” phù hợp với chủ trương của Nghị quyết số 59, theo nhận định của giáo sư Carl Thayer : “Nếu ông Tô Lâm đến thăm Bình Nhưỡng, ông có thể sẽ tìm hiểu xem Việt Nam có thể đóng vai trò ngoại giao và chính trị nào trong bất kỳ tiến trình hòa bình nào trên bán đảo Triều Tiên. Việt Nam có lợi ích thiết yếu trong việc duy trì ổn định trên bán đảo Triều Tiên. Bất kỳ sự suy giảm nào trong hiện trạng, dẫn đến đối đầu giữa Hoa Kỳ và Hàn Quốc với Bắc Triều Tiên, Trung Quốc và Nga, sẽ đẩy Việt Nam ra ngoài lề và gây khó khăn cho quan hệ với các cường quốc”. Đọc thêmTổng bí thư đảng Cộng Sản, chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm công du Mông Cổ, Ireland và Pháp Trong số 5 quan điểm chỉ đạo về hội nhập quốc tế, hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh được coi là một trong những trụ cột và là “một nội dung rất quan trọng”, theo phát biểu ngày 16/09 của ông Lê Hoài Trung, lúc đó là quyền ngoại trưởng. Ngoài ra, Việt Nam “chuyển từ xin nhận, gia nhập, tham gia sang chủ động đóng góp và xây dựng, định hình và sẵn sàng đóng góp có trách nhiệm vào công việc chung của cộng động quốc tế”. Sự kiện Hà Nội đăng cai tổ chức Lễ mở ký Công ước Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng ngày 25/10/2025, được Việt Nam coi là “dấu mốc lịch sử không chỉ với cộng đồng quốc tế mà còn khẳng định vai trò vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế”. Trang VnExpress đưa tin “các nước đánh giá cao vai trò lãnh đạo, dẫn dắt của Việt Nam thông qua sáng kiến đăng cai Lễ mở ký”. Nhân dịp này, tổng bí thư Tô Lâm đã tiếp tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres. Cho dù “hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân” nhưng được thực hiện “dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước”. Trong tiến trình này, tổng bí thư không chỉ còn muốn đứng đầu đảng, giữ vai trò về tư tưởng, mà là một nhà lãnh đạo cao nhất đất nước. Hình ảnh mới này đang được ông Tô Lâm làm cho các đối tác phương Tây quen dần, theo nhận định của tiến sĩ Vũ Khang, Đại học Boston : Đối với các đối tác phương Tây, Việt Nam đã đặt các đối tác phương Tây vào vị trí phải công nhận tính chính danh và sự ngang hàng của vị trí tổng bí thư với các vị trí nguyên thủ quốc gia qua các cuộc gặp cấp cao. Đây cũng là một di sản của cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi ông đã thành công bắt Mỹ phải công nhận tổng bí thư là ngang hàng với chức tổng thống Mỹ, từ đó mở ra các nước phương Tây khác cũng chấp nhận theo. Điều này chứng tỏ đây là một chính sách đường dài chứ không phải ngắn hạn cho kỳ Đại hội Đảng sắp tới, và dù ai ở vị trí tổng bí thư đi chăng nữa thì cũng sẽ được kế thừa di sản này.
Cho đến hiện tại Bình Nhưỡng vẫn tỏ ra kín tiếng trước nhiều lời mời từ tổng thống Mỹ Donald Trump gởi đến nhà lãnh đạo Kim Jong Un. Tuy nhiên, trong tháng 9/2025, Bắc Triều Tiên để ngỏ khả năng nối lại đàm phán với điều kiện Hoa Kỳ từ bỏ yêu cầu phá dỡ kho vũ khí hạt nhân của nước này. Theo giới quan sát, nguyên thủ Mỹ hiện đang đối mặt với một nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên ngày càng tự tin hơn, được tiếp thêm sức nhờ vào sự hậu thuẫn của Nga. Ngày 29/07/2025, Kim Yo Jong, em gái lãnh đạo Bắc Triều Tiên tuyên bố rằng sức mạnh hạt nhân của của CHDCND Triều Tiên là « không thể đảo ngược », vị thế quốc gia có trang bị vũ khí hạt nhân là « vĩnh viễn », và bất kỳ cuộc đối thoại nào trong tương lai sẽ phải bắt đầu bằng sự thừa nhận vị thế đó . Bà Kim Yo Jong còn nói thêm « năm 2025 không phải là năm 2018, cũng không phải 2019 », hàm ý nhắc đến các thượng đỉnh trước đây giữa Bắc Triều Tiên và Mỹ trong nhiệm kỳ đầu tiên của Donald Trump. Trong một lần xuất hiện hiếm hoi tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, ngày 29/09/2025, thứ trưởng Ngoại Giao Bắc Triều Tiên Kim Son Gyong đã tái khẳng định rằng nước ông sẽ không từ bỏ vũ khí hạt nhân bất chấp yêu cầu của quốc tế, xem đây là những yếu tố then chốt để duy trì « cân bằng thế mạnh » với Hàn Quốc. Theo nhiều nhà quan sát, những tuyên bố trên của Bắc Triều Tiên phản ảnh một bước tiến đáng kể trong lập trường ngoại giao của chế độ Kim Jong Un. Hơn năm năm sau thất bại thượng đỉnh Hà Nội 2019, Bình Nhưỡng đang đưa ra một tầm nhìn hoàn toàn khác cho tương lai. Để hiểu rõ hơn những thách thức mới của chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên đối với an ninh bán đảo Triều Tiên và khu vực Đông Bắc Á cũng như là đối với thế răn đe của Hoa Kỳ trong khu vực, RFI Tiếng Việt có cuộc trao đổi với nhà nghiên cứu về Đông Bắc Á, Đông Nam Á Laurent Gédéon, Đại học Sư phạm Lyon. ---------- ***** ---------- RFI Tiếng Việt : Trước hết, ông giải thích như thế nào về những tuyên bố gần đây của Bình Nhưỡng ? Laurent Gédéon : Theo tôi, có ba điểm chính có thể phân tích từ những tuyên bố trên của Kim Yo Jong : Thứ nhất, vũ khí hạt nhân, với tư cách là một yếu tố răn đe, hiện đã được đưa vào Hiến pháp của CHDCND Triều Tiên và không còn chỉ là đòn bẩy hay một biến số điều chỉnh trong các cuộc đàm phán tương lai. Thứ hai, việc nối lại đàm phán chắc chắn sẽ thất bại nếu Hoa Kỳ vẫn kiên trì yêu cầu phi hạt nhân hóa như là một điều kiện tiên quyết. Điểm thứ ba, đối thoại vẫn có thể thực hiện được, nhưng trên cơ sở thừa nhận « sự đã rồi » được thể hiện qua tình trạng hạt nhân của CHDCND Triều Tiên. Liệu ta có thể nói rằng với lời khẳng định trên, Bắc Triều Tiên đang vạch ra một đường lối đối ngoại mới với Hoa Kỳ ? Laurent Gédéon : Tuyên bố này của Bình Nhưỡng thực sự cho thấy rõ ba trục, có thể hiểu như là đường lối mới trong chính sách đối ngoại, nhất là với Hoa Kỳ. Trục thứ nhất là nhằm củng cố tính chính đáng trong nội bộ, cũng như với bên ngoài về chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Bằng cách khẳng định quy chế hạt nhân là « không thể đảo ngược » và « vĩnh viễn », CHDCND Triều Tiên tìm cách hợp pháp hóa việc sở hữu vũ khí nguyên tử, không còn là một con bài mặc cả tạm thời, mà là một thành phần lâu dài trong lập trường chiến lược của đất nước. Điều này giúp Bình Nhưỡng khẳng định trong đối nội rằng răn đe hạt nhân là một trụ cột không thể thay đổi của chủ quyền quốc gia, và trong đối ngoại – không chỉ đối với Mỹ và các đồng minh của Mỹ, mà cả với Trung Quốc và Nga – rằng kể từ giờ phải tính đến thực tế địa chiến lược này. Trục thứ hai, theo tôi, liên quan đến việc có một sự thay đổi cơ bản trong khuôn khổ đàm phán với Mỹ. Trong quá khứ, các cuộc đàm phán giữa Washington và Bình Nhưỡng được thực hiện trên cơ sở Mỹ muốn hạn chế và sau đó là chấm dứt chương trình vũ khí hạt nhân Bắc Triều Tiên. Khi đòi được công nhận vị thế hạt nhân trước, lập trường mới của Bình Nhưỡng rõ ràng đang làm thay đổi khuôn khổ đàm phán trước đây. Cuối cùng, khi nói rõ là « 2025 không phải là năm 2018 hay 2019 », CHDCND Triều Tiên bác bỏ ý tưởng trở lại với sự năng động của những thượng đỉnh trước đây giữa Donald Trump và Kim Jong Un tại Singapore và Hà Nội. Theo Bình Nhưỡng, bối cảnh chiến lược và ngoại giao mới đòi hỏi phải « xuất phát lại từ đầu » với những luật chơi mới. Tuy nhiên, vài ngày sau khi nhậm chức vào tháng 01/ 2025, tổng thống Mỹ Donald Trump, trước giới báo chí, đã có vài bình luận ngắn gọn, ngầm thừa nhận Bắc Triều Tiên là một cường quốc hạt nhân. Vậy Bình Nhưỡng còn trông đợi điều gì từ Washington khi đòi được công nhận là một cường quốc hạt nhân « vĩnh viễn » ? Laurent Gédéon : Theo tôi, Bắc Triều Tiên có thể kỳ vọng các tiến triển trong một số lĩnh vực. Trước hết, một sự công nhận ngầm về vị thế hạt nhân của Bắc Triều Tiên ngụ ý chấm dứt câu chuyện « phi hạt nhân hóa toàn diện » và Washington chấp nhận vị thế của Bình Nhưỡng là một cường quốc hạt nhân hợp pháp. Bắc Triều Tiên không còn muốn bị đối xử như là một kẻ bị ruồng bỏ cần phải giải trừ vũ khí, mà là một cường quốc hạt nhân có chủ quyền được công nhận, một bên đối thoại chiến lược hợp pháp, tương tự như Ấn Độ, Pakistan hay Israel. Cả ba quốc gia hạt nhân này đều không ký kết TNP (Hiệp ước Không phổ biến Vũ khí Hạt nhân), nhưng trên thực tế được cộng đồng quốc tế chấp nhận. Hệ quả của sự công nhận này đối với Bình Nhưỡng có lẽ sẽ là khép lại vấn đề giải giới, nâng Bắc Triều Tiên lên hàng cường quốc không thể phủ nhận trong các cuộc đàm phán về an ninh khu vực và buộc Hoa Kỳ phải chấp nhận một mối quan hệ bình đẳng theo kiểu « cường quốc với cường quốc ». Bước tiến thứ hai đối với Bắc Triều Tiên, theo tôi, liên quan đến việc nước này muốn một cuộc đàm phán vô điều kiện tiên quyết với Hoa Kỳ, có thể đi vào đàm phán song phương trực tiếp và bình đẳng chiến lược với Washington. Trên thực tế, Bình Nhưỡng muốn có một tiến triển tương tự như Ấn Độ, quốc gia mà Hoa Kỳ đã dần chấp nhận vị thế hạt nhân và cuối cùng đã ký kết một thỏa thuận hợp tác hạt nhân dân sự năm 2008 mà vẫn không chính thức thừa nhận Ấn Độ là một cường quốc hạt nhân. Yếu tố thứ ba có thể khiến Bình Nhưỡng quan tâm đến là việc nới lỏng cấm vận, giảm nhẹ áp lực kinh tế đang đè nặng lên Bắc Triều Tiên. Điều này rõ ràng sẽ có những hệ quả tích cực cả về mặt đối nội, xét về cấp độ uy tín bên ngoài của nước này, lẫn các mối quan hệ của Bình Nhưỡng với quốc tế. Một lý do khác mà Bình Nhưỡng có thể coi là điều tích cực, đó là việc cắt giảm các cuộc tập trận quân sự Mỹ - Hàn, nhất là việc đình chỉ các cuộc tập trận thường kỳ hàng năm, cũng như áp lực quân sự đối với Bình Nhưỡng. Điểm cuối cùng là quá trình bình thường hóa dần dần để từ đó có thể đi đến một thỏa thuận hòa bình cho phép chế độ Bắc Triều Tiên củng cố quyền lực trong nước và xác định vị thế tích cực trong cộng đồng quốc tế. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu nước Mỹ của Donald Trump chấp nhận chính thức công nhận vị thế cường quốc hạt nhân như Bắc Triều Tiên đòi hỏi ? Laurent Gédéon : Hệ quả của việc Hoa Kỳ công nhận chính thức vị thế hạt nhân của Bắc Triều Tiên là đáng kể. Đều này sẽ có những tác động đến toàn khu vực, bởi vì làm như vậy sẽ phá vỡ nền tảng chính sách nhất quán của Washington từ nhiều thập niên qua, từ chối cho Bình Nhưỡng tiếp cận bất kỳ vũ khí hạt nhân nào. Điều chắc chắn là Hàn Quốc sẽ không ngồi yên và điều này sẽ khơi lại cuộc tranh luận nội bộ về việc Seoul phát triển vũ khí hạt nhân, và có nhiều khả năng mối quan hệ giữa Seoul và Washington sẽ bị thay đổi, do sự mất lòng tin. Tương tự đối với Nhật Bản: Tokyo cũng sẽ xem tiến triển này là một thách thức đối với trật tự khu vực. Nhật Bản chắc chắn sẽ cố gắng tăng ngân sách quân sự và có thể, giống như Hàn Quốc, sẽ có một cuộc tranh luận trong nước về nhu cầu trang bị một năng lực hạt nhân độc lập cho quốc gia. Điều này có nguy cơ phá vỡ điều cấm kỵ hạt nhân mà Nhật Bản duy trì từ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Sự công nhận đó có thể có những tác động đối với nhiều cường quốc hạt nhân khác, đặc biệt là Trung Quốc và Nga. Việc Washington lùi bước trong hồ sơ này, tất nhiên, có thể sẽ được Bắc Kinh cũng như là Matxcơva coi đó là một thắng lợi chiến lược trước Hoa Kỳ và là dấu hiệu cho thấy ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực đang suy yếu. Điểm cuối cùng không kém phần quan trọng, sẽ có những hệ quả đáng kể đối với Hiệp ước Không Phổ biến Hạt nhân (TNP). Công nhận vị thế hạt nhân Bắc Triều Tiên sẽ mở cánh cửa cho nhiều yêu sách khác, chẳng hạn như từ Iran, cũng có thể đòi được công nhận tương tự, đồng thời có thể thúc đẩy những nước được gọi là các quốc gia ngưỡng hạt nhân, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ả Rập Xê Út, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, dấn bước và trang bị vũ khí nguyên tử cho riêng mình. Nhìn chung, thế giới sẽ chuyển từ một trật tự hạt nhân do một vài cường quốc kiểm soát sang một hệ thống đa cực bất ổn nhiều hơn, thậm chí hỗn loạn, qua việc nhiều quốc gia sẽ tìm cách bù đắp thế yếu kém của mình bằng cách sở hữu vũ khí nguyên tử. Như vậy chúng ta sẽ có hiện tượng gọi là phổ biến hạt nhân theo chiều ngang, tức là có nhiều quốc gia hạt nhân mới, và một sự phổ biến theo chiều dọc, nghĩa là hiện đại hóa các kho vũ khí hạt nhân hiện có. Ông giải thích thế nào về thái độ tự tin này của Bình Nhưỡng ? Phải chăng đó là vì chế độ Kim Jong Un đã đạt được một số mục tiêu được đề ra trong kế hoạch 5 năm được thông báo hồi đầu năm 2021 để phát triển nhiều loại vũ khí hạt nhân tân tiến hơn ? Và nhất là nhờ vào sự hỗ trợ về công nghệ của Nga ? Laurent Gédéon : Nhiều khả năng là kế hoạch năm năm do Kim Jong Un khởi xướng đầu năm 2021 và sự hỗ trợ về mặt công nghệ của Nga đã đóng một vai trò quan trọng trong sự thay đổi lập trường của Bắc Triều Tiên đối với Mỹ. Tôi xin nhắc lại là kế hoạch năm năm 2021-2025 đã được công bố tại Đại hội Đảng Lao Động Triều Tiên lần thứ 8 vào tháng 01/2021. Trong kỳ họp này, một lộ trình đã được vạch ra với mục tiêu phát triển đồng thời các lực lượng hạt nhân « thế hệ mới » và tầu ngầm chiến lược, cùng nhiều loại vũ khí siêu thanh. Tất cả những điều này là một phần trong chính sách chung « phát triển song song » các lực lượng hạt nhân và quy ước. Sự hỗ trợ của Nga chắc chắn đóng một vai trò quan trọng trong quá trình này. Và giai đoạn 2021-2025 đã được đánh dấu bằng việc ký kết hiệp ước « đối tác chiến lược toàn diện » giữa Nga và Bắc Triều Tiên vào năm 2024. Do đó, rất có thể Nga đã chuyển giao cho Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên không chỉ vũ khí thông thường mà cả các công nghệ nhạy cảm trong nhiều lĩnh vực như động cơ đẩy tầu ngầm hạt nhân, ra-đa, dẫn đường tên lửa hay như động cơ đẩy bằng nhiên liệu rắn cho tên lửa. Tuy nhiên, người ta không có bằng chứng chính thức xác định chính xác loại công nghệ được cung cấp và chúng đã có thể thay đổi đáng kể các năng lực của Bắc Triều Tiên như thế nào. Điều này hiện chỉ là những suy đoán. Dựa trên những gì chúng ta biết, có khả năng CHDCND Triều Tiên đã đạt được hoặc sắp đạt được một số mục tiêu chính của kế hoạch 2021-2025, đặc biệt là các mục tiêu thu nhỏ và đa dạng hóa các hệ thống phóng (tên lửa, tàu ngầm), và nói chung là tăng cường năng lực răn đe chiến lược. Trong bối cảnh này, thái độ tự tin hơn của Bình Nhưỡng là điều dễ hiểu bởi vì, với tiến bộ về mặt kỹ thuật trong năng lực hạt nhân, CHDCND Triều Tiên cảm thấy mình đang ở thế mạnh. Hơn nữa, quan hệ đối tác với Nga giúp cho nước này tăng cường quyền tự chủ chiến lược và một giải pháp dự phòng về ngoại giao và công nghệ trong trường hợp Washington và các đồng minh cố gắng gây áp lực mạnh lên Bình Nhưỡng. Cần lưu ý rằng năm 2025 đánh dấu sự kết thúc của kế hoạch 5 năm và việc chính quyền Bắc Triều Tiên khẳng định vị thế hạt nhân « không thể đảo ngược » có thể được hiểu là cách để xác nhận họ đã đạt được các mục tiêu của kế hoạch. Theo ông, Nga – Triều tăng cường hợp tác trên phương diện quốc phòng cũng như việc cải thiện đáng kể năng lực hạt nhân và quân sự của Bình Nhưỡng có sẽ đẩy Hàn Quốc, Hoa Kỳ cũng như Nhật Bản lao vào cuộc chạy đua vũ trang tốn kém, và có thể làm suy yếu liên minh Mỹ – Nhật – Hàn, đồng thời gây tổn hại cho uy tín của Mỹ trong khu vực ? Laurent Gédéon : Đúng vậy. Một vài yếu tố cho thấy là nguy cơ chạy đua vũ trang là có thực. Ví dụ, liên quan đến Hàn Quốc, nước này đã bắt tay vào quá trình tái vũ trang quy mô lớn, thể hiện qua việc phát triển tên lửa đạn đạo quy ước tầm cực xa, hiện đại hóa hệ thống phòng thủ tên lửa, đầu tư vào phòng thủ mạng và drone chiến đấu, cũng như tăng cường các cuộc tập trận chung với Hoa Kỳ. Về phần mình, Nhật Bản đã phá vỡ điều cấm kỵ trong hiến pháp và đã quyết định trong năm 2022-2023, phát triển năng lực tấn công phủ đầu, tăng gấp đôi ngân sách quốc phòng (lên mức 2% GDP ngay trong năm nay, thay vì từ đây đến năm 2027) và tăng cường hợp tác quân sự với Mỹ và Úc. Về phía Hoa Kỳ, họ đối diện với tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược và ngân sách. Bởi vì, trên thực tế, Mỹ đang tham dự vào nhiều mặt trận. Họ phải duy trì thế răn đe tại châu Âu trong bối cảnh chiến tranh tại Ukraina, kềm chế Trung Quốc ở Thái Bình Dương và giải quyết khủng hoảng hạt nhân Bắc Triều Tiên. Một số nhà phân tích tin rằng áp lực ba bên này có thể làm cạn kiệt các năng lực triển khai của Washington trong dài hạn, nhất là khi Lầu Năm Góc phải tài trợ cùng lúc cho việc hiện đại hóa các năng lực hạt nhân và hải quân Mỹ, tạo ra một gánh nặng ngân sách ước tính đến hơn 1.500 tỷ đô la trong vòng 30 năm. Chính vì thế, người ta thường xuyên đề cập đến nguy cơ Mỹ kiệt quệ chiến lược, một viễn cảnh thực sự gây lo lắng cho các đồng minh của Mỹ tại châu Á. Thêm vào đó, các lợi ích chiến lược của Washington, Tokyo và Seoul nhìn chung là hội tụ, nhưng lại hoàn toàn không thống nhất. Chẳng hạn, mục tiêu của Mỹ là ngăn chặn phổ biến hạt nhân và duy trì sự ổn định khu vực. Seoul thì muốn bảo vệ lãnh thổ và được độc lập chiến lược nhiều hơn. Về phần Tokyo, họ muốn tự phòng vệ trước Bình Nhưỡng và Bắc Kinh nhưng không muốn lệ thuộc quá mức vào Mỹ. Ba lợi ích nói trên có thể xung đột nhau vì nhiều nguyên nhân, chẳng hạn trong trường hợp Hoa Kỳ giảm các cam kết vì lý do ngân sách hay chính trị. Một lý do khác có thể liên quan đến sự trỗi dậy trở lại của những căng thẳng lịch sử giữa Nhật Bản và Hàn Quốc. Tương tự, việc Washington chọn ưu tiên đối thoại trực tiếp với Bình Nhưỡng, gây bất lợi cho Seoul, có thể dẫn đến nhiều hệ quả chính trị. Trong tất cả các kịch bản này, có nguy cơ là sự gắn kết của tam giác Mỹ – Nhật – Hàn bị suy yếu, bởi vì các đồng minh châu Á của Washington rất có thể bắt đầu nghi ngờ độ tin cậy của Mỹ, đặt biệt là độ tin cậy của lá chắn hạt nhân Hoa Kỳ. Điều này, sau đó, có thể thúc đẩy Seoul và Tokyo, như chúng ta đã thấy, phát triển năng lực răn đe của riêng mình, mở đường cho việc phổ biến hạt nhân tại các nước đồng minh của Mỹ. Tóm lại, đúng vậy, trong dài hạn, Washington có nguy cơ chịu tổn thất do đánh mất uy tín, một tình huống chỉ có thể có lợi cho Nga và Trung Quốc và do vậy Bắc Kinh và Matxcơva sẽ tìm cách khai thác tốt nhất cho các lợi ích của họ. RFI Tiếng Việt xin trân trọng cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên trường đại học Sư phạm Lyon.
Truyền thông phân tích nhiều quyết định của Hoa Kỳ đưa hai tập đoàn dầu khí Nga là Lukoil và Rosneft vào danh sách trừng phạt, đòi áp dụng biện pháp trừng phạt « thứ cấp » nhắm vào mọi mối giao dịch dầu hỏa với Nga. Bên cạnh những nghi vấn về hiệu quả và mức độ nghiêm túc để cắt nguồn tài trợ buộc Nga ngừng chiến tranh Ukraina, giới phân tích nhận định chung : Ít có khả năng vì mất nguồn thu nhập từ dầu lửa mà Matxcơva sẽ lùi bước trên hồ sơ Ukraina. Hôm 22/10/2025, chính quyền Trump đưa ra một quyết định cụ thể trừng phạt Nga : Rosneft và Lukoil, cũng như 34 chi nhánh trực thuộc hai tập đoàn nói trên bị đưa vào danh sách các thực thể nước ngoài bị Hoa Kỳ trừng phạt. Chiếm 55 % sản lượng dầu hỏa toàn quốc, Rosneft và Lukoil là hai trong số 3 tập đoàn dầu khí hàng đầu của Nga, sau Gazprom và là một trong những cột trụ kinh tế, tài chính của nước này. Chỉ 5 ngày sau, Lukoil thông báo bán tài sản ở nước ngoài. Sau đúng 9 tháng trở lại cầm quyền, sau nhiều cuộc điện đàm và một cuộc đối thoại trực tiếp với tổng thống Vladimir Putin mà vẫn chưa mang lại hòa bình cho Ukraina, ông Donald Trump mới ban hành một quyết định cụ thể nhắm vào quyền lợi của nước Nga : đóng băng toàn bộ tài sản của Rosneft và Lukoil tại Hoa Kỳ và cấm tất cả các doanh nghiệp Mỹ giao dịch với hai công ty này. Cùng lúc Nhà Trắng cho các công ty đang hợp tác với các tập đoàn Nga thời hạn 30 ngày để chấm dứt quan hệ trước khi Mỹ áp dụng « lệnh trừng phạt thứ cấp », tức là các biện pháp trừng phạt gián tiếp liên lụy đến các đối tác của Hoa Kỳ (ví dụ các tập đoàn của châu Á, châu Âu, các quốc gia như Ấn Độ hay Trung Quốc…) vẫn mua năng lượng của Nga. Marie Jégo, nhà báo từng là thông tín viên tại Matxcơva của báo Le Monde, trên đài truyền hình France 5 nhắc lại thực ra ít ai để ý là dầu hỏa Nga đã « trong tầm ngắm » của Hoa Kỳ từ dưới thời chính quyền Joe Biden. Tháng 1/2025, Mỹ đã trừng phạt hai nhà sản xuất Nga, nhưng là những hãng « nhỏ » và quyết định này đã ít được nhắc tới trong 10 tháng đầu nhiệm kỳ tổng thống Trump : Nhà Trắng tránh né tấn công trực tiếp vào những lợi ích của Nga, mà ngành xuất khẩu dầu khí là cột trụ. « Dầu hỏa là tĩnh mạch cảnh của Nga bị nhắm tới. Nhờ thu nhập từ dầu khí mà Nga có thể tài trợ chiến tranh Ukraina. Đây cũng là nguồn thu bảo đảm gần 1/3 ngân sách của chính quyền liên bang. Hơn nữa quyết định của tổng thống Trump vừa là một hình thức trừng phạt kinh tế, vừa là một tín hiệu mạnh mẽ về phương diện chính trị. Các dịch vụ giao thương đối với các nhà sản xuất năng lượng của Nga với khách hàng trở nên phức tạp hơn. Nhưng không vì thế mà Vladimir Putin đổi ý và ngừng chiến tranh Ukraina. Cần lưu ý rằng các biện pháp trừng phạt chỉ nhắm vào các khoản giao dịch được thanh toán bằng đô la Mỹ. Đương nhiên là khi Ấn Độ mua vào dầu hỏa của Nga thì New Delhi thanh toán bằng đô la chứ không phải là bằng rupi của Ấn Độ hay rúp của Nga - và nếu có thì khoản này cũng khá hạn chế. Trái lại, trong trường hợp với Trung Quốc, do là đối tác thương mại quan trọng bậc nhất đôi bên trực tiếp giao dịch bằng nhân dân tệ. Nga bán dầu hỏa cho Trung Quốc và được thanh toán bằng nhân dân tệ, rồi dùng chính đơn vị tiền tệ này để nhập khẩu hàng từ Trung Quốc ». Trừng phạt thứ cấp còn nguy hiểm hơn Hãng tin Nga TASS trích lời phó thủ tướng Alexander Novak theo đó, cuối 2024 lĩnh vực năng lượng chiếm khoảng 20 % GDP của Nga. Liên quan đến tác động cụ thể đối với bản thân nước Nga từ việc Mỹ đưa Rosneft và Lukoil vào « sổ đen », như vừa nói chưa đầy một tuần sau khi bị Washington nhắm tới, Lukoil đã phải thông báo « bán tài sản ở nước ngoài ». Mọi giao dịch của Lukoil và Rosneft với các đối tác bằng đô la cũng bị trong tầm ngắm của bộ Tài Chính Mỹ. Theo nhận định của tướng Dominique Trinquand, nguyên trưởng phái đoàn quân sự Pháp tại Liên Hiệp Quốc, lệnh trừng phạt tổng thống Trump vừa ban hành chỉ nhắm tới các dịch vụ xuất nhập khẩu của hai tập đoàn nói trên được thanh toán bằng đô la, nên ít ảnh hưởng đến giao dịch giữa Nga và Trung Quốc. Một phần hóa đơn năng lượng giữa hai đối tác này đã được thanh toán trực tiếp bằng đồng rúp Nga hoặc nhân dân tệ Trung Quốc. Nhưng vô hình chung, Ấn Độ lại là bên chịu áp lực mạnh hơn cả. « Chính điều này càng đẩy Nga vào vòng tay Trung Quốc : khi xuất khẩu dầu hỏa và nhận vào nhân dân tệ, Matxcơva lại dùng chính đơn vị tiền tệ này để mua hàng Trung Quốc. Sau khi Donald Trump quyết định trừng phạt hai tập đoàn dầu khí của Nga, lập tức thị trường có dấu hiệu bị căng thẳng. Đồng thời Ấn Độ lập đã có phản ứng tức thời. New Delhi hiện là một trong hai khách hàng mua vào nhiều dầu nhất của Nga. Do vậy ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nhập từ dầu hỏa, đến khả năng tài chính của Nga ». Ấn Độ khó từ bỏ dầu hỏa Nga Năm 2024, New Delhi nhập khẩu gần 1,8 tỷ thùng dầu thô cả năm, trong đó dầu Nga chiếm hơn 1/3. Ấn Độ cùng với Trung Quốc là hai khách hàng quan trọng nhất hiện nay mua vào dầu khí của Nga. Hai thị trường này cộng lại chiếm từ 70 đến 80 % tổng kim ngạch xuất khẩu dầu hỏa Nga. Thực ra, trên hồ sơ năng lượng Ấn Độ từ nhiều tuần qua đã chịu áp lực rất lớn từ phía Washington. Lệnh trừng phạt của Washington nhắm vào Rosneft, Lukoil chỉ là « giọt nước làm tràn ly » : bởi hai công ty này chiếm khoảng một nửa lượng xuất khẩu dầu mỏ của Nga sang Ấn Độ. Tập đoàn Reliance, nhà nhập khẩu chính của Ấn Độ, đã xác nhận đang điều chỉnh các đơn hàng dầu hỏa với đối tác Nga. Một ngân hàng Ấn Độ hỗ trợ các khoản thanh toán giao dịch về năng lược đang lo các hoạt động trên lãnh thổ Hoa Kỳ bị ảnh hưởng. Để tránh các lệnh trừng phạt, các công ty Ấn Độ đã bắt đầu thanh toán bằng đồng dirham của Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và một số ngoại tệ khác, nhưng giải pháp này gây « không ít tổn hại cho cả phía Ấn Độ và Nga ». Ngay tuần trước, New Delhi đã nhượng bộ Hoa Kỳ qua tuyên bố « có thể quay lại với các nhà cung cấp truyền thống » như như Irak, Ả Rập Xê Út và nhất là Hoa Kỳ. Song đó chỉ là những khó khăn nhất thời. Cả New Delhi lẫn Matxcơva cùng có khả năng thích ứng khá nhanh. Nga đã chứng minh khả năng vượt qua các lệnh trừng phạt. New Delhi, học hỏi từ kinh nghiệm của Trung Quốc và Iran, đang nhanh chóng thành lập các thực thể trung gian để hợp pháp hóa các khoản giao dịch với Nga. Điều đó không cấm cản việc Mỹ nhắm vào xuất khẩu dầu hỏa của Nga là một áp lực thực thụ đối với tổng thống Vladimir Putin. Phát biểu ngay sau khi Nhà Trắng loan báo phong tỏa tài sản của Lukoil và Rosneft ở Hoa Kỳ và cấm các doanh nghiệp Mỹ tiếp tục giao thương với hai tên tuổi hàng đầu này của Nga, tổng thống Vladimir Putin coi đây là một quyết định thiếu thân thiện. Phát ngôn viên của điện Kremlin Dmitri Peskov cũng đã nhắc đi nhắc lại điều đó. Trên đài truyền hình France 5, tướng Dominique Trinquand nói đến những tác động không chỉ về kinh tế mà cả quân sự sau này : « Cỗ máy chiến tranh của Nga chủ yếu do ngành năng lượng đài thọ. Do vậy trong ngắn hạn cũng như dài hạn, sẽ tác động đến thu nhập, đến tình trạng tài chính của Nga. Matxcơva đã bắt đầu gặp khó khăn nên đã phải tăng thuế để tiếp tục trang trải các chi phí chiến tranh. Nga gặp khó khăn trong việc tài trợ cho các ngành công nghiệp quốc phòng, cũng bị hạn chế trong việc cấp tiền thưởng cho các quân nhân. Đánh vào dầu hỏa của Nga tác động luôn cả đến việc tuyển mộ lính ». Ưu tiên của TT Trump : Xăng dầu rẻ cho người Mỹ Về câu hỏi tại sao chính quyền Trump đợi đến thời điểm này mới trực tiếp đánh vào ngành dầu hỏa, « túi tiền » của Nga câu trả lời khá đơn giản. Thứ nhất, trong một thời gian dài ông Trump vẫn tin vào khả năng đàm phán xuất chúng của bản thân và sẽ thuyết phục được đồng cấp Nga. Lãnh đạo Nhà Trắng cũng đã quan tâm đến quyền lợi của các tập đoàn dầu khí Hoa Kỳ đang muốn quay trở lại và tiếp tục hoạt động, hợp tác với các đối tác Nga. Lý do thứ hai, như Anthony Bellanger đặc trách chuyên mục địa chính trị trên đài truyền hình FranceInfo TV nhận định, tổng thống Trump trước hết quan tâm đến quyền lợi của người tiêu dùng Mỹ khi phải đi đổ xăng. « Nếu như có một điều mà từ đầu nhiệm kỳ đến nay tổng thống Trump không hề thay đổi ý kiến, đó là hồ sơ dầu lửa. Giá dầu luôn là điều ám ảnh đối với ông. Tránh gây căng thẳng trên thị trường năng lượng, ông đã đôn đáo thuyết phục các quốc gia vùng Vịnh, đứng đầu là Ả Rập Xê Út mở van dầu. Donald Trump biết rằng những biến động trên thị trường này lập tức làm dao động giá xăng dầu ở Mỹ. Cử tri của ông sẽ cảm nhận ngay khi đi đổ xăng. Hiện tại, cho dù Washington đang siết chặt gọng kềm với các nhà sản xuất dầu khí của Nga, giá dầu có tăng thêm một chút nhưng mới chỉ giao động ở mức trên dưới 65 đô la một thùng dầu. Như vừa nói, Trung Quốc và Ấn Độ, theo thứ tự, hiện là hai nguồn nhập khẩu dầu lớn nhất của Nga. Nhưng vì có những rủi ro khi giao dịch với Nga như vậy, cho nên Bắc Kinh và Ấn Độ ép giá, mua vào với giá rẻ hơn từ 15 đến 20 % so với giá thị trường. Với việc chính quyền Trump liên tục gây sức ép đòi New Delhi ngừng nhập khẩu dầu hỏa của Nga, Washington đòi trừng phạt tất cả những ai tiếp tục giao dịch với các tập đoàn như Lukoil và Rosneft… mức độ rủi ro như vậy đối với Trung Quốc và Ấn Độ lại càng cao hơn. Có nhiều khả năng trong tương lai, hai khách hàng này sẽ còn đòi Nga phải bán dầu khí với giá còn rẻ hơn nữa. Có thể là hai quốc gia châu Á này sẽ nhập khẩu dầu của Nga với giá 30 % thấp hơn so với giá thị trường ». Tổng thống Putin từ khi điều quân xâm chiếm Ukraina luôn chứng minh khả năng thích nghi của Nga trước các đòn trừng phạt phương Tây ban hành. Riêng trong lĩnh vực dầu hỏa và năng lượng thì Nga vừa có tính sáng tạo, vừa là một nhà vô địch trong việc « thăm dò, khai thác các vùng xám » để các tập đoàn dầu khí vẫn có thể cung cấp đến 1/3 ngân sách quốc gia. Điện Kremlin thừa biết nhược điểm của tất cả cac nước phương Tây, kể cả Hoa Kỳ, là việc thực thi các lệnh trừng phạt. Riêng với Donald Trump có lẽ Matxcơva vẫn tin vào khả năng có thể làm tổng thống Hoa Kỳ đổi ý.
Từ ngày 08 đến 10/10/2025, tổng thống Vladimir Putin có chuyến thăm cấp nhà nước ba ngày tại Tajikistan vào thời điểm các nước Trung Á đang có những chuyển đổi địa chính trị trong khi Nga tìm cách duy trì ảnh hưởng đang dần suy yếu của mình do cuộc chiến xâm lược Ukraina. Về mặt chính thức, tổng thống Nga đến thủ đô Dushanbe để dự hai cuộc họp quan trọng : Thượng đỉnh Nga và năm nước Trung Á Kazakhstan, Kirghizistan, Ouzbekistan, Tajikistan, và Turkmenistan, và Thượng đỉnh Cộng đồng Các Quốc gia Độc lập (CIS) giữa Nga, năm nước Trung Á cùng với Belarus, Armenia và Azerbaijan. Trung Á : Sân sau chiến lược truyền thống của Nga Theo giới quan sát, những cuộc họp này còn là cách để ông Putin chứng tỏ Nga vẫn duy trì kiểm soát đối với « các nước láng giềng gần », những nước nằm trong vùng ảnh hưởng của Matxcơva, đặc biệt là tại Trung Á, đang trở thành vùng tranh giành ảnh hưởng giữa Trung Quốc và phương Tây. Nhìn từ góc độ lịch sử, Trung Á từ lâu được xem như là sân sau chiến lược của Nga. Và mỗi nước Cộng hòa có những nét đặc biệt và riêng biệt trong quỹ đạo thuộc địa Nga và Xô Viết cũng như là trong mối quan hệ của họ đối với Nga. Các mối liên hệ trong nhiều lĩnh vực kinh tế, thương mại, giáo dục và an ninh, quân sự cũng từ đó được siết chặt hơn. Nhà nghiên cứu về Trung Á đương đại, Isabelle Ohayon, trợ lý giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về thế giới Nga, Kavkaz và Trung Âu, trên đài phát thanh France Culture, ngày 08/04/2025, nhắc đến Kazakhstan như một ví dụ điển hình : « Kazakhstan có mối liên hệ rất chặt chẽ và lâu đời với Nga, bởi vì nước này là quốc gia đầu tiên, là không gian đầu tiên bị đế chế Nga đô hộ ngay từ đầu thế kỷ XVIII. Đây cũng là đất nước, trước khi Liên Xô sụp đổ, có cộng đồng cư dân Nga và nói tiếng Nga đông nhất. Người Kazakhstan chỉ chiếm có 39% dân số vào năm 1991 so với tỷ lệ 70% hiện nay. Điều đó cho thấy là hiện tượng Nga hóa, sự hiện diện của Nga, cũng như sự gắn bó với nền văn hóa lớn của Nga theo nghĩa chung đã thâm nhập, thấm nhuần sâu sắc tại Kazakhstan hơn là các nước Cộng hòa khác. Nếu chỉ xét về việc sử dụng ngôn ngữ, tiếng Nga được dùng phổ biến, song ngữ phát triển khá mạnh mẽ ». Năm 1991, Liên Xô tan rã, nhưng các mối quan hệ đó vẫn tồn tại. Theo nữ tiến sĩ Laetitia Spetschinsky, chuyên ngành Quan hệ Quốc tế tại trường đại học Công giáo Louvain, Bỉ, trả lời phỏng vấn báo Bỉ L'Echo, « sự tan rã một đế chế không có nghĩa là toàn bộ cấu trúc được xây dựng trong suốt chiều dài lịch sử bị sụp đổ : Hệ thống liên thông đường sắt và các tiêu chuẩn công nghiệp vẫn được duy trì ». Về điểm này, nhà nhiếp ảnh người Ouzbekistan Timur Karpov, trong một chương trình trên đài truyền hình ARTE (19/11/2024), có cùng nhận định : « Nga luôn gây sức ép mạnh mẽ đối với Uzbekistan. Mối quan hệ giữa hai nước đã bắt đầu phát triển trong suốt thời kỳ Xô Viết. Vào thời điểm đó, toàn bộ giới lãnh đạo đất nước, bằng cách này hay cách khác, đều có liên hệ chặt chẽ với Nga. Hệ quả là việc nước tôi khó thể tách rời khỏi Nga cũng là lẽ tất nhiên ». Chiến tranh Ukraina : Bàn cờ Trung Á được xáo lại Nhưng việc Nga phát động chiến tranh xâm lược Ukraina đã làm thay đổi bàn cờ địa chính trị tại Trung Á. Những phát biểu của ông Putin sẵn sàng dùng vũ lực để chiếm lại những vùng lãnh thổ từng thuộc về đế chế Nga hay để bảo vệ kiều dân Nga ở hải ngoại càng làm gia tăng nỗi lo về an ninh tại các nước Trung Á. Điều này thôi thúc các nước trong khu vực cùng với một số nước vùng Kavkaz bắt đầu mở rộng các mối quan hệ với nhiều nước đối tác cũng như đối thủ của Nga, từ Trung Quốc, Liên Hiệp Châu Âu, cho đến Thổ Nhĩ Kỳ hay các nước Vùng Vịnh, nhằm tìm cách bảo vệ trước nguy cơ một cuộc tấn công mới từ Nga. Đối với năm nước Trung Á, cuộc chiến Ukraina một thời cơ tốt để thiết lập các mối quan hệ mới với nhiều cường quốc khác. Vladislav Inozemstsev, cố vấn đặc biệt tại Viện Nghiên cứu về Truyền thông Trung Đông, trả lời hãng Bloomberg, lưu ý, « tầm ảnh hưởng của Putin đang suy yếu, nhưng sẽ không kéo dài bao lâu ». Trong số các nước tận dụng khoảng trống quyền lực do Nga để lại, Trung Quốc là bên hưởng lợi nhiều nhất. Phóng sự của ký giả Heike Smith, ban tiếng Pháp đài RFI, nêu trường hợp cửa khẩu Khorgos, nằm giữa Trung Quốc và Kazakhstan. Tại đây, các hoạt động vận chuyển hàng hóa từ Trung Quốc sang châu Âu tăng vọt ngoạn mục kể từ khi chiến tranh Ukraina bùng nổ, theo như mô tả của Hicham Belmaachi, một doanh nhân người Maroc. « Từ khi xảy ra chiến tranh ở Ukraina, chúng tôi nhận thấy nhiều công ty quốc tế, đặc biệt là các hãng vận tải biển lớn nhất, đã rút khỏi Nga. Điều này đồng nghĩa với việc các hãng lớn vận tải đường biển quốc tế đã ngừng hoạt động tại Nga. Vì vậy, chúng tôi đã phải thiết kế lại hoàn toàn hệ thống kho bãi tại khu vực này. Cụ thể là Kazakhstan, Uzbekistan và Kyrgyzstan, thay vì nhập khẩu phần lớn sản phẩm từ Nga, nay đã chuyển hướng sang Trung Quốc ». Mối tương quan lực lượng cũng vì thế có thay đổi. Nga không còn thế ưu việt tại Trung Á như trước đây. Nếu như Matxcơva vẫn thống trị khu vực trong lĩnh vực an ninh, Nga lại bị Trung Quốc cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại, công nghệ và thậm chí cả ngoại giao. Về điểm này, nhà chính trị học người Kazakhstan, Dossym Satpaiev, giám đốc trung tâm tư vấn Risks Assessment Group, trả lời RFI, nhận định cuộc chiến tại Ukraina đã mang đến một cơ hội tốt cho phép Kazakhstan giữ khoảng cách với Matxcơva. « Đúng là chúng tôi có đường biên giới rất dài với Nga. Khoảng 20% dân số là người Nga. Dầu mỏ xuất khẩu của chúng tôi vẫn đi qua lãnh thổ Nga. Hơn nữa, một phần lãnh thổ Kazakhstan phụ thuộc vào nguồn cung cấp điện của Nga. Kazakhstan cũng nhận khí đốt từ Nga. Vì vậy, Nga vẫn có ảnh hưởng đối với Kazakhstan. Nhưng mặt khác, cuộc chiến ở Ukraina đã tạo cho Kazakhstan một cơ hội tốt để dần dần tách khỏi Matxcơva. Kazakhstan giờ đây phải tìm kiếm một đối trọng địa chính trị với Nga. » Trung Á : Thách thức mới cho Nga Không chỉ có Trung Quốc, nhiều cường quốc phương Tây cũng bắt đầu dòm ngó đến Trung Á, từ Liên Hiệp Châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ, cho đến nước Mỹ của Donald Trump, thông qua các thỏa thuận về đầu tư khai thác khoáng sản, vận chuyển và năng lượng. Trên đài RFI, Michael Levystone, đồng sáng lập Đài Quan sát Tân Á – Âu, chuyên gia về Châu Âu và vùng Á-Âu tại INALCO, nhận xét tiếp : « Đây là khu vực có tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo, chẳng hạn như năng lượng mặt trời ở Uzbekistan, năng lượng gió trên bờ biển Caspi của Kazakhstan và Turkmenistan, và thủy điện, vốn đã rất phát triển ở Kyrgyzstan và Tajikistan. Một khu vực nằm ở ngã tư của các cường quốc : Nga, Trung Quốc, Iran, và cũng không xa Thổ Nhĩ Kỳ. Trong bối cảnh các lệnh trừng phạt rất khắc nghiệt đối với nền kinh tế Nga nhằm trả đũa cho cuộc xâm lược Ukraina ngày 24 tháng 2 năm 2022, khu vực này một lần nữa thực sự trở thành trung tâm thương mại xuyên khu vực giữa Trung Quốc và Liên Hiệp Châu Âu theo hướng Đông-Tây, và giữa Nga và Nam Á theo hướng Bắc-Nam. Đây là những quốc gia, các nước Cộng hòa Trung Á, đang nỗ lực tối đa hóa tiềm năng địa kinh tế mới này, gắn liền với việc điều chỉnh quy mô các hành lang giao thông đi qua khu vực này để kết nối các cường quốc kinh tế với nhau. » Dù vậy, giới chuyên gia đều nhận định, bất chấp cuộc chiến tại Ukraina, tầm ảnh hưởng của Nga tuy suy giảm, nhưng Matxcơva vẫn còn hiện diện đáng kể về mặt chính trị, kinh tế và quân sự trong vùng. Trang Bloomberg lưu ý, hàng triệu di dân Trung Á đang sinh sống và làm việc tại Nga gởi tiền, góp phần nuôi sống nền kinh tế trong nước. Kazakhstan, Kirghizistan và Armenia là thành viên của khu vực thuế quan chung do Nga điều hành. Còn Tajikistan tham gia vào khối liên minh phòng thủ với Matxcơva, trong khi Kazakhstan là quốc gia duy nhất trong vùng không có căn cứ quân sự Nga. Trong bối cảnh mới này, theo quan điểm của ông Michael Levystone, mục tiêu chuyến công du Trung Á của tổng thống Putin là nhằm chứng minh Nga vẫn có ảnh hưởng trong vùng. Trên làn sóng RFI, ông nhận định : « Nga đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ Trung Quốc và các nước vùng Vịnh, đặc biệt là Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Ả Rập Xê Út. Về đất hiếm, Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ rất chú ý và ngày càng hiện diện nhiều hơn. Năng lượng hạt nhân theo truyền thống là một trong những điểm mạnh trong chính sách ngoại giao kinh tế của Matxcơva trong khu vực. Ngoài năng lượng hạt nhân, còn có vũ khí Nga. Vấn đề nhỏ là tại Uzbekistan, Rosatom đã trúng thầu xây dựng một nhà máy điện hạt nhân, nhưng công suất lắp đặt đã bị tổng thống Mirziuyev hạ xuống đáng kể vào năm 2024. Và tại Kazakhstan, dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên Hồ Balkash thực tế đã được chính quyền Astana trao cho Rosatom vào đầu năm nay. Bộ trưởng Năng lượng Kazakhstan khi đó đã tuyên bố Trung Quốc sẽ được trao thầu xây dựng một dự án hạt nhân khác tại Kazakhstan. Vì vậy, chúng ta có thể thấy rõ ràng ngay cả ở đây, Nga cũng không hoàn toàn có chủ quyền. Các nước Trung Á, trong trường hợp này là Kazakhstan, vẫn có phản xạ muốn cân bằng mọi thứ để tránh, về cơ bản, giao phó một phần đáng kể an ninh năng lượng của họ cho riêng Nga. »
Moldova, quốc gia nhỏ bé với hơn 2 triệu dân, thành viên Liên Xô cũ, vốn rất ít được chú ý, đột ngột trở thành tâm điểm thời sự châu Âu cuối tháng 9/2025. Bầu cử Quốc Hội Moldova không chỉ là cuộc đấu giữa đảng PAS cầm quyền của tổng thống Maia Sandu, chủ trương nhanh chóng gia nhập Liên Âu và khối đảng phái yêu nước thân Nga (BECS), mà còn là một thử thách lớn với Liên Âu, coi việc mở rộng khối là con đường giúp củng cố hòa bình, an ninh và thịnh vượng. Cuộc bầu cử Modlova là trận quyết đấu mới giữa Liên Âu với Nga trong « cuộc chiến hỗn hợp », khi chiến tranh tâm lý, chiến tranh trên mạng đi kèm với những can thiệp hoặc đe dọa can thiệp bằng vũ lực. Báo chí châu Âu nói đến một « trắc nghiệm lớn đầu tiên » trong cuộc đọ sức giữa Liên Âu và Nga » (RTBF). « Một phần tương lai của Liên Âu và chính sách mở rộng của khối sẽ được quyết định tại đây », theo nhà chính trị học Florent Parmentier, chuyên về khu vực đông Âu hậu Liên Xô. Nhìn từ Ukraina, đang trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Nga, đây là một trắc nghiệm « với Ukraina và toàn châu Âu ». Tổng thống Volodymyr Zelensky khẳng định : « Châu Âu không thể cho phép mất Moldavia, như đã mất Belarus và Gruzia ». Tình thế đầy bất trắc trước bầu cử Ngày 28/09/2025 vừa qua, cử tri Moldova đã dành đa số quá bán tại Quốc Hội mới cho đảng của nữ tổng thống Maia Sandu, người đã đặt cử tri trước lựa chọn « địa-chính trị » rõ ràng: Bầu cho PAS là hội nhập hoàn toàn với gia đình Liên Âu. Và ngược lại, nếu đảng PAS mất đa số, Moldavia sẽ rơi trở lại quỹ đạo của điện Kremlin, đất nước « sẽ mất tất cả ». Xét theo sự ủng hộ trước đó của cử tri, tình thế Moldova trước bầu cử là đầy bất trắc, dù mục tiêu gia nhập Liên Âu được ghi vào Hiến pháp, sau cuộc trưng cầu dân ý cuối năm ngoái 2024. Phe ủng hộ gia nhập Liên Âu chỉ giành chiến thắng trong gang tấc (50,35%). Số người ủng hộ tổng thống Maia Sandu cũng sụt giảm nhiều trong cuộc bầu cử tổng thống năm ngoái. Chiến tranh Ukraina khiến kinh tế Moldova suy trầm, lạm phát tăng vọt. Moldova có lúc phải tiếp nhận đến 1,5 triệu người tị nạn Ukraina. Điện Kremlin cắt khí đốt với Moldova từ đầu năm nay. Chưa kể đến sự tồn tại của vùng ly khai thân Nga Transnistria, nơi có cả nghìn quân Nga trú đóng, và nhiều khu vực, nơi có đến hơn 90% cư dân chống gia nhập Liên Âu. Theo một số ước tính, trước thềm bầu cử, có đến 30% cử tri do dự. Tung tin giả, mua phiếu bầu, gây rối: « Lòng tin vào Liên Âu », mục tiêu triệt hạ chính Nga và các thế lực thân điện Kremlin bị cáo buộc chi hàng trăm triệu euro để can thiệp vào cuộc bầu cử, tương đương với nhiều phần trăm tổng sản phẩm quốc nội của Moldova, một quốc gia thường được xếp vào nhóm nghèo nhất châu Âu. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn Viện Pháp về Quan hệ Quốc tế (IFRI), ngay sau cuộc bầu cử Quốc Hội Moldova, nhà nghiên cứu Florent Parmentier, ghi nhận ba yếu tố « can thiệp bầu cử » chính: « Thứ nhất là thông tin bịa đặt, và việc thiết lập một hệ thống tuyên truyền với mục tiêu cuối cùng là lên án Liên Âu, lĩnh vực được triển khai hết công suất. Một ví dụ : trong chuyến thăm Chisinau của tổng thống Pháp, thủ tướng Đức và thủ tướng Ba Lan ngày 27/8/2025, có một tin giả được tung ra. Nếu tổng thống Maya Sandou chiến thắng trong cuộc bầu cử lập pháp, rất có thể ngay lập tức sẽ có 700 binh sĩ Moldova được cử tham gia liên quân tình nguyện vì Ukraina do Pháp và Anh chủ trương. Loại tin giả này nhằm làm cho mọi người tin là tổng thống Maia Sandou sẽ kéo Moldova vào cuộc chiến tranh (chống Nga). Bên cạnh việc thường xuyên tung tin giả, một nỗ lực gây bất ổn khác liên quan đến vấn đề mua phiếu bầu, điều vốn đã được bàn luận rộng rãi trong cuộc bầu cử tổng thống cuối năm ngoái. Ngày 20/10/2024, vòng bỏ phiếu đầu tiên, bà Maia Sandou tuyên bố : đã có đến 300.000 cử tri bị mua chuộc. Để đánh giá đúng tầm mức to lớn của con số này, cần liên hệ với tổng số dân Moldova 2,6 triệu người. Yếu tố thứ ba là trong trường hợp có sự chênh lệch sít sao về kết quả bầu cử, có thông tin về kế hoạch của Nga huấn luyện một số phần tử gây bạo loạn người Moldova cùng với người Serbia, tổ chức các cuộc biểu tình phản đối sau bầu cử, và có các hành động gieo rắc không khí lo sợ. Như vậy, chúng ta thấy cái đích tấn công của Nga là lòng tin vào Liên Hiệp Châu Âu cũng như chính sách kết nạp thành viên mới của Liên Âu và những lợi ích mà Liên Âu có thể mang lại. Tiếp theo đó là làm xói mòn lòng tin vào các định chế nhà nước Moldova. » ECFR : Gần như hóa giải được nạn mua phiếu trước bầu cử Để chống lại các can thiệp Nga, Liên Âu dồn lực cho Moldova. Tháng 9/2025, trước thềm cuộc bầu cử, Hội đồng Đối ngoại châu Âu (European Council on Foreign Relations - ECFR), viện tư vấn hàng đầu về các chính sách của châu Âu, tiến hành một khảo sát tại quốc gia này. Theo thẩm định của ECFR, với các hỗ trợ của các cơ quan của Liên Âu về điều tra tài chính và chia sẻ các thông tin khác, chính quyền Moldova về cơ bản đã hóa giải được các can thiệp của Nga trong lĩnh vực mua phiếu bầu, giảm mạnh so với kỳ bầu cử tổng thống năm ngoái. Tổng cộng 25.000 người đã bị phạt vì tội mua bán phiếu bầu trong thời gian tranh cử. Chính quyền Moldova kết hợp tấn công các mạng lưới mua bán phiếu bầu với việc tuyên truyền rộng rãi về « tính chất tội phạm » của hoạt động này, nâng cao nhận thức cộng đồng quy mô lớn, « bao gồm quảng cáo, truyền hình và mạng xã hội, đặc biệt tại các nhà thờ Chính thống giáo », khiến « hầu hết các mạng lưới mua bán phiếu bầu » được coi là « đã bị tê liệt » trước bầu cử. Việc nhà tài phiệt Vladimir Plahotniuc bị dẫn độ từ Hy Lạp về Moldova ngay trước thềm bầu cử được coi là một đòn nặng giáng vào các thế lực thao túng. Plahotniuc là cựu chủ tịch đảng Dân Chủ Moldova cánh tả, cựu phó chủ tịch Quốc Hội, được coi là người giàu nhất Moldova. Plahotniuc cùng Ilan Shor, nhà tài phiệt Moldova, cựu chủ tịch đảng Sor thân Nga cánh hữu, hiện đang lưu vong tại Matxcơva, bị cáo buộc lừa đảo 1 tỉ euro. Cả hai đều chạy ra nước ngoài năm 2019 vì sợ bị bắt. Ilan Shor hiện bị cáo buộc đứng sau các tài trợ cho hoạt động đưa tin giả, tin bóp méo trên các mạng Facebook, TikTok, Telegram… Chống tin giả: Lần đầu tiên EU triển khai « Đội Phản ứng Nhanh » Lần đầu tiên Liên Âu triển khai Đội Phản ứng Nhanh chống lại cuộc chiến Hỗn hợp (Hybrid Rapid Response Team) để hỗ trợ một quốc gia, là Moldova, chống lại can thiệp của nước ngoài, từ đầu năm nay, với thành phần gồm nhóm chuyên gia từ Bruxelles và từ nhiều quốc gia thành viên. Vào tháng 6, Liên Âu họp với đại diện các tập đoàn truyền thông kỹ thuật số Google, Meta và TikTok cùng các cơ quan chức năng Moldova và các nhóm thuộc xã hội dân sự nước này để phối hợp đối phó với các chiến dịch thông tin sai lệch. Kể từ tháng 7/2025, Ủy Ban Châu Âu lập FACT, một chi nhánh khu vực thuộc Đài quan sát Truyền thông Kỹ thuật số Châu Âu (EDMO), tập trung vào việc chống các chiến dịch thông tin sai lệch của Nga trong kỳ bầu cử vừa qua tại Moldova. Chủ thuyết của Liên Âu : Kết nạp thành viên mới giúp « bảo đảm an ninh » Liên Hiệp Châu Âu hiện tại gồm 27 quốc gia thành viên. Tính từ Cộng đồng Kinh tế châu Âu, thành lập năm 1957, với 6 nước (Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg), được coi là tiền thân của Liên Âu, khối đã trải qua 7 đợt kết nạp. Việc mở rộng cho sự tham gia của các thành viên mới, về mặt nguyên tắc, được Liên Âu coi là điều giúp mang lại hòa bình và an ninh cho châu lục, thúc đẩy kinh tế, củng cố nền dân chủ, nhà nước pháp quyền, nhân quyền. Moldova và Ukraina, cùng Gruzia là ba quốc gia chính thức đệ đơn gia nhập Liên Âu ngay sau khi Nga tấn công Ukraina đầu năm 2022. Trong bối cảnh này, Ủy Ban Châu Âu tiếp tục coi việc mở rộng khối như một chiến lược không những là hàng đầu, mà còn có ý nghĩa sống còn với khối. Ủy viên châu Âu phụ trách việc kết nạp các thành viên mới, bà Marta Kos, nhận định : « Việc mở rộng Liên Âu là một yếu tố then chốt trong việc đảm bảo an ninh của châu Âu trong bối cảnh đối đầu leo thang giữa các chế độ dân chủ và độc tài. » (họp báo sau cuộc gặp của các bộ trưởng phụ trách các vấn đề Châu Âu đầu tháng 9/2025, tại Copenhagen). Ủy viên châu Âu phụ trách việc kết nạp các thành viên mới nhấn mạnh : « tiến trình mở rộng Liên Âu đã trở thành một phần của cuộc đối đầu địa-chính trị giữa các xã hội dân chủ tự do và các chế độ độc tài. Điều này được thể hiện rõ ràng và khắc nghiệt nhất ở Ukraina, cũng như qua các hình thức chiến tranh hỗn hợp, kín đáo hơn ở các quốc gia ứng cử viên khác, chẳng hạn như Cộng hòa Moldova ». Ủy viên phụ trách kết nạp khẳng định tiến trình gia nhập của Ukraina và Moldova đang tiến triển nhanh chóng, và Ủy Ban Châu Âu đang nỗ lực để thúc đẩy. Trắc nghiệm « khả năng đề kháng » của châu Âu trước Putin Sau chiến thắng của đảng cầm quyền chủ trương hội nhập Liên Âu, thủ tướng Ba Lan Donald Tusk phát biểu trên X: « Các vị đã ngăn chặn được nỗ lực của Nga kiểm soát toàn bộ khu vực. Một bài học tốt cho tất cả chúng ta. » Trước thềm bầu cử, một báo cáo của Hội đồng Đối ngoại châu Âu ECFR, nói rõ: « nếu các đảng phái hoặc nhóm đảng phái liên kết với điện Kremlin trúng cử, sẽ có rủi ro an ninh trực tiếp ở biên giới phía tây nam Ukraina và Nga sẽ có một căn cứ ở vùng trung tâm để tiến hành các hoạt động chống lại các nước Liên Âu ». Hội đồng Đối ngoại châu Âu giải thích: « Châu Âu nên xem Moldova như một nơi thử nghiệm khả năng đề kháng của chính mình (European resilience). Cuộc bầu cử này có thể mang đến cho Bruxelles cái nhìn sâu sắc và quý giá về các chiến thuật, các công cụ và các hệ quả từ các hoạt động của Matxcơva… Cơ hội để phản bác chiến lược tuyên truyền sai lệch và chiến tranh hỗn hợp của Nga ». Nga: Tham vọng phục hồi quyền lực tại nhiều vùng thuộc Liên Xô cũ Về mặt chính thức, chính quyền Nga không chống lại việc các nước nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Matxcơva gia nhập Liên Hiệp Châu Âu. Tuy nhiên, tham vọng của Matxcơva khôi phục ảnh hưởng, thậm chí chi phối trở lại các vùng thuộc Liên Xô trước đây là điều mà đông đảo giới quan sát ghi nhận. Cách nay hai năm, truyền thông Mỹ loan tải kế hoạch bí mật của cơ quan an ninh Nga FSB, đề ra chiến lược 10 năm để đưa Moldova trở lại phạm vi ảnh hưởng của Nga. Chiến lược dường như được soạn thảo vào năm 2021. Trong các mục tiêu đề ra có việc phản đối « chính sách bành trướng của Rumani » tại Moldova, nơi Rumani là tiếng nói của đa số, và là ngôn ngữ chính thức. Chiến lược được coi là của cơ quan an ninh Nga cũng phản đối sự hợp tác của Moldova với khối NATO, tạo lập « các nhóm truyền bá cho quan điểm của điện Kremlin tại Moldova ». Làm thế nào để quyết tâm hội nhập với EU không dẫn đến xung đột với Nga ? Việc đảng cầm quyền tại Moldova, chủ trương nhanh chóng gia nhập Liên Âu, thắng cử Quốc Hội khiến không ít người thở phào nhẹ nhõm. Tuy nhiên nhiều nhà quan sát đặt câu hỏi : Liệu Moldova có thể hội nhập hoàn toàn với Liên Âu cùng lúc duy trì quan hệ bình thường với Matxcơva ? Trang mạng Le Diplomate, chuyên về địa chính trị, giới thiệu bài « Moldavia, thùng thuốc súng ở ngưỡng cửa châu Âu ? », dẫn lời chuyên gia Nga Andrew Korybko, thuộc trung tâm tư vấn Club Valdai, gần gũi với điện Kremlin, nói thẳng là việc NATO tiếp tục mở rộng về phía đông, có thể khiến quan hệ giữa Nga và NATO thêm căng thẳng. Và Moldavia có thể bị cuốn vào chiến tranh với Nga, như Ukraina. Tuy nhiên, trên thực tế, theo một số thăm dò dư luận gần đây, chỉ có một phần tư người Moldova ủng hộ gia nhập NATO, và tỉ lệ này gần như không thay đổi kể từ năm 2022, tức từ đầu cuộc xâm lăng của Nga chống Ukraina. Sự lựa chọn tỉnh táo và môi trường thông tin lành mạnh Vấn đề căn bản với đông đảo người dân Moldova, khi chọn con đường hội nhập nhanh chóng với Liên Âu, không phải là tham gia vào một khối quân sự bị Nga coi là đối thủ, mà là được sống trong một xã hội có an ninh, Nhà nước pháp quyền, các thể chế nhà nước có trách nhiệm, đời sống kinh tế được cải thiện, một xã hội không bị tham nhũng hoành hành, một xã hội mở cửa với những tiếng nói khác biệt. Đây cũng là các tôn chỉ của cơ chế Đối tác phía Đông giữa Liên Âu và Moldova, được xác định từ năm 2009. Xét theo các mục tiêu này, chiến thắng của đảng chủ trương hội nhập Liên Âu tại Moldova vừa qua, dù là một thắng lợi đáng kể, cũng chỉ là một bước tiến trên chặng đường dài và gian nan của quốc gia nhỏ bé, thuộc Liên Xô cũ. Trong hành trình dài này, điều quyết định là sự lựa chọn của người dân Moldova. Lựa chọn đúng hướng và tỉnh táo ắt chỉ có thể có được trong một môi trường thông tin minh bạch và lành mạnh, điều mà Liên Âu đã góp phần nỗ lực bảo vệ trong kỳ tranh cử Quốc hội Moldova vừa qua.
Quan hệ giữa Mỹ và Belarus, quốc gia thường được coi là hoàn toàn nằm trong quỹ đạo của điện Kremlin, có một số biến chuyển bất ngờ. Quan sát viên Mỹ được mời dự tập trận Zapad do Nga và Belarus chủ trì. Washington mở lại sứ quán tại Belarus. Trừng phạt với hãng hàng không quốc gia Belarus được dỡ bỏ sau khi Minsk thả hàng chục tù chính trị. Việc Mỹ và Belarus tốc lực bình thường hóa quan hệ có phải là một kịch bản nằm hoàn toàn trong lợi ích của chế độ Putin? Drone Nga xâm nhập lãnh thổ NATO, Mỹ được mời quan sát tập trận Zapad Ngay trước khi cuộc tập trận lớn Zapad 4 năm một lần, đêm 09/09/2025 khoảng 20 drone Nga xâm nhập lãnh thổ Ba Lan, quốc gia sườn đông của khối NATO. Đây là lần thứ 4 trong lịch sử liên minh phòng thủ NATO từ khi thành lập năm 1949, điều 4 Hiến chương của khối được một quốc gia thành viên kích hoạt để tham vấn các đồng minh. Lần đầu tiên chiến đấu cơ NATO được huy động để hủy diệt mục tiêu xâm nhập không phận của một thành viên. Chính trong bối cảnh đó, các quan sát viên quân đội Mỹ đã được mời tham dự cuộc tập trận Zapad vào hai ngày cuối, 15 và 16/09. Trước đó, ngày 11/09, chính quyền Minsk trả tự do cho 52 tù nhân nhiều quốc tịch, trong đó có 14 công dân nước ngoài và nhiều tù nhân chính trị Belarus, gồm cả ông Nikolai Statkevich, ứng cử viên tổng thống Belarus năm 2010 (người đã không chấp nhận đi ra nước ngoài, nên sau đó bị đưa trở lại nhà tù). Tuyên bố trả tự do cho tù nhân nói trên được đưa ra vào lúc luật sư John Coale, đặc sứ của tổng thống Trump, dẫn đầu một phái đoàn Mỹ đến Minsk. Cũng trong dịp này, phía Mỹ thông báo mở lại sứ quán tại Belarus, bị đóng cửa năm 2022 sau khi Nga xâm lược Ukraina, dùng Belarus làm bàn đạp tấn công Ukraina từ phía bắc. Trước đó, quan hệ giữa chính quyền Trump và Belarus đã có một bước tiến đáng kể. Hồi cuối tháng 6/2025, đặc phái viên của tổng thống Mỹ về Ukraina, ông Keith Kellogg, công du Belarus. Đây là cuộc gặp đầu tiên giữa một quan chức cấp cao Nhà Trắng và nhà độc tài Belarus từ 5 năm nay, và chuyến thăm đã « đánh dấu một bước ngoặt lớn » so với chính sách của tổng thống tiền nhiệm Joe Biden. Trong dịp này chế độ Lukashenko đã trả tự do cho 14 tù nhân chính trị Belarus, trong đó có ông Sergei Tikhanovsky, lãnh đạo đối lập, bị bắt giam khi cổ vũ cho phong trào biểu tình phản đối chính quyền trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2020. Ông Tikhanovsky là chồng của bà Sviatlana Tsikhanouskaya, lãnh đạo hiện tại của phong trào đối lập Belarus, tị nạn ở hải ngoại. Đọc thêm : Quốc Hội Belarus « hợp thức hóa » trấn áp phong trào đòi dân chủ Trước khi bay đi Alaska hội kiến với tổng thống Nga Vladimir Putin ngày 15/08, ông Trump đã gọi điện cho tổng thống Lukashenko. Sau cuộc điện đàm, ông Trump gọi nhà độc tài Belarus, hiện không được các nước phương Tây công nhận sau cuộc bầu cử bị lên án là gian lận, là « vị tổng thống rất đáng kính », cho biết đã nhận lời mời thăm Belarus và « nóng lòng » gặp mặt đồng nhiệm. Vì sao Trump và chế độ Minsk nhanh chóng xích lại gần nhau ? Điểm chung bề ngoài có thể thấy rõ giữa tổng thống Mỹ Donald Trump và nhà độc tài Belarus là hai bên có sự gặp gỡ về quan điểm trong việc ủng hộ việc tìm giải pháp cho việc chấm dứt chiến tranh Ukraina. Hãng thông tấn Nhà nước Belarus Belta, trong một bài viết hồi cuối tháng 8/2025 (« Lukashenko: Trump excelled as a mediator during Alaska talks / Tổng thống Belaurs : Trump là một nhà trung gian tuyệt vời tại cuộc đối thoại Alaska »), cho biết tổng thống Belarus đã ca ngợi lãnh đạo Mỹ, bênh vực cuộc thượng đỉnh Alakska, bị không ít người lên án là đã quá nhân nhượng Putin. Một chuyên gia hàng đầu về Belarus, ông Artyom Shraibman, trong một bài trả lời phỏng vấn, với chủ đề chính « Những gì diễn ra trong lòng Belarus » (What's Going On Inside Belarus), đăng tải cuối tháng 8/2025 trên trang Carnegie Russia Eurasia Center, đã ghi nhận các nỗ lực bình thường hóa quan hệ Mỹ - Belarus diễn ra vào thời điểm mà các đàm phán giữa Mỹ và Nga nhằm tìm giải pháp chấm dứt xung đột Ukraina « rõ ràng đang bị đình trệ ». Đọc thêm : Hạn định 50 ngày với Nga và rủi ro bế tắc chính trị cho Donald Trump Tổng thống Trump đã tuyên bố chấm dứt chiến tranh 24 giờ sau khi nhậm chức, rồi sau đó triển hạn thêm 6 tháng. Nửa năm đã trôi qua, cuộc xung đột tiếp diễn. Không có gì cho thấy là Nga từ bỏ các tham vọng tối đa về Ukraina, như chiếm lĩnh nhiều vùng lãnh thổ của Ukraina, đòi Ukraina phi quân sự hóa. Theo chuyên gia Artyom Shraibman, trong lúc tổng thống Lukashenko tìm cách thoát thế cô lập, dùng việc trả tự do cho các tù nhân chính trị đổi lại việc dỡ bỏ trừng phạt, và cải thiện quan hệ với Mỹ, ông Trump muốn phá thế bế tắc trong các đàm phán với Nga về chấm dứt chiến tranh Ukraina, thông qua Belarus. Mỹ bình thường hoá quan hệ với Belarus : « Con đường vòng » để Washington bỏ cấm vận Nga ? Việc Mỹ đẩy nhanh việc bình thường hóa quan hệ với Belarus, quốc gia đàn em của Nga, được một số nhà quan sát xem như mang lại nhiều lợi thế cho điện Kremlin. Nhà báo Marie Jégo, của Le Monde, chuyên về Nga, cựu thông tín viên tại Matxcơva, trong bài « Sự nhượng bộ hoàn toàn của Trump đối với Putin », nêu bật : « Về những điều đã xảy ra, cá nhân tôi thấy khá là bất ngờ. Và đây là điều đã không được các chuyên gia và nhà quan sát thực sự chú ý. Đó là vụ xâm nhập bằng drone của Nga vào bầu trời Ba Lan, và chỉ một ngày sau sự kiện này, nước Mỹ đã cử một đặc phái viên đến Minsk. Mỹ đã đạt được thỏa thuận với nhà độc tài Lukashenko, người được Matxcơva coi là một quân cờ, và chính Belarus là nơi khởi nguồn của cuộc tấn công xâm lược Ukraina của Nga. Và từ Belarus, mà tên lửa đã bắn vào Ukraina. Belarus đã can dự rất nhiều vào cuộc chiến này. Vậy là người Mỹ đã đến đó chỉ một ngày sau sự kiện kinh hoàng drone Nga xâm nhập. Họ đã đến đó. Và đã có một cuộc đàm phán. Ông Lukashenko đã thả 52 tù nhân chính trị. Riêng điều này thì chúng tôi rất vui. Đây là điều tốt. Nhưng mặt khác, chính quyền Mỹ cũng cho biết họ đang dỡ bỏ các trừng phạt, đặc biệt là đối với lĩnh vực hàng không dân dụng của Belarus. Điều đó có nghĩa là Belarus giờ đây sẽ có thể nhận được phụ tùng thay thế từ hãng Boeing của Mỹ. Và nếu như Belarus được như vậy, thì Nga cũng sẽ là nước nhận được. Như vậy, có thể nói, đây là một con đường vòng để dỡ bỏ các trừng phạt Nga. » Đọc thêm : Mỹ « bình thường hóa » quan hệ với Nga: Ác mộng với châu Âu và Ukraina? Trang mạng chuyên về chính trị Quốc tế Politico.eu, có bài ghi nhận về « nguy cơ tan vỡ » của mặt trận Mỹ - Âu trừng phạt Nga. Minsk với thế đi dây một thời giữa nước Nga Putin và châu Âu dân chủ Trước cuộc xâm lăng Ukraina của Nga, kể từ khi lên cầm quyền năm 1994, tổng thống Belarus đã xây dựng chiến lược cân bằng giữa hai đối cực, giữa nước Nga của Putin và châu Âu dân chủ. Chế độ Lukashenko đã lợi dụng vị thế địa-chiến lược đặc biệt nằm ở giữa Liên Âu và Nga để thực thi chính sách « đi dây ». Belarus phụ thuộc vào Nga về năng lượng, quân sự và chính trị, nhưng mặt khác chính sách cởi mở có chọn lọc của quốc gia thành viên Liên Xô cũ này với Liên Âu đã giúp cho Minsk được nhiều lợi thế về kinh tế. Chuyên gia về Belarus, Artyom Shraibman, trên Carnegie Endowment for International Peace, trong bài « Not So Quiet on the Eastern Front: Elements of a Risk Management Strategy Toward Belarus » (Mặt trận phía Đông không quá yên tĩnh: Một số đề xuất về chiến lược quản lý rủi ro đối với Belarus) (6/2025) ghi nhận : « Cho đến năm 2020 (tức trước cuộc bầu cử tổng thống bị lên án là gian lận), ông Lukashenko đã tìm cách duy trì thế cân bằng mong manh của Belarus giữa phương Tây và Nga, đòi phần thưởng từ mỗi bên để đổi lấy việc không xích lại gần bên kia. Chìa khóa cho chiến thuật này là khả năng của Minsk trong việc xử lý mối quan hệ với Nga như một con lắc (pendulum). Sự linh hoạt đó đã đột ngột chấm dứt do mối quan hệ gần như hoàn toàn đổ vỡ với phương Tây sau khi chính quyền Lukashenko đàn áp dữ dội các cuộc biểu tình lớn ở Belarus vào mùa hè năm 2020. Kể từ đó, con lắc Belarus bị kẹt hoàn toàn trong vùng kiểm soát của Nga. » Đọc thêm : Càng bị phương Tây cô lập, Belarus càng lệ thuộc vào người "anh cả" Nga Châu Âu cần ứng xử thế nào với « con lắc Lukashenko » ? Kể từ khi Nga xâm lược Ukraina, « con lắc » Belarus hoàn toàn bị kẹt trong vùng kiểm soát của Nga. Câu hỏi đặt ra là sau các động thái bình thường hóa quan hệ mới đây từ phía Mỹ, liệu chế độ Lukashenko có trở lại với hành xử kiểu « con lắc »? Cho đến nay Liên Âu duy trì chính sách rất cứng rắn với chế độ Minsk, không công nhận Lukashenko là tổng thống Belarus, và coi Belarus là quốc gia đồng lõa với Nga trong cuộc xâm lăng Ukraina. Liên Âu ủng hộ đối lập Belarus lưu vong và có chính sách hậu thuẫn xã hội dân sự Belarus trong tiến trình chuyển tiếp sang chế độ dân chủ, đã bị cuộc đàn áp mùa hè 2020 của chế độ Lukashenko chặn đứng. Hiện tại, hơn 1.200 nhà hoạt động Belarus vẫn bị giam giữ. Đối lập Belarus cảnh báo các nước phương Tây, trước hết là châu Âu, không để Minsk lợi dụng thủ đoạn thả tù nhân nhỏ giọt theo mặc cả với Mỹ, để đánh bóng hình ảnh. Đọc thêm : Tổng thống Belarus Lukashenko "khó xử" vì chiến tranh Ukraina Tuy nhiên, 5 năm sau cuộc bầu cử tổng thống Belarus không được phương Tây công nhận, gần 4 năm kể khi Nga xâm lược Ukraina, quan hệ giữa châu Âu và chế độ Putin ở mức căng thẳng chưa từng có. Belarus không những có thể được Nga dùng làm bàn đạp tấn công Ukraina một lần nữa, mà có thể được dùng để tấn công chính các thành viên NATO châu Âu. Chuyên gia về Belarus, Artyom Shraibman, lưu ý châu Âu cần chủ động xây dựng một chiến lược khéo léo với Minsk, để không bị Mỹ đẩy vào thế bị động trong quan hệ với Belarus (bài « Trump serves Lukashenko a welcome aperitif and pressur on Europe / Trump đãi Lukashenko món khai vị và gây áp lực lên châu Âu », ngày 22/09/2025). Để làm được điều đó, theo vị chuyên gia này, không nên đi theo định kiến cho rằng Belarus hoàn toàn là « tay sai », nhất nhất hành xử theo mệnh lệnh của điện Kremlin. Đọc thêm : Belarus lo chiến tranh hạt nhân, nhưng khẳng định sẽ tiếp nhận vũ khí hạt nhân "chiến lược" Nga Trong vụ drone xâm nhập Ba Lan vừa qua, quân đội Belarus đã báo trước cho phía Ba Lan. Cuộc tập trận Zapad được tổ chức ở miền đông Belarus, cách xa biên giới với Ba Lan. Chế độ Lukashenko không muốn biên giới với Ba Lan đóng cửa làm tê liệt tuyến đường sắt nối liền Trung Quốc – châu Âu thông qua Belarus. Chuyên gia về Belarus nhấn mạnh : châu Âu phải tỏ ra cứng rắn, nhưng cũng cần có những biện pháp tinh tế, khiến chế độ Lukashenko « phải cân nhắc kỹ lưỡng » trước khi quyết định có hành xử theo đòi hỏi của Matxcơva hay không, đặc biệt vào những thời điểm hệ trọng, liên quan đến chiến tranh hay hòa bình.
Tám tháng kể từ khi Donald Trump trở lại nắm quyền, cuộc xâm lăng Ukraina của Nga không có dấu hiệu chấm dứt bất chấp các vận động ngoại giao của tổng thống Mỹ, được quảng bá rầm rộ là có thể làm thay đổi lập trường của điện Kremlin. Vào lúc khả năng đạt được ngừng bắn tại Ukraina trở nên xa vời, châu Âu bị Nga lên án làm « thất bại » các nỗ lực hướng đến hòa bình. Phe cầm quyền tại Mỹ đòi hỏi châu Âu đóng góp nhiều hơn nữa trong hồ sơ Ukraina. Mỹ và Nga đổ dồn trách nhiệm lên châu Âu trong vấn đề chiến tranh Ukraina như thế nào ? Lối thoát nào với châu Âu trong tình thế nhiều phần bế tắc hiện nay ? *** Ngày 04/09/2025, hơn 30 quốc gia thuộc « Liên minh tình nguyện » bảo đảm an ninh cho Ukraina họp tại Paris và trực tuyến dưới sự chủ tọa của tổng thống Pháp và thủ tướng Anh. Sau hội nghị này, 26 quốc gia cam kết sẽ triển khai lực lượng tại Ukraina để bảo đảm an ninh một khi xung đột chấm dứt. « Liên minh tình nguyện » đã được gấp rút lập ra theo sáng kiến của Pháp và Anh, trong bối cảnh tân chính quyền Trump đe dọa đàm phán riêng rẽ với Nga về chiến tranh Ukraina, và để ngỏ khả năng không tuân thủ điều 5 của Hiến chương NATO, cam kết bảo vệ các đồng minh. « Lực lượng bảo đảm an ninh » cho Ukraina : « Chiếc vé » giúp châu Âu tham gia đàm phán ? Châu Âu lên tuyến đầu. Việc thành lập « Liên minh tình nguyện » giúp châu Âu khẳng định vị thế. Trả lời phỏng vấn đài France Info, hồi đầu tháng 5/2025, chuyên gia Jean de Gliniasty, cựu đại sứ Pháp tại Nga, giám đốc nghiên cứu Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), nhận định : Liên minh tình nguyện từng được coi như một « chiếc vé » vào cửa, cho phép Châu Âu có chỗ tại bàn đàm phán về giải pháp chấm dứt chiến tranh. Tuy nhiên, đây là một chiếc vé bấp bênh bởi phụ thuộc hoàn toàn vào thái độ của Mỹ: « Vậy là ở đây chúng ta từng có một thứ như kiểu vé vào cửa. Ông Trump đã từng nói châu Âu ‘‘bất tài'' và ‘‘không có vé vào cửa'', không có chỗ ngồi ở bàn đàm phán. Mà cái vé vào cửa mà chúng ta có thể có, đó chính là mang lại ‘‘các bảo đảm an ninh''. Bởi vì chính Mỹ cũng đã nói họ sẽ không đưa một binh sĩ nào đến để bảo vệ Ukraina, và việc đảm bảo an ninh phải do chính người châu Âu lo liệu. Chính vì thế mà châu Âu đã thực thi một chút nghĩa vụ của mình. Hiện có 30 quốc gia châu Âu sẵn sàng đưa quân đến để đảm bảo an ninh cho Ukraina. Nhưng Nga cho rằng những ‘‘bảo đảm an ninh'' do Pháp và châu Âu đưa ra thực chất là với tư cách đồng minh của Ukraina, và như vậy là thù địch với Nga. Vì thế, họ không muốn. Thực ra chúng ta đang rơi vào bế tắc, và hiện tại chúng ta đã không còn ‘‘vé vào cửa'' bàn đàm phán nữa ». Bốn tháng sau, vào thời điểm Liên minh tình nguyện được khẳng định mạnh mẽ hơn với cuộc họp tại Paris hôm 4/9, vẫn chuyên gia Jean de Gliniasty ghi nhận : « chiếc vé » vào bàn đàm phán của châu Âu vẫn « tạm thời bị đình chỉ », để chờ đợi các kết quả thương lượng giữa Mỹ và Nga. Vị thế « chiếu dưới » của châu Âu và cuộc phản công ngoại giao của Nga « hậu thượng đỉnh Alaska » Xin nhắc lại là ít tháng trước khi chiến tranh Ukraina bùng nổ, trong bối cảnh Nga liên tục khẳng định muốn thương thuyết lại với phương Tây về việc khối NATO mở rộng về phía đông, và việc triển khai các hệ thống vũ khí tối tân tại nhiều nước láng giềng với Nga, các nước châu Âu đã gần như không có tiếng nói gì trong hồ sơ này. Chiến tranh bùng nổ, châu Âu bừng tỉnh, nỗ lực ban hành các biện pháp trừng phạt Nga, cùng với Mỹ, hậu thuẫn Ukraina về quân sự và nhiều mặt. Tuy nhiên, về các đàm phán chấm dứt chiến tranh, nhìn chung châu Âu không có tiếng nói. Nói một cách khác, châu Âu vốn phụ thuộc nặng nề vào Mỹ về mặt đảm bảo an ninh cho chính châu Âu, nên luôn ở vị thế chiếu dưới, khó có thể nào có được một vị trí đáng kể trong các thương lượng về viễn cảnh chấm dứt chiến tranh Ukraina kể từ khi chiến tranh bùng nổ. Không những thế, sau cuộc thượng đỉnh Trump – Putin tại Alaska, Mỹ, ngày 15/08/2025, chế độ Putin thoát khỏi thế cô lập tương đối về ngoại giao, đã tranh thủ cơ hội để phản công châu Âu. Nga đổ lỗi cho châu Âu về bất kỳ thất bại nào trong các đàm phán tương lai, cáo buộc châu Âu trở thành « trở ngại chính » do thúc đẩy đối đầu về ý thức hệ, trong lúc Trump và Putin nỗ lực tìm kiếm một thỏa thuận. Nhật báo thân điện Kremlin Izvestia mỉa mai « Bruxelles và Kiev đang thành trở ngại chính cho hòa bình ». Một nguồn tin gần gũi với điện Kremlin tung ra quan điểm « lần đầu tiên, có một cơ hội thực sự để bắt đầu đàm phán với Ukraina và châu Âu về tất cả các vấn đề cần giải quyết để chấm dứt chiến tranh, thế nhưng giờ đây xuất hiện một vấn đề nan giải thực sự đối với châu Âu, đang mắc kẹt trong ngõ cụt về tư tưởng. Đó là họ đang bảo vệ những nguyên tắc trừu tượng trong khi hàng trăm nghìn người đã bỏ mạng trong chiến tranh. Cuộc chiến mà Kiev đã thua trên thực tế cần phải được chấm dứt, chứ không phải cứ tiếp tục cho đến khi Ukraina bị hủy diệt hoàn toàn ». Tổng thống Nga « hy vọng châu Âu sẽ không cố gắng phá hoại tiến trình này bằng những hành động khiêu khích hoặc những âm mưu trong hậu trường ». Người phát ngôn của bộ Ngoại Giao Nga Maria Zakharova mỉa mai : « Tinh thần đồng đội của ‘‘liên minh'' Starmer-Macron-Merz-Rutte-von der Leyen (tức các lãnh đạo Anh, Pháp, Đức, NATO và Ủy Ban Châu Âu), vẫn tỏ ra hung hăng trong cuộc đối đầu với Nga, Ukraina đã bị họ biến thành một con tin đắt giá ». Trump mềm mỏng với Nga, điện Kremlin không khoan nhượng: Châu Âu kẹt giữa hai làn đạn Chính sách của tổng thống Mỹ thúc đẩy đàm phán ngoại giao với Nga từng được coi là mang lại hy vọng cho việc chấm dứt chiến tranh Ukraina trong thời gian ông Trump mới lên cầm quyền, như ghi nhận của cựu đại sứ Jean de Gliniasty : « Chúng ta đang ở thời điểm giữa chừng của một cuộc vận động ngoại giao kiểu truyền thống, tức là ngoại giao “từng bước nhỏ”, giống như những gì chúng ta đã chứng kiến sau cuộc Chiến tranh Kippur tháng 10/1973 (liên quân Ai Cập và Syria tấn công Israel), khi ngoại trưởng Mỹ Kissinger đã phải đi đi lại lại khoảng 15 lần giữa Tel-Aviv, Jerusalem và Cairo, đi qua đi lại giữa các bên, và mỗi lần như vậy đều mang về những tiến bộ rất nhỏ, nhưng cuối cùng thì đã thành công. Và thực ra, người Mỹ cũng rất giỏi trong việc này, đó là một truyền thống ngoại giao của họ. Vì vậy, chúng ta đang trong một tiến trình ngoại giao “tàu con thoi” và “từng bước nhỏ”, và tôi cho rằng chúng ta có thể hy vọng rằng cuối cùng nỗ lực này sẽ đạt được kết quả. » Cựu đại sứ Pháp Pierre Vimont, nguyên tổng thư ký điều hành của cơ quan đối ngoại Liên Âu (2010-2015), tức nhân vật số hai của ngành ngoại giao Liên Âu, đã sớm cảnh báo về nguy cơ các nước châu Âu bị kẹt giữa hai làn đạn của Mỹ và của Nga, trong bối cảnh tổng thống Donald Trump rất có thể sẽ có nhiều nhân nhượng với Matxcơva : « Điều gây phiền toái hơn cho tất cả chúng ta, những người châu Âu, là liệu Trump có nhượng bộ thêm Putin để đạt được một thỏa thuận ngừng bắn quan trọng hơn hay không. Như quý vị biết, hầu hết những yêu cầu mà Putin đưa ra đều rất khó có thể dung hòa với quan điểm và lợi ích của châu Âu. Ví dụ như Ukraina trung lập và phi quân sự hóa, Ukraina không được gia nhập NATO, hay không có sự hiện diện của quân đội châu Âu tại Ukraina, châu Âu không tiếp tục viện trợ quân sự cho Ukraina, v.v. Vì vậy, chúng ta đang ở trong một tình thế mà nếu ông Trump nhượng bộ cho tổng thống Nga một hoặc một số yêu cầu nào đó, thì chúng ta — những người châu Âu — sẽ lâm vào thế khó. Chúng ta sẽ phải nói rằng chúng ta không đồng ý và không chấp nhận những đề xuất này, và như vậy, chúng ta sẽ bị coi là bên cản trở tiến trình đạt được thỏa thuận ngừng bắn, mở ra viễn cảnh giải quyết xung đột. » Trên đây là trích đoạn bài « L'Europe au défi de la nouvelle administration Trump / Châu Âu trước thách thức của chính quyền Trump », chương trình phỏng vấn chuyên gia của Viện Quan hệ Quốc tế Pháp IFRI, trong mục « Thế giới theo IFRI », tháng 5/2025. Ukraina: Tâm điểm cạnh tranh toàn cầu thời « hậu Chiến tranh Lạnh » Cuộc chiến Nga xâm lược Ukraina không đơn giản là cuộc chiến tranh của một quốc gia này chống lại một quốc gia khác. Cuộc chiến với những cội nguồn phức tạp này là kết tinh của những tranh chấp mang tính toàn cầu của thế giới thời kỳ hậu chiến tranh Lạnh. Vấn đề Ukraina, đế chế Nga, và lục địa Á – Âu (Eurasie) được nêu bật trong tác phẩm « Bàn Cờ Đại Chiến lược toàn cầu : Quyền lực tối thượng của nước Mỹ và những mệnh lệnh địa chiến lược đi kèm » (The Grand Chessboard: American Primacy and Its Geostrategic Imperatives) (xuất bản năm 1997), của chiến lược gia Mỹ Zbigniew Brzezinski (1928–2017), người gốc Ba Lan, cố vấn an ninh quốc gia thời tổng thống Jimmy Carter. Ukraina là một quân cờ căn bản của « Bàn cờ đại chiến lược toàn cầu ». Chiến lược gia người Mỹ được gợi cảm hứng từ nhà địa-chính trị người Anh đầu thế kỉ 20 Halford J. Mackinder, với tư tưởng : Ai kiểm soát được khu vực Đông Âu sẽ thống trị vùng trung tâm (hearthland), ai cai trị vùng trung tâm sẽ thống trị lục địa Á-Âu, ai cai trị lục địa Á-Âu thì sẽ thống trị thế giới. Trong tác phẩm Bàn Cờ Đại Chiến lược toàn cầu, chiến lược gia Mỹ dự đoán : « Việc NATO không thể mở rộng bất chấp những nỗ lực của Mỹ có thể khơi dậy những tham vọng lớn nhất của Nga ». Tổng thống Nga và các cộng sự thường xuyên cáo buộc : Mỹ nỗ lực tách Nga khỏi các quốc gia bao quanh Nga từng tạo nên Liên Xô trước đây (bài « Ce livre qui a inspiré Poutine / Cuốn sách mang lại nhiều tưởng cho Putin » Le Point). Trên thực tế, chế độ Putin cũng đã coi Ukraina là một thành tố không thể thiếu của một nước Nga hùng mạnh. Cuộc tấn công Ukraina diễn ra sau khi Matxcơva hoàn tất lý thuyết về một « thế giới Nga », bao gồm Ukraina. « Thế giới Nga » (Rousski Mir), không bị giới hạn trong biên giới quốc gia của nước Nga, được nhiều nhà quan sát xem như là một nỗ lực khôi phục đế chế Nga của chính quyền Putin. Đọc thêm : Chính Thống Giáo Nga và "Thế giới Nga" Để thoát cái bóng của Mỹ: Châu Âu cần đối thoại với Nga, xây dựng lập trường chung với Ukraina…. Đối mặt với các tham vọng địa chính trị nói trên của Nga trong bối cảnh thế đối đầu giữa phương Tây và Nga đang trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết kể từ khi Liên Xô tan rã, các nước châu Âu khó lòng thoát khỏi thế mắc kẹt « giữa hai làn đạn », giữa một bên là Mỹ, bên kia là Nga. Về mặt quân sự, để thoát khỏi vị thế chiếu dưới, về lâu dài châu Âu cần tăng cường tự chủ về quốc phòng. Theo giới chuyên gia, việc Pháp và Anh thúc đẩy mở rộng hợp tác « răn đe hạt nhân » có thể mang lại một lá bài quan trọng cho châu Âu trong quan hệ với Nga. Tuy nhiên, về mặt ngoại giao, để thoát khỏi cái bóng của Mỹ, châu Âu phải khắc phục được hai « sai lầm về chiến lược », theo giám đốc nghiên cứu Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), cựu đại sứ Jean de Gliniasty. Đó là việc không có các đối thoại với Nga, và không có các hợp tác về chiến lược với Ukraina (trong bài « Guerre en Ukraine : ‘‘Une nouvelle structure de paix et de sécurité est fondamentale'' - Chiến tranh Ukraina : ‘‘Một kiến trúc hòa bình và an ninh mới là điều căn bản - nhật báo Pháp L'Humanité đăng tải tháng 3/2025). Đọc thêm - Nửa thế kỷ ''Hiệp định Helsinki'': Chiến tranh Ukraina xóa sổ "Kiến trúc an ninh châu Âu" Tạp chí Tiêu điểm thời sự xin khép lại với nhận định của nhà ngoại giao Pháp Pierre Vimont : « Làm thế nào để châu Âu có thể trở lại cuộc chơi?... Làm thế nào để tiếp tục tiến tới một giải pháp hòa bình ở Ukraina, một nền hòa bình bền vững, công bằng và toàn diện? Tôi nghĩ rằng đây chính là lúc châu Âu cần đóng vai trò của mình, bởi vì ngày càng rõ ràng là về cơ bản, chính quyền Trump không có nhiều ý tưởng về một chiến lược dài hạn cho một nền hòa bình bền vững ở Ukraina. Đây chính là lúc mà châu Âu chắc chắn có những điều để đóng góp, để làm việc cùng nhau. Châu Âu cần cố gắng đưa ra được các tham số riêng của mình về tất cả những vấn đề đã được đề cập trước đây, như Ukraina gia nhập NATO hay Ukraina trung lập, Ukraina ‘‘phi quân sự hóa'' hay ‘‘không phi quân sự hóa'', các bảo đảm an ninh cho Ukraina trong tương lai… Tất cả những câu hỏi đó, về cơ bản, châu Âu trước đây đã không muốn tự đặt ra. Chúng ta đã từng đẩy trách nhiệm cho người Ukraina, cho rằng đó là quyết định riêng của họ. Đúng, đó là quyết định của Ukraina, nhưng chúng ta cũng có lợi ích trong vấn đề này, và vì vậy chúng ta cần thảo luận với người Ukraina. Chúng ta cần phải phối hợp với họ xác định một đường lối chung. »
VOV1 - Tại Trung tâm Văn học Phương Đông, Bảo tàng Quốc gia LB Nga, thầy và trò Học viện Quan hệ Quốc tế Matxcơva đã trao tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh, Việt Nam cuốn sách quý: “Đại hội toàn thế giới lần thứ V Quốc tế cộng sản diễn ra năm 1924”.
Đất hiếm là vũ khí lợi hại giúp Trung Quốc đối mặt với chính sách bảo hộ của Hoa Kỳ. Washington khai thác thuế nhập khẩu vì các mục đích kinh tế và nhất là địa chính trị. Lá chủ bài của Nga là năng lượng. Matxcơva đang dùng đòn « Ngoại giao ống dẫn khí đốt » để phá vỡ gọng kềm trừng phạt của phương Tây, mà mắt xích đầu tiên là Hoa Kỳ. RFI tiếng Việt phỏng vấn Igor Delanoë phó giám đốc Đài Quan Sát Pháp-Nga. Đến dự thượng đỉnh Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải Thiên Tân, dự lễ duyệt binh trên Quảng Trường Thiên An Môn Bắc Kinh, tổng thống Nga Vladimir Putin không bỏ lỡ cơ hội phô trương quan hệ thắm thiết với các lãnh đạo Ấn Độ, Bắc Triều Tiên và đặc biệt là với nước chủ nhà Trung Quốc. Ở Thiên Tân, hôm 01/09/2025 Trung Quốc, Nga và Ấn Độ khẳng định quyết tâm mở rộng tầm hoạt động của Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải (SCO) ra ngoài lĩnh vực an ninh. Các bên đồng ý thành lập một ngân hàng phát triển dành riêng cho các nước thành viên. Bắc Kinh, Matxcơva mạnh dạn hơn trên con đường xây dựng một trật tự thế giới mà ở đó tất cả không còn chỉ xoay quanh các nước phương Tây. Hai ngày sau, tổng thống Nga đến Bắc Kinh dự lễ duyệt binh nhân kỷ niệm 80 năm kết thúc Thế Chiến Thứ Hai và họp thượng đỉnh song phương Nga-Trung. Đây là dịp để lãnh đạo tập đoàn dầu khí Gazprom thông báo Matxcơva và Bắc Kinh « khởi động lại chương trình xây dựng đường ống đưa khí đốt Power of Siberia 2 ». Đây sẽ là tuyến đường thứ ba đưa khí đốt của Nga sang Trung Quốc, sau Siberia 1 và Tuyến đường Phương Đông. Power of Siberia 2, dự án trị giá 12 tỷ euro để xây dựng đường ống từ các mỏ khí của Nga ở Yamal đến khu vực đông bắc Trung Quốc, đi qua Mông Cổ. Một khi đi vào hoạt động, tuyến đường này cho phép cung cấp 50 tỷ mét khối khí đốt hàng năm cho Trung Quốc. Báo chí Matxcơva nói đến « dự án vĩ đại nhất thế giới trong ngành công nghiêp năng lượng ». Yếu tố chính trị trong thỏa thuận năng lượng Nga-Trung Trả lời RFI tiếng Việt, chuyên gia Igor Delanoë phó giám đốc Đài Quan Sát Pháp-Nga CCI, cộng tác viên của Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược Pháp IRIS, công nhận đây là một dự án vô cùng quan trọng đối với cả Matxcơva lẫn Bắc Kinh vào lúc Nga đã mất đi khách hàng quan trọng nhất là châu Âu. Song người Pháp có câu « le diable se cache dans les détails » nghĩa là thành công hay thất bại của dự án tùy thuộc vào những « chi tiết nhỏ ». Hiện tại còn nhiều « chi tiết » không hề nhỏ, hai đối tác chính là Gazprom của Nga và CNPC của Trung Quốc vẫn còn bất đồng. Igor Delanoë nhắc lại, tuần trước nhiều thỏa thuận hợp tác song phương đã được ký kết tại Bắc Kinh nhân chuyến công du Trung Quốc của tổng thống Vladimir Putin. Igor Delanoë : « Trong quan hệ giữa Nga và Trung Quốc, đôi bên đã ký kết khoảng 20 văn kiện liên quan đến nhiều lĩnh vực : nông nghiệp, y tế, giáo dục, không gian... Tuy nhiên nổi bật nhất là bản ghi nhớ về chương trình xây dựng đường ông dẫn khí Power of Siberia 2. Phía Nga đã nói đến một văn bản có giá trị pháp lý ràng buộc trong thời hạn 30 năm. Quá trình đàm phán đã kéo dài và theo chỗ tôi được biết thì hai tập đoàn Gazprom và CNCP vẫn chưa đạt đồng thuận về nhiều điểm : phía CNCP của Trung Quốc đòi mua khí đốt của Nga với mức giá như là Gazprom bán ra trên thị trường nội địa. Đó là điều kiện tập đoàn Nga không thể thỏa mãn, bởi vì buôn bán như vậy Gazprom không có lợi ích thương mại nào cả ». Khí đốt : Trung Quốc sẽ chấp nhận lệ thuộc đến 60 % vào một đối tác ? Igor Delanoë : « Dự án đường ống dẫn Siberia 2 đã bắt đầu được đàm phán từ lâu nay, nhưng mà trước đó, Siberia 1 đã đi vào hoạt động từ 2019, với công suất hiện tại là 38 tỷ mét khối mỗi năm. Trong chuyến công du Trung Quốc lần này, tổng thống Nga đã đồng ý nâng công suất của Siberia 1 lên tới 44 tỷ mét khối/năm. Hơn nữa giữa Matxcơva và Bắc Kinh còn có một đường ống thứ ba, cho phép xuất khẩu mỗi năm 10 tỷ mét khối khí đốt sang Trung Quốc. Một khi đi vào hoạt động thì đường ống Power of Siberia 2 mới là dự án quan trọng nhất : công suất của đường ống này là 50 tỷ mét khối hàng năm. Như vậy cộng cả ba đường ống để Nga cung cấp khí đốt cho Trung Quốc, trong tương lai Matxcơva có thể xuất khẩu đến 106 tỷ mét khối một năm cho quốc gia châu Á này. Đây là một điểm rất quan trọng đối với Gazprom vào lúc mà thị trường châu Âu đã khép lại – (trước đây mua vào 150 tỷ mét khối/năm). Trung Quốc tuy không thể hoàn toàn thay thế vào chỗ trống Liên Âu để lại, nhưng ít ra thì cũng bù đắp lại được khoảng 2 phần 3 thị phần của châu Âu ». Với Nga, dự án pipeline Siberia 2 rõ ràng là vô cùng quan trọng. Đối với Trung Quốc cũng vậy - nhất là khi mà Bắc Kinh đang đàm phán về giá cả với Gazprom. Chuyên gia về Nga Igor Delanoë lưu ý thêm những điểm như sau : Igor Delanoë : « Trong dự án Siberia 1, đường ống dài 2.200 km nối liền vùng Iakoutie đông Siberia của Nga với tỉnh Hắc Long Giang, đông bắc Trung Quốc, chi phí xây dựng chủ yếu do tập đoàn Nga đài thọ. Sở dĩ mà Gazprom có thể tài trợ là nhờ doanh thu từ xuất khẩu khí đốt sang châu Âu. Châu Âu mua khí đốt của Nga với giá cao. Giờ đây với chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng đó, liệu có sẽ do Trung Quốc đảm nhiệm hay không ? Chưa thể giải đáp câu hỏi này. Hiện tại Gazprom hiện tại đang gặp « khó khăn về tài chính » : ngân sách đầu tư của tập đoàn này cho năm nay giảm 7 % so với hồi 2024. Gazprom phải sa thải 40 % nhân sự tại trụ sở tại Saint Petersbourg ; Tháng 5/2024 lần đầu tiên từ hơn 2 thập niên qua, tập đoàn này thông báo làm ăn thua lỗ (lỗ hơn 3,5 tỷ đô la). Đây là hậu quả trực tiếp từ các biện pháp trừng phạt Âu, Mỹ đánh vào kinh tế Nga từ khi Matxcơva đưa quân xâm chiếm Ukraina ». Mượn bóng Trung Quốc để kích thích Hoa Kỳ ? Do vậy, giới trong ngành cho rằng, tổng thống Putin đã tận dụng chuyến công du Trung Quốc vừa qua để phô trương thành tích trong hợp tác năng lượng với Bắc Kinh. Từ trước đến nay bản thân tổng thống Putin luôn thận trọng với Siberia 2 khi Trung Quốc đòi mua khí đốt của Nga với giá rẻ và đòi Gazprom đài thọ phần lớn các phí tổn xây dựng đường ống. Về phía Bắc Kinh tới nay, Trung Quốc vốn chủ trương không để phụ thuộc quá 50 % vào bất kỳ một nhà cung cấp năng lượng nào. Với Siberia 2, một khi đi vào hoạt động, cùng với hai đường ống đã có sẵn thì Nga sẽ trở thành nguồn cung cấp chiếm đến 60 % nhập khẩu khí đốt của Trung Quốc ! Phải chăng vì chiến tranh Ukraina kéo dài mà hai nhà lãnh đạo quyền lực nhất ở Bắc Kinh và Matxcơva đã thay đổi quan điểm ? Không loại trừ khả năng « văn bản ghi nhớ mang tính ràng buộc » về Power Siberia 2 được thông báo hồi tuần trước là một thông điệp Matxcơva gửi tới Washington. Nga từng chính thức mời tập đoàn dầu khí ExxonMobil của Mỹ « trở lại » với dự án Sakhalin. Hơn một chục ngày sau thượng đỉnh Donald Trump -Vladimir Putin tại Anchorage, Alaska, báo tài chính Mỹ The Wall Street Journal đưa tin ExxonMobil dường như đang đàm phán với Rosneft để tham gia trở lại dự án khai thác dầu khí Sakhalin 1 trong vùng Viễn Đông Nga. Về điểm này chuyên gia Pháp, Igor Delanoë đánh giá : Igor Delanoë : « Có tin đồn rằng người Mỹ có thể quay lại tham gia dự án Sakhalin ở Viễn Đông Nga. Điều này sẽ đòi hỏi Washington phải ngừng trừng phạt Nga để cho phép các tập đoàn của Mỹ quay lại với dự án này. Nhưng chúng ta thấy rõ, tại thượng đỉnh Thiên Tân cũng như là sự kiện ở Bắc Kinh sau đó, hình ảnh thắm thiết giữa Nga - Ấn Độ - Trung Quốc còn là thông điệp nhắm tới Hoa Kỳ. Tuy vậy đây chỉ là một giải pháp tình thế khi các bên xích lại gần nhau vì đừng quên là vẫn có nhiều bất đồng sâu sắc, đặc biệt là về tranh chấp biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc, rồi gần đây hơn là giữa Ấn Độ với Pakistan mà Mỹ thì đang sưởi ấm quan hệ với Pakistan và cả Trung Quốc thì đã đứng về phía Islamabad. Chẳng qua là do Mỹ gây áp lực với Ấn Độ và đã đẩy thủ tướng Modi vào vòng tay các ông Tập Cận Bình và Vladimir Putin. Đây là khuynh hướng chung. Về phía ông Putin, thông điệp ẩn đằng sau những sự kiện này là gửi đến người Mỹ, để nói rằng: nếu Hoa Kỳ không buông Ukraina, thì cái giá địa chính trị mà họ phải trả là việc củng cố liên minh tam giác Á-Âu gồm Nga, Trung Quốc và Ấn Độ - với các dự án năng lượng như khí đốt sang Trung Quốc và dầu mỏ sang Ấn Độ ». Nga « bắt đúng mạch » của Mỹ Igor Delanoë : « Trong lĩnh vực dầu khí, trước khi nổ ra chiến tranh Ukraina, ExxonMobil có một số dự án hơp tác với Nga ở vùng Bắc Cực và Viễn Đông. Nhưng tất cả đã bị đóng băng hoặc bỏ dở một khi Matxcơva đưa quân sang Ukraina và bị phương Tây trừng phạt. Từ khi Donald Trump trở lại cầm quyền, ông đã nối lại đối thoại song phương với Vladimir Putin. Năng lượng là một hồ sơ được đôi bên thảo luận. Nga đề nghị mời Mỹ quay lại và Matxcơva không chỉ mang dầu hỏa khí đốt ra để nhử mà còn để ngỏ khả năng cùng hợp tác khai thác đất hiếm, hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác nữa. Các doanh nhân thân cận với Donald Trump rất chú ý đến điểm này và có thể là Washington đang buông tay với Ukraina để xích lại gần hơn với nước Nga của Vladimir Putin. Để đạt được mục tiêu này, thì điều kiện tiên quyết là đến một lúc nào đó phải dỡ bỏ các lệnh cấm vận kinh tế Nga. Trước mắt các bên mới chỉ bàn thảo đến dự án Sakhalin ». Vẫn Igor Delanoë ghi nhận, Nga dùng lá bài đầu tư, kinh tế, năng lượng và cả khoáng sản để thu hút trước hết là chú ý của các nhóm lợi ích bao quanh tổng thống Trump. Mục đích của Matxcơva là thuyết phục được chủ nhân Nhà Trắng vừa giảm hỗ trợ cho Ukraina, vừa nhờ Hoa Kỳ bẻ gấy mắt xích đầu tiên của loạt trừng phạt nhắm vào kinh tế Nga. Một khi mà Washington dỡ bỏ cấm vận với Nga, thì không có lý do gì để các đối tác của Hoa Kỳ như Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu tiếp tục cô lập Matxcơva. Rất có thể là Vladimir Putin muốn dùng dự án Sakhalin như công cụ hiệu quả nhất bởi chỉ cần Mỹ thực sự quay lại, đó sẽ là một tín hiệu gửi đến các đối tác khác – hoặc đối tác cũ của Nga – về triển vọng nối lại hợp tác năng lượng. Theo nhà nghiên cứu Igor Delanoë Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đang nóng lòng chờ đợi một tín hiệu « thuận lợi » nào đó theo chiều hướng này. Đâu chỉ có Trung Quốc hay Mỹ mới biết dùng các công cụ kinh tế để phục vụ các lợi ích địa chính trị.
Ngày 03/09/2025, tiếp đồng nhiệm Ukraina Volodymyr Zelensky, một ngày trước khi diễn ra hội nghị « Liên minh các nước tình nguyện », tổng thống Pháp Emmanuel Macron tuyên bố, châu Âu « sẵn sàng cung cấp các bảo đảm an ninh cho Ukraina và người dân Ukraina vào ngày mà thỏa thuận hòa bình sẽ được ký kết ». Đây cũng là những gì Kiev muốn đạt được trước khi bước vào một cuộc đàm phán hòa bình (nếu có) với Matxcơva. Chưa có lúc nào nỗi ám ảnh về thất bại Bị Vong Lục Budapest 1994 mạnh mẽ như lúc này đối với Kiev và người dân Ukraina. Ngược dòng thời gian, vào ngày 05/12/1994, ba năm sau khi tuyên bố độc lập và dưới áp lực mạnh ngoại giao, Kiev cùng với Liên bang Nga, Hoa Kỳ và Anh Quốc ký kết Bị Vong Lục tại Budapest, Hungary. Nỗi lo nguy cơ phổ biến hạt nhân hơn là an ninh Ukraina Theo đó, Ukraina chấp nhận chuyển giao toàn bộ kho vũ khí hạt nhân được cất trữ trên lãnh thổ cho Nga, bao gồm khoảng 1.900 đầu đạn chiến lược và 2.500 vũ khí chiến thuật tức chiếm đến gần 10% kho vũ khí Xô Viết. Đổi lại, các bên tham gia cam kết « tôn trọng nền độc lập, quyền chủ quyền và các đường biên giới hiện hữu của Ukraina » và « tránh sử dụng hành động dọa dẫm hay dùng vũ lực xâm hại toàn vẹn lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của Ukraina ». Ngoài ra, theo các hình ảnh và bài báo tư liệu được Viện Nghe Nhìn Quốc Gia Pháp (INA) trích dẫn ngày 09/03/2025, ngoài việc tăng gấp đôi số tiền viện trợ 155 triệu đô la, Hoa Kỳ còn cam kết cung cấp « hỗ trợ đặc biệt để tăng cường an ninh cho các lò phản ứng hạt nhân dân sự, kiểu Tchernobyl », và nhất là « mở rộng cánh cửa "đối tác vì hòa bình" cho Ukraina, nói một cách khác, cho phép Kiev phát triển hợp tác quân sự với NATO ». Nhà nghiên cứu Marie Dumoulin, giám đốc chương trình Wider Europe, thuộc tổ chức tư vấn European Council on Foreign Relations, trong chương trình « Sự ra đời và cái chết của Bị Vong Lục Budapest » do đài phát thanh France Culture thực hiện trong tháng 7/2025, có lưu ý rằng sự kiện diễn ra trong bối cảnh Hoa Kỳ và Anh Quốc lo lắng cho mối họa phổ biến hạt nhân hơn là vấn đề an ninh của Kiev. Bởi vì, ngoài Ukraina, còn có hai nước thành viên Xô Viết khác cất trữ vũ khí hạt nhân là Belarus và Kazakhstan. « Có một cơ chế quốc tế quản lý các quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân : Hiệp ước Không phổ biến Vũ khí Hạt nhân TNP. Nhưng các quốc gia độc lập mới này sinh ra từ đống đổ nát của Liên Xô lại không tham gia vào hiệp ước này, bởi vì, cho đến lúc đó, những nước này chưa tồn tại. Do vậy, thách thức đầu tiên là phải bảo đảm rằng Ukraina, Belarus và Kazakhstan, ba quốc gia cùng với Nga có triển khai vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ của mình, tuân thủ Hiệp ước TNP (…) Nhưng điều quan trọng cần hiểu là đối với các nhà đàm phán Mỹ và Anh Quốc, thách thức chính vào thời điểm đó, không hẳn là vấn đề an ninh và chủ quyền lãnh thổ của ba nước này, mà thực sự là vấn đề không phổ biến hạt nhân, đồng thời bảo đảm rằng chỉ có một quốc gia kiểm soát vũ khí hạt nhân được thừa hưởng từ thời kỳ Xô Viết. » Hạt nhân và chủ quyền : Ukraina không có chọn lựa nào khác Chính vì điều này, vào tháng 12/1991, vào thời điểm Liên Xô tan rã, Hoa Kỳ dưới thời chính quyền Bill Clinton đã nhìn nhận Nga như là một quốc gia hạt nhân, đồng thời tuyên bố sẵn sàng cung cấp hỗ trợ cho những nước khác xuất thân từ Liên Xô với điều kiện các nước này chấp nhận quy chế quốc gia không hạt nhân, theo như chuyên gia về Nga, bà Anne de Tinguy, giáo sư danh dự, Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế CERI trường đại học Khoa học Chính trị Sciences Po từng giải thích với báo Libération (11/03/2022). Nhiều nhà quan sát tại Pháp đánh giá rằng với việc ký kết Bị Vong Lục Budapest, chính quyền Ukraina lúc bấy giờ đã chấp nhận từ bỏ vị thế « cường quốc hạt nhân đứng hàng thứ ba » trên thế giới (tính theo số lượng vũ khí hạt nhân). Đối với nhà ngoại giao Pierre Lévy, cựu đại sứ Pháp tại Nga (2020 – 2024), điều này là không hoàn toàn chính xác, do việc hệ thống kiểm soát và chỉ huy đều trú đóng tại Matxcơva. Vũ khí hạt nhân được bố trí tại Ukraina không đồng nghĩa với việc Kiev nắm giữ « nút bấm » hạt nhân. Chuyên gia Marie Dumoulin nhắc lại : « Việc từ bỏ kho vũ khí hạt nhân, trên thực tế, đó còn là một trong số các điều kiện cho quyền chủ quyền của Ukraina. Nếu như số vũ khí này vẫn còn được bố trí trên lãnh thổ Ukraina, điều đó cũng có nghĩa là Matxcơva có lẽ vẫn sẽ tiếp tục có một vai trò chủ đạo trong an ninh của Ukraina và do vậy, quyền tự quyết của Ukraina như chúng ta đã biết từ trước đến nay, có lẽ sẽ không thể được thực thi trong cùng những điều kiện. Đó chính là những gì đang diễn ra với Belarus, quốc gia đã chấp nhận để Nga bố trí vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ của mình. Trên thực tế, ngoài ý nghĩa của động thái này đối với an ninh châu Âu, còn có những hậu quả tức thì cho quyền tự quyết của Belarus, hiển nhiên không còn giống như khi họ đã có thể từ chối quyền xem xét lại các quyết định của Matxcơva liên quan đến chủ quyền và an ninh của chính mình ». Bị Vong Lục Budapest : Những cam kết « ảo » ? Bất chấp những cam kết, hai mươi năm sau, năm 214, Matxcơva chiếm đoạt và cho sáp nhập bán đảo Crimée vào Nga, và thổi bùng cuộc xung đột ở Donbass. Không một bên ký kết Bị Vong Lục Budapest nào có những phản ứng thực sự. Đến năm 2022, Nga chính thức phát động « chiến dịch quân sự đặc biệt », xâm chiếm Ukraina. Ngày 04/03/2022, vào ngày thứ chín của cuộc chiến, tổng thống Ukraina Volodymyr Zelensky cay đắng chỉ trích NATO từ chối lập vùng cấm bay : « Tất cả những gì Liên minh Quân sự làm được đến hiện tại, là vận chuyển khoảng 50 tấn dầu diesel cho Ukraina thông qua hệ thống cung cấp của khối. Có lẽ là để chúng ta có thể đốt bỏ và thiêu rụi Bị Vong Lục Budapest. Nhưng đối với chúng ta, văn bản này đã bị đốt cháy, dưới hỏa lực của quân đội Nga ». Về điểm này, nhà nghiên cứu Marie Dumoulin, cũng trong chương trình « Sự ra đời và cái chết của Bị Vong Lục » trên đài France Culture, giải thích thêm như sau : « Bị Vong Lục Budapest bao gồm một danh sách các cam kết của các quốc gia bảo lãnh, tức là Nga, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh, liên quan đến Ukraina, nhưng đây là những cam kết thụ động, nghĩa là các quốc gia này cam kết không làm một số điều nhất định liên quan đến Ukraina, không gây rắc rối về chủ quyền, độc lập và biên giới của Ukraina, không đe dọa sử dụng vũ lực, không gây áp lực kinh tế lên Ukraina và trong trường hợp Ukraina bị tấn công hạt nhân, họ cũng cam kết sẽ nhờ đến Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc. Không có cam kết chủ động nào, nghĩa là không có cam kết hành động nào khác ngoài cam kết tham vấn Hội đồng Bảo an nếu toàn vẹn lãnh thổ của Ukraina bị đe dọa. » Cam kết bị xâm phạm : Lỗi tại ai ? Ngày nay, phương Tây và Nga đổ lỗi cho nhau là không tôn trọng các cam kết đưa ra trong văn bản. Hoa Kỳ và Anh Quốc tuyên bố họ không vi phạm các cam kết, rằng họ không đe dọa tính toàn vẹn lãnh thổ Ukraina. Và quốc gia duy nhất đã vi phạm các cam kết đưa ra chính là Nga. Điều thú vị, theo nhà cựu đại sứ Pháp Pierre Levy khi giải thích với France Culture là những lập luận từ phía Nga. « Câu trả lời mà Vladimir Putin dành cho Reuters vào tháng 3/2024 mà ít ai nói đến, và theo tôi là rất thú vị, trong đó, ông ấy nói rằng "Nhìn xem, quý vị đã vi phạm các cam kết của mình đưa ra trong Bị Vong Lục Budapest. Ông ấy nói rõ là ông ấy không bị ràng buộc bằng những thỏa thuận quốc tế với một quốc gia vừa có một cuộc cách mạng bên trong. Thế nên, trong cách tiếp cận của Nga, đối diện với họ là một quốc gia mới. Tiếp theo, chúng ta thấy rõ sự nhất quán trong lập trường, bởi vì, đối với Nga, có một chính quyền quân sự cầm quyền ở Kiev đã thành công lập một chế độ mới với sự trợ giúp của phương Tây sau một cuộc đảo chính. Do vậy tất cả những điều này đều nằm trong lô-gic của Nga ». Năm 2014, quyết định sáp nhập bán đảo Crimée và cuộc chiến tại Donbass đã làm lộ rõ những điểm yếu của Bị Vong Lục, vốn chỉ là một bản ghi nhớ không phải là một hiệp ước và không mang tính chất ràng buộc. Các thỏa thuận Minks được ký kết, nhằm chấm dứt các cuộc giao tranh nhưng không bao hàm một bảo đảm an ninh nào cho Ukraina, cũng không cho phép giải quyết được vấn đề. Đảm bảo an ninh Ukraina : « Trò chơi chính trị » của phương Tây Ba mươi mốt năm sau ngày ký Bị Vong Lục, và với hai cuộc chiến xâm lược của Nga sau đó, chính quyền Kiev giờ đây muốn tránh bằng mọi giá rằng các cuộc đàm phán về bảo đảm hòa bình một lần nữa sẽ không là những « tờ giấy lộn ». Trước khi ký kết bất kỳ một thỏa thuận nào với Matxcơva, tổng thống Volodymyr Zelensky mong muốn có được những bảo đảm quân sự vững chắc từ phía các đối tác nhằm ngăn ngừa một cuộc chiến xâm lược mới. Tuy nhiên, bà Tatiana Stanovaya, chuyên gia về chính trị Nga và là nhà sáng lập nhóm nghiên cứu R. Politik, trả lời báo Pháp Le Figaro, nhắc lại lập trường của Nga đối với hòa bình cho Ukraina là rất rõ ràng, điện Kremlin, « không chấp nhận rằng các bảo đảm an ninh tập thể cho Ukraina để giải quyết khủng hoảng Ukraina được thông qua mà không có sự tham dự của Nga ». Nói một cách cụ thể : « Ukraina chỉ có thể được hưởng các bảo đảm về tôn trọng đường biên giới với điều kiện thực hiện một danh sách các cam kết do Nga đề ra ». Cũng theo nhà nghiên cứu về Nga, phương Tây khó thể bảo đảm an ninh cho Ukraina do phải đối mặt với hai thực tế : « Nga là một cường quốc hạt nhân và nước này đang chiến thắng trên chiến trường. Từ góc độ này, không nước nào, hoàn toàn không một nước nào, có thể đưa ra bất kỳ đảm bảo nào cho Ukraina. Điều gì sẽ thay đổi nếu cuộc xung đột đang bị đóng băng này lại bị Nga vi phạm trong tương lai ? Phương Tây có thể làm gì hơn hoặc khác đi ? Nga là một cường quốc hạt nhân, chỉ riêng câu trả lời này đã khép lại mọi cuộc tranh luận. Khi Emmanuel Macron nói về một "lực lượng tái bảo đảm" sẽ được triển khai tại Ukraina trong trường hợp hòa bình, thì vài nghìn quân có thể làm được gì để bảo vệ nước này khỏi sức mạnh quân sự của Nga ? Ý tưởng này là không nghiêm túc. » Trong bối cảnh này, các cuộc thảo luận xoay quanh những bảo đảm được nêu ra trong các cuộc đàm phán ngoại giao, đối với nhà khoa học chính trị Tatiana Stanovaya, điều đó chẳng khác gì một « trò chơi chính trị » !
Thuế quan và các đòn hù dọa phải chăng đang trở thành những công cụ chính trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và hiệu quả đến đâu ? Dấu ấn tám tháng đầu nhiệm kỳ hai của tổng thống Donald Trump là những thông báo về mức thuế hải quan, là những tuyên bố Washington đạt được thỏa thuận về khoáng sản quan trọng với một số quốc gia, là hình ảnh nhiều lãnh đạo trên thế giới hối hả cam kết mua thêm hàng và đầu tư thêm cả trăm tỷ đô la vào Mỹ. Căn cứ vào những thông báo chính thức của Nhà Trắng, nếu không có thay đổi giờ chót, kể từ ngày 27/08/2025 một số mặt hàng của Ấn Độ xuất khẩu sang Hoa Kỳ sẽ bị đánh thuế đến 50 %. Ấn Độ bị « phạt » vì vẫn mua vũ khí của Nga và phớt lờ lệnh trừng phạt quốc tế vẫn nhập khẩu dầu hỏa của Nga. Gây áp lực với Ấn Độ, có là thượng sách ? Trung Quốc cũng mua dầu của Nga nhưng tổng thống Trump « không vội » trừng phạt Bắc Kinh. Vào lúc bị Hoa Kỳ o ép, New Delhi và Bắc Kinh sưởi ấm quan hệ : Cuối tháng này, thủ tướng Narendra Modi sẽ đến Thiên Tân, dự thượng đỉnh Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải. Mức thuế 50 % Mỹ đòi nhắm vào một số mặt hàng của Ấn Độ ít có khả năng « ly gián » New Delhi với Matxcơva : Ấn Độ là nguồn nhập khẩu dầu hỏa lớn thứ ba trên thế giới mà 37 % tiêu thụ nội địa tại quốc gia Nam Á này là dầu của Nga. Trên thị trường vũ khí Nga là đối tác quan trọng nhất của Ấn Độ, chiếm 36 % thị phần trong giai đoạn 2000-2024. Cùng lúc quan hệ giữa New Delhi và Washington đã xấu đi nhanh chóng từ tháng 4/2025 vì các biện pháp thuế quan thì Mỹ sưởi ấm quan hệ với Pakistan, một đối thủ truyền thống của New Delhi. Nhìn từ Úc, trung tâm nghiên cứu Lowy Institute không khỏi lo ngại là các đòn hù dọa và thuế quan của chính quyền Trump làm suy yếu liên minh Đối Thoại Tứ Giác An Ninh còn được gọi là Bộ Tứ QUAD gồm Mỹ, Nhật Bản, Úc và Ấn Độ : QUAD là một cột trụ của Hoa Kỳ để làm đối trọng với Trung Quốc trong chiến lược Châu Á-Thái Bình Dương. Hù dọa Trung Quốc : Phản tác dụng Với Trung Quốc, trong tám tháng qua tổng thống Trump gần như hàng ngày đều nhắc đến nền kinh tế số 2 toàn cầu, kể cả khi ông tiếp các lãnh đạo quốc tế như trong cuộc họp với tổng thống Hàn Quốc hôm 25/08/2025. Đàm phán thuế quan giữa Washington và Bắc Kinh đang tiếp diễn và Mỹ đã liên tục triển hạn cho Trung Quốc có thêm thời gian để điều đình về thương mại. Đáng chú ý hơn là với đối thủ này, các đòn hù dọa có phần phản tác dụng. Mỹ áp thuế Trung Quốc thì Bắc Kinh đáp trả bằng đất hiếm. Về công nghệ, Trung Quốc cũng không để bị lất lướt. Nhà Trắng gần đây đã đồng ý cho tập đoàn Nvidia cung cấp thiết bị điện tử « cao cấp », bọ H20 cho các đối tác tại Hoa Lục. Nội các Trump không che giấu là trên thương vụ này, 15 % doanh thu của Nvidia sẽ thuộc về nhà nước. Nhưng Bắc Kinh đã dội một gáo nước lạnh vào tham vọng đó khi cho mở điều tra, vì nghi ngờ « H20 không an toàn » đồng thời kêu gọi các tập đoàn Trung Quốc như như ByteDance, Alibaba, Tencent rất ưa chuộng loại bộ xử lý đồ họa này của Nvidia tránh dùng « hàng ngoại ». Hệ quả kèm theo là tập đoàn Mỹ, Nvidia, hôm 25/08/2025 tạm ngừng sản xuất H20 để dành cho các khách hàng Trung Quốc. Nhật-Hàn và Châu Âu những thắng lợi lớn của Mỹ Bên cạnh hai hồ sơ gai góc là Ấn Độ và Trung Quốc vừa nêu, trong cuộc chiến « thuế đối ứng », chính quyền Trump đã dễ dàng áp đảo các đối thủ : Anh Quốc là một trong số những bên hiếm hoi nhanh chóng được « ưu đãi », với mức thuể chỉ là 10 %. Ngay cả những « đồng minh chiến lược truyền thống » của Washington như Liên Hiệp Châu Âu, Nhật Bản hay Hàn Quốc đều phải chịu mức thuế đến 15 %. Philippines kém may mắn hơn vì hàng xuất khẩu sang Mỹ sẽ bị đánh thuế 19 %. Để đối lấy mức thuế đối ứng 15 % Nhật Bản, Hàn Quốc và nhất là Liên Âu đều áp dụng một công thức : cam kết mua thêm thật nhiều hàng của Mỹ để thu hẹp xuất siêu với Hoa Kỳ, hứa hẹn đầu tư hàng trăm tỷ đô la vào Mỹ trong tương lai. Chủ tịch Ủy Ban Châu Âu, Ursula Von der Leyen đang bị công kích gay gắt vì đã nhượng bộ Donald Trump quá nhiều khi hứa hẹn mua thêm hơn 700 tỷ đô la năng lượng của Mỹ trong 3 năm sắp tới, kèm theo đó là hàng loạt các dự án « rót » thêm đến gần 600 tỷ đô la đầu tư. Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung, lần đầu tiên đến Nhà Trắng đã mang theo cam kết đầu tư 150 tỷ đô la vào Mỹ với hy vọng ông Trump nhẹ tay khi đánh thuế hàng Made In Korea. Trước mắt Nhà Trắng duy trì mức thuế 15 % với Hàn Quốc. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn Tuần trước, họp với tổng thống Ukraina và nhiều lãnh đạo châu Âu, tổng thống Mỹ đã khoe ông giải quyết được 6 - thậm chí là 7, cuộc xung đột trên thế giới mà không cần có một lệnh ngừng bắn làm tiền đề. Gần đây nhất là giao tranh ở biên giới Cam Bốt-Thái Lan. Điều ông Trump không nói ra hôm đó, là các cuộc xung đột tổng thống Hoa Kỳ muốn nói đến vẫn còn âm ỉ. Đồng thời bản hòa ước giữa Armenia và Azerbaidjan bao gồm một điều khoản liên quan đến dự án thành lập một « hành lang vì hòa bình và thịnh vượng quốc tế mang tên Trump : The Trump Route for International Peace and Prosperity (TRIPP) ». Để vãn hồi hòa bình cho hai nước châu Phi là Rwanda và Cộng Hòa Dân Chủ Congo (hiêp kịnh ký ngày 27/06/2025) thì cả hai quốc gia này cùng cam kết sẽ mở cửa cho các tập đoàn Mỹ vào khai thác tài nguyên. Tương tự như vậy để nhanh chóng vãn hồi hòa bình ở biên giới Cam Bốt-Thái Lan, tổng thống Trump đã mang thuế quan ra để dụ và dọa hai quốc gia Đông Nam Á này. Kết quả là thủ tướng Hun Manet ca ngợi công lao của ông Trump hết lời và vội vàng đề nghị trao Nobel Bình cho nguyên thủ Mỹ. Riêng với Ukraina, trở lại Nhà Trắng tổng thống Volodymyr Zelenski đưa ra cam kết mua 100 tỷ đô la vũ khí và thiết bị quân sự của Hoa Kỳ. Báo tài chính Anh, Financial Times nhận định : Hợp đồng 100 tỷ đô la để đổi lấy bảo hiểm an ninh của Mỹ. Trong cuộc hội đàm qua cầu truyền hình hai ngày sau các cuộc họp tại Washington, phó giám đốc Đài Quan Sát Pháp-Nga, Igor Delanoe cho rằng, tổng thống Zelensky và các nước đồng minh yểm trợ ông đã hiểu rằng với tổng thống Donald Trump những, đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn : Igor Delanoe : « Hai sự kiện ở Alaska cũng như tại Washington, thực ra là một cuộc đọ sức về mặt chiến lược giữa một bên là Ukraina cũng các đồng minh châu Âu và bên kia là nước Nga của ông Putin để tranh thủ lôi kéo Donald Trump về phía mình. Sau hai hiệp đấu đầu tiên đó, tạm thời Nga là bên thắng cuộc. Chúng ta thấy tổng thống Hoa Kỳ giữ nguyên lập trường là không cần một lệnh ngừng bắn, làm tiền đề cho các đàm phán vãn hồi hòa bình. Châu Âu nhắc lại đòi hỏi có lệnh ngừng bắn, nhưng Trump đã xua tan tất cả khi khẳng định là ông đã giải quyết 6 cuộc xung đột mà không cần có lệnh ngừng bắn. Một điểm quan trọng khác, thượng đỉnh Alaska và các cuộc họp ở Washington diễn ra trong hai bối cảnh hoàn toàn khác : tại Alaska, Nga và Mỹ là hai cường quốc, ngang hàng đối thoại với nhau. Trái lại ở Washington, Ukraina và châu Âu trong thế đi năn nỉ. Tổng thống Zelensky mang 100 tỷ đô la -tiền của châu Âu ra "làm đầu câu chuyện" trước khi đàm phán với Trump. (…) Sau các cuộc họp ở Washington vừa qua, ngược thời gian, trở lại với thượng đỉnh của Liên Minh Bắc Đại Tây Dương ở Hà Lan, rồi cuộc họp giữa chủ tịch Ủy Ban Châu Âu, Ursula von der Leyen với nguyên thủ Mỹ ở Scotland hồi tháng 7 và lần này tại thủ đô Washington thì mỗi lần, châu Âu đều phải chi ra rất nhiều tiền : tại Hà Lan các thành viên cam kết tăng chi tiêu quân sự, mà chủ yếu là để mua vũ khí của Hoa Kỳ. Tại Scotland, để chỉ bị đánh thuế hải quan 15 %, bà Ursula von der Leyen cam kết mua hàng trăm tỷ đô la năng lượng của Mỹ và đầu tư không biết bao nhiêu vào Mỹ trong những năm sắp tới. Giờ đây châu Âu lại đưa thêm 100 tỷ đô la cho Ukraina mua vũ khí, thiết bị quân sự của Hoa Kỳ. Mấy trăm tỷ đô la trong vài ba tháng. Châu Âu đặt lên mặt bàn một số tiền rất lớn. Trump thì chủ trương ép cho bằng được để có thêm đồng nào tối đồng nấy mỗi lần ông họp với các nước châu Âu ». Hù dọa, vô ích với Nga Theo quan điểm của Arnaud Dubien giám đốc Đài Quan Sát Pháp-Nga, với Matxcơva, tổng thống Mỹ tuy có hù dọa nhưng « chẳng ăn thua ». Arnaud Dubien : « Tại Alaska, Mỹ không ban hành thêm các lệnh trừng phạt mới nhắm vào kinh tế Nga. Ngoại trưởng Rubio đã xác nhận điểm này. Điều đó phản ánh tâm trạng của chính quyền Trump vào thời điểm hiện tại. Bên cạnh đó thì cũng đã không có những thông báo, không có tín hiệu nào về việc Nga -Mỹ nối lại hợp tác về kinh tế, cũng như trong một số lĩnh vực cụ thể như công nghệ hàng không, các hoạt động thăm dò ở Bắc Cực... Nối lại hợp tác song phương là một lằn ranh đỏ mà chính quyền Trump đã không vượt qua. Ít ra là cho đến hiện tại, Mỹ chủ trương chỉ mở rộng đối thoại với Nga trên những lĩnh vực khác nếu như đạt được một số tiến triển trên hồ sơ Ukraina. Về phía Matxcơva, Nga đã loan báo cho phép tập đoàn dầu khí ExxonMobil tham gia trở lại dự án Sakhalin 1 để cùng thăm dò và khai thác dầu ở ngoài khơi. Dù vậy các dự án hợp tác hiện vẫn bị đóng băng. Một điểm khác nữa là vấn đề giới hạn vũ khí hạt nhân, một chủ đề mà Donald Trump từng nhắc tới khi ông trên đường từ Washington đến Alaska, nhưng về mặt chính thức, không thấy đôi bên đả động đến hồ sơ nay (…) Alaska là một thượng đỉnh quan trọng theo truyền thống các cuộc họp thượng đỉnh giữa Hoa Kỳ với Liên Xô rồi với Nga. Vladimir Putin và Donald Trump phô trương một thái độ gần gũi. Tuy nhiên không có bất kỳ một thỏa thuận nào được đưa ra cuộc họp và cũng không thể chờ đợi có những kết quả từ một cuộc gặp ngắn ngủi đó. Theo quan điểm cá nhân, phía Nga đã đưa ra một lập trường cứng rắn hơn. Còn về phía Hoa Kỳ thì tổng thống Trump muốn nhanh chóng thúc đẩy hồ sơ Ukraina. Chính sự nóng ruột này dẫn đến việc rất có thể là Washington ngả theo quan điểm của Vladimir Putin, kể cả trong trường hợp là điều đó có bất lợi cho Ukraina đi chăng nữa ».
VOV1 - Ngày 21/8, 120 khách mời của hơn 40 siêu đô thị trên thế giới đã có mặt IV tại Matxcơva, Liên bang Nga để tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Giao thông Quốc tế lần thứ IV.
Vãn hồi hòa bình tại Ukraina không phải là ưu tiên của cả Trump lẫn Putin. Trong phiên giao dịch 11/08/2025, bốn ngày trước thượng đỉnh Alaska, chỉ số chứng khoán tại Matxcơva tăng giá, phản ánh kỳ vọng của giới đầu tư Nga trước những viễn cảnh kinh tế tươi sáng hơn : Mỹ ngừng các biện pháp trừng phạt Matxcơva về việc xâm chiếm Ukraina. Chấm dứt chiến tranh Ukraina hay thảo luận để đưa đầu tư của Mỹ trở lại Nga mới là trọng tâm thượng đỉnh Trump- Putin ngày 15/08/2025 ? Tháng 2/2025, một tuần lễ sau cuộc điện đàm đầu tiên giữa tổng thống Mỹ thứ 47 Donald Trump và đồng cấp Nga Vladimir Putin, Quỹ đầu tư quốc gia của Nga dự phóng « từ quý 2/2025, một số công ty Mỹ sẽ quay lại » Nga. Cuối tháng 3/2025, đặc phái viên của điện Kremlin Kirill Dmitriev khẳng định, lãnh đạo hai nước đã « bắt đầu đàm phán về hợp tác khai thác đất hiếm và các dự án khác ở Nga ». Cũng nhân vật này, được báo Anh The Guardian trích dẫn, đã đầy tự tin tuyên bố các công ty dầu khí của Hoa Kỳ « không bỏ qua cơ hội tiếp cận tài nguyên của Nga ». Washington dưới chính quyền Trump và điện Kremlin thẳng thắn nhìn nhận « những thỏa thuận kinh tế khổng lồ là một phần trong mối bang giao » giữa hai quốc gia, như tác giả cuốn Zero Sum: The Arc of International Business in Russia, Charles Hecker đã ghi nhận trên tạp chí tài chính Fortune. Đất hiếm và khoáng sản, chiêu bài của Nga dễ « dụ » Mỹ Vào lúc Trung Quốc, một đối tác mật thiết của Nga, đã khai mào cuộc chiến đất hiếm với Hoa Kỳ, rồi Washington o ép Kiev để đạt cho bằng được một « thỏa thuận khổng lồ về khoáng sản » dễ dàng mở đường cho Putin dùng lá bài đất hiếm để « nói chuyện » với chủ nhân Nhà Trắng. Đầu tháng 3/2025, lãnh đạo điện Kremlin đã nhấn mạnh « sẵn sàng hợp tác với các đối tác Mỹ, gồm cả các tập đoàn nhà nước và tư nhân » trong các dự án đồng khai thác đất hiếm, và « Nga có thể giúp làm hạ nhiệt thị trường nhôm, qua việc cho phép xuất khẩu trở lại » mặt hàng này sang Hoa Kỳ. Tổng thống Putin đã chỉ định một người thân tín dẫn đầu phái đoàn đàm phán với Washington : Kirill Dmitriev là một chuyên gia về tài chính từng được đào tạo và giàu kinh nghiệm ở Hoa Kỳ. Ông hiện điều hành Quỹ đầu tư quốc gia của Nga và được Thời Báo Matxcơva mệnh danh là người đã « kiến tạo chiến lược mang những dự án đầy hứa hẹn ra để chiêu dụ » Donald Trump, đặc biệt là những dự án về khoáng sản, do Nga được cho là 1 trong 5 quốc gia tiềm năng nhất trên thế giới về đất hiếm. Nhà nghiên cứu Alexandra Prokopenko trong một bài viết trên trang mạng của trung tâm Carnegie Politika cảnh báo Quỹ đầu tư quốc gia của Nga có thể là « bãi đáp cho vốn đầu tư của Mỹ ». Số tiền đó sẽ được dành để « phát triển các lĩnh vực đang trong tay những nhân vật thân cận với tổng thống Vladimir Putin ». Vẫn Thời Báo Matxcơva nhắc lại, dưới tác động chiến tranh Ukraina và chính sách trừng phạt Matxcơva, xuất khẩu của Mỹ sang Nga năm 2024 bị đẩy xuống còn khoảng 500 triệu đô la, trái lại thì Hoa Kỳ vẫn mua vào đến 3 tỷ đô la nguyên liệu và cả năng lượng của Nga. Trước 2022, Mỹ từng là « nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất » vào Nga, tham gia nhiều tập đoàn của Nga như Yandex trong lĩnh vực tin học, hay Ozon chuyên về mua bán trên mạng. Đôi bên cùng đang « diễn tuồng » Câu hỏi kế tiếp là liệu Nga-Mỹ có dễ hợp tác về kinh tế hay không, Maximilian Hess, sáng lập viên công ty tư vấn Ementena Advisory, Luân Đôn cho rằng « đầu tư hay hợp tác với Matxcơva sẽ không dễ, nhất là khi liên quan đến những dự án nhạy cảm » như khai thác tài nguyên quốc gia. Ngoài ra, trong một số lĩnh vực như năng lượng, Nga và Mỹ là hai đối thủ cạnh tranh trực tiếp : Washington luôn gây áp lực với Bruxelles đòi Liên Hiệp Châu Âu « mua khí hóa lỏng của Mỹ thay vì nhập khẩu nguyên liệu này của Nga ». Trong cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Ấn Độ, New Delhi cũng đang « khốn đốn » vì lách lệnh cấm vận dầu hỏa của Nga … Do vậy, những đề xuất hay tuyên bố « hợp tác Nga-Mỹ » về khoáng sản và đất hiếm « chỉ là một màn trình diễn », « thực chất không nhiều » và « môi trường làm ăn ở Nga không mấy thân thiện » như chuyên gia về Nga của viện Chatham House - Luân Đôn, Timothy Ash ghi nhận. Dù vậy, một bên là Vladimir Putin chính thức kêu gọi Mỹ đầu tư vào Nga và bên kia, đích thân Donald Trump (ngày 24/02/2025) xác nhận « thảo luận nghiêm túc » về những « thỏa thuận lớn để phát triển kinh tế » giữa hai nước, mọi việc đang « tiến triển tốt ». Vẫn trên mạng xã hội cá nhân, nguyên thủ Hoa Kỳ khẳng định « hợp tác kinh tế với Nga bảo đảm người dân Mỹ lấy lại được hàng chục tỷ đô la, đó là số tiền Mỹ đã viện trợ và cấp thiết bị quân sự cho Ukraina ». Matxcơva hiểu rằng Trump thích những « dự án chóng sinh lợi, dễ đem về lợi nhuận cao và nhất là dễ có sức thu hút các phương tiện truyền thông », như Alexandra Prokopenko phân tích. Còn nhìn từ Matxcơva, hợp tác với Hoa Kỳ là chìa khóa tốt nhất để phá vỡ vòng vây cấm vận của phương Tây, đồng thời tiếp cận công nghệ cao và thiết bị điện tử của Âu, Mỹ. Trong bối cảnh đó, báo tài chính Mỹ Bloomberg ngày 12/08/2025 đặt câu hỏi liệu tổng thống Trump có sẽ lại bị đồng cấp Putin « qua mặt » lần nữa tại thượng đỉnh Alaska ngày 15/08/2025? Vãn hồi hòa bình cho Ukraina chỉ là một phần của thượng đỉnh Alaska Trên đài truyền hình tư nhân BFM TV (ngày 09/08/2025) phóng viên Olivier Weber cũng cho rằng, chấm dứt chiến tranh Ukraina chỉ là một phần trong số các hồ sơ sẽ được Putin à Trump thảo luận tại Alaska trong vài ngày nữa. Cả hai cùng không muốn « có bất kỳ một sự hiện diện nào khác » của Liên Âu hay của quốc gia liên quan là Ukraina: « Donald Trump mong muốn một mối quan hệ cá nhân cực kỳ mạnh mẽ với Vladimir Putin, do đó trên nguyên tắc, tại thượng đỉnh lần này, có thể là Ukraina, Liên Âu và cả NATO cùng đứng ngoài, để chiều theo ý tổng thống Nga. Về phía Matxcơva, Putin cũng sẽ làm tất cả để Trump hài lòng vì vừa muốn Ukraina nhượng lãnh thổ và hơn thế nữa, Nga đang chờ đợi Mỹ dỡ bỏ các lệnh cấm vận. (...) Trên nguyên tắc thượng đỉnh Alaska hoàn toàn thuận lợi cho Matxcơva. (…) Điều mà Kremlin muốn tránh bằng mọi giá là Washington tăng cường các biện pháp trừng phạt, và nhất là áp dụng các biện pháp trừng phạt gián tiếp nhắm vào những khách hàng của Nga. Ấn Độ, Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ mua dầu khí của Nga với giá rẻ. Mỗi ngày Nga sản xuất 4,7 triệu thùng dầu. Thiệt hại từ đòn trừng phạt này sẽ rất nghiêm trọng. (…) Tổng thống Putin thừa biết lãi suất ngân hàng Nga hiện tại ở khoảng 20-21 %, tức là ở ngưỡng quá cao. Bằng mọi giá ông muốn tránh để kinh tế Nga rơi vào khủng hoảng cho hai năm sắp tới. (…) Tuy nhiên, đây sẽ không là một cuộc họp thượng đỉnh mang lại hòa bình, mà chỉ dẫn tới lệnh ngừng bắn và có thể là phía Nga sẽ rút quân khỏi một số vùng trên lãnh thổ Ukraina, như những thông tin hiện có do Nhà Trắng cung cấp. Có khả năng hai vùng Luhansk và Donetsk sẽ vẫn do Nga kiểm soát, nhưng quân Nga sẽ dừng lại ở địa điểm đang chiếm đóng, lùi bước và sẽ không đi xa hơn. Ngay cả trong việc đình chiến cũng có lợi cho phía Nga, giúp cho lực lượng quân sự của Nga lấy lại sức. Ukraina rất sợ kịch bản này. Trái lại với Mỹ, điều quan trọng là phải đạt được một chút kết quả gì đó để cho phép Trump khoe thành tích ông là một nhà trung gian hòa giải hiệu quả. Điều quan trọng nhất đối với Donald Trump là thượng đỉnh Alaska sẽ thỏa mãn được cái « tôi » quá lớn của ông ấy. Về phía Nga, rõ ràng là Vladimir Putin rất hài lòng khi đàm phán riêng với nguyên thủ Mỹ không qua bất kỳ một trung gian nào khác, nhất là không muốn tổng thống Ukraina Volodymyr Zelensky tham dự. Nhìn đến Ukraina, về cơ bản, việc Mỹ càng lúc càng ít cấp vũ khí cho Kiev khiến Ukraina kiệt quệ. Kiev và công luận Ukraina luôn khẳng định muốn giữ tất cả lãnh thổ. Điều này có thực tế hay không ? Tôi không dám chắc ». Người muốn khoe thành tích, kẻ muốn bẻ gấy vòng vây cấm vận Nhìn từ Mỹ, báo tài chính The Wall Street Journal trích lời Guy Anderson, chuyên theo dõi các hoạt động trong lĩnh vực công nghệ quốc phòng, khẳng định : Đối với ông Putin thì ưu tiên lần này tại Alaska không phải là Ukraina, mà là thuyết phục tổng thống Hoa Kỳ dỡ bỏ trừng phạt đang gây phương hại đến thu nhập của các tập đoàn năng lượng của nước Nga, mà đây vốn là những nguồn tài trợ cho cỗ máy chiến tranh của Matxcơva: « Từ khi xâm lược Ukraina, Matxcơva đã tăng chi tiêu quân sự. Hồi 2022, chi tiêu quốc phòng của Nga khoảng 50 tỷ đô la một năm. Hiện nay, ngân sách đó là 150 tỷ đô la. Dưới tác động các biện pháp trừng phạt của phương Tây, năm đó, kinh tế Nga đã suy giảm nghiêm trọng. GDP giảm 2 %. Nhưng điều thú vị là kinh tế của nước này đã nhanh chóng bật dậy trở lại. Trong khi đó Liên Âu mất hẳn thị trường của Nga. Matxcơva chuyển sang trông cậy chủ yếu vào Trung Quốc và Ấn Độ. Nhưng giờ đây, Hoa Kỳ đòi mở rộng các biện pháp trừng phạt đến các khách hàng của Matxcơva. Ấn Độ và Trung Quốc hiện đang mua vào đến 50 % tổng kim ngạch xuất khẩu dầu hỏa của Nga. Đây sẽ là một thảm họa đối với Matxcơva vì xuất khẩu năng lượng bảo đảm đến 1 phần 3 ngân sách liên bang hàng năm ». Tuần báo Anh The Economist ghi nhận : Thứ Sáu 08/08/2005 là hạn chót để tổng thống Mỹ đưa ra một quyết định mạnh mẽ đòi Nga ngừng chiến tranh Ukraina. Đến cuối ngày, Nhà Trắng thông báo thượng đỉnh Trump-Putin tại Alaska. Một lần nữa Trump tuyên bố rất hùng hồn, nhưng luôn áp dụng chiến thuật « dơ cao đánh khẽ » và tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nhân điện Kremlin.
Trung Quốc có còn cần vốn đầu tư và công nghệ của Liên Hiệp Châu Âu nữa hay không ? Bắc Kinh không để « bị lừa » như châu Âu trên vấn đề chuyển giao công nghệ. Bruxelles, « tiền đầy túi, có quyền sinh sát » với hàng xuất khẩu của Trung Quốc nhưng lại trong thế yếu. Nhà nghiên cứu Isabelle Feng, Trung Tâm Asia Centre-Paris phân tích về những nghịch lý trong mối quan hệ « bất cân đối » và bất lợi cho Liên Âu sau 50 năm thiết lập bang giao. 50 năm hành trình một cuộc « cách mạng» trong bang giao Liên Âu -Trung Quốc Tương quan lực lượng giữa Liên Hiệp Châu Âu và Trung Quốc trong nửa thế kỷ qua đã hoàn toàn thay đổi. Năm 1975 phó chủ tịch kiêm ủy viên châu Âu đặc trách về đối ngoại, Christopher Soames đến Bắc Kinh khởi động bang giao với Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Chuyến viếng thăm này mở đường cho những « hiệp định thương mại » năm 1978 rồi « hiệp định kinh tế và thương mại » năm 1984 ». Trung Quốc gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, tăng tốc đầu tư vào Liên Âu từ 2008 khi thế giới tư bản chao đảo vì cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. 2019 Bruxelles xem Trung Quốc là một « đối tác, một đối thủ cạnh tranh có hệ thống » trước khi hướng tới mục tiêu « de-risking » giảm bớt mức độ lệ thuộc vào nền kinh tế thứ hai toàn cầu. Với chiến tranh Ukraina, an ninh của Liên Âu bị Nga đe dọa thì Bắc Kinh thắt chặt bang giao với Matxcơva. Vào lúc các nền công nghiệp tiên tiến toàn cầu bị các nền kinh tế đang trỗi dậy cạnh tranh mà nguy hiểm nhất là hàng rẻ Trung Quốc, Hoa Kỳ không còn che đậy chủ trương bảo hộ. Riêng Bruxelles vẫn chủ trương « mở cửa thị trường » và « tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng » giữa các nhà sản xuất vì « lợi ích của người tiêu dùng ». Bước vào thời kỳ công nghệ số Lục Địa Già hoàn toàn phụ thuộc vào các tập đoàn Mỹ và đã bất ngờ bị các đối thủ Trung Quốc qua mặt. Về thương mại, Liên Âu xuất siêu sang Mỹ nên trong tầm ngắm của chính quyền Trump ngay từ nhiệm kỳ đầu 2017-2021 và lại càng bị tấn công mạnh hơn nữa trong từ sáu tháng qua khi nhà tỷ phú địa ốc này quay lại Nhà Trắng. Cũng là nạn nhân trong chính sách bảo hộ của Washington, Bắc Kinh không còn dễ dàng xuất khẩu và đầu tư sang Mỹ nên đã tăng tốc « đổ hàng » sang châu Âu, đe dọa sự sống còn của các nhà sản xuất trên Lục Địa Già. « Tiền đầy túi » mà vẫn phải đi « năn nỉ » Với bạn hàng Trung Quốc, trao đổi mậu dịch hai chiều năm 2024 lên tới 845 tỷ đô la, nhưng Liên Âu trong thế nhập siêu : thâm hụt mậu dịch với Bắc Kinh đạt ngưỡng 300 tỷ, cao gấp đôi so với đúng 10 năm trước đó. Ý thức được mối đe dọa nay, từ 2019 Bruxelles liên tục tìm cách « giành lại chủ quyền » về công nghiệp, về công nghệ, đòi được Trung Quốc đối xử với các doanh nghiệp châu Âu « công bằng hơn » khi họ đầu tư vào Hoa Lục. Bất lực của một khối giàu có và thịnh vượng Nhưng thượng đỉnh Bắc Kinh hôm 24/07/2025 là bằng chứng rõ rệt cho thấy sự bất lực của khối 450 triệu dân có mãi lực « thừa sức » để áp đặt điều kiện với nền kinh tế thứ hai toàn cầu. Mời quý vị theo dõi phần phỏng vấn Isabelle Feng chuyên về kinh tế và chính sách đối ngoại của Trung Quốc, phó chủ nhiệm chương trình nghiên cứu thuộc trung tâm Asia Centre tại Paris. RFI : Kính chào Isabelle Feng, câu hỏi đầu tiên là bà đánh giá thế nào thượng đỉnh Bắc Kinh tuần qua. Trước hội nghị, trong bài tham luận đăng trên trang nhà của trung tâm nghiên cứu Asia Centre bà đã xem đây là một « thất bại được báo trước » khi Liên Hiệp Châu Âu đòi « cân bằng lại » quan hệ về kinh tế, về thương mại với Trung Quốc ? Isabelle Feng : « Ngay từ trước hội nghị hôm 24/07/2025, trên báo chí, các nhà phân tích đồng loạt cho rằng thượng đỉnh lần này không mang lại điều gì cụ thể. Và quả là như vậy. Rõ ràng là Bruxelles chẳng được gì khi cử phái đoàn đến Bắc Kinh. Sự kiện tuần trước chỉ là cơ hội chứng minh chính sách tuyên truyền của chủ tịch Trung Quốc rất hiệu quả. Báo chí ở Bắc Kinh nhấn mạnh rằng phái đoàn của Liên Hiệp Châu Âu đã vượt 10.000 cây số sang Trung Quốc – đây là cách nói để nhất mạnh rằng lãnh đạo châu Âu từ rất xa đến để được gặp ông Tập Cận Bình, để cho thấy người ta phải đến yết kiến ông. Các tờ báo chỉ tập trung vào những phát biểu của lãnh đạo Trung Quốc, và mãi đến tận cuối bài người ta mới nhắc qua một vài câu nói của chủ tịch Ủy Ban Châu Âu, Ursula von der Leyen nhưng đấy là những tuyên bố nhạt nhẽo… Về vấn đề Ukraina châu Âu không đạt được gì cả. Trên các hồ sơ về thuế nhập khẩu về ô tô điện cũng vậy. Vào lúc Liên Âu mong muốn các tập đoàn Trung Quốc chuyển giao công nghệ chế tạo bình điện cho ô tô thì phía Bắc Kinh đã chẳng nói năng gì. Cuối cùng tuyên chung chỉ đề cập đến hợp tác chống biến đổi khí hậu, giảm phát thải carbon. Vì có nhắc đến vấn đề « cân bằng lại trong quan hệ giao thương kinh tế », hôm 09/07 bà von der Leyen đã có bài phát biểu và đưa ra một bản báo cáo với những lời lẽ cứng rắn và rất mạch lạc, đòi một mối quan hệ bình đẳng hơn giữa Bắc Kinh với Bruxelles. Nhưng khi nào mà còn chưa chuyển lời nói thành hành động, thì cũng không ăn thua gì cả. Hơn nữa ngay sau những tuyên bố của lãnh đạo châu Âu này thì một quan chức cao cấp của Bắc Kinh đã đáp lời bà Leyen bằng tiếng Hoa, rằng điều cần thiết hiện nay trong bang giao song phương là một sự 'cân bằng trong cách tư duy' của Bruxelles. Đây không hơn không kém là một lời thóa mạ Bắc Kinh ném vào mặt châu Âu và một sự khinh thường Bruxelles quá rõ rệt ». Tử huyệt của Liên Âu : Một khối không đoàn kết RFI : Hiện tại về công nghiệp cũng như trong nhiều lĩnh vực công nghệ mũi nhọn, Trung Quốc đã vượt trội hơn cả Liên Âu, sau 50 năm « bang giao » hữu hảo. Vừa là công xưởng cung cấp hàng rẻ cho thế giới, vừa nắm giữ những lá bài then chốt như đất hiếm, Trung Quốc có còn cần đến công nghệ và vốn đầu tư của châu Âu nữa hay không ? hay Bắc Kinh chỉ còn trông thấy ở đối tác này là một thị trường để giải quyết hàng không bán được sang Hoa Kỳ ? Isabelle Feng : « Nhìn từ Bắc Kinh, Liên Âu có nhiều lá chủ bài trong tay nhưng Bruxelles không biết cách sử dụng hay không muốn khai thác những lợi thế đó trong quan hệ với Trung Quốc. Liên Hiệp Châu Âu là một khối 27 thành viên, với hơn 450 triệu dân và là một thị trường vừa lớn vừa có sức tiêu thụ cao. Về thương mại, Liên Âu mua hàng của Trung Quốc nhiều hơn là xuất khẩu sang nước này. Nhập siêu của Bruxelles với Bắc Kinh năm ngoái lên tới 300 tỷ đô la. Tức là Liên Âu trong thế mạnh vì nếu ngừng mua hàng của Trung Quốc là đẩy các nhà sản xuất của nước này vào thế kẹt. Vậy mà với tiềm lực kinh tế mạnh như vậy, Liên Âu lại không thể tạo ra một thế đối trọng với Trung Quốc. Ngoài ra, tuy là một khối nhưng lại không đoàn kết trước một đối tác và cũng là đối thủ như Bắc Kinh. Trung Quốc hiểu được điều đó từ lâu nay. Liên Âu cũng không khai thác được sức mua của mình để áp đặt luật thuế quan với lại Trung Quốc như điều mà Mỹ đang làm hiện nay. Châu Âu rõ ràng là người mua, có ví đầy tiền nhưng lại đi năn nỉ người bán là Trung Quốc : đây là một điều kỳ lạ ! » RFI : Có rất nhiều lợi thế trong tay, mà đầu tiên hết là sức mua, là thị trường chung 450 triệu dân, là vốn đầu tư, là mạng lưới công nghiệp và sức sáng tạo của các nguồn nhân lực … tại sao Liên Âu không thể áp đặt một tiếng nói chung trong quan hệ với Bắc Kinh ? Isabelle Feng : « Cần nhắc lại nguồn gốc của Liên Hiệp Châu Âu : ban đầu đây là một cộng đồng kinh tế. Chừng nào mà khối này vẫn chưa tìm được bản sắc riêng, chưa có chủ quyền thực thụ về quân sự và trong chính sách đối ngoại, thì Liên Âu sẽ không thể có chung một tiếng nói, dù là với Trung Quốc hay với Mỹ. Đồng thời, Liên Âu có một cấu trúc riêng, và rõ ràng là cơ chế đó không còn thích nghi với thế giới mới ngày nay. Hiện tại thế giới xoanh quanh ba trục chính là Bắc Kinh, Washington và Matxcơva. Châu Âu cố gắng khẳng định mình là cột trụ của thế giới nhưng vẫn chưa thành công. (...) Tôi nhớ là năm 1964 khi Pháp công nhận Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa của Mao Trạch Đông, thu nhập bình quân đầu người một năm của Châu Âu là 1.680 đô la, tại Trung Quốc là 80 đô la. Giờ đây Trung Quốc là nền kinh tế thứ hai toàn cầu. Trong khi đó các nước châu Âu nếu xé lẻ, thì không có trọng lượng gì cả so với Trung Quốc. Vì thế nên bắt buộc khối này phải đoàn kết với nhau. Nhưng đoàn kết đó lại không tạo ra sức mạnh cho khối này vì thực tế đây là một khối bị chia rẽ. Đây là một nghịch lý và cũng là nhược điểm của Liên Âu khi mà khối này cần nhất trí để có một lập trường mạnh mẽ cả với Hoa Kỳ lẫn Bắc Kinh. Chúng ta cũng biết rằng Bắc Kinh đang yếu thế vì thị tường Mỹ đang dần dần đóng cửa với hàng Trung Quốc, cho nên hàng Trung Quốc phải đổ sang thị trường châu Âu. Bởi vì ngoài Hoa Kỳ ra thì châu Âu là thị trường có sức mua hấp dẫn nhất. Làm thế nào để hàng hóa của châu Âu có thể cạnh tranh lại được so với hàng Trung Quốc khi mà lương công nhân Trung Quốc là 2 đô la một giờ ? » RFI : Trong một số lĩnh vực khoa học và công nghệ mới, như bình điện cho ô tô, pin mặt trời hay trí tuệ nhân tạo, viễn thông … và không ít các tập đoàn Trung Quốc đang dẫn đầu. Một trong những đòi hỏi của Liên Âu trong mục tiêu « cân bằng hóa » quan hệ với Trung Quốc là chuyển giao công nghệ. Phản ứng của Trung Quốc ra sao ? Và trong quan hệ song phương cho những thập niên sắp tới, liệu Bruxelles còn có thể hợp tác với Trung Quốc trong những lĩnh vực nào ? Isabelle Feng : « Vẫn còn những lĩnh vực đôi bên có thể hợp tác. Bruxelles mong muốn các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào châu Âu – chẳng hạn như trong lĩnh vực công nghệ chế tạo các bình điện cho ô tô và nhiều ngành công nghệ cao khác. Nhưng đồng thời Liên Âu cũng muốn các hãng Trung Quốc chuyển giao công nghệ, tức là Bruxelles cũng đặt điều kiện như Bắc Kinh 20 năm về trước. Châu Âu đòi Trung Quốc chuyển giao công nghệ. Nhưng Bắc Kinh phản bác điểm này và cho là đi ngược lại với các quy định của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Hãy đợi xem liệu Bruxelles có đủ cứng rắn để áp đặt những điều kiện của mình với đối phương hay không khi biết rằng các doanh nghiệp Trung Quốc đang ráo riết đi tìm những bãi đáp mới. Năm 2024 hơn 170 tỷ đô la đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc rời khỏi hoa lục. Vào lúc môi trường ở Mỹ càng lúc càng kém thân thiện, các quy định nghiêm ngặt cản trở đầu tư Trung Quốc thì châu Âu là điểm đến lý tưởng. Vấn đề còn lại là Liên Hiệp Châu Âu có biết tận dụng lá bài này để mặc cả, để áp đặt luật chơi với Bắc Kinh hay không ». RFI Việt ngữ chân thành cảm ơn Isabelle Feng, phó chủ nhiệm trung tâm nghiên cứu Á Châu Asia Centre, chuyên gia về kinh tế và quan hệ đối ngoại của Trung Quốc với Châu Âu và Hoa Kỳ.
Đổi dầu lửa lấy vũ khí, thiết bị quân sự và nguyên liệu chế tạo tên lửa : Phải chăng đó sẽ là thỏa thuận sắp tới giữa Iran và Trung Quốc ? Trong hai nhà bảo trợ cho chế độ Teheran, Bắc Kinh « hơn điểm » so với Matxcơva sau chiến dịch quân sự 12 ngày đêm Iran phải đương đầu với Israel và sau đợt tấn công của Hoa Kỳ nhắm vào các cơ sở hạt nhân Iran. Cả về an ninh lẫn kinh tế Teheran trông cậy nhiều vào Bắc Kinh. Từ sau cuộc Cách Mạng Hồi Giáo năm 1979, rồi vụ bắt con tin Mỹ trong tòa đại sứ Teheran cho đến tận ngày hôm nay, Iran liên tục bị Hoa Kỳ và quốc tế trừng phạt. Sau giai đoạn 2015-2018 tưởng chừng phương Tây nới lỏng gọng kềm cấm vận, nhưng rồi năm 2018 Washington dưới thời tổng thống Donald Trump đã đơn phương ban hành những biện pháp nghiêm ngặt, trừng phạt Iran phát triển vũ khí hạt nhân. Một lần nữa các doanh nghiệp quốc tế vì sợ trừng phạt của Hoa Kỳ lần lượt rút lại các dự án đầu tư khỏi Iran, ngừng mọi giao dịch với quốc gia bị Washington đưa vào danh sách các « Nhà nước yểm trợ khủng bố ». Trả lời RFI tiếng Việt, nhà báo Đài Phát Thanh Quốc Tế Pháp, ban tiếng Ba Tư Vahid Shamsoddinnezhad trước hết cho biết qua về bức tranh ảm đạm của nền kinh tế Iran : « Hiện tại tình hình kinh tế Iran hết sức khó khăn, do bị áp lực từ các biện pháp trừng phạt. Các biện pháp trừng phạt đó chủ yếu do Mỹ ban hành và nhắm vào xuất khẩu dầu hỏa, vào ngành các khoản giao dịch tài chính. Hệ quả kèm theo là lạm phát ở mức hai con số, dao động từ 30 đến 40 % từ nhiều năm qua. Sức mua của các hộ gia đình bị chao đảo. Giá cả những mặt hàng thiết thực nhất, thuốc men, nhu yếu phẩm tăng lên đến mức chóng mặt. Cùng lúc đơn vị tiền tệ quốc gia -đồng rial, mất giá khiến hàng nhập khẩu càng thêm đắt đó. Iran rơi vào vòng luẩn quẩn của lạm phát. Đối với dân chúng, sống được qua ngày là cả một sự hy sinh to lớn. Một phần dân số bị đẩy vào cảnh nghèo khó và họ phải thích nghi với môi trường đầy bất trắc. Thất nghiệp tràn lan, lại càng khiến kinh tế thêm khó khăn ». Nguy cơ khủng hoảng trong xã hội Thống kê gần đây nhất của Iran cho thấy 20 % thanh niên trong độ tuổi từ 19 đến 25 bị thất nghiệp, gần 35 % phụ nữ có bằng cấp bị gạt ra ngoài thị trường lao động. Cùng lúc, đơn vị tiền tệ quốc gia, đồng rial mất giá 50 % trong 6 tháng đầu năm 2025. Là một quốc gia dầu hỏa và có nhiều nguồn dự trữ về khí đốt, vậy mà Iran thường xuyên thiếu hụt năng lượng, bị mất điện nên phải đóng cửa các nhà máy, ảnh hưởng trực tiếp đến lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Nhà nghiên cứu Nima Khorrami học viện OSCE Bishkek-Kyrgyzstan trên báo The Diplomat hôm 03/07/2025 khẳng định, sau 2 đợt bị Israel và Mỹ thách thức về quân sự trong tháng 6/2025, Iran đang đứng trước hai nhu cầu cấp bách : Một là chấn chỉnh kinh tế để mong « giữ được khế ước xã hội » với người dân, qua đó bảo đảm sự tồn tại cho chế độ và hai là nhanh chóng gây dựng lại cả một hệ thống an ninh đã hoàn toàn sụp đổ. Teheran thực sự cần « gấp rút » trang bị vũ khí và mua thêm các thiết bị quân sự. Chiếc phao kinh tế Trong cả hai mục tiêu này Iran kỳ vọng nhiều vào các điểm tựa là Nga và Trung Quốc. Thế nhưng Bắc Kinh có phần chiếm ưu thế. Về kinh tế Trung Quốc hơn hẳn nước Nga. Nhà báo Vahid Shamsoddinnezhad giải thích : « Về kinh tế, Nga và Trung Quốc là hai đối tác chính của Iran. Nhưng vai trò của Trung Quốc có phần quan trọng hơn, nếu không muốn nói đây là bình dưỡng khí duy nhất có trọng lượng. Bất chấp trừng phạt về dầu hỏa Mỹ ban hành, Trung Quốc vẫn nhập khẩu dầu của Iran với một khối lượng rất lớn và mua với giá rẻ. Bắc Kinh lách cấm vận của Mỹ. Điều đó giúp Trung Quốc vừa có dầu vừa duy trì ảnh hưởng ở khu vực Trung Đông. Về phía Teheran giao dịch với Trung Quốc nên Iran thu về ngoại tệ và tài trợ cho ngân sách quốc gia. Không có hàng của Trung Quốc thì kinh tế Iran còn bi đát hơn nữa cho dù một mình đối tác này không thể giúp Teheran giải quyết tất cả các vấn đề cơ bản vốn đã ăn sâu vào kinh tế Iran ». Theo báo cáo của Cơ Quan Năng Lượng Mỹ công bố hồi tháng 5/2025, xuất khẩu dầu hỏa của Iran sang Trung Quốc trong năm 2024 « cao gấp đôi so với hồi 2022 ». Iran bán dầu với giá rẻ hơn từ 6 đến 8 đô la một thùng cho bạn hàng Trung Quốc. Dù bị cấm vận, « mỗi ngày, Iran vẫn xuất khẩu từ 1,2 triệu đến 1,5 triệu thùng dầu thô mà 90 % trong số đó chỉ để bán cho Trung Quốc ». Iran trước thách thức « xây dựng lại » hệ thống phòng thủ Bất chấp thỏa thuận hợp tác chiến lược mà Teheran ký kết với Bắc Kinh hồi 2021 hay hiệp ước « đối tác an ninh » ký kết với Matxcơva đầu năm 2025 cả Trung Quốc lẫn Nga cùng khoanh tay đứng nhìn Iran một mình đương đầu với hai trong số các cỗ máy quân sự lợi hại nhất thế giới là Mỹ và Israel. Vẫn nhà báo ban tiếng Ba Tư đài RFI Vahid Shamsoddinnezhad phân tích « 12 ngày giao tranh với Israel đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với Iran. Chúng ta đã đề cập đến vế kinh tế, nhưng tai hại hơn nữa đối với Teheran là hệ thống phòng không của Iran hoàn toàn bị phá hủy. Chính vì thế mà Iran đã hối hả cầu viện Matxcơva để xây dựng lại hệ thống phòng thủ, mua thiết bị phòng không của Nga. Trước mắt kết quả không nhiều. Cùng lúc, Iran nhìn về phía Bắc Kinh, đặc biệt là sau khi chiến đấu cơ của Trung Quốc đã chứng minh tính hiệu quả trong cuộc xung đột giữa Pakistan và Ấn Độ hồi tháng 5/2025. Iran mong muốn mua thiết bị quân sự của Trung Quốc và của Nga. Nhưng câu hỏi đặt ra là liệu rằng Bắc Kinh có sẵn sàng đáp ứng nguyện vọng đó của Teheran hay không, trong bối cảnh Washington vẫn duy trì cấm vận với Iran, đồng thời quan hệ Mỹ -Trung đang rất phức tạp. Liệu Trung Quốc có sẵn sàng dương đầu với Hoa Kỳ và thỏa mãn yêu cầu của Teheran hay không ? Còn phải đợi thêm thời gian để trả lời câu hỏi này. Tờ L'Orient du Jour hôm 21/07/2025 tiết lộ, vào lúc Israel vẫn thuyết phục Hoa Kỳ « đánh tiếp » vào các cơ sở hạt nhân ủa Iran, Teheran cần vũ khí tối tân. Chiến tranh Ukraina huy động gần như toàn bộ khả năng sản xuất vũ khí và đạn dược của Nga. Matxcơva khó có thể nhanh chóng thỏa mãn đòi hỏi của Teheran. Còn lại có Trung Quốc. Thỏa thuận đổi dầu hỏa lấy vũ khí hiện đại ? Tờ báo này trích dẫn nhiều nguồn tin thông thạo từ Teheran cho biết « dường như Iran yêu cầu Bắc Kinh cung cấp nhiều loại thiết bị quân sự và vũ khí tối tân như radar giám sát đến dàn phóng tên lửa địa đối không ». Đòi hỏi này đặt Trung Quốc vào thế khó xử, sứ quán Trung Quốc tại Israel đã bác bỏ tin trên. Giáo sư Figueroa đại học Groningue -Hà Lan, được tờ báo trích dẫn giải thích : vì những liên hệ chặt chẽ về kinh tế, Bắc Kinh không thể « bỏ rơi » Iran nhưng công khai yểm trợ chính quyền của giáo chủ Khamenei về mặt quân sự là « một nước cờ mạo hiểm » : Thứ nhất, Trung Quốc cũng rất ngại phản ứng khó lường của chính quyền Mỹ trong tay ông Donald Trump. Thứ hai, là ngoài Israel ra, Bắc Kinh tuyệt đối muốn tránh làm phật lòng một quốc gia thù nghịch khác với Iran là Ả Rập Xê Út. Riyad là một nhà xuất khẩu dầu hỏa « có trọng lượng hơn nhiều so với Iran ». Nima Khorrami cân nhắc những được, thua nếu của Bắc Kinh trong trường hợp Trung Quốc trở thành « điểm tựa chính của Iran về an ninh, quốc phòng ». Bài toán của Bắc Kinh Giúp Iran, Trung Quốc được lợi gì ? Lợi thế đầu tiên là Trung Quốc càng thắt chặt thêm quan hệ với Iran cả về kinh tế lẫn chiến lược trong vùng eo biển Hormuz, bắt rễ vào Vịnh Ả Rập và nhất là dùng lợi thế với Teheran, kết nối một trục giao thương Irak, Iran với Pakistan … Bắc Kinh kỳ vọng dự án xây dựng hành lang kinh tế nối liền Trung Quốc và Pakistan sẽ nhanh chóng cất cánh sau nhiều năm dậm chân tại chỗ. Lợi thế thứ hai là Iran cũng sẽ trở thành một đầu cầu của Bắc Kinh ở Trung Đông và vùng Vịnh. Điểm thứ ba đáng chú ý về mặt địa chiến lược, vẫn theo tác giả bài viết trên báo The Diplomat, là về lâu dài hợp tác với Iran góp phần giảm thiểu ảnh hưởng của Ấn Độ tại Trung Á, chận đứng tham vọng của New Delhi muốn gắn kết Ấn Độ với Trung Á và Afghanistan qua dự án « hành làng giao thương quốc tế Bắc -Nam INTSC mà ở đó Ấn Độ dự định đầu tư ồ ạt vào cảng Chabahar của Iran. Tuy nhiên tất cả những tính toán đó của Trung Quốc cũng cần phải cân nhắc kỹ lưỡng bởi vì theo nhà nghiên cứu Nima Khorrami, hiện tại Bắc Kinh và Nhà nước Do Thái đang có nhiều chương trình họp tác về kinh tế và công nghệ. Trung Quốc có nhiều dự án đầu tư tại Israel. Ngoài ra, « thân thiện » quá với Teheran, Trung Quốc có nguy cơ làm mất lòng cac quốc gia trong vùng Vịnh, vốn vẫn vẫn xem Iran là « kẻ thù ». Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất là những đối tác thương mại, và đặc biệt là những nguồn cung cấp năng lượng mà Bắc Kinh không thể bỏ qua. Về yếu tố Hoa Kỳ : Vào thời điểm Mỹ-Trung đang lao vào một cuộc đối đầu cả về kinh tế, quân sự và nhất là công nghệ, cung cấp vũ khí cho quốc gia bị Hoa Kỳ coi là « kẻ thù » là một nước cờ đầy mạo hiểm. Cuối cùng, trong chính sách đối ngoại của Bắc Kinh, « Iran không là đồng minh, hay đối tác ». Trung Quốc luôn coi Iran là một « mắt xích quan trọng về địa chính trị kềm tỏa ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực Trung Đông ». Do vậy cho dù có hợp tác với Iran về quân sự, quốc phòng, thì tác giả bài nghiên cứu đăng trên báo Nhật Bản The Diplomat tin rằng, Trung Quốc đủ khôn ngoan để « tiếp sức cho Iran đủ mạnh để hưởng lợi một khi mà Teheran phải phụ thuộc vào Bắc Kinh ». Cùng lúc, Bắc Kinh sẽ dừng lại đúng lúc, tránh để Iran trở thành một quốc gia quá mạnh về quân sự để có thể trở thành một mối đe dọa, gây bất ổn ở Trung Đông. Điều này sẽ trái ngược với những quyền lợi của Trung Quốc.
Ngày 12/06/2025, Mỹ thả 14 quả bom GBU phá hầm, mỗi quả nặng hơn 13 tấn, nhắm vào ba cơ sở hạt nhân của Iran. Vụ việc đã được Bắc Triều Tiên, quốc gia sở hữu vũ khí nguyên tử và hiện dưới lệnh trừng phạt quốc tế, theo dõi chặt chẽ. Liệu Washington có sẽ thực hiện điều tương tự với Bình Nhưỡng hay không vào lúc các cuộc đàm phán hạt nhân Mỹ - Triều cũng đang bế tắc ? Iran – Bắc Triều Tiên : Một liên minh hạt nhân lâu năm Không giống như Bắc Triều Tiên, chế độ thần quyền Teheran vẫn chưa có vũ khí nguyên tử. Nhưng mối quan hệ hợp tác về hạt nhân giữa Iran và Bắc Triều Tiên đã tồn tại gần ba thập kỷ, kể từ sau chuyến thăm Bình Nhưỡng năm 1989 của đại giáo chủ Ali Khamenei, khi ấy giữ chức tổng thống Iran. Chuyến thăm này đã đặt nền tảng cho một liên minh lâu dài do cả đôi bên cùng phản đối Hoa Kỳ. Chính Bình Nhưỡng đã cung cấp cho Teheran chương trình tin học có khả năng mô phỏng dòng neutron, một công cụ chủ chốt để thiết kế đầu đạn hạt nhân. Tuy nhiên, Bắc Triều Tiên không chắc có được những thông tin cụ thể chẳng hạn như độ sâu chính xác các cơ sở hạt nhân ngầm của Iran hay vị trí kho dự trữ uranium được làm giầu đến 60%. Do vậy, theo nhận định của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, chuyên gia về Đông Nam Á, Đông Bắc Á, giảng viên trường đại học Sư phạm Lyon, với RFI Tiếng Việt, đòn tấn công của Mỹ đã cung cấp cho Bắc Triều Tiên nhiều bài học quý giá. Laurent Gedeon : « Chúng cung cấp cho Bình Nhưỡng nhiều yếu tố để chuẩn bị trước một hành động tương tự. Điều này càng đúng hơn khi Hoa Kỳ khó có thể quay lưng lại với châu Á trong thời gian dài, vì khu vực này vẫn là trung tâm trong các mối quan ngại về kinh tế và chiến lược của Washington. Hành động của Mỹ ở Trung Đông dường như khá mang tính chiến thuật để hạn chế tác động của cuộc khủng hoảng ngày càng lớn. Điều đáng chú ý là Donald Trump đã dùng hết sức của mình để đạt được lệnh ngừng bắn mặc dù Israel vẫn chưa hoàn thành các mục tiêu đã tuyên bố là hủy diệt hoàn toàn chương trình hạt nhân của Iran và thay đổi chế độ ở Teheran. Do đó, chúng ta có thể đưa ra giả thuyết là Mỹ coi sự gia tăng căng thẳng trong khu vực này không nằm trong lợi ích của họ và việc giải quyết, dù chỉ là tạm thời, những vấn đề này sẽ cho phép họ tập trung trở lại vào châu Á. » Iran và Bắc Triều Tiên : Chính sách « bên trọng, bên khinh » của Mỹ Nếu như với Iran, chính quyền Donald Trump có một thái độ cứng rắn và đã đưa ra một quyết định khá triệt để, thậm chí đầy vũ lực, thì ngược lại người ta ghi nhận có một sự thận trọng trong cách thức Nhà Trắng hiện nay xử lý hồ sơ hạt nhân Bắc Triều Tiên. Cho đến nay, Donald Trump chưa có một lời đe dọa chiến tranh nào nhằm vào Bình Nhưỡng. Giới quan sát cũng ghi nhận chế độ Kim Jong Un có một phản ứng « khá thận trọng » sau cuộc không kích của Mỹ tại Iran, so với những lời lẽ gay gắt thường có với Washington. Chuyên gia địa chính trị Laurent Gédéon cho rằng có bốn lý do để giải thích cho cách hành xử « bên trọng, bên khinh » của Mỹ trong hồ sơ hạt nhân đối với hai nước. Thứ nhất, là thế cô lập của Iran. Chế độ thần quyền đã không thể tìm được một đồng minh nào có khả năng hỗ trợ họ trong cuộc đối đầu với các đối thủ. Ngược lại, Bắc Triều Tiên đã ký một thỏa thuận đối tác chiến lược toàn diện với Nga ngày 18/06/2024 nhân chuyến thăm Bình Nhưỡng của tổng thống Vladimir Putin. Laurent Gédéon : « Trong số 23 điều khoản cấu thành hiệp định, điều 4 đặc biệt thú vị bởi vì nó quy định rằng nếu một trong hai quốc gia bị xâm lược vũ trang, quốc gia kia sẽ cung cấp hỗ trợ quân sự ngay lập tức bằng mọi phương tiện mà mình có. Thỏa thuận này đã được thực hiện trong bối cảnh cuộc chiến ở Ukraina, khi Bắc Triều Tiên cung cấp hàng triệu quả đạn pháo cho quân đội Nga và đưa binh lính Bắc Triều Tiên ra tiền tuyến. Hoa Kỳ phải tính đến yếu tố này khi lập bất kỳ kế hoạch tấn công trực tiếp vào Bắc Triều Tiên. » Thứ hai, dù đã rút khỏi Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) năm 2003, Bắc Triều Tiên có một học thuyết hạt nhân rõ ràng chi phối việc sử dụng vũ khí nguyên tử. Laurent Gédéon : « Đặc trưng của học thuyết này là nguyên tắc “quyền ưu tiên”. Điều này được áp dụng trong điều kiện sắp xảy ra một cuộc tấn công sắp từ một quốc gia thù địch và khi chiến tranh vẫn chưa bắt đầu. Điều này ngụ ý rằng Bình Nhưỡng sẽ bắt đầu cuộc chiến bằng vũ khí hạt nhân ngay từ đầu. Học thuyết này của Bắc Triều Tiên phải được phân biệt với học thuyết của Nga dựa trên nguyên tắc "giải pháp đầu tiên". Chúng bao gồm việc sử dụng vũ khí hạt nhân trước tiên nhưng trong trường hợp leo thang bạo lực liên tục kể cả bằng các loại vũ khí phi hạt nhân. Học thuyết của Bắc Triều Tiên, ngay lập tức đặt con trỏ ở mức cao nhất, còn ngụ ý rằng sẽ có những rủi ro lớn cho kẻ tấn công tiềm năng và giải thích cho sự thận trọng của Hoa Kỳ. » Thứ ba là yếu tố gần gũi về địa lý. Khác với Iran vốn cách xa Nga và Trung Quốc, Bắc Triều Tiên có đường biên giới chung với Trung Quốc và trong chừng mực nào đó là cả với Nga. Sự gần gũi về địa lý này khiến bất kỳ hành động nào của Mỹ chống lại Bắc Triều Tiên đều có nguy cơ dẫn đến việc Trung Quốc xem đấy như là một mối đe dọa và sẽ có hành động trả đũa. Cuối cùng là về năng lực tình báo. Không như tại Iran, tình báo và gián điệp Israel dễ dàng thâm nhập sâu, gây khó khăn cho việc ra quyết định và khả năng phản ứng của Teheran, việc các cơ quan tình báo phương Tây xâm nhập Bắc Triều Tiên có vẻ khó khăn hơn nhiều. Laurent Gédéon : « Ngay cả khi có thể có những điệp viên nằm vùng, người ta vẫn có thể đặt câu hỏi về khả năng thực hiện một hoạt động trên thực địa tương tự như cuộc tấn công bằng drone do các điệp viên Mossad tổ chức từ lãnh thổ Iran nhằm vào các mục tiêu quân sự. Nhìn chung, rất khó để có được thông tin quân sự của Bắc Triều Tiên, mà bằng chứng hiển nhiên là chúng ta không thể biết rõ về số lượng ICBM (Tên lửa đạn đạo liên lục địa) hiện được triển khai trên lãnh thổ Bắc Triều Tiên (và do đó đang hoạt động). Con số này thay đổi, tùy theo từng nguồn, từ mười đến ba mươi. Do đó, chúng ta có thể thấy rằng chi phí tiềm tàng cho một cuộc tấn công của Mỹ nhằm vào Bắc Triều Tiên là khó có thể chịu được, do những rủi ro cao về chiến lược. Điều này có lẽ giải thích chính sách thận trọng của chính quyền Trump trong hồ sơ này. » Phô trương sức mạnh hạt nhân : Thất bại ngoại giao Mỹ Thời gian gần đây, chế độ Bình Nhưỡng công bố nhiều hình ảnh cho thấy ông Kim Jong Un thị sát các vụ thử tên lửa, hay đến thăm các cơ sở sản xuất thanh nhiên liệu nguyên tử. Mục tiêu là nhằm chứng tỏ với thế giới rằng chương trình phát triển hạt nhân của Bắc Triều Tiên đang tiến triển mỗi ngày. Nhìn lại chính sách của Mỹ đối với Bắc Triều Tiên trong quãng thời gian 15 năm gần đây, rõ ràng chiến lược « gây sức ép/đàm phán » của Mỹ đã chạm giới hạn : Washington đã cho thấy họ không có khả năng buộc Bình Nhưỡng phải lùi bước. Trả lời RFI Tiếng Việt, nhà địa chính trị người Pháp đánh giá đây là một thất bại trong chính sách của Mỹ đối với hạt nhân Bắc Triều Tiên. Laurent Gédéon : « Ngược lại, Bắc Triều Tiên còn gia tăng sức mạnh nếu xét về tầm bắn của tên lửa đạn đạo. Vì vậy, chúng ta có thể nói đến một thất bại tương đối. Do đó, cần phải xem xét lại mô hình chiến lược ngoại giao của Washington. Để làm được điều này, chúng ta chắc chắn phải đặt câu hỏi : Một mặt là về mối đe dọa thực sự mà Bắc Triều Tiên gây ra cho Hoa Kỳ và mặt khác là đối với lợi ích của Hoa Kỳ trong khu vực, đặc biệt là đối với các đồng minh của Washington. Nhận thức về mối đe dọa này không giống nhau trong hai trường hợp và chính sách của Mỹ đối với Bình Nhưỡng phải xuất phát từ sự cân bằng giữa hai trường hợp. » Những cuộc tập trận gần đây giữa Mỹ và Hàn Quốc bao gồm cả kịch bản tác động vũ khí hạt nhân. Điều này chứng tỏ là mối đe dọa nguyên tử Bắc Triều Tiên là hiện thực. Trong bối cảnh này, đến một lúc nào, cộng đồng quốc tế có nên công nhận Bắc Triều Tiên như là một cường quốc hạt nhân nhằm tìm kiếm một giải pháp ngoại giao hay không ? Và trong giả định này, đâu là những tác động địa chính trị cho vùng Đông Bắc Á ? Laurent Gédéon : « Nguyên tắc công nhận chính thức Bắc Triều Tiên là một cường quốc hạt nhân không phải là điều mới mẻ, vì đây cũng là trường hợp của Ấn Độ và Pakistan (…) Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là phản ứng của các nước trong khu vực, đặc biệt là Nhật Bản và Hàn Quốc, vì cả hai đều là những quốc gia có khả năng nhanh chóng sở hữu vũ khí hạt nhân. Khi đó, có lẽ cần phải có áp lực và sự đảm bảo đáng kể từ phía Washington để ngăn cản Tokyo và Seoul tiếp tục trang bị vũ khí cho mình. Điều quan trọng là phải biết rằng các thành viên của câu lạc bộ rất nhỏ các cường quốc hạt nhân trên thế giới được hưởng một địa vị đặc biệt trong cộng đồng quốc tế (..) Và trong một thời gian dài, sự cân bằng này có lợi cho phương Tây, vì ba trong số năm thành viên thường trực của câu lạc bộ ban đầu này (Hoa Kỳ, Pháp và Anh) là thuộc phe phương Tây. Tuy nhiên, những diễn biến hiện tại cho thấy sự trỗi dậy của nhiều cường quốc hạt nhân ít gần gũi với phương Tây hơn, ngoại trừ Israel. Trong khi Ấn Độ duy trì thái độ trung lập thì Pakistan và Bắc Triều Tiên lại gần gũi với Matxcơva và Bắc Kinh. Trường hợp này cũng sẽ xảy ra tương tự với Iran, nếu nước này có được vũ khí nguyên tử. Và nếu điều này xảy ra, sự cân bằng có lợi cho phương Tây sẽ bị phá vỡ và đây là một trong những lý do giải thích cho sự miễn cưỡng mạnh mẽ của Hoa Kỳ và các đồng minh, cũng như những nỗ lực của họ nhằm chống lại hành động trên. » RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, trường đại học Sư phạm Lyon.
Pháp có thể mang lại những gì cho các tập đoàn công nghiệp vũ khí của Ukraina ? Họ tìm kiếm gì và có thể học hỏi được những kinh nghiệm nào từ một quốc gia đang phải đối mặt với chiến tranh ? Phương Tây đánh cược vào một đối tác không chỉ là một « kho lương thực của thế giới », mà còn từng là « kho vũ khí » của Liên Xô. Tuy đang sa lầy trong chiến tranh, nhưng Ukraina đã khẳng định thế thượng phong trong lĩnh vực công nghệ chế tạo drone. Tháng 05/2025 hơn 500 doanh nghiệp tham dự diễn đàn Liên Âu-Ukraina về công nghệ quốc phòng, tổ chức tại Bruxelles. Ba tuần lễ sau đó, Paris thông báo kế hoạch một hãng xe hơi của Pháp chế tạo drone ngay trên lãnh thổ Ukraina, và được biết đó là hãng xe nổi tiếng Renault. Thông báo dự án hôm 06/06/2025, bộ trưởng Quân Lực Sébastien Lecornu đã nói đến « Một chương trình chưa từng có ». Còn trong mắt các tập đoàn công nghiệp vũ khí thì Ukraina được ví như một « phòng thí nghiệm nơi cho ra đời những sản phẩm phù hợp nhất với thực tế » của chiến tranh. Do phải đối mặt với quân đội Nga từ tháng 02/2022 ngành công nghiệp quốc phòng Ukraina, mà đặc biệt là trong lĩnh vực chế tạo drone đã chứng minh được khả năng sáng tạo, với những phương tiện hạn hẹp để có được những sản phẩm « hiệu quả » nhất và « hoàn toàn thích ứng với những đòi hỏi trên thực địa ». Đó là điểm quan trọng nhất thu hút các tập đoàn và công ty khởi nghiệp của Pháp trong lĩnh vực quốc phòng. Drone và « chiến tranh du kích công nghệ » Trong một bài tham luận đăng trên tạp chí chuyên về địa chính trị Revue des Conflits, hồi tháng 03/2025 hai đồng tác giả, Arnaud Dassier và Mat Hauser ghi nhận drone của Ukraina đã « cho thấy tính hiệu quả trong mọi lĩnh vực (tình báo, tấn công sâu, tấn công chiến thuật, phá hủy tàu thuyền, v.v.). Chúng cũng cho phép Ukraina tiến hành một dạng ‘chiến tranh du kích công nghệ' đủ mạnh để chặn đứng đà tiến của Nga » đặc biệt là các loại drone biển rất hiệu quả ở Hắc Hải. Arnaud Dassier là một doanh nhân rất năng động tại Ukraina từ 2005, còn Mat Hauser là đồng sáng lập viên công ty chuyên thu thập các thông tin về kinh tế Stratéon, trụ sở tại Paris và Stratéon tập trung quan sát những cơ hội kinh doanh tại Ukraina. Trên đài truyền hình Pháp France 24 hôm 13/05/2025, Mat Hauser, giải thích vì sao các nhà sản xuất vũ khí của Pháp xem Ukraina là địa bàn hoạt động đầy hứa hẹn. « Chúng tôi quan niệm, do hoàn cảnh chiến tranh đẩy đưa, Ukraina đang chiếm lợi thế cực kỳ lớn trong lĩnh vực quốc phòng. Đây là cơ hội cho phép các công ty của Pháp học hỏi những kinh nghiệm của Ukraina đã được cọ sát với thực tế. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và công nghệ quốc phòng của chúng ta - còn được biết đến dưới tên gọi là một BIDT -tức là nền tảng công nghiệp và công nghệ quốc phòng, đang rất chú ý đến những chuyển động tại Ukraina. Sau hơn 3 năm chiến tranh, các doanh nghiệp Ukraina đã liên tục phải thích nghi với tình huống, phải đổi mới với rất nhiều phát minh về sản phẩm, và cũng đã phải tổ chức lại dây chuyền sản xuất sao cho có những thành phẩm nhanh hơn, hoạt động hiệu quả và luôn luôn bắt kịp những chuyển biến trên thực địa … Đương nhiên đây là những kinh nghiệm rất quý giá đối với Pháp trong lĩnh vực này ». Một điểm quan trọng khác thôi thúc các doanh nghiệp trong ngành của Pháp nhanh chóng tìm kiếm các đối tác Ukraina, do trong những điều kiện khan hiếm tất cả các « đầu vào/input » (vốn, nhân lực, thiết bị điện tử ...) vậy mà phía Ukraina vẫn đáp ứng nhu cầu của quân đội, cung cấp 1,4 triệu drone trong năm 2024 và có thể sẽ là 4 triệu drone trong năm nay. Trong khi đó Pháp mới chỉ đề ra mục tiêu chế tạo 700 chiếc một năm. Nền tảng vững chắc về công nghệ quốc phòng Khi còn thuộc về Liên Xô, Ukraina từng là « kho đạn » của Matxcơva, cung cấp đến 30 % vũ khí đủ loại, từ đạn dược đến thiết giáp và tên lửa cho Liên Bang Xô Viết. Giới trong ngành nhắc lại « Ukraina từng là một tên tuổi trong số các nền công nghiệp quốc phòng, trong một thời gian dài đây không chỉ là một vựa ngũ cốc của khối các nước xã hội chủ nghĩa mà còn từng được mệnh danh là kho vũ khí của Liên Xô, rồi của nước Nga khi Liên Xô tan rã. Kể từ 2015 sau khi Nga chiếm bán đảo Crimée, Ukraina mới bắt đầu ngừng cung cấp vũ khí cho Matxcơva ». Ukraina cần vốn và công nghệ mới Trên đài France24, Mat Hauser lưu ý, nhờ quá khứ đó mà Ukraina đã có sẵn nhiều nền tảng vững chắc trong lĩnh vực công nghệ quốc phòng, có nhiều trường đại học rất tốt để đào tạo ra các kỹ sư chuyên môn. Có điều do không còn có thể xuất khẩu cho khách hàng duy nhất là Nga từ 10 năm qua, nên các nhà sản xuất của Ukraina hơn bao giờ hết cần tìm kiếm những thị trường mới. Đương nhiên là trong giai đoạn hiện tại, chiến tranh đã hủy hoại một phần các cơ sở của Ukraina, và những nhà máy còn hoạt động là nhằm đáp ứng nhu cầu quân sự để đối đầu với lực lượng của Nga. Nhưng theo nhà quan sát này, các tập đoàn Âu Mỹ thực sự « nhìn xa hơn sau cuộc chiến với câu hỏi là làm thế nào để đổi mới nền công nghiệp quốc phòng của Ukraina ». Đồng sáng lập viên Stratéon, Mat Hauser phân tích : « Ngân sách quốc phòng của Kiev hiện tại là 50 tỷ đô la cho tài khóa 2025, đó là một số tiền rất lớn nhưng vẫn chưa đủ cho phép mua tất cả những quân cụ nếu như Ukraina khai thác 100 % các khả năng sản xuất. Cụ thể là nếu như mỗi nhà máy có khả năng sản xuất ra 100 khẩu súng thì trên thực tế họ chỉ huy động các nguồn lực để sản xuất ra 30 khẩu, vừa đủ cho nhu cầu của bên bộ Quốc Phòng. Họ dừng lại ở đó vì có sản xuất thêm nữa thì cũng không biết để làm gì khi mà Nhà nước không có phương tiện để mua thêm, khi mà các nhà máy Ukraina không được quyền xuất khẩu 70 cây súng còn lại cho bất kỳ một quốc gia nào khác. Từ khi có chiến tranh năm 2022 tổng thống Zelensky ban hành lệnh cấm xuất khẩu vũ khí để đối phó với quân Nga ». Kiev cần thu hút đầu tư và công nghệ để trở thành một nguồn cung cấp vũ khí cho thế giới Các doanh nghiệp Ukraina sắp được cởi trói Giới hạn này bị coi là một trở lực để các tập đoàn vũ khí Ukraina phát triển và vươn mình ra thế giới. Nhưng Mat Hauser tiết lộ, Kiev đang chuẩn bị một dự luật để tháo gỡ nút thắt đó. Điều này đã lập tức thu hút chú ý của các doanh nhân Pháp và châu Âu, đặc biệt là nhân diễn đàn về công nghiệp quốc phòng giữa Liên Hiệp Châu Âu và Ukraina hồi giữa tháng 5/2025 tại Bruxelles. Trong chiều hướng đó, Ukraine sẽ sớm mở cửa cho đầu tư nước ngoài. Vì vậy, các công ty Mỹ, Anh và Đức đã bắt đầu định vị để mua lại các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực này. « Dự luật này hiện tại chưa được thông qua. Nhưng nhiều người quan niệm là để phát triển, các nhà sản xuất của Ukraina cần đi tìm những thị trường mới để xuất khẩu bởi vì không thể chỉ sản xuất để phục vụ nhu cầu nội địa. Lĩnh vực tiêu biểu nhất nói lên điều này là ngành chế tạo drone và đây cũng là chủ đề được mọi người chú ý đến nhiều hơn cả, nhưng thực ra còn phải kể đến những lĩnh vực từ chế tạo xe bọc thép, đạn dược, đến sản xuất bộ đàm với khả năng bảo mật cao hay các sản phẩm gây nhiễu sóng… Chắc chắn là một khi kết thúc chiến tranh, Ukraina vẫn cần có được một mạng lưới công nghiệp quốc phòng vững chắc. Đây sẽ là một điều mang tính sống còn vì 2 lý do : một là phải tạo điều kiện để cho các những người lính khi giải ngũ - mà trong số này có nhiều kỹ sư, hội nhập trở lại vào đời sống chính trị của đất nước. Lý do thứ hai là cho dù có vãn hồi hòa bình, Ukraina ý thức được rằng Nga vẫn là một mối đe dọa cận kề nên cần có một nền công nghiệp quốc phòng mạnh mẽ để tự vệ ». Anh, Mỹ được coi là đã nhanh chân chen vào Ukraina. Còn các công ty Pháp thì sao ? Mat Hauser trả lời : « Có nhiều cách để tiếp cận thị trường Ukraina. Đương nhiên các hãng lớn chủ trương mở công ty liên doanh. Thí dụ như đại tập đoàn Rheinmetall của Đức đã ký hợp đồng cộng tác với Ukraina cùng chế tạo xe bọc thép. Còn các hãng nhỏ thì quan tâm nhiều đến các công ty khởi nghiệp Ukraina. Gần đây, một hãng của Pháp trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo phục vụ các hoạt động quân sự đã liên hệ để cộng tác và chia sẻ kinh nghiệm với Ukraina… Nhìn chung, có khá nhiều đơn vị của Mỹ, của Đức, Anh, Đan Mạch, Hà Lan và một vài hãng của Nhật đã đầu tư vào các công ty khởi nghiệp của Ukraina, Pháp hơi chậm chân … Hình thức đầu tư này mang tính rủi ro cao bởi vì như vừa nói hiện tại các doanh nghiệp của Ukraina chưa được phép xuất khẩu tức là chỉ để phục vụ thị trường nội địa. Chiến tranh kết thúc, coi như họ mất việc. Hơn nữa chắc chắn trong số các công ty khởi nghiệp đang mọc lên, nhiều thực thể sẽ không tồn tại được một khi chấm dứt chiến tranh, thị trường vũ khí của Ukraina sẽ phải được tổ chức lại và những thực thể yếu kém nhất sẽ bị loại bỏ một cách tự nhiên. Thành thử đầu tư nhiều vào Ukraina cũng là một bài toán đầy mạo hiểm ». Ukraina có khả năng sản xuất nhanh, nhiều và có chất lượng Vũ Khí - Quốc Phòng : Ukraina, « một dạng Trung Quốc thứ hai » đe dọa châu Âu ? Theo đồng sáng lập công ty chuyên thu thập các thông tin về kinh tế hướng về Ukraina, nếu như Pháp « chậm chân hay bỏ lỡ cơ hội » hơp tác với các nhà sản xuất vũ khi Ukraina, thì mối nguy hiểm hơn nữa là sắp tới « nguy cơ vũ khí và thiết bị quân sự giá rẻ của Ukraina đe dọa hàng của châu Âu và Pháp ». « Phía Pháp còn hơi rụt rè và chậm trễ trong việc dấn thân vào Ukraina và điều này nguy hiểm ở hai khía cạnh : một là Pháp không nắm bắt được tiềm năng của thị trường Ukraina, và hai là trong tương lai, thậm chí là với sự hỗ trợ của các doanh nghiệp phương Tây khác, Pháp có nguy cơ bị hàng của Ukraina cạnh tranh. Tôi xin giải thích : Trong ba năm vừa qua, Ukraina đã có những bước tiến rất xa về công nghệ chế tạo drone, về kỹ thuật …. Vậy nếu không cộng tác với họ để nắm bắt được những kinh nghiệm quý giá đó thì thật là phí ! Nhưng thành thực mà nói, đã có không ít liên hệ giữa các doanh nghiệp của Pháp và Ukraina. Hơn nữa Ukraina từng được mệnh danh là kho vũ khí của Liên Xô tức là họ đã có hẳn những nền tảng và cơ sở vững chắc về quốc phòng. Ukraina có thể sản xuất vừa nhiều vừa rẻ. Cho nên với vốn đầu tư nước ngoài, họ sẽ phát triển rất nhanh. Ngay cả trên thị trường sản xuất các hệ thống pháo tự hành 155mm mà hiện nay hệ thống CAESAR của Pháp nổi tiếng và phương Tây đã cung cấp cho Ukraina, không loại trừ khả năng Ukraina cũng sẽ có một hệ thống pháo tự hành với chất lượng gần được như của Pháp, nhưng với giá chỉ bằng một nửa, thậm chí là 1/3 so với giá mỗi chiếc Caesar. Điều đó có nghĩa là hàng của Ukraina sẽ cạnh tranh trực tiếp với vũ khí của Pháp. Tất cả vấn đề nằm ở chỗ đó, thành thử chúng ta nên cộng tác với họ hơn là để họ trở thành những đối thủ cạnh tranh sau này ».
Liên Hiệp Quốc tổ chức sinh nhật 80 tuổi bên bờ vực thẳm. Mùa hè năm 2025, cuộc chiến xâm lăng của Nga chống Ukraina, chiến tranh tàn phá dải Gaza tiếp diễn, cuộc chiến 4 ngày giữa hai cường quốc hạt nhân Ấn Độ - Pakistan, và gần đây nhất là cuộc can thiệp quân sự Mỹ-Israel chống Iran với mục tiêu ngăn chặn Teheran sở hữu vũ khí hạt nhân, trong lúc châu Âu đang tìm cách đàm phán với Iran… Chiến tranh, xung đột vũ trang khắp nơi trước sự bất lực của Liên Hiệp Quốc. Cách nay tròn 80 năm, ngày 26/06/1945, bản Hiến chương Liên Hiệp Quốc (LHQ) đã được 50 quốc gia thông qua, với một trong các tôn chỉ hàng đầu là duy trì hoà bình trên hành tinh của chúng ta. Định chế quốc tế ra đời từ Đệ nhị Thế chiến giờ đây có còn hữu ích với nhân loại trong mục tiêu bảo vệ nền hoà bình thế giới ? Định chế quốc tế ra đời ngay trong Đệ nhị Thế chiến Trong một cuộc toạ đàm với chương trình Địa chính trị của RFI, nhà sử học Chloé Maurel, chuyên gia về LHQ, ghi nhận không khí đầy hy vọng vào thời điểm LHQ ra đời. “Liên Hiệp Quốc đã được hình dung, được nhen nhóm ngay trong thời gian Thế chiến II, bởi các quốc gia chủ chốt của phe Đồng Minh và chính thức ra mắt tại San Francisco năm 1945 trong không khí phấn chấn, lạc quan cao độ, với niềm khao khát và thậm chí niềm tin vào một thế giới đoạn tuyệt với chiến tranh, bởi Thế chiến Hai là cuộc xung đột khủng khiếp, chưa từng có với nhân loại, khiến tổng cộng 60 triệu người chết… Trong Hiến chương LHQ có những nguyên tắc rất tiến bộ, như bình đẳng nam - nữ, tiến bộ xã hội, quyết tâm giải quyết xung đột bằng thương lượng, cũng như mục tiêu mọi người đều có việc làm, tức liên quan nhiều đến các vấn đề xã hội”. Trái với quan niệm của không ít người, xem Liên Hiệp Quốc như một định chế ra đời sau Thế chiến II. Trên thực tế, như vị sử gia nói trên nhấn mạnh, dự án xây dựng định chế quốc tế - tập hợp hầu hết các quốc gia trên địa cầu trong tương lai - đã bắt đầu hình thành ngay trong thời gian Thế chiến II. Hiến chương Liên Hiệp Quốc được chuẩn bị từ năm 1941 đến năm 1945. Tuyên bố Saint James, tại Luân Đôn, năm 1941, chuẩn bị cho một nền công lý quốc tế tương lai, trừng phạt các thủ phạm gây tội ác chiến tranh, Tuyên bố Liên Hiệp Quốc (Declaration by United Nations) năm 1942, với 25 quốc gia của Mặt trận chống phát xít (đứng đầu là Mỹ, Anh, Liên Xô và Trung Hoa Dân Quốc), và các hội nghị Matxcơva, Teheran, Yalta, là những cái mốc đặt nền móng cho tổ chức Liên Hiệp Quốc ra đời sau đó, trước khi bản Hiến chương Liên Hiệp Quốc được công bố. Trong cuộc toạ đàm của chương trình Địa chính trị của RFI, nhà nghiên cứu Romuald Sciora - Viện Institut de relations internationales et stratégiques (Iris), tác giả cuốn ‘‘Ai muốn LHQ phải chết ?'' nhận định: “Khi LHQ được thành lập năm 1945 trên đổ nát hoang tàn của Thế chiến II, định chế này đã lấy cảm hướng từ Hội Quốc Liên. Dĩ nhiên, là có những sai lầm đã bị lắp lại, nhưng tuy nhiên, LHQ với Hội đồng Bảo an (hiện nay đã trở nên thực sự ít ý nghĩa và với nhiều người chúng ta là một cơ chế lệch pha trong việc quản lý các vấn đề quốc tế) vào thời điểm đó đã là một thay đổi cách mạng. Sự hình thành cơ chế này (với sự tham gia của Mỹ, khác hẳn với việc Mỹ đã không tham gia Hội Quốc Liên) có mục tiêu không để tổ chức này bị rơi vào thảm kịch như Hội Quốc Liên… LHQ đã là một sáng tạo của phương Tây, dựa trên các giá trị triết học phương Tây…, lấy cảm hứng từ các giá trị nhân văn chủ nghĩa lớn, ra đời vào thời Phục hưng tại châu Âu, được xác lập thành các lý thuyết sau đó trong thế kỷ Ánh Sáng ở châu Âu, được cụ thể hoá với sự trỗi dậy của các nền dân chủ phương Tây thế kỷ 19. Sự ra đời của LHQ năm 1945 và sau đó là Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (1948), là sự hoàn tất của hệ thống này với việc hình thành chủ nghĩa đa phương.” Hành động của LHQ vì hoà bình trong thế giới lưỡng cực Mỹ - Xô: Những đóng góp và hạn chế Nói đến Liên Hiệp Quốc và hoà bình, nhiều người thường nghĩ ngay đến các lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên Hiệp Quốc. Các lực lượng gìn giữ hoà bình của LHQ, thường được gọi là lực lượng “mũ nồi xanh” hiện bao gồm khoảng 70.000 binh sĩ, đến từ nhiều quốc gia, với 11 sứ mạng duy trì hòa bình đang được triển khai tại các khu vực tranh chấp, như giữa Ấn Độ - Pakistan, giữa Israel và Liban… theo đề nghị của các nước sở tại. Nhìn chung lực lượng gìn giữ hoà bình của LHQ thường chỉ có hiệu quả trong trường hợp xung đột giữa các lực lượng vũ trang có tổ chức chấp nhận ngừng bắn, thường là giữa hai quốc gia. Lý tưởng của Liên Hiệp Quốc về một “nền an ninh tập thể” - với việc thành lập một bộ tổng tham mưu, phụ trách trợ giúp Hội đồng Bảo an thực thi các nhiệm vụ quân sự, chiếu theo điều 47 của Liên Hiệp Quốc - rút cục đã không thể trở thành hiện thực, ngay sau khi LHQ ra đời, do thế đối đầu gia tăng giữa Mỹ và Liên Xô vào cuối thập niên 1940. Thế đối đầu Mỹ - Xô, và lá phiếu phủ quyết, khiến Hội đồng Bảo an không thể đưa ra các quyết định chung ngăn chặn chiến tranh. Trong giai đoạn này, Liên Hiệp Quốc “trở thành sân khấu cho cuộc đấu tranh quyền lực toàn cầu giữa Mỹ và Liên Xô”. Cạnh tranh này đã gây ra những cuộc xung đột thảm khốc mang tính khu vực, với các cuộc chiến tranh uỷ nhiệm (“proxy wars”), như ở Việt Nam và Afghanistan. Cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân giữa Mỹ và Liên Xô từng đặt thế giới mấp mé bờ vực đại chiến, trước khi Liên Xô và Mỹ bắt đầu thương lượng về kiểm soát vũ khí chiến lược. Tuy nhiên, theo nhiều nhà quan sát, dù không giúp nhân loại tránh được một Thế chiến thứ ba, nhưng LHQ đã có phần đóng góp. Vào thời điểm căng thẳng cao độ của Chiến tranh Lạnh, LHQ là một diễn đàn để các nước nhỏ ngồi chung bàn với các nước lớn, các nước đối địch có thể chỉ trích nhau. Nhà sử học Chloé Maurel nhận xét : “Có thể nói LHQ là tổ chức dân chủ nhất trong các tổ chức quốc tế. Tổ chức này mang tính phổ quát nhất, nhân loại nhất, bởi vì tại Đại hội đồng, tất cả các nước, dù giàu hay nghèo, đều có một phiếu bầu như nhau. Đặc biệt, từ năm 1960, với việc phi thực dân hoá, nhiều nước mới độc lập gia nhập LHQ. Vào năm đó, có 17 nước châu Phi vừa giành được độc lập đã gia nhập LHQ. Trọng tâm của LHQ giờ đã thay đổi. Kể từ đó, LHQ bao gồm đa số là các nước ngoài phương Tây, ngoài châu Âu. Giờ đây, các thành viên thường trực Hội đồng Bảo an không còn tính chất đại diện khi đa số các thành viên LHQ giờ đây là ngoài phương Tây, là các nước châu Phi, châu Á, Mỹ Latinh.” Bức tường Berlin sụp đổ : Cơ hội vàng bị bỏ lỡ Sự sụp đổ của bức tường Berlin, và sự tan rã của khối Liên Xô được nhiều người ghi nhận như một thời điểm thuận lợi cho việc LHQ trỗi dậy, để đảm đương trách nhiệm thực thi các tôn chỉ của Hiến chương LHQ, gần nửa thế kỷ trước. Nhiều điều kiện đã hội tụ, nhưng bất hạnh thay, LHQ đã không tranh thủ được cơ hội vàng này, theo nhà nghiên cứu Romuald Sciora (Iris) : “Chúng ta vào thời điểm đó đã có được một tổng thống Mỹ George Bush cha, ngược hẳn với tổng thống Bush con, là một người nhiệt thành cổ vũ cho chủ nghĩa đa phương. Không phải chủ yếu vì người khác, mà bởi ông ấy hiểu rằng nếu nước Mỹ siêu cường muốn tiếp tục đóng vai trò kiến thiết trật tự quốc tế trong những thập niên tiếp theo và trong thế kỷ 21, thì chắc chắn Mỹ phải dẫn dắt được chủ nghĩa đa phương. Tổng thống Bush cha vốn là đại sứ Mỹ tại LHQ. Vào thời điểm đó, chúng ta đã có một tổng thư ký mới Boutros-Ghali (1992-1996), mà theo tôi là một người thực sự có tầm nhìn xa trông rộng nhất trong số các tổng thư ký LHQ, cùng với tổng thư ký thứ hai Dag Hammarskjold. Ông đã có nhiều kế hoạch hành động vì hoà bình, an ninh và dân chủ, phát triển… Và chúng ta đã có một Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đầu tiên ở cấp nguyên thủ quốc gia. Hiện tại có thể điều này được cho là bình thường, nhưng vào thời điểm đó, một tổng thống Mỹ ngồi chung một bàn bên lãnh đạo Nga thì thực sự là điều mới. Tóm lại, rất nhiều yếu tố thuận lợi đã có mặt vào thời điểm đó. Tuy nhiên, bất hạnh thay với LHQ, và có một chút mỉa mai ở đây, là tổng thống đảng Dân Chủ đắc cử, ông Bill Clinton, là người không hề có viễn kiến này, không hề ủng hộ chủ nghĩa đa phương chút nào. Chính quyền Clinton hoàn toàn ngoảnh mặt với các vấn đề quốc tế, mặt khác tổng thư ký Boutros-Ghali cũng không được ngoại giao lắm với tổng thống Mỹ. Rút cuộc một xung đột khiến ông Boutros-Ghali phải ra đi vào năm 1996. Vào thời điểm đó, lẽ ra LHQ phải có được một ảnh hưởng chính trị, nhưng rốt cuộc ảnh hưởng chính trị của LHQ lại suy yếu.” Thế giới “Đơn cực” chuyển sang “Hậu đơn cực”, nguy cơ cáo chung của LHQ Ba thập niên sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, “Trật tự thế giới mới”, với nước Mỹ là siêu cường duy nhất (tức Thế giới đơn cực), mà nhiều người tin tưởng là sẽ được khẳng định vĩnh viễn, với sự toàn thắng của nền dân chủ tự do phương Tây, được coi là mẫu mực đối với toàn nhân loại, giờ đây đang đứng trên bờ vực tan vỡ. Cựu thủ tướng Anh Gordon Brown (2007 – 2010), cũng như không ít người khác, nói thẳng là “trật tự thế giới mới” của 35 năm vừa qua “đang sụp đổ trước mắt chúng ta”. Brian Brivati, giáo sư thỉnh giảng về lịch sử đương đại và nhân quyền tại Đại học Kingston, Anh, thì nói đến tình trạng “một trụ cột của trật tự hậu chiến đang tấn công một trụ cột khác”, khi “người sáng lập hàng đầu của Liên Hiệp Quốc (Mỹ) đang làm suy yếu thể chế này từ bên trong, sử dụng quyền phủ quyết của Hội đồng Bảo an để ngăn chặn hành động (phi pháp, như cuộc chiến của Israel tại Gaza, bị Toà án Hình sự quốc tế kết án, và Đại hội đồng Liên Hợp Quốc lên án), trong khi đồng thời làm cạn kiệt nguồn lực của tổ chức này”. “Sự kết hợp giữa một quốc gia hùng mạnh hành động vô trách nhiệm (Israel) và một siêu cường (Mỹ) vô hiệu hóa các cơ chế giải trình đánh dấu một bước ngoặt toàn cầu… và các cường quốc toàn cầu khác, bao gồm Nga và Trung Quốc, đang tận dụng cơ hội này để vượt ra khỏi hệ thống dựa trên luật lệ của phương Tây” (Xung đột Israel-Iran ‘‘đóng chiếc đinh cuối cùng vào chiếc quan tài của Trật tự thế giới'', France 24, ngày 19/06/2025). Chuyên gia Ian Bremmer, chủ tịch công ty tư vấn về rủi ro toàn cầu Eurasia Group, trong một bài viết trên trang mạng Carnegie.org, nêu bật tình trạng thể chế chủ chốt của trật tự thế giới như Hội đồng Bảo an “không còn phản ánh được thế cân bằng cơ bản của quyền lực toàn cầu”, và chỉ ra ba nguyên nhân chính của tình trạng trật tự toàn cầu bị đe doạ tan vỡ trong thế giới “hậu đơn cực” hiện nay : “Vấn đề cốt lõi mà trật tự toàn cầu phải đối mặt là các thể chế quốc tế chủ chốt của trật tự này — Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, v.v. — không còn phản ánh được sự cân bằng cơ bản của quyền lực toàn cầu. Đây là một cuộc suy thoái về địa chính trị, một ‘‘chu kỳ suy thoái'' trong quan hệ quốc tế có thể bắt nguồn từ ba nguyên nhân cơ bản sau đây, theo thứ tự tăng dần về tầm quan trọng. Nguyên nhân đầu tiên là phương Tây đã không thể đưa Nga vào trật tự toàn cầu do Mỹ lãnh đạo sau khi Liên Xô sụp đổ, gây ra sự phẫn nộ và thù địch sâu sắc. Chúng ta có thể tranh luận về việc ai đáng bị chê trách, nhưng hậu quả là không thể phủ nhận: Giờ đây, một cường quốc trước đây đang suy yếu nghiêm trọng là Nga đã chuyển từ một đối tác tiềm năng thành một quốc gia côn đồ nguy hiểm nhất thế giới, quyết làm mất ổn định trật tự do Mỹ lãnh đạo và xây dựng quan hệ đối tác chiến lược quân sự với các tác nhân gây hỗn loạn khác như Bắc Triều Tiên và Iran. Thứ hai là Trung Quốc từng được hội nhập vào trật tự quốc tế — quan trọng là với tư cách là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới — với giả định rằng hội nhập kinh tế toàn cầu sẽ khuyến khích các lãnh đạo của nước này tự do hóa hệ thống chính trị và trở thành các đối tác toàn cầu có trách nhiệm theo định nghĩa của phương Tây. Thay vào đó, Trung Quốc trở nên hùng mạnh hơn nhiều, nhưng không dân chủ hơn hoặc không ủng hộ nhà nước pháp quyền hơn. Căng thẳng gia tăng, thậm chí là đối đầu, giữa Trung Quốc và phương Tây chính là hậu quả của điều đó. Thứ ba, và có lẽ là hậu quả nghiêm trọng nhất, đó là hàng chục triệu công dân ở chính các nền dân chủ tiên tiến đã kết luận rằng các giá trị toàn cầu mà các nhà lãnh đạo và giới tinh hoa của họ thúc đẩy không còn có lợi cho họ nữa. Bất bình đẳng gia tăng, những thay đổi về nhân khẩu học và sự phát triển đột phá của các công nghệ đã làm xói mòn niềm tin vào các thể chế dân chủ và làm giảm năng lực lãnh đạo toàn cầu của chính các quốc gia này. Không nơi nào điều này có hậu quả nghiêm trọng hơn ở quốc gia vẫn không thể thiếu này, đó là Mỹ, nơi tổng thống Donald Trump vừa nuôi dưỡng vừa lợi dụng làn sóng phản toàn cầu hóa, phản thiết chế này.” “Chủ nghĩa đa phương”, cội nguồn sức mạnh của Liên Hiệp Quốc Trả lời phỏng vấn chương trình “Decryptage” của RFI (bài Chủ nghĩa đa phương khủng hoảng : Tương lai bất định của LHQ), Guillaume Devin, giáo sư danh dự Trường Sciences Po Paris, chuyên về LHQ và chủ nghĩa đa phương, nhấn mạnh đến tính chất không thể thay thế của LHQ trong việc giải quyết xung đột trên thế giới, đặc biệt nhờ “chủ nghĩa đa phương” và các hoạt động đa dạng và quy mô rộng lớn do LHQ tổ chức hoặc tạo điều kiện, nhằm giải quyết các cội rễ sâu xa của các xung đột : “Một trong các lợi thế của chủ nghĩa đa phương là mang lại các diễn đàn, mà ở đó mọi thứ đều có thể. Ở đó có các cuộc thảo luận chính thức, nhưng cũng có các cuộc trò chuyện hành lang, có các cuộc họp đa phương, nhưng cũng có các cuộc tiếp xúc song phương. Các diễn đàn này là không thể thay thế. Nếu chúng biến mất vào ngày mai, tôi nghĩ chúng ta sẽ ngay lập tức buộc phải tái tạo chúng. LHQ cung cấp các không gian cực kỳ quan trọng, các câu lạc bộ tương đối mở, khác hẳn so với các nhóm G7, G20, BRICS, v.v., vốn là những câu lạc bộ rất hạn chế thành phần tham gia… Và tiếp theo đó, Liên Hiệp Quốc không chỉ là những dàn xếp giữa các nước. Quý vị biết, chúng ta thường nói về ba Liên Hiệp Quốc. Đầu tiên là cuộc họp lớn của các quốc gia và các hoạt động liên quốc gia. Thứ hai là tất cả các cơ quan, chương trình và tổ chức chuyên môn của Liên Hiệp Quốc cực kỳ quan trọng, quản lý môi trường, y tế và hành động nhân đạo trên toàn thế giới... Và những điều này liên quan đến giải quyết xung đột. Như phát biểu của tổng thống Brazil, Lula, đòi hỏi phải giảm bất bình đẳng, đòi hỏi phải quản trị tốt hơn, và các cơ quan của Liên Hiệp Quốc đóng góp vào điều đó. Và cuối cùng, Liên Hiệp Quốc thứ ba là Liên Hiệp Quốc của ‘‘các tác nhân phi nhà nước''. Liên Hiệp Quốc là một nam châm thu hút đáng kể, làm tăng trưởng các tác nhân phi nhà nước, giống như Hội Quốc Liên, với tinh thần Geneva sau Thế chiến thứ nhất, từng huy động các hội cứu trợ và những gì mà vào thời điểm đó không được gọi là các tổ chức phi chính phủ, mà là các hiệp hội quốc tế đầu tiên.” Tuy nhiên, chủ nghĩa đa phương, vốn làm nên sức mạnh và sự hữu ích của LHQ, cũng là cơ chế đang đứng trước đe dọa bị hủy diệt trong bối cảnh thế giới hậu đơn cực hiện nay. Cứu vãn chủ nghĩa đa phương là một trong các mục tiêu hàng đầu của Thoả ước vì Tương lai, được các thành viên LHQ thông qua hồi cuối năm ngoái. Một nội dung chính của Thỏa ước này là hướng đến cải tổ triệt để Hội đồng Bảo an. Nghệ thuật kiến tạo hoà bình có thể thay thế cho “nền hoà bình bằng sức mạnh” ? Thế giới “hậu đơn cực” đang bước vào giai đoạn đầy bất định. “Nền hoà bình bằng sức mạnh” đi kèm với chạy đua vũ trang là đang trở thành xu thế từ nhiều năm nay, điều mà nhiều người coi là tất yếu. Trong xu thế này, chủ nghĩa dân tộc, với quan điểm “lợi ích dân tộc” là “trên hết”, là “vĩnh viễn”, đang được thổi bùng lên tại nhiều nơi, tại các nước phát triển cũng như các quốc gia đang trỗi dậy, như giải pháp vạn năng để hoá giải các thách thức. Nỗ lực vì các giá trị chung đang ngày càng bị coi nhẹ, thậm chí bị khinh rẻ, đả kích. Nhưng giá trị không mâu thuẫn với lợi ích. Trở lại với cội nguồn của Liên Hiệp Quốc, định chế quốc tế ra đời ngay trong Thế chiến II, có thể rút ra nhiều bài học thành công và thất bại, về các giá trị nhân bản, chủ nghĩa đa phương trong truyền thống phương Tây đã giúp thúc đẩy sự ra đời của một định chế quốc tế toàn cầu chưa từng có, có sứ mạng bảo vệ hoà bình thế giới như thế nào. Nhiều người đặt hy vọng vào một “chủ nghĩa đa phương mới” (new multilateralism). Nhà chính trị học Pháp Bertrand Badie vừa cho ra mắt cuốn sách mới “Art de la paix” (tạm dịch là ''Nghệ thuật kiến tạo hoà bình”). Trả lời RFI nhân dịp sách ra mắt, Bertrand Badie nhắc lại câu nói của nhà thần học Bắc Phi Thánh Augustino, “hoà bình trước hết đến từ việc thỏa mãn những nhu cầu căn bản của con người, ăn và có nước sạch”. Môi trường, khí hậu là tài sản chung. Khi môi trường, khí hậu bị xâm hại vì các lợi ích cục bộ và ích kỷ, khó có thể nói đến một nền hoà bình bền vững. Bertrand Badie khuyến cáo việc hướng đến xây dựng “những mẫu số chung” của nhân loại, một trật tự toàn cầu mới, nơi tất cả được tôn trọng. Liên Hiệp Quốc có còn hữu ích cho nhân loại hay không trong mục tiêu bảo vệ hoà bình phụ thuộc vào việc nhân loại góp sức ra sao cho nghệ thuật kiến tạo hoà bình, cho chủ nghĩa đa phương, mà Liên Hiệp Quốc đã và đang cung cấp một sân chơi chưa từng có trong lịch sử.
VOV1 - Hôm nay (9/5), Lễ duyệt binh kỷ niệm 80 năm Ngày Chiến thắng phát xit diễn ra trên Quảng trường Đỏ ở thủ đô Matxcơva và nhiều thành phố trên toàn nước Nga.
VOV1 - Tại Matxcơva, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại LB Nga Đặng Minh Khôi và đoàn đại biểu ĐSQVN tại Nga đến thăm hỏi và động viên các cán bộ, chiến sĩ Đoàn QĐND Việt Nam sẽ tham dự Lễ duyệt binh trên Quảng trường Đỏ, kỷ niệm 80 năm Ngày Chiến thắng Vệ quốc vĩ đại (9/5).
Ngày 28/02/2025 được ghi dấu trong lịch sử thế giới: Trước truyền thông thế giới, tổng thống và phó tổng thống Mỹ “đả kích” trực tiếp nguyên thủ quốc gia của Ukraina, đất nước bị Nga xâm chiếm từ hơn ba năm qua. Để sớm hoàn thành lời hứa “nhanh chóng chấm dứt chiến tranh”, tổng thống Donald Trump đã bỏ mặc quan ngại, lợi ích của Ukraina, cũng như của các đồng minh châu Âu để đàm phán trực tiếp với đồng nhiệm Nga, đổ cho tổng thống Zelensky không muốn “hòa bình”. Cách hành xử của chính quyền Mỹ hiện tại, cũng như chính sách “Nước Mỹ trên hết” khiến các đồng minh, đối tác không khỏi lo sợ. Liệu Mỹ có “rũ áo” với Việt Nam, cũng như với các nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông và biển Hoa Đông, như đã làm với Ukraina ?Để hiểu thêm tình hình và so sánh hai bối cảnh, RFI Tiếng Việt phỏng vấn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon (École normale supérieure de Lyon), Pháp.RFI : Chính quyền tổng thống Trump đàm phán với Nga về số phận của Ukraina mà không có Kiev tham gia. Thái độ có thể thay đổi 180° như vậy của Mỹ có khiến Việt Nam quan ngại trong tình hình địa-chính trị trong khu vực ?Laurent Gédéon : Chúng ta có thể suy ngẫm về tương lai và thắc mắc về hậu quả cho Việt Nam nếu Mỹ và Trung Quốc có thể có một thỏa thuận riêng rẽ. Nếu nhìn vào kịch bản này, rõ ràng khu vực liên quan sẽ là Biển Đông và giả sử trong trường hợp Washington và Bắc Kinh dàn xếp với nhau. Hiện giờ, giả thuyết như vậy có vẻ không xảy ra, nhưng vẫn có ý nghĩa về mặt địa-chính trị và đáng được phát triển thêm.Cuộc xung đột ở Ukraina đã làm nổi bật mối lo ngại lớn của Matxcơva về an ninh, đặc biệt là việc thiết lập một tuyến phòng thủ ở biên giới phía tây của Nga. Nếu nhìn theo quan điểm của Nga, những chẩn đoán địa-chiến lược của các nhà lãnh đạo chính trị đã đưa họ đi đến kết luận rằng tuyến phòng thủ đó đã thay đổi đáng kể sau những diễn biến từ ba thập niên qua và giải pháp cho vấn đề này nằm ở cuộc đối đầu quân sự trực tiếp với Ukraina. Cuộc chiến bắt đầu ngày 24/02/2022 là kết quả phân tích của Matxcơva. Cuộc chiến này cho phép quân đội Nga, sau những thất bại ban đầu, giành được những thắng lợi đáng kể trên thực địa, bất chấp sự hỗ trợ cho Ukraina của nhiều nước NATO.Hiện giờ, mọi thứ đều cho thấy chính quyền Trump đã thừa nhận sự cân bằng quyền lực mới này và tương quan lực lượng xuất phát từ sự cân bằng mới đó và Washington quyết định mở các đàm phán với Nga trên cơ sở này.Đọc thêmTổng thống Trump tráo bàn cờ thế giới, lập mô hình địa-chính trị mớiRất có thể động thái của Nga đã được Bắc Kinh theo dõi chặt chẽ vì Trung Quốc cảm thấy đang ở trong hoàn cảnh địa-chiến lược tương tự. Trên thực tế, Trung Quốc cũng bận tâm như Nga về tuyến phòng thủ, chỉ khác là tuyến phòng thủ của Trung Quốc nằm ở các vùng biển bao quanh, bao gồm Biển Hoa Đông, Biển Đông cũng như Đài Loan. Theo quan điểm của Bắc Kinh, cần có tuyến phòng thủ như vậy do tính chất nhạy cảm của vùng duyên hải, nơi tập trung một phần đáng kể hoạt động kinh tế của Trung Quốc. Nhưng bờ biển này lại dễ bị tổn thương và cần được bảo vệ đặc biệt, kể cả việc kiểm soát các vùng biển xung quanh và từ đó tạo ra một tuyến bảo vệ.Trong trường hợp Trung Quốc làm theo Nga, họ có thể thử tấn công để kiểm soát hẳn toàn bộ hoặc một phần các khu vực đó và phải làm mọi cách để cán cân quyền lực sẽ chuyển sang thế có lợi cho họ. Nếu đúng như vậy, Bắc Kinh sẽ ở giống thế của Matxcơva hiện nay, tức là ở thế mạnh để đàm phán và đạt được những lợi thế chiến lược đáng kể, ví dụ, có thể là Bắc Kinh sẽ có toàn quyền chi phối ở biển Hoa Đông, Biển Đông, thậm chí là đối với Đài Loan. Ảnh hưởng đó sẽ được các cường quốc khác công nhận, trước tiên là Hoa Kỳ.Vì vậy, để trả lời câu hỏi này, một kịch bản như vậy rõ ràng sẽ là một thất bại nghiêm trọng cho Việt Nam. Giả sử có một thỏa thuận trực tiếp giữa Trung Quốc và Mỹ và được Nga chấp thuận, Hà Nội sẽ bị ép vào một khuôn khổ địa-chiến lược rất bất lợi cho lợi ích của họ trong bối cảnh Việt Nam và Trung Quốc tranh chấp chủ quyền quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.RFI : Liệu chiến lược mà chính quyền Trump đang áp dụng với cuộc chiến ở Ukraina và châu Âu có khiến Việt Nam (cũng như các quốc gia đối tác châu Á khác của Hoa Kỳ) phải suy nghĩ về mối quan hệ của họ với cường quốc hàng đầu này ? Điểm gì khiến Việt Nam lo ngại ?Laurent Gédéon : Điều mà Việt Nam có thể lo sợ là một thỏa thuận riêng rẽ giữa Trung Quốc và Mỹ, một thỏa thuận sẽ đặt Biển Đông dưới độc quyền chi phối của Bắc Kinh. Tuy nhiên, đối với tôi, điều này hiện giờ không hẳn là nguy cơ lớn, bởi vì bối cảnh không giống với những gì đang diễn ra ở Ukraina và nếu nhìn từ Washington, những thách thức địa-chính trị mà Nga và Trung Quốc đặt ra cho Hoa Kỳ cũng không giống nhau.Trên thực tế, Nga không gây ra rủi ro địa-chính trị cho Mỹ như Trung Quốc. Áp lực của Matxcơva chủ yếu tập trung vào châu Âu và nhằm mục đích ngăn chặn vùng ảnh hưởng của NATO, vì đối với Nga, đà tiến của liên minh quân sự này là một mối đe dọa. Trong khuôn khổ đó, sự can dự ngày càng tăng của Washington có lẽ sẽ giúp thúc đẩy các lợi ích của Mỹ trong khu vực, nhưng trong mọi trường hợp, Hoa Kỳ sẽ không mất đi những gì họ đã có về mặt ảnh hưởng ở châu Âu.Tình hình ở châu Á lại không như vậy, trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ-Trung. Cần phải nhớ rằng Hoa Kỳ là một cường quốc hàng hải, một đất nước mà quyền lực gắn chặt với quyền kiểm soát của họ với nhiều vùng biển trên thế giới.Đọc thêmNhiều chuyến bay giữa Úc và New Zealand phải đổi đường do Trung Quốc tập trận “bắn đạn thật”Thế nhưng Trung Quốc cũng đặt mục tiêu trở thành một cường quốc hàng hải, thậm chí là đứng đầu thế giới vào năm 2050. Khi ấn định như vậy, Bắc Kinh đã đưa ra một thách thức không thể chấp nhận được đối với Hoa Kỳ, bởi vì Mỹ sẽ phải chịu nhiều tổn thất nếu sự thống trị về hải quân của họ bị suy yếu. Thách thức này không còn giới hạn ở những vùng biển gần đất liền, chúng ta thấy Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc điều tàu chiến ngày càng đi xa hơn và tăng số lượng cơ sở hải quân trong khuôn khổ “chuỗi ngọc trai”.Ví dụ gần đây là cuộc tập trận bắn đạn thật ngày 21/02/2025 của một hạm đội nhỏ của Hải quân Trung Quốc ở biển Tasman, giữa Úc và New Zealand. Theo Bộ trưởng Quốc phòng New Zealand Judith Collins, đây là “những chiến hạm lớn nhất và tối tân nhất mà chúng tôi (New Zealand) thấy ở vùng biển xa xôi phía nam này”. Hành động này, cùng với những hoạt động khác, cho thấy tham vọng ngày càng lớn của Hải Quân Trung Quốc và các biện pháp được Bắc Kinh triển khai cũng ngày càng mạnh mẽ hơn.Với tình hình này, có vẻ ít có khả năng Mỹ lao vào cuộc đàm phán, chia sẻ ảnh hưởng với Trung Quốc và rút khỏi khu vực vì những lợi ích trực tiếp và lâu dài của Washington quá lớn, nếu không muốn nói là quá thiết yếu, và vượt qua cả khuôn khổ thay đổi về chính quyền và tổng thống Mỹ. Do đó, tôi thấy Việt Nam không nên lo ngại nhiều về việc Donald Trump lên nắm quyền.RFI : Với việc Hoa Kỳ đang rút lại cam kết với các đồng minh châu Âu, liệu Việt Nam, giống như các quốc gia khác ở Đông Nam Á, vẫn có thể tin tưởng hoặc trông cậy vào sự hỗ trợ của Mỹ để bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông trước Bắc Kinh hay không ? Liệu kịch bản như vậy có lặp lại không, nhưng lần này liên quan đến Biển Đông ?Laurent Gédéon : Với những rủi ro rất lớn như đã nói ở trên, tôi thấy khó có khả năng Hoa Kỳ sẽ từ bỏ ảnh hưởng trong khu vực nếu không bị buộc phải làm vậy, chẳng hạn như sau một cuộc đối đầu và cuộc đối đầu đó có lợi cho cho quân đội Trung Quốc.Nhưng hiện giờ có vẻ như Washington đang ở thế ngược lại. Năm 2024 chẳng hạn, Mỹ đã gia tăng nhiều thỏa thuận với các đồng minh trong khu vực. Mỹ tuyên bố tăng cường quan hệ quân sự với Nhật Bản trong chuyến thăm Tokyo của bộ trưởng Quốc Phòng Lloyd Austin và ngoại trưởng Antony Blinken ngày 28/07/2024. Tương tự, vào ngày 18/11/2024, ông Lloyd Austin đã ký tại Manila với người đồng cấp Philippines Gilberto Teodoro Thỏa thuận an ninh chung và chia sẻ thông tin tình báo quân sự nhằm mục đích chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc ở Thái Bình Dương. Ngoài ra, có thể nhắc đến Đài Loan ngày càng thắt chặt quan hệ quân sự với Mỹ từ nhiều năm qua. Ví dụ, chính quyền Biden đã cấp khoản viện trợ quân sự 567 triệu đô la cho Đài Bắc vào tháng 09/2024, sau đó là khoản viện trợ khác 571 triệu đô la vào ngày 21/12/2024.Đọc thêmMỹ khẳng định các cuộc tập trận với Philippines « hoàn toàn mang tính phòng thủ »Do đó, rất có thể chính quyền Trump sẽ tính đến bối cảnh địa chiến lược đặc biệt ở châu Á và sẽ không có những phát biểu với các đồng minh trong khu vực như đã làm với các đồng minh châu Âu. Đối với châu Âu, có vẻ như Washington đang tìm giải pháp cho cuộc khủng hoảng Ukraina và buộc các đối tác châu Âu phải chịu phần lớn gánh nặng tài chính phát sinh từ thế cân bằng mới tại châu Âu, cho dù là nguyên trạng hoặc là một giải pháp lâu dài. Điều này giải thích cho việc Mỹ gây áp lực để các thành viên NATO tăng ngân sách quân sự lên 5% GDP và chịu trách nhiệm tổ chức phòng thủ cho châu Âu do Mỹ rút dần quân.Chiến lược này nhằm cho phép Washington chuyển phần lớn nỗ lực quân sự của họ sang châu Á, không phải theo hướng rút lui mà ngược lại, theo hướng tăng cường can dự. Do đó, nỗi lo sợ về việc Mỹ giảm can dự vào châu Á là ít có khả năng xảy ra, dù là đối với các nước liên minh trực tiếp với Washington hoặc các nước ít liên kết với Mỹ hơn, chẳng hạn như Việt Nam.RFI : Theo nhiều chuyên gia và như giải thích của ông ở trên, việc Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh ở châu Âu để tập trung vào Trung Quốc. Vậy Đông Nam Á có thể sẽ trở thành điểm nóng trên thế giới ? Laurent Gédéon : Đúng, đối với tôi, đó là một giả thuyết có thể xảy ra. Tuy nhiên, tôi nghĩ có thể loại trừ ý tưởng cho rằng toàn bộ Đông Nam Á sẽ trở thành điểm nóng trên hành tinh. Trên thực tế, tất cả phụ thuộc vào cách Mỹ dồn sức vào Trung Quốc như thế nào, hoặc cách Trung Quốc dự định dồn sức vào Mỹ ra sao.Để giành được quyền tự chủ về địa chiến lược, nếu có thể, Bắc Kinh phải đẩy lùi hoàn toàn vùng ảnh hưởng của Mỹ ra khỏi khu vực được gọi là “chuỗi đảo đầu tiên”. Ngoài trường hợp Trung-Mỹ đối đầu trực tiếp, động thái này còn liên quan đến sự gia tăng ảnh hưởng của Bắc Kinh đối với các quốc gia gần Trung Quốc, trong đó có nhiều nước ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, mục tiêu này không hề dễ dàng, đặc biệt là đối với Philippines, quốc gia Đông Nam Á có mối quan hệ chặt chẽ nhất với Mỹ. Từ năm 2022 và từ khi ông Ferdinand Marcos Jr., nổi tiếng là thân cận với Washington, trở thành tổng thống, Philippines đã thắt chặt mối quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ.Tình hình ít bất lợi hơn cho Trung Quốc đối với những nước còn lại ở ASEAN. Ví dụ, nếu xét đến trường hợp của Việt Nam, nước phản đối mạnh mẽ nhất - cùng với Philippines - tham vọng bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, chúng ta thấy quan hệ đã hòa dịu hơn từ hai năm qua, được đánh dấu bằng các chuyến thăm của các nhà lãnh đạo cấp cao giữa hai nước, như chuyến thăm Việt Nam của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngày 12-13/12/2023, chuyến thăm Bắc Kinh của thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính từ ngày 24-27/06/2024 và chuyến công du của ông Tô Lâm tới Bắc Kinh vào ngày 19/08/2024, khi đó là tổng bí thư kiêm chủ tịch nước Việt Nam.Đọc thêmViệt Nam bảo vệ lợi ích trong bối cảnh xung đột nước lớn Nga - Mỹ - Trung ngày càng trầm trọngLiên quan đến Việt Nam, chúng ta thấy rằng nếu vẫn thường xuyên xảy ra các sự cố, đặc biệt là liên quan đến ngư dân Việt Nam, thì chúng ít được đưa tin rộng rãi hơn so với những sự cố giữa Trung Quốc và Philippines kéo dài trong nhiều tháng. Ngoài ra, trái với Philippines bị ràng buộc bởi một thỏa thuận quốc phòng với Hoa Kỳ, Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách “ngoại giao cây tre” và chủ trương “Bốn Không” được nêu trong Sách Trắng Quốc Phòng năm 2019 (không tham gia các liên minh quân sự, không đứng về phía nước này chống nước kia, không cho nước khác lập căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để tiến hành các hoạt động quân sự chống lại nước khác và không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Chủ trương ngoại giao này tách Hà Nội khỏi mọi cơ chế liên minh quân sự trong vùng hoặc can thiệp trực tiếp vào cuộc xung đột giữa các nước thứ ba. Bất chấp những nỗ lực trong gần hai thập niên trong bối cảnh Trung Quốc và Việt Nam tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, Washington vẫn chưa thuyết phục được Hà Nội tham gia một cơ chế đa phương nhằm kiềm chế Bắc Kinh. Nhìn chung tình hình này có lợi cho Trung Quốc.Không giống như trường hợp xung đột ở Ukraina, nơi tất cả các nước châu Âu có chung biên giới với Ukraina đều là thành viên trong cùng một liên minh quân sự NATO, điều này cho phép họ có tiếng nói tương đối thống nhất, còn ở Đông Nam Á, chỉ có ba nước có liên kết với Hoa Kỳ thông qua các thỏa thuận quân sự khác nhau: Philippines, Thái Lan và Singapore. Những nước khác trong khu vực có thái độ thận trọng và nghe ngóng.Vì vậy, để trả lời câu hỏi này, không phải toàn bộ Đông Nam Á đều bị ảnh hưởng giống nhau do căng thẳng gia tăng. Một số nước có thể trở thành bên tham gia xung đột, nhưng một số khác sẽ đứng ngoài. Những gì chúng ta thấy hiện tại là căng thẳng dường như tập trung vào Đài Loan, ở rìa Đông Nam Á và có hai kịch bản trong trường hợp tình hình xấu đi : hoặc là quân đội Trung Quốc tìm cách trực tiếp kiểm soát Đài Loan, hoặc là hải quân Trung Quốc phong tỏa để buộc Đài Bắc phải đàm phán với Bắc Kinh.RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Trường Sư phạm Lyon, Pháp.
Khi tiếp tổng thống Vladimir Putin, Hà Nội muốn "viết tiếp chương mới trong lịch sử quan hệ hữu nghị Việt Nam - Liên bang Nga" (1). Việt Nam không có lợi khi Nga suy yếu hoặc bị gạt ra ngoài lề trên trường quốc tế vì đối tác chiến lược toàn diện này giúp Hà Nội cân bằng trước những áp lực từ Trung Quốc và Mỹ (2). Việt Nam đã lường mọi phản ứng khi mời và tiếp đón tổng thống bị Tòa án Hình sự Quốc tế truy nã vì phạm "tội ác chiến tranh" ở Ukraina.Chuyến công du của ông Putin được quảng bá rầm rộ hơn hẳn những chuyến thăm cấp Nhà nước trước đó dù Hà Nội phần nào lo ngại bị phương Tây cho là "liên kết ngầm" khi ông Putin kết hợp với chuyến thăm Bình Nhưỡng (3). Hiện giờ, chỉ có Mỹ lên tiếng chỉ trích nhưng đồng thời cử ngay trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ, phụ trách Đông Á - Thái Bình Dương Daniel Kritenbrink đến Hà Nội. Đặc sứ Mỹ không bình luận về đối ngoại của Việt Nam nhưng lưu ý "chỉ có Việt Nam có thể quyết định cách tốt nhất để bảo vệ chủ quyền và thúc đẩy các lợi ích".Vậy Hà Nội tính toán gì và được lợi gì khi tiếp đón tổng thống Nga Putin ? Phản ứng của các đối tác phương Tây sẽ ra sao ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Normale Supérieure, Lyon, Pháp.RFI : Tổng thống Nga Vladimir Putin đến thăm Việt Nam cấp Nhà nước sau chuyến công du Bắc Triều Tiên trong khi ông Putin đang bị Tòa án Hình sự Quốc tế truy nã vì phạm tội ác chiến tranh ở Ukraina. Mục đích chuyến công du Việt Nam của nguyên thủ Nga là gì ? Việt Nam tính toán gì khi tiếp tổng thống Putin ? Laurent Gédéon : Đúng vậy, ông Vladimir Putin công du Việt Nam ngày 20/06 theo lời mời của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, được đưa ra khá gần đây, trong cuộc điện đàm ngày 26/03/2024 với tổng thống Nga. Cho nên chuyến công du phản ánh rõ mong muốn của cả Nga lẫn Việt Nam. Công du Việt Nam không phải là chuyện mới đối với tổng thống Nga vì ông đã tới Việt Nam 4 lần : hai chuyến thăm cấp Nhà nước năm 2001, 2013 và hai lần tham gia thượng đỉnh hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương - APEC tại Đà Nẵng năm 2006 và 2017. Chuyến thăm hôm 20/06 ở cấp Nhà nước, với nghi thức cao nhất, là lần thứ năm ông đến Việt Nam và phải nói là đáng kể, đồng thời cho thấy sự quan tâm đặc biệt của Nga dành cho Việt Nam.Đối với Hà Nội, chuyến công du của tổng thống Putin mang lại nhiều lợi ích : Tăng uy tín quốc tế của Việt Nam ; gửi thông điệp đến Trung Quốc rằng Việt Nam không đơn độc và có thể dựa vào nhiều nhân tố lớn mạnh, kể cả liên quan đến vấn đề Biển Đông ; gửi thông điệp đến Hoa Kỳ ; tăng cường mối quan hệ với Nga. Nghi lễ đón tiếp trang trọng, nồng nhiệt, nhất là việc chính phủ Việt Nam nhấn mạnh đến tính chất đặc biệt của mối quan hệ với Nga cho thấy rằng đối với Hà Nội, cuộc gặp này là cơ hội để nâng cao mối quan hệ với một đất nước mà họ coi là "một trong những đối tác chính trong chính sách đối ngoại của Việt Nam", theo phát biểu của chủ tịch nước Tô Lâm. Về mặt ý nghĩa biểu tượng, các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng muốn cho thấy rằng sự ủng hộ của Liên Xô trong chiến tranh Đông Dương và Cam Bốt vẫn chưa bị lãng quên. Đọc thêm : Tổng thống Vladimir Putin chờ đợi gì ở Việt Nam ?Dĩ nhiên, phía Nga cũng được lợi vì chuyến công du giúp Matxcơva khẳng định rằng họ không bị cô lập, họ có bạn ở khắp nơi trên thế giới, giúp tăng cường tính chính đáng ngoại giao của Nga, giữ cân bằng với Trung Quốc, đồng thời gửi thông điệp đến Hoa Kỳ rằng nỗ lực của phương Tây nhằm cô lập tổng thống Nga đã thất bại. Do đó, có thể thấy sự hội tụ lợi ích giữa Việt Nam và Nga trong khuôn khổ chuyến công du này.Bối cảnh của chuyến công du cũng rất đặc biệt vì có rất nhiều hoạt động ngoại giao. Trước tiên là kỷ niệm 30 năm Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị, được Việt Nam và Nga ký ngày 16/06/1994. Tiếp theo là sắp kỷ niệm 75 năm thiết lập quan hệ ngoại giao song phương (tháng 01/1950). Ngoài ra, Việt Nam nằm trong số 12 nước được mời tham dự đối thoại BRICS với các nước đang phát triển, được tổ chức tại Matxcơva ngày 11/06. Cuối cùng, vào đầu tháng 03, Việt Nam và Nga đã tổ chức đối thoại chiến lược lần thứ 13 về ngoại giao, an ninh-quốc phòng.Về mặt địa chiến lược, cần lưu ý là chuyến công du diễn ra trong bối cảnh căng thẳng gia tăng giữa Philippines và Trung Quốc, đặc biệt là vụ va chạm ngày 17/06 giữa thủy thủ hai nước khi tàu của Philippines tiếp viện cho lực lượng đồn trú trên con tàu bị mắc kẹt ở Bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal).RFI : Chuyến thăm của tổng thống Nga Vladimir Putin có những tác động như thế nào đối với Việt Nam ?Laurent Gédéon : Chuyến công du này cho thấy rõ mong muốn hợp tác chính thức với những mục tiêu được thể hiện chi tiết rõ ràng. Hai nước tăng cường mối quan hệ hợp tác trong các lĩnh vực thương mại, kinh tế, công nghệ, nhân đạo, khoa học, năng lượng, giáo dục, du lịch và văn hóa. Chúng ta cũng thấy tổng thống Putin đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề điện hạt nhân dân sự và khả năng các công ty Nga tham gia vào lĩnh vực này ở Việt Nam.Ngoài ra, vấn đề tăng cường đối tác chiến lược giữa hai nước cũng được đặt ra. Thứ nhất về lĩnh vực vũ khí, theo như tôi biết là không được nêu đích danh, nhưng phải nhắc lại rằng Nga là nhà cung cấp vũ khí lớn nhất cho Việt Nam. 90% vũ khí được Hà Nội nhập khẩu từ 1995 đến 2015 là của Nga. Cuộc chiến ở Ukraina giúp Nga quảng cáo một số loại vũ khí với các đối tác, trong đó có Việt Nam. Đọc thêm : Nga nướng vũ khí ở Ukraina, Việt Nam lo nguồn cung thiếu hụtTuy nhiên, ở đây chúng ta có thể đặt ra câu hỏi về sự phụ thuộc của Việt Nam, khá là đáng báo động, vào vũ khí Nga nếu nhìn vào bối cảnh tế nhị của cuộc chiến ở Ukraina và sự điều chỉnh thế cân bằng ở Á-Âu, nơi Trung Quốc ngày càng có ảnh hưởng đáng kể. Nga không có hiệp ước phòng thủ chung với Việt Nam, không giống như hiệp ước mà tổng thống Putin vừa tái kích hoạt với Bắc Triều Tiên. Do đó, có thể hỏi liệu Matxcơva có sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam bảo vệ lãnh thổ hay không trong khi Nga cũng phụ thuộc về ngoại giao và công nghệ vào Trung Quốc ? Đây là một câu hỏi rất quan trọng trong bối vũ khí Nga chiếm gần như toàn bộ trong quân đội Việt Nam.Tiếp theo là tác động trong lĩnh vực dầu khí khi biết rằng Matxcơva là đối tác ngày càng quan trọng của Việt Nam trong lĩnh vực này. Rất nhiều tập đoàn lớn của Nga như Gazprom chiếm phần lớn hoạt động trong lĩnh vực dầu khí ở Việt Nam. Về mặt kinh tế nói chung, theo số liệu, hợp tác Nga-Việt gia tăng đáng kể, cụ thể trao đổi thương mại song phương đạt 3,63 tỷ đô la năm 2023, tăng 2,3% so với năm trước. Chỉ riêng 5 tháng đầu năm 2024, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Nga đạt 1,96 tỷ đô la, tăng 51,4% trên một năm. Có rất nhiều nhà đầu tư Nga ở Việt Nam, tham gia vào 186 dự án với tổng số vốn là 984,98 triệu đô la, giúp Nga đứng hàng thứ 28 trong số 145 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Phía Việt Nam đã đầu tư vào 18 dự án ở Nga, với tổng trị giá khoảng 1,63 triệu đô la.Cuối cùng về hệ quả chính trị hay ngoại giao, có thể chuyến công du của tổng thống Putin không gây tác động quá lớn về mặt ngoại giao cho Việt Nam.RFI : Vậy hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế sẽ bị ảnh hưởng như thế nào khi Hà Nội tiếp một tổng thống gây chiến ở Ukraina từ ba năm nay ? Laurent Gédéon : Tôi nghĩ rằng hình ảnh của Việt Nam sẽ ít bị tác động bởi vì Hà Nội khá là kín tiếng về chủ đề Ukraina. Việt Nam vắng mặt trong cuộc bỏ phiếu ngày 02/03/2022 về nghị quyết của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc lên án cuộc xâm lược của Nga ở Ukraina. Sau đó, Việt Nam đã bỏ phiếu chống việc loại Nga khỏi Hội Đồng Nhân Quyền tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ngày 07/04/2022. Gần đây Việt Nam cũng không tham dự hội nghị về hòa bình cho Ukraina, diễn ra ở Thụy Sĩ ngày 15-16/06.Tại Hà Nội, tổng thống Putin nhấn mạnh đến việc Nga và Việt Nam có cách nhìn "tương đồng" về tình hình châu Á-Thái Bình Dương. Ông cũng nhấn mạnh đến những nỗ lực của Hà Nội "để bảo vệ một trật tự thế giới cân bằng, dựa trên những nguyên tắc bình đẳng của tất cả các nước và không can thiệp vào chuyện nội bộ của nhau". Đọc thêm : Lời mời tổng thống Nga Putin thăm Việt Nam và thế cân bằng khó khăn của Hà NộiDù trong bối cảnh tế nhị như vậy, việc tái khẳng định mối quan hệ Việt-Nga có lẽ không tác động đến hình ảnh của Hà Nội chừng nào nền "ngoại giao cây tre" - đa phương, linh hoạt và thận trọng - vẫn vận hành. Đây là chiến lược tập trung phát triển quan hệ đối tác với nhiều nước, đôi khi thuộc các khối đối lập, mà vẫn giữ được độc lập và lợi ích quốc gia. Chính điều này giúp Việt Nam duy trì thế cân bằng giữa các siêu cường đối thủ : Trung Quốc, Nga và Mỹ. Do đó, Nga là một đối trọng hữu ích để Việt Nam đối phó với Trung Quốc và Hoa Kỳ. Về mặt truyền thông ngoại giao, chuyến thăm của Putin là cơ hội để Hà Nội chứng tỏ rằng chính sách đối ngoại của họ là cân bằng, không thiên vị bất kỳ cường quốc nào.Vì vậy tôi cho rằng Việt Nam sẽ chỉ bị ít hệ quả tiêu cực nhưng thu được lợi ích về kinh tế và ngoại giao nhiều hơn.RFI : Ngay sau khi ông Putin rời Hà Nội, ông Daniel Kritenbrink, trợ lý ngoại Mỹ phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương đã đến Việt Nam ngày 21/06. Hoa Kỳ và các nước phương Tây sẽ phản ứng ra như thế nào đối với Việt Nam ? Liệu sẽ có hình thức trừng phạt nào đó hay chỉ là những lời chỉ trích ? Laurent Gédéon : Việt Nam, giống như Nga, Trung Quốc hoặc Hoa Kỳ, không tham gia Tòa Án Hình Sự Quốc Tế nên không bận tâm đến lệnh bắt của Tòa nhắm vào tổng thống Nga vì bị cáo buộc gây tội ác chiến tranh ở Ukraina. Cần lưu ý là trước chuyến công du Việt Nam, tổng thống Nga đã đến Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất ngày 06/12/2023 và các nước phương Tây chỉ đưa ra những phát biểu phản đối. Đọc thêm : Nga xâm lược Ukraina và “Ngoại giao cây tre” của Việt NamHoa Kỳ đã phản ứng, chủ yếu thông qua phát biểu của người phát ngôn Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội. Ông tuyên bố : "Không một nước nào nên trao cho ông Putin một diễn đàn để cổ vũ cuộc chiến xâm lược của ông ta và cho phép ông tác bình thường hóa những tội ác". Ông cũng nói thêm rằng "nếu ông Putin có thể tự do đi lại, điều đó có thể sẽ khiến những vụ vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế của Nga trở thành chuyện bình thường". Cho nên Mỹ rất chú ý đến những gì đang diễn ra ở Việt Nam.Tổng thống Mỹ Joe Biden công du Việt Nam ngày 10-11/09/2023 và hai bên đã ký thỏa thuận "Đối tác chiến lược toàn diện", mức cao nhất của Hà Nội. Sau đó, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng đến thăm Việt Nam ngày 12-13/12/2023. Có thể thấy Việt Nam rất được "chú ý" vì có tầm quan trọng địa-chính trị ở trong vùng. Trong bối cảnh đó, ít có khả năng Hoa Kỳ, cũng như Liên Hiệp Châu Âu hay những nước phương Tây khác, vượt qua ngưỡng phát biểu bày tỏ bất bình đối với Hà Nội sau chuyến công du của nguyên thủ Nga.RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Normale Supérieure, Lyon.(1) "Viết tiếp chương mới trong lịch sử quan hệ hữu nghị Việt Nam-Liên bang Nga", Nhân Dân, 06/2024.(2) (3) Thayer Consultancy, Background Brief : Russia's Putin to Visit Vietnam: Scene Setter – 4, June 17, 2024.
Mối quan hệ giữa Việt Nam và Bắc Triều Tiên được thúc đẩy mạnh mẽ trong giai đoạn cuối năm 2018 đến đầu 2019 với đỉnh điểm là chuyến công du Hà Nội của lãnh đạo Kim Jong Un và họp thượng đỉnh với tổng thống Mỹ Donald Trump. Việt Nam thường xuyên được nhắc đến như một điển mẫu về mở cửa để Bình Nhưỡng có thể hướng theo. Tuy nhiên, trên phương diện quân sự và công nghiệp quốc phòng, Bắc Triều Tiên bỏ xa Việt Nam. Năm 2023, Hà Nội không nhập khẩu vũ khí dù có ngân sách mua sắm hàng năm khoảng 1 tỉ đô la. Nga, nguồn cung lớn nhất của Việt Nam, đang vướng vào chiến tranh Ukraina và bị cấm vận. Israel, một nhà cung cấp khác, dù không bán thiết bị quân sự cho Việt Nam trong những năm gần đây, cũng đang phải tập trung khí tài đối phó với lực lượng Hamas ở dải Gaza. Dù thực hiện chính sách đa dạng hóa nguồn cung vũ khí nhưng dường như Việt Nam gặp trở ngại trong đàm phán với các đối tác mới. Trong khi đó, ngành công nghiệp quốc phòng nội địa mới chỉ sản xuất được những loại vũ khí cơ bản, chưa đủ trình độ để sản xuất các loại khí tài cần công nghệ lõi.Những thành tựu vượt bậc về quân sự và công nghiệp quốc phòng của Bắc Triều Tiên liệu có phải là một mô hình để Việt Nam theo đuổi ? Bình Nhưỡng sẵn sàng hy sinh kinh tế để củng cố quốc phòng. Trong khi Việt Nam không có chủ trương như vậy. Trên đây là một trong số những nhận định của nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải, Đại Học New South Wales, Úc, khi trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt.RFI : Việt Nam từ lâu được đề cập là nước hỗ trợ lương thực cho Bắc Triều Tiên, nhưng về mặt quốc phòng và công nghiệp quân sự, Bắc Triều Tiên dường như là mô hình để Việt Nam học hỏi ?Nguyễn Thế Phương : Nhận định này có mặt đúng nhưng có mặt không đúng lắm, theo quan điểm cá nhân của tôi. Quan hệ Việt Nam - Bắc Triều Tiên sẽ phải xuất phát từ nhu cầu của cả hai bên : Việt Nam cần gì ? Và Bắc Triều Tiên cần gì ? Thực tế mà nói, mối quan hệ Việt Nam - Bắc Triều Tiên không thực sự suôn sẻ như những gì báo chí đưa ra, từ lịch sử cho tới nay, có nhiều khúc mắc và khúc khuỷu lắm. Đặc biệt khi mà Bắc Triều Tiên có một thể chế tương đối là toàn trị hơn Việt Nam.Điểm thứ hai, mô hình công nghiệp quốc phòng của Bắc Triều Tiên đáng học hỏi nhưng phải xem là cái mô hình đó được xây dựng dựa trên sự đánh đổi nào. Ở đây, Bắc Triều Tiên đánh đổi kinh tế với quốc phòng, hy sinh toàn bộ thiết chế chính trị của họ và tập trung mọi nguồn lực vào quốc phòng. Và rõ ràng sự đánh đổi ở đây, mọi người đều biết là thực trạng kinh tế Bắc Triều Tiên như thế nào. Và Việt Nam rõ ràng không thể áp dụng một cách máy móc tư duy dồn toàn bộ nguồn lực quốc gia vào quốc phòng được. Rõ ràng là khi dồn toàn bộ tiền cho quốc phòng thì chắc chắn sẽ phải đạt được một cái thành tựu nào đó, không đạt được thành tựu thì mới là có vấn đề.Nhưng mô hình Việt Nam không phải như vậy. Việt Nam không phải là một mô hình toàn trị và coi quốc phòng như là một nền tảng để quản lý quốc gia. Còn Bắc Triều Tiên, vì lịch sử, vì vấn đề địa lý, tư duy, chính trị quốc tế nên họ đã lựa chọn đặt quân đội trên hết. Và chính sách « tiên quân » có từ thời Kim Chính Nhật (Kim Jong Il) cho tới bây giờ là « song tiến » của Kim Jong Un, tức là vừa kinh tế vừa quốc phòng nhưng thực ra quốc phòng vẫn nổi trội hơn.Mỗi một mô hình có điểm mạnh và điểm yếu và có vấn đề là họ hy sinh cái gì để họ đạt được mục đích. Việt Nam hiện nay không thể đi theo mô hình như vậy được, mà mô hình của Việt Nam là độc nhất, chỉ phù hợp với đặc trưng kinh tế, xã hội chính trị và quan hệ quốc tế của Việt Nam ở thời điểm hiện tại khi mà nguồn lực của Việt Nam phải được dành cho phát triển kinh tế và phát triển xã hội chứ không chỉ dành hoàn toàn cho cái gọi là « phát triển quốc phòng » được.Nhưng nói như thế không phải là Việt Nam không có những học hỏi nhất định. Việt Nam vẫn sẽ có một số học hỏi nhất định về trao đổi đoàn, về mô hình công nghiệp quốc phòng của Bắc Triều Tiên. Nhưng thực tế mà nói, bởi vì mô hình khác nhau, ưu tiên khác nhau, nên theo cá nhân tôi, thì sự học hỏi đó không cao. Bởi mô hình của Việt Nam hiện tại, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, Việt Nam học hỏi từ hai nước là chủ yếu : Trung Quốc và Nga. Đó là các mô hình lưỡng dụng, theo kiểu tư nhân tham gia vô mô hình đó và toàn bộ « tổ hợp công nghiệp quốc phòng » được đặt trong một mô hình kinh tế thị trường. Bắc Triều Tiên không có nền kinh tế thị trường đó.Cho nên từ Bắc Triều Tiên có thể học hỏi việc họ phát triển cụ thể ở một số loại vũ khí, khí tài, ví dụ như là quá trình họ phát triển tàu ngầm. Việt Nam hiện nay đang cố gắng xây dựng một hạm đội tàu ngầm từ lớn tới nhỏ, trong đó mô hình xây dựng tàu ngầm mini là mô hình của Bắc Triều Tiên hoặc là một số kỹ thuật hoặc là một số loại vũ khí, ví dụ các loại tên lửa mang tính chiến lược thì Việt Nam cũng kế thừa được kinh nghiệm phát triển tên lửa của Bắc Triều Tiên, tất nhiên là từ rất lâu rồi, bây giờ thì không có chuyện đó bởi vì có liên quan đến cấm vận. Nhưng rõ ràng là sẽ có thể học hỏi, nhưng cái sự học hỏi đó nói chỉ mang tính cục bộ và hạn chế rất nhiều bởi vì về mặt thiết kế mô hình kinh tế chính trị, mô hình quản trị quốc gia thì Việt Nam và Bắc Triều Tiên hoàn toàn khác nhau.RFI : Vũ khí hệ Nga chiếm khoảng 80% trong kho vũ khí Việt Nam. Năm 2023, Việt Nam không mua được linh kiện hoặc vũ khí từ Nga do Matxcơva bị cấm vận. Từ cuối năm ngoái, Bình Nhưỡng và Nga thắt chặt quan hệ, đặc biệt trong lĩnh vực quốc phòng. Bắc Triều Tiên được cho là sản xuất vũ khí cho Nga và dường như được Nga chuyển giao công nghệ. Liệu Bắc Triều Tiên, dù vẫn bị cấm vận, có trở thành một kênh trung gian cho Việt Nam tiếp cận công nghệ vũ khí của Nga ?Nguyễn Thế Phương : Điều này ở thời điểm hiện tại là khó có khả năng xảy ra bởi vì liên quan rất nhiều đến việc cả Nga và Bắc Triều Tiên bị cấm vận. Do đó việc Việt Nam có một mối quan hệ nào đó với Bắc Triều Tiên và với Nga có liên quan đến vũ khí là vấn đề hết sức nhạy cảm và sẽ tác động đến uy tín quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là ở Liên Hiệp Quốc. Cho nên khả năng Việt Nam tiếp cận vũ khí hay linh kiện vũ khí của Nga thông qua Bắc Triều Tiên là khá thấp. Đó là lý do thứ nhất, liên quan đến uy tín quốc tế, tới cấm vận.Lý do thứ hai là không nhất thiết phải thông qua Nga mới có các linh kiện của Nga. Bởi vì hiện nay, Việt Nam có mối quan hệ an ninh quốc phòng khá tốt đẹp với những quốc gia cũng sử dụng linh kiện của Nga và Việt Nam hoàn toàn có thể mua lại những linh kiện thông qua các quốc gia đó. Ví dụ Ấn Độ là một trong những quốc gia có ngành công nghiệp quốc phòng cũng như quân đội sử dụng vũ khí của cả hai hệ : Nga và Liên Xô trước đây và của cả phương Tây và Mỹ. Do đó, với quy mô quân đội hơn 1 triệu người thì vũ khí cũng như phụ tùng linh kiện vũ khí của Nga trong kho của quân đội Ấn Độ không phải là thiếu. Và ngoài Ấn Độ còn có các quốc gia Đông Âu.Tiếp theo, Nga cũng đã chuyển giao giấy phép một số loại kinh kiện phụ tùng cho Ấn Độ, có nghĩa là cùng một loại linh kiện phụ tùng đó, thay vì Nga sản xuất thì Ấn Độ sản xuất. Việt Nam hoàn toàn có thể mua trực tiếp từ Ấn Độ, chuyển giao giấy phép sản xuất vũ khí hoặc phụ tùng cho các nước khác. Không chỉ có Ấn Độ mà còn có Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ và một số nước mà nền công nghiệp quốc phòng phụ thuộc rất lớn vào năng lực quốc phòng của Nga.Cho nên, xét tới những khả năng như vậy, có thể thấy việc Việt Nam thông qua Bắc Triều Tiên để tiếp cận vũ khí hoặc linh kiện sản xuất từ Nga tạo ra rủi ro nhiều hơn lợi ích. Rủi ro lớn nhất vẫn là rủi ro bị ảnh hưởng bởi cấm vận, bị ảnh hưởng về việc uy tín quốc tế của Việt Nam bị giảm sút. Nhưng quan trọng hơn nữa là cấm vận. Vì rủi ro khá là cao nên khả năng đó khá là thấp. Mặc dù đã có thảo luận nội bộ về vấn đề này nhưng khả năng đó khó xảy ra và hầu như không xảy ra ở thời điểm hiện tại. Và khả năng làm việc trực tiếp với Nga đã nổi lên từ cuối năm ngoái (2023). Việt Nam không cần thông qua Bắc Triều Tiên để là việc với Nga mà Việt Nam sẽ làm việc trực tiếp với Nga.RFI : Trong thời gian gần đây, Bình Nhưỡng đạt nhiều tiến bộ hơn về công nghệ tên lửa đạn đạo, như chúng ta thấy qua những vụ thử gần đây và được cho là nhờ Nga giúp đỡ. Liệu thông qua Bắc Triều Tiên, Việt Nam có thể tiếp cận được những công nghệ tiên tiến đó không, theo mô hình trao đổi hợp tác đôi bên cùng có lợi ? Nguyễn Thế Phương : Về mặt lý thuyết, đi đường vòng như vậy là có thể nhưng về mặt thực tế thì tốn cả thời gian, công sức và tiền bạc. Nhanh nhất, hiệu quả nhất, đỡ tốn thời gian nhất vẫn là Việt Nam làm việc trực tiếp với Nga bởi vì hai nước là đối tác chiến lược toàn diện, có mối quan hệ an ninh quốc phòng mật thiết và truyền thống. Hiện nay công nghệ mà Việt Nam quan tâm nhất của Nga là công nghệ hạt nhân, thì Việt Nam làm việc trực tiếp với Nga, không cần thông qua ai. Nên xét về lợi ích giá trị mang lại và mất đi, quan điểm riêng của tôi vẫn là làm trực tiếp với Nga sẽ nhanh hơn và đỡ tốn hơn là đi vòng.Thứ hai, quan hệ song phương hiện nay giữa Việt Nam và Bắc Triều Tiên không được tốt như trước đây. Phải khẳng định như vậy ! Quan hệ chỉ ở mức ngoại giao, tạm gọi là « thân thiết » về mặt ý thức hệ, cũng như là việc Việt Nam làm trung gian trong một số vấn đề chính trị, ví dụ giữa Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc hoặc là giữa Nhật Bản và Bắc Triều Tiên hoặc Mỹ và Bắc Triều Tiên. Còn về mặt thực chất, hầu như mối quan hệ giữa Việt Nam và Bắc Triều Tiên không tiến triển gì nhiều trong mấy thập niên trở lại đây. Cho nên khả năng thông qua bắc Triều Tiên để tiếp cận công nghệ, về mặt lý thuyết, là có, nhưng rất khó xảy ra. Với tình hình hiện tại, với mối quan hệ Việt-Triều, với mối quan hệ Việt-Nga hiện tại thì việc đó khó xảy ra.RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải, Đại Học New South Wales, Úc.
Lần đầu tiên, sau 70 năm, Pháp được mời tham dự lễ kỉ niệm trận Điên Biên Phủ. Chuyến thăm Việt Nam của bộ trưởng Quốc Phòng Pháp Sébastien Lecornu và quốc vụ khanh phụ trách Cựu chiến binh và Ký ức Patricia Mirallès mang nhiều ý nghĩa, trong đó có một điểm quan trọng là hai nước « khép lại quá khứ, hướng tới tương lai tốt đẹp ». Trong bài viết trên trang web ngày 06/05/2024, bộ Quân Lực Pháp nhấn mạnh : « Chuyến thăm còn là cơ hội tăng cường mối quan hệ về mặt quốc phòng và thể hiện mong muốn chung của hai nước góp phần bảo đảm ổn định cho vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á. Nhìn vào những thách thức an ninh hiện nay trong vùng, Việt Nam có vị trí địa lý chiến lược (…) ».Chuyến công du của bộ trưởng Quân Lực Pháp và dự sự kiện 70 năm Điện Biên Phủ có ý nghĩa như thế nào trong quan hệ song phương ? Hai nước sẽ thúc đẩy tiềm năng hợp tác quốc phòng như thế nào trong tương lai ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nhà nghiên cứu địa chính trị Laurent Gédéon tại Viện Đông Á (Institut d'Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), giảng viên Đại học Công giáo Lyon (Université catholique de Lyon).RFI : Trước khi tham dự lễ kỉ niệm trận Điện Biên Phủ, bộ trưởng Quân Lực Sébastien Lecornu viết trên mạng X ngày 06/05 : « Hai đất nước chúng ta đã xây dựng một mối quan hệ cho phép chúng ta thanh thản nhìn lại lịch sử chung và sáng suốt xem xét những sự hợp tác trong tương lai trong lộ trình được tổng thống Cộng hòa Pháp và tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam vạch ra ». Phát biểu này có thể được hiểu như nào ? Laurent Gédéon : Trước tiên, tôi muốn nhấn mạnh chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh có rất nhiều hoạt động ngoại giao trong thời gian này, với chuyến công du Pháp của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình từ ngày 05-07/05, sau đó ông đến Serbia và Hungary. Trước đó, ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đến Bắc Kinh từ ngày 24-26/04. Và nhất là khả năng tổng thống Nga Vladimir Putin công du Trung Quốc trong tháng 5.Chuyến thăm Việt Nam của phái đoàn Pháp cũng mang ý nghĩa đặc biệt vì do bộ trưởng Quân Lực dẫn đầu. Hai bên chủ ý nhấn mạnh đến tính chất quân sự vì sự kiện được chọn để tổ chức chuyến công du là lễ kỷ niệm 70 năm trận Điện Biên Phủ. Ngoài ra, chúng ta cũng thấy rằng trong buổi làm việc hôm 06/05 với bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam Phan Văn Giang, ông Sébastien Lecornu đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của hợp tác song phương nhằm chia sẻ những ký ức lịch sử và giải quyết hậu quả của cuộc chiến giữa hai nước. Đọc thêm : Pháp-Việt hàn gắn vết thương chiến tranh ở Điện Biên PhủTuy nhiên, chúng ta có thể thắc mắc là xây dựng một mối quan hệ chiến lược chân thành, bền vững và chất lượng liệu có xác đáng hay không khi xuất phát điểm là sự kiện được coi thắng lợi vang dội của một bên và là thất bại nặng nề cho bên kia. Trận Điện Biên Phủ vẫn chất chứa đầy cảm xúc cả với Pháp lẫn Việt Nam. Tuy nhiên, khi nhìn lại mối quan hệ Pháp-Việt, vốn lâu dài vì đã kéo dài trong gần một thế kỷ, thì thấy không thiếu những yếu tố chung. Cho nên cần quan tâm xem xét mối quan hệ này để xác định các điểm kết nối, ngoài mỗi khía cạnh xung đột. Nhưng đây có thể là nền tảng vững chắc, để dựa vào đó phát triển những mối quan hệ đặc biệt, thậm chí là rất riêng giữa hai nước. Sự xích lại gần nhau hơn, được hình thành từ đó, sẽ sâu sắc hơn và ít trồi sụt hơn như hiện nay - yếu tố khiến mối quan hệ yếu đuối và dễ bị tác động hơn trước những biến đổi ngoại giao và địa-chính trị.Trở lại tuyên bố của bộ trưởng Sébastien Lecornu, cho dù mô hình xích lại gần nhau nào đang diễn ra thì phát biểu của ông cũng thể hiện nguyện vọng của chính quyền Paris đưa Việt Nam vào tầm nhìn Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Pháp.RFI : Bộ trưởng Quân Lực Pháp đã hội đàm với đồng nhiệm Việt Nam. Ông cho rằng hai bên nên tích cực đối thoại, sớm thống nhất thỏa thuận về Chương trình Hợp tác quốc phòng Pháp-Việt giai đoạn 2025-2028. Vậy những điểm chính của chương trình hợp tác này có thể là gì ? Laurent Gédéon : Trước tiên cần phác lại một chút lịch sử mối quan hệ quốc phòng giữa Pháp và Việt Nam, được thiết lập từ năm 1991. Đến năm 2009, hai nước ký một hiệp định hợp tác về quốc phòng trên nhiều lĩnh vực, như gìn giữ hòa bình và quân y. Năm 2013, Paris và Hà Nội đã thiết lập quan hệ « Đối tác chiến lược ». Đến năm 2018 là « Tuyên bố Tầm nhìn chung về Quan hệ Hợp tác Quốc phòng 2018-2028 » và « Đối thoại Chiến lược và Hợp tác quốc phòng » được tổ chức trong khuổn khổ này. Mục đích của sáng kiến này là xây dựng một mối quan hệ vững chắc, có khả năng đáp trả những thách thức hiện tại, trong đó có an ninh hàng hải và chống khủng bố.Tuyên bố Tầm nhìn chung năm 2018 đã tạo xung lực cho hợp tác song phương trong nhiều lĩnh vực, kể cả về trao đổi các đoàn, các cơ chế đối thoại, tham vấn, huấn luyện, công nghiệp quốc phòng, quân y, chia sẻ ký ức lịch sử, bảo tồn di tích chiến tranh, các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc cũng như là tham vấn và hỗ trợ nhau trong các diễn đàn và cơ chế đa phương. Đọc thêm :Việt Nam : Đối tác mới cho chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương của Pháp ?Chúng ta thấy là vào tháng 12/2023, sau Đối thoại Chiến lược và Hợp tác Quốc phòng lần thứ ba, được tổ chức ở Paris, hai nước đã nhất trí tăng cường hợp tác quân đội thông qua việc gia tăng các cuộc trao đổi, hợp tác và huấn luyện cũng như nhấn mạnh đến an ninh hàng hải và chống khủng bố.Tiếp nối những thỏa thuận đó, bộ trưởng Sébastien Lecornu thông báo hôm 06/05 rằng ông đã ký với tướng Phan Văn Giang một « thỏa thuận khung » về những hợp tác trong tương lai liên quan đến « ký ức, để tạo thuận lợi cho việc truy cập tài liệu lưu trữ và trao trả thi hài quân nhân », « quân y, trong đó có nghiên cứu về các bệnh truyền nhiễm nhiệt đới », « các chương trương trình huấn luyện để tạo mối liên hệ cá nhân giữa quân đội hai nước », « các chuyến thăm viếng cập cảng để cùng đóng góp cho tự do lưu thông hàng hải », « duy trì hòa bình » và « trang thiết bị quốc phòng ». Hai bộ trưởng cũng xác nhận tiếp tục các cuộc trao đổi Pháp-Việt để sớm đi đến thống nhất về chương trình Hợp tác Quốc phòng song phương cho giai đoạn 2025-2028.Trong những năm tới, chắc chắn là Việt Nam sẽ tiếp tục tập trung ưu tiên vào Biển Đông. Điểm này đã được nói rõ trong cuộc gặp giữa hai bộ trưởng. Khi nhắc đến vấn đề hàng hải, hai bộ trưởng nhấn mạnh đến « tầm quan trọng của hòa bình, an ninh, ổn định, tự do lưu thông trên biển và trên không, giải quyết một cách hòa bình những tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển UNCLOS 1982, triển khai đầy đủ Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và tiếp tục đàm phán một Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả và thực chất ».Theo tôi, trong bối cảnh này, hợp tác quốc phòng gia tăng giữa Việt Nam và Pháp có thể gồm những điểm : huấn luyện, cung cấp vật tư, vũ khí, đón tiếp tàu chiến Pháp (như tàu tuần dương Vendémiaire đến cảng Tiên Sa ngày 11/04/2024) cũng như tổ chức các cuộc tập trận chung.RFI : Ông Sébastien Lecornu cho biết là Pháp sẽ tham gia Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam lần thứ 2 vào cuối năm 2024, đồng thời Pháp sẵn sàng giúp quân đội Việt Nam để được hiệu quả hơn thông qua huấn luyện và không loại trừ khả năng cung cấp trang thiết bị trong tương lai. Qua phát biểu của bộ trưởng Lecornu, liệu Pháp có muốn trở thành nhà cung cấp vũ khí cho Việt Nam không ? Và liệu có những hạn chế nào không ?Laurent Gédéon : Trước hết phải nói rằng doanh số Pháp bán vũ khí cho Việt Nam hiện không đáng kể mặc dù Pháp là nhà xuất khẩu vũ khí lớn thứ hai trên thế giới. Việc thị trường Việt Nam chiếm vị trí thấp phù hợp với thực tế Việt Nam vẫn là đối tác thương mại tương đối thứ cấp của Pháp, đứng thứ 46 trong số khách hàng (chỉ chiếm 0,3% lượng hàng xuất khẩu của Pháp) và đứng vị trí thứ 21 về nhà cung cấp (chiếm 0,9% hàng nhập khẩu Pháp). Ngoài ra, Việt Nam vẫn giữ mối liên hệ lịch sử với Nga, nhất là về mặt quân sự vì quân đội Việt Nam sử dụng chủ yếu vũ khí của Nga, chiếm gần 70% kho vũ khí.Đối với Pháp, việc tham gia Triển lãm Quốc phòng Quốc tế do Việt Nam tổ chức có lẽ đánh dấu cho sự chuyển hướng chính sách của Paris, ví dụ như chuyến công du của ông Sébastien Lecornu, và đồng thời thúc đẩy tăng cường bán vũ khí cho Việt Nam trong bối cảnh Hà Nội cũng đang tìm cách đa dạng hóa quan hệ để không bị phụ thuộc quá nhiều vào một đối tác duy nhất, đặc biệt trong bối cảnh căng thẳng gia tăng với Trung Quốc ở Biển Đông. Đọc thêm : Pháp khó “chen chân” vào thị trường vũ khí Việt Nam Tuy nhiên, nếu mong muốn chính trị này được đúc kết thành các hợp đồng vũ khí thì cũng phải tính đến một số hạn chế về ngoại giao cho phía Pháp liên quan đến khả năng Trung Quốc gây sức ép đối với Paris. Phía Việt Nam cũng sẽ phải đối phó với nhiều hạn chế, như hạn chế về ngân sách liên quan đến chi phí của một số loại vũ khí ; hạn chế về khả năng vì mục tiêu của Hà Nội vẫn là để phòng thủ, chứ không phải tấn công với loại vũ khí tương ứng ; hạn chế về kỹ thuật liên quan đến việc quân đội Việt Nam sử dụng chủ yếu thiết bị quân sự của Liên Xô trước đây và Nga hiện nay và điều này đặt ra nhiều vấn đề về tính tương thích công nghệ và hệ thống với vũ khí của Pháp.Ngoài ra, mong muốn đa dạng hóa nguồn cung quân sự cũng có thể dẫn đến một kiểu phụ thuộc vào nhà cung cấp, nhất là về vũ khí có công nghệ cao và Hà Nội có thể lưỡng lự trước một lựa chọn như vậy. Cuối cùng, theo tôi, cần phải nhắc đến sự phát triển hợp tác quân sự Pháp-Việt còn phụ thuộc vào tương lai của quan hệ đối tác giữa Hà Nội và Matxcơva. Giả sử nếu Nga giành chiến thắng trong chiến tranh Ukraina, vị thế ngoại giao và độ tin cậy của Nga cũng sẽ được củng cố trong mắt các đối tác, trong đó có Việt Nam. Ngược lại, nếu Nga thất bại ở Ukraina, Hà Nội có thể sẽ tìm cách giảm phần nào hợp tác và hướng sang các đối tác khác nhiều hơn, trong đó có Pháp.RFI : Bộ trưởng Quân Lực Pháp cũng nhắc đến ASEAN và Hội nghị bộ trưởng Quốc Phòng các nước ASEAN (ADMM) mà Pháp hiện là một nhà quan sát. Pháp có thể trông đợi được gì từ Hà Nội ? Việt Nam có thể đóng vai trò như thế nào trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Pháp ? Laurent Gédéon : Nhìn vào sự phát triển hợp tác với Hà Nội, có lẽ Paris sẽ trông cậy vào sự ủng hộ của Việt Nam để tạo thuận lợi cho việc tham gia cơ chế hợp tác quốc phòng này của ASEAN.Về vai trò của Việt Nam trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Pháp, một điều chắc chắn là Pháp phát triển mối quan hệ với Việt Nam vì có liên quan đến lợi ích của Pháp ở vùng Nam Thái Bình Dương. Tuy nhiên, Trung Quốc hiện là vấn đề địa chiến lược chính ở trong vùng đối với Paris. Cho nên có thể đối với Pháp, Việt Nam phần nào cũng có thể là một trong những kênh mà Paris có thể sử dụng để gây áp lực đối với Bắc Kinh.Tôi nói điều này vì trong một diễn đàn chung trên báo Valeurs actuelles ngày 05/05, ông Sébastien Lecornu và bà Patricia Mirallès đã nhấn mạnh rằng « trong một thế giới bất ổn và nguy hiểm nơi nhiều thế lực không còn ngần ngại chà đạp lên những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Pháp muốn phối hợp nhiều hơn với Việt Nam để củng cố ổn định ở vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương, nơi có 1,6 triệu người Pháp hải ngoại sinh sống, và cũng bao gồm khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là khối ASEAN và các quốc gia thành viên ». Cùng vì mục đích này, bộ trưởng Quân Lực Pháp đã đến Nouméa (thủ phủ của Nouvelle Calédonie của Pháp) ngày 04/12/2023 nhân Hội nghị bộ trưởng Quốc Phòng Nam Thái Bình Dương lần thứ 10, gồm các nước Pháp, Úc, New Zealand, Chilê, New Guinea, quần đảo Tonga và Fidji. Do đó, chúng ta hiểu rằng mối quan hệ của Pháp với Việt Nam không thể tách rời khỏi những lợi ích của Pháp ở Nam Thái Bình Dương. Đọc thêm : Shangri-La : Pháp sẽ tăng cường hiện diện quân sự tại châu Á – Thái Bình DươngDo đó, câu hỏi đặt ra là sự hội tụ lợi ích giữa hai nước. Ngoài ý nghĩa thông báo, đâu là những lợi ích chung thực sự giữa Pháp và Việt Nam ? Việt Nam định nghĩa vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương như thế nào ? Và Pháp coi vùng này như thế nào ? Nhìn vào những lợi ích chiến lược của Pháp và Việt Nam hiện nay, có lẽ sự hội tụ lợi ích này khá là yếu và chỉ Trung Quốc là điểm chung chiến lược thực sự giữa hai nước. Hơn nữa, các khu vực địa lý liên quan, tức là những khu vực tập trung lợi ích riêng của hai nước, lại không giống nhau : Đối với Việt Nam là Biển Đông, còn đối với Pháp là vùng Nam Thái Bình Dương. Khi phân tích tình hình, người ta thấy rằng phía Pháp có thể sẽ phục vụ cho lợi ích của Việt Nam hơn là theo chiều ngược lại. Pháp hiện diện ở Biển Đông thông qua các chiến hạm trung chuyển qua đây. Tuy nhiên, giả sử xảy ra một cuộc xung đột giữa Trung Quốc và các nước láng giềng ven biển, trong đó có Việt Nam, liệu Pháp có công khai lập trường ủng hộ Việt Nam không ?Câu hỏi này không phải là không xác đáng nếu như ta nhớ lại tuyên bố của ông Emmanuel Macron về Đài Loan hôm 11/04/2023. Lúc đó, tổng thống Pháp tuyên bố là châu Âu không nên ngả theo Mỹ hay Trung Quốc trong trường hợp xảy ra xung đột về Đài Loan. Dù được đính chính vài ngày sau đó nhưng tuyên bố đó cũng đã khiến các đồng minh của Pháp bối rối, nhất là Hoa Kỳ.Đơn thuần về mặt địa-chính trị, tổng thống Pháp chỉ nhấn mạnh đến một điều hiển nhiên, đó là lợi ích địa-chiến lược của Pháp không nằm trong khu vực này và bản đồ của Pháp về vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương chỉ gồm Đông Thái Bình Dương, trái ngược với cách diễn giải về vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương của Mỹ.Cách hiểu này của Pháp cũng có thể có giá trị đối với Biển Đông. Khó khăn cho Hà Nội là phải hiểu được thực chất sự ủng hộ của Pháp trong trường hợp khủng hoảng và hạn chế sẽ là gì ? Ngược lại, sự hỗ trợ của Hà Nội cho Paris có lẽ không phải là điều cần thiết trong trường hợp xảy ra xung đột giữa Pháp và Trung Quốc ở Nam Thái Bình Dương. Do đó, mối quan hệ chiến lược giữa Pháp và Việt Nam vẫn còn cả một chặng đường dài cần vượt qua và những năm tới chắc chắn sẽ quan trọng để nhìn nhận tiến triển.RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giảng viên Laurent Gédéon, Trường Sư phạm Lyon, Pháp.
Theo báo chí trong nước, ngày 26/03/2024, trong một cuộc điện đàm, tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã mời tổng thống Nga Vladimir Putin “sớm thăm chính thức Việt Nam” và ông Putin đã nhận lời. Cho đến nay, tổng thống Putin đã đến thăm Việt Nam 4 lần, gần đây nhất là nhân thượng đỉnh APEC ở Đà Nẵng năm 2017. Hiện giờ chưa biết khi nào ông Putin sẽ đi thăm Việt Nam. Theo thông cáo của Ban Đối ngoại Trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam, hai bên “sẽ phối hợp thu xếp thời điểm thích hợp” cho chuyến đi này.Trong cuộc điện đàm nói trên, lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng định Việt Nam vẫn “trân trọng sự giúp đỡ to lớn của Liên bang Nga trong Liên Xô trước đây cũng như ngày nay” cho Việt Nam. Ông Nguyễn Phú Trọng còn nhấn mạnh Việt Nam xác định quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với Nga là “một trong những ưu tiên hàng đầu” trong chính sách đối ngoại của mình.Việt Nam và Nga đã thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1950 và đến năm 2012 đã nâng quan hệ lên thành Đối tác Chiến lược Toàn diện, mức cao nhất trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước. Cuộc chiến tranh xâm lược Ukraina do tổng thống Vladimir Putin phát động vào tháng 2/2022 đã đặt Hà Nội vào thế khó xử, nhưng cho tới nay Việt Nam vẫn cố giữ thái độ trung lập, theo đúng chính sách ngoại giao được mệnh danh là ngoại giao "cây tre".Trong bài viết mang tựa đề “Việt Nam và chiến tranh Nga-Ukraina: “Ngoại giao cây tre” của Hà Nội thành công nhưng thách thức vẫn còn”, được đăng vào tháng 02/2024 trên trang mạng của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore, nhà nghiên cứu cao cấp Ian Storey của Viện này ghi nhận:"Giữa hai bên tham chiến, duy trình quan hệ với Nga rõ ràng là ưu tiên hàng đầu của Việt Nam. Nhưng để phù hợp với chính sách ngoại giao "cây tre" của mình, Hà Nội cũng đã cẩn thận để không làm mất lòng Kiev. Tại hội nghị thượng đỉnh G7 ở Hiroshima vào tháng 5/2023, mà Nhật Bản mời cả Việt Nam và Ukraina, thủ tướng Phạm Minh Chính trong cuộc gặp với tổng thống Volodymyr Zelensky đã nói rằng Việt Nam coi trọng mối quan hệ với Ukraina và về xung đột Nga-Ukraina, lập trường của Hà Nội là tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hiệp Quốc." Việt Nam mời tổng thống Nga đến thăm mặc dù vào tháng 3 năm ngoái, Tòa án Hình sự Quốc tế đã phát lệnh bắt giữ ông. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 18/04/2024, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore, giải thích vì sao Việt Nam mời tổng thống Putin sang thăm trong lúc này mà không ngại phản ứng của các nước phương Tây, nhất là của Mỹ:"Bản thân tôi cũng cảm thấy khá bất ngờ với lời mời của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng mời tổng thống Putin sang thăm Việt Nam trong bối cảnh Nga đang bị Mỹ và các nước phương Tây khác cấm vận và cô lập trên trường quốc tế. Có lẽ và bản thân ông Putin muốn phát triển quan hệ với các nước đối tác truyền thống như Việt Nam để giảm sức ép quốc tế để thể hiện nước Nga vẫn có bạn bè, đối tác và có thể vượt qua được các áp lực, cấm vận từ phương Tây.Trong bối cảnh ấy cũng dễ hiểu khi mà Nga chọn Việt Nam để tăng cường quan hệ. Chính vì vậy mà có lẽ Việt Nam cũng đã chịu một ít sức ép từ phía Nga trong việc gởi lời mời ông Putin sang thăm Việt Nam. Có lẽ Hà Nội cũng sẽ cảm thấy bất tiện khi mời ông Putin sang thăm lần này trong bối cảnh cuộc chiến Ukraina vẫn đang diễn ra như vậy và bản thân ông Putin cũng đang bị Tòa án Hình sự Quốc tế truy nã.Bên cạnh sức ép của Nga thì có thể Việt Nam cũng cân nhắc các động lực khác, vì hiện nay Việt Nam cũng có một số lợi ích trong quan hệ với Nga mà Việt Nam muốn duy trì, như là Việt Nam vẫn sử dụng nhiều loại vũ khí có nguồn gốc từ Nga, hay là Việt Nam có các khoản đầu tư lớn vào Nga trong các lĩnh vực như năng lượng, hay nông phẩm.Chuyến thăm lần này không đơn thuần là nhằm tăng cường quan hệ hai nước, mà Việt Nam muốn có chuyến thăm nhằm giải quyết một số vấn đề vướng mắc trong quan hệ song phương. Chúng ta còn cần thời gian để xem, nhưng trước mắt, Việt Nam có thể là không hoàn toàn thoải mái với chuyến thăm này. Điều này được thể hiện qua việc Việt Nam vẫn cố gắng tuân thủ một số yêu cầu từ phương Tây trong việc trừng phạt Nga. Theo tôi hiểu thì hiện tại Việt Nam vẫn chưa nối lại các đường bay thẳng tới Nga kể từ khi Nga xâm lược Ukraina tháng 02/2022. Điều đó cho thấy vị thế của Việt Nam khá là nhạy cảm trong việc cân bằng quan hệ giữa Nga với các đối tác phương Tây, đặc biệt là Mỹ và các nước châu Âu."Trong bài viết nói trên, nhà nghiên cứu Ian Storey nhận định:“Cuộc xâm lược toàn diện của Nga vào Ukraina vào tháng 2/2022 là một cuộc trắc nghiệm đối với chính sách ngoại giao 'cây tre' của Việt Nam, làm gia tăng căng thẳng giữa đối tác cũ của Hà Nội là Nga và các đối tác mới ở phương Tây, cũng như giữa phương Tây và đối thủ truyền thống của Việt Nam là Trung Quốc. Để đối phó với cuộc xâm lược, Việt Nam đã áp dụng quan điểm trung lập về cơ bản để tự bảo vệ mình khỏi các tranh chấp giữa các nước lớn phát sinh từ chiến tranh, duy trì mối quan hệ ổn định với tất cả các bên tham gia chính và các bên liên quan, đồng thời bảo vệ lợi ích quốc gia của mình.”Như vậy là cho tới nay, Việt Nam vẫn cố giữ lập trường trung lập đối với xung đột Ukraina - Nga, một phần cũng vì Hà Nội đều có quan hệ tốt với cả hai bên. Nhưng nếu chiến tranh kéo dài nhiều tháng hoặc nhiều năm nữa, liệu lập trường đó có thể đứng vững được không? Nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp nhận định:"Việt Nam vẫn có lợi ích rất lớn trong việc giữ lập trường trung lập trong cuộc chiến giữa Nga với Ukraina. Tuy nhiên, khi chiến tranh càng kéo dài, việc giữ vị thế trung lập ấy sẽ ngày càng khó khăn hơn do áp lực từ cả hai phía đối với Việt Nam ngày càng gia tăng.Trong thời gian đầu sau cuộc xâm lược của Nga vào Ukraina thì có vẻ như Việt Nam đồng cảm với Nga hơn, nghiêng về Nga nhiều hơn. Nhưng theo thời gian thì Việt Nam dần dần quay lại vị thế trung lập. Không loại trừ khả năng là trong tương lại, khi cuộc chiến kéo dài, gây ra các thiệt hại về lợi ích, về hình ảnh, Việt Nam sẽ ngày càng giữ khoảng cách với Nga.Điều này xuất phát từ thực tế: cho dù Nga là đối tác truyền thống của Việt Nam đã hỗ trợ Nga rất nhiều trong quá khứ, nhưng hiện tại tầm quan trọng của Nga đối với Việt Nam, đặc biệt là về kinh tế, không lớn, đặc biệt là so sánh với các đối tác như Mỹ và châu Âu, những bạn hàng và thị trường xuất khẩu quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Các nước phương Tây cũng là nguồn đầu tư mà Việt Nam rất mong muốn thu hút.Chính vì vậy mà Việt Nam sẽ không thể làm ngơ trước các áp lực ngoại giao của Mỹ và phương Tây nói chung trong quan hệ với Việt Nam. Phía Việt Nam cũng sẽ rất mong muốn Nga sẽ sớm kết thúc cuộc chiến Ukraina. Tuy nhiên điều này khó có thể xảy ra trong thời gian trước mắt. Cho nên, việc Việt Nam giữ thế trung lập của mình với Nga và phương Tây sẽ ngày càng khó khăn hơn và sẽ đòi hỏi rất nhiều kỹ năng khéo léo về mặt chiến lược của Việt Nam."Mặt khác, N ga hiện nay vẫn là nguồn cung cấp vũ khí chính yếu của Việt Nam. Việc Nga bị quốc tế trừng phạt, cấm vận có gây nhiều khó khăn cho Việt Nam trong việc hiện đại hóa quân đội, nhất là trong việc thay thế những vũ khí từ thời Liên Xô nay đã sắp hết hạn sử dụng, chẳng hạn như các chiến đấu cơ? Nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp giải đáp:"Các vũ khí của Nga đã được Việt Nam sử dụng hàng chục năm nay, kể từ thời chiến tranh lạnh cho đến nay, cho nên kể cả khi Việt Nam không mua mới từ Nga thì Việt Nam vẫn phụ thuộc vào Nga về việc bảo trì, bảo dưỡng các trang thiết bị này. Ví dụ như Việt Nam trông thời gian qua đã có một số khó khăn trong việc bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa các tàu ngầm mà Việt Nam đã mua từ Nga. Trong một số lĩnh vực, Việt Nam phải phụ thuộc vào một số dịch vụ từ các bên thứ ba, ví dụ như Ấn Độ.Bây giờ làm sao giải quyết được vấn đề này trong quan hệ với Nga, vừa có thể giúp Việt Nam hiện đại hóa lực lượng của mình trong thời gian tới? Đó là một bài toán rất là khó đối với Việt Nam. Nếu Việt Nam tiếp tục mua vũ khí từ Nga thì sẽ vi phạm các lệnh cấm vận của phương Tây và có thể làm sứt mẻ quan hệ của Việt Nam với phương Tây. Còn nếu Việt Nam ngưng các hoạt động hợp tác quốc phòng với Nga thì sẽ không chỉ gây khó khăn cho quá trình hiện đại hóa quân đội Việt Nam và có thể ảnh hưởng đến các hoạt động bảo trì, bảo dưỡng các vũ khí của Nga mà Việt Nam đang sử dụng.Tuy nhiên, về dài hạn, Việt Nam sẽ phải tìm mọi cách để giảm sự phụ thuộc vào Nga. Trong bối cảnh đang bị cấm vận, năng lực của Nga cung cấp các vũ khí, các trang thiết bị mà Việt Nam mong muốn sẽ bị hạn chế. Vi phạm các lệnh trừng phạt của quốc tế cũng không phải là điều mà Việt Nam mong muốn. Chính vì Việt Nam hiện cũng đang tìm cách mở rộng quan hệ thương mại, quốc phòng với các đối tác mới, ví dụ như Israel, Hàn Quốc hay kể cả Mỹ, Nhật và các nước Đông Âu vẫn có các mặt hàng tương thích với các vũ khí của Nga mà Việt Nam đang sử dụng. Tuy nhiên, cũng có một số khó khăn về chi phí, đặc biệt là rất cao, nếu mua các vũ khí của Mỹ và châu Âu. Ngoài ra còn có vấn đề tương thích giữa các vũ khí, các hệ thống mới với các hệ thống của Nga mà Việt Nam đang sử dụng.Các triển lãm quốc phòng mà Việt Nam tổ chức gầy đây cho thấy ý định của Việt Nam đa dạng hóa các nguồn cung. Tuy nhiên Việt Nam cần có thêm thời gian để làm tốt việc này. Chính vì vậy, trong thời gian trước mắt, ít nhất là trong 5-10 năm tới, sự phụ thuộc của Việt Nam vào các vũ khí của Nga có thể sẽ không giảm quá nhanh và quá nhiều."Nhà nghiên cứu Ian Storey cũng cho rằng xung đột Nga-Ukraina đặt ra những thách thức về trung và dài hạn cho quân đội Việt Nam, vốn dựa nhiều vào vũ khí của Nga. Theo ông, xung đột này cũng ảnh hưởng đến tranh chấp kéo dài giữa Việt Nam với Trung Quốc ở Biển Đông, do Nga ngày càng phụ thuộc vào đối tác chiến lược Trung Quốc.Ông Ian Storey nhận định việc tăng cường quan hệ chiến lược Nga - Trung ảnh hưởng đến Việt Nam nhiều hơn bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào khác. Hà Nội lo ngại Bắc Kinh có thể sử dụng mối quan hệ với Matxcơva để làm suy yếu lợi ích của Việt Nam.Trong cuộc đối đầu với Trung Quốc, như vậy liệu Việt Nam có thể đặt tin tưởng vào đối tác Nga? Nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp nhận định:"Việc Nga ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc trong bối cảnh họ đang bị bao vây, cô lập, cấm vận của phương Tây là một rủi ro mà Việt Nam phải cân nhắc khi tăng cường hay duy trì quan hệ với Nga. Trung Quốc là đối tác lớn hơn Việt Nam rất nhiều đối với Nga, cho nên khi cần phải cân nhắc hay đánh đổi giữa quan hệ với Trung Quốc và quan hệ với Việt Nam, tôi tin chăc là Nga sẽ ưu tiên quan hệ với Trung Quốc và điều này phần nào được thể hiện qua thái độ của Nga đối với tranh chấp Biển Đông. Đã có một số lần phía Nga thể hiện lập trường ủng hộ các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông làm phương hại đến các lợi ích của Việt Nam.Tôi nghĩ là động lực này sẽ không thay đổi, thậm chí rủi ro còn trở nên cao hơn đối với Việt Nam, nhất là khi mà chiến tranh Ukraina kéo dài và làm cho sự phụ thuộc của Nga vào Trung Quốc ngày càng lớn và ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Nga ngày càng tăng. Đó là một lý do mà tôi nghĩ là Việt Nam cần phải nhanh chóng giảm sự phục thuộc vào Nga, đặc biệt là về nguồn cung vũ khí, để có thể có sự tự chủ chiến lược lớn hơn trong quan hệ với Nga và Trung Quốc. Nói chung Việt Nam cần phải thận trọng, thực tế hơn trong quan hệ với Nga, không nên để các yếu tố cảm tính át đi lý trí, vì suy cho cùng, đối với Việt Nam, lợi ích quốc gia vẫn là tối thượng trong việc định đoạt chính sách của mình đối với các quốc gia khác nói chung và với Nga và Trung Quốc nói riêng."